KTNB tuy là một lĩnh vực mới mẻ nhng đó là một trong những công cụ hữuhiệu và có vai trò hết sức to lớn trong việc đánh giá tính chính xác của các báo cáotài chính, kiểm toán tính tuân t
Trang 1Lời mở đầu
* * *
Cùng với sự phát triển và tiến bộ của xã hội, cơ chế thị trờng ra đời đã làm chocác hoạt động tài chính và sở hữu ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp Vì thếchức năng kiểm tra của kế toán dần dần không đáp ứng đợc nhu cầu của ngời sửdụng thông tin và kiểm toán ra đời là một tất yếu khách quan Từ khi xuất hiện,ngành kiểm toán liên tục phát triển cả về lý luận, thực tiễn và ngày càng có vai tròquan trọng, khẳng định mình là một môn khoa học, một lĩnh vực nghiên cứu riêng.Cơ chế thị trờng cạnh tranh gay gắt đòi hỏi các doanh nghiệp phải nỗ lực vơn lên từchính bản thân mình Điều này đòi hỏi các nhà quản trị phải có những quyết định
và phơng pháp quản lý đúng đắn để bảo đảm cho việc kinh doanh có hiệu quả Đócũng là lý do xuất hiện loại hình kiểm toán nội bộ (KTNB) Với sự hiện diện củamình, KTNB giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp có đầy đủ các thông tin chínhxác về tình hình hoạt động của doanh nghiệp mình, về các báo cáo tài chính đợc lậpcũng nh nhiều báo cáo khác để làm cơ sở cho việc quản trị doanh nghiệp
KTNB tuy là một lĩnh vực mới mẻ nhng đó là một trong những công cụ hữuhiệu và có vai trò hết sức to lớn trong việc đánh giá tính chính xác của các báo cáotài chính, kiểm toán tính tuân thủ, hoạt động trong doanh nghiệp, taọ niềm tin chonhững ngời sử dụng thông tin và là cơ sở để ra các quyết định của nhà quản trị.Trớc đây có quan điểm cho rằng hoạt động kiểm toán nội bộ là sự mở rộngcông việc của kiểm toán viên bên ngoài Thực tế, trong nhiều trờng hợp, chơngtrình kiểm toán nội bộ do kiểm toán viên bên ngoài đặt ra và trực tiếp sử dụng đẻphục vụ nhu cầu của kiểm toán bên ngoài Hiện nay, tuy có một số mặt quan tâmchung, nhng những u tiên của kiểm toán nội bộ và kiểm toán bên ngoài lại rất khácnhau Kiểm toán viên bên ngoài có trách nhiệm chủ yếu với các bên, ngoài tổ chứckhách hàng, còn kiểm toán viên nội bộ thì chịu trách nhiệm chủ yếu với tổ chức.Kiểm toán viên bên ngoài quan tâm đặc biệt đến sự đúng đắn của báo cáo tài chính,còn kiểm toán viên nội bộ thì đặt mối quan tâm hàng đầu vào hiệu quả chung củacác nghiệp vụ và khả năng có lãi của công ty Mặc dù hai nhóm kiểm toán khácnhau về nhiệm vụ chủ yếu, nhng vẫn có những mối quan tâm chung làm cơ sở chomột sự kết hợp tác dụng rộng rãi
Với tinh thần đó, đề tài “Thực trạng KTNB trong cỏc DNNN và sự phối hợp
Trang 2với kiểm toỏn viờn bờn ngoài ở Việt Nam” xin đợc đề cập đến những khía cạnhliên quan đến công tác KTNB và sự phối hợp giữa kiểm toán viên nội bộ với kiểmtoán viên bên ngoài nh thê nào để đem lại hiệu quả.
Nội dung chuyên đề gồm:
Phần I: Những lí luận chung về KTNB và sự phối hợp với kiểm toán viên bên ngoài.
Phần II: Thực trạng KTNB trong các DNNN và sự phối hợp với kiểm toán viên bên ngoài ở Việt Nam hiện nay.
Phần III: Một số đề xuất cải thiện việc tổ chức hoạt động KTNB và sự phối hợp giữa kiểm toán nội bộ với kiểm toán viên bên ngoài ở Việt Nam.
Mặc dù đã cố gắng tìm hiểu và nghiên cứu, song do hạn chế về kiến thức nênchuyên đề của em không tránh khỏi những thiếu xót Em rất mong nhận đợc sự góp
y của các thầy cô giáo để chuyên đề của em đợc hoàn thiện hơn nữa
Để hoàn thiện chuyên đề, em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của
TS Nguyễn Phơng Hoa và các thầy cô trong khoa kế toán.
Trang 3Chơng I
Lý luận chung về kiểm toán nội bộ và sự phối
hợp với kiểm toán viên bên ngoài
1.1 Khái quát chung về KTNB
1.1.1 Sự hình thành và phát triển của KTNB
Hoạt động của kiểm toán nói chung đã xuất hiện từ lâu trên thế giới cùng với
sự phát triển không ngừng về kinh tế và xã hội cũng nh nhiều mặt khác của mỗiquốc gia So với kiểm toán độc lập và kiểm toán Nhà nớc thì loại hình KTNB ra
đời muộn hơn, bắt đầu từ năm 1940 mới xuất hiện khái niệm KTNB Nhng nó có sựphát triển rất mạnh mẽ đặc biệt trong công việc quản trị doanh nghiệp Các đơn vịkiểm toán cơ sở phát hiện ra rằng hệ thống KTNB là phơng tiện quản lí có hiệu quả
và là công cụ đắc lực giúp các nhà quản lí giám sát đợc toàn bộ hoạt động của đơn
vị mình Không những thế, trong các cơ quan nhà nớc việc hình thành các bộ phậnKTNB để kiểm tra thờng xuyên các hoạt động trong cơ quan đang tỏ ra có nhiềutác dụng thiết thực
Với sự lớn mạnh và gia tăng quy mô các doanh nghiệp vài thập niên gần đây,tầm quan trọng KTNB cũng lớn mạnh một cách tơng ứng, làm cho nó trở thành yếu
tố chính trong việc thiết lập hệ thông kiểm soát và kiểm tra nội bộ.ở một số nớc, cơquan lập pháp đã đa ra những văn bản pháp luật nhằm tạo ra hành lang pháp lí đểtạo điều kiện cho KTNB hoạt động và phát triển Bộ phận KTNB đã phát triểnmạnh ở Mỹ cũng nh ở châu Âu từ những năm 60 Sự phát triển này đă đợc khuyếnkhích bởi sự thành lập của trờng đào tạo kiểm toán nội bộ (IIA) năm 1941 tại NewYork, tổ chức này đã xác định bản chất, mục tiêu và phạm vi hoạt động của bộ phậnKTNB Tiếp đó là sự xuất hiện của Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ ở Pháp từ năm
1965 và sau đó trở thành Viện nghiên cứu của kiểm toán viên và kiểm toán viên nội
bộ của Pháp (IFAC) vào năm 1973 Phổ biến ở các nớc, việc trao đổi kinh nghiệm
và bồi dỡng nghiệp vụ kiểm toán nội bộ đã đợc thực hiện ở các hiệp hội kế toánviên
ở Việt Nam, theo quy chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối vớidoanh nghiệp Nhà nớc, ban hành kèm theo Nghị định 59/CP ngày 03 tháng 10 năm
1996 của Chính phủ (đợc sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định 27/CP-1999)báo cáo tài chính hàng năm của doanh nghiệp nhà nớc phải đợc kiểm tra, xác nhận
Trang 4của kiểm toán độc lập hoặc kiểm toán nội bộ Nh vậy quy đinh này đã bớc đầu tạohành lang pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của kiểm toán nội bộ Đến ngày
28 tháng 10 năm 1997 Bộ trởng Bộ tài chính ký Quyết định số 832/TC/QĐ/CĐKTban hành Quy chế kiểm toán nôi bộ - kiểm toan nội bộ chính thức xuất hiện
1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và nội dung hoạt động của kiểm toán nội bộ
1.1.2.1 Khái niệm kiểm toán nội bộ
Hiểu một cách cơ bản, kiểm toán nội bộ là một bộ phận độc lập đợc thiết lậptrong đơn vị tiến hành công việc kiểm tra đánh giá các hoạt động phục vụ yêu cầuquản trị nội bộ đơn vị
Theo Liên đoàn kế toán quốc tê (IFAC), kiểm toán nội bộ là “một hoạt động
đánh giá độc lập đợc thiết lập ra trong một doanh nghiệp nh là một loại dịch vụ chodoanh nghiệp đó, có chức năng kiểm tra, đánh giá và giám sát thích hợp và hiệuquả của hệ thống kế toán và kiểm toán nội bộ” Mục tiêu của kiểm toán nội bộ làgiúp đỡ các thành viên của tổ chức hoàn thành trách nhiệm của họ một cách hiệuquả, giúp cho các nhà quản lý cấp cao trong đơn vị quán xuyến đợc các hoạt động
đã và đang diễn ra trong đơn vị, bao gồm: những qui tắc đặt ra có đợc tuân thủkhông? Tài sản có đợc sử dụng hợp lý không? Cán bộ công nhân viên làm việc cóhiệu quả không? Các qui định hiện hành có còn phù hợp khi điều kiện thay đổi?
Nh vậy, KTNB hình thành và phát triển xuất phát từ nhu cầu quản lí của bảnthân doanh nghiệp KTNB là chức năng đánh giá một cách độc lập và khách quancơ cấu kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp Phạm vi của kiểm toán nội bộ bao gồmtất cả mọi mặt hoạt động của doanh nghiệp ở tất cả các cấp quản lí khác nhau.KTNB xem xét, đánh giá và báo cáo về thực trạng của hệ thống kiểm soát nội bộ,
đa ra những phân tích, kiến nghị, t vấn mang tính chuyên nghiệp để lãnh đạo doanhnghiệp có cơ sở tin cậy trong việc quản lí có hiệu quả các hoạt động của doanhnghiệp
1.1.2.2 Chức năng của kiểm toán nội bộ
KTNB hình thành do nhu cầu quản lí cho nên chức năng của nó cũng trải quaquá trình phát triển từ thấp đến cao cùng với khoa học quản lí kinh tế, trình độ vàkinh nghiệm quản lí của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp Mặc dù theo kinh nghiệmcủa các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển, chức năng của KTNB hiện đại là
Trang 5đánh giá độc lập hệ thống kiểm soát nội bộ, nhng chức năng truyền thống củaKTNB là xem xét, đánh giá độ tin cậy, thống nhất của các thông tin tài chính vàhoạt động, đánh giá việc sử dụng tiết kiệm, hữu ích, có hiệu quả vốn và tài sảndoanh nghiệp Chính vì vậy, việc quy định chức năng, nhiệm vụ cho KTNB cầnphải xem xét phù hợp với điều kiện cụ thể của từng quốc gia, từng khu vực kinh tế,từng ngành và từng đơn vị.
1.1.2.3 Nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ
Về cơ bản, nhiệm vụ của KTNB bao gồm các nhiệm vụ sau:
- Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của các chứng từ, tài liệu, số liệu kế toán,
việc chấp hành chế độ, thể lệ kế toán tài chính của nhà nớc
- Kiểm tra và xác nhận mức độ trung thực, hợp lí của báo cáo quyết toán
do kế toán và các bộ phận khác trong DN lập ra
- Kiểm tra xác nhận giá trị vốn góp của DN và các đối tác tham gia liên
doanh với DN Kiểm tra xác nhận tính trung thực, hợp lí, đầy đủ của sốliệu kế toán và báo cáo quyết toán của đơn vị liên doanh
- Kiểm tra tính hiệu quả và tính pháp lí của hệ thống kiểm soát nội bộ
trong đó có hệ thống kế toán Giám sát sự hoạt động và tham gia hoànthiện chúng
- Kiểm tra tính hiệu quả và tính pháp lí của quy chế kiểm soát nội bộ,
đồng thời có kiến nghị hoàn thiện các quy chế này
Thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ trên, KTNB có trách nhiệm hớng dẫnnghiệp vụ cho cán bộ kế toán và các cán bộ nghiệp vụ khác có liên quan, đề xuấtcác quyết định quản lí, xử lí về tài chính kế toán và các nội dung xử lí khác
1.1.2.4 Quyền hạn của kiểm toán nội bộ
Do đặc trng của KTNB là kiểm tra, xác minh tính đúng đắn của các báo cáo tàichính trong doanh nghiệp, tính tuân thủ và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệpnên KTNB có những quyền hạn riêng để đảm bảo mục đích hoạt động KTNB cóquyền:
- Thứ nhất, KTNB độc lập với các bộ phận khác trong doanh nghiệp, độc
lập về chuyên môn nghiệp vụ trong phạm vi khuôn khổ luật pháp và cácchuẩn mực, phơng pháp nghiệp vụ chuyên môn
Trang 6- Thứ hai, yêu cầu các bộ phận và các cá nhân có liên quan cung cấp đầy
đủ, kịp thời các tài liệu về kế toán, tài chính và các tài liệu khác có liênquan tới nội dung kiểm toán
- Thứ ba, có quyền đối chiếu xác minh các thông tin kinh tế có liên quan
tới đối tợng đợc kiểm toán ở trong và ngoài doanh nghiệp
- Thứ t, có quyền kiến nghị với đối tợng đợc kiểm toán có biện pháp sửa
chữa sai phạm và có quyền ghi ý kiến của mình vào báo cáo kiểm toán
- Thứ năm, có quyền đề xuất với lãnh đạo doanh nghiệp những kiến nghị
và biện pháp về quản lý
Đó là những quyền hạn cơ bản của KTNB Bên cạnh đó, tuỳ thuộc vào từngdoanh nghiệp, từng điều kiện cụ thể mà KTNB có thể có thêm các quyền hạn khác
1.1.2.5 Nội dung hoạt động của kiểm toán nội bộ
Các hoạt động mà kiểm toán nội bộ tiến hành bao gồm:
- Rà soát lại hệ thống kế toán và các qui chế kiểm soát nội bộ có liên
quan,giám sát sự hoạt động của các hệ thống cũng nh tham gia hoànthiện chúng
- Kiểm tra các thông tin tác nghiệp, thông tin tài chính bao gồm việc rà
soát lại các phơng tiện đã sử dụng để xác định, tính toán, phân loại vàbaó cáo những thông tin này, kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ, các số d vàcác bớc công việc
- Kiểm tra tính hiệu quả , sự tiết kiệm và hiệu suất của các hoạt động kể
cả các qui định không có tính chất tài chính của doanh nghiệp
Nh vậy, lĩnh vực chủ yếu của KTNB là kiểm toán hoạt động của các bộ phậntrong doanh nghiệp Ngoài ra, KTNB cũng tiến hành các nội dung kiểm toán tuânthủ để xem xét việc chấp hành các chính sách, qui định của doanh nghiệp
1.2 Sự phối hợp giữa kiểm toán nội bộ với kiểm toán viên bên ngoài
1.2.1 Sự cần thiết phải phối hợp
Trên thực tế, doanh nghiệp đợc cung cấp những dịch vụ kiểm toán chính từ hainguồn khác nhau – kiểm toán viên nội bộ và kiểm toán viên bên ngoài – điều này
đã tạo ra sự trong dợi là có những mối quan hệ qua lại làm cơ sở cho sự phối hợp
mà ngời ta mong muốn Cho dù một loại hình dịch vụ kiểm toán là do kế toán viên
độc lập của Nhà nớc thực hiện còn loại hình kia do các nhân viên thuộc phòng
Trang 7kiểm toán nội bộ của bản thân doanh nghiệp đảm nhận, nhng cả hai nỗ lực kiểmtoán đều phải xử lý hồ sơ và nhân sự của cùng một công ty Do đó, khả năng trùnglặp không cần thiết về cố gắng hoặc những yêu cầu quá mức đối với phòng nhân sự
là không tránh đợc Đồng thời, cũng thờng có khả năng tiềm tàng là toàn bộ nỗ lựckiểm toán có thể, trong chừng mực nào đó, đợc hợp nhất theo một cách thức để đápứng có hiệu quả hơn những mục tiêu và mục đích lớn hơn của doanh nghiệp Vìvậy, chúng ta cần biết rõ hơn những mục đích ban đầu của từng nhóm kiểm toán vàviệc đạt đợc những mục đích này có thể liên quan nh thế nào tới, một cách gián tiếphoặc trực tiếp, những mối quan tâm chung Chúng ta cũng cần biết nhiều hơn vềnhững mối quan tâm chung này và làm thế nào để có thể thoả mãn đợc chúng mộtcách tốt nhất thông qua những kiểu phối hợp đặc biệt
1.2.2 Cơ sở của sự phối hợp hiệu quả
1.2.2.1 Những mối quan tâm ban đầu và thứ yếu
Sự phối hợp hiệu quả của kiểm toán viên (KTV) nội bộ và KTV bên ngoàikhởi đầu cùng với sự hiểu biết về những mối quan tâm ban đầu và thứ yếu của mỗiloại kiểm toán viên Sau đó sự hiểu biết này sẽ là cơ sở cho việc nhìn nhận nhữngmối quan tâm chung
Những mối quan tâm ban đầu của kiểm toán viên nội bô.
Kiểm toán nội bộ là chứng năng đánh giá độc lập đợc thiết lập trong một đơn
vị nh là một loại hình dịch vụ nhằm xem xét và đánh giá các hoạt động của nó.Mục đích của KTNB là nhằm giúp đỡ các thành viên của đơn vị trong việc hoànthành các trọng trách của mình một cách có hiệu quả bằng việc tổng kết và đánhgiá hệ thống kiểm soát nội bộ Trong việc làm này, KTV nội bộ theo đuổi việc bảo
vệ đơn vị ở những khía cạnh nh tính trung thực và độ tin cậy của thông tin, việctuân thủ chính sách, kế hoạch, thủ tục và quy định cũng nh việc bảo vệ tài sản
Đồng thời, KTV nội bộ cũng theo đuổi việc giúp đỡ đơn vị nhằm đạt đợc độ thoảdụng các nguồn lực một cách hữu ích hơn Những mối quan tâm này có liên quan
đến toàn bộ hệ thống kiểm soát nội bộ nhng chúng cũng bao gồm và dựa vào phầnviệc của kiểm soát nội bộ mà gắn lion với việc ghi nhận các giao dịch và việc chuẩn
bị các báo cáo tài chính
Những mối quan tâm ban đầu của kiểm toán viên bên ngoài.
Mỗi doanh nghiệp hoạt động trong một môi trờng mà ở đó trong nhiều phơngdiện nó có gắn bó mật thiết với cổ đông, nhà đầu t, chủ nợ, cơ quan của Chính phủ,
Trang 8các đơn vị khác và cá nhân khác Trong mối tơng quan này, đơn vị phải cung cấpthông tin và mô tả các khoản mục chính của báo cáo tài chính - đặc biệt là tình hìnhtài chính đợc trình bày trong bảng cân đối kế toán và kết quả hoạt động sản xuất,kinh doanh đợc trình bày trong báo cáo thu nhập Trách nhiệm của đơn vị là chuẩn
bị các báo cáo tài chính nhng chúng phải đợc ai đó ở ngoài đơn vị là ngời với tính
độc lập và kỹ năng nghề nghiệp đặc biệt có thể cung cấp một số các dịch vụ khác,nhng nhiệm vụ ban đầu của anh ta có liên quan tới báo cáo tài chính là cung cấp ýkiến độc lập cần thiết đã nêu trớc đây về sự công khai trung thực của những báocáo này Do đó, mối quan tâm ban đầu của KTV bên ngoài phải thực sự là tính hợp
lý và đúng đắn mang tính nghề nghiệp của ý kiến độc lập này
Tuy nhiên, các báo cáo tài chính của đơn vị dựa trực tiếp vào những thủ tục và
sổ sách quan trọng mà phản ánh kết quả hoạt động liên tục của đơn vị Đây lại là hệthống kiểm soát kế toán nội bộ - một phần mối quan tâm rộng hơn của KTV nội bộ
Nh vậy, mặc dù cả KTV nội bộ và KTV bên ngoài đều có những nhiệm vụ ban đầurất khác nhau nhng họ có mối quan tâm thứ yếu chung về tính đầy đủ của hệ thốngkiểm soát nội bộ của đơn vị Đó là mối quan tâm chung cung cấp cơ sở hợp lý chủyếu cho nỗ lực phối hợp hiệu quả giữa hai loại kiểm toán này
Những mối quan tâm chung thứ yếu khác.
Thực chất của mối quan tâm chính trong hệ thống kiểm soát kế toán nội bộkhông thể phủ nhận những mối quan tâm chung thứ yếu khác Chẳng hạn, đứng vềlợi ích của toàn bộ công ty, KTV nội bộ quan tâm đến việc tổ chức tìm kiếm dịch
vụ kiểm toán bên ngoài sao cho cung cấp giá trị tốt với giá phí phải trả và tối thiểuhoá việc can thiệp vào các hoạt động khác đang diễn ra trong đơn vị KTV nội bộ
có mối quan tâm cơ bản gần giống với KTV bên ngoài khi họ là bất cứ ngời bánnào khác cùng với năng lực đặc biệt trong trờng hợp có hiểu biết tốt hơn về phạm vi
mà sản phẩm bán đặc thù đợc cung cấp Mặt khác, KTV bên ngoài cũng quan tâm
đến lợi ích của công ty, đặc biệt với nghĩa là một khách hàng giàu có thì đó là mộtnhân tố quan trọng hơn đối với uy tín và doanh thu của hãng kiểm toán t nhân bênngoài ở một chừng mực nào đó, KTV bên ngoài cũng biết rằng nhà quản lý củacông ty đó sẽ chờ đợi ở họ lời khuyên trong việc đánh giá tính hiệu quả của kiểmtoán nội bộ, bao gồm cả phạm vi và chất lợng cả các dịch vụ khác nhau của kiểmtoán nội bộ KTV bên ngoài cũng biết rằng quản lý thờng sẽ mong đợi nếu khôngnói là đòi hỏi - rằng KTV bên ngoài sẽ đa ra tất cả sự cân nhắc có thể đối với côngviệc của KTV nội bộ trong khi thực hiện công việc kiểm toán của chính mình Do
Trang 9đó, tất cả những mối quan tâm thứ yếu này của hai nhóm kiểm toán có ảnh hởng
đến việc tăng cờng thêm mối quan tâm đã có trong những nỗ lực phối hợp hiệu quả
1.2.2.2 Thái độ đúng đắn của mỗi nhóm kiểm toán
Mặc dù những mối quan tâm ban đầu và thứ yếu của KTV nội bộ và KTV bênngoài đã tạo ra cơ sở phong phú cho việc thiết lập một nỗ lực phối hợp hiệu quả nh-
ng mỗi nhóm kiểm toán vẫn cần có thái độ đúng đắn của mình Những nhà kiểmtoán chuyên nghiệp cũng giống nh bất kỳ cá nhân nào khác Do đó, họ có thể lệthuộc vào những vấn đề tơng tự nh lòng tự trọng, sự ghen tỵ, lợi ích cá nhân bị méo
mó, sự chậm chạp, thiếu tự tin và những yếu tố phản tác dụng khác Những khảnăng này thờng không đợc xem xét một cách khách quan và vô tình trỏ thành cơ sởcho sự khẳng định những lý do thực tế hơn đối với việc cản trở nỗ lực phối hợp hiệuquả Những vần đề này cũng thờng xuyên cản trỏ nỗ lực phối hợp hiệu quả thực sự
1.2.2.3 Sự hiểu biết mang tính cộng tác ở bộ máy lãnh đạo
Nhân tố nền tảng chủ yếu khác cho sự phối hợp hiệu quả của hai nỗ lực kiểmtoán là sự hiểu biết những nhân tố có liên quan tồn tại ở bộ máy lãnh đạo Trong
đó, ba cá nhân có ảnh hởng đặc biệt quan trọng là giám đốc tài chính, giám đốc
điều hành và chủ tịch uỷ ban kiểm toán của ban giám đốc
Vai trò của giám đốc tài chính Giám đốc tài chính (CFO) là ngời có quan hệ
trực tiếp nhất với hãng kiểm toán bên ngoài - nơi chịu trách nhiệm về những camkết kiểm toán đặc biệt bởi Giám đốc tài chính thờng phải đảm nhận trách nhiệm vềcác hoạt động kiểm toán tài chính và kế toán mà cấu thành nên hệ thống kiểm soát
kế toán nội bộ và cũng bao gồm hàng loạt các hoạt động dẫn đến kết quả cuối cùng
là các báo cáo tài chính đang đợc KTV bên ngoài xem xét Chính Giám đốc tàichính là ngời làm việc đầu tiên với kiểm toán vien bên ngoài để đi tới sự thoả thuận
về bản chất và phạm vi xem xét của KTV bên ngoài
Nh vậy, mức độ quan trọng của các dữ liệu kiểm toán nội bộ và những khảnăng tận dụng chúng thông qua sự phối hợp hiệu quả, mà Giám đốc tài chính nhấnmạnh, đã trở thành một định tố chính của quan tâm mà KTV bên ngoài dành cho
nỗ lực phối hợp này Đồng thời, Giám đốc tài chính có thể tác động, ở các mức độkhác nhau, bằng niềm tin hay quyền lực của mình, đối với sự cộng tác đó
Vai trò của giám đốc điều hành Theo truyền thống, giám đốc điều hành
(CEO) giao cho giám đốc tài chính trách nhiệm về các hoạt động gắn liền với các
Trang 10hoạt động kiểm soát tài chính và việc thoả thuận với KTV bên ngoài về hoạt độngkiểm toán theo thông lệ hàng năm Tuy nhiên, việc ban hành Luật những hành vihối lộ nớc ngoài vào năm 1977 đã có xu hởng nhiều hơn đến giám đốc điều hànhtrong những phần việc này Đặc biệt kết quả của những quy định do Uỷ ban Chứngkhoán và Giao dịch đề xuất đã yêu cầu giám đốc điều hành ký một báo cáo quản lýtrong đó bao gồm việc trình bày về tính đầy đủ của hệ thống kiểm soát kế toán nội
bộ Tất cả những quy định này có xu hớng ảnh hởng sâu rộng hơn đến giám đốc
điều hành trong việc giao dịch với KTV bên ngoài và do đó đóng góp quan trọngtrong việc thúc đẩy cách tiếp cận nghiêm túc hơn về tiến trình phối hợp
Vai trò của Uỷ ban kiểm toán Uỷ ban kiểm toán, dới sự lãnh đạo của chủ tịch
uỷ ban kiểm toán (CAC), ngày càng nhận trách nhiệm nhiều hơn về việc tuyểndụng và thông qua các điều khoản hợp đồng của KTV bên ngoài Sau đó, Uỷ bankiểm toán cũng có vai trò tích cực hơn trong việc phối hợp các nỗ lực của kiểmtoán nội bộ và kiểm toán bên ngoài Điều này không có nghĩa rằng vai trò của cácbên liên quan khác là không cực kỳ quan trọng Nhng sự tham gia của uỷ ban kiểmtoán có uy tín lớn - đặc biệt là chủ tịch uỷ ban kiểm toán - và mối quan tâm sâurộng hơn về sự phối hợp hiệu quả đã làm tăng thêm sức mạnh cho việc đạt đợc thoảthuận phối hợp một cách tốt nhất có thể
Tầm quan trọng của việc hiểu biết đúng đắn Trong tất cả các hoạt động phối
hợp của các quan chức cấp cao của đơn vị đã đợc trình bày ở trên, việc hiểu biết
đúng đắn của tất cả các cá nhân ngày càng trở nên quan trọng Đặc biệt cần thiết là
sự hiểu biết về những mối quan tâm ban đầu và thứ yếu của mỗi nhóm kiểm toán và
sự cần thiết phải hoà trộn các nỗ lực kiểm toán đã đợc phối hợp theo cách thức chophép có thể đạt đợc tất cả các mục tiêu chính Một điều cũng đặc biệt quan trọng làcác bên liên quan nhận ra sự cần thiết về trình độ nghiệp vụ cao của mỗi nhómkiểm toán và sự cần thiết về quan hệ nghiệp vụ ở mức độ tơng tự giữa KTV nội bộ
và KTV bên ngoài Điều này cũng bao gồm việc tiếp tục thừa nhận rằng chức năngcủa nhóm kiểm toán nội bộ không phải chỉ là trợ giúp cho KTV bên ngoài đạt đợccác mục tiêu kiểm toán của họ, đồng thời các nguồn lực của nhóm kiểm toán nội
bộ phải đợc bảo vệ để có thể cung cấp một cách hợp lý các dịch vụ cho ban quản lýnhằm đạt đợc những mục tiêu nghiệp vụ
1.2.2.4 Những nhân tố thúc đẩy sự phối hợp
Việc phối hợp có hiệu quả giữa KTV nội bộ và KTV bên ngoài bị tác động bởi
Trang 11những nhân tố mang tính thúc đẩy Tuy nhiên, các nhân tố thúc đẩy khác nhau ờng có xu hớng chòng chéo lên nhau Các nhân tố này biến đổi từ các nhân tố ởmức độ tơng đối thấp đến những nhân tố có tầm quan trọng ở mức độ cao Chẳnghạn, việc cản trở những đại diện của hai nhóm kiểm toán này đạt đợc vị trí nghềnghiệp nhất định một cách đồng thời và sau đó cản trở việc theo đuổi xem xétnhững sổ sách giống nhau hoặc thẩm vấn ngời lao động của cùng một công ty Mặtkhác, những nhân tố thúc đẩy có thể là sự hỗ trợ mang tính hợp tác ở mức độ caohơn Ví dụ, việc trao đổi tài liệu và thông tin liên quan cùng với việc thảo luận vàthảo luận chung về việc triển khai công việc hơn nữa và việc khắc phục những nhợc
th-điểm đã đợc chỉ ra
1.2.2.5 Những cản trở sự phối hợp
Cũng giống nh những nhân tố thúc đẩy, những cản trở ảnh hởng tới nỗ lựcphối hợp có hiệu quả có thể biến đổi từ những nhân tố ở mức độ rất thấp đến nhữngvật cản rất lớn Chúng có thể thay đổi từ những nhợc điểm của riêng KTV nội bộhoặc KTV bên ngoài đến những hoạt động ở mức độ cao hơn hoặc những áp lựccản trở sự phối hợp có hiệu quả có thể phát triển ở mức độ công việc Tóm lại,chúng tạo thành những vật cản đối với sự phối hợp có hiệu quả Những kiểu cản trởchính cần đợc liên tục lu ý gồm:
- Tính đầy đủ của những chuẩn mực kiểm toán nội bộ
- Những khuyết điểm có thể về mặt tổ chức của KTV bên ngoài
- Trách nhiệm pháp lý tiềm tàng của KTV bên ngoài
1.2.3 Những yếu tố của sự phối hợp hiệu quả
Sự phối hợp giữa KTV nội bộ và KTV bên ngoài có thể đợc thực hiện dớinhiều hình thức khác nhau Tuy nhiên, những hoạt động phối hợp này có thể nhómthành 11 loại sau:
1 Trao đổi tài liệu kiểm toán
2 Sự chia sẻ trực tiếp về thông tin
3 Sử dụng phơng pháp luận phổ biến
4 Hỗ trợ công việc hợp tác
5 Hợp tác trong đào tạo cán bộ
6 Triển khai trợ giúp những tài liệu kiểm toán
7 Lập kế hoạch chung
Trang 128 Phân loại công việc kiểm toán.
9 Tổng hợp các báo cáo kiểm toán
10.Lập báo cáo chung lên các tổ chức cấp cao hơn
11 Đánh giá chéo
1.2.3.1 Trao đổi tài liệu kiểm toán
Kiểu phối hợp cơ bản xoay quanh việc trao đổi tài liệu kiểm toán Hai tài liệuchủ yếu là hồ sơ và báo cáo kiểm toán Những tài liệu này có thể có do KTV nội bộ
và KTV bên ngoài cung cấp cho nhau
Trao đổi hồ sơ kiểm toán Đối với hồ sơ kiểm toán, tính sẵn sàng cung cấp
chúng của KTV nội bộ cho KTV bên ngoài là vấn đề ít gây tranh luận nhất và do
đó là phổ biến nhất trong thực tế Tính logic ở đây là KTV bên ngoài phải kiểm tranhững hồ sơ kiểm toán này ở phạm vi có thể dựa vào công việc của KTV nội bộ.Hơn nữa, nó thờng đợc nhìn nhận là điều đúng đắn có thể làm cho thông tin trở nênsẵn có cho KTV bên ngoài mà mặt khác KTV bên ngoài sẽ phải có thêm thời gian
để thu thập với những cách khác nhau Trong một số trờng hợp KTV nội bộ có thể
do dự trong việc công khai hồ sơ kiểm toán mà chất lợng về mặt chuyên môn củachúng không đợc nh mong muốn, nhng điều này sẽ là một vấn đề cần có sự sửachữa cơ bản đối với những sự kiện của chính nó Chắc chắn rằng, không một lý dothật sự thích đáng nào có thể làm cơ sở cho việc KTV nội bộ từ chối cung cấp choKTV bên ngoài những hồ sơ kiểm toán này
Trờng hợp ngợc lại, về mặt nguyên tắc, tính sẵn sàng của những hồ sơ kiểmtoán của KTV bên ngoài cho KTV nội bộ không tơng hợp với tính độc lập và nhữngtrách nhiệm rộng hơn của họ đối với thế giới bên ngoài Do đó, sự sẵn sàng củanhững hồ sơ kiểm toán của KTV bên ngoài là vấn đề khó Tuy nhiên, tính sẵn sàngnày đợc KTV bên ngoài nới rộng ra, ngoại trừ trờng hợp có thể về bản chất đặcbiệt
Trao đổi những báo cáo Việc trao đổi những báo cáo giữa KTV nội bộ và
KTV bên ngoài cũng là hợp lý và là thực tế mang tính đặc thù chung Những báocáo của KTV nội bộ đã có ảnh hởng đến những nguyên tắc tơng tự nh hồ sơ kiểmtoán Do đó, những báo cáo của KTV nội bộ thờng đợc cung cấp một cách tựnguyện cho KTV bên ngoài và chúng thiết lập nên một phơng tiện quan trọng đểtiếp tục thông báo một cách hợp lý cho KTV bên ngoài Tuy nhiên trong một số tr-ờng hợp, những báo cáo đặc biệt của KTV nội bộ có thể đợc giữ kín hoặc không
Trang 13phải là mối quan tâm của KTV bên ngoài.
Đối với KTV bên ngoài cần phải nhận thức rằng những kiểu báo cáo mô tả bổsung cho ý kiến mang tính nguyên tắc là ít phổ biến hơn và chúng thay đổi theonhững điều khoản tuyển dụng kiểm toan riêng Những báo cáo đặc biệt của KTVbên ngoài có thể cũng đợc giữ kín và không nên đa lý do vì sao chúng không đợccung cấp cho KTV nội bộ Do đó trong việc cung cấp này, thông thờng nó là thực tếmang tính chuẩn mực
1.2.3.2 Chia sẻ trực tiếp thông tin
KTV nội bộ có thể đi sâu vào những vấn đề trong việc trình bày rộng hơn vàchi tiết hơn về những hoạt động điều hành mà sẽ là quan trọng đối với KTV bênngoài Đồng thời, KTV bên ngoài phụ thuộc rất nhiều vào dòng thông tin hữu ích
Do đó, sự chia sẻ trực tiếp thông tin giữa hai nhóm kiểm toán là rất cần thiết nhằm
đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của cả hai nhóm
1.2.3.3 Sử dụng những thủ tục kiểm toán phổ biến
Trong nhiều trờng hợp, ngời ta tin rằng hai nhóm kiểm toán đều mong muốnrắng nhóm kiểm toán nội bộ sẽ tuân theo những thủ tục kỹ thuật tơng tự với nhữngthủ tục đợc KTV bên ngoài áp dụng Những ví dụ phổ biến nhất về điều này lànhững thủ tục kiểm toán đợc áp dụng trong những phần riêng của toàn bộ nỗ lựckiểm toán và sự sắp xếp những hồ sơ kiểm toán có liên quan Sự hợp lý ở đây là tấtcả những thủ tục này đã làm cho KTV bên ngoài dễ dàng hơn trong việc xem xét và
sử dụng công việc của KTV nội bộ
Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng những thủ tục phổ biến này chỉ là yếu tố
t-ơng đối không quan trọng và dựa nhiều hơn vào năng lực nghề nghiệp cơ bản.Trong bất kỳ tình huống nào, các mục tiêu của KTV nội bộ là rộng hơn so vớinhững mục tiêu của KTV bên ngoài và ở điểm nào đó cấn có sự tiếp cận khác nhau
đối với những nhiệm vụ kiểm toán riêng rẽ này ở một mức độ nào đó các thủ tụcphổ biến này có thể là hữu ích đối với những tình huống mang tính tập thể nhng sựxét đoán cần phải đợc kiểm nghiệm trong việc áp dụng thực tế Tóm lại, nhũng thủtục kiểm toán phổ biến là một công cụ đợc sử dụng cùng với sự cẩn thận và thậntrọng hợp lý
1.2.3.4 Hỗ trợ công việc hợp tác
Trang 14Trong những năm trớc đây khi mà sự nhấn mạnh vào nỗ lực phối hợp là ban
đầu nhằm giảm thời gian và giá phí kiểm toán của KTV bên ngoài, nhân viên củaphòng kiểm toán nội bộ có thể đợc bổ sung cho KTV bên ngoài và làm việc trựctiếp dới sự giám sát của KTV bên ngoài Ngày nay, theo những điều kiện của việcthực hành hiện tại, bất kỳ sự sắp xếp công việc cộng tác nào phải đợc cân nhắc cẩnthận KTV nội bộ phản đối việc chỉ định trực tiếp nh là sự ngụ ý về một vị trí côngviệc hạng hai đã dẫn đến việc anh ta không đợc tiếp tục năng lực nghề nghiệp củachính mình Điều này tồn tại đặc biệt khi KTV nội bộ đợc chỉ định thật sự nhiềutuổi đời và nhiều kinh nghiệm hơn KTV bên ngoài Vấn đề này có thể đợc giảiquyết bằng cách KTV nội bộ có vai trò nh một nhà t vấn đợc chỉ định hoặc cùngvới sự hiểu biết thấu đáo rằng sự sắp xếp này liên quan đến những ngời ngang hànglàm việc vì một nền tảng tạm thời nhằm đáp ứng nhu cầu đã đợc thừa nhận mộtcách rõ ràng Một giải pháp khác là phân công ngời có chuyên môn tốt nhất chịutrách nhiệm về nỗ lực công việc chung dù cho ngời đó là KTV nội bộ hoặc KTV
độc lập
1.2.3.5 Hợp tác trong đào tạo cán bộ
Một tình hình đang tồn tại khá phổ biến là khi nào thì hoặc KTV nội bộ hoặcKTV bên ngoài có đợc năng lực đào tạo hữu ích cho cả hai nhóm KTV bên ngoài,ngời cung cấp dịch vụ cho rất nhiều khách hàng, có thể có đợc các nguồn lực choviệc phát triển các kiểu chơng trình đào tạo khác nhau hữu ích cho KTV nội bộthuộc những công ty đi thuê kiểm toán Tuy nhiên, trong những ví dụ khác, KTVnội bộ có thể đang chỉ đạo những khoá đào tạo hoặc triển khai những tài liệu đàotạo khác mang tính duy nhất đối với công ty Về phần KTV bên ngoài, có thể cónhu cầu sử dụng những tài liệu này cho nhân viên của mình, đặc biệt cho những cánhân thực hiện công việc kiểm toán riêng biệt Tuy nhiên trong thực tế, việc KTVnội bộ và KTV bên ngoài có những nhiệm vụ ban đầu khác nhau có nghĩa là mỗinhóm kiểm toán thờng có nhiều thuận lợi hơn trong việc triển khai và điều hành cácchơng trình đào tạo của chính mình
Thông thờng, khi những tài liệu đào tạo của một nhóm này đợc nhóm kia sửdụng thì việc sử dụng này đợc cung cấp mà không có trách nhiệm kèm theo bởi vìnhững mối quan tâm chung do đó đã đợc đáp ứng Tuy nhiên trong những năm gần
đây, các hãng kiểm toán bên ngoài đã phát triển các chơng trình đào tạo cho KTVnội bộ nh là một công việc kinh doanh mạo hiểm riêng và tạo ra nguồn thu nhập bổ
Trang 15sung mang tính nghề nghiệp.
1.2.3.6 Triển khai trợ giúp những tài liệu kiểm toán
Hai nhóm kiểm toán nội bộ và bên ngoài sẽ phát triển những tài liệu tìm they
và các khuyến nghị làm ảnh hởng tới các hoạt động của tổ chức Mặc dù nhữngnhân viên trong tổ chức sẽ có trách nhiệm chính một cách cá nhân hay tập thể vớiviệc đa ra cân nhắc cuối cùng cho những khuyến nghị nh vậy và hành động sửachữa có liên quan nhng cả hai nhóm kiểm toán đều có chung mối quan tâm tới bảnchất và phạm vi của tất cả những thiếu sót đã đợc biết đến và việc sửa chữa sau nàycủa những thiếu sót đó Do đó, cả hai sẽ rất nhạy cảm với tất cả những phát triểntrong lĩnh vực này và sẽ phối hợp nhau trong việc đạt đến mức độ hiệu quả mongmuốn trong những thủ tục hoạt động cơ bản
Nh chúng ta đã thấy, mối quan tâm ban đầu của KTV bên ngoài chính là tính
đúng đắn của báo cáo tài chính và sẽ không phải dính líu quá sâu vào các thủ tụchoạt động ngầm nh KTV nội bộ Do đó, KTV bên ngoài sẽ thờng có ít các pháthiện kiểm toán và khuyến cáo liên quan đến những thủ tục hoạt động này hơn.Cũng vì thế mà KTV bên ngoài sẽ ít liên quan đến việc triển khai các kết quả kiểmtoán hơn KTV nội bộ Tuy nhiên, một số phát hiện kiểm toán và khuyến cáo đặcbiệt của KTV bên ngoài có tầm quan trọng rất lớn đối với việc quản trị công ty Kếtquả là kế hoạch triển khai kết quả kiểm toán ban đầu và tiếp theo của KTV bênngoài đợc các bên liên quan xem xét với độ quan tâm đặc biệt
Điều quan trọng là KTV nội bộ và bên ngoài phối hợp với nhau bằng mọi cách
để có thể chia sẻ thông tin liên quan tới những gì thuộc về tính hiệu quả hiện nay vàtrong tơng lai của các quá trình hoạt động trong công ty, đặc biệt trong nhiều lĩnhvực liên quan tới hệ thống kiểm soát kế toán nội bộ Bằng cách làm việc cùng nhau,
họ đảm bảo một cách tốt nhất hoạt động sửa chữa cần thiết Đồng thời cả hai cũng
sẽ có khả năng tốt hơn để hình thành những nỗ lực kiểm toán đang tiến triển củariêng mình nhằm phục vụ một cách tốt nhất lợi ích chung của họ và sau đó là lợiích riêng của từng phía
1.2.3.7 Lập kế hoạch chung
Khi KTV nội bộ và KTV bên ngoài làm việc một cách hợp tác nhằm đạt tớimột sự phối hợp kiểm toán có hiệu quả họ sẽ ngày càng nhận thấy rằng họ cần phảingồi lại cùng nhau để vạch ra những chơng trình kiểm toán riêng của mỗi bên trớc
Trang 16khi bắt tay vào công việc kiểm toán thực tế Quá trình lên kế hoạch liên quan đến
uỷ ban kiểm toán và mỗi nhóm kiểm toán sẽ phụ trách một số năm Quá trình nàycũng đã đợc trình bày một phần trong chơng trình ngân sách đợc thông qua chonăm tới Mặc dù KTV bên ngoài sẽ thờng tham gia tới một mức độ nào đó vào quátrình lên kế hoạch dài hạn này, nhng những kế hoạch của KTV bên ngoài sẽ tậptrung hơn vào nhu cầu mỗi năm của mình nhằm phát triển đề nghị của mình để đạt
đợc sự chấp nhận của hội đồng quản trị Đặc biệt, đề nghị đó đợc đa ra sau khikiểm toán hàng năm đã hoàn tất
Thông qua việc lên kế hoạch chung, yêu cầu của mỗi nhóm kiểm toán đợc hoàhợp với nhau Một mặt, KTV nội bộ quyết định xem lên làm gì trong công việckiểm toán của mình, nhng với độ linh hoạt thích hợp, nhằm tạo điều kiện tốt nhấtcho các nhu cầu kiểm toán trong năm tới của KTV bên ngoài Mặt khác KTV bênngoài lại xác định những việc cần làm nhằm thực hiện trách nhiệm kiểm toán củamình, có cân nhắc tới những gì mà nhóm kiểm toán nội bộ có thể cung cấp, khi làmviệc đó thì một trọng số thích hợp đợc gắn cho quy mô của đội ngũ nhân viên kiểmtoán nội bộ, những khả năng đợc biểu hiện và mức độ sẵn sàng với công việc kiểmtoán của đội ngũ này
Những lợi ích thu đợc từ sự phối hợp này về bản chất cũng giống nh những lợiích thu đợc từ bất kỳ loại lên kế hoạch trớc nào Các KTV giống nh các quản trị giakhác, cần phải xác định trớc cái gì họ phải thực hiện và thực hiện nh thế nào Điềunày là đúng bất chấp thực tế là những kế hoạch đã đợc đồng ý nh vậy có thể và cầnphải đợc sửa đổi khi có sự thay đổi các điều kiện Nhờ áp dụng những công cụ quản
lý trình độ cao này vào thành quả của toàn bộ những mục tiêu kiểm toán đã cungcấp cơ sở cần thiết nhất cho một cố gắng kiểm toán đợc phối hợp có hiệu quả và là
sự thực hành chuẩn mực trong một tổ chức lớn điển hình đợc quản lý tốt
1.2.3.8 Phân đoạn công việc kiểm toán
Trong khi việc lên kế hoạch trớc giữa KTV bên ngoài và KTV nội bộ cung cấpcơ sở thiết yếu cho một nỗ lực phối hợp có hiệu quả thì những lợi ích của nó cũng
sẽ đạt đợc một cách tốt nhất khi công việc kiểm toán - đã đợc lên kế hoạch trớc -
đ-ợc phân chia theo cách phù hợp nhất với yêu cầu của hai nhóm nhân viên chuyênmôn Yêu cầu này sẽ chia công việc kiểm toán đã đợc lên kế hoạch sao cho mỗinhóm có thể xử lý những phân đoạn công việc kiểm toán của mình bằng cách độc
Trang 17lập Việc phân đoạn này đạt đợc nhờ sự phân công cho mỗi nhóm kiểm toán nhữngtrách nhiệm kiểm toán ban đầu đối với từng thiết bị sản xuất, phòng ban, bộ phận,công ty hay là những thủ tục nhất định Với trách nhiệm ban đầu của mình, nhómkiểm toán sẽ tiếp tục lên kế hoạch chi tiết hơn cho những nỗ lực kiểm toán đòi hỏi
và triển khai kế hoạch đó với đội ngũ nhân viên của mình và sự giám sát của chính
nó Đồng thời, hồ sơ kiểm toán, báo cáo, tài liệu và các khuyến nghị cũng đợc chia
sẻ theo cách đã đợc thoả thuận trớc Cũng vào thời gian ấy, công việc của KTV nội
bộ sẽ tuỳ thuộc vào mức độ cần xem xét thêm khi cần phải đáp ứng yêu cầu củaKTV bên ngoài tơng ứng Đây là một phần của việc hỗ trợ cho đánh giá cuối cùngcủa KTV bên ngoài đối với tính chính xác của báo cáo cuối năm của công ty
1.2.3.9 Tổng hợp các báo cáo kiểm toán
Sự truy nhập của một nhóm kiểm toán này vào nhóm kia ở các lĩnh vực nh cácthủ tục kiểm toán, hồ sơ kiểm toán và báo cáo đã đợc thoả thuận Mức độ và cáchthức mà sự truy nhập này diễn ra đã trở thành những yếu tố chủ yếu của mọi cốgắng phối hợp giữa KTV nội bộ với KTV bên ngoài Trong trờng hợp kiểm toán nội
bộ đã thực hiện rất tốt công việc của mình thì hồ sơ kiểm toán trở thành tài liệu chủyếu cho cả hai nhóm kiểm toán Trờng hợp này KTV bên ngoài vốn có những tàiliệu riêng của mình nhng những tài liệu đó rất hạn chế về phạm vi Những tài liệunày thờng là những nhận xét của KTV bên ngoài với hồ sơ của KTV nội bộ và kếtquả kiểm tra hạn chế thêm công việc của KTV nội bộ ở đằng sau những hồ sơ trên
1.2.3.10 Lập báo cáo chung lên cấp cao hơn
Một khía cạnh đặc biệt quan trọng của một nỗ lực phối hợp có hiệu quả làkhuynh hớng hớng tới việc báo cáo chung lên các cấp tổ chức ở cấp cao hơn.Những cấp trên này thờng là những quản trị viên tập đoàn, uỷ ban tập đoàn hoặcban giám đốc (gồm cả uỷ ban kiểm toán của nó) Báo cáo chung này bao gồm mộtphạm vi rộng Ví dụ nó có thể dới dạng thảo luận chung ở cấp độ tổ chức cao hơnvới những báo cáo riêng của mỗi nhóm kiểm toán Trờng hợp khác nó có thể thôngqua nhiệm vụ chung với cả hai nhóm giải quyết một câu hỏi mà cả hai có mối quantâm chung Hai nhóm kiểm toán khi đó có thể đa ra một báo cáo chung duy nhấthoặc báo cáo riêng đợc phối hợp Khi đó, nhóm nhận báo cáo - chẳng hạn nh uỷban kiểm toán – không buộc một nhóm riêng nào giải quyết vấn đề đó mà để chohai nhóm kiểm toán tự chọn cách phân chia và xử lý công việc kiểm toán