Mỗi khoản mục trong báo cáo tài chính đều quan trọng, do đó việc áp dụng các kỹ thuật kiểm toán đặc biệt là kỹ thuật phân tích có thể được xem là một trong những kỹ thuật có nhiều ưu điể
Trang 11
Lời mở đầu
Trong giai đoạn nền kinh tế không ngừng phát triển cùng với quá trình toàn cầu hóa
và đặc biệt với việc nước ta gia nhập tổ chức thương mại lớn nhất thế giới WTO thì sự cần thiết của ngành nghề kiểm toán Việt Nam đang ngày càng trở nên quan trọng, mở ra nhiều
cơ hội và thách thức mới
Trải qua hơn 15 năm phát triển, hoạt động kiểm toán độc lập ở nước ta đã có những bước tiến đáng kể góp phần nâng cao chất lượng quản lý và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
1 Sự cần thiết của đề tài
Yêu cầu đặt ra đối với hoạt động kiểm toán Báo cáo tài chính của doanh nghiệp là phải thể hiện những thông tin trung thực và hợp lý về hoạt động của doanh nghiệp, nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài Mỗi khoản mục trong báo cáo tài chính đều quan trọng, do đó việc
áp dụng các kỹ thuật kiểm toán đặc biệt là kỹ thuật phân tích có thể được xem là một trong những kỹ thuật có nhiều ưu điểm và hiệu quả , đóng vai trò quan trọng trong việc đưa
ra những nhận xét cũng như những dự báo hợp lý của kiểm toán viên.Vì thế, vấn đề nghiên cứu và vận dụng phù hợp các thủ tục phân tích nhằm nâng cao hiệu quả kiểm toán trong thực tế là hết sức cần thiết đối với các công ty kiểm toán Việt Nam
Qua thời gian thực tập tại Công ty TNHH dịch vụ kiểm toán và tư vấn kế toán Bắc Đẩu (PACO), sau khi tìm hiểu quy trình và kỹ thuật kiểm toán tại Công ty, nhận thấy tầm quan trọng của thủ tục phân tích trong quá trình thực hiện hợp đồng kiểm toán, em quyết định chọn đề tài “Vận dụng thủ tục phân tích trong quá trình kiểm toán Báo cáo tài chính tại Công ty kiểm toán Bắc Đẩu” làm chuyên đề tốt nghiệp cho mình
2 Những vấn đề cần giải quyết
Quá trình kiểm toán được chia ra thành 3 giai đoạn: lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán và hoàn thành kiểm toán.Tuy nhiên, trong các giai đoạn, khái quát chung có những vấn đề cần giải quyết sau đây:
- Trong giai đoạn lập kế hoạch:
+ Mức độ sử dụng thủ tục phân tích còn rất hạn chế Việc phân tích thường dừng lại
ở phân tích theo chiều ngang tức là tính toán biến động của số dư tài khoản giữa đầu kỳ và cuối kỳ để tìm ra các chênh lệch bất thường
+ Việc phân tích xu hướng và lập bảng so sánh số liệu trên Báo cáo tài chính giữa năm nay và năm trước không phải lúc nào cũng được kiểm toán viên thực hiên Nếu kiểm toán viên phán đoán khách hàng có mức độ rủi ro cao trên Báo cáo tài chính hoặc những doanh nghiệp có tình hình sản xuất kinh doanh phức tạp thì mới tiến hành các thủ tục phân tích này
+ Trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên không thực hiện việc tính toán các biến động tuyệt đối là do công việc này được thực hiện bởi các kiểm toán viên khác khi đi kiểm chính thức ở công ty khách hàng.Mặt khác, việc tính toán các biến động tuyệt đối thường mất nhiều thời gian, trong khi đó việc lập kế hoạch cho cuộc kiểm toán thường được kiểm toán viên triển khai trong thời gian ngắn
Trang 22
- Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán:
+ Thủ tục phân tích trong thử nghiệm cơ bản đối với một số khách hàng còn ít được
sử dụng
+ Khách hàng của công ty đa phần là những khách hàng vừa và nhỏ, vì vậy những khách hàng này chưa xây dựng được một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu và hiệu quả
+ Các thủ tục phân tích được áp dụng trong quá trình kiểm toán mới chỉ dừng lại ở những kỹ thuật đơn giản (công thức tính toán còn đơn giản, nguồn thông tin chưa đầy đủ) nên hiệu quả thực sự của thủ tục phân tích còn chưa cao
- Trong giai đoạn hoàn thành kiểm toán:
Các kiểm toán viên đã thực hiện khá đầy đủ các thủ tục trong giai đoạn này, tuy nhiên không phải hoàn toàn với tất cả mọi khách hàng đều được tiến hành 1 cách
kỹ càng, lý do vì thời gian của một cuộc kiểm toán là có giới hạn, đặc biệt là đối với hợp đồng kiểm toán trong thời gian ngắn.Vì thế, kiểm toán viên sẽ tập trung vào giai đoạn thực hiện kiểm toán nhiều hơn giai đoạn hoàn thành kiểm toán
3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu trong đề tài này là phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp và phương pháp so sánh, bên cạnh đó cũng kết hợp với một số phương pháp khác như phỏng vấn, thống kê…
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là việc áp dụng thủ tục phân tích trong quá trình kiểm toán Báo cáo tài chính của PACO thông qua việc sử dụng hồ sơ lưu trữ dữ liệu của khách hàng, số liệu của Công ty
5 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này chính là việc áp dụng những kỹ thuật phân tích trong quá trình kiểm toán Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, từ đó đưa ra được những nhận xét, điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị, dự báo xu hướng cho năm hoạt động kế tiếp Để làm được điều này, những nhận định đưa ra phải dựa trên:
+ Hệ thống chuẩn mực kiểm toán của Việt Nam
+ Hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế
+ Các cơ sở lý luận đã được nghiên cứu trong quá trình học tập và những kinh nghiệm đã được truyền đạt bởi những kiểm toán viên lâu năm tại PACO
Trang 33
- Quá trình cung cấp dịch vụ tại PACO
Chương II: Cơ sở lý luận về thủ tục phân tích trong quá trình kiểm toán Báo cáo tài chính
- Tổng quan về thủ tục phân tích trong kiểm toán
- Các giai đoạn áp dụng thủ tục phân tích
Chương III: Áp dụng thủ tục phân tích trong quá trình kiểm toán Báo cáo tài chính tại Công ty TNHH dịch vụ kiểm toán và tư vấn kế toán Bắc Đẩu
- Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
- Giai đoạn thực hiện kiểm toán
- Giai đoạn hoàn thành kiểm toán
Chương IV: Một số nhận xét và ý kiến đóng góp về việc áp dụng thủ tục phân tích trong quá trình kiểm toán Báo cáo tài chính tại PACO
- Nhận xét chung về Công ty TNHH dịch vụ kiểm toán và tư vấn kế toán Bắc Đẩu
- Nhận xét về việc áp dụng thủ tục phân tích Báo cáo tài chính tại PACO
- Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thủ tục phân tích trong quá trình kiểm toán Báo cáo tài chính tại PACO
7 Tài liệu tham khảo
- Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
- Hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế
- Lý thuyết kiểm toán
- Quy định, chính sách kiểm toán tại PACO
- Hồ sơ, dữ liệu được lưu trữ tại PACO
Mặc dù bản thân đã cố gắng rất nhiều nhưng do kiến thức và thời gian tìm hiểu thực
tế còn nhiều hạn chế nên chuyên đề này không tránh khỏi những khiếm khuyết và sai sót
Em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của quý thầy cô để chuyên đề tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn
Trang 44
Chương 1
GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ KIỂM
TOÁN VÀ TƯ VẤN KẾ TOÁN BẮC ĐẨU (PACO)
1.1 Giới thiệu về Công ty TNHH dịch vụ kiểm toán và tư vấn kế toán Bắc Đẩu
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Đầu thế kỷ XX, trước sự phát triển vô cùng mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới và sự xuất hiện của hàng triệu nhà đầu tư chứng khoán cùng với một lượng lớn vốn nước ngoài đầu tư thị trường Việt Nam, ngành kiểm toán độc lập đã ra đời nhằm đáp ứng một số nhu cầu như: nhu cầu quản lý của Nhà nước đối với các doanh nghiệp, nhu cầu của các nhà đầu tư trong
và ngoài nước Yêu cầu đặt ra đối với hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính của đơn vị là phải thể hiện những thông tin trung thực, hợp lý về hoạt động của công ty, báo cáo kiểm toán lúc này chủ yếu phục vụ cho bên thứ ba, giúp họ đánh giá được tình hình tài chính của đơn vị Thêm vào đó, từ khi nước ta phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, đặc biệt là sự ra đời của Luật đầu tư nước ngoài ban hành tại Việt Nam ngày 12/11/1996, ngành kiểm toán độc lập BCTC mới thật sự phát triển Từ rất sớm đã xuất hiện nhiều công ty kiểm toán nước ngoài nổi tiếng: Ernst & Young, KPMG, Price Waterhouse Coopers, … cùng với sự ra đời của công ty kiểm toán Việt Nam (VACO), Công ty dịch vụ
tư vấn tài chính và kiểm toán (AASC) năm 1991…
Đặc biệt hơn nữa là sự kiện Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) tạo điều kiện cho Việt Nam trở thành một điểm đầu tư hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài Do đó số lượng doanh nghiệp trong nước và đầu tư nước ngoài tăng lên nhanh chóng, kéo theo sự ra đời ngày càng nhiều các công ty kiểm toán Để đáp ứng nhu cầu của thị trường, ngày 12 tháng 4 năm 2001, Công ty TNHH dịch vụ kiểm toán và tư vấn kế toán Bắc Đẩu (PACO) chính thức được thành lập và đã nhanh chóng gia nhập vào nhóm các công ty kiểm toán hàng đầu của Việt Nam
Công ty PACO được thành lập theo giấy chứng nhận đăng kí số 4102004517 do Sở kế hoạch và đầu tư TP Hồ Chí Minh cấp, được cấp phép hoạt động trên phạm vi cả nước
Công ty lấy tên là: Công ty TNHH Dịch Vụ Kiểm Toán
Và Tư Vấn Kế Toán Bắc Đẩu
Tên giao dịch: POLARIS AUDITING CO., LTD
Tên viết tắt: PACO
Địa chỉ hoạt động: 30 Hoa Cúc, F7, Q.Phú Nhuận, Tp.HCM
Trang 55
vụ kiểm toán và tư vấn kế toán cho hơn 300 doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trên địa bàn TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai Chặng đường 8 năm hoạt động và phát triển vừa qua chưa phải là dài nhưng cũng đã tạo nên một tên tuổi Bắc Đẩu có vị trí nhất định trong số các công ty kiểm toán hàng đầu của Việt Nam Với tinh thần làm việc hăng say và hết mình, Bắc Đẩu sẽ luôn là địa chỉ tin cậy cho các doanh nghiệp trên khắp các địa bàn trong nước
1.1.2 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ nhân viên
Cơ cấu tổ chức: Công ty có cơ cấu tổ chức khá đơn giản, bao gồm:
- Kỳ kế toán áp dụng là kỳ kế toán năm
- Kỳ kế toán năm là 12 tháng, tính từ đầu ngày 1/1 đến hết ngày 31/12
Trang 66
- Lập dự phòng phải thu khó đòi: dự phòng phải thu khó đòi được lập theo các quy định hiện hành
5 Tổ chức bộ máy kế toán:
- Công ty có một kế toán trưởng
- Công việc và nhiệm vụ của kế toán trưởng:
+ Công việc thường xuyên:
- Xét duyệt các giấy tờ có liên quan
- Kiểm tra, giám sát các nghiệp vụ kinh tế nhằm đảm bảo thực hiện công việc theo đúng qui định
- Theo dõi và quản lý các thông tin chung nhất
- Tổ chức hướng dẫn, bảo quản, lưu trữ các tài liệu kế toán theo đúng qui định
+ Công việc định kỳ:
- Khai báo các thông tin ban đầu
- Xét duyệt lập dự phòng các khoản nợ phải thu khó đòi; xét duyệt các khoản nợ phải thu khó đòi cần xóa sổ…
- Kiểm tra số liệu trên báo cáo để đảm bảo BCTC được lập đúng qui định và chuẩn mực kế toán hiện hành
- Kiểm tra BCTC, trình bài ban giám đốc kí và nộp đúng thời hạn cho cơ quan nhà nước
+ Báo cáo:
-Báo cáo tài chính
-Báo cáo quản trị
-Báo cáo khác
Đội ngũ nhân viên:
Hiện tại Công ty Kiểm toán Bắc Đẩu có khoảng hơn 50 nhân viên, trong đó 4 nhân viên có chứng chỉ kiểm toán viên (CPA) Các nhân viên làm việc chuyên nghiệp và có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán, tư vấn tài chính
Mỗi nhân viên đều được đào tạo về kiến thức chuyên môn, luôn cập nhật thông tin về các văn bản quy phạm pháp luật mới, các chính sách, thông tư mới… nhằm trau dồi thêm khả năng nghiệp vụ của mình
Không chỉ trau dồi kiến thức chuyên môn, các nhân viên ở PACO còn luôn quan tâm,
đề cao nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp, đó là: tính độc lập, khách quan, chính trực, bảo vệ quyền lợi và bí mật kinh doanh của khách hàng trên cơ sở tuân thủ theo pháp luật
Đội ngũ nhân viên trẻ trung, năng động nhưng vững vàng về kiến thức chuyên môn là một trong những điểm nổi bật của Bắc Đẩu Làm việc ở Bắc Đẩu tạo điều kiện cho mỗi cá nhân phát huy khả năng của mình, các nhân viên không ngừng trau dồi kiến thức, học tập kinh nghiệm lẫn nhau, tạo ra môi trường làm việc chuyên nghiệp, hiệu quả và thân thiện
Trang 71.1 3 Các dịch vụ do Công ty cung cấp
1.1.3.1 Dịch vụ kiểm toán
Dịch vụ kiểm toán là dịch vụ mang lại cho Công ty kiểm toán và tư vấn Bắc Đẩu (PACO) nguồn doanh thu lớn nhất và đây cũng là dịch vụ chủ yếu mà Công ty cung cấp cho khách hàng, chiếm 97% doanh số Dịch vụ này bao gồm :
Kiểm toán Báo cáo tài chính
Kiểm toán vốn đầu tư
Kiểm toán chi phí Xây dựng cơ bản
- Thuế nhà thầu
- Lập hồ sơ kê khai, quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp, lập tờ khai thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân, …
- Tư vấn các loại thuế khác
1.1.3.4 Thiết kế và cài đặt các phần mềm kế toán
Công ty cung cấp các phần mềm kế toán được viết, cài đặt sử dụng riêng theo yêu cầu đặc biệt của từng khách hàng
Các phần mềm kế toán này có thể cung cấp in ra các chứng từ sổ sách và báo cáo thích hợp với chế độ kế toán Việt Nam, đồng thời có thề sử dụng sổ sách ghi chép song ngữ giữa Hoa - Việt, Anh – Việt
Trang 88
Các phần mềm kế toán này có thể sử dụng phục vụ trong các ngành công nghiệp khác nhau từ dịch vụ, thương mại, xây dựng, sản xuất, xuất nhập khẩu đến các loại hình kinh doanh khác
1.1.4 Mục tiêu và phương hướng
Về phương hướng: Để đạt những mục tiêu nêu trên công ty đã đưa ra những phương hướng như sau:
Về kế hoạch kinh doanh: Hoàn thành với chất lượng cao các hợp đồng đã kí kết, tăng cường công tác ngoại giao, quảng bá, tiếp thị khách hàng để mở rộng thị trường, tiếp tục xây dựng các quy trình kiểm toán thống nhất nhằm bảo đảm phù hợp với sự thay đổi trong chuẩn mực kế toán, kiểm toán, các thông tư, nghị định mới được ban hành
Về công tác quản lý: Nâng cao năng lực quản lý, khả năng lãnh đạo trong nội bộ các phòng ban từ đó đảm bảo khả năng hoạt động đáp ứng nhu cầu khách hàng cũng như đảm bảo sự phát triển bền vững trong quá trình xây dựng mở rộng quy mô doanh nghiệp sau này
Về công tác đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn và đạo đức kiểm toán viên: Công ty đưa ra các chương trình tập huấn, các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ nhân viên Luôn cập nhật và phổ biến các văn bản, quy định, các chính sách mới ban hành nhằm cung cấp thêm nhiều kiến thức cho đội ngũ nhân viên đồng thời đảm bảo các nhân viên luôn tuân thủ các tiêu chuẩn, nguyên tắc hành nghề kiểm toán
1.2 Công việc của kiểm toán viên chính và các trợ lý kiểm toán
1.2.1 Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán
- Công việc của kiểm toán viên chính:
+ Tìm hiểu thông tin khách hàng
Quá trình tìm hiểu khách hàng thường được các kiểm toán viên có nhiều kinh nghiệm tổ chức đi khảo sát Trong thời gian khảo sát tìm hiểu khách hàng, kiểm toán viên có thể thu thập thêm nhiều thông tin khác nhau tùy thuộc vào tình hình doanh nghiệp và có trách nhiệm nắm kỹ tình hình hoạt động của doanh nghiệp theo các nội dung cụ thể như: mặt pháp lý, đặc điểm kinh doanh, hệ thống kế toán, các thông tin khác…
dựa trên các thông tin thu thập được kiểm toán viên có thể đánh giá sơ bộ về môi trường kiểm soát của doanh nghiệp
+ Thỏa thuận sơ bộ với khách hàng
Khi thấy có thể nhận lời mời kiểm toán, kiểm toán viên tại PACO sẽ trao đổi và thỏa thuận sơ bộ với khách hàng về một số vấn đề như:
Trang 99
Mục đích và phạm vi kiểm toán
Thời gian kiểm toán: kiểm toán theo niên độ, theo 6 tháng, theo quý…
Phí kiểm toán
Việc cung cấp tài liệu kế toán và phương tiện cần thiết cho cuộc kiểm toán…
Bước này thường được thực hiện đối với khách hàng mới hoặc đối với khách hàng
cũ nếu như trong quá trình kiểm toán năm trước phát sinh nhiều vấn đề cần thỏa thuận lại với khách hàng
+ Phân công kiểm toán viên
Sau khi đã đi đến thỏa thuận sơ bộ với khách hàng, Công ty tiến hành phân công kiểm toán viên bao gồm 1 kiểm toán viên chính và các trợ lý kiểm toán Chính sách luân chuyển kiểm toán viên thường được áp dụng nhằm tránh việc quá quen thuộc với khách hàng, dễ dẫn đến sức ỳ tâm lý,và kiểm tra theo lối mòn, mất đi tính khách quan, độc lập…
1.2.2 Giai đoạn thực hiện kiểm toán
+ Công việc của kiểm toán viên chính: sau khi nắm bắt được tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng thông qua bước tìm hiểu thông tin khách hàng đối với khách hàng mới, còn đối với khách hàng cũ thì dựa vào file hồ sơ kiểm toán của các
kỳ trước, kiểm toán viên chính (nhóm trưởng) sẽ phân công công việc kiểm toán cụ thể cho các trợ lý kiểm toán theo từng khoản mục Giám sát và kiểm tra công việc kiểm toán của các trợ lý kiểm toán
+ Công việc của các trợ lý kiểm toán: sau khi nắm bắt được tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng, sẽ kiểm toán khoản mục do nhóm trưởng phân công, viết giấy điều chỉnh những vấn đề còn sai sót trong quá trình thực hiện công tác kế toán của doanh nghiệp, lưu file hồ sơ sau khi đã được nhóm trưởng kiểm tra
1.2.3 Giai đoạn hoàn thành kiểm toán
Sau khi tiến hành quá trình kiểm toán tại khách hàng, các kiểm toán viên sẽ tổng hợp và rà soát lại những công việc đã thực hiện để lập hồ sơ kiểm toán, thực hiện các bút toán điều chỉnh và phát hành báo cáo kiểm toán
Các thành viên trong nhóm kiểm toán sẽ hoàn thành phần việc của mình sau đó gửi báo cáo lên cho trưởng nhóm kiểm toán Trưởng nhóm sẽ rà soát lại những công việc của các nhóm viên và những chứng cứ đã thu thập được
Tiến hành trao đổi với khách hàng những vấn đề, nhận định của kiểm toán viên về báo cáo tài chính, hệ thống kiểm soát nội bộ, hệ thống kế toán và những vấn đề quan trọng khác liên quan đến công việc kế toán và quản lý của đơn vị khách hàng (thư quản lý)
Tập hợp các bút toán điều chỉnh để đưa lên bảng tổng hợp các bút toán điều chỉnh Xác định loại báo cáo kiểm toán phát hành, lập báo cáo kiểm toán dự thảo, trình Ban giám đốc duyệt và gửi cho khách hàng
Thảo luận với khách hàng về báo cáo kiểm toán dự thảo và thực hiện các điều chỉnh
bổ sung (nếu cần thiết)
Phát hành báo cáo kiểm toán chính thức có chữ ký của kiểm toán viên chính và chữ
ký của Giám đốc Công ty Bắc Đẩu
Hoàn tất cuộc kiểm toán và lưu trữ những thông tin cần thiết vào hồ sơ kiểm toán
Trang 1010
Chương II:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC PHÂN TÍCH TRONG QUÁ
TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
2.1 Tổng quan về thủ tục phân tích trong kiểm toán
2.1.1 Khái niệm và mục đích của thủ tục phân tích trong kiểm toán Báo cáo tài chính
sự chính xác
Phân tích là một thủ tục kiểm toán có hiệu quả cao vì tốn ít thời gian, chi phí thấp nhưng có thể cung cấp bằng chứng về sự đồng bộ, hợp lý chung của số liệu, đồng thời giúp không sa nhiều vào các nghiệp vụ cụ thể Thủ tục phân tích được áp dụng trong cả ba giai đoạn của quy trình kiểm toán nhằm thu thập bằng chứng để có thể đi đến một kết luận về
sự hợp lý hay sụ bất thường của số liệu
2.1.1.2 Mục đích của thủ tục phân tích trong kiểm toán Báo cáo tài chính Quy trình phân tích được sử dụng cho các mục đích sau:
- Giúp kiểm toán viên xác định nội dung, lịch trình và phạm vi các thủ tục kiểm toán khác
- Quy trình phân tích được thực hiện như một thử nghiệm cơ bản khi việc sử dụng thủ tục này có hiệu quả hơn so với kiểm tra chi tiết trong việc giảm bớt rủi ro phát hiện liên quan đến cơ sở dẫn liệu của Báo cáo tài chính
- Quy trình phân tích để kiểm tra toàn bộ Báo cáo tài chính trong khâu soát xét cuối cùng của cuộc kiểm toán
2.1.2 Các yếu tố của thủ tục phân tích
Một thủ tục phân tích bao gồm ba yếu tố: dự đoán, so sánh và đánh giá
- Dự đoán: bao gồm các bước sau:
+ Đưa ra một mô hình để dự đoán Xác định những biến tài chính và những biến hoạt động cùng với mối quan hệ giữa hai loại biến này Việc xác định được bản chất mối quan hệ
Trang 1111
giữa các biến tài chính và các biến hoạt động có liên quan là rất quan trọng trong việc xây dựng nên một mô hình để dự đoán
Trong một vài trường hợp, việc xác định được các mối quan hệ giữa các
dữ liệu không phải là đơn giản, nó đòi hỏi một sự sang tạo, biết chọn lựa
và xác định các giả định của người phân tích
+ Xây dựng một mô hình để kết hợp những thông tin Thường khi xác định được mối quan hệ giữa chúng, ta cố gắng biến đổi mối quan hệ đó thành môt mối quan hệ số học (một công thức, một mô hình)
Tổng số liệu thể hiện một sự kết hợp những ảnh hưởng và kết quả của khá nhiều những mối liên hệ và những sự kiện về hoạt động và tài chính Thủ tục này được áp dụng càng chi tiết bao nhiêu thì những mối quan hệ và những sự kiện này càng ít phức tạp bấy nhiêu và thủ tục này càng có khả năng cung cấp một dự đoán đúng và chính xác hơn
Việc thu thập số liệu thiếu chính xác cũng sẽ cho một kết quả dự đoán không chính xác
+ Dự đoán dựa vào mô hình đã xây dựng
Bổ sung vào mô hình các biến số thu thập được để tìm ra một kết quả dự đoán theo mô hình đã xây dựng
- So sánh: bao gồm các bước sau:
+ Xác định mức sai lệch cho phép Việc sử dụng một mô hình để dự đoán chắc chắn là sẽ có những sai số do:
• Bản thân các hệ số sử dụng trong mô hình là chưa phản ánh đầy đủ thực sự các nhân tố có ảnh hưởng
• Thu thập số liệu thế vào các biến số chưa chính xác, nghĩa là bản thân các số liệu đóng vai trò biến số được thu thập là chưa chính xác + So sánh số liệu dự đoán so với số liệu của khách hàng
+ Trình bày với khách hàng về những chênh lệch và yêu cầu giải thích Qua trình bày cho khách hàng về những chênh lệch, khách hàng có thể có nhiều giải thích mà kiểm toán viên cần phải thận trọng trước những lời giải thích này và tìm ra cho được những lời giải thích phù hợp nhất Để xác định được lời giải thích phù hợp, kiểm toán viên cần chứng thực những lời giải thích Việc này có thể thực hiện bằng phỏng vấn với nhiều hơn một nhân viên và xem xét đến tính nhất quán của chúng hoặc cũng có thể bằng những bằng chứng khác mà khách hàng cung cấp như: các hợp đồng, biên bản họp Hội đồng quản trị, các bên hữu quan…
- Đánh giá
Trang 1212
Ở bước này rất cần đến sự linh hoạt của kiểm toán viên Đánh giá ở đây không chỉ đơn thuần dựa trên những so sánh toán học mà còn dựa trên sự xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên
Với những giải thích được chấp nhận (nếu có) cho những chênh lệch (nếu có) mà kết quả của sự so sánh:
+ Vẫn có những bất hợp lý (những chênh lệch còn đáng kể) thì có nghĩa là kiểm toán viên đã không thu thập được một bằng chứng kiểm toán và kiểm toán viên nên cân nhắc xem liệu có nên tiến hành những thủ tục khác thay thế, hoặc trong một vài trường hợp, kiểm toán viên nên xem xét đến khả năng hoàn thiện hơn mô hình dự đoán để chính xác hơn và làm cho chênh lệch có thể giảm xuống Nếu vẫn không giải thích được thì chênh lệch này sẽ được đưa vào bảng tóm tắt về những chênh lệch chưa được điều chỉnh
+ Đã ở mức hợp lý: tùy theo tính chất trọng yếu của khoản mục để quyết định xem có nên:
• Chấp nhận nó như một bằng chứng kiểm toán
• Thận trọng hơn: hoàn thiện hơn nữa dự đoán của chúng ta để kết quả
so sánh được chính xác hơn
• Thận trọng hơn nữa: tiến hành kiểm tra chi tiết
2.1.3 Các phương pháp phân tích
Các thủ tục phân tích gồm có ba loại chính là: phân tích xu hướng, phân tích tỷ số
và phân tích dự báo Các phương pháp này sẽ được trình bày lần lượt dưới đây:
- Phân tích xu hướng
Phân tích xu hướng là xem xét xu hướng biến động số liệu theo thời gian và phát hiện ra xu hướng bất thường (tăng hoặc giảm đột ngột) mà không có lý do rõ ràng Phân tích xu hướng đặc biệt hiệu quả khi áp dụng phân tích thu nhập và chi phí (phân tích biến động chi phí hàng tháng) Phương pháp này được thực hiện qua các bước sau:
+ Dựa vào biến động của số dư một tài khoản, một khoản mục trong suốt một thời kỳ hay qua các thời kỳ (niên độ) để xem xét tính hợp lý của số liệu, ví dụ: Qua khảo sát số liệu của các năm trước, kiểm toán viên nhận thấy doanh thu hàng năm có xu hướng tăng 10% Dựa vào đó, kiểm toán viên có thể ước tính doanh thu cho năm hiện tại dựa trên doanh thu của năm trước Nếu doanh thu không tăng như ước tính của kiểm toán viên thì kiểm toán viên cần phải tìm hiểu thêm nguyên nhân dẫn đến kết quả trên, đồng thời đánh giá tính hợp lý của những nguyên nhân vừa tìm được
+ Kiểm toán viên cần lưu ý có những xu hướng năm trước không liên quan đến xu hướng năm hiện hành, cần tìm hiểu về hoạt động của doanh nghiệp, sự phát triển của nền kinh tế và các nhân tố bên ngoài khác
- Phân tích tỷ số
Phân tích tỷ số là việc tính các tỷ số ở kỳ hiện tại rồi đối chiếu với các tỷ số của các kỳ trước, các tỷ số trong cùng ngành…để đánh giá và phát hiện những sự tahy đổi bất thường trong quá trình hoạt động của đơn vị Phương pháp này thường
Trang 1313
được sử dụng trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán và giai đoạn soát xét tổng thể cuộc kiểm toán hơn là trong quá trình thực hiện kiểm toán
Phân tích tỷ suất được thực hiện qua các bước sau:
+ Căn cứ vào mối quan hệ giữa những tài khoản, khoản mục để tính toán các tỷ suất, ví dụ:
• Tỷ suất giữa các khoản mục trên bảng cân đối kế toán
• Tỷ suất giữa các khoản mục trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
• Tỷ suất giữa các khoản mục trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
+ Sau đó, so sánh tỷ suất năm hiện hành với năm trước hay với những công
ty khác trong cùng một ngành, một tập đoàn Tuy nhiên, cần lưu ý khi sử dụng những tỷ suất ít biến đổi theo thời gian hay ít biến đổi giữa những công ty, những tỷ suất đặc thù của ngành kinh doanh, và không phải tỷ suất nào có thể tính toán đều dùng để xem xét
Ví dụ:
Doanh thu bán hàng và chi phí bán hàng có mối quan hệ tỷ lệ thuận nhưng chỉ ở mức tương đối (có thể trong chi phí bán hàng có chi phí vận chuyển hàng hóa và chi phí này quan hệ tuyến tính với doanh thu bán hàng nhưng lại chiếm tỷ trọng nhỏ trong chi phí bán hàng) thì khi doanh thu bán hàng tăng, chi phí bán hàng chỉ tăng theo ở một mức độ thấp hơn và do đó tỷ số CPBH/DT sẽ có xu hướng giảm Ngược lại, nếu chi phí vận chuyển hàng hóa chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí bán hàng thì lúc này có thể nói giữa chi phí bán hàng và doanh thu bán hàng có mối quan hệ tuyến tính và vì vậy tỷ
số CPBH/DT phải là tương đối ổn định
- Phân tích dự báo (hợp lý)
Phân tích dự báo là một quá trình tính toán nhằm đưa ra các ước tính cho một số dư hay khoản mục trên Báo cáo tài chính Sau đó kiểm toán viên thực hiện việc so sánh số liệu ước tính với số liệu trên sổ sách đơn vị và tìm hiểu những chênh lệch bất thường Phân tích dự báo là phương pháp được sử dụng cho các khoản mục trên Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh Phương pháp này được thực hiện qua các bước sau đây:
+ Đưa ra một công thức ước tính số liệu cần kiểm tra, ví dụ:
• Ước tính chi phí tiền lương dựa trên số nhân viên bình quân và mức lương bình quân
• Ước tính giá trị hàng xuất kho trong kỳ dựa vào giá trị hàng tồn đầu
Trang 1414
• Chi phí tiền lương ước tính được trong năm 20xx là 250 triệu, tuy nhiên chi phí tiền lương thực tế lại là 280 triệu, như vậy chênh lệch bất thường là 30 triệu
+ Giải thích những biến động, những chênh lệch bất thường: “Trường hợp quy trình phân tích phát hiện được những chênh lệch trọng yếu và mối liên hệ không hợp lý giữa các thông tin tương ứng, hoặc có chênh lệch lớn với số liệu dự tính, kiểm toán viên phải thực hiện các thủ tục điều tra để thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp” (VSA 520 đoạn 18)
• Kiểm tra lại những câu trả lời của Giám đốc (hoặc người đứng đầu) bằng cách đối chiếu với những bằng chứng kiểm toán khác đã thu được trong quá trình kiểm toán
• Xem xét, thực hiện các thủ tục kiểm toán khác nếu Ban Giám đốc (hoặc người đứng đầu) vẫn không thể giải thích được hoặc giải thích không thỏa đáng
Trong các bước trên, việc đưa ra một công thức ước tính được xem là bước quyết định nhất và cũng đòi hỏi khả năng của người phân tích nhất.Việc đưa ra một công thức ước tính phù hợp sẽ là một kết quả dự báo chính xác
và ngược lại sẽ cho một kết quả thiếu chính xác và dẫn đến những đánh giá sai lầm về số liệu kiểm tra
2.1.4 Mức độ tin cậy của thủ tục phân tích
Theo VSA 520 (đoạn 15): “ Quy trình phân tích được áp dụng cho các thông tin có thực và có mối quan hệ lẫn nhau Kết quả phân tích các mối liên hệ cung cấp cho kiểm toán viên các bằng chứng kiểm toán về sự đầy đủ, tính chính xác, tính hợp lý về các dữ liệu
do hệ thống kế toán lập ra Độ tin cậy của quy trình phân tích phụ thuộc vào sự đánh giá của kiểm toán viên về rủi ro mà quy trình phân tích không phát hiện được (Ví dụ: Kết quả phân tích không thể hiện sự biến động hay chênh lệch lớn nhưng trong thực tế vẫn có sai sót trọng yếu ) ”
Mức độ tin cậy vào kết quả của quy trình phân tích phụ thuộc vào các nhân tố sau:
- Tính trọng yếu của các tài khoản hoặc loại nghiệp vụ (Ví dụ: Hàng tồn kho là trọng yếu thì không chỉ dừng lại ở quy trình phân tích mà còn thực hiện một số thủ tục kiểm tra chi tiết khác trước khi kết luận Ngược lại, khoản mục nợ phải thu được coi là không trọng yếu thì có thể chỉ căn cứ vào kết quả phân tích để kết luận)
- Các thủ tục kiểm toán khác có cùng một mục tiêu kiểm toán (Ví dụ: Thủ tục kiểm tra nghiệp vụ thu tiền sau ngày khóa sổ của các khoản phải thu sẽ khẳng định hoặc phủ nhận kết quả của quy trình nợ phải thu theo thời hạn…)
- Độ chính xác có thể dự kiến của quy trình phân tích (Ví dụ: Kiểm toán viên thường so sánh, phân tích tỷ lệ lãi gộp giữa năm nay với năm trước hơn là so sánh các chi phí bất thường giữa năm trước với năm nay…)
- Đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát (Ví dụ: Nếu việc kiểm soát nội bôn của bộ phận bán hàng là yếu kém thì nên dựa vào kiểm tra chi tiết hơn là dựa vào quy trình phân tích…)
Trang 1515
2.1.5 Trình tự thực hiện thủ tục phân tích
2.1.5.1 Chọn mô hình phân tích thích hợp
Việc lựa chọn phương pháp phân tích là một bước quan trọng trong quá trình vận
dụng thủ tục phân tích vì nó góp phần quyết định tính hiệu quả mà thủ tục phân tích mang
lại Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp phân tích thích hợp, do đó
đòi hỏi kiểm toán viên phải thận trọng khi lựa chọn và cần phải hiểu rõ về khách hàng
Trong thực tế, việc lựa chọn thủ tục phân tích còn phụ thuộc vào xét đoán của kiểm
toán viên Tùy vào mục tiêu cần đạt, kiểm toán viên có thể lựa chọn một trong ba phương
pháp phân tích trên hoặc kết hợp các phương pháp với nhau Việc lựa chọn phương pháp
phân tích thích hợp có thể được tóm tắt như bảng sau:
Một tài khoản, khoản mục Nhiều tài khoản, khoản mục Trong cùng một kỳ Phân tích tính hợp lý Phân tích tỷ số
Qua hai hay nhiều kỳ Phân tích xu hướng Kết hợp phân tích xu hướng và tỷ số
Ngoài ra, tùy theo vị trí của khoản mục trên báo cáo tài chính, kiểm toán viên có thể
lựa chọn phương pháp thích hợp:
Vị trí trên báo cáo tài chính Loại thủ tục phân tích
Phân tích xu hướng
Phân tích tỷ
số
Phân tích tính hợp lý
Báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh
Hữu ích Rất hữu ích Rất hữu ích
Tuy nhiên, không có một nguyên tắc cứng nhắc duy nhất nào khi lựa chọn phương
pháp phân tích Mỗi phương pháp áp dụng sẽ có hiệu quả đối với từng trường hợp cụ thể
Chính vì vậy, kiến thức và kinh nghiệm của kiểm toán viên là nhân tố quan trọng quyết
định sự thành công của thủ tục phân tích
2.1.5.2 Lựa chọn và thu thập dữ liệu cho mô hình phân tích thích hợp
Dữ liệu thường được lấy từ các nguồn sau đây:
+ Báo cáo tài chính và báo cáo kế toán khác có liên quan
+ Số liệu kiểm toán giữa niên độ
+ Sổ sách đơn vị
+ Các kế hoạch tài chính
+ Chỉ tiêu một số doanh nghiệp cùng ngành hoặc các đối thủ cạnh tranh
+ Các tài liệu khác như:
Trang 1616
• Thông tin chung như cơ hội kinh doanh, sự tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế thế giới, khu vực hay trong nước có tác động mạnh mẽ đến tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
• Các thông tin đặc thù theo ngành của doanh nghiệp như tính chất của sản phẩm, quy trình kỹ thuật áp dụng, cơ cấu sản xuất, tốc độ phát triển…
2.1.5.3 Đánh giá độ tin cậy của các dữ liệu
Tính độc lập và đáng tin cậy của các dữ liệu trong quá trình ứng dụng mô hình phân tích có ảnh hưởng trực tiếp đến độ chính xác về các dự đoán của kiểm toán viên và vì thế cũng ảnh hưởng đến bằng chứng kiểm toán thu nhận được từ thủ tục phân tích Do đó, để đánh giá độ tin cậy của dữ liệu, kiểm toán viên cần xem xét:
+ Dữ liệu thu thập xuất phát từ những nguồn độc lập ngoài doanh nghiệp hay từ những nguồn trong doanh nghiệp
+ Những nguồn thông tin bên trong doanh nghiệp có độc lập với người chịu trách nhiệm cho kết quả do kiểm toán đạt được thông qua thủ tục phân tích không
+ Dữ liệu thu thập trong năm nay và năm trước có được kiểm toán theo quy định và chuẩn mực không
+ Kiểm toán viên có thực hiện thủ tục phân tích sử dụng dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau hay không
2.1.5.4 Thực hiện việc phân tích, xác định mức chênh lệch và tìm nguyên nhân
Sau khi xác định được nguồn gốc và đánh giá được độ tin cậy của các dữ liệu, kiểm toán viên đi vào việc thực hiện thủ tục phân tích để tìm ra những chênh lệch bất thường giữa các khoản mục, phát hiện những sự thay đổi trong quá trình hoạt động của đơn vị và tìm thấy những xu hướng (tăng hoặc giảm đột ngột) mà không có lý do rõ ràng
Để tìm ra nguyên nhân của những chênh lẹch hay xu hướng trên, trước hết kiểm toán viên cần phải xác định mức chênh lệch bằng cách so sánh những ước tính của mình và đối chiếu số liệu với đơn vị
Nếu mức chênh lệch nhỏ hơn mức trọng yếu, tức là có thể chấp nhận được thì kiểm toán viên chấp nhận khoản mục đó, ngược lại, nếu mức chênh lệch lớn hơn mức trọng yếu thì kiểm toán viên phải tìm cho được nguyên nhân dẫn đến tình trạng chênh lệch giữa số liệu ước tính và số liệu thực tế của đơn vị
2.1.5.5 Rút ra kết luận về bằng chứng kiểm toán thu thập được
Đánh giá về mức độ đảm bảo hợp lý đã đạt được: việc đi tìm giải thích hợp lý cho
sự chênh lệch không phải lúc nào cũng mang lại một kết quả là chênh lệch đã được điều chỉnh lại và phù hợp với mức sai sót cho phép Đối với những tài khoản mà sau khi thu thập được them thông tin và có thể cho thấy rằng nó có số dư hợp lý thì xem như kiểm toán viên đã thu thập được một bằng chứng kiểm toán và thủ tục phân tích đã đạt được mục tiêu của nó
Xem xét và đánh giá khác biệt không giải thích được: khi không xác định được nguyên nhân gây ra chênh lệch (không tìm được lời giải thích phù hợp cho sự chênh lệch) hoặc mức chênh lệch sau khi điều chỉnh vẫn còn lớn hơn mức sai sót cho phép, kiểm toán viên đã không thu được bằng chứng kiểm toán theo dự tính và sẽ phải cân nhắc liệu có nên tiến hành một thủ tục khác thay thế hay không Kiểm toán viên sẽ nghi ngờ về khả năng
Trang 17Việc áp dụng thủ tục phân tích trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính
sẽ mang lại những ưu điểm sau:
• Cung cấp các bằng chứng về sự đồng bộ, chính xác và có giá trị về
số liệu kế toán
• Giúp đánh giá được những nét tổng thể và không bị sa vào các nghiệp vụ cụ thể
• Tốn ít thời gian và chi phí
• Có thể sử dụng đối với tất cả khoản mục trên báo cáo tài chính
• Được sử dụng trong tất cả các giai đoạn của quy trình kiểm toán
- Nhược điểm
Bên cạnh những ưu điểm vừa nêu trên, khi áp dụng thủ tục phân tích vẫn còn tồn tại một số những hạn chế sau:
• Không phải lúc nào thủ tục phân tích cũng cho những bằng chứng có
độ tin cậy cao
• Thủ tục phân tích không phát hiện được các sai sót có giá trị nhỏ hoặc những sai sót lớn nhưng vận động ngược chiều nhau, bù trừ lẫn nhau
• Thủ tục phân tích phải dựa trên mối quan hệ bản chất giữa các chỉ tiêu được so sánh
• Chỉ áp dụng cho những khoản mục không trọng yếu, rủi ro thấp, còn những khoản mục trọng yếu, ngoài việc áp dụng thủ tục phân tích còn phải kết hợp với các thử nghiệm chi tiết
• Hệ thống kiểm soát nội bộ phải tương đối tốt Nếu áp dụng thủ tục phân tích với hệ thống kiểm soát nội bộ yếu kém sẽ có rủi ro cao 2.1.7 Những lỗi thường gặp khi áp dụng thủ tục phân tích
Khi áp dụng thủ tục phân tích, kiểm toán viên thường mắc phải những lỗi sau đây:
- Thiếu sự hiểu biết về đặc thù của ngành kinh doanh đó Nếu thiếu sự hiểu biết về đặc thù của ngành kinh doanh, kiểm toán viên sẽ không có được những phán đoán đúng hướng và hợp lý, chỉ khi nào kiểm toán viên hiểu biết rõ về những đặc thù của ngành kinh doanh của khách hàng thì mới có thể dự đoán các số liệu một cách hợp lý và có thể đánh giá chính xác được những số liệu trên báo cáo tài chính của khách hàng,
mà những số liệu này có thể được đánh giá và nhìn nhận một cách có thể hoàn toàn khác hẳn đối với những người không có hiểu biết rõ về ngành kinh doanh đó
- Theo dõi kiểm tra không hợp lý
Trang 1818
Kiểm toán viên có xu hướng tìm kiếm lời giải thích cho những chênh lệch chỉ ở đội ngũ nhân viên kế toán chứ không tìm ở những bộ phận khác phù hợp hơn, là nơi nắm rõ vấn đề hơn hoặc khách quan hơn bộ phận kế toán Một đặc điểm khác nữa là sau khi đã được giải thích, kiểm toán viên thường không có động tác kiểm chứng lại những lời giải thích ấy và bỏ qua, xem như chênh lệch phát hiện được đã được giải thích thỏa đáng
- Mục tiêu không rõ ràng Trong nhiều trường hợp, kiểm toán viên tiến hành một thủ tục phân tích dựa theo chương trình hoặc thói quen mà không biết tại sao phải tiến hành
nó Điều này thể hiện kiểm toán viên đã không xác định được những mục tiêu một cách rõ rang trước khi thực hiện thủ tục phân tích dẫn đến thủ tục phân tích có thể không đạt được mục tiêu và hiệu quả mong đợi
- Thông tin chưa thích hợp Đây là lỗi mà kiểm toán viên đưa các thông tin thu thập một cách chưa thích hợp vào mô hình để sự đoán Nghĩa là các thông tin có thể thiếu độ tin cậy mà kiểm toán viên chưa kiểm tra lại, hoặc các thông tin chưa phù hợp “gây nhiễu” đến sự tính toán
- Chưa nắm đầy đủ các mối quan hệ bản chất Lỗi này do kiểm toán viên chưa hiểu được mối quan hệ giữa các yếu tố nên không nắm được những biến đổi qua tác động của các yếu tố phụ thuộc nhau, không lường được yếu tố nào sẽ biến đổi và có xu hướng đi giải thích cho những biến đổi chứ chưa tìm hiểu tại sao có những yếu tố không biến đổi Ngoài ra, việc không nắm được mối quan hệ giữa các chỉ tiêu được so sánh trong khi chúng có mối quan hệ khá hời hợt cũng làm việc phân tích trở nên vô nghĩa
2.2 Các giai đoạn áp dụng thủ tục phân tích
2.2.1 Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Theo VSA 520 (đoạn 09) quy định: “Kiểm toán viên phải áp dụng quy trình phân tích trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán để tìm hiểu tình hình kinh doanh của đơn vị và xác định những vùng có thể có rủi ro Quy trình phân tích giúp kiểm toán viên xác định được nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán khác…” Theo đó, việc thực hiện thủ tục phân tích trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán là một thủ tục bắt buộc trong quá trình kiểm toán, trong đó, những hiểu biết về kế hoạch đóng vai trò quan trọng giúp kiểm toán viên xây dựng các ước tính để phân tích
Bên cạnh đó, VSA 310 (đoạn 02)- Hiểu biết về tình hình kinh doanh- quy định: “Để thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải có hiểu biết đầy đủ về tình hình kinh doanh nhằm đánh giá và phân tích các sự kiện, nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động của đơn vị mà theo kiểm toán viên có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính, đến việc kiểm tra của kiểm toán viên, hoặc đến báo cáo kiểm toán…”
Kiểm toán viên phải thu thập và nghiên cứu tài liệu, tham quan đơn vị, phỏng vấn các cá nhân có liên quan và thực hiện phân tích sơ bộ báo cáo tài chính để đạt được những
Trang 19- Tính toán các tỷ số tài chính cơ bản
- Xem xét những mối quan hệ bất thường, như vòng quay hàng tồn kho nhanh nhưng tỷ lệ lãi gộp lại có xu hướng giảm
- So sánh và ghi nhận các biến động tuyệt đối
- So sánh và ghi nhận các biến động bất thường
Lưu ý trong giai đoạn này, điều kiện tài chính và khả năng trả nợ đến hạn của đơn
vị phải được kiểm toán viên chú trọng khi thực hiện thủ tục phân tích Tình trạng xấu đi của khả năng thanh khoản hay các tỷ số sinh lời của đơn vị có thể là một biểu hiện của rủi
ro tiềm tang, dẫn đến rủi ro đơn vị sẽ trình bày sai lệch trọng yếu trên báo cáo tài chính 2.2.2 Giai đoạn thực hiện kiểm toán
Trong quy trình kiểm toán, nhằm giảm bớt rủi ro phát hiện liên quan đến cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải thực hiện thủ tục phân tích hoặc kiểm tra chi tiết hoặc kết hợp cả hai Nhằm xác định quy trình kiểm toán thích hợp cho một mục tiêu kiểm toán cụ thể, kiểm toán viên phải xét đoán hiệu quả của từng thủ tục kiểm toán
Kiểm toán viên phải thảo luận với ban giám đốc, kế toán trưởng hoặc người đại diện của đơn vị được kiểm toán về khả năng cung cấp thông tin và độ tin cậy của các thông tin cần thiết cho việc áp dụng thủ tục phân tích
Khi áp dụng thủ tục phân tích, kiểm toán viên phải xem xét các yếu tố sau:
- Mục tiêu của phân tích và độ tin cậy kết quả thu được
- Đặc điểm của đơn vị và mức độ chi tiết hóa thông tin
- Khả năng sẵn có của thông tin tài chính và phi tài chính
- Độ tin cậy của các thông tin
- Khả năng so sánh của thông tin
- Những hiểu biết có được từ cuộc kiểm toán các kỳ trước cùng với hiểu biết về tính hiệu quả của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ và các vấn đề nảy sinh dẫn đến các bút toán điều chỉnh trong những kỳ trước 2.2.3 Giai đoạn hoàn thành kiểm toán
Trước khi lập báo cáo kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh giá tổng quát về các kết quả thu thập được Công việc này nhằm soát xét lại toàn bộ quá trình kiểm toán, kết quả thu được và cân nhắc các cơ sở để đưa ra y kiến về báo cáo tài chính
Trong giai đoạn soát xét tổng thể cuộc kiểm toán, kiểm toán viên phải áp dụng thủ tục phân tích để có những kết luận tổng quát về sự phù hợp trên các khía cạnh trọng yếu của báo cáo tài chính với những hiểu biết của mình về tình hình kinh doanh của đơn vị Việc này nhằm đánh giá tính đồng bộ và xác thực của các thông tin tài chính thu thập được, nhất là những số liệu kiểm toán của các khoản mục trên báo cáo tài chính
Thủ tục phân tích giúp kiểm toán viên khẳng định lại những kết luận có được trong suốt quá trình kiểm tra các tài khoản hoặc khoản mục trên báo cáo tài chính Trên cơ sở đó
Trang 20bộ phận riêng lẻ
Chương III:
ÁP DỤNG THỦ TỤC PHÂN TÍCH TRONG QUÁ TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN KẾ TOÁN BẮC ĐẨU
3.1 Khái quát quy trình kiểm toán chung tại PACO
3.1.1 Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
3.1.1.1 Tiếp nhận yêu cầu của khách hàng
- Công ty tiếp nhận yêu cầu của khách hàng thông qua điện thoại, thư từ, fax…
- Khi tiếp nhận yêu cầu của khách hàng, Công ty sẽ tìm hiểu một số thông tin
sơ bộ và hẹn ngày làm việc cụ thể
- Đối với khách hàng cũ, Công ty sẽ trao đổi trực tiếp với khách hàng, thảo luận về các thông tin và hợp đồng kiểm toán mới cho năm hiện hành 3.1.1.2 Tìm hiểu thông tin khách hàng
Quá trình tìm hiểu khách hàng thường được các kiểm toán viên có nhiều kinh nghiệm tổ chức đi khảo sát Trong thời gian khảo sát tìm hiểu khách hàng, kiểm toán viên có thể thu thập thêm nhiều thông tin khác nhau tùy thuộc vào tình hình doanh nghiệp và có trách nhiệm nắm kỹ tình hình hoạt động của doanh nghiệp theo các nội dung cụ thể
- Về mặt pháp lý + Loại hình doanh nghiệp (Nhà nước, tập thể, tư nhân, cổ phần, trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài…)
+ Lĩnh vực, phạm vi và đối tượng kinh doanh, thời gian được phép hoạt động
+ Chuẩn mực, chế độ kế toán, các quy định pháp luật và các chính sách và
có liên quan
- Đặc điểm kinh doanh
Trang 21+ Các tài sản và công nợ, nghiệp vụ bằng ngoại tệ…
+ Các chính sách về thanh toán, chính sách đối với nợ quá hạn
+ Thu thập báo cáo tài chính của năm kiểm toán và các năm trước để hiểu được tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và các vấn
đề cần quan tâm khi kiểm toán Mục đích của việc thu thập báo cáo tài chính kiểm toán giúp kiểm toán viên có thể hiểu biết được tổng quát, phân tích và đánh giá xu hướng phát triển của doanh nghiệp
- Bộ máy quản lý - Phòng kế toán + Các chủ sở hữu vốn và các bên liên quan (trong nước, ngoài nước, uy tín và kinh nghiệm…);
+ Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý, bộ máy sản xuất kinh doanh;
+ Các thông tin về ban giám đốc và bộ máy kế toán (Ví dụ như: năng lực, trình độ chuyên môn, phân cấp quyền hạn và trách nhiệm trong bộ máy điều hành, người có thẩm quyền quyết định và phê chuẩn tại công ty…)
+ Phương pháp ghi nhận doanh thu và chi phí tại đơn vị: các hợp đồng vay, thư xác nhận số vay tại Ngân hàng
- Những thông tin khác
Các khoản vay, thế chấp, ký quỹ, ký cược của đơn vị + Xem qua biên bản quyết toán thuế, và các văn bản về giảm thuế, hoàn thuế, hạn ngạch xuất khẩu…
+ Thu thập các biên bản họp hội đồng quản trị, ban giám đốc…
+ Xem xét quy trình sản xuất của doanh nghiệp, tham quan các phòng ban, nhà xưởng, kho chứa hàng tồn kho… phỏng vấn các nhân viên để hiểu rõ hơn về hoạt động kiểm soát của khách hàng, các chính sách kinh doanh từ phía Ban lãnh đạo
Trang 22Tại PACO, khách hàng mới thường là thuộc 2 đối tượng sau:
Những công ty đang trong giai đoạn đầu tư xây dựng cơ bản, chuẩn bị đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh
Các công ty đã có kiểm toán viên tiền nhiệm trường hợp này nếu có sự đồng ý chính thức của đơn vị, kiểm toán viên PACO sẽ tiếp xúc với họ để đánh giá khả năng nhận lời kiểm toán thông qua việc thu thập các thông tin hữu ích từ phía kiểm toán viên tiền nhiệm, chẳng hạn như tính chính trực của các nhà quản lý đơn vị, hệ thống kiểm soát nội bộ lý do khiến họ không tiếp tục cộng tác với nhau, các bất đồng giữa hai bên (nếu có)…
Từ các thông tin thu thập được, kiểm toán viên nghiên cứu và phân tích
sơ bộ về tình hình tài chính của doanh nghiệp, đánh giá và ước lượng sơ
bộ về mức trọng yếu rủi ro tiềm tàng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng để quyết định xem có nên nhận lời kiểm toán không?
+ Khách hàng cũ Hàng năm, sau khi hoàn thành kiểm toán, việc cập nhật thông tin nhắm đánh giá lại khách hàng hiện hữu để xem có nên tiếp tục kiểm toán cho
họ nữa không, nghiên cứu xem có cần phải thay đổi nội dung của hợp đồng kiểm toán hay không,…, là điều mà PACO luôn thực hiện nhằm hạn chế những rủi ro có thể xảy ra trong công tác kiểm toán nói chung và giữ uy tín cho Công ty nói riêng
Ngoài ra, do đã từng kiểm toán cho đơn vị nên trong hồ sơ kiểm toán năm trước sẽ có nhiều thông tin cần thiết cho cuộc kiểm toán năm hiện hành Do đó kiểm toán viên sẽ kiểm tra hồ sơ kiểm toán năm trước xem
có những sai sót nào đã được phát hiện, sau đó tiếp tục theo dõi xem chúng có được sửa chữa ở năm hiện hành hay chưa
3.1.1.3 Thỏa thuận sơ bộ với khách hàng
Khi thấy có thể nhận lời mời kiểm toán kiểm toán viên tại PACO sẽ trao đổi và thỏa thuận sơ bộ với khách hàng về một số vấn đề như:
Mục đích và phạm vi kiểm toán
Thời gian kiểm toán: kiểm toán theo niên độ, theo 6 tháng, theo quý…
Phí kiểm toán
Việc cung cấp tài liệu kế toán và phương tiện cần thiết cho cuộc kiểm toán…
Bước này thường được thực hiện đối với khách hàng mới hoặc đối với khách hàng
cũ nếu như trong quá trình kiểm toán năm trước phát sinh nhiều vấn đề cần thỏa thuận lại với khách hàng
Trang 2323
3.1.1.4 Hợp đồng kiểm toán
Hợp đồng kiểm toán giữa PACO và khách hàng thông thường bao gồm những yếu tố sau:
- Số hiệu văn bản, ngày thàng năm ký hợp đồng;
- Tên, địa chỉ, số tài khoản và ngân hàng giao dịch của các bên;
- Nội dung dịch vụ;
- Chất lượng, hoặc yêu cầu công việc;
- Mục đích, phạm vi và nội dung kiểm toán…;
- Trách nhiệm của ban giám đốc đơn vị được kiểm toán trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính;
- Trách nhiệm của khách hàng trong việc cung cấp chứng từ, tài kiệu kế toán và những thông tin khác liên quan đến công việc kiểm toán;
- Hình thức báo cáo kiểm toán;
Ngoài ra, trong hợp đồng cũng khẳng định với đơn vị là kiểm toán viên không có trách nhiệm phát hiện mọi gian lận và sai sót Điều này đã được nêu rõ trong Chuẩn mực kiểm toán VSA “Gian lận và sai sót” rằng “Giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị chịu trách nhiệm trong việc ngăn ngừa, phát hiện và xử lý các gian lận và sai sót trong đơn vị…”
3.1.1.5 Phân công kiểm toán
Sau khi đã đi đến thỏa thuận sơ bộ với khách hàng, Công ty tiến hành phân công kiểm toán viên Chính sách luân chuyển kiểm toán viên thường được áp dụng nhằm tránh việc quá quen thuộc với khách hàng, dễ dẫn đến sức ỳ tâm lý,và kiểm tra theo lối mòn, mất đi tính khách quan, độc lập…
Nhóm trưởng sẽ xem xét hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm toán cho các cuộc kiểm toán Thông thường trước khi chấp nhận kiểm toán cho một khách hàng mới hoặc thực hiện kiểm toán cho một khách hàng cũ thì nhóm trưởng sẽ xuống khách hàng tiến hành khảo sát sơ bộ để tìm hiểu về khách hàng Các thông tin ghi nhận được trong quá trình này được nhóm trưởng ghi nhận lại
Kế hoạch kiểm toán (kế hoạch kiểm toán là một bản kế hoạch chi tiết về thời gian
và nhân sự cần thiết thực hiện cuộc kiểm toán) được lập sau khi giữa khách hàng
và công ty kiểm toán đã có được một sự thống nhất về tất cả các mặt như: thời gian, địa điểm, giá phí, phương pháp, đối tượng được kiểm toán… Trong đó, nhóm trưởng sẽ chỉ định những công việc cụ thể mà các thành viên trong nhóm sẽ thực hiện Ngoài ra nhóm trưởng dựa vào kinh nghiệm của mình đưa ra những vấn đề trọng tâm cần thực hiện ở các khoản mục giúp cho các thành viên trong nhóm thực hiện công việc của mình có hiệu quả hơn
Trang 2424
3.1.2 Giai đoạn thực hiện kiểm toán
Trước khi thực hiện kiểm toán chi tiết cho từng khoản mục, kiểm toán viên phải tìm hiểu và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng thông qua việc phỏng vấn, và thực hiện phép thử walkthrough Việc kiểm toán bao gồm thực hiện các thử nghiệm kiểm soát, thử nghiệm cơ bản để thu thập bằng chứng chứng minh cho số liệu kế toán của đơn vị được trình bày trung thực và hợp lý
Các tài liệu yêu cầu khách hàng chuẩn bị
Báo cáo tài chính:
Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh báo cáo tài chính
Các báo cáo phụ : bảng cân đối số phát sinh, bảng cân đối thử
Phân tích giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
+ Các biên bản quyết toán thuế năm kiểm toán + Biên bản đối chiếu bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội cuối kỳ
- Sổ sách kế toán + In sổ chi tiết các tài khoản như: tiền mặt, tiền gởi Ngân hàng, tài khoản doanh thu, chi phí, công nợ, hàng hóa…
+ Bảng đăng ký khấu hao TSCĐ
- Chứng từ có liên quan + Các biên bản kiểm kê vào ngày 31/12/2008 của đơn vị: biên bản kiểm kê quỹ tiền mặt, kiểm kê kho vật tư, hàng hóa, nguyên vật liệu, tài sản cố định
+ Bộ Tờ khai hải quan đối với những tài sản cố định, hàng hóa, nguyên vật liệu xuất khẩu và nhập khẩu để đối chiếu với các bộ phận liên quan + Chứng từ ngân hàng (sổ phụ, bảng sao kê, báo nợ, báo có,…) của tất cả các ngân hàng mà đơn vị mở tài khoản, Biên bản xác nhận số dư cuối niên
độ của tất cả các ngân hàng mà đơn vị mở tài khoản
+ Báo cáo nhập-xuất-tồn của vật tư, hàng hóa năm 2008 theo giá trị và số lượng
+ Chi tiết số dư nợ cuối kỳ của các tài khoản công nợ phải thu, phải trả + Biên bản xác nhận công nợ phải thu, phải trả đến ngày 31/12/2008
Trang 25+ Biên bản họp Hội đồng Quản trị
+ Các hợp đồng tín dụng, giấy phép đầu tư mới và các tài liệu quan trọng
khác
+ Thư từ của công ty mẹ hoặc các bên hữu quan
* Sau đó, các nhóm sẽ xuống các doanh nghiệp và tiến hành các thủ tục kiểm toán trong chương trình kiểm toán Giấy làm việc, các bằng chứng kiểm toán được đánh tham chiếu
và lưu files
3.1.3 Giai đoạn hoàn thành kiểm toán
Sau khi tiến hành quá trình kiểm toán tại khách hàng, các kiểm toán viên sẽ tổng hợp và rà soát lại những công việc đã thực hiện để lập hồ sơ kiểm toán, thực hiện các bút toán điều chỉnh và phát hành báo cáo kiểm toán
Các thành viên trong nhóm kiểm toán sẽ hoàn thành phần việc của mình sau đó gửi báo cáo lên cho trưởng nhóm kiểm toán Trưởng nhóm sẽ rà soát lại những công việc của các nhóm viên và những chứng cứ đã thu thập được
Tiến hành trao đổi với khách hàng những vấn đề, nhận định của kiểm toán viên về báo cáo tài chính, hệ thống kiểm soát nội bộ, hệ thống kế toán và những vấn đề quan trọng khác liên quan đến công việc kế toán và quản lý của đơn vị khách hàng (thư quản lý)
Tập hợp các bút toán điều chỉnh để đưa lên bảng tổng hợp các bút toán điều chỉnh Xác định loại báo cáo kiểm toán phát hành, lập báo cáo kiểm toán dự thảo, trình Ban giám đốc duyệt và gửi cho khách hàng
Thảo luận với khách hàng về báo cáo kiểm toán dự thảo và thực hiện các điều chỉnh
bổ sung (nếu cần thiết)
Phát hành báo cáo kiểm toán chính thức có chữ ký xác nhận của kiểm toán viên chính và chữ ký của Giám đốc và dấu của Công ty Bắc Đẩu
Hoàn tất cuộc kiểm toán và lưu trữ những thông tin cần thiết vào hồ sơ kiểm toán Lưu hồ sơ kiểm toán
Hồ sơ kiểm toán lưu trữ đầy đủ các chứng cứ mà kiểm toán viên thu thập được Đó
là những bằng chứng, tài liệu về quá trình làm việc của kiểm toán viên tại khách hàng, các bằng chứng thu thập được ( sổ sách kế toán, chứng từ gốc, biên bản, hợp đồng…) nhằm hỗ trợ cho quá trình kiểm toán và làm cơ sở cho ý kiến của kiểm toán viên trên báo cáo tài chính
Trang 2626
Hồ sơ kiểm toán là cơ sở cho việc phát hành báo cáo kiểm toán và là cơ sở pháp lý cho những sự kiện xảy ra sau này Ngoài ra hồ sơ kiểm toán còn lưu lại những tài liệu để phục vụ cho kiểm toán viên trong kỳ kiểm toán sau
Hồ sơ kiểm toán rất quan trọng nên việc lưu giữ hồ sơ phải rõ ràng, khoa học, đảm bảo việc tìm kiếm thông tin ở hồ sơ lưu một cách nhanh nhất, thuận tiện nhất
Hồ sơ kiểm toán
Một chương trình kiểm toán gồm có 3 phần, trong mỗi phần gồm các mục nhỏ được phân biệt với nhau bằng ký hiệu Các khoản mục khác ít hoặc không phát sinh do khách hàng chủ yếu thuộc lĩnh vực sản xuất nên không được nêu ra ở đây
Hồ sơ kiểm toán được tổ chức theo từng phần, mỗi phần được ký hiệu bằng các chữ cái A, B, C, D,…
Phần đầu hồ sơ ghi mục lục hồ sơ lưu, trong đó ghi ký hiệu chữ cái để người đọc dễ dàng tra cứu các khoản mục cần tìm
Trang 2727
Chương trình kiểm tốn chung của Cơng ty kiểm tốn Bắc Đẩu
Một hồ sơ kiểm tốn của Cơng ty được tổ chức như sau:
KHÁCH HÀNG, FAX, ĐIỆN THOẠI
CHI NHÁNH HOẶC ĐƠN VỊ PHỤ THUỘC
NĂM TÀI CHÍNH KẾT THÚC
Trang 2929
3.2 Minh họa cụ thể
ÁP DỤNG THỦ TỤC PHÂN TÍCH TRONG QUÁ TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY XYZ 3.2.1 Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán
- Thông tin doanh nghiệp:
• Công ty là doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, được thành lập tại Việt Nam theo giấy phép đầu tư số 123/GP-BD do Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương cấp ngày 21/03/2005 và giấy phép điều chỉnh số 123/GP-BD cấp ngày 24/06/2005
• Chủ đầu tư: Ông XXX Quốc tịch Trung Quốc (Đài Loan)
• Trụ sở chính của công ty đặt tại xã Tân Hiệp, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
• Hoạt động chính của công ty là sản xuất và gia công sản phẩm máy vi tính điện tử, phụ tùng xe hơi, xe gắn máy
• Thời gian hoạt động của công ty là 50 năm kể từ ngày được cấp giấy phép
- Các chính sách chủ yếu áp dụng tại công ty XYZ:
• Cơ sở lập Báo cáo tài chính: Các Báo cáo tài chính của công ty được trình bày phù hợp với Hệ thống Kế toán Việt Nam (Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20 tháng
03 năm 2006 của Bộ Tài Chính) và tuân thủ các chuẩn mực kế toán Việt Nam và các quy định hiện hành khác về kế toán tại Việt Nam
• Hình thức sổ kế toán áp dụng: Hình thức sổ kế toán áp dụng tại công ty là hình thức Nhật ký chung
• Niên độ kế toán: Niên độ kế toán của công ty bắt đầu từ ngày 1/1 và kết thúc vào ngày 31/12
• Đơn vị tiền tệ trong kế toán:
+ Công ty thực hiện việc ghi chép sổ sách kế toán bằng đồng Việt Nam (VNĐ)
+ Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng các đơn vị tiền tệ khác với đơn vị tiền tệ ghi sổ
kế toán của công ty (đồng Việt Nam-VNĐ) được chuyển đổi theo tỷ giá Ngân hàng tại ngày phát sinh nghiệp vụ
• Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: Công ty áp dụng phương pháp kiểm kê định
kỳ để hạch toán hàng tồn kho với giá trị được xác định như sau:
+ Nguyên vật liệu, hàng hóa: giá gốc thực tế theo phương pháp nhập trước- xuất trước + Thành phẩm và sản phẩm dở dang: giá vốn nguyên vật liệu và lao động trực tiếp cộng với chi phí sản xuất chung có liên quan được phân bổ dựa trên mức độ hoạt động bình thường
• Phương pháp kế toán tài sản cố định: Áp dụng phương pháp khấu hao theo đường thẳng trong thời gian hữu dụng ước tính của các tài sản
Trang 3030
- Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên tiến hành phân tích sơ lược về công ty XYZ qua Bảng cân đối kế toán và Bảng kết quả hoạt động kinh doanh + Phương pháp phân tích sử dụng: Phương pháp phân tích tỷ số và xu hướng
Trang 311 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 30,373,308,501
100.06
% 18,430,237,327 100.00% 11,943,071,174 64.80% 0.06%
2 Các khoản giảm trừ doanh thu 19,192,300 0.06% - 0.00% 19,192,300 100.00% 0.06%
10 Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ 30,354,116,201
100.00
% 18,430,237,327 100.00% 11,923,878,874 64.70% 0.00%
11 Giá vốn hàng bán 28,978,376,400 95.47% 20,943,296,539 113.64% 8,035,079,861 38.37% -18.17%
20 Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ 1,375,739,801 4.53% (2,513,059,212) -13.64% 3,888,799,013 -154.74% 18.17%
21 Doanh thu hoạt động tài chính 496,013,589 1.63% 147,698,117 0.80% 348,315,472 235.83% 0.83%
22 Chi phí tài chính 2,320,130,143 7.64% 43,267,098 0.23% 2,276,863,045 5262.34% 7.41%
24 Chi phí bán hàng 359,689,007 1.18% 213,074,949 1.16% 146,614,058 68.81% 0.03%
25 Chi phí quản lý doanh nghiệp 2,525,019,700 8.32% 2,549,085,483 13.83% (24,065,783) -0.94% -5.51%
30 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh (3,333,085,460) -10.98% (5,170,788,625) -28.06% 1,837,703,165 -35.54% 17.08%
50 Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế (3,338,309,541) -11.00% (5,170,788,625) -28.06% 1,832,479,084 -35.44% 17.06%
60 Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp (3,338,309,541) -11.00% (5,170,788,625) -28.06% 1,832,479,084 -35.44% 17.06%
Trang 3232