Đối tượng của kế toán luôn có tính hai mặt độc lập nhau nhưng luôn cân bằng với nhau về lượng giá trị Xét trong quá trình tuần hoàn tài sản, đối tượng của kế toán luôn vận động qua các g
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
KHOA KẾ TOÁN
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
ĐỀ TÀI: CƠ SỞ HÌNH THÀNH CÁC PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN VÀ
MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN
GVHD: PGS.TS Ngô Hà Tấn SVTH: Nguyễn Thị Thành
Lớp : 38K06.3 ĐÀ NẴNG, THÁNG 10 NĂM 2015
1
Mục Lụ
LỜI MỞ ĐẦU 3
Trang 2A/ CƠ SỞ HÌNH THÀNH CÁC PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN 4
I/ Phương pháp chứng từ kế toán 4
1.Cơ sở hình thành phương pháp chứng từ kế toán 4
2.Ý nghĩa của phương pháp chứng từ kế toán 5
II/Phương pháp tài khoản-ghi kép 7
1.Cơ sở hình thành phương pháp tài khoản ghi kép 7
2.Ý nghĩa của phương pháp tài khoản -ghi kép 8
III/Phương pháp đo lường đối tượng kế toán 9
1.Cơ sở hình thành phương pháp đo lường đối tượng kế toán 9
2.Ý nghĩa của phương pháp đo lường các đối tượng kế toán: 11
IV/Phương pháp tổng hợp cân đối 12
1.Cơ sở hình thành của phương pháp tổng hợp- cân đối kế toán 12
2 Ý nghĩa của phương pháp tổng hợp-cân đối kế toán 13
B/ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN 16
I/Khái quát mối quan hệ giữa các phương pháp kế toán 16
II.Mối quan hệ cụ thể giữa các phương pháp kế toán 18
1 Mối quan h giữa phương pháp chứng từ và phương pháp tài khoản ghi kép 18
2 Mối quan h giữa phương pháp chứng từ và phương pháp đo lường 19
3 Mối quan h giữa phương pháp đo lường và phương pháp tài khoản – ghi kép 20
4 Mối quan hệ giữa phương pháp đo lường với phương pháp tổng hợp cân đối: 21
5.Mối quan h giữa phương pháp tài khoản – ghi kép và phương pháp tổng hợp – cân đối 22
KẾT LUẬN 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
LỜI MỞ ĐẦU
Kế toán là một khoa học liên quan đến việc thu thập, đo lường, xử lý và truyền đạt các thông tin tài chính và phi tài chính hữu ích của một tổ chức đến các đối tượng sử dụng trên cơ sở đó để ra các quyết định hợp lý Kế toán không chỉ phản ánh tài sản của đơn
vị ở trạng thái tĩnh mà còn phản ánh sự vận động của tài sản Trong quá trình vận động, tài sản không chỉ biến đổi về mặt hình thái mà còn có sự biến đổi về lượng giá trị Như
Trang 3vậy, có thể nói đặc điểm của đối tượng kế toán là vô cùng đa dạng, có tính hai mặt và vận động Do đó hệ thống phương pháp kế toán đã được xây dựng để xử lí thông tin phù hợp với những đặc điểm này của đối tượng kế toán.
Trong thực tế, kế toán phải vận dụng các phương pháp kế toán một cách cực kỳ linhhoạt để có thể thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình Đó là quá trình thu thậpthông tin ban đầu được thực hiện qua phương pháp chứng từ, quá trình xử lý thông tinđược thực hiện qua phương pháp tài khoản-ghi kép, phương pháp đo lường và cuốicùng là khâu cung cấp thông tin đầu ra được thực hiện bởi phương pháp tổng hợp cânđối
Trong hệ thống các phương pháp kế toán, mỗi phương pháp có vị trí, chức năng nhấtđịnh, đóng vai trò quan trọng trong quá trình xử lý và cung cấp thông tin trên các báocáo kế toán và giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, phương pháp kế toán nàylàm tiền đề cho phương pháp kế toán kia và ngược lại tạo thành một hệ thống phươngpháp kế toán hoàn chỉnh
Để nghiên cứu sâu hơn về cơ sở hình thành các phương pháp kế toán và mối quan hệgiữa các phương pháp kế toán, nhằm trau dồi kiến thức về chuyên ngành kế toán vàchuẩn bị cho mình một “hành trang” để có thể vận dụng vào công tác chuyên môn saunày, với sự hướng dẫn tận tình của Thầy Ngô Hà Tấn em đã lựa chọn đề tài “Cơ sởhình thành các phương pháp kế toán và mối quan hệ giữa các phương pháp kế toán”
Với kiến thức và trình độ có hạn, chưa có cơ hội tiếp xúc nhiều với thực tế nên “đề
án môn học” này sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định Kính mong nhậnđược sự thông cảm và nhận được ý kiến đóng góp của Thầy để bản đề án này đượchoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4Khoa Kế Toán Trường Đại Học Kinh tế - Đại Học Đà Nẵng
SVTH: NGUYỄN THỊ THÀNHGVHTD: PGS.TS Ngô Hà Tấn
Năm học 2015-2016
A/ CƠ SỞ HÌNH THÀNH CÁC PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN
Kế toán có những phương pháp riêng thích hợp với đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
là tài sản và sự tuần hoàn của tài sản trong các giai đoạn sản xuất kinh doanh
Xét trong quan hệ giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản Đối tượng của kế toán luôn
có tính hai mặt độc lập nhau nhưng luôn cân bằng với nhau về lượng giá trị
Xét trong quá trình tuần hoàn tài sản, đối tượng của kế toán luôn vận động qua các giai đoạn khác nhau nhưng theo một trật tự xác định và khép kín trong một chu kỳ nhất định
Mỗi đối tượng cụ thể của kế toán đều gắn với lợi ích kinh tế, quyền lợi và trách nhiệm của nhiều phía
Trên cơ sở phương pháp luận và những đặc điểm cơ bản của đối tượng kế toán người ta
đã xây dựng các phương pháp của kế toán bao gồm:
I/ Phương pháp chứng từ kế toán
1.Cơ sở hình thành phương pháp chứng từ kế toán
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, để thực hiện chức năng nhiệm
vụ của mình, các đơn vị kế toán đã thường xuyên diễn ra các nghiệp vụ kinh tế Nóicách khác hoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán được cấu thành bởi cácnghiệp vụ kinh tế
Nghiệp vụ kinh tế là khái niệm được dùng trong kế toán để chỉ thay đổi tài sản
hay nguồn vốn gắn liền với một hành vi kinh tế cụ thể cần theo dõi, tính toán và ghichép Ví dụ: mua tài sản, hàng hoá; thanh toán tiền hàng, thanh toán nợ; bán sản phẩm,hàng hóa Số lượng và qui mô của các nghiệp vụ kinh tế khác nhau giữa các đơn vị kếtoán, tuỳ thuộc qui mô, tính chất hoạt động và đặc điểm kinh doanh của các đơn vị đó
Với chức năng thông tin và kiểm tra về tình hình kinh tế, tài chính của đơn vị,
kế toán cần phải theo dõi, ghi chép và quản lý có hiệu quả tài sản của đơn vị ngay từkhi tài sản được hình thành hay bắt đầu có sự vận động, do đó đòi hỏi phải có một
Trang 5phương pháp khoa học để có thể thu nhận được ngay những thông tin về tài sản Điều
đó, đặt ra cho kế toán nhiệm vụ phải xác định được một phương pháp phù hợp nhằm
phản ánh được các nghiệp vụ kinh tế phù hợp với sự biến động của từng loại tài sản
Tài sản của đơn vị được hình thành từ nhiều nguồn, liên tục vận động theokhông gian và thời gian với quy mô khác nhau, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinhdoanh, tình hình tài chính, trách nhiệm cá nhân và tập thể có liên quan Do vậy, cùngvới việc lựa chọn phương pháp phản ánh phải lựa chọn được phương thức thông tin vềtình trạng và sự biến động của tài sản cho từng bộ phận hoặc cá nhân chịu trách nhiệm
về nghiệp vụ đó, đồng thời phải thiết lập những đường dây thông tin kịp thời, hữu íchcho các cấp quản lý về các đối tượng cụ thể
Xuất phát từ hai lý do trên đây, cần thiết phải xây dựng một phương pháp thu thập và xử lý thông tin ban đầu các đối tượng kế toán, đó là phương pháp chứng từ kế toán
2.Ý nghĩa của phương pháp chứng từ kế toán
- Phương pháp chứng từ kế toán có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý kinh tếcũng như trong công tác kiểm tra phân tích hoạt động kinh tế và bảo vệ tài sảncủa đơn vị, vì chứng từ kế toán ghi nhận đầy đủ, chính xác, kịp thời mọi biếnđộng về tài sản, nguồn vốn và các quá trình sản xuất kinh doanh của đơn vị xảy
ra ở những thời gian và địa điểm khác nhau
- Phương pháp chứng từ kế toán là cơ sở để phân loại, tổng hợp các nghiệp vụkinh tế phát sinh để ghi vào các sổ kế toán theo từng đối tượng kế toán cụ thể,
nó đảm bảo tính pháp lý cho các số liệu trong sổ kế toán và các số liệu thông tinkinh tế của đơn vị
Ví dụ: “Phiếu thu” là một loại chứng từ kế toán ghi nhận số tiền mặt đã nhập quỹ, làcăn cứ để ghi tăng tiền mặt trên sổ kế toán tiền mặt, nếu không có “phiếu thu” nhânviên kế toán không được phép ghi tăng tiền mặt trên sổ kế toán
- Phương pháp chứng từ là căn cứ kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh, từ đó phát hiện và ngăn ngừa những hiện tượng vi phạmchính sách, chế độ, thể lệ kinh tế tài chính do Nhà nước ban hành, những hành
vi tham ô, lãng phí tài sản nhằm bảo vệ tài sản của đơn vị
Ví dụ: “Hóa đơn giá trị gia tăng” là cơ sở quan trọng để cơ quan thuế kiểm soát số thuếGTGT đơn vị kế toán phải nộp khi bán hàng hay được khấu trừ khi mua hang
- Phương pháp chứng từ là phương tiện thông tin nhanh cho công tác lãnh đạonghiệp vụ ở đơn vị, phục vụ cho công tác phân tích kinh tế hàng ngày ở đơn vị.Nhờ có phương pháp chứng từ kế toán mà các bộ phận, chức năng, các cá nhân
có liên quan nhận biết kịp thời các hoạt động kinh tế tài chính xảy ra, từ đó cónhững quyết định đúng đắn, phù hợp góp phần quản lý hiệu quả các hoạt độngkinh tế tài chính trong đơn vị
Trang 6Ví dụ: “Bảng thanh toán tiền lương” cho người lao động đã được duyệt của giám đốccông ty là căn cứ để Phòng tài chính - Kế toán thực hiện trả lương cho người lao động.
- Phương pháp chứng từ gắn sự phát sinh của các nghiệp vụ kinh tế với trách nhiệmvật chất của các cá nhân, đơn vị có liên quan với các nghiệp vụ Qua đó, chứng từ gópphần vào việc thực hiện triệt để hạch toán kinh doanh nội bộ và gắn trách nhiệm vậtchất với từng cá nhân đơn vị cụ thể Phương pháp chứng từ là cơ sở pháp lý cho việckiểm tra việc chấp hành chính sách, chế độ và thể lệ về kinh tế tài chính; kiểm tra tìnhhình chấp hành các mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên; kiểm tra kinh tế, kiểm tra kế toántrong đơn vị; kiểm tra và xác định trách nhiệm vật chất của các đơn vị, bộ phận, các cánhân đối với nghiệp vụ kinh tế, tài chính được phản ánh trong chứng từ kế toán
Như vậy, chứng từ kế toán có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý của đơn vị.Nóảnh hưởng đầu tiên và trực tiếp đến chất lượng các khâu sau của công tác kế toán vàthông tin kế toán
Với những ý nghĩa đó, phương pháp chứng từ phải được sử dụng trong tất cả các đơn
vị kế toán, không phân biệt các ngành sản xuất, các thành phần kinh tế khác nhau
II/Phương pháp tài khoản-ghi kép
1.Cơ sở hình thành phương pháp tài khoản ghi kép
Qua tìm hiểu về đối tượng kế toán, ta thấy đặc điểm của đối tượng kế toán vừa
có tính hai mặt, tính vận động, tính đa dạng, vừa có quan hệ chặt chẽ với nhau Tínhvận động của đối tượng kế toán được biểu hiện ở các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trongquá trình hoạt động của đơn vị Các nghiệp vụ kinh tế này diễn ra thường xuyên vàđược ghi chép phản ánh lại một cách kịp thời, đầy đủ qua chứng từ kế toán Có thể nói,qua phương pháp chứng từ chúng ta biết được thông tin về sự hình thành một nghiệp
vụ kinh tế phát sinh liên quan đến tình trạng và sự vận động của từng đối tượng toán kếtoán Tuy nhiên, các nghiệp vụ kinh tế trong doanh nghiệp phát sinh rất nhiều, do đó sốlượng chứng từ rất lớn và khác nhau về đối tượng phản ánh về thời gian địa điểm, quy
mô của nghiệp vụ Bên cạnh đó, chứng từ chỉ là hình thức “sao chụp” lại nghiệp vụkinh tế, nghĩa là mới chỉ cung cấp được những thông tin ban đầu một cách riêng lẽ, màquản lý thì luôn cần những thông tin mang tính tổng hợp về tình hình của từng loại tàisản, từng nguồn vốn, từng quá trình kinh doanh Có như vậy mới thực hiện sự giám sát
và phản ánh chặt chẽ tình hình biến động của toàn bộ tài sản, nguồn vốn và hoạt độngkinh doanh của đơn vị
Hơn nữa, mỗi nghiệp vụ kinh tế thường phản ánh mối quan hệ giữa các đốitượng kế toán với nhau Bản thân phương pháp chứng từ kế toán không thể hiện đượcmối quan hệ này
Trang 7Ví dụ: doanh nghiệp chi tiền mặt mua vật liệu nhập kho với số tiền là 1.000.000đồng Nghiệp vụ này làm tiền mặt (tài sản) của doanh nghiệp giảm đi 1.000.000 đồng
và vật liệu (tài sản) của doanh nghiệp tăng 1.000.000 đồng, như vậy giữa tiền mặt vàvật liệu có mối quan hệ với nhau
Với phương pháp chứng từ, kế toán sẽ lập một phiếu chi để chứng minh choviệc chi tiền, lập phiếu nhập kho để chứng minh việc vật liệu đã nhập kho Tự bản thânhai chứng từ này chỉ sao chụp lại nghiệp vụ kinh tế, chưa phản ánh mối quan hệ giữatiền và vật liệu Do đó chưa phục vụ tốt cho việc quản lý, kiểm tra về mọi mặt của tàisản Trong khi đó, quản lý kinh tế rất cần những thông tin tổng hợp về từng đối tượng
kế toán cụ thể và sự biến động của một đối tượng kế toán phải được xem xét trong mốiquan hệ với đối tượng kế toán khác
Từ những vấn đề trên và yêu cầu của việc quản lý tài sản trong các doanhnghiệp đã đặt ra cho kế toán phải xây dựng một phương pháp xử lý thông tin có khảnăng tổng hợp phản ánh được tình hình và sự biến động của từng loại đối tượng kếtoán cũng như mối quan hệ chặt chẽ giữa các đối tượng kế toán Đó chính là phương
pháp tài khoản và ghi kép
2.Ý nghĩa của phương pháp tài khoản -ghi kép
- Phương pháp tài khoản- ghi kép giúp kế toán xử lý các thông tin ban đầu ghi nhậntrên các chứng từ kế toán, từ đó cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình và sựbiến động của từng loại tài sản, nguồn vốn, quá trình hoạt động của các đơn vị kế toánnhằm phục vụ công tác quản lý đạt hiệu quả
- Phương pháp tài khoản – ghi kép sẽ giúp cho kế toán dễ dàng phân loại thông tin trênchứng từ kế toán và phản ánh một cách có hệ thống vào hệ thống sổ sách kế toán được
mở dưới hình thức các tài khoản kế toán để theo dõi cho từng đối tượng kế toán.Cụthể:
Thông qua phương pháp tài khoản – ghi kép có thể hệ thống hóa được thông tin về tàisản và các hoạt động kinh tế tài chính ở các đơn vị, phục vụ cho hoạt động và quản lýkinh tế về tài chính của nhà nước và đơn vị
Thông qua phương pháp tài khoản – ghi kép có thể hệ thống hóa thông tin cụ thể chitiết về tình hình tài sản và sự vận động của tài sản ở cùng đơn vị phục vụ cho yêu cầuquản lý doanh nghiệp, yêu cầu phân cấp quản lý trong đơn vị cũng như yêu cầu quản lýtài sản của đơn vị
Thông qua phương pháp tài khoản – ghi kép có thể hệ thống hóa được số liệu theo cácchỉ số kinh tế tài chính để lập được các báo cáo kế toán định kỳ
- Thực hiện phương pháp tài khoản – ghi kép giúp cho kế toán có được phương pháplưu trữ các thông tin của kế toán một cách tốt nhất và có tính khoa học cao nhất.Thông
Trang 8qua phương pháp này giúp người làm công tác kế toán thực hiện lưu trữ các thông tin
kế toán được thuận tiện, dễ dàng
III/Phương pháp đo lường đối tượng kế toán
1.Cơ sở hình thành phương pháp đo lường đối tượng kế toán
Tại bất cứ một đơn vị nào khi sử dụng tài sản để đạt được mục tiêu, đơn vị đều quan tâm đến các tài sản đó được hình thành từ đâu và tài sản đó được sử dụng như thế nào
Để đáp ứng yêu cầu này, kế toán có chức năng cung cấp thông tin về sự hình thành và
sử dụng tài sản của đơn vị Như vậy, đối tượng kế toán là các tài sản sử dụng trong đơn
vị được kế toán nghiên cứu trong mối quan hệ với nguồn hình thành tài sản của đơn vị Tài sản thể hiện nguồn lực kinh tế được sử dụng tại đơn vị và tình hình phân bổ các nguồn lực đó Nguồn hình thành tài sản thể hiện nguồn gốc tài sản của đơn vị Việc nghiên cứu tài sản không thể tách rời với nguồn hình thành tài sản đó
Kế toán không chỉ nghiên cứu tài sản của đơn vị ở trạng thái tĩnh mà còn nghiên cứu tài sản ở trạng thái động Tài sản của đơn vị vận động thông qua các hoạt động sử dụngtài sản để đạt được mục tiêu đã định Mọi sự vật, hiện tượng luôn vận động biến đổi Trong kế toán, điều này thể hiện rõ ở đối tượng kế toán Trong quá trình hoạt động, tài sản và nguồn vốn của đơn vị không đứng im mà nó luôn vận động, chuyển hóa từ dạngnày sang dạng khác trong quá trình sản xuất, kết thúc một chu kì nó lại được bắt đầu bởi một chu kì với sự gia tăng quy mô, số lượng giúp doanh nghiệp không những tồn tại mà còn phát triển mạnh Do đó, để nghiên cứu sự vận động của tài sản trong đơn vị,
kế toán phải phản ánh kịp thời sự thay đổi về mặt hình thái vật chất và giá trị của tài sản trong quá trình sử dụng tài sản cho hoạt động của đơn vị Mặt khác, kế toán cần phải thu thập, đo lường, phản ánh và cung cấp thông tin về chi phí và doanh thu phát sinh trong quá trình hoạt động của đơn vị để giúp người sử dụng thông tin kế toán đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực kinh tế tại đơn vị, có thể là tiền, máy móc thiết bị hay nguyên vật liệu… Tuy nhiên, tài sản ở đơn vị bao gồm nhiều loại khác nhau và được thể hiện dưới các dạng khác nhau Để đo lường, ghi nhận sự hình thành
và vận động của từng loại tài sản ta có thể sử dụng thước đo hiện vật như: ki-lô –gam, lít, mét….hoặc thước đo thời gian lao động như: giờ, ngày, tháng…hoặc thước đo giá trị Việc sử dụng thước đo hiện vật phải căn cứ vào đặc tính tự nhiên của từng đối tượng cụ thể để lựa chọn thước đo phù hợp Thước đo hiện vật có thể giúp đơn vị theo dõi số lượng hiện có và tình hình biến động của từng loại tài sản nhưng không thể cho biết một các tổng quát quy mô toàn bộ tài sản của đơn vị
Trong hoạt động của đơn vị còn phát sinh các quan hệ kinh tế ngoài tài sản của đơn vị Thuộc về các quan hệ này gồm: các quan hệ kinh tế phát sinh do hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng, các quan hệ nghĩa vụ của đơn vị trong việc sử dụng của cải xã
Trang 9hội….các quan hệ kinh tế này cũng được đặt ra nhu cầu phải thuộc đối tượng nghiên cứu của kế toán.
Trong nền kinh tế hàng hóa, các mối quan hệ kinh tế này được phản ánh thông qua giá
cả, biểu hiện dưới hình thái tiền tệ Như vật, xuất phát từ tính đa dạng về mặt biểu hiện vật chất của đối tượng kế toán cũng như xuất phát từ chức năng cung cấp thông tin của
kế toán về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và các dòng lưu chuyển tiền trong doanh nghiệp cần thiết phải sử dụng thước đo chung - thước đo giá trị
Ví Dụ: công ty ABC ngày 31/12/N có các loại tiền sau: 520.000.000đ; 30.000 USD; 10.000£; 50 lượng vàn SJC.Câu hỏi đặt ra là tổng số tiền trong khối tài sản của đơn vị trên là bao nhiêu? Với đơn vị tính hiện vật, kế toán không thể tổng hợp thông tin về tiền của đơn vị ABC Để có câu trả lời cần phải sử dung một đơn vị tính cho doanh nghiệp ABC như sau:
Loại tiền Số lượng Quy đổi ra VNĐ Ghi chú
=>Nhận xét: Việc sử dụng thước đo tiền tệ là đặc trưng cơ bản của kế toán Bằng thước
đo tiền tệ kế toán có thể tính toán, tổng hợp được giá trị của các đối tượng kế toán, qua
đó cung cấp những thông tin hữu ích cho người sử dụng thông tin
Để sử dụng thức đo giá trị, ghi nhận giá trị của tài sản vào chứng từ, sổ sách và báo cáo
kế toán cần thiết phải sử dụng một phương pháp đó là phương pháp đo lường đối tượng kế toán Phương pháp đo lường đối tượng kế toán là phương pháp kế toán để quy đổi hình thức biểu hiện của các đối tượng kế toán từ các thước đo khác nhau về một thước đo chung là sử dụng thước đo tiền tệ để xác định giá trị ghi sổ của các đối tượng cần tính giá theo những nguyên tắc nhất định Đo lường đối tượng kế toán là mộtphương pháp nhằm giải quyết những vấn đề trong quá trình xử lý thông tin kế toán Để
có được thông tin về tình hình hiện có, sự biến động và sự chuyển hóa của mỗi đối
Trang 10tượng kế toán cần phải sử dụng thước đo giá trị - loại thước đo có tính chất tổng hợp,
ưu việt hơn hẳn thước đo hiện vật và thước đo thời gian lao động Đó chính là nguồn gốc hình thành nên phương pháp đo lường các đối tượng kế toán
2.Ý nghĩa của phương pháp đo lường các đối tượng kế toán:
Phương pháp đo lường các đối tượng kế toán có vai trò rất lớn không chỉ trong côngtác kế toán mà còn trong công tác quản lý:
- Phản ánh đúng giá trị thực tế của tài sản hiện có trong một doanh nghiệp tại mộtthời điểm tính giá
- Cho phép xác định và tổng hợp nhiều thông tin cần thiết cho công tác quản lý kinh
tế Ví dụ, thông qua việc tính giá kế toán cung cấp cho người sử dụng những thông tinquan trọng như: giá trị từng loại tài sản của đơn vị, giá thành của các loại sản phẩm…
- Giúp các đơn vị tính toán tổng hợp các chi phí hoạt động từ đó có thể xác địnhđược kết quả hoạt động của đơn vị, qua đó đánh giá hiệu quả của các mặt hoạt độngTrong thực tế, qua phương pháp đo lường các đối tượng kế toán các doanh nghiệpxác định được chi phí đã bỏ ra để sản xuất sản phẩm làm cơ sở xác định giá thành sảnphẩm.Chỉ tiêu giá thành sản phẩm là chỉ tiêu quan trọng đối với các nhà quản trị doanhnghiệp trong việc phân tích, đánh giá tính hợp lý của các khoản chi phí.Trong trườnghợp phát hiện có các chi phí bất hợp lý như chi phí vật liệu tăng, chi phí điện năngtăng, chi phí quản lý sản xuất tăng…thì các nhà quản trị sẽ phải xác định nguyên nhânxảy ra tình trạng xấu đối với hoạt động sản xuất để có biện pháp khắc phục
-Thông qua phương pháp đo lường đối tượng kế toán mới có thể ghi nhận, phản ánhcác đối tượng kế toán vào chứng từ, tài khoản và tổng hợp các thong tin có liên quanđến các báo cáo kế toán
=> Phương pháp đo lường đối tượng kế toán là một trong những phương pháp kếtoán rất quan trọng, sử dụng để định giá các đối tượng kế toán dựa trên những nguyêntắc nhất định, làm căn cứ ghi nhận vào các tài khoản kế toán qua đó cung cấp nhữngthông tin tổng hợp về tình hình hoạt động của các đơn vị kế toán
IV/Phương pháp tổng hợp cân đối
1.Cơ sở hình thành của phương pháp tổng hợp- cân đối kế toán
Kế toán là một công cụ quản lý quan trọng trong các tổ chức Với các phương phápchứng từ, tài khoản và ghi kép, đo lường đối tượng kế toán; kế toán bước đầu đã thựchiện các công việc thu thập, xử lý những thông tin liên quan đến tài sản, nguồn vốn và
sự vận động của tài sản Trong quá trình đó, kế toán có thể cung cấp nhanh nhữngthông tin để người quản lý nắm bắt và chỉ đạo kịp thời các hoạt động hàng ngày.Chẳng hạn, mỗi phiếu nhập kho và xuất kho vật liệu có thể cho biết tình hình thực tế về