1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình biến động tỷ giá ở Việt Nam trong giai đoạn từ đầu năm 2009 đến hết Quý 3/2011

18 480 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi vì thương mại quốc tế trong điều kiện tỷ lệ nhập siêu của nước ta khá cao, các khoản nợ nước ngoài đến hạn phải trả,phải làm ra một lượng hàng hóa nhiều hơn bằng VND mới có thể trả đ

Trang 1

Lời Mở Đầu

Trong thời gian gần đây chúng ta biết rằng việc định giá thấp của đồng Nhân Dân

Tệ (CNY) của chính phủ Trung Quốc đang bị các quốc gia khác trên thế giới phản đối khá mạnh mẽ.Vậy tại sao chính phủ Trung Quốc lại thực hiện chính sách định giá yếu đồng Nhân Dân Tệ như vậy? Hay tại sao trong thời gian gần đây tỷ giá của VND thường xuyên được ngân hàng nhà nước quan tâm theo dõi trên thị trường và tiến hành điều chỉnh khi cần thiết? Chính những câu hỏi như trên đã phần nào cho ta thấy được tầm quan trọng của chính sách tỷ giá của mỗi quốc gia.Đúng như vậy tỷ giá vừa là một phạm trù kinh tế vừa là một công cụ chính sách kinh tế của chính phủ Do vậy chế độ tỷ giá chứa nhiều yếu tố quan trọng ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế của mỗi quốc gia Chính

vì thế mà mỗi quốc gia phải chọn cho mình một chế độ tỷ giá phù hợp là điều vô cùng quan trọng để phát triền thương mại quốc tế nói riêng và mang lại lợi ích tích cực cho nền kinh tế nói chung

Trong thời gian gần đây đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính thế giới vào cuối năm 2008, tỷ giá hối đoái giữa VND với USD đã biến động theo chiều hướng không

ổn định, không đi theo xu hướng của kinh tế thế giới, giá trị VND sụt giảm Trong khi đồng USD mất giá so với các đồng tiền khác như đồng euro, yên(Nhật)…, còn VND lại giảm giá so với USD, nên tỷ giá VND với các ngoại tệ khác càng bất lợi hơn đối với nước ta Bởi vì thương mại quốc tế trong điều kiện tỷ lệ nhập siêu của nước ta khá cao, các khoản nợ nước ngoài đến hạn phải trả,phải làm ra một lượng hàng hóa nhiều hơn bằng VND mới có thể trả được 1 đơn vị ngoại tệ; những doanh nghiệp vay thương mại với lãi suất cao, thời hạn ngắn để đầu tư dài hạn càng gặp nhiều khó khăn Thực trang trên phải chăng nói đến việc từ trước đến nay nước ta định giá cao VND, hay nền kinh tế đang thiếu USD và đây là nhu cầu thật sự về USD, hoặc một giả thiết khác ở đây là nước

ta đang có tình trạng “đô la hóa”… Những giả thiết đã nêu ra ở trên có thể chính xác hay không chính xác nhưng chắc chắn một điều rằng là nó sẽ đặt ra trong chúng ta một câu hỏi “Tại sao lại có tình trạng như vậy ở nước ta, nguyên nhân của vấn đề kinh tế này là

gì, nó tác động đến nền kinh tế của nước ta như thế nào và các nhà hoạch định chính sách

đã và đang đối phó với thực trạng này ra sao?” Liệu sắp tới giá trị của đồng Viêt Nam sẽ tiếp tục mất giá hay được cải thiện bởi một công cụ của chính phủ? Để biết rõ vấn đề này

và có thể đưa ra dự đoán một cách chính xác nhất về tình hình biến động tỷ giá của nước

ta sắp tới cụ thể là năm 2012 nhóm chúng em xin chọn đề tài về tỷ giá để nghiên cứu với tên đề tài là “CON SÓNG TỶ GIÁ TỪ NĂM 2009 ĐẾN THÁNG 10 NĂM 2011” Sỡ dĩ chúng em chọn khoảng thời gian nghiên cứu ngắn vì theo chúng em đây là một đề tài thiên về nghiên cứu, phân tích và dự đoán Để phần nào đó nói lên quan điểm của chúng

em về phạm trù này

Trang 2

Mục Lục

Lời Mở Đầu 1

1 Cơ sở Lý Luận về tỷ giá hối đoái 3

1.1 Khái niệm: 3

1.2 Phân loại tỷ giá hối đoái : 3

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá : 4

1.3.1 Các nhân tố thuộc về dài hạn : 4

1.3.2 Các nhân tố thuộc về ngắn hạn: 5

1.4 Vai trò của tỷ giá hối đoái với nền kinh tế : 5

2 Tình hình biến động tỷ giá ở Việt Nam trong giai đoạn từ đầu năm 2009 đến hết Quý 3/2011 6

2.1 Biến Động Tỷ Giá năm 2009: 6

2.2 Biến Động Tỷ Giá Năm 2010: 8

2.3 Biến động tỷ giá tới tháng 10 năm 2011: 11

2.3.1 Diễn biến biến tỷ giá quý I năm 2011 : 11

2.3.2 Diễn biến biến tỷ giá quý II năm 2011 : 13

2.3.3 Diễn biến biến tỷ giá quý III và tháng 10 năm 2011 : 14

2.3.4 Dự báo biến động tỷ giá những tháng cuối năm 2011 và trong năm 2012: 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 3

Nội Dung Chính

1 Cơ sở Lý Luận về tỷ giá hối đoái

1.1 Khái niệm:

Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ của một quốc gia tính bằng tiền tệ của một nước khác, hay là quan hệ so sánh về mặt giá cả giữa hai đồng tiền của các quốc gia khác nhau Nó là một phạm trù kinh tế bắt nguồn từ nhu cầu trao đổi hàng hoá, dịch

vụ phát sinh trực tiếp từ quan hệ tiền tệ giữa các quốc gia Về cơ bản, phân tích vấn đề tỷ giá cần tập trung chú trọng vào hai vấn đề cơ bản sau: các nhân tố tác động đến sự biến động của tỷ giá hối đoái và các chế độ tỷ giá hối đoái

Một số đơn vị tiền tệ quốc gia của những nền kinh tế phát triển của thế giới hoặc của khu vực được sử dụng nhiều và do đó chiếm tỷ trọng lớn trong quan hệ thương mại

và tài chính quốc tế như Dollar Mỹ, Euro, Yên Nhật, Bảng Anh Đây là những đồng tiền

mà ta cần quan tâm đến tỉ giá của nó, và chúng được sử dụng nhiều trong thanh toán quốc tế

1.2 Phân loại tỷ giá hối đoái :

Có rất nhiều tiêu thức để phân loại tỷ giá hối đoái, tuy nhiên để phục vụ cụ thể và thiết thực cho việc phân tích tác động của tỷ giá hối đoái đối với nền kinh tế của nước ta nên chúng em chỉ đề cập tới hai loại tỷ giá mà các nhà kinh tế thường đề cập đến

Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (en): đây là tỷ giá hối đoái được biết đến nhiều nhất do ngân hàng nhà nước công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng hàng ngày

Hiện nay trên thế giới có hai phương pháp niêm yết tỷ giá là phương pháp trực tiếp

và phương pháp gián tiếp:

Trang 4

 Phương pháp gián tiếp : ký hiệu e , là phương pháp biểu hiện một đơn vị nội tệ bằng các đơn vị ngoại tệ

Ví dụ: Tại thị trường hối đoái London yết giá 1bảng Anh=1,6191 đôla Mỹ

Theo thông lệ quốc tế thì chỉ có năm đồng tiền được yết giá gián tiếp qua USD, đó

là các đồng tiền sau: AUD, NZD, EUR, GBP, SDR

 Phương pháp trực tiếp : ký hiệu E , là phương pháp tỷ giá hối đoái của đồng ngoại tệ Nó chính là giá của một đơn vị ngoại tệ tính theo số đơn vị nội tệ

Ví dụ : giá của đôla Mỹ(USD) tính theo đồng Việt Nam(VND) là 20.875 VND/ USD.Điều này nói lên rằng 1USD có giá trị bằng 20.875 VND

Tỷ giá hối đoái thực (er): được xác định er = en*Pn/Pf

o er: Tỷ giá hối đoái thực tế

o en: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa

o Pn: Chỉ số giá trong nước

o Pf: Chỉ số giá nước ngoài

Tỷ giá hối đoái thực tế loại trừ sự ảnh hưởng của chênh lệch lạm phát giữa các nước và phản ánh đúng SWSC mua và sức cạnh tranh của một nước Nếu xét cho một hàng hoá cụ thể thì Pn chính là giá hàng nội tính bằng nội tệ (giá nội địa) còn Pf chính là giá mặt hàng cùng loại ở nước ngoài tính theo giá ngoại tệ

Ví dụ : giả sử có một chiếc áo sơ mi ở Việt Nam với giá Pn =70000VND/chiếc cũng chiếc áo đó sản suất tại Mỹ Pf=20USD ,giả sử en =1/14000 Khi đó tỷ giá hối đoái thực tế bằng er = en*Pn/Pf=1/14000*(70000/20)=1/4

Điều này nói lên rằng một chiếc áo sơ mi Việt Nam có thể bằng 1/4 chiếc áo sơ mi bên Mỹ Do chất lượng mẫu mã như nhau nên hàng Việt Nam rẻ hơn 1/4 hàng Mỹ Do

đó hàng Việt Nam có sức cạnh tranh hơn hàng Mỹ , hàng Việt Nam có thể xuất khẩu sang

Mỹ

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá :

1.3.1 Các nhân tố thuộc về dài hạn :

Mức giá cả tương đối : Về lâu dài một sự tăng lên mức giá của một nước (tương đối so với mức giá nước khác) làm cho đồng tiền nước đó giảm giá và một sự giảm giá xuống của mức giá tương đối làm cho đồng tiền nước đó tăng giá

Thuế và Cô-ta: Đây là hàng rào đối với hàng nhập khẩu và bảo hộ hàng sản xuất trong nước Điều này làm tăng cầu hàng nội và dẫn đến việc tăng giá của đồng nội tệ Thuế quan và cô-ta về lâu dài làm cho đồng tiền của một nước lên giá Tuy vậy một quốc gia thực hiện chính sách “bế quan toả cảng” thì vấn đề tỷ giá đối với họ không có nhiều ý nghĩa lắm

Trang 5

Ưa thích hàng nội so với hàng ngoại: Một sự ưa thích hàng ngoại làm tăng cầu về ngoại tệ khiến cho cung nội tệ tăng dịch chuyển và giá đồng nội tệ giảm xuống Về lâu dài cầu về hàng xuất khẩu của một nước làm cho đồng tiền của nước đó tăng giá trong khi cầu về hàng nhập tăng lên làm cho đồng tiền nước đó tăng giá

Năng suất lao động : Năng suất lao động cao làm giá hàng của một nước rẻ tương đối so với các nước khác Cầu hàng xuất nước đó cao lên kéo theo sự tăng giá của đồng tiền nước đó Về lâu dài , do năng suất lao động của một nước cao hơn tương đối so với nước khác, nên đồng tiền của nước đó tăng giá

Yếu tố tâm lý cũng ảnh hưởng đến tỷ giá: Phần lớn các nước đang phát triển đều phải đối mặt với tình trạng “Đôla hoá” trong nền kinh tế Đó là sự mất niềm tin vào đồng bản tệ, người dân và các tổ chức kinh tế nắm giữ đôla và chỉ tín nhiệm đồng tiền này trong thanh toán trao đổi Do vậy cầu USD rất lớn và giá các đồng bản tệ xuống thấp các nước luôn trong tình trạng căng thẳng về dự trữ ngoại hối đảm bảo khả năng thanh toán nợ đến hạn

Tỷ lệ lạm phát: Nếu tỷ lệ lạm phát nước A cao hơn tỷ lệ lạm phát nước B,nước A cần nhiều tiền hơn để đổi lấy một lượng tiền nhất định của nước B.Giá đồng tiền nước A giảm xuống

Cán cân thương mại: Nó liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu Xuất khẩu lớn

tỷ giá lên giá

1.3.2 Các nhân tố thuộc về ngắn hạn:

Lãi suất : Lãi suất là một biến số kinh tế tổng hợp tác động đến nhiều chỉ tiêu khác nhau trong đó tỷ giá và lãi suất có mối quan hệ hết sức chặt chẽ với nhau Trong một nước nếu lãi suất nội tệ tăng trong khi lãi suất thế giới ổn định sẽ làm cho các luồng vốn quốc tế đổ vào nhiều vì mức lãi suất quá hấp dẫn Do vậy cầu tiền nước này tăng lên và

tỷ giá giảm

Cán cân thanh toán: Cán cân thanh toán quốc tế phản ánh mức cung - cầu về ngoại

tệ trên thị trường, do đó nó có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ giá hối đoái Bội thu cán cân thanh toán sẽ làm cho tỷ giá giảm và bội chi cán cân thanh toán sẽ làm cho tỷ giá tăng

1.4 Vai trò của tỷ giá hối đoái với nền kinh tế :

Tỷ giá có vai trò quan trọng trong việc xóa bỏ biên giới quốc gia về tiền tệ, góp phần thúc đẩy giao lưu kinh tế giữa các nước

Tỷ giá có vai trò trong điều chỉnh các hoạt động kinh tế vĩ mô của nhà nước, tăng cường sức cạnh tranh cho hàng hóa và trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tham gia vào các thị trường vốn, tiền tệ quốc tế của quốc gia Tỷ giá hối đoái phản ánh quan hệ cung cầu ngoại tệ của một quốc gia

Tỷ giá đóng vai trò chính trong thương mại quốc tế,nó cho phép chúng ta so sánh giá cả của các hàng hóa và dịch vụ sản xuất trên các nước khác nhau Giá hàng xuất khẩu

Trang 6

của một nước sẽ được tính theo giá của nước nhập khẩu nếu biết tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền của hai nước “Khi đồng tiền của một nước mất giá, người nước ngoài nhận ra rằng, giá hàng xuất khẩu của nước này rẻ đi, và người dân trong nước nhận thấy hàng nhập từ nước ngoài đắt lên Sự lên giá có hiệu quả ngược lại: người nước ngoài sẽ phải trả nhiều hơn cho sản phẩm của nước này, và người dân trong nước phải trả ít hơn cho hàng hóa của nước ngoài” Chính vì điều này mà tỷ giá hối đoái được sử dụng để điều tiết chính sách khuyến khích xuất khẩu hay nhập khẩu hàng hóa của một nước.Tỷ giá hối đoái là giá của đồng tiền nước này được biểu hiện qua đồng tiền của nước khác Đồng tiền ổn định và tỷ giá hối đoái có vai trò quan trọng trong chính sách tiền tệ, nó là mục tiêu của chính sách tiền tệ mà mọi quốc gia đều hướng tới Đồng tiền ổn định và tỷ giá hối đoái hợp lý sẽ tạo điều kiện cho việc duy trì, mở rộng và phát triển các mối quan hệ kinh tế trong nước và quốc tế, giúp cho nền kinh tế trong nước có điều kiện hội nhập khu vực và thế giới ngày càng mạnh mẽ hơn.Tỷ giá hối đoái chịu tác động của nhiều nhân tố, trong đó hai nhân tố quan trọng nhất là sức mua của đồng tiền và tương quan cung cầu ngoại tệ Khi lạm phát tăng, sức mua đồng nội tệ giảm so với ngoại tệ, làm cho tỷ giá hối đoái của đồng ngoại tệ so với nội tệ tăng (hay tỷ giá đồng nội tệ so với ngoại tệ giảm) và ngược lại Nếu đồng nội tệ giảm, tỷ giá hối đoái cao có tác dụng kích thích các hoạt động xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, góp phần tăng thu ngoại tệ, cải thiện cán cân thanh toán Với tỷ giá hối đoái cao sẽ khuyến khích nhập khẩu vốn, kiều hối, hạn chế các hoạt động chuyển ngoại tệ ra nước ngoài, kết quả là làm cho sức mua của đồng nội tệ tăng lên

2 Tình hình biến động tỷ giá ở Việt Nam trong giai đoạn từ đầu năm 2009 đến hết

Quý 3/2011 2.1 Biến Động Tỷ Giá năm 2009:

Sau khi vừa trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2008 thì những tác động của nó lên nền kinh tế Việt Nam vẫn chưa chấm dứt cùng với dư âm của nó lên thị trường ngoại hối của nước ta Tiến sĩ Vũ Đình Ánh trong một bài phân tích về tình hình kinh tế trong năm 2009 đã cho rằng, chính sách tỷ giá cũng cần có những điều chỉnh thích hợp trong năm 2009-2010 Dường như chính sách cơ bản giữ ổn định tỷ giá hối đoái dựa trên "neo" vào USD đã không còn phù hợp "Chúng ta cần xác định tỷ giá hối đoái dựa trên một rổ tiền tệ với đại diện là những đồng tiền của các thị trường xuất nhập khẩu và của các nhà đầu tư quan trọng nhất Mặt khác, kích cầu đầu tư và tiêu dùng trong nước chỉ có hiệu quả thật sự khi giá trị của VND được nâng cao"

Tuy nhiên việc điều hành tỷ giá,mà chính thực hiện thì chưa bao giờ dễ dàng,cụ thể là tỷ giá của đồng VND với đồng USD cũng có những biến chuyển mạnh mẽ.Vào năm 2009 thì tỷ giá biến động mạnh, mức chênh lệch giữa thị trường chính thức và phi chính thức luôn ở mức cao Tỷ giá chính thức cuối năm đã tăng gần 2,000 VND/USD, tức tăng hơn 12% so với mức đầu năm.Tỷ giá USD/VNĐ lại tiếp tục tăng đà tăng trong 4

Trang 7

tháng đầu năm, đặc biệt sau khi NHNN thực hiện nới rộng biên độ tỷ giá lên +/-5% khiến cho tỷ giá ngoại tệ liên NH đã có đợt tăng đột biến và giao dịch trên TTTD tiến sát mức

18000 đồng/USD Trong bối cảnh nguồn ngoại tệ ròng vào VN là (+) trong 4 tháng đầu năm thì dường như yếu tố chính khiến cho tỷ giá USD/VNĐ tăng mạnh lại là do sự nắm giữ ngoại tệ

Để cụ thể hơn về những thay đổi đó,hãy nhìn lại những diễn biến chính về tỷ giá trong năm 2009 :

Giai đoạn 1 (từ 01/01 – 24/11/2009): tỷ giá liên tục tăng.Tỷ giá biến động mạnh trên cả thị trường liên ngân hàng và thị trường tự do Cụ thể:

+ Từ tháng 1 đến tháng 3: tỷ giá LNH dao động trong khoảng 17.450 -17.700 đồng/USD, cách giá trần khoảng từ 0 – 200đồng, còn TTTD cao hơn tỷ giá LNH khoảng

100 đồng

+ Từ tháng 4 đến tháng 9 : tỷ giá trên 2 thị trường dao động trong khoảng 18.180 -18.500 đồng/USD

+ Từ tháng 10 đến 25/11/2009: Biến động tỷ giá rất dữ dội từ 18.545 – 19.300đồng/USD, có lúc đạt đỉnh 20.000 đồng/USD

Vậy nguyên nhân của hững biến động đó là ở đâu? Đó là bởi những nguyên nhân chủ yếu sau:

+ Hiện tượng nắm giữ ngoại tệ chờ giá lên của người dân

+ Có hiện tượng DN vay USD tuy chưa đến kỳ trả nợ nhưng đã mua sẵn USD để giữ vì sợ tỷ giá sẽ tăng Chính lượng đặt mua nhiều của DN khiến cầu ngoại tệ tăng Ngoài ra, do tâm lý bất ổn của cả DN và người dân khi tỷ giá tăng nhanh dẫn tới hiện tượng nắm giữ ngoại tệ

+ Do tác động của chính sách hỗ trợ lãi suất cho các DN bằng tiền đồng,do lãi suất vay tiền đồng thấp, phạm vi và thời gian vay được mở rộng theo chủ trương của chính phủ nên một số DN có ngoại tệ có xu hướng không muốn bán ngoại tệ và chỉ muốn vay tiền đồng Đây là 1 tác động thiếu tích cực không mong muốn khi triển khai gói kích cầu

+ Ngoài ra, còn 1 số nguyên nhân khác như:thâm hụt cán cân thương mại lớn các tháng cuối năm 2008, yếu tố tin đồn ,…

Trang 8

Biểu đồ: Diễn biến tỷ giá của Vietcombank trong tháng 11/20008

Giai đoạn 2 (từ 25/11 đến hết năm 2009): Tỷ giá bắt đầu giảm về quanh mức 18.500 đồng /USD Nguyên nhân là do NHNN thực hiện các biện pháp bình ổn tỷ giá, đặc biệt có sự chung góp sức của các NHTM đã làm giảm tỷ giá sau 1 giai đoạn đầy biến động

2.2 Biến Động Tỷ Giá Năm 2010:

Năm 2010, tỷ giá VND/USD chính thức đã được điều chỉnh 2 lần Lần đầu vào ngày 11/02/2010, tỷ giá bình quân liên ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng thêm 3,3% (lên 18544 đồng/USD), lần thứ 2 tăng thêm 2,1% (lên 18.932 đồng/USD) vào ngày 18/8/2010, cả 2 lần điều chỉnh đều giữ nguyên biên độ dao động +/-3% Như vậy, tỷ giá VND/USD bình quân liên ngân hàng trong năm 2010 đã được điều chỉnh tăng tổng cộng 5,4%, lên 18.932 đồng/USD với mức trần là 19.500 đồng/USD

Trang 9

BĐ: tỷ giá USD/VND từ tháng 1- tháng 12/2010

Dựa vào những diễn biến tiêu biểu, có thể chia diễn biến tỷ giá USD/VNĐ năm

2010 thành 3 giai đoạn như sau :

Giai đoạn 1: Sau lần điều chỉnh ngày 11/02, giá USD trên thị trường tự do giữ đã

có 1 thời gian dài ổn định ở mức 19.010-19.040 đồng/USD trong khi tỷ giá liên ngân hàng ở mức 18.544 đồng/USD Hầu hết thời gian 7 tháng đầu năm chứng khiến việc tỷ giá tự do xuống sát, thậm chí có lúc còn thấp hơn tỷ giá giao dịch của các ngân hàng thương mại Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng khá hiếm hoi này này bắt nguồn từ tăng trưởng tín dụng ngoại tệ đầu năm rất cao, 7 tháng tăng hơn 30% Điều này dẫn đến

sự ổn định tạm thời của tỷ giá với lượng “cung ảo” khá dồi dào Tuy nhiên, khi các khoản vay này đến hạn, tình trạng đảo ngược chiều cuối năm đã xảy ra

Giai đoạn 2: Sau một thời gian ổn định trong suốt 7 tháng đầu năm, tỷ giá có dấu hiệu tăng trở lại Đầu tháng 8, tỷ giá trên thị trường tự do nhích dần lên mức 19.200-19.300 VND/USD trong khi tỷ giá niêm yết của các ngân hàng thương mại hầu như luôn

ở mức kịch trần 19.100 VND/USD Sau lần tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng lần thứ

2 vào ngày 18/08, tỷ giá trên thị trường tự do tăng lên mức 19.400-19.500 VND/USD; tỷ giá giao dịch của các ngân hàng thương mại cũng tiếp tục tăng lên sát mức kịch trần khoảng 19.450-19.500 VND/USD Mốc này được giữ tương đối ổn định đến cuối quý III

Giai đoạn 3: Đến cuối quý III, đầu quý IV tỷ giá USD tự do có xu hướng phá trần 19.500VND/USD, tăng mạnh và liên tục lên mức 20.000VND/USD vào cuối tháng 10 Tuy nhiên, quá trình đi lên của tỷ giá USD tự do vẫn chưa dừng lại ở đây, tháng 11 đánh dấu sự tăng đột biến của tỷ giá, tăng vọt từ mức 20.000 VND/USD lên tới trên 21.000 VND/USD Sang tháng 12 mặc dù tỷ giá có dấu hiệu hạ nhiệt nhưng vấn duy trì ở mức

BĐ: tỷ giá USD so với các đồng tiền Châu Á khác

Trang 10

trên 21.000 VND/USD đến cuối năm 2010.Việc lạm phát cao, thâm hụt thương mại lớn,

và dự trữ ngoại hối suy giảm khiến tiền đồng thường xuyên phải chịu sức ép giảm giá Chênh lệch giữa tỷ giá hối đoái chính thức và phi chính thức là một chỉ số thể hiện cho năng lực điều hành vĩ mô của các cơ quan điều hành trong Chính phủ Khi điều kiện vĩ

mô ổn định, niềm tin vào giá trị tiền đồng được duy trì, tỷ giá phi chính thức sẽ hội tụ với

tỷ giá chính thức Việc điều chỉnh lãi suất cơ bản, qua đó phát tín hiệu về xu hướng thắt chặt tiền tệ, đồng thời giúp nới rộng chênh lệch lãi suất giữa tiền đồng và đô la Mỹ là một bước đi đúng hướng Tuy nhiên, dường như đó là tất cả những gì Ngân hàng Nhà nước có thể làm ở thời điểm này Cũng như không thể vỗ tay ra tiếng nếu chỉ dùng một bàn tay, chính sách tiền tệ dù có giỏi xoay xở đến đâu nhưng không đi đôi với chính sách tài khóa tương thích cũng sẽ chỉ như vỗ một bàn tay vào hư không mà thôi Và để lý giải cho sự tăng lên đột biến của tỷ giá trong giai đoạn 2 và 3,chúng em liệt kê ra 3 nguyên nhân chính:

• Thứ nhất, như đã nêu ra ở giai đoạn 1, tỷ giá tạm thời bình ổn trong khoảng 7 tháng đầu năm nhờ lượng “cung ảo” tăng lên khi tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ ở mức rất cao (trên 30%) Tuy nhiên, đến đầu quý III, khi các khoản vay đến hạn, tình trạng đảo ngược diễn ra gây sức ép lên tỷ giá Về phía cầu, nhu cầu USD tăng mạnh khi các doanh nghiệp đến hạn phải trả nợ các khoản vay trước đó, thêm vào đó là nhu cầu vay ngoại tệ để nhập hàng cho các tháng cuối năm Về phía cung, nhập siêu tiếp tục gia tăng, năm 2010, tổng nhập siêu lên tới 12.4 tỷ đô la Mỹ (xuất khẩu đạt 71,6 tỷ USD trong khi nhập khẩu đạt 84 tỷ USD) Nhập siêu cao đã hút đi một lượng lớn ngoại tệ trong nền kinh

tế, gây ra áp lực về phía cung

• Thứ hai, là sự tăng giá mạnh mẽ của giá vàng thế giới trong giai đoạn này Đầu tháng 11 chứng kiến sự gia tăng đột biến của giá vàng thế giới từ mức 1.353 USD/ounce lên mức kỷ lục 1.408 USD/ounce vào ngày 11/11/2010, từ đó góp phần đẩy giá vàng trong nước tăng mạnh Giá vàng trong nước trong tháng 11 đã tăng từ mức 33.5 triệu đồng 1 lượng hồi đầu tháng lên mức bình quân 35-36 triệu đồng/lượng, đặc biệt giá vàng

đã có lúc chạm mức đỉnh cao 37-38 triệu đồng/lượng vào ngày 9/11 Ở Việt Nam giá vàng và giá đô la Mỹ có quan hệ tăng giảm cùng chiều, khi tỷ giá đô la tăng sẽ đẩy giá vàng nhập khẩu tăng Trong khi đó, giá vàng tăng tạo ra mức chênh lệch cao giữa giá vàng trong nước và thế giới, điều này làm gia tăng hoạt động thu gom đô la để nhập lậu vàng Do vậy, có thể thấy sự tăng mạnh của tỷ giá trong tháng 11 có sự góp mặt của cú sốc giá vàng thế giới rồi từ đó tạo lập 1 vòng xoáy giá vàng – tỷ giá đẩy giá của cả 2 mặt hàng này lên rất cao

Ngày đăng: 26/11/2015, 19:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w