trình bày về biên pháp xử lý ô nhiễm không khí
Trang 1MỤC LỤC
Cùng với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, phương tiện giao thông cơ giới ở Việt Nam tăng lên rất nhanh, đặc biệt là khu đô thị 8 Hiện nay, vi phạm hành chính là hình thức vi phạm chủ yếu trong lĩnh vực vi phạm pháp luật gây ô nhiễm không khí Các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực này không đa dạng như các lĩnh vực kiểm soát suy thoái rừng hay kiểm soát ô nhiễm môi trường nước Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm không khí được qui định cụ thể tại các điều 11, điều 12, điều 13, điều 23 của Nghị định 81/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường .54
* Vi phạm các quy định về thải khí, bụi 54 -Đối với hành vi vi phạm các quy định về thải khí, bụi thì hình thức xử phạt nhẹ nhất là cảnh cáo và nặng nhất là phạt tiền Mức tiền phạt thấp nhất là 100.000 đồng và cao nhất
là 70.000.000 Mức tiền phạt từ 100.000 đồng đến 54.000.000 đồng áp dụng cho hành
vi thải khí, bụi Tùy theo mức độ vượt tiêu chuẩn cho phép và lưu lượng khí thải mà áp dụng mức phạt khác nhau Đối với hành vi thải khí, bụi có chứa chất phóng xạ gây nhiễm xạ môi trường quá mức cho phép sẽ bị phạt từ 55.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng 54 -Ngoài 2 hình thức xử phạt chính nêu thì còn có hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả như sau: 55 + Tước giấy phép môi trường gồm có: 55 Tước giấp phép môi trường từ chín mươi ngày đến một trăm tám mươi ngày làm việc .55 Tước giấp phép môi trường không thời hạn 55 + Tạm thời đình chỉ hoạt động đến khi thực hiện xong biện pháp bảo vệ môi trường 55
* Vi phạm các quy định về tiếng ồn 55 Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 12.000.000 đồng tùy theo mức độ gây tiếng ồn vượt tiêu chuẩn môi trường cho phép bao nhiêu lần và gây ồn trong khoảng thời gian nào Đồng thời buộc khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây ra 55
*Vi phạm các quy định về độ rung 55
- Đối với các vi phạm trên đều buộc phải khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây ra .56
* Vi phạm quy định về ô nhiễm không khí 56
Trang 2Không khí với các thành phần như khí N2 chiếm 78,9%, O2 chiếm 0,95%,
Ar chiếm 0,93%, CO2 chiếm 0,32% và một số khí khác như Neon, Heeli, CH4,Krypton cần cho hô hấp của động vật cũng như quá trình quang hợp của thựcvật, là nguồn gốc của sự sống Trong điều kiện bình thường của độ ẩm tuyệtđối, hơi nước chiếm gần 1-3% thể tích không khí Nhưng hiện nay trong quátrình hoạt động của mình con người đã gây nhiều tác động tiêu cực cho môitrường nói chung và cho môi trường không khí nói riêng, và hiện nay nhữngtác động này là nguyên nhân chủ yếu gây ra ô nhiễm không khí
Vậy ô nhiễm không khí là gì?
2 Ô nhiễm không khí và các vấn đề liên quan đến ô nhiễm không khí
Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quantrọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra
sự toả mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa (do bụi)”
(http://vea.gov.vn/VN)Vấn đề ô nhiễm không khí là một trong những vấn nạn rất khó giảiquyết không chỉ riêng với một quốc gia nào mà là đối với toàn thế giới
Ô nhiễm không khí bao gồm: ô nhiễm do bụi, ô nhiễm khí độc, ô nhiễmtiếng ồn, ô nhiễm mùi
II Ô nhiễm không khí - Hiện tượng, tác hại và nguyên nhân
1 Các hiện tượng ô nhiễm không khí
Ô nhiễm môi trường không khí gây ra rất nhiều các hiện tượng biến đổimôi trường đáng lo ngại (là một trong những nguyên nhân gây ra biến đổi khíhậu) và có những tác động nguy hiểm đến sức khỏe và cuộc sống con ngườicũng như các sinh vật khác
Ô nhiễm không khí gây ra các hiện tượng như sự lắng đọng axit, hiệuứng nhà kính, thủng tầng ozon, hiện tượng quang hóa, axit hóa đại dương
2 Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí đến khí hậu toàn cầu
Trang 3Ô nhiễm không khí là vấn đề thời sự nóng bỏng của cá thế giới hiệnnay Điều đáng lo ngại nhất là con người thải vào không khí các loại khí độcnhư: CO2, đã gây hiệu ứng nhà kính Theo nghiên cứu thì chất khí quan trọnggây hiệu ứng nhà kính là CO2, nó đóng góp 50% vào việc gây hiệu ứng nhàkính, CH4 là 13%, nitơ 5%, CFC là 22%, hơi nước ở tầng bình lưu là 3% Hiệu ứng nhà kính là hiện tượng nghẽn nhiệt trong bầu khí quyển của TráiĐất được mặt trời chiếu sáng Các khí nhà kính cho phép các tia bức xạ từmặt trời chuyển động xuyên qua bầu khí quyển của trái đất Trái đất hấp thụcác tia bức xạ này sau đó phản chiếu lại Nhưng trong quá trình này thì độ dàicủa sóng bức xạ sẽ thay đổi Khi các tia bức xạ phát ra ngoài sẽ gặp nhữngphân tử khí nhà kính và những phân tử này sẽ hấp thụ các tia bức xạ, khiếncác khí nhà kính trở nên nóng dần lên Do vậy, trên diện rộng, tất cả khí nhàkính xung quanh trái đất sẽ tạo thành một tấm chăn ấm bao bọc lấy hành tinhlàm cho khí hậu toàn cầu ngày càng nóng lên – quá trình này gọi là hiệu ứngnhà kính Những khí nhà kính sẽ hấp thụ năng lượng mặt trời, làm ấm lên bầukhí quyển gần bề mặt trái đất, giữ trái đất luôn đủ ấm để hỗ trợ cuộc sống củamuôn loài Nhưng các nhà khoa học kết luận rằng sự phát thải khí nhà kínhngày càng tăng lên sẽ tích tụ quá nhiều năng lượng khiến làm gia tăng nhiệt
độ toàn cầu Các khí như methane và CFCs sẽ có khả năng tích tụ năng lượnghơn khí carbon dioxide là loại khí chiếm lĩnh một phần lớn bầu khí quyền.Quá trình đốt các nhiên liệu hoá thạch (than, dầu, khí đốt tự nhiên) là nguyênnhân chính tạo ra sự phát thải carbon
Hiệu ứng nhà kính đã làm cho trái đất ngày càng nóng lên, gây nhiều biếnđộng về khí hậu và hậu quả của nó đối với cuộc sống con người là rất khó cóthể dự đoán được CFCs (chlorofloucarbons) là một hợp chất bao gồmchlorine, fluorine và carbon Những khí này được sử dụng trong sản xuấtthuốc trừ sâu, mỹ phẩm, chất làm lạnh tủ lạnh và máy điều hoà nhiệt độ
Trang 4Những loại khí này là thành phần chủ yếu cấu thành hiệu ứng nhà kính hơn làcác loại khí như carbon dioxide Hiện nay trên thế giới các quốc gia cũngđang áp dụng các biện pháp cắt giảm phát thải khí CFCs, một số hợp chất liênquan cũng bị cấm sử dụng Nhưng CFCs lại được sinh ra từ các quá trình sảnxuất công nghiệp Bên cạnh đó, các quốc gia lại rất khó kiểm soát việc phátthải các loại khí như methane, carbon dioxide - đó là những sản phẩm phụkhông thể tránh khỏi từ đời sống của con người và từ một phần của hệ sinhthái phức tạp trong môi trường Hiệu ứng khí nhà kính làm cho trái đất ngàymột nóng lên, tác động đến tầng ôzôn, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệsinh thái và môi trường sống của muôn loài.
Nếu như chúng ta không ngăn chặn được hiện tượng hiệu ứng nhà kínhthì trong vòng 30 năm tới mặt nước biển sẽ dâng lên từ 1,5 – 3,5 m (StepplanKeckes) Có nhiều khả năng lượng CO2 sẽ tăng gấp đôi vào nửa đầu thế kỷsau Điều này sẽ thúc đẩy quá trình nóng lên của Trái Đất diễn ra nhanhchóng Nhiệt độ trung bình của Trái Đất sẽ tăng khoảng 3,60 °C (G.I.Plass),
và mỗi thập kỷ sẽ tăng 0,30 °C
Theo các tài liệu khí hậu quốc tế, trong vòng hơn 130 năm qua nhiệt độTrái Đất tăng 0,40 °C Tại hội nghị khí hậu tại Châu Âu được tổ chức gầnđây, các nhà khí hậu học trên thế giới đã đưa ra dự báo rằng đến năm 2050nhiệt độ của Trái Đất sẽ tăng thêm 1,5 – 4,50 °C nếu như con người không cóbiện pháp hữu hiệu để khắc phục hiện tượng hiệu ứng nhà kính
- Một hậu quả nữa của ô nhiễm khí quyển là hiện tượng lỗ thủng tầngôzôn CFC là "kẻ phá hoại" chính của tầng ôzôn
Sau khi chịu tác động của khí CFC và một số loại chất độc hại khác thì tầngôzôn sẽ bị mỏng dần rồi thủng
Trang 5Ô nhiễm môi trường khí quyển tạo nên sự ngột ngạt và "sương mù",gây nhiều bệnh cho con người, có thể giết chết nhiều cơ thể sống trong đó cócon người.
- Lắng đọng axit: Lắng đọng axit (Acid deposition) hiện đang là mộttrong những vấn đề nhiễm bẩn môi trường nghiêm trọng nhất không chỉ vìmức độ ảnh hưởng mạnh mẽ của chúng tới cuộc sống của con người và các hệsinh thái mà còn vì quy mô tác động của chúng đã vượt ra khỏi phạm vi kiểmsoát của mỗi quốc gia và nhân loại đang phải xem xét những ảnh hưởng củachúng ở quy mô khu vực và toàn cầu
Lắng đọng axit là một hiện tượng đã được phát hiện từ lâu song được chú
ý nhiều nhất từ khoảng những năm 80 cho tới nay do tác hại của chúng gây ra
ở nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới Lắng đọng axit được tạo thành trongđiều kiện khí quyển bị ô nhiễm do sự phát thải quá mức các khí SO2, NOx từcác nguồn thải công nghiệp và có khả năng lan xa tới hàng trăm, hàng ngànkilomet Bởi vậy, có thể nguồn phát thải sinh ra từ quốc gia này song lại cóảnh hưởng tới nhiều quốc gia lân bang do sự chuyển động quy mô lớn trongkhí quyển Lắng đọng axit gây ra những hậu quả nghiêm trọng về người vàcủa: làm hư hại mùa màng, giảm năng suất cây trồng, phá hủy các rừng cây,
đe dọa cuộc sống của các loài sinh vật ở dưới nước và trên cạn, phá hoại cáccông trình kiến trúc, xây dựng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe conngười… Thiệt hại hàng năm trên toàn cầu ước tính tới hàng tỷ đô la Mỹ.Những tác động tiêu cực này thường kéo dài và khó khắc phục Bởi vậy, hiệnnay vấn đề lắng đọng axit là vấn đề mà toàn nhân loại quan tâm
- Hiện tượng thủng tầng ozon: Con người sống trên Trái đất sẽ mắc bệnhung thư da, thực vật không chịu nổi nhiều tia tử ngoại chiếu vào sẽ bị mất dầnkhả năng miễn dịch, các sinh vật dưới biển bị tổn thương và chết dần Bởi vậycác nước trên thế giới đều rất lo sợ trước hiện tượng thủng tầng Ozon
Trang 6Nguyên nhân chủ yếu là do các hợp chất cascbon của clo và clo chloroflourcacbons), các chất khác như tetraclort cascbon, các hợp chất củabroom và methylcloroform
(CFC Hiện tượng sương mù quang hóa: khi hiện tượng này xảy ra, trong bầukhí quyển rất khó chịu này, tầm nhìn xa bị hạn chế rất rõ rệt, cư dân có nguy
cơ mắc các chứng bệnh hiểm nghèo (ung thư, viêm phổi, mờ mắt,…), khôngkhí có nhiều độc tố, các thiết bị kim loại nhanh chóng bị ăn mòn, gia cầm bịngộ độc, rau quả bị nhiễm độc Hai thành phàn có sức hủy diệt lớn nhất củasương mù quang hóa là ozon (O3) và PAN (oeroxy acetel nitat) Chúng lànhững hợp chất có tính oxy hóa mạnh, dễ dàng phản ứng với các hợp chấtkhác, gây ra sự hủy diệt Khi ở tầng bình lưu, ozone giúp bảo vệ trái đất tránhkhỏi những tia cực tím nhưng khi ozone ở gần mặt đất với nồng độ cao nó sẽgiết chết các mô thực vật, làm cho cây dễ bị tổn thương, làm hại đến các quần
xã sinh học, giảm năng suất nông nghiệp và gây nguy hiểm cho con người.Ozone ở gần mặt đất được hình thành khi các động cơ xe phát thải khínitrogen oxides và các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (từ sơn, các dung môi, cácchất đốt dễ bay hơi) tương tác với nhau dưới tác động của ánh sáng mặt trời.Điều này thường xảy ra với những thành phố ô nhiễm
Khi có hiện tượng sương mù quang hóa, tầm nhìn của chúng ta sẽ bịgiảm đi Đặc biệt nó gây nên những tác động có hại đối với sức khỏe conngười như các bệnh về đường hô hấp, giảm chức năng của phổi gây chết các
tế bào mô và gây ung thư Sương mù quang hóa còn gây hại cho cây trồng vàlàm hao mòn nhiều loại nhiên liệu
- Hiện tượng axit hóa đại dương: mọi người đều biết rằng nồng độ bon đi-ô-xít trong không khí đang tăng lên do lượng nhiên liệu con người sửdụng Tuy nhiên, ít người biết rằng đại dương đã hấp thụ rất nhiều các-bon đi-
Trang 7các-với cuộc sống con người Tuy nhiên, vì giữ vai trò là một tấm bọt biển khổng
lồ hấp thụ khí CO2 nên thành phần hóa học của đại dương đang bị biến đổi,gây ra hiện tượng nhiễm axit đại dương Ngoài những tác động tiêu cực đốivới các hệ sinh thái biển, tình trạng axit hóa đại dương còn có thể khiến âmthanh đi được quãng đường dài hơn dưới đáy biển Sự thay đổi này tác độngtới hoạt động liên lạc của động vật có vú dưới nước Do mức ồn dưới đáy đạidương tăng lên, những động vật giao tiếp bằng sóng âm không thể nhận thôngđiệp đồng loại Những loài không giao tiếp bằng sóng âm cũng gánh chịunhiều hậu quả tai hại Có thể đưa ra 1 ví dụ minh họa:
Các nghiên cứu cho thấy loài nhuyễn thể (thức ăn của cá voi) sẽ bị biếndạng chút ít trong môi trường đại dương có mức nhiễm axit cao hơn
(Nguồn Steve Nicol, Vụ nghiên cứu Nam Cực tại Úc, bản quyền của chínhphủ Liên Bang Úc)
Mức độ nhiễm axit đại dương cao hơn là tin xấu cho loài cá voi bướu bởi
vì thức ăn ưa thích của chúng, loài nhuyễn thể thậm chí sẽ không hình thànhkhi nồng độ axit gia tăng
4 Các nguyên nhân gây ra ô nhiễm không khí
Sau đây là một số hoạt động cơ bản của con người trong quá trình pháttriển gây ra ô nhiễm không khí:
4.1 Do hoạt động Công nghiệp
Đây là nguồn gây ô nhiễm lớn nhất ở nước ta mà chủ yếu là do côngnghệ lạc hậu khi quá trình đô thị hóa diễn ra, phạm vi thành phố được mởrộng dẫn đến phần lớn các khu công nghiệp cũ sản xuất lạc hậu đều nằm rảirác trong thành phố làm cho mức ô nhiễm không khí ngày càng gia tăng Cácquá trình gây ô nhiễm là quá trình đốt các nhiên liệu hóa thạch: than, dầu, khíđốt tạo ra: CO2, CO, SO2, NOx, các chất hữu cơ chưa cháy hết: muội than,bụi, quá trình thất thoát, rò rỉ trên dây truyền công nghệ, các quá trình vận
Trang 8chuyển các hóa chất bay hơi, bụi Ví dụ như hàm lượng benzene trong xăngquá cao (5% so với 1%), hàm lượng lưu huỳnh trong diesel cao (0,25% so với0,05%) Các hoạt động đã thải ra một lượng lớn bụi, khí SO2, CO và NO2 gâytác động xấu đến chất lượng không khí đô thị.
Đặc điểm: nguồn công nghiệp có nồng độ chất độc hại cao, thường tậptrung trong một không gian nhỏ Tùy thuộc vào quy trình công nghệ, quy môsản xuất và nhiên liệu sử dụng thì lượng chất độc hại và loại chất độc hại sẽkhác nhau
4.2 Hoạt động giao thông vận tải
Cùng với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, phương tiện giao thông cơ giới ở Việt Nam tăng lên rất nhanh, đặc biệt là khu đô thị.
Đây là nguồn gây ô nhiễm lớn đối với không khí đặc biệt ở khu đô thị
và khu đông dân cư: Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng Theo sốliệu của bộ giao thông vận tải, số lượng xe máy tăng lên rất nhanh ( trungbình mỗi năm là 15% đến 18%) Các quá trình tạo ra các khí gây ô nhiễm làquá trình đốt nhiên liệu động cơ: CO, CO2, SO2, NOx, Pb, Các bụi đất đácuốn theo trong quá trình di chuyển Ngoài ra, đối với các thành phố lớn, cáchoạt động giao thông vận tải của các cảng cũng tạo ra một lượng khí ô nhiễmđáng kể Nếu xét trên từng phương tiện thì nồng độ ô nhiễm tương đối nhỏnhưng nếu mật độ giao thông lớn và quy hoạch địa hình, đường xá không tốtthì sẽ gây ô nhiễm nặng cho hai bên đường
4.3 Hoạt động sinh hoạt, tiêu dùng
Là nguồn gây ô nhiễm tương đối nhỏ, song tác động này cũng cần đượctính đến Chủ yếu là các hoạt động đun nấu sử dụng nhiên liệu nhưng đặc biệtgây ô nhiễm cục bộ trong một hộ gia đình hoặc vài hộ xung quanh Tác nhângây ô nhiễm chủ yếu: CO, bụi
Đặc biệt là các khu dân cư nghèo, các khu phố cũ, phố cổ khi mà việc
Trang 9trong nhà, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe người dân Ước tính khu này cómật độ nguồn phát thải ô nhiễm cao hơn hẳn những khu khác, có thể gấp tới
10 lần so với các khu dân cư mức sống cao
(giáo trình luật môi trưởng xuất bản năm 2010)
5 Hệ thống tiêu chuẩn môi trường không khí:
Vấn đề bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường không khí nóiriêng không chỉ cần đến một hệ thống các quy phạm pháp luật quy định vềtrách nhiệm và điều kiện cơ sở vật chất cho việc kiểm soát ô nhiễm khôngkhí Để các tiêu chuẩn đạt được hiệu quả tối ưa chúng ta cần có một “hàng rào
kĩ thuật “ đó là tiêu chuẩn cho không khí và tiêu chuẩn của khí thải Theo điều
3.5 luật bảo vệ môi trường thì : “Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép
của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lí và bảo vệ môi trường “
Trên cơ sở đó, ngày 18/12/2006, Bộ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường
đã ra quyết định số 22/2006/QĐ – BTNMT về việc bắt buộc áp dụng tiêuchuẩn Việt Nam về môi trường Trong 5 bộ tiêu chuẩn Việt Nam thì có bốn
bộ tiêu chuẩn là quy định chất lượng không khí:
Trang 10Tên tiêu chuẩn : Chất lượng không khí – Tiêu chuẩn khí thải công nghiệpđối với bụi và các chất vô cơ
Tên tiếng Anh : Air quality – Industrial emission standards – Inorganicsubstances and dusts
*Việc xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn môi trường phải tuân theo các
nguyên tắc sau đây:
- Đáp ứng mục tiêu bảo vệ môi trường; phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái
và sự cố môi trường;
- Ban hành kịp thời, có tính khả thi, phù hợp với mức độ phát triển kinh
tế - xã hội, trình độ công nghệ của đất nước và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh
Theo hệ thống này, hiện nay có thể phân chia các tiêu chuẩn không khí ra
làm hai nhóm: Nhóm tiêu chuẩn chất lượng môi trường xung quanh và nhóm
tiêu chuẩn chất thải.
* Nhóm tiêu chuẩn chất lượng môi trường xung quanh:
Chất lượng không khí – tiêu chuẩn chất lượng không khí xung quanh
TCVN 5937:2005 thay thế cho TCVN 5937:1995.
+Phạm vi áp dụng
Trang 11- Tiêu chuẩn này quy định giá trị giới hạn các thông số cơ bản, gồm lưu
huỳnh đioxit (SO2), cacbon oxit (CO), nitơ oxit (NOx), ôzôn (O3), bụi lơ lửng
và bụi PM10 (bụi ≤ 10 µm) và chì (Pb) trong không khí xung quanh
- Tiêu chuẩn này áp dụng để đánh giá chất lượng không khí xung quanh
và giám sát tình trạng ô nhiễm không khí
- Tiêu chuẩn này không áp dụng để đánh giá chất lượng không khí trong
phạm vi cơ sở sản xuất hoặc không khí trong nhà
+Giá trị giới hạn
Giá trị giới hạn các thông số cơ bản trong không khí xung quanh qui địnhtrong bảng 1
Bảng 1: Tiêu chuẩn chất lượng không khí xung quanh.
Đơn vị: Microgam trên mét khối (µg/m3)
Thông số
Trung bình 1 giờ
Trung bình 8 giờ
Trung bình 24 giờ
Trung bình năm (Trung bình số học)
không phân tán (NDIR)
Trang 12nguyên tửCHÚ THÍCH: PM10: Bụi lơ lửng có kích thước khí động học nhỏ hơn hoặc bằng10µm;
Dấu gạch ngang (-): Không quy định
Chất lượng không khí - Nồng độ tối đa cho phép của một số chất độc hại trong không khí xung quanh
TCVN 5938: 2005 thay thế cho TCVN 5938:1995
Trang 13Bảng 2: Nồng độ tối đa cho phép của một số chất độc hại trong không khí xung quanh
Đơn vị: Microgam trên mét khối (µg/m 3 )
hoá học
Thời gian trung bình
Nồng độ cho phép
8 Cadimi (khói gồm ôxit và kim
Trang 1423 Hydrocabon (Xang) CnHm 24 giờ1 giờ 50001500
Trang 15Chú thích: Giá trị trung bình năm là giá trị trung bình số học;
KPHT: không phát hiện thấy
* Nhóm tiêu chuẩn chất thải gồm:
Chất lượng không khí – Tiêu chuẩn khí thải công nghiệp đối với bụi và các chất vô cơ
TCVN 5939:2005 thay thế cho TCVN 5939:1995, TCVN 6991:2001, TCVN 6992:2001 và TCVN 6993:2001.
Bảng 3 – Giới hạn tối đa cho phép của bụi và các chất vô cơ trong khí
thải công nghiệp
Đơn vị: miligam trên mét khối khí thải chuẩn* (mg/Nm3)
Trang 1615 SO2 1500 500
17 NOx (cơ sở sản xuất axit), tính theo NO2 2000 1000
19 Hơi HNO3 (cơ sở sản xuất axit), tính theo NO2 2000 1000
20 Hơi HNO3 (các nguồn khác), tính theo NO2 1000 500
CHÚ THÍCH:
*) Mét khối khí thải chuẩn nói trong tiêu chuẩn này là một mét khối khí thải ởnhiệt độ 0oC và áp suất tuyệt đối 760 mm thủy ngân
TIÊU CHUẨN VIỆT NAM TCVN 5940:2005
Chất l ư ợng không khí – Tiêu chuẩn khí thải công nghiệp đối với một số chất hữu c ơ
TCVN 5940:2005 thay thế cho TCVN 5940:1995, TCVN 6994:2001, TCVN 6995:2001 và TCVN 6996:2001
Trang 17Bảng 4 – Giới hạn tối đa cho phép các chất hữu cơ khi thải vào không khí
Đơn vị: Miligam trên mét khối khí thải chuẩn (mg/Nm 3 )
Trang 20- Đối với tiêu chuẩn quy định chất lượng môi trường không khí xungquanh : bộ tiêu chuẩn này được xây dựng nhằm đáp ứng những yêu cầu vềquản lí chất lượng không khí
- Đối với tiêu chuẩn thải khí thì mục đích là để khống chế các chất thảikhí được đưa vào môi trường trong những lĩnh vực khác nhau
Từ đó, pháp luật có một căn cứ cụ thể để có thể xác định rõ ràng tìnhhình môi trường không khí thực tiễn và giúp phát hiên những vụ việc gây ônhiễm không khí cụ thể
B THỰC TRẠNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA Ô NHIỄM
KHÔNG KHÍ Ở VIỆT NAM
I THỰC TRẠNG Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ TẠI VIỆT NAM
1 Ô nhiễm môi trường không khí do bụi
Ở hầu hết các đô thị nước ta đều bị ô nhiễm bụi, nhiều nơi bị ô nhiễm bụitrầm trọng, tới mức báo động Các khu dân cư ở cạnh đường giao thông lớn
và ở gần các nhà máy, xí nghiệp cũng bị ô nhiễm bụi rất lớn
Nồng độ bụi trong các khu dân cư ở xa đường giao thông, xa các cơ sởsản xuất hay trong các khu công viên cũng đạt tới xấp xỉ trị số tiêu chuẩn chophép
Nồng độ bụi trong không khí ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố
Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng trung bình lớn hơn trị số tiêu chuẩn chophép từ 2 đến 3 lần, ở các nút giao thông thuộc các đô thị này nồng độ bụi lớnhơn tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến 5 lần, ở các khu đô thị mới đang diễn ra quátrình thi công xây dựng nhà cửa, đường sá và hạ tầng kỹ thuật thì nồng độ bụithường vượt tiêu chuẩn cho phép từ 10 - 20 lần
Trang 21Ở các thành phố, thị xã thuộc Đồng bằng Nam Bộ có mức ô nhiễm bụitrung bình cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 1,2 đến 1,5 lần, như ở thành phốCần Thơ, thị xã Rạch Giá, thị xã Hà Tiên, thị xã Bến Tre Nói chung, ô nhiễmbụi ở các tỉnh, thành miền Nam trong mùa khô thường lớn hơn trong mùamưa.
Nồng độ bụi trong không khí ở các thị xã, thành phố miền Trung và TâyNguyên (như là thị xã Tam Kỳ, Hội An, Nha Trang, Cam Ranh, Vinh, ĐồngHới, Buôn Ma Thuột, Kon Tum, ) cao hơn ở các thành phố, thị xã Nam Bộ.Nồng độ bụi ở các đô thị thuộc các tỉnh miền núi, vùng cao, nói chungcòn thấp hơn trị số tiêu chuẩn cho phép (tức là không khí còn trong sạch), như
là Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Đà Lạt, Ngược lại, ở các đô thị phát triểnđường giao thông và xây dựng nhà cửa mạnh, thì môi trường không khí bị ônhiễm bụi tương đối nặng, như thị xã Vĩnh Yên (nồng độ bụi: 0,70 -1,23mg/m3), thị xã Phúc Yên (0,99 - 1,33mg/m3), thị trấn Hoà Mạc, Hà Nam(1,31mg/m3), thị xã Hà Đông (0,9 - 1,5mg/m3),
Trên Hình V.5 giới thiệu diễn biến nồng độ bụi trong không khí từ năm
1995 đến hết năm 2002 ở các khu dân cư bên cạnh các khu công nghiệp
Trang 22
NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN NINH BÌNH VƯỢT QUA Ý ĐỊNH ĐÓNG
CỬA VÌ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
Nhà máy Nhiệt điện Ninh Bình có công suất 100MW, được xây dựng vàonhững năm 1960, đặt sát vách núi Cánh Diều, nằm ở đầu hướng gió chính thổivào thị xã Công nghệ sản xuất lạc hậu, toàn bộ nhà máy và ống khói cao 80mnằm trong bóng "khí động" của núi Cánh Diều Xử lý bụi bằng xiclon với hiệusuất rất thấp, khoảng 50% Vì vậy, trước năm 1996, nhà máy đã gây ra ônhiễm bụi và khí SO2 rất trầm trọng đối với thị xã Ninh Bình và các làng, xãphụ cận Ở khu vực xung quanh cuối hướng gió, cách nhà máy khoảng 600 -1.000m, nồng độ bụi trong không khí gấp 15-30 lần tiêu chuẩn cho phép, nồng
độ khí SO2 vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,3 - 3,6 lần Thống kê trung bình tỷ lệ
số người bị các bệnh về đường hô hấp ở khu vực bị ô nhiễm này cao hơn ở xãTrường Yên (nơi không bị ô nhiễm) từ 2 - 3 lần Nhân dân xung quanh đãnhiều lần kêu cứu về ô nhiễm bụi và khí SO2, nhà máy phải giảm công suấtxuống còn 10% và có ý định đóng cửa nhà máy Để khắc phục ô nhiễm môitrường, năm 1997 nhà máy đã xây dựng ống khói mới, cao 130m, vượt trênbóng "khí động" của núi Cánh Diều, thay lọc bụi xiclon bằng lọc bụi tĩnh điệnvới hiệu suất 99%, cải tạo lò, làm kín dây chuyền công nghệ, cải tạo nhà máy,nên nhà máy đã phục hồi được công suất 100% mà vẫn đảm bảo môi trườngkhông khí bên trong nhà máy cũng như toàn bộ thị xã Ninh Bình được cảithiện rõ rệt và đạt tiêu chuẩn môi trường
Trước đây, với công nghệ đốt than bằng vòi đốt cũ, đã gây ô nhiễm môitrường và đã xảy ra tai nạn chết người do sập xỉ lò Năm 2001, nhà máy đã cảitiến vòi đốt than theo kiểu UD, giải quyết cơ bản hiện tượng đóng xỉ trong lò,kéo dài chu trình vận hành lò, giảm chi phí vận hành, giảm nồng độ khí NO2trong khí thải từ 1.000mg/m3 xuống còn 650mg/m3, đồng thời không xảy ra tainạn lao động trong 3 năm qua
Trang 23Tuy kinh phí đầu tư cải tạo môi trường nhà máy điện là rất lớn, khoảng
170 tỷ đồng, nhưng hiệu quả mang lại còn lớn hơn nhiều, không những giảiquyết xong nạn ô nhiễm môi trường trầm trọng, mà còn mang lại hiệu quả kinh
tế - xã hội rất lớn: nhà máy không phải đóng cửa hay di dời đi nơi khác; phụchồi sản xuất 100%; trước đây sản xuất 1KW điện phải mất 0,88kg than tiêuchuẩn, nay chỉ mất 0,61kg than; không phải mất tiền trợ cấp độc hại cho cán
bộ công nhân viên của nhà máy và thị xã, thiệt hại vì ốm đau, bệnh tật và nghỉviệc của nhân dân do ô nhiễm gây ra nay còn không đáng kể; vệ sinh môitrường toàn thị xã được cải thiện, thu hút khách du lịch đến Ninh Bình và tạođiều kiện trong tương lai gần sẽ mở rộng công suất nhà máy
Nguồn: Theo tài liệu của Phạm Ngọc Đăng
Xét Hình V.5 ta thấy, tuy công nghiệp và đô thị trong thời gian qua pháttriển nhanh, nhưng ô nhiễm bụi trong không khí ở các khu dân cư gần một sốkhu công nghiệp cũ trong các năm gần đây (từ năm 1995 đến nay) có chiềuhướng giảm dần, có thể đây là kết quả của việc kiểm soát các nguồn thải côngnghiệp ngày càng tốt hơn Riêng ở gần Cụm Công nghiệp Tân Bình (thànhphố Hồ Chí Minh) và Khu Công nghiệp Biên Hoà I thì có chiều hướng tănglên Ngược lại ô nhiễm bụi ở khu dân cư thông thường trong đô thị ngày càngtăng hơn, có thể là do hoạt động giao thông và xây dựng trong đô thị ngàycàng gia tăng
Trang 24Hình 2, nồng độ bụi đo được tại trạm Láng cho thấy vào mùa khô từtháng (10 -3) lớn hơn hẳn so với mùa mưa tháng (4 - 7) Vào giờ cao điểmthì nồng độ bụi tương đối cao, mà nguyên nhân kể đến là áp lực của hơn 1,55triệu xe máy và gần 150.000 ô tô đang lưu hành trên đường Thêm vào đó làchất lượng các còn đường còn quá kém cũng như hoạt động xây dựng, sửachữa cũng làm nồng độ bụi tăng.
2 Ô nhiễm môi trường không khí do các khí độc hại
2.1 Ô nhiễm khí SO2:
Nói chung, nồng độ khí SO2 trung bình ở các đô thị và khu công nghiệpnước ta còn thấp hơn trị số tiêu chuẩn cho phép
Trong các thành phố, thị xã đã quan trắc thì ở các thành phố Hồ Chí
Trang 25SO2 lớn nhất, nhưng vẫn thấp hơn trị số tiêu chuẩn cho phép tới 2 lần, ở cácthành phố khác còn lại, như Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long, Thanh Hoá, Vinh,Huế, Cần Thơ, Cà Mau, Mỹ Tho, nồng độ khí SO2 trung bình ngày đều dưới0,1 mg/m3, tức là thấp hơn trị số tiêu chuẩn cho phép tới 3 lần.
Hình V.6 thể hiện sự diễn biến nồng độ khí SO2 ở gần các khu côngnghiệp cũ của một số thành phố lớn từ năm 1995 đến nay Xem Hình V.6 cóthể thấy nồng độ khí SO2 trong không khí ở Khu công nghiệp Biên Hoà I,năm 1995, rất lớn (SO2 = 1,02mg/m3), gấp gần 3,7 lần trị số tiêu chuẩn chophép, các năm gần đây giảm đi rất nhiều, ở các thành phố, khu công nghiệpkhác, nồng độ khí SO2 từ 1995 đến nay thay đổi không đáng kể, hoặc có xuhướng giảm đi đôi chút, tuy rằng hoạt động công nghiệp ngày càng tăng, điềunày có thể là kết quả tích cực của công tác quản lý và bảo vệ môi trường đôthị và công nghiệp trong thời gian qua ở nước ta Tại Khu Công nghiệp TânBình (thành phố Hồ Chí Minh), nồng độ khí SO2 năm 2002 lớn hơn năm 2001nhưng nhỏ hơn năm 2000 Ngược lại, nồng độ các chất khí ô nhiễm ở các khudân cư thông thường trong nội thành (như phố Lý Quốc Sư, Hà Nội, HìnhV.5, Hình V.6) cũng như ở ngoại thành có chiều hướng gia tăng Đặc biệt,
Trang 26riêng số liệu đo lường nồng độ khí SO2 năm 2000 ở phố Lý Quốc Sư (Hà Nội)tăng vọt lên rất lớn, nguyên nhân là do trong năm 2000 số hộ gia đình tập thể
ở cạnh phố tăng lên, nhà cửa mở rộng cơi nới thêm, khu phố không thôngthoáng như năm 1999 về trước, mặt khác ở gần điểm đo có một số nhà mởthêm hàng phở, đun nấu bằng than và nhiều gia đình trong khu tập thể nàycũng đun bếp bằng than tổ ong
Ô NHIỄM KHÍ SO 2 , NO 2 VÀ CO
Nồng độ trung bình 1 giờ, cũng như trung bình ngày của khí SO2, NO2 và
CO trong không khí ở gần hầu hết các đô thị Việt Nam đều nhỏ hơn hoặc xấp
xỉ trị số tiêu chuẩn cho phép, tức là chưa bị ô nhiễm khí SO2, NO2 và CO Tuyvậy ở các nút giao thông chính và ở gần một số khu công nghiệp, một số xínghiệp nung gạch ngói, nồng độ các khí này đã xấp xỉ bằng hoặc lớn hơn trị sốtiêu chuẩn cho phép, có chỗ tới 2 - 4 lần Thí dụ như nồng độ khí SO2 ở gầnkhu lò gạch thôn 6, thôn 7 xã Cẩm Hà, thị xã Hội An, lớn hơn tiêu chuẩn chophép nhiều lần; ở các khu sản xuất vật liệu xây dựng của tỉnh Hà Nam (Công
ty Ba Nhất, Xi măng 77, Xí nghiệp Gạch ngói Bình Lục, xã Mộc Bắc): lớn hơntiêu chuẩn cho phép từ 3 - 4 lần; ở gần các Nhà máy Xi măng Sài Sơn, GạchVân Đình (Hà Tây): lớn hơn tiêu chuẩn cho phép từ 1,3 - 1,5 lần; ở Khu Côngnghiệp Thái Nguyên và Khu Công nghiệp Sông Công: lớn hơn tiêu chuẩn chophép khoảng 1,2 lần; ở thị trấn Đông Triều (Quảng Ninh), nồng độ khí SO2xấp xỉ trị số tiêu chuẩn cho phép
Nguồn: Báo cáo Hiện trạng môi trường Việt Nam 2003
Ô nhiễm các khí CO, NO 2 :
Ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, HảiPhòng, nồng độ khí CO trung bình ngày dao động từ 2 - 5 mg/m3, nồng độ khíNO2 trung bình ngày dao động từ 0,04 - 0,09mg/m3, chúng đều nhỏ hơn trị sốtiêu chuẩn cho phép, tức là ở các đô thị và khu công nghiệp Việt Nam, nói
Trang 27giao thông lớn trong đô thị nồng độ khí CO và khí NO2 đã vượt trị số tiêuchuẩn cho phép, như ở ngã tư Đinh Tiên Hoàng - Điện Biên Phủ (thành phố
Hồ Chí Minh) trị số trung bình ngày của năm 2001: 0,19, gấp 1,9 lần trị sốtiêu chuẩn cho phép, nồng độ CO năm 2001: 15,48 gấp 3,1 lần trị số tiêuchuẩn cho phép; tương tự, năm 2002 nồng độ khí NO2 = 0,191mg/m3 và khí
CO = 12,67mg/m3
Quan trắc ô nhiễm không khí tự động
liên tục Chất lượng không khí thường thay đổi nhanh theo thời gian Để
theo dõi thường xuyên và kịp thời phát hiện rủi ro ô nhiễm môi trường khôngkhí ở các thành phố lớn, Nhà nước đã đầu tư 4 trạm quan trắc không khí tựđộng cố định tại Hà Nội, 1 trạm tự động cố định tại Hải phòng và 2 trạm quantrắc không khí tự động di động (1 ở Hà Nội và 1 ở thành phố Hồ Chí Minh).Năm 2002 và đầu năm 2003, ngành khí tượng thủy văn đã lắp đặt và đưa vàovận hành 6 trạm quan trắc môi trường không khí tự động tại Láng (Hà Nội), PhùLiễn (Hải Phòng), Cúc Phương (Ninh Bình), Đà Nẵng, Pleiku (Gia Lai), Nhà Bè(thành phố Hồ Chí Minh) Tại thành phố Hồ Chí Minh, với sự giúp đỡ của ĐanMạch, cũng đã lắp đặt 4 trạm quan trắc không khí tự động cố định
Chưa tổng kết được kết quả quan trắc của tất cả các trạm tự động này,nhưng theo số liệu quan trắc của trạm không khí tự động đặt tại Đại học Xâydựng Hà Nội thì chất lượng không khí như sau: trị số trung bình năm của nồng
độ (mg/m3) trong 2001 của các chất ô nhiễm là khí SO2 = 0,0083 - 0,016; năm
2002 từ 0,038 - 0,063mg/m3 (tiêu chuẩn quốc tế là 0,05); bụi hô hấp PM10 năm
2001 là 0,122 - 0,126; năm 2002 là 0,090 - 0,173mg/m3 (tiêu chuẩn quốc tế là0,05) Như vậy, nồng độ khí SO2 năm 2002 đã xấp xỉ trị số của tiêu chuẩn quốc
tế, nồng độ bụi PM10 trung bình năm cao hơn tiêu chuẩn quốc tế từ 2,5 đến 3,5lần Ô nhiễm khí SO2 và bụi PM10 năm 2002 cao hơn năm 2001
Ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã bắt đầu (2003) nối mạng thôngtin các trạm quan trắc tự động môi trường không khí và thiết lập một số bảngthông tin điện tử trên đường phố để thông tin tình trạng chất lượng môitrường không khí thành phố cho cộng đồng dân cư biết hàng ngày
Trang 282.2 Ô nhiễm chì (Pb) trong không khí đô thị:
Thực hiện chỉ thị 24/2000/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ở nước ta
đã sử dụng xăng không pha chì từ ngày 1-7-2001 Số liệu quan trắc ô nhiễmgiao thông cho thấy nồng độ chì trong không khí Hà Nội trung bình năm 2002giảm đi khoảng 40 - 45% so với cùng thời kỳ năm trước; tương tự, ở thànhphố Hồ Chí Minh nồng độ chì giảm đi khoảng 50%
3 Mưa axít (lắng đọng axít):
Ô nhiễm khí SO2 và NO2 trong không khí là nguyên nhân chính gây ramưa axít Như phần trên đã trình bày, môi trường không khí ở nước ta, vềtổng thể, chưa bị ô nhiễm khí SO2, NO2, sự ô nhiễm khí SO2, NO2 mới có tínhcục bộ, do đó có thể suy ra rằng bản thân các nguồn ô nhiễm khí SO2 và NO2của nước ta chưa thể gây ra hiện tượng mưa axít Nhưng ô nhiễm không khí
có thể xuyên qua biên giới giữa các nước, ô nhiễm SO2, NO2 của nước này cóthể gây ra mưa axít ở nước khác
VỀ MƯA AXÍT
Kết quả phân tích về số mẫu nước mưa thu được và tỷ lệ (%) số mẫu có
pH < 5,5 trong các năm 2000, 2001 và năm 2002 của các trạm quan trắc mưaaxit ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam cho ở Bảng V.3 Kết quả quan trắc
ở Bảng V.3 cho thấy, ở tất cả 9/9 địa điểm quan trắc mưa axít (Lào Cai, HàNội, Quảng Ngãi, Nha Trang, Biên Hoà, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương,Vũng Tàu và Mỹ Tho), đều xuất hiện các trận mưa với pH < 5,5 (mưa axít) Tỷ
lệ (%) số mẫu ngày nước mưa có pH < 5,5 ở Biên Hoà và Bình Dương là lớnnhất (biến thiên trong 3 năm là 27 - 64%) Ở Lào Cai biến thiên tỷ lệ (%) sốmẫu ngày mưa có pH < 5,5 trong 3 năm là 3% - 15%, ở Hà Nội: 3% - 8,5%, ởVũng Tàu: 4% - 16%, ở thành phố Hồ Chí Minh, năm 2000: 63%, năm 2001:33%, năm 2002: 1,9% Tỷ lệ số mẫu ngày mưa axít thấp nhất xuất hiện ở cácđịa điểm Quảng Ngãi, Nha Trang và Mỹ Tho (0% - 4%)
Nguồn: Báo cáo Hiện trạng môi trường Việt Nam 2003
Trang 29
Trong hệ thống quan trắc môi trường của nước ta, nếu chưa kể các trạm
đo hoá nước mưa của ngành khí tượng thủy văn, đã có 3 trạm quan trắc mưaaxít, nhưng chỉ có Trạm đo lắng đọng axít phía Bắc, đặt tại thị xã Lào Cai, là
đã tiến hành quan trắc tính axít của nước mưa từ năm 1995 đến nay, Trạm đolắng đọng axít phía Nam, đặt tại Trung tâm Chất lượng nước và môi trường,253A đường An Dương Vương, Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh và Trạmmiền Trung, đặt tại Khu Công nghiệp Dung Quất, Quảng Ngãi, mới bắt đầuquan trắc mưa axít từ năm 1999 đến nay
Nhìn chung, ở nước ta đã xuất hiện các dấu hiệu của mưa axít, tỷ lệ sốtrận mưa có pH < 5,5 ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ lớn hơn các vùng khác,tuy rằng nguồn gốc chưa được xác định rõ (Bảng V.3) Vì vậy cần phải tiếptục quan trắc và phân tích mưa axít một cách cẩn thận
Bảng V.3 Kết quả quan trắc mưa axít năm 2000, 2001 và 2002
Nguồn: Cục Bảo vệ Môi trường, Báo cáo Kết quả đo lường của các trạm quan trắc mưa axít năm 2000, năm 2001 và năm 2002
4 Ô nhiễm tiếng ồn đô thị:
Cùng với sự phát triển đô thị là sự tăng trưởng giao thông vận tải trong
đô thị Giao thông vận tải là nguồn chính gây ô nhiễm tiếng ồn đô thị
Kết quả quan trắc từ năm 1995 đến năm 2002 về mức ồn tương đươngtrung bình ở bên cạnh đường giao thông trong giờ ban ngày (từ 6 giờ sáng đến
Trang 3018 giờ chiều) của các đường phố chính ở 13 thành phố, thị xã cho thấy phầnlớn mức ồn ở cạnh các đường giao thông là từ 70 đến 80dBA, về ban đêmmức ồn giao thông nhỏ hơn 70dBA.
Mức ồn ở cạnh các đường phố năm 2002 so với năm 2001 thay đổikhông đáng kể, mức ồn giao thông cao nhất là 82 - 85 dBA và xảy ra ở ngã tưĐiện Biên Phủ - Đinh Tiên Hoàng (thành phố Hồ Chí Minh) Các đường phố
có mức ồn khoảng 80dBA là Quốc lộ 5 tại Sài Đồng (Hà Nội), đường NguyễnTrãi (Vinh), cạnh Nhà máy Ôxy Đồng Nai (Biên Hoà II), ngã tư Phú Lợi thị
xã Thủ Dầu Một, cổng Bệnh viện Quân đoàn 4 (Bình Dương) Đa số cácđường phố còn lại có mức ồn từ 65 đến 75dBA
Ô NHIỄM TIẾNG ỒN ĐÔ THỊ
Kết quả quan trắc cho thấy tuy lưu lượng dòng xe năm 2002 nhiều hơn 2lần so với năm 1995, nhưng mức ồn chỉ tăng thêm 0,6dBA (77,4 - 75,8).Nguyên nhân có thể do đường đã được cải tạo, mặt đường tốt hơn, thôngthoáng hơn và tỷ lệ xe mới tăng, xe cũ giảm Theo số liệu đếm xe trên đườnggiao thông, thì tỷ lệ số xe máy chiếm trong dòng xe cơ giới ở Việt Nam rất lớn
Tỷ lệ xe máy trên các đường giao thông nội thị trung bình chiếm khoảng 85 90%, tỷ lệ xe máy trên các đường vành đai đô thị hay trên các đường quốc lộchiếm khoảng 80 - 85%
-Nguồn: Báo cáo Hiện trạng môi trường Việt Nam 2003
Ô nhiễm môi trường không khí đang là một vấn đề bức xúc đối với môitrường đô thị, công nghiệp và các làng nghề ở nước ta hiện nay Ô nhiễm môitrường không khí có tác động xấu đối với sức khoẻ con người (đặc biệt là gây racác bệnh đường hô hấp), ảnh hưởng đến các hệ sinh thái và biến đổi khí hậu(hiệu ứng "nhà kính", mưa axít và suy giảm tầng ôzôn), Công nghiệp hoá càngmạnh, đô thị hoá càng phát triển thì nguồn thải gây ô nhiễm môi trường không
Trang 31khí càng nhiều, áp lực làm biến đổi chất lượng không khí theo chiều hướng xấucàng lớn, yêu cầu bảo vệ môi trường không khí càng quan trọng.
II NGUỒN GỐC CỦA Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ
1 Nguồn ô nhiễm không khí từ hoạt động công nghiệp
Công nghiệp cũ (được xây dựng trước năm 1975) đều là công nghiệp vừa
và nhỏ, công nghệ sản xuất lạc hậu, một số cơ sở sản xuất có thiết bị lọc bụi,hầu như chưa có thiết bị xử lý khí thải độc hại Nói chung, công nghiệp cũkhông đạt tiêu chuẩn về chất lượng môi trường Công nghiệp cũ lại rất phântán, do quá trình đô thị hoá, phạm vi thành phố ngày càng mở rộng nên hiệnnay phần lớn công nghiệp cũ này nằm trong nội thành của nhiều thành phố
Ví dụ ở thành phố Hồ Chí Minh, không kể các cơ sở thủ công nghiệp, cókhoảng 500 xí nghiệp trong tổng số hơn 700 cơ sở công nghiệp nằm trong nộithành, ở thành phố Hà Nội có khoảng 200 xí nghiệp trong tổng số khoảng 300
cơ sở công nghiệp nằm trong nội thành Trong các năm gần đây nguồn ônhiễm từ hoạt động công nghiệp nằm trong nội thành có phần giảm bớt do cáctỉnh, thành đã tích cực thực hiện chỉ thị xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễmnghiêm trọng nằm xen kẽ trong các khu dân cư Ví dụ như ở Hà Nội đã đầu tưxây dựng kỹ thuật hạ tầng 10 cụm công nghiệp nhỏ ở các huyện ngoại thànhvới tổng diện tích đất quy hoạch 2.573ha để khuyến khích các xí nghiệp cũ ởtrong nội thành di dời ra các cụm công nghiệp đó Đặc biệt, thành phố Hà Nội
có chế độ thưởng tiến độ di chuyển sớm trong giai đoạn từ 2003 - 2004, mứcthưởng từ 10 triệu đến 500 triệu đồng/đơn vị sản xuất Cho đến nay Hà Nội đã
di chuyển được 10 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm nặng ra ngoại thành như: Công
ty Cổ phần Dệt 10/10, Công ty Thuỷ tinh Hà Nội, Công ty Giầy Thụy Khuê, Hiện nay có 6 công ty đang di chuyển là Công ty Nhựa Hà Nội, Dệt kim HàNội, Xe đạp xe máy Đống Đa, Kỹ thuật điện thông, Dệt kim Thăng Long.Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa ra chính sách thưởng 500 triệu đồng (mứccao nhất) cho những doanh nghiệp di dời trong năm 2002, mức thưởng này
Trang 32chỉ còn 50% đối với các doanh nghiệp di dời vào năm 2003 và chỉ còn 40%nếu di dời vào năm 2004 Tỉnh Bắc Ninh và một số tỉnh khác cũng đã đầu tư
kỹ thuật hạ tầng xây dựng một số cụm công nghiệp nhỏ để tập trung cácdoanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường nặng nề ở đô thị và làng nghề vào cáccụm công nghiệp này,
Hoạt động công nghiệp gây ô nhiễm không khí còn từ các khu, cụm côngnghiệp cũ, như các khu công nghiệp: Thượng Đình, Minh Khai - Mai Động(Hà Nội), Thủ Đức, Tân Bình (thành phố Hồ Chí Minh), Biên Hoà I (ĐồngNai), Khu Công nghiệp Việt Trì, Khu Gang thép Thái Nguyên, và ô nhiễmkhông khí cục bộ ở xung quanh các xí nghiệp, nhà máy xi măng (đặc biệt là ximăng lò đứng), các lò nung gạch ngói, xí nghiệp sản xuất đồ gốm, các nhàmáy nhiệt điện đốt than và đốt dầu FO, các nhà máy đúc đồng, luyện thép, cácnhà máy sản xuất phân hoá học, Các chất ô nhiễm không khí chính do côngnghiệp thải ra là bụi, khí SO2, NO2, CO, HF và một số hoá chất khác
Ô nhiễm môi trường không khí ở nhiều làng nghề đã tới mức báo động,một số bài báo đã đánh giá một cách đáng lo ngại là "sống giàu, nhưng chếtmòn" đối với làng tái chế nilông Minh Khai (Như Quỳnh, Hưng Yên); "hítkhói ăn tiền" ở xã Chỉ Đạo (Văn Lâm, Hưng Yên) - tái chế chì, hay là "nhữnglàn khói độc" ở làng gốm Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội) Ở rất nhiều làngnghề, đặc biệt là các làng nghề ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ, đang kêu cứu về ônhiễm môi trường không khí
Công nghiệp mới: Phần lớn các cơ sở công nghiệp mới được đầu tư tậptrung vào 82 khu công nghiệp Trước khi xây dựng dự án đều đã tiến hành
"Đánh giá tác động môi trường", nếu dự án thực hiện đầy đủ các giải phápbảo vệ môi trường đã được trình bày trong báo cáo đánh giá tác động môitrường thì sẽ đảm bảo đạt tiêu chuẩn chất lượng môi trường
Trang 33Tuy vậy, còn nhiều xí nghiệp mới, đặc biệt là các nhà máy nhiệt điện đốtthan, chưa xử lý triệt để các khí thải độc hại (SO2, NO2, CO), nên đã gây ra ônhiễm môi trường không khí xung quanh.
2 Nguồn ô nhiễm không khí do hoạt động giao thông vận tải
Cùng với quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá, phương tiện giaothông cơ giới ở nước ta tăng lên rất nhanh, đặc biệt là ở các đô thị Trước năm
1980 khoảng 80 - 90% dân đô thị đi lại bằng xe đạp, ngày nay, ngược lạikhoảng 80% dân đô thị đi lại bằng xe máy, xe ôtô con Nguồn thải từ giaothông vận tải đã trở thành một nguồn gây ô nhiễm chính đối với môi trườngkhông khí ở đô thị, nhất là ở các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ ChíMinh, Hải Phòng, Đà Nẵng Theo đánh giá của chuyên gia môi trường, ônhiễm không khí ở đô thị do giao thông vận tải gây ra chiếm tỷ lệ khoảng 70%.Theo số liệu của Phòng Cảnh sát giao thông Hà Nội, năm 1990 có 34.222
xe ôtô, năm 1995 có 60.231 xe, năm 2000 có 130.746 xe tham gia giao thông.Như vậy sau 10 năm số lượng ôtô ở Hà Nội tăng lên gần 4 lần Về xe máy ở
Hà Nội năm 1996 mới có khoảng 600.000 xe máy, năm 2001 gần 1 triệu,Năm 2007, Hà Nội có hơn 1,7 triệu xe máy, bình quân khoảng 1 xe máy/2người dân Ở thành phố Hồ Chí Minh năm 1997 mới có khoảng 1,2 triệu xemáy, năm 2001 gần 2 triệu xe, Năm 2007, TPHCM có khoảng 3,8 triệu Bìnhquân số lượng xe máy ở các đô thị nước ta mỗi năm tăng khoảng 15 - 18%, sốlượng xe ôtô mỗi năm tăng khoảng 8 - 10%
Do số lượng xe máy tăng lên rất nhanh, không những làm tăng nhanhnguồn thải gây ô nhiễm không khí, mà còn gây ra tắc nghẽn giao thông ởnhiều đô thị lớn Ở Hà Nội có khoảng 40 điểm thường xuyên bị ùn tắc giaothông, ở thành phố Hồ Chí Minh là 80 điểm Khi tắc nghẽn giao thông, mức
độ ô nhiễm hơi xăng dầu có thể tăng lên 4 - 5 lần so với lúc bình thường ỞViệt Nam , khoảng 75% số lượng ôtô chạy bằng nhiên liệu xăng, 25% sốlượng ôtô chạy bằng dầu DO, 100% xe máy chạy bằng xăng Ô nhiễm khí CO
Trang 34và hơi xăng dầu (HC) thường xảy ra ở các nút giao thông lớn, như là ngã tưCầu Giấy, ngã tư Kim Liên (Hà Nội), ngã tư Điện Biện Phủ - Đinh TiênHoàng, vòng xoay Hàng Xanh (thành phố Hồ Chí Minh), ngã tư Cầu Đất -Nguyễn Đức Cảnh (thành phố Hải Phòng), Trước năm 2001 ở các nút giaothông này còn bị ô nhiễm chì (Pb).
3 Nguồn ô nhiễm không khí do hoạt động xây dựng
Ở nước ta hiện nay hoạt động xây dựng nhà cửa, đường sá, cầu cống, rấtmạnh và diễn ra ở khắp nơi, đặc biệt là ở các đô thị Các hoạt động xây dựng nhưđào lấp đất, đập phá công trình cũ, vật liệu xây dựng bị rơi vãi trong quá trình vậnchuyển, thường gây ô nhiễm bụi rất trầm trọng đối với môi trường không khí xungquanh, đặc biệt là ô nhiễm bụi, nồng độ bụi trong không khí ở các nơi có hoạtđộng xây dựng vượt trị số tiêu chuẩn cho phép tới 10 - 20 lần
4 Nguồn ô nhiễm không khí từ sinh hoạt đun nấu của nhân dân
Nhân dân ở nông thôn nước ta thường đun nấu bằng củi, rơm, cỏ, lá cây
và một tỷ lệ nhỏ đun nấu bằng than Nhân dân ở thành phố thường đun nấubằng than, dầu hoả, củi, điện và khí tự nhiên (gas) Đun nấu bằng than và dầuhoả sẽ thải ra một lượng chất thải ô nhiễm đáng kể, đặc biệt nó là nguồn gây ônhiễm chính đối với môi trường không khí trong nhà, ảnh hưởng trực tiếp đếnsức khoẻ của người dân Trong những năm gần đây nhiều gia đình trong đôthị đã sử dụng bếp gas thay cho bếp đun bằng than hay dầu hoả
Theo báo cáo hiện trạng môi trường của các tỉnh thành năm 2002, vànăm 2003, ở các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng,
Đà Nẵng, đặc biệt là ở các thành phố và thị xã của các tỉnh phía Nam, một sốgia đình có mức sống cao chuyển từ đun nấu bằng than, dầu sang đun nấubằng bếp gas ngày càng nhiều Bếp gas gây ô nhiễm không khí ít hơn rấtnhiều so với đun nấu bằng than, dầu Ngược lại, do giá dầu hoả và giá điệntăng lên đáng kể, rất nhiều gia đình có mức thu nhập thấp đã chuyển sang
Trang 35khoảng 2kg than/ngày, gây ra ô nhiễm không khí cục bộ nặng nề, nhất là lúcnhóm bếp và ủ than.
III TÁC ĐỘNG CỦA Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1 Mưa axit:
- do hiện tượng lắng đọng axit gây ra
Các công trình xây dựng bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi mưa axit
Mưa axít là hiện tượng mưa mà nước mưa có độ pH dưới 5 Đây là hậuquả của quá trình phát triển sản xuất con người tiêu thụ nhiều than đá, dầu mỏ
và các nhiên liệu tự nhiên khác
Mưa axit được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1948 tại Thuỵ Điển
Mưa axit ảnh hưởng xấu tới các thuỷ vực (ao, hồ) Các dòng chảy domưa axit đổ vào hồ, ao sẽ làm độ pH của hồ giảm xuống, lượng nước trong ao
hồ sẽ giảm đi nhanh chóng, các sinh vật trong hồ, ao suy yếu hoặc chết hoàntoàn Hồ, ao trở thành các thuỷ vực chết
Mưa axit ảnh hưởng xấu tới đất do nước mưa ngầm xuống đất làm tăng
độ chua của đất, hoà tan các nguyên tố trong đất cần thiết cho cây như canxi(Ca), magiê (Mg), làm suy thoái đất, cây cối kém phát triển Lá cây gặpmưa axit sẽ bị "cháy" lấm chấm, mầm sẽ chết khô, làm cho khả năng quanghợp của cây giảm, cho năng suất thấp
Mưa axit còn phá huỷ các vật liệu làm bằng kim loại như sắt, đồng,kẽm làm giảm tuổi thọ các công trình xây dựng, làm lở loét bề mặt bằng đácủa các công trình
Trong cả nước, mưa axit chiếm tới 30-50% số lần mưa Những nơi có tầnsuất cao lên tới 50%, điển hình như Việt Trì, Tây Ninh và Huế Tính riêngkhu vực Hà Nội, tần suất xuất hiện mưa axit là 11% Theo số liệu quan trắc,
Hà Nội và TP.HCM có tần suất mưa axit thấp hơn các vùng khác
Trang 36Mặc dù vậy, trong đề tài “Đánh giá hiện trạng mưa axit ở Việt Nam” củaViện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường, ở các thành phố côngnghiệp lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP HCM, lượng mưa axít luôncao hơn gấp 2 tới 3 lần so với các khu vực có giá trị sinh thái cao như CúcPhương, Nha Trang, Cà Mau
Hà Nội và các thành phố lớn là nơi lưu giữ khá nhiều di tích lịch sử, các côngtrình kiến trúc… có giá trị quan trọng của cả nước Do vậy, việc bảo tồn và giữgìn các công trình này khỏi ảnh hưởng của thiên nhiên là cả bài toán lớn
(27 Tháng mười một 2009,theo nua-tran-mua-tai-Viet-Nam-la-mua-axit/55265849/412/ )
http://vietbao.vn/The-gioi-giai-tri/Mot-2 Hiệu ứng nhà kính
Là hiệu ứng làm cho không khí của Trái đất nóng lên do bức xạ sóngngắn của Mặt trời có thể xuyên qua tầng khí quyển chiếu xuống mặt đất; mặtđất hấp thu nóng lên, lại bức xạ sóng dài vào khí quyển để CO2 hấp thu làmcho không khí nóng lên
Theo nghiên cứu thì chất khí quan trọng gây hiệu ứng nhà kính là CO2,
nó đóng góp 50% vào việc gây hiệu ứng nhà kính, CH4 là 13%, ozon tầng đốilưu là 7%, nitơ 5%, CFC là 22%, hơi nước ở tầng bình lưu là 3%
Trái đất nóng lên là nguyên nhân chính của hiện tượng băng tan, dẫn đến
lũ lụt, sóng thần và thiên tai Ô nhiễm không khí là một trong những nguyênnhận chính gây hiệu ứng nhà kính
Ô nhiễm không khí ko chỉ gây ảnh hưởng tới điều kiện sinh sống của conngười, đa dạng sinh học và các hệ sinh thái Mà ảnh hưởng tổng hợp nhất làđối với sự biến đổi khí hậu Vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra vàtrái đất đang nóng lên là do các hoạt động của con người chứ không phảithuần tuý do biến đổi khí hậu tự nhiên Do các hoạt động của con người, đặcbiệt là việc sử dụng nhiên liệu hoá thạch (than, dầu, gas) trong công nghiệp,
Trang 37biệt là CO2 không ngừng tăng nhanh và tích lũy trong thời gian dài, gây rahiện tượng hiệu ứng nhà kính, làm biến đổi khí hậu toàn cầu.
Đông Nam Á được xem là “rốn bão” của thế giới và Việt Nam là mộttrong 10 nước trên thế giới chịu tác động lớn nhất của thiên tai, biến đổikhí hậu
Ngày 25/8/2010, Hội nghị châu Á về đánh giá tác động thiên tai đã khaimạc tại TP Huế với sự tham gia của hơn 60 chuyên gia đầu ngành đến từ 20quốc gia trên thế giới và Liên hiệp quốc
Theo số liệu tại hội nghị, thiên tai ở châu Á chiếm gần 40% của thế giới
và thiệt hại do thiên tai gây ra tại châu lục này chiếm gần 60% của thế giới.Khu vực Đông Nam Á là “rốn bão” và là một trong những khu vực chịu nhiềuthiệt hại, dễ bị tổn thương nhất của biến đổi khí hậu do lụt, bão, nước biểndâng, hạn hán… Trong đó, Việt Nam là một trong số 10 nước trên thế giớichịu tác động lớn nhất của thiên tai và biến đổi khí hậu
Theo đại diện Tổ chức Khí tượng thế giới, mức độ tích tụ carbon dioxide
và các chất gây hiệu ứng nhà kính hiện đạt mức cao nhất từ trước đến nay.Hậu quả tất yếu của tình trạng này là sự thay đổi khí hậu, sự tăng lên về tầnsuất và cường độ các loại thiên tai trên thế giới Biểu hiện rõ nhất là hiệntượng khô hạn xảy ra liên tiếp trong 2 năm 2009-2010 ở Australia, Việt Nam
và châu Phi; hiện tượng băng tan ở hai cực với ghi nhận độ lớn khủng khiếpcủa tảng băng tách ra ở Alaska là 250km; gần đây nhất là lũ lụt và sạt lở đất ởTrung Quốc, Pakistan
Theo ông Joshi - Giáo sư Nhân chủng học xã hội - Chủ tịch nhân chủnghọc Y tế Ấn Độ, Việt Nam may mắn chưa xảy ra động đất, nhưng tình trạngbão và lụt diễn biến rất phức tạp Vì vậy, Việt Nam cần phải có những chiếnlược lâu dài về quy hoạch đô thị, quy hoạch thủy lợi, quy hoạch quỹ đất (theo http://vnexpress.net)
Trang 38Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, hằng năm chịu ảnhhưởng của nhiều thiên tai do thời tiết như các cơn bão nhiệt đới, hạn hán, lũlụt Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 nóng và ẩm Mùa khô từ tháng 11 đếntháng 4 lạnh và khô Mùa mưa bão từ tháng 6 đến tháng 12 Hạn hán xảy ratrong các tháng khác nhau ở các vùng khác nhau Miền Bắc, cao nguyênTrung Bộ, và miền Nam từ tháng 11 đến tháng 4; Bắc Trung Bộ, và Trung Bộ
từ tháng 6 đến tháng 7; Nam Trung Bộ từ tháng 3 đến tháng 8
Các số liệu ghi nhận xu hướng tăng nhiệt độ ở cả 3 miền, với mức tăng
từ 0,5 đến 1°C trong vòng 1 thế kỷ qua Đi cùng với tăng nhiệt độ, lượng mưatrung bình hằng năm tăng không đáng kể, nhưng tần suất cũng như lượngmưa hằng tháng thay đổi Mùa mưa có lượng mưa tăng cao, mùa khô lượngmưa giảm đi dẫn tới các sự kiện thời tiết bất thường có xu hướng tăng lên.Trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình tại VN đã tăng 0,7 độ C, mực nướcbiển dâng 20cm Việt Nam đã và đang chịu ảnh hưởng biến đổi khí hậu, thiêntai bão lụt hạn hán đã diễn ra khốc liệt hơn trước
3 Biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng đến Việt Nam theo những xu hướng sau:
-Giảm mưa dông;
Trang 39Nhiệt độ sẽ tăng đáng kể ở các khu vực Tây Bắc, Đông Bắc và caonguyên Trung Bộ Trong mùa mưa, lượng mưa sẽ tăng đáng kể ở các khu vựcBắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ Vào nửa sau thế kỷ XXI, Đồng bằng sôngCửu Long sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp và khốc liệt do nước biển dâng
4 Những ngành chịu ảnh hưởng nặng nề của BĐKH ở Viê ̣t Nam
Biến đổi khí hậu ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến nguồn tài nguyênnước Nguồn nước mặt khan hiếm trong mùa khô gây hạn hán, và quá dư thừatrong mùa mưa gây lũ lụt Nguồn nước ngầm bị suy giảm dẫn đến cạn kiệt dokhai thác quá mức và thiếu nguồn bổ sung
Ngành nông nghiệp cũng sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp của BĐKH Donhiệt độ tăng cao, vùng trồng cây nhiệt đới có xu hướng di chuyển về phíaBắc Vùng trồng cây ôn đới có xu hướng giảm về diện tích Hạn hán và lũ lụtgóp phần ảnh hưởng đến diện tích canh tác
Ngành lâm nghiệp bị ảnh hưởng do diện tích rừng ngập mặn bị thu hẹpbởi nước biển dâng Đa dạng sinh học giảm do các loài kém chịu hạn hán,ngập lụt có xu hướng bị tuyệt chủng, các loài có khả năng chống chịu hạnhán, lũ lụt sẽ phát triển Bên cạnh đó cháy rừng và sâu bệnh sẽ ảnh hưởng đếnngành lâm nghiệp
Các ngành khác cũng chịu ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau:
- Vận tải và năng lượng
- Dầu khí và kinh tế biển
- Sức khỏe cộng đồng
- Thủy sản
Như thế ảnh hưởng do biến đổi khí hậu gây ra sẽ tác động không nhỏ tớisức khỏe, đời sống sinh hoạt cũng như gây ra những thiệt hại kinh tế ko hề nhỏ
5 Ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người
Ô nhiễm không khí có những ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ, đặc biệtđối với đường hô hấp Kết quả nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy, khi môi
Trang 40trường không khí bị ô nhiễm, sức khoẻ con người bị suy giảm, quá trình lãohóa trong cơ thể diễn ra nhanh; các chức năng của cơ quan hô hấp suy giảm,gây ra các bệnh hen suyễn, viêm phế quản, tim mạch và làm giảm tuổi thọcủa con người Các nhóm cộng đồng nhạy cảm nhất với ô nhiễm không khí làngười cao tuổi, phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 14 tuổi, người đang mangbệnh, người lao động thường xuyên phải làm việc ngoài trời Mức độ ảnhhưởng của từng người tuỳ thuộc vào tình trạng sức khoẻ, nồng độ, loại chất vàthời gian tiếp xúc với môi trường ô nhiễm
Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế, trong những năm gần đây, trên toànquốc, tỷ lệ mắc các bệnh về đường hô hấp là cao nhất Thực tế cho thấy, nhiềubệnh đường hô hấp có nguyên nhân trực tiếp bởi môi trường không khí bị ônhiễm do bụi, SO2, NOx, CO, chì Các tác nhân này gây ra các bệnh: Viêmnhiễm đường hô hấp, hen, lao, dị ứng, viêm phế quản mạn tính, ung thư
Mặc dù chưa có con số thống kê cụ thể về tác hại do ô nhiễm không khí,môi trường đến sức khỏe con người, tuy nhiên các bệnh lý liên quan đến ô nhiễmkhông khí ngày càng gia tăng, nhất là ở trẻ em là thực trạng rất đáng lo ngại Sốlượng trẻ đến khám, điều trị các bệnh đường hô hấp tại Bệnh viện Nhi đồng 1(TP Hồ Chí Minh) đã cho thấy điều đó: Nhiễm khuẩn ở đường hô hấp từ gần2.800 trường hợp năm 1996 tăng lên gần 3.800 trường hợp vào năm 2005; bệnhsuyễn từ hơn 3.000 trường hợp năm 1996 tăng lên trên 11.000 trường hợp vàonăm 2005; bệnh viêm tai giữa: từ chỉ 441 trường hợp năm 1996 tăng lên gần2.000 trường hợp năm 2005 Các quận, huyện vùng ven như: Q.Tân Bình,H.Bình Chánh, H.Hóc Môn, Q.8, Q.11 là những địa bàn có tỷ lệ bệnh liênquan đến ô nhiễm không khí cao (trên mức 6%) trong tổng số các bệnh đường
hô hấp ở trẻ em đến khám và điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng 1
Tương tự, tại Bệnh viện Nhi đồng 2 (TP Hồ Chí Minh), lượng bệnh nhimắc các bệnh lý đường hô hấp (như: viêm họng, viêm phế quản, viêm phổi,