1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải bài toán huy động vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam

19 306 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 166,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài : Giải bài toán huy động vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam A.LỜI MỞ ĐẦU Để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản và nguồn vố

Trang 1

Đề tài : Giải bài toán huy động vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam A.LỜI MỞ ĐẦU

Để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản và nguồn vốn hình thành tài sản đó là điều kiện không thể thiếu, nó phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh

Trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp người ta rất chú ý đến việc quản lý việc huy động và luân chuyển của vốn

Hiện nay, khi mà xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế đang diễn ra rất mạnh mẽ trên khắp thế giới đã mở ra cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất nhiều thuận lợi và khó khăn trong việc huy động vốn

Và một thực tế cho thấy là, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu do hạn chế về khả năng mở rộng sản xuất, hạn chế về đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường, hạn chế về khả năng tiếp cận nguồn lực đất đai và các nguồn vốn, hạn chế khả năng tiếp cận thông tin Những hạn chế này không thể thay đổi được nếu doanh nghiệp thiếu vốn Bởi vậy, doanh nghiệp nào cũng cần chủ động tạo ra nguồn vốn ngắn hạn đảm bảo hoạt động trơn tru, tạo ra nguồn vốn dài hạn để mở rộng sản xuất kinh doanh, tái cấu trúc hoạt động của mình Tuy

nhiên, trong thực tế việc huy động vốn của doanh nghiệp không dễ dàng Nhất là

đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc giải bài toán huy động vốn đang ngày càng trở nên cấp bách

Vì vậy nhóm đưa ra đề tài "Giải bài toán huy động vốn của doanh nghiệp nhỏ

và vừa ở Việt Nam " nhằm giải quyết những khó khăn đó

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

1 Khái niệm:

Theo Điều 3 của Nghị định 56/2009/NĐ-CP, định nghĩa Doanh nghiệp nhỏ

và vừa như sau: “ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”

Trang 2

Quy mô

Khu vực

Doanh nghiệp siêu nhỏ

Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa

Số lao động

Tổng nguồn vốn

Số lao động

Tổng nguồn vốn

Số lao động

I Nông, lâm

nghiệp và thủy

sản

10 người trở xuống

20 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

200 người

từ trên 20

tỷ đồng đến

100 tỷ đồng

từ trên 200 người đến

300 người

II Công nghiệp

và xây dựng

10 người trở xuống

20 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

200 người

từ trên 20

tỷ đồng đến

100 tỷ đồng

từ trên 200 người đến

300 người III Thương mại

và dịch vụ

10 người trở xuống

10 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

50 người

từ trên 10

tỷ đồng đến

50 tỷ đồng

từ trên 50 người đến

100 người

2 Đặc trưng và vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế Việt Nam

2.1 Đặc trưng:

*Tính chất hoạt động:

- Doanh nghiệp nhỏ và vừa là vệ tinh, chế biến bộ phận chi tiết cho các doanh nghiệp lớn

- Thực hiện các dịch vụ đa dạng và phong phú trong nền kinh tế: phân phối và thương mại hóa dịch vụ sinh hoạt và giải trí, dịch vụ tư vấn

Trang 3

- Trực tiếp tham gia chế biến các sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng chính nhờ tính chất hoạt động nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa có tính linh hoạt, dễ dàng thay đổi mặt hàng, chuyển hướng kinh doanh, địa điểm

* Nguồn lực vật chất:

Nhìn chung bị hạn chế bởi nguồn vốn, tài nguyên, đất đai và công nghệ Đó là

do nguồn gốc hình thành doanh nghiệp, và sự hạn hẹp trong các quan hệ với thị trường tài chính tiền tệ

*Năng lực quản lý điều hành:

Nhà quản trị thường nắm bắt, bao quát, quán xuyến hầu hết các mặt kinh doanh của doanh nghiệp Chính vì vậy mà kĩ năng, nghiệp vụ quản lý còn rất thấp so với yêu cầu

*Tính phụ thuộc hay bị động:

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa bị thụ động nhiều hơn so với loại hình doanh nghiệp khác trên thị trường Cơ hội " đánh thức", "dẫn dắt" thị trường của họ rất nhỏ Thời cơ "bị bỏ rơi", phó mặc lớn

2.2 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ

*Chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các doanh nghiệp:

Hiện nay có hơn 540000 doanh nghiệp nhỏ và vừa , chiếm 97% tổng số doanh nghiệp cả nước Đang hoạt động ngày càng có hiệu quả, đóng góp vào tổng sản phẩm quốc nội là 50%

* Là nơi tạo ra việc làm cho người dân:

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa được đánh giá là khu vực năng động trong nền kinh tế, thu hút khoảng trên 70% việc làm phi nông nghiệp năm 2010,góp phần quan trọng vào quá trình tăng cường bảo đảm an sinh xã hội

* Phát triển đội ngũ nhà kinh doanh năng động:

Do số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa rất lớn và thường xuyên phải thay đổi

để thích nghi với môi trường, phản ứng với những tác động bất lợi của thị trường, xuất hiện sự sáp nhập và giải thể diễn ra thường xuyên Đó là sức ép lớn buộc những nhà quản lý và sáng lập ra chúng phải chấp nhận sự mạo hiểm, có năng lực, có tính linh hoạt cao,

* Khai thác và phát huy tốt năng lực tại chỗ:

Trang 4

Do các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã có mặt ở hầu hết các vùng vùng, địa phương, chính điều này đã làm cho các doanh nghiệp nhở và vừa tận dụng và khai thác tốt nguồn lực tại chỗ

Qua phân tích trên ta thấy rõ được tầm quan trọng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Do đó cần phải khuyến khích và hỗ trợ loại hình doanh nghiệp này phát triển

3 Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam

Hiện nay,cả nước có trên 540000 doanh nghiệp nhỏ và vừa,chiếm trên 97%

số lượng doanh nghiệp cả nước với số vốn đăng ký trên 2315000 tỷ đồng.Các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp hơn 50% GDP cả nước.Các doanh nghiệp nhỏ

và vừa không chỉ đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế của đất nước mà còn tạo ra hơn 1triệu việc làm mỗi năm.Hiện các doanh nghiệp này sử dụng trên50% lao động xã hội.Tuy nhiên,bên cạnh đó các doanh nghiệp nhỏ và vừa nói chung tồn tại những mặt khó khăn sau :

Thứ nhất,về quy mô vốn :

Quy mô vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa còn nhỏ,gần 50% số doanh nghiệp có mức vốn dưới 1 tỷ đồng,quy mô vốn rất nhỏ bé nên khả năng cạnh tranh rất kém Bên cạnh đó các doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ yếu tập trung vào nghành thương mại,sửa chữa động cơ,xe máy (chiếm 40,6% doanh nghiệp cả nước ),tiếp đến là các nghành chế biến (20,9%),xây dựng (13,2%)và các ngành còn lại chiếm25,3%

Thứ hai,về trình độ quản lý và công nghệ:

*Về trình độ quản lý :

Theo số liệu thống kê năm 2010,có tới 55,63 % số chủ DNNVV có trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống,trong đó 43,3% chủ doanh nghiệp có trình độ từ sơ cấp và phổ thông Cụ thể : Số người là tiến sỹ chiếm 0,66%,thác sỹ là 2,33%,đã tốt nghiệp đại học là 37,82%,tốt nghiệp cao đẳng chiếm 3,56%,tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp chiếm 12,33% và có đến 43,3% có trình độ thấp hơn.Điều đáng chú ý là đa số các chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ cao đẳng – đại học trở lên thì cũng ít được đào tạo về kiến thức kinh tế và quản trị doanh nghiệp.Điều này có ảnh hưởng lớn đến việc lập chiến lược kinh doanh và quản lý của doanh nghiệp Việt Nam

*Về trình độ sử dụng công nghệ :

Trình độ trang thiết bị máy móc và công nghệ của doanh nghiệp nhỏ và vừa nói chung là kém và lạc hậu, chỉ có khoảng 8% số doanh nghiệp đạt trình độ công

Trang 5

nghệ tiên tiến mà phần lớn là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) Doanh nghiệp trong nước đang sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu và khả năng cạnh tranh về công nghệ của các doanh nghiệp phía Bắc là rất thấp Bên cạnh đó, chỉ tiêu về sử dụng công nghệ thông tin cũng cho thấy, tuy số doanh nghiệp có sử dụng máy vi tính lên đến hơn 60% nhưng chỉ có 11,55% doanh nghiệp có sử dụng mạng nội bộ (LAN), số doanh nghiệp có Website là rất thấp chỉ 2,16%

Đây là một kết quả rất đáng lo ngại vì khả năng tham gia thương mại điện tử và khai thác thông tin qua mạng của các doanh nghiệp phía Bắc còn rất thấp, chưa tương xứng với mong muốn phát triển thương mại điện tử của Chính phủ

Số liệu tổng hợp cũng cho thấy một sự khác biệt cơ bản giữa các doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp của các nước khác Trong khi các doanh nghiệp trên thế giới quan tâm hàng đầu về các thông tin công nghệ và tiến bộ kỹ thuật, thị trường cung cấp và tiêu thụ thì doanh nghiệp Việt Nam lại chủ yếu quan tâm đến các thông tin về cơ chế, chính sách liên quan đến doanh nghiệp, rất ít doanh nghiệp quan tâm đến các thông tin về kỹ thuật và công nghệ

Thứ ba,Nhu cầu lớn về vốn, thị trường và đào tạo

Qua cuộc điều tra, các doanh nghiệp tiếp tục đề cập tới nhiều khó khăn đã được nhắc đến nhiều lần Cụ thể 66.95% doanh nghiệp cho biết thường gặp khó khăn về tài chính; 50.62% doanh nghiệp thường gặp khó khăn về mở rộng thị trường; 41.74% doanh nghiệp gặp khó khăn về đất đai và mặt bằng sản xuất; 25.22% doanh nghiệp gặp khó khăn về giảm chi phí sản xuất; 24.23% khó khăn về thiếu các ưu đãi về thuế; 19.47% khó khăn về thiếu thông tin; 17.56% doanh nghiệp khó khăn về đào tạo nguồn nhân lực

Về khả năng tiếp cận các nguồn vốn của Nhà nước: chỉ có 32,38% số doanh nghiệp cho biết đã tiếp cận được các nguồn vốn của Nhà nước, chủ yếu là doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp cổ phần hoá; 35,24% số doanh nghiệp khó tiếp cận và 32,38% số doanh nghiệp không tiếp cận được Trong khi đó, việc tiếp cận nguồn vốn khác cũng gặp khó khăn Chỉ có 48,65% số doanh nghiệp khả năng tiếp cận, 30,43% số doanh nghiệp khó tiếp cận và 20,92% số doanh nghiệp không tiếp cận được Bên cạnh đó, việc tham gia các chương trình xúc tiến thương mại của Nhà nước cũng rất khó khăn Chỉ có 5,2% số doanh nghiệp đã được tham gia; 23,12% số doanh nghiệp khó được tham gia và 71,67% số doanh nghiệp không được tham gia

Trang 6

Thứ tư, các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất khó khăn khi tiếp cận với các

chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với các đơn vị kinh tế

Do uy tín trên thương trường cũng như thương hiệu của các doanh nghiệp này chưa lớn Mức độ rủi ro trong kinh doanh còn cao; trong khi đó, các nước vẫn còn

có thói quen phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp nhà nước và tư nhân, giữa doanh nghiệp lớn và nhỏ, chưa thực sự tạo ra môi trường bình đẳng, thuận lợi cho tất cả các doanh nghiệp Nói tóm lại, việc có được nguồn thông tin đầy đủ và được hưởng lợi từ các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của nhà nước đối với doanh ngiệp vừa

và nhỏ thường khó khăn hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp lớn

Thứ năm, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng rất khó khăn trong việc đầu

tư để thu hút được nguồn nhân lực tốt cho sản xuất - kinh doanh của mình.

Thiếu đi nguồn nhân lực có khả năng, có trình độ chuyên môn cao, doanh nghiệp sẽ rất khó phát triển; khó tiếp nhận các kỹ thuật, công nghệ hiện đại cũng như chậm trễ trong việc đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất kinh doanh; mất đi các

cơ hội kinh doanh trong nước và trong việc giao thương trên thị trường khu vực và thế giới Cơ hội cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực thu hút nguồn nhân lực giỏi, có trình độ cũng gặp rất nhiều khó khăn Mặc dù phải trả lương và có chính sách đãi ngộ cao hơn so với các công ty danh tiếng, nhưng cán

bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi vẫn không thích đến làm việc tại các doanh nghiệp vừa và nhỏáp ứng Đây là vấn đề mà các cơ quan chức năng cần tập trung hỗ trợ; đồng thời cũng là một thị trường đang cần rất nhiều dịch vụ đào đạo chất lượng cao, là cơ hội cho các đại học, các viện nghiên cứu

Ngoài ra ,doanh nghiệp nhỏ và vừa còn gặp phải những khó khăn như:

- Thuế cao: Hiện nay thuế TNDN là ở mức 25% nhưng trên thực tế doanh nghiệp phải chịu cao hơn do có nhiều khoản chi hợp lý nhưng không hợp lệ nên không được đưa vào khi tính toán khấu trừ thuế

- Chi phí thuê mặt bằng để sản xuất kinh doanh là cao :gấp 2-3 lần so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nhà nước.Cộng thêm

đó là chi phí đầu vào phục vụ sản xuất tăng quá cao,dẫn đến giá thành sản xuất tăng và sản xuất đình trệ

Trang 7

II.TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

Ở VIỆT NAM.

1 Huy động nguồn vốn chủ sở hữu :

Là loại vốn thường được tạo ra từ vốn riêng của các chủ doanh nghiệp, vốn đóng góp của các cổ đông,bạn bè,họ hàng

Nguồn vốn này chiếm khoảng 5 - 10% vốn luân chuyển của Doanh nghiệp vừa và nhỏ

Thực tế ta thấy hiện nay các Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường sử dụng phần lớn nguồn vốn này vào việc kinh doanh chiếm khoảng 47,2% trên tổng số vốn toàn Doanh nghiệp

Theo thống kê thì tỉ lệ vay vốn ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa từ vốn chủ sở hữu ở Hà nội là45.6% Hải Phòng là 46.7% Quảng Ninh là 49.3% chiếm tỉ lệ lớn trong vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Khi lựa chọn phương pháp huy động vốn từ chủ sở hữu, sẽ được một số lợi ích sau đây:

-Tiến hành kinh doanh mà không phải chịu gánh nặng nợ nần

Hầu hết các chủ doanh nghiệp mới thích việc họ có thể sử dụng tiền của mình,

và tiền của các chủ đầu tư, để hoạt động kinh doanh khi bắt đầu doanh nghiệp, thay vì phải vay một khoản tiền lớn từ ngân hàng, tổ chức tài chính hoặc cá nhân khác Doanh nghiệp có thể kinh doanh và không phải lo lắng về việc hoàn trả các khoản vay

-Việc sử dụng kế hoạch kinh doanh sẽ giúp chủ doanh nghiệp chia sẻ

lợi nhuận cũng như rủi ro trong kinh doanh

-Tùy thuộc vào chủ đầu tư là ai, họ có thể cung cấp cho doanh nghiệp những

hỗ trợ kinh doanh quan trọg khác mà bạn không có Điều này đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp vừa bắt đầu kinh doanh Bạn có thể cân nhắc nhiều chủ đầu

tư khác nhau, miễn sao lựa chọn chủ đầu tư theo cách thông minh nhất

Trước khi chọn phương pháp huy động vốn từ nhà đầu tư / cổ đông cho doanh nghiệp mới mở, bạn cần hiểu một số bất lợi của phương pháp này:

- Bạn phải chấp nhận sự thật là các chủ đầu tư sẽ là đồng chủ doanh nghiệp sở hữu một phần của doanh nghiệp, và phần sở hữu đó tỷ lệ thuận với khoản tiền đầu

tư họ bỏ vào doanh nghiệp Nếu bạn không mong muốn mất đi quyền kiểm soát doanh nghiệp, bạn cần hiểu rõ điều này trước kêu gọi vốn từ các nhà đầu tư Các chủ đầu tư đều mong muốn được chia lợi nhận kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 8

- Bạn phải hành động dựa trên lợi ích cao nhất của các chủ đầu tư khác cũng như của bạn Bởi vì các chủ đầu tư khác cũng sở hữu một phần doanh nghiệp, nếu bạn không đưa ra các quyết định có lợi cho tất cả các chủ đầu tư, bạn chắc chắn sẽ đứng trước nguy cơ ra tòa vì kiện cáo Thêm vào đó, nếu bạn phát hành cổ phiếu cho một số ít chủ đầu tư, bạn sẽ không phải liên quan đến nhiều thủ tục giấy tờ Nhưng nếu phát hành cổ phiếu rộng rãi, bạn sẽ phải tuân thủ rất nhiều thủ tục, giấy

tờ

2.Huy động vốn từ vốn vay ngân hàng

Hiện nay đây vẫn là kênh tín dụng được coi là rất khó tiếp cận đối với các

DN Ngân hàng đáp ứng được phần vốn còn rất nhỏ so với nhu cầu vay ngân hàng của DN Đặc biệt là đối với các DN nhỏ và vừa thì các số liệu điều tra cho thấy nhu cầu vay vốn ngân hàng của các DN loại này mới chỉ được đáp ứng khoảng 1/3;1/3 khó tiếp cận và còn lại là không tiếp cận được.Ngay cả khi có chính sách

ưu đãi của Chính phủ cũng chỉ có 10% DNNVV được vay

Nhiều chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa cho rằng ngay cả khi DN có tài sản đảm bảo thế chấp muốn vay vốn ngân hàng còn khó

Nhiều ngân hàng còn đặt ra nhiều loại phí khiến lãi suất thật mà các DNNVV phải trả lên tới 27%/năm

Thực tế này xuất phát từ những đặc thù từ phía ngân hàng cũng như từ thực trạng công tác quản trị, tài chính của các DN Một đặc thù của hệ thống ngân hàng nước ta là cho tới nay, hệ thống 4 NHTM quốc doanh vẫn chiếm tới khoảng 70-80% tổng tài sản của toàn hệ thống ngân hàng và hiện nay các NHTM này vẫn đang trong quá trình đổi mới chính sách cho vay trong bối cảnh nợ khó đòi còn ở mức cao và chịu áp lực của việc xóa bỏ các chính sách cho vay ưu đãi Bới vậy, hệ thống ngân hàng, đặc biệt là các NHTM gốc gác là ngân hàng quốc doanh đang đứng trước áp lực phải tiếp cận được các số liệu quản lý tài chính có giá trị của các

DN, nếu không thì việc cho DN vay vốn không thể giải quyết được, cũng có nghĩa

là các DN sẽ bị hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng từ nguồn ngân hàng Tuy nhiên, các DN, đặc biệt là các DN nhỏ và vừa lại không đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng về giá trị tài sản thế chấp cho khoản vay (còn thấp), tính minh bạch của các

số liệu tài chính – kế toán hoặc nếu đáp ứng được thì không đủ tiêu chuẩn xét cho vay do tính hiệu quả của dự án xin vay thấp hoặc thực tế thì có hiệu quả nhưng do

DN thường hạ lợi nhuận để trốn thuế thu nhập DN nên hồ sơ tài chính xin vay không đủ tiêu chuẩn Còn không ít DN lập phương án sản xuất kinh doanh làm hồ

sơ vay vốn còn mang tính đối phó, kế hoạch trả nợ chưa rõ ràng, nên không đủ tiêu

Trang 9

chuẩn cho vay theo yêu cầu của ngân hàng Một vấn đề khác là nhiều khi năng lực phân tích hiệu quả dự án cho vay của cán bộ ngân hàng trong nhiều trường hợp còn chưa theo kịp thực tế DN nên sự đánh giá chưa xác thực khiến DN khó tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng Các cuộc điều tra cũng chỉ ra rằng 50% DN nhỏ và vừa ít hoặc không tin tưởng vào cán bộ tín dụng, nhiều DN cho rằng cán bộ tín dụng chưa quan tâm đúng mức đến DN Do đó, để cải thiện tình hình, chỉ tiêu “quan hệ nghiệp vụ” giữa cán bộ tín dụng và DN cần được cải thiện vượt bậc Về phía DN cần chủ động hơn trong việc đáp ứng yêu cầu của ngân hàng về tính minh bạch trong quản trị tài chính, tính hiệu quả trong phương án sản xuất kinh doanh và sự

rõ ràng trong kế hoạch trả nợ

Về phía ngân hàng cũng nên làm rõ việc cho vay không chỉ dựa trên tài sản thế chấp mà cần mở rộng hạn mức cho vay tín chấp khi DN có kết quả kinh doanh tốt,

có uy tín trong thanh toán vốn vay, có phương án sản xuất kinh doanh và phương

án trả nợ đáp ứng tiêu chuẩn cho vay của ngân hàng

3.Vay ngắn hạn

Đi thuê tài chính

Đi thuê tài chính là hoạt động đi vay thông qua việc thuê mướn máy móc, thiết bị, phương tiện và các tài sản khác nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh

Ở Việt Nam,dịch vụ cho thuê tài chính ra đời khoảng 10 năm nay.Đến nay cả nước

đã có hơn 15 công ty cho thuê tài chinhd hoạt động trong đó có 5 công ty có vốn nước ngoài.Các công ty này thưch hiện cho thuê dưới hình thức không cần thế chấp ngân hàng.Thế nhưng ,thời gian qua nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa hầu như chưa tiếp cận được dịch vụ này

Khi thuê mướn tài sản, doanh nghiệp tránh được rủi ro do tài sản mất giá Ngoài ra, khi có nhu cầu thay đổi hoặc nâng cấp tài sản, doanh nghiệp có thể tùy cơ ứng biến bằng cách thuê bổ sung hoặc ngừng thuê Doanh nghiệp chỉ trả chi phí cho thời gian sử dụng thiết bị thay vì phải chi trả toàn bộ giá trị thiết bị Vì thế, việc đi thuê tài chính cho phép doanh nghiệp linh hoạt về vốn, thanh toán, tận dụng được cơ hội kinh doanh và không làm ảnh hưởng tới hạn mức tín dụng của doanh nghiệp khi đi vay ngân hàng Doanh nghiệp cũng hưởng được một khoản lợi về thuế so với việc sở hữu tài sản…

Tuy nhiên, ở Việt Nam hình thức này lại chưa phổ biến Nguyên nhân là giá cho thuê tài chính (phí khấu hao tài sản, phí bảo hiểm ) còn cao Ngoài ra, hành lang pháp lý về cho thuê tài chính vẫn chưa hoàn thiện

Trang 10

Thị trường chứng khoán được xem là kênh huy động vốn quan trọng của các

doanh nghiệp,Chỉ trong 5 tháng đầu năm 2010,đã có 38,5% doanh nghiệp niêm yết công bố kế hoạch phát hành cổ phiếu,dự kiến sẽ huy động được 32000 tỷ đồng Tuy nhiên, Doanh nghiệp nhỏ và vừa hầu như không đủ điều kiện niêm yết trên thị trường tập trung hiện nay nên họ không có khả năng tiếp cận thị trường này Theo kết quả thăm dò về ""Khả năng tham gia TTCK của doanh nghiệp nhỏ và vừa"" của UBCKNN mới đây cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều muốn huy động vốn qua TTCK, vì vậy rất cần xây dựng một TTCK cho các doanhnghiệp vừa và nhỏ ( một thị trường cho các doanh nghiệp từ 5- 10 tỷ )

5.Mua chịu hàng hóa

Đây là hình thức chiếm dụng vốn giữa các doanh nghiệp với nhau thông qua việc mua chịu hàng hóa và trả chậm,Việc chiếm dụng này có thể phải trả phí (lãi ,chiết khấu ) hoặc tùy vào mối quan hệ giữa các bên

Doanh nghiệp không thể chiếm dụng một khoản quá lâu vì nó sẽ ảnh hưởng đến

uy tín doanh nghiệp hoặc bị kiện tụng.Vốn chiếm dụng chỉ mang tính tạm thời giũa các doanh nghiệp quen biết và quy mô tín dụng này cũng giới hạn trong khả năng vốn hàng hóa mà đối tác có

III.GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN CÓ HIỆU QUẢ CỦA DN NHỎ VÀ VỪA

Ở VIỆT NAM.

1.Giải pháp 1 : Tăng cường vốn chủ sở hữu

Đây là một biện pháp đơn giản nhất, ít tốn kém nhất đối với Doanh nghiệp Vấn đề đặt ra là: đối với các Doanh nghiệp nhỏ và vừa giải pháp này khi th ực hiện gặp phải khó khăn ở chỗ người chủ hoặc các hội viên chỉ có

phương tiện tài chính hạn chế và như vậy họ không thể bỏ ra nhiều hơn số vốn mà

họ đã đóng góp vào Doanh nghiệp được Để giải quyết khó khăn này ta có thể thành lập một tổ chức với chức năng tăng cường vốn chủ sở hữu cho các Doanh nghiệp nhỏ và vừa bằng cách tham gia góp vốn với thời gian hạn chế trong Doanh nghiệp Việc tham gia của các tổ chức này sẽ cho phép Doanh nghiệp có được một số vốn nhiều hơn để có thể tham gia vượt qua một giai đoạn mới trong qúa trình phát triển và ngay khi bắt đầu hoạt động, tổ chức này sẽ nhượng lại phần góp vốn của mình cho các h ội viên khác khi mức độ lợi nhuận Doanh nghiệp đạt được cho phép Doanh nghiệp có đủ phương tiện mua lại

Ngoài ra Doanh nghi ệp có thể huy động bằng cách: phát hành cổ phiếu, trái

Ngày đăng: 26/11/2015, 19:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w