1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

27 277 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 202,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự dịch chuyển đường cung và đường cầu ngoại tệ do tác động gia tăng của mức giá cả hàng hoá một nước, làm cho tỷ giá hối đoáităng và đồng tiền của nước đó giảm.. Như vậy, về lâu dài, sự

Trang 1

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ

TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

1.1 TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

1.1.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái là giá cả một đơn vị tiền tệ của quốc gia này được biểu diễn qua số đơn vị tiền tệ của quốc gia khác xác định bằng một thời gian và không gian cụ thể

1.1.2 Phân loại tỷ giá

* Theo phương tiện chuyển hối:

- Tỷ giá điện hối: là tỷ giá mua bán ngoại tệ cũng như các giấy tờ có giá bằng

ngoại tệ được chuyển bằng điện

-Tỷ giá thư hối: là tỷ giá mua bán ngoại tệ và các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ

được chuyển bằng thư

* Theo phương tiện thanh toán quốc tế:

- Tỷ giá séc: là tỷ giá mua bán các loại séc ghi bằng ngoại tệ

- Tỷ giá hối phiếu là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu ghi bằng ngoại tệ

* Căn cứ vào thời điểm mua bán ngoại tệ:

- Tỷ giá mở cửa là tỷ giá áp dụng cho việc mua bán bán các món ngoại tệ đầu

tiên trong ngày làm việc tại các trung tâm hối đoái

- Tỷ giá đóng cửa: là tỷ giá áp dụng cho mua bán món ngoại tệ cuối cùng trong

ngày làm việc tại các trung tâm hối đoái

* Theo phương thức mua bán, giao nhận ngoại tệ :

- Tỷ giá giao nhận ngay là tỷ giá mua bán ngoại tệ mà việc giao nhận chúng sẽ

được thực hiện chậm nhất sau hai ngày làm việc

- Tỷ giá giao nhận có kỳ hạn là tỷ giá mua bán ngoại tệ mà việc giao nhận

chúng sẽ được thực hiện sau một khoảng thòi gian nhất định

* Theo chế độ quản lý ngoại hối:

Trang 2

- Tỷ giá hối đoái chính thức: là tỷ giá hối đoái do nhà nước công bố

- Tỷ giá tự do là tỷ giá được hình thành tự phát và diễn biến theo quan hệ cung

cầu về ngoại tệ trên thị trường

1.1.3 Các yếu tố cơ bản tác động đến tỷ giá hối đoái

1.1.3.1 Những nhân tố cơ bản tác động đến tỷ giá hối đoái trong dài hạn

Xét trong dài hạn có 4 nhân tố chủ yếu tác động đến cung cầu ngoại tệ.Đó là : mức giá

cả tương đối, chính sách bảo hộ, sở thích của người tiêu dùng và năng suất lao động

- Mức giá cả tương đối : Khi mức giá cả hàng hoá, dịch vụ trong nước tăng

so với mức giá cả của hàng hoá - dịch vụ nước ngoài, các hãng sản xuất hàng xuấtkhẩu nói riêng, các hãng sản xuất của một nước nói chung có xu hướng thu hẹpquy mô sản xuất do chi phí đầu vào tăng Do đó xuất khẩu giảm, cung ngoại tệgiảm, đồng thời cầu về hàng nội tệ giảm xuống và cầu về hàng hoá nước ngoàităng lên, cầu ngoại tệ tăng lên Sự dịch chuyển đường cung và đường cầu ngoại tệ

do tác động gia tăng của mức giá cả hàng hoá một nước, làm cho tỷ giá hối đoáităng và đồng tiền của nước đó giảm Như vậy, về lâu dài, sự gia tăng trong mứcgiá của một nước so với mức giá của nước ngoài sẽ làm cho tỷ giá hối đoái biếnđổi theo hướng tăng lên và đồng tiền của nước đó giảm giá

- Chính sách bảo hộ là các hàng rào thuế quan và phi thuế quan được cácnước dựng lên để bảo vệ lợi ích và tạo sức cạnh tranh cho các ngành công nghiệpnon trẻ của một nước trong thương mại quốc tế Chính sách bảo hộ này đã ngăncản tự do buôn bán và làm tổn hại đến lợi ích của một số các ngành kinh tế, cáckhu vực kinh tế khác và làm giảm lợi ích của những 4 người tiêu dùng Sự tăngcường các biện bảo hộ dưới các hình thức như thuế

quan, quato, làm hạn chế khối lượng hàng hoá nhập khẩu, do đó làm giảm cầu

về ngoại tệ, chuyển dịch đường cầu ngoại tệ xuống phía dưới, về lâu dài làm giảm

tỷ giá, đẩy giá trị của đồng nội tệ tăng lên

- Sở thích người tiêu dùng : Thực tế trên thị trường nói chung và trongthương mại quốc tế nói riêng cho thấy ngay cả khi hàng hoá trong nước và nướcngoài đã có những đặc điểm giống nhau như về giá cả, chất lượng, hình thức thìchúng vẫn không có khả năng thay thế hoàn toàn cho nhau chỉ vì người tiêu dùng

có sở thích khác nhau Khi người dân thích dùng hàng nội hơn, cầu về hàng nộităng, cầu về hàng ngoại giảm, đường cầu ngoại tệ dịch trái, tỷ giá hối đoái giảm vàđồng VND tăng giá Ngược lại, thì tỷ giá hối đoái tăng và đồng tiền nước đó giảmgiá

- Năng suất lao động : Năng suất lao động tăng lên thể hiện sự phát triển kinh

tế và sử dụng nó hiều quả cao hơn các nguồn lực khác Năng suất lao động tănglên làm chi phí sản xuất giảm, các cơ sở sản xuất có cơ hội mở rộng kinh doanh và

hạ giá thành sản phẩm Hàng nội có giá rẻ hơn, có sức cạnh tranh cao hơn và các

Trang 3

nhà sản xuất thu được lãi nhiều hơn Năng suất lao động cao hơn là cơ sở để hàngnội thay thế hàng ngoại ở thị trường trong nước và vươn ra thị trường nước ngoài;kích thích tăng xuất khẩu, tăng cung ngoại tệ và đường cung ngoại tệ dịch phải.Đồng thời làm nhu cầu hàng ngoại giảm, nhập khẩu giảm, cầu ngoại tệ giảm,đường cầu ngoại tệ dịch trái, kéo tỷ giá xuống và đồng nội tệ tăng giá

1.1.3.2 Những nhân tố cơ bản làm thay đổi tỷ giá ngắn hạn

Xét trong ngắn hạn có một số nhân tố chủ yếu tác động Đó là: Mức chênh lệnhlạm phát, lãi suất giữa các quốc gia; những dự đoán về tỷ giá hối đoái

- Mức chênh lệnh lạm phát giữa các quốc gia : Nếu như mức độ lạm phátgiữa hai nước khác nhau, trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi, sẽ dẫnđến giá cả hàng hoá ở hai nước đó có những biến động khác nhau, làm cho nganggiá sức mua của hai đồng tiền đó bị phá vỡ, làm thay đổi tỷ giá hối đoái Nếu tỷ lệlạm phát ở một nước cao hơn so với nước khác, giá cả hàng hoá và dịch vụ nhậpkhẩu từ nước đó sẽ tăng lên, và do đó nhu cầu về hàng

hoá dịch vụ này ở nước khác sẽ giảm xuống Cùng với nhu cầu về hàng hoá dịch vụ giảm, nhu cầu về đồng tiền nước đó ở nước ngoài cũng sẽ giảm xuống

Sự giảm nhu cầu về đồng nội tệ, tương đương với sự giảm cung trên

thị trường ngoại hối Ngược lại, nhu cầu hàng hoá dịch vụ của nước ngoài tănglên, do đó cầu ngoại tệ tăng Sự tăng lên nhu cầu ngoại tệ xẩy ra cùng với sự giảmxuống của cung ngoại tệ sẽ gây lên sự giảm giá của đồng nội tệ Tương tự nhưvây, nếu tỷ lệ lạm phát ở nước này tăng lên so với tỷ lệ lạm phát của nước khác,thì đồng nội tệ sẽ tăng giá

- Mức chênh lệch lãi suất giữa các quốc gia : Khi mức lãi suất ngắn hạn củamột nước tăng lên một cách tương đối so với các nước khác, trong những điềukiện bình thường, thì vốn ngắn hạn từ nước ngoài sẽ đổ vào nước nhằm thu phầnchênh lệch do tiền lãi tạo ra Điều đó làm cho cung ngoại hối tăng lên, cầu ngoạihối giảm đi, dẫn đến sự thay đổi tỷ giá

- Những dự đoán về tỷ giá hối đoái : Dự đoán của những người tham gia vàothị trường ngoại hối về triển vọng lên giá hay xuống giá của một đồng tiền nào đó

có thể là một nhân tố quan trọng quyết định tỷ giá Những dự đoán này có liênquan chặt chẽ đến những dự đoán về biến động tỷ lệ lạm phát, lãi suất và thu nhậpgiữa các quốc gia

1.2 CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

1.2.1 Khái niệm chính sách tỷ giá hối đoái

Chính sách tỷ giá là tổng thể các nguyên tắc công cụ biện pháp được nhà nước

điều chỉnh tỷ giá của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt mục

Trang 4

tiêu đã định trong chiến lược phát triển của quốc gia đó.

Để quản lý và điều hành tỷ giá NHTW thường sử dụng các chính sách chủ yếu

sau:

- Chính sách chiết khấu: khi NHTW nâng cao lãi suất chiết khấu làm lãi suất

trên thị trường tăng, làm các nguồn vốn ngắn hạn trên thị trường quốc tế chạy

vào nước mình để thu lợi tức cao làm dịu sự căng thẳng của cầu vượt cung

ngoại hối do đó làm tỷ giá giảm xuống và ngược lại

- Chính sách hối đoái: khi tỷ giá lên cao NHTW bán ngoại hối ra thị trường

kéo tỷ giá tụt xuống và ngược lại Tuy nhiên NHTW phải có dự trữ ngoại hối

đủ lớn, nếu cán cân thanh toán thiếu hụt thường xuyên thì khó có đủ ngoại hối

thực hiện phương pháp này

- Phá giá tiền tệ: là sự nâng cao một cách chính thức TGHĐ hay là việc nhà

nước hạ thấp sức mua đồng tiền nước mình so với ngoại tệ làm đẩy mạnh

xuất khẩu hạn chế nhập khẩu cải thiện cán cân thương mại làm tỷ giá bớt căng

thẳng

- Nâng giá tiền tệ: là việc Nhà nước chính thức nâng giá đơn vị tiền tệ nước

mình so với ngoại tệ làm cho tỷ giá giảm xuống

1.2.2 Các công cụ của Chính sách tỷ giá

1.2.2.1 Nhóm công cụ trực tiếp

NHTW thông qua việc mua bán đồng nội tệ nhằm duy trì một tỷ giá cố

định hay ảnh hưởng làm cho tỷ giá thay đổi đạt tới một mức nhất định theo mục

tiêu đã đề ra Hoạt động can thiệp trực tiếp của ngân hàng trung ương tạo ra

hiệu ứng thay đổi cung tiền có thể tạo ra áp lực lạm phát hay thiểu phát không

mong muốn cho nền kinh tế vì vậy đi kèm hoạt động can thiệp này của NHTW

thì phải sử dụng thêm nghiệp vụ thị trường mở để hấp thụ lượng dư cung hay

bổ sung phần thiếu hụt tiền tệ ở lưu thông

Nghiệp vụ thị trường mở ngoại tệ được thực hiện thông qua việc NHTW tham giamua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ Một nghiệp vụ mua ngoại tệ trên thị trường của

Trang 5

NHTW làm giảm cung ngoại tệ do đó làm tăng tỷ giá hối đoái và ngược lại Do đó đây làcông cụ có tác động mạnh lên tỷ giá hối đoái

Nghiệp vụ thị trường mở nội tệ là việc NHTW mua bán có chứng từ có giá Tuy nhiên

nó chỉ tác động gián tiếp đến tỷ giá mà lại có tác động trực tiếp đến các biến số kinh tế vĩ

mô khác (lãi suất, giá cả) Nó được dùng phối hợp với nghiệp vụ thị trường mở ngoại tệ

để khử đi sự tăng, giảm cung nội tệ do nghiệp vụ thị trường mở gây ra

Ngoài ra Chính phủ có thể sử dụng biện pháp can thiệp hành chính như biện pháp kếthối, quy định hạn chế đối tượng được mua ngoại tệ, quy định hạn chế mục đích sử dụngngoại tệ, quy định hạn chế số lượng mua ngoại tệ, quy định hạn chế thời gian mua ngoại

tệ, nhằm giảm cầu ngoại tệ, hạn chế đầu cơ và giữ cho tỷ giá ổn định

1.2.2.2 Nhóm công cụ gián tiếp

Lãi suất tái chiết khấu là công cụ hiệu quả nhất Cơ chế tác động đến tỷ

giá hối đoái của nó như sau:

Khi lãi suất chiết khấu thay đổi kéo theo sự thay đổi cùng chiều của lãi suất trên thịtrường Từ đó tác động đến xu hướng dịch chuyển của dòng vốn quốc tế làm thay đổi tàikhoản vốn hoặc ít nhất làm cho người sở hữu vốn trong nước chuyển đổi đồng vốn củamình sang đồng tiền có lãi suất cao hơn để thu lợi và làm thay đổi vốn của mình sangđồng tiền có lãi suất cao hơn để thu lợi và làm thay đổi tỷ giá hối đoái Cụ thể lãi suấttăng dẫn đến xu hướng là một dòng vốn vay ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ đổ vàotrong nước và người sở hữu vốn ngoại tệ trong nước sẽ có xu hướng chuyển đồng ngoại

tệ của mình sang nội tệ để thu lãi suất cao hơn do đó tỷ giá sẽ giảm (nội tệ tăng) và ngượclại muốn tăng tỷ giá sẽ giảm lãi suất tái chiết khấu Muốn giảm tỷ giá hối đoái thì ChínhPhủ có thể quy định mức thuế quan cao, quy định hạn ngạch và thực hiện trợ giá chonhững mặt hàng xuất khẩu chiến lược Và ngược lại sẽ làm tăng tỷ giá hối đoái Ngoài raChính Phủ có thể sử dụng một số biện pháp khác như điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộcbằng ngoại tệ vớiNHTW, quy định mức lãi suất trần kém hấp dẫn đối với tiền gửi bằngngoại tệ Mục đích là phòng ngừa rủi ro tỷ giá, hạn chế đầu cơ ngoại tệ, làm giảm áp lựclên tỷ giá khi cung cầu mất cân đối

1.2.3 Vai trò của chính sách tỷ giá tới tăng trưởng kinh tế

1.2.3.1 Đối với cán cân thanh toán

Tỷ giá giữa đồng nội tệ và ngoại tệ là quan trọng đối với một quốc gia vì

trước tiên nó tác động trực tiếp tới giá cả hàng xuất nhập khẩu của chính quốc

gia đó Khi TGHĐ tăng (đồng nội tệ xuống giá) sẽ làm tăng giá trong nước của

Trang 6

hàng nhập khẩu và giảm giá ngoài nước của hàng xuất khẩu của nước đó, cải

thiện sức cạnh tranh quốc tế của hàng trong nước Các nguồn lực sẽ được thu

hút vào những ngành sản xuất mà giờ đây có thể cạnh tranh hiệu quả hơn so với

hàng nhâp khẩu và cũng vào ngành xuất khẩu mà giờ đây có thể có hiệu quả

hơn trên các thị trường quốc tế Kết quả là xuất khẩu tăng nhập khẩu giảm làm

cán cân thanh toán được cải thiện

1.2.3.2 Với lạm phát và lãi xuất

Khi các yếu tố khác không đổi TGHĐ tăng làm tăng giá các mặt hàng nhập

khẩu tính bằng nội tệ Các hộ gia đình,các nhà sản xuất sử dụng đầu vào nhập

khẩu phải tiêu dùng hàng nhập khẩu với mức giá tăng cùng tỷ lệ phá giá Kết

quả mức giá chung trong nền kinh tế trở nên cao hơn đặc biệt là nền kinh tế

nhỏ, mở cửa với thế giới bên ngoài có xuất khẩu và nhập khẩu chiếm tỷ lệ cao

so với GDP Nếu TGHĐ tiếp tục có sự gia tăng liên tục qua các năm có nghĩa

là lạm phát đã tăng Nếu lãi xuất tăng ở mức vừa phải có thể kiểm soát sẽ kích

thích tăng trưởng nhưng nếu lạm phát tăng quá cao sẽ tác động làm lãi xuất

tăng làm giảm đầu tư ảnh hưởng không tốt đến đời sống kinh tế giảm sút

1.2.3.3 Với sản lượng và việc làm

Đối với các lĩnh vực sản xuất chủ yếu dựa trên nguồn lực trong nước thì khi

TGHĐ tăng, sự tăng giá hàng nhập khẩu sẽ giúp tăng khả năng cạnh tranh cho

các lĩnh vực này giúp phát triển sản xuất từ đó tạo thêm công ăn việc làm giảm

thất nghiệp, sản lượng quốc gia có thể tăng lên và ngược lại

1.2.3.4 Đối với đầu tư quốc tế

- Đầu tư trực tiếp: TGHĐ tác động tới giá trị phần vốn mà nhà đầu tư nước

ngoài đầu tư hoặc góp vốn liên doanh Vốn ngoại tệ hoặc tư liệu sản xuất được

đưa vào nước sở tại thường được chuyển đổi ra đồng nội tệ theo tỷ giá chính

thức Bên cạnh đó tỷ giá còn có tác động tới chi phí sản xuất và hiệu quả các

Trang 7

hoạt động đầu tư nước ngoài Do đó sự thay đổi TGHĐ có ảnh hưởng nhất định

tới hành vi của các nhà đầu tư nước ngoài trong việc quyết định có đầu tư vào

nước sở tại hay không

- Đầu tư gián tiếp: là loại hình đầu tư thông qua hoạt động tín dụng quốc tế

cũng như việc mua bán các loại chứng khoán có giá trên thị trường

Trong một thế giới có sự luân chuyển vốn quốc tế tự do khi TGHĐ tăng tổng

lợi tức từ khoản vay bằng ngoại tệ lớn hơn lãi suất trong nước sẽ xảy ra hiện

tượng luồng vốn chảy ra nước ngoài và ngược lại TGHĐ giảm luồng vốn sẽ đổ

vào trong nước

Như vậy muốn tạo môi trường đầu tư ổn định nhằm phát triển kinh tế đòi hỏi

các quốc gia xây dựng và điều chỉnh một chính sách tỷ giá ổn định hợp lý giảm

mức độ rủi ro trong lĩnh vực đầu tư và thu hút vốn đầu tư nước ngoài

1.2.3.5 Với nợ nước ngoài

Các khoản vay nợ nước ngoài thường được tính theo đơn vị tiền tệ nước đó

hoặc những đồng tiền mạnh nên khi TGHĐ tăng lên cũng đồng nghĩa với sự

tăng lên của gánh nặng nợ nước ngoài Ngày nay khi sự luân chuyển vốn quốc

tế ngày càng tự do thì các nước đặc biệt các nước đang phát triển càng cần phải

thận trọng hơn trong chính sách tỷ giá để đảm bảo tăng trưởng và khả năng trả

nợ nước ngoài

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến TGHĐ

1.2.4.1 Sức mua của mỗi đồng tiền trong một cặp tiền tệ

Do tỷ giá được xác định dựa trên quan hệ cung cầu về ngoại hối và nguyên tắc

Trang 8

một giá nên khi sức mua của đồng nội tệ tăng lên sẽ làm tỷ giá giảm xuống và

ngược lại

1.2.4.2 Cán cân thanh toán quốc tế

Đây là yếu tố cực kì quan trọng trong những yếu tố kinh tế tác động đến tỷ

giá Đánh giá chung có tính chất truyền thống đối với sự biến động của TGHĐ,

các nhà kinh tế đều cho rằng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu và dịch vụ quốc

gia là những nhân tố cơ bản đứng sau lưng tăng giá TGHĐ

Tình trạng của cán cân thanh toán tác động đến cung cầu về ngoại hối do vậy,

tác động trực tiếp đến TGHĐ

1.2.4.3 Yếu tố tâm lý

Dựa vào sự phán đoán từ các sự kiện kinh tế, chính trị của một nước và tình

hình thế giới, cả chính trị và kin tế có liên quan các nhà kinh doanh ngoại hối

bao gồm các ngân hàng thương mại, các doanh nghiệp và kể cả người đầu cơ

tùy theo sự phán đoán đó mà hành động

Yếu tố tâm lý ảnh hưởng một cách hết sức nhạy cảm đối với thị trường tài

chính, trong đó có thị trường hối đoái Tuy nhiên những biến động này bao giờ

cũng mang tính chất ngắn hạn, xác lập một vị thế ngắn hạn

1.2.4.4 Vai trò quản lý của ngân hàng trung ương

Chế độ tỷ giá mà phần đông các nước vận hành là thả nổi có quản lý do đó vai

trò can thiệp của nhà nước giữ vị trí quan trọng NHTW tự biến mình thành

một bộ phận của thị trường, quyện chặt với thị trường, lúc với tư cách người

mua lúc khác là tư cách người bán, nhằm tác động về phía cung hay cầu của

quỹ ngoại hối thị trường nhằm cho ra một tỷ giá phù hợp như ý đồ của chính

sách tiền tệ Tuy nhiên điều kiện vật chất để có thể can thiệp là thực lực về tiềm

năng quốc gia biểu hiện bằng quỹ ngoại tệ bình ổn giá, bao gồm ngoại tệ dự trữ

Trang 9

quốc gia.

1.2.4.5 Năng suất lao động

Nếu năng suất lao động trong nước có sự gia tăng sẽ làm cho mức giá tương đối

có xu hướng sụt giảm làm đồng ngoại tệ có xu hướng giảm hay đồng nội tệ lên

giá làm tỷ giá giảm xuống

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ

HỐI ĐOÁI CỦA TRUNG QUỐC

2.1 Thời kỳ chuyển từ chính sách tỷ giá cố định sang thả nổi theo sát với những diễn biến của tỷ giá thị trường( 1981- 1993)

Cho đến đầu những năm 1980, Trung Quốc thực hiện chính sách tỷ giá cố định, gắn đồng NDT luôn cao hơn giá trị thực của nó Điều này kéo theo một loạt tiêu cực như: hàng xuất khẩu kém sức cạnh tranh, mất cân đối nghiêm trọng trong nền kinh tế Ngân sách quốc gia hàng năm phải bù lỗ nhiều cho cả sản xuất và tiêu dùng Như năm 1989 mức bù lỗ là 76,3 tỷ NDT tương đương với 29% thu nhập tài chính Vào lúc này tổng số

nợ của Trung Quốc lên tới 47 tỷ USD, trong khi dự trữ ngoại tệ quốc gia hầu như cạn kiệt và lạm phát trong nước lên cao Để đẩy mạnh xuất khẩu, nhằm đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, đồng thời cùng với việc thực hiện các biện pháp cải cách kinh tế, Trung Quốc đã liên tục tiến hành điều chỉnh tỷ giá hối đoái danh nghĩa theo hướng giảm giá trị đồng NDT bị đánh giá cao trước đây cho phù hợp với sức mua thực tế của nó trên thị trường trong suốt thời gian đầu của quá trình cải cách cho đến đầu những năm 90

Từ năm 1981-1985, Trung Quốc luôn luôn muốn thực hiện chế độ một loại giá hàng, một tỷ giá thống nhất nhưng do nhiều nguyên nhân nên trong giai đoạn cải cách này bên cạnh sự tồn tại tỷ giá giao dịch thương mại nội bộ, tỷ giá chính thức thường xuyên thay đổi, hầu hết là phá giá Theo thống kê, đồng NDT được điều chỉnh 23 lần trong năm

1981, 28 lần trong năm 1982 và 56 lần trong năm 1984 ở các mức độ khác nhau để tiến tới tỷ giá thực của nó Cải cách, điều chỉnh phần lớn là phá giá dẫn đến tỷ giá chính thức ngang bằng với tỷ giá nội bộ vào cuối 1984, và cuối cùng là thống nhất một tỷ giá Cho tới cuối những năm 80, tỷ giá chính thức ít biến động nhưng lại có mức phá giá nhanh khibiến động, bên cạnh đó sự phát triển của thị trường ngoại hối đã tạo nên sự biến đổi mạnh

mẽ của tỷ giá Ra đời từ đầu những năm 1980 ở Trung Quốc, thị trường ngoại hối phát triển rất nhanh từ sau năm 1986 dẫn tới hình thành một mạng lưới thanh toán dựa vào thị trường Cơ sở cho sự tồn tại thị trường này là quyền tự chủ của các doanh nghiệp Trung

Trang 10

Quốc cho phép các nhà xuất khẩu được được giữ một phần ngoại hối, nhằm khuyến khíchtăng khả năng hoạt động xuất khẩu Với sự hiện diện của thị trường này, đã làm cho tỷ giá trao đổi từng bước được dao động tự do hơn

Chính sách tỷ giá trong thời kỳ này đã giúp Trung Quốc đẩy mạnh xuất khẩu, giảm thâm hụt cán cân thương mại, cán cân nước ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế Nếu như năm 1978 tổng kinh ngạch xuất nhập khẩu chỉ đạt 20,64 tỷ USD bằng 9,8% GDP, đứng thứ 27 trên thế giới về buôn bán đối ngoại và cán cân thương mại là -15.002 triệu USD thì nhờ thương mại phát triển đến năm 1990 cán cân thương mại là 8.646 triệu USD Sau những điều chỉnh thử nghiệm thành công ban đầu, chính phủ Trung Quốc tiếp tục điều chỉnh chính sách tỷ giá theo hướng đã vạch ra

Cho nên, đầu những năm 90 (1991- 1993), Trung Quốc chính thức công bố áp dụng một tỷ giá thả nổi Trong giai đoạn này, tỷ giá trao đổi của đồng NDT thường xuyên dao động, đồng NDT hầu như hạ giá Nhờ tăng tỷ lệ ngoại hối phân bổ thông qua tương tác giữa cung và cầu trên thị trường, những hoạt động kiểm soát về ngoại hối đã giảm dần, trong khi đó các lực lượng thị trường được tính đến nhiều hơn trong các quyết định liên quan đến tỷ giá Sau khi tỷ giá được điều chỉnh tương đối sát với biến đổi của thị trường

và sức mua thực tế của đồng NDT, tỷ giá danh nghĩa giữa đồng NDT với USD tương đối

ổn định ở mức 5,2 -> 5,8 NDT/USD Tuy nhiên, mức điều chỉnh này được dựa vào mức giá giữa Trung Quốc và Mỹ đã làm cho lạm phát cao ở Trung Quốc tác động xấu tới mục tiêu tăng trưởng và thúc đẩy xuất khẩu của nền kinh tế Như từ mức thặng dư thương mại

là 9.165 triệu USD với tốc độ lạm phát 3,06% năm 1990 thì đến năm 1993 cán cân thương mại bị thâm hụt –10.654 triệu USD và tốc độ lạm phát là 14,58%

Có thể nói đây là những bước đầu tiên của quá trình chuyển đổi tỷ giá hối đoá và chính sách tỷ giá ở Trung Quốc, là giai đoạn để cho tỷ giá ấn định trước đây được thả nổi theo sát với những diễn biến của thị trường

2.2 Thời kỳ phá giá mạnh đồng NDT và thống nhất hai tỷ giá hướng tới một đồng NDT có khả năng chuyển đổi (1994- 1997).

Nhận thấy nguy cơ đồng NDT có khả năng trở lại tình trạng bị đánh giá cao so với sức mua thực tế, chính phủ Trung Quốc đã quyết định chuyển hướng điều chỉnh chính sách tỷ giá hối đoái Ngày 1-1-1994, đồng NDT chính thức bị tuyên bố phá giá mạnh từ 5,8 NDT/USD xuống 8,7 NDT/USD, và thống nhất các mức giá thành một tỷ giá chung Tuy nhiên, tỷ giá danh nghĩa bắt đầu lên giá chậm chạp và cuối cùng ổn định ở mức 8,3NDT/USD Để giảm bớt tác động của sự thay đổi trong chính sách tỷ giá lên thị trường tiền tệ, vào thời kỳ này chính phủ Trung Quốc đã ban hành một loạt những biện pháp hỗ trợ và quản lý ngoại hối như : thực hiện chế độ ngân hàng kết hối, xoá bỏ sự gămgiữ ngoại tệ và tăng giá ngoại hối của các công ty, xây dựng thị trường giao dịch ngoại tệ liên ngân hàng; cải tiến cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái; xoá bỏ kế hoạch mang tính mệnh lệnh đối với thu chi ngoại hối… kết hợp với kiểm soát chặt chẽ của ngân hàng trung ương Trung Quốc Đối với công ty nước ngoài, Trung Quốc yêu cầu phải có bảng

Trang 11

cân đối ngoại tệ hàng năm Đối với các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài phải có giấy phép đổi ngoại tệ mạnh sang NDT Còn đối với doanh nghiệp nhà nước, yếu cầu phải nộp 100% ngoại tệ thu được thay vì 50% trước đây Tuy nhiên, Trung Quốc đã có những điều chỉnh quản lý ngoại hối lỏng hơn như: cho phép các công nước ngoài từng bước được giao dịch, mua bán ngoại tệ mạnh, tạo điều kiện để đồng NDT xâm nhập mạnh hơn vào thị trường tiền tệ, tài chính thế giới…

Kết quả của điều chỉnh và phá giá mạnh đồng NDT trong thời kỳ này của Trung Quốc đã giúp nước này không chỉ thu được những lợi ích trong ngắn hạn, nhanh chóng đẩy mạnh xuất khẩu, chiếm lĩnh nhiều thị phần quan trọng trên thị trường quốc tế, mà còn tạo cơ sở để Trung Quốc duy trì chính sách tỷ giá ổn định trong một thời gian dài, giảm thiểu những rủi ro hối đoái và tạo môi trường hấpdẫn thu hút mạnh các nguồn đầu tư nước ngoài.

Nguồn chính IMF International Financial Statistics T5/2001

2.3 Chính sách tỷ giá duy trì ổn định đồng NDT yếu nhằm thúc đẩy xuất khẩu, tăng trưởng kinh tế cao và giảm những cú sốc từ bên ngoài (1997-nay)

Dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, môi trường kinh tế quốc tế đã có nhiều biến động đáng kể Các nước bị khủng hoảng rơi vào tình trạng suy thoái, mức sống của người dân bị sụt giảm đáng kể Cuộc khủng hoảng này đã làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế và thương mại toàn cầu chậm lại Trung Quốc không phải là một ngoại lệ Xuất khẩu và đầu tư nước ngoài giảm mạnh Vấn đề sản xuất dư thừa ngày càng trở nên trầm trọng trong các ngành công nghiệp chế biến Giá thị trường liên tục xuống và dần dần xuất hiện những dấu hiệu giảm phát

Trước tình hình đó, chính phủ Trung Quốc đã có chủ trương không phá giá đồng NDT, tỷ giá vẫn giữ ở mức 8,3NDT/USD, với biên độ giao đông là nhỏ Nhờ đó mà những tác động của cuộc khủng hoảng khu vực Châu Á đối với nền kinh tế Trung Quốc

và cả nền kinh tế thế giới đã ít trọng hơn

Để bảo vệ đồng NDT trước tác động của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, năm

1998 Trung Quốc đã quay trở lại kiểm soát chặt chẽ thị trường ngoại hối, giảm nguy cơ đầu cơ và găm giữ ngoại tệ, tăng dự trữ ngoại tệ Thu nhập ngoại tệ của các doanh nghiệpbắt buộc phải bán cho những ngân hàng đã được chỉ định trước, việc bán ngoại tệ cũng

Trang 12

phải có hoá đơn theo 22quy định mới được rút, thậm chí các nhà đầu tư nước ngoài cũng phải bán ngoại tệ cho các ngân hàng Trung Quốc để đổi lấy một lượng NDT nhất định sử dụng trong lãnh thổ nước này Song song với việc quản lý chặt chẽ thị trường ngoại hối,

để giảm bớt sức ép đối với xuất khẩu và sự tăng trưởng của nền kinh tế, Trung Quốc còn phối hợp với các chính sách kinh tế như nới lỏng chính sách tiền tệ và kích cầu Trong năm này, Trung Quốc đã liên tiếp 3 lần hạ lãi suất tiền cho vay và tiền gửi bằng đồng NDT, lãi suất chiết khấu cũng giảm 1,91%, đồng thời với việc giảm cả lãi suất với các loại tiền gửi bằng ngoại tệ, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp, kích thích tiêu dùng ở các tầng lớp dân cư Với cơ chế quản lý rất chặt chẽ như vậy, tỷ giá giữa đồng NDT và USDvẫn cố định là 8,3NDT/USD cho tới ngay nay

Theo các chuyên gia hàng đầu về kinh tế thì cho rằng với tỷ giá hiện nay đồng NDT

đã bị đánh giá thấp khoảng 30% so với các đồng tiền khác,theo nhận định của Mỹ là 40%

và theo EU thì tỷ lệ này là 20% Theo họ với tỷ giá thấp, đã tạo ra những lợi thế thương mại bất bình đẳng cho hàng Trung Quốc tràn ra thị trường quốc tế, làm suy yếu sức cạnhtranh của các nhà xuất khẩu khác Cùng với những lợi thế về tài nguyên và nhân lực, việcduy trì tỷ giá hối đoái không cân đối giữa NDT và USD trong lúc USD đang giảm đi tương đối so với các đồng tiền khác đang giúp các nhà xuất khẩu của Trung Quốc có lợi thế trong cuộc chiến giá cả và nâng cao tính cạnh tranh thu hút đầu tư của nước này.Còn về quan điểm của phía Trung Quốc lại trái ngược với các nước, họ cho rằng đồngNDT không những không giảm giá mà trái lại còn đang lên giá so với các đồng tiền khác.Theo nhận định của Trung Quốc thì về danh nghĩa trong giai đoạn 1994-2002, đồng NDT

đã tăng 5,1% so với đồng USD, tăng 17,9% so với đồng Euro và tăng 17% so với đồng yên Nhật, nếu tính đến yếu tố lạm phát thì mức tăng thực tế của đồng NDT so với các đồng 23tiền này là 18,5%, 39,4%, 62,9% Mặc dù có những quan điểm trái ngược nhau, thực tế đã cho thấy cho tới nay việc điều chỉnh tỷ giá và chính sách tỷ giá trong thời gian qua đã tạo ra khả năng góp phần giảm tác động trước những cú sốc từ bên ngoài và đạt được thành tựu to lớn kể từ năm 1997 Trong năm 2002, tổng doanh số thương mại của Trung Quốc đạt 620,79 tỉ USD, trong đó xuất khẩu tăng 22,3%, đạt 325,57 tỉ USD; nhập khẩu tăng 21,2%, đạt 295,22 tỉ USD Thặng dư thương mại đạt 30,33 tỉ so với 22,6 tỉ USD trong năm 2001 Dự trữ ngoại tệ đạt mức cao kỷ lục là 286,4 tỉ USD Tốc độ tăng trưởng trung bình của nền kinh tế Trung Quốc là 8%/năm, và cao nhất trên thế giới Mặt khác, đồng NDT hiện đang mạnh lên so với đồng USD Tuy chưa phải là đồng tiền có thể chuyển đổi hoàn toàn, nhưng nó đang ngày càng được sử dụng nhiều ở bên ngoài biên giới Trung Quốc, đặc biệt là dọc biên giới Trung Quốc với các nước Đông Nam Á Theo tính toán hiện có khoảng 30 tỷ NDT đang lưu hành ở bên ngoài Trung Quốc, điều này chứng tỏ niềm tin của quốc tế vào kinh tế Trung Quốc Và đồng NDT được dự đoán là sẽ đóng vai trò khu vực lớn hơn đồng Eruo, có thể trở thành đồng tiền dựtrữ thay thế các đồng tiền quốc tế khác ở Châu Á

Bên cạnh những thành tựu đạt được một phần là nhờ vào chính sách tỷ giá hiện nay, thì vẫn còn những hạn chế Khi mà đồng tiền giảm giá, nó làm cho các khoản vay bằng ngoại tệ của nước đó và rủi ro của đầu tư trong tương lai tăng lên khi các nhà đầu tư dự

Trang 13

kiến tăng về tính không ổn định của tỷ giá hối đoái Hiện nay, nợ quá hạn của Trung Quốc đã lên đến mức 1.800 tỷ nhân dân tệ, tương đương 140% GDP so với mức 88% trong năm 1996 Và những khoản nợ khó đòi tập trung ở bốn ngân hàng lớn của Trung Quốc-đó là những ngân hàng hiện nay mất khả năng thanh toán xét trên phương diện kỹ thuật Kể từ 1998 đến nay, Trung Quốc đã bỏ ra 200 tỷ USD để tái 24cấp vốn và mua lại các khoản nợ khó đòi của các ngân hàng Mặc dù hiện nay Trung Quốc đang phải đối mặtvới tình hình tài chính bất ổn, nhưng chính phủ Trung Quốc vẫn hết sức thận trọng tránh làm tổn hại đến xuất khẩu Theo cảnh báo của các nhà nghiên cứu kinh tế, rằng việc điều chỉnh giá trị của đồng nhân tệ có thể làm cho kinh tế Trung Quốc "mất ổn định" do khuyến khích các luồng vốn đầu tư, làm tăng sư phụ thuộc của nền kinh tế vào yếu tố bênngoài nhất là khi hiện nay có tới 50% hàng xuất khẩu là của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Đây chính là sự mâu thuẫn mà việc lựa chọn chính sách tỷ giá phải đối mặt.Tóm lại: Đầu những năm 1980, khi Trung Quốc bước vào công cuộc cải cách và mở cửa kinh tế, Trung Quốc ấn định mức tỷ giá 2,4 NDT/USD Tới những năm 1990, khoảng

10 năm sau cải cách, nền kinh tế Trung Quốc có những bước phát triển mạnh mẽ thể hiện

ở xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng kinh tế Các nhà quản lý ở Trung Quốc hiểu rằng một

tỷ giá hối đoái cố định sẽ không giúp kích thích tăng trưởng và xuất khẩu.Do vậy Trung Quốc bắt đầu hướng tới một cơ chế tỷ giá mềm dẻo với sự tham gia nhiều hơn của yếu tố thị trường nhưng vẫn có sự kiểm soát của nhà nước Tỷ giá đồng NDT vào khoảng 5,8 - 5,9 NDT/USD những năm 1990-1993 Đến cuối năm 1993, đầu năm 1994, để kích thích xuất khẩu hơn nữa, Trung Quốc đã quyết định chuyển tỷ giá lên 8,7 NDT/USD Sau nhiều lần điều chỉnh, tỷ giá này dừng ở mức khoảng 8,2 - 8,3 NDT/USD và duy trì từ năm 1994 tới nay

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GỢI Ý NHẰM HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TỶGIÁHỐI ĐOÁI CỦA VIỆT NAM TỪ KINH NGHIỆM TRUNG QUỐC

3.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

CỦA VIỆT NAM TỪ 1989 ĐẾN NAY.

3.1.1 Giai đoạn trước 1989: Cố định và đa tỷ giá

3.1.1.1 Bối cảnh kinh tế

Trong giai đoạn này, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế đóng cửa và hướng

Ngày đăng: 26/11/2015, 19:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w