M ục đích nghiên cứu Mục đích của luận văn là để nghiên cứu về hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân trong hoạt động xét xử, cụ thể là trong vụ án hình sự, để tìm hiểu xem tro
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Th.S M ạc Giáng Châu Nguyễn Thị Cẩm Ly
B ộ môn Tư pháp MSSV: 5086050
L ớp: Tư Pháp 1 - K34
C ần Thơ, 5/2012
Trang 2L ỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cha mẹ, những người đã hết
sức lo cho tôi trong bốn năm đại học, chính nhờ sự hỗ trợ của cha mẹ mà tôi mới có
kết quả học tập như ngày hôm nay Thứ hai, tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý Thầy,
Cô Khoa Luật, các Thầy, Cô đã từng dạy tôi trên giảng đường đại học, chính các
Thầy, Cô đã truyền đạt, vun bồi những kiến thức và khơi dậy niềm đam mê học tập
của tôi Thứ ba, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các anh, chị, các bạn cùng khóa, đã giúp
đỡ tôi trong việc tìm kiếm, thu thập tài liệu, thảo luận với tôi những vấn đề còn thắc
mắc Và cuối cùng tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đặc biệt đến cô Mạc Giáng Châu - người đã hỗ trợ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn để tôi có
thể hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu của mình
Tôi xin chúc tất cả mọi người luôn tràn đầy niềm vui, hạnh phúc, gặp nhiều may mắn và thành công hơn nữa trong công việc của mình
Sinh viên th ực hiện
Nguy ễn Thị Cẩm Ly
Trang 3Vi ệt Nam hiện nay
/
Trang 4 NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
/
Trang 5Vi ệt Nam hiện nay
Trang
L ỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HO ẠT ĐỘNG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN 4
1.1 Khái ni ệm chung 4
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4
1.1.1.1 Khái niệm áp dụng pháp luật 4
1.1.1.2 Khái niệm áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử 9
1.1.1.3 Khái niệm áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử vụ án hình sự của Tòa án nhân dân Việt Nam 10
1.1.2 Đặc điểm của việc áp dụng pháp luật 12
1.1.2.1 Đặc điểm chung 12
1.1.2.2 Đặc điểm của việc áp dụng pháp luật hình sự trong hoạt động xét xử 16
1.2 Cơ sở lý luận của việc áp dụng pháp luật hình sự 18
1.2.1 Nguyên tắc của hoạt động áp dụng pháp luật 18
1.2.1.1 Phân tích đánh giá đúng, chính xác mọi tình tiết hoàn cảnh, điều kiện của vụ việc thực tế xảy ra 18
1.2.1.2 Lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp và phân tích làm sáng rõ nội dung, ý nghĩa của vi phạm pháp luật đối với trường hợp cần áp dụng 19
1.2.2 Những yêu cầu của việc áp dụng pháp luật hình sự trong hoạt động xét xử 20
1.2.2.1 Tính hợp hiến 20
1.2.2.2 Tính chính xác, khách quan 21
1.2.2.3 Tính công bằng, bình đẳng 23
1.2.2.4 Tính độc lập 23
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LU ẬT TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN VI ỆT NAM HIỆN NAY 26
2.1 Th ực trạng áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử vụ án hình sự c ủa Tòa án nhân dân Việt Nam hiện nay 26
2.1.1 Tình hình việc áp dụng pháp luật hình sự trong hoạt động xét xử của Tòa án hiện nay 26
Trang 62.1.2 Nguyên nhân chủ quan và khách quan 36
2.1.2.1 Nguyên nhân chủ quan 36
2.1.2.2 Nguyên nhân khách quan 47
2.2 Hướng hoàn thiện 54
K ẾT LUẬN 60
Trang 7Vi ệt Nam hiện nay
diễn ra trong các lĩnh vực quản lý kinh tế, bảo vệ môi trường, ma túy, tham nhũng
Thủ đoạn thực hiện tội phạm, thủ đoạn gian dối trong giao dịch kinh tế, dân sự ngày càng tinh vi, xảo quyệt Đặc biệt, tội phạm có tổ chức trong thời gian gần đây đã và đang gây ra những tác hại khá nghiêm trọng cho trật tự trị an xã hội nói riêng và đời
sống xã hội nói chung
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, thúc đẩy kinh tế nước ta phát triển mạnh với các thành phần kinh tế đa dạng, nhiều giao dịch mua bán có giá
trị lớn và rất lớn liên quan đến nhiều người, nhiều tổ chức trong và ngoài nước được
ký kết và thực hiện nhưng các điều kiện về pháp luật được ghi trong hợp đồng chưa
bảo đảm, thiếu tính cụ thể và chặt chẽ, rất dễ phát sinh tranh chấp gây những thiệt
hại cho các bên và gây ra các tiêu cực cho xã hội Các tranh chấp trong lĩnh vực dân
sự, hành chính, thương mại, lao động… diễn ra ngày càng nhiều và rất đa dạng,
phức tạp Nhất là tội phạm trong lĩnh vực hình sự mức độ nguy hiểm ngày càng cao,
với những hành vi vô cùng tinh vi và xảo quyệt Trước tình hình đó, ngành Tòa án trong cả nước cùng với các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan tư pháp, các cơ quan bổ trợ tư pháp đã phải tập trung giải quyết một số lượng rất lớn các vụ án hình sự, các vụ án dân sự, hôn nhân - gia đình, kinh tế, lao động (sau đây gọi là các
vụ án dân sự), các vụ án hành chính, trong điều kiện Thẩm phán còn thiếu khá nghiêm trọng Nhưng mang lại những kết quả rất khả quan, hầu hết các bản án được tuyên và những quyết định của Tòa án đều chính xác, khách quan, thấu tình, đạt lý,
áp dụng đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, góp phần rất quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân theo quy định của pháp luật
Bên cạnh những thành tựu đạt được trong hoạt động xét xử của Tòa án cũng còn có những hạn chế và sai sót như tình hình xét xử oan, sai vẫn còn Tuy số bản
án oan, sai không nhiều nhưng tác hại gây ra cho xã hội là rất lớn, vừa vi phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân, vừa ảnh hưởng xấu đến uy tín của Thẩm phán,
của ngành Tòa án và lòng tin, sự tín nhiệm của nhân dân vào cơ quan thực thi công
Trang 8lý Trong một vụ án hình sự nếu để xảy ra tình trạng oan, sai thì hậu quả rất nghiêm
trọng, một người bị kết tội oan chiu hình phạt tù oan trong một thời gian dài thì tương lai, sự nghiệp, danh dự của họ sẽ bị ảnh hưởng khi đó sẽ không có gì có thể
bù đắp được Ngoài ra, số lượng án bị kháng cáo, kháng nghị và các bản án khi xét
xử phúc thẩm bị sửa và bị hủy vẫn còn nhiều do vi phạm nghiêm trọng hay có
những sai sót trong thủ tục tố tụng Điều đó làm ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của Tòa án vì Tòa án là sự hiện diện của công lý, là nơi đem đến những phán quyết công bằng cho xã hội Chính vì điều đó chất lượng áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân nói chung và trong hoạt động xét xử vụ án hình sự nói riêng, là một vấn đề rất quan trọng cần được quan tâm và nghiên cứu tìm hiểu Điều đó có tác dụng tích cực trong việc quyết định chất lượng hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân, vì áp dụng pháp luật đúng, phù hợp thì những bản án, quyết định
mà Tòa án đưa ra luôn có chất lượng, đúng người, đúng tội Từ những điều đó nên
người viết quyết định chọn đề tài: “Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử vụ
án hình s ự của Tóa án nhân dân Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu và làm luận
văn tốt nghiệp
2 M ục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là để nghiên cứu về hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân trong hoạt động xét xử, cụ thể là trong vụ án hình sự, để tìm hiểu xem trong quá trình giải quyết án hình sự Tòa án (Hội đồng xét xử) đã áp dụng
những quy định của pháp luật, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự như thế nào trong quá trình làm việc giải quyết án Để thấy được những thành tựu đạt được trong hoạt động áp dụng pháp luật từ đó tiếp tục phát huy, giúp nâng cao chất lượng trong việc xét xử của Tòa án nhân dân, hạn chế những án xử sai, xử oan, những bản
án bị kháng cáo, kháng nghị… Bên cạnh đó phát hiện ra những hạn chế và sai sót
để khắc phục, tìm hiểu kĩ về những nguyên nhân dẫn đến những điều đó để có
những đề xuất tích cực góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động áp dụng pháp
luật trong quá trình xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân
3 Ph ạm vi nghiên cứu
Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu những vấn đề về lý luận và thực tiễn
của hoạt động áp dụng pháp luật, trong xét xử những vụ án hình sự của Tòa án nhân dân ở giai đoạn hiện nay, tập trung nghiên cứu làm rõ việc áp dụng pháp luật trong giai đoạn xét xử Tìm hiểu về những nguyên nhân chủ quan và khách quan chủ yếu
dẫn đến việc áp dụng pháp luật không đúng, không phù hợp, việc định tội danh và tuyên hình phạt chưa đúng người, đúng tội
Trang 9Vi ệt Nam hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, người viết đã sử dụng những phương pháp cơ bản Đầu tiên, để có tư liệu cho việc nghiên cứu, người viết đã sử dụng biện pháp sưu tầm, tìm kiếm tài liệu, phân loại tài liệu, tham khảo các thông tin qua báo đài, tạp chí, để chọn lọc, sắp xếp, cơ cấu cho phù hợp vào nội dung từng chương
Tiếp đó, trong quá trình viết cũng sử dụng các phương pháp phân tích, các biện pháp liệt kê, so sánh Đồng thời để tạo ra sự dễ dàng cho người đọc trong việc tiếp
cận luận văn, người viết cũng đã sử dụng các biện pháp tổng hợp, quy nạp, diễn
dịch để phân tích, chứng minh hay giải thích vấn đề Tất cả các phương pháp trên được trình bày đan xen trong luận văn, tùy từng nội dung mà áp dụng phương pháp cho phù hợp để tạo ra sự hài hòa, cân đối mạch lạc trong từng vấn đề của luận văn
5 B ố cục đề tài
Luận văn ngoài mục lục, lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,
lời cảm ơn, nội dung chính gồm có hai chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử vụ án
hình sự của Tòa án nhân dân
Chương 2: Thực trạng và hướng hoàn thiện về áp dụng pháp luật trong hoạt
động xét xử hình sự của Tòa án nhân dân Việt Nam hiện nay
Trang 10Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG
mối quan hệ khắng khít không thể tách rời nhau, vì khi có nhà nước xuất hiện thì
cần có pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, đảm bảo được trật tự an toàn
xã hội Nhà nước là tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, nhưng quyền lực đó
chỉ có thể được triển khai và phát huy có hiệu lực trên cơ sở pháp luật Pháp luật do nhà nước ban hành, mặc dù vậy nhưng khi được công bố thì nó lại trở thành hiện tượng có sức mạnh đặc biệt bắt buộc đối với mọi chủ thể trong đó có nhà nước Nhà nước nói chung và mọi cơ quan của nó nói riêng đều phải tôn trọng và tuân theo
mọi quy định của pháp luật, mặc dù chủ thể ban hành ra pháp luật là nhà nước Pháp
luật là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng cường quyền lực nhà nước, chỉ khi có pháp luật thì nhà nước mới thể hiện được bản chất và quyền lực của mình Vì mọi quy định của pháp luật điều là những quy tắc xử sự chung buộc mọi người phải tuân theo Pháp luật còn là công cụ quản lý xã hội, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và được ban hành ra nhằm mục đích giáo dục, răn đe, trừng phạt đối với những hành vi
vi phạm pháp luật, đảm bảo cho xã hội phát triển ổn định, hướng con người vào
cuộc sống tốt hơn, hướng tới xã hội không còn tội phạm, không có hành vi vi phạm pháp luật xảy ra
Ví dụ: Pháp luật hình sự cụ thể là Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, quy định rất chi tiết về từng loại tội phạm Nếu người nào
phạm tội thuộc vào một trong những điều luật đó thì sẽ bị trừng phạt thật nghiêm
khắc Điều 93 BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định về tội giết người1
1 Xem điều 93 BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009
, trong Điều luật quy định rất cụ thể và rõ ràng mức hình phạt dành cho loại
tội này là tử hình Điều luật quy định một hình phạt nghiêm khắc như vậy là nhằm giáo dục, răn đe con người và cho họ biết đó là việc làm sai trái, xâm phạm đến tính
mạng của người khác và phải bị nghiêm trị thích đáng Do đó, pháp luật có vai trò
to lớn trong quản lý nhà nước và quản lý xã hội Nhưng vai trò đó chỉ có thể trở
Trang 11Vi ệt Nam hiện nay
thành hiện thực khi tổ chức thực hiện tốt pháp luật và áp dụng pháp luật một cách đúng đắn, phù hợp Pháp luật không tự mình đi vào cuộc sống mà cần phải có sự tuyên truyền, phổ biến của cơ quan nhà nước để đưa pháp luật vào cuộc sống, giúp người dân hiểu rõ và nhận biết được tầm quan trọng của pháp luật Vì thế việc tổ
chức thực hiện và áp dụng pháp luật là một đòi hỏi khách quan của cơ quan quản lý nhà nước và là việc làm vô cùng quan trọng
Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, nhưng là hình thức
thực hiện pháp luật có những nét đặc thù Vì thực hiện pháp luật có bốn hình thức
gồm: Tuân thủ pháp luật là tuân theo những quy định của pháp luật do pháp luật đặt
ra và không làm những gì mà pháp luật cắm, như những quy định trong BLHS đó là
những điều cắm không được làm buộc mọi người phải tuân theo Chấp hành pháp
luật là việc mà chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình, bằng những hành động tích cực, đây là một dạng thực hiện nghĩa vụ của các chủ thể pháp luật
chấp hành đúng những quy định của pháp luật đặt ra, như pháp luật có quy định là con cái có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng ông bà, cha mẹ Sử dụng pháp luật là hình thức mà các chủ thể pháp luật thực hiện quyền, tự do pháp lý của mình, việc
thực hiên quyền, tự do pháp lý là những hành vi mà pháp luật cho phép họ thực hiện nên họ có quyền thực hiện hoặc không thực hiện tùy theo ý chí của họ Chẳng hạn như những quy định trong hiến pháp về quyền bầu cử và ứng cử (Điều 54 hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001) Trong ba hình thức của thực hiện pháp luật
vừa trình bày thì tất cả các chủ thể đều tham gia thực hiện được Còn đối với áp
dụng pháp luật là hình thức cuối cùng của thực hiện pháp luật, thì đòi hỏi khi tham gia thực hiện phải là những chủ thể có thẩm quyền của cơ quan nhà nước mới có
thể thực hiện được Vì áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền tổ
chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể Chính vì sự khác
biệt về chủ thể thực hiện giữa các hình thức của thực hiện pháp luật nên áp dụng pháp luật được xem là một hình thức có những nét đặc thù Và mục đích trực tiếp
của áp dụng pháp luật là đảm bảo cho những quy phạm pháp luật được thực hiện triệt để trong đời sống thực tế Nếu thiếu hình thức thực hiện này thì trong nhiều trường hợp các quy phạm pháp luật không thể bảo đảm trở thành hiện thực trong
thực tế Bởi vì có những trường hợp nếu không có sự tác động của nhà nước thì nhiều quy phạm pháp luật sẽ không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng
Trang 12Ví dụ: Quy định về vấn đề nộp thuế “nộp thuế là quyền và nghĩa vụ của công dân”, nguồn thu lớn nhất của ngân sách nhà nước là từ thuế Mặc dù luật đã có quy định rất cụ thể về nghĩa vụ nộp thuế của người dân và của các doanh nghiệp,
nếu vi phạm sẽ bị pháp luật nghiêm trị có trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự Nhưng không vì pháp luật đã có quy định như vậy mà vấn đề này không gặp khó khăn, thực tế hiện nay việc trốn thuế và kê khai thuế không đúng để trốn thuế vẫn còn rất nhiều Chính vì thế cần phải có sự tác động của nhà nước một cách tích cực hơn nữa trong hoạt động áp dụng pháp luật, để pháp luật ban hành ra mang lại hiệu
quả cao xử lý kịp thời đối với những truòng hợp vi phạm pháp luật Các cơ quan thanh tra phải thường xuyên tiến hành các hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực
hiện những quy định về thuế của các doanh nghiệp xem họ có thực hiện đúng những quy định của pháp luật về vấn đề kê khai thuế và có nộp thuế đúng quy định không
Do hiện nay có nhiều trường hợp các doanh nghiệp lợi dụng vào những “kẻ hở” của
luật để không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế hay thực hiện không đúng để nhằm trốn thuế gây thất thoát rất lớn cho ngân sách nhà nước Trường hợp ông Trần Văn Sơn giám đốc công ty cổ phần gạch ngói tuy-nen Thiện Tân đã bị truy tố về tội “trốn thuế” và chịu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 3 Điều 161 BLHS năm 1999
sửa đổi bổ sung năm 2009 theo như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh
Cửu, nhưng còn nhiều vấn đề chưa rõ nên ngày 29/7/2011 Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa để điều tra bổ sung2
Vi dụ: Một người phạm tội trộm cắp tài sản quy định tại Điều 138 BLHS năm
1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, thì trong quá trình xét xử đối với loại tội phạm này Tòa án sẽ căn cứ vào tất cả hành vi, dấu hiệu cấu thành tội phạm, để xem xét phân tích và đánh giá sự việc một cách rõ ràng, chính xác Sau đó đưa ra đánh giá đúng
và kết luận hợp lý để có được bản án kết tội đúng người, đúng quy định của pháp
Rõ ràng trường hợp trên khi chưa có sự quan tâm, tác động tích cực của nhà nước thì sẽ
có sai phạm xảy ra, sẽ có tr ường hợp không chấp hành và chấp hành không đúng quy định của pháp luật Do đó vấn đề áp dụng pháp luật là một phần rất quan trọng
Áp dụng pháp luật thường được thực hiện trong các trường hợp sau:
Th ứ nhất: Áp dụng pháp luật trong các trường hợp cần sử dụng biện pháp
cưỡng chế bằng các chế tài thích hợp đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật Như trường hợp căn cứ vào các chế tài hình sự, Tòa án áp dụng pháp luật để ra một
bản án đối với người có hành vi phạm tội
Trang 13Vi ệt Nam hiện nay
luật Khi đó việc áp dụng pháp luật trong tố tụng hình sự đã được thể hiện và áp
dụng để giải quyết vụ việc, có áp dụng pháp luật thì mới đưa ra được nhận xét đúng, khách quan trong quá trình nhìn nhận vấn đ ề khi giải quyết Thấy rằng khi áp dụng như vậy thì đã cá biệt hóa một quy phạm pháp luật cụ thể, áp dụng đối với cá nhân
cụ thể đó là với người phạm tội trộm cắp tài sản Điều luật được áp dụng để định tội danh và hình phạt giành cho người phạm tội
Nguyên nhân phải đặt ra nhiều quy phạm pháp luật trong mọi lĩnh vực của
cuộc sống và buộc mọi người phải tuân theo, đặc biệt trong lĩnh vực hình sự là
nhằm quản lý xã hội, giáo dục con người Do xã hội hội ngày càng phát triển, tình hình tội phạm cũng ngày càng tăng nếu luật hình sự không quy định các tội danh cụ
thể thì xã hội sẽ mất đi sự ổn định, tội phạm ngày càng nhiều mà không có quy
phạm pháp luật điều chỉnh Do đó BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 đã quy định cụ thể nhiều loại tội danh và có sự phân biệt nhiều nhóm tội khác nhau và
nếu đối tượng nào phạm tội thì sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc Có sự phân biệt rõ ràng giúp cho quá trình áp dụng khi xét xử vụ việc được dễ dàng, đem lại hiệu quả cao trong công tác xét xử Điều đó thể hiện được tính đặc tr ưng của pháp luật là công cụ quản lý xã hội Việc BLHS quy định những tội danh có ý nghĩa rất lớn, đối
với tội trộm cắp tài sản nói riêng và các tội danh khác nói chung đều nhằm mục đích răn đe và giáo dục con người, góp phần hạn chế tình hình tội phạm xảy ra trên
thực tế, giúp con người sống tốt, có nguyên tắc và đặc biệt tuân thủ pháp luật hơn
Th ứ hai: Áp dụng pháp luật khi quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không
mặc nhiên phát sinh, thay đổi hoặc chắm dứt nếu thiếu sự can thiệp của nhà nước Trong nhiều trường hợp các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân quy định trong
Hiến pháp và các đạo luật phải thông qua các quyết định cụ thể của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới nảy sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể đối với các
cá nhân cụ thể
Ví dụ: Điều 55 Hiến pháp 1992 quy định “lao động là quyền và nghĩa vụ của
công dân”, nhưng quan hệ pháp luật lao động với những quyền và nghĩa vụ lao động cụ thể giữa một công dân với một cơ quan, tổ chức nhà nước chỉ phát sinh khi
có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuyển dụng người công dân đó vào làm việc Hay trong lĩnh vực hình sự trường hợp có tội phạm xảy ra thì cần phải
có sự vào cuộc của cơ quan điều tra, để điều tra chứng minh là có tội phạm xảy ra
và ai chính là người phạm tội và Tòa án sẽ làm nhiệm vụ xét xử để xác định tội danh và khung hình phạt dành cho người phạm tội Việc tuyên án áp dụng hình phạt đối với người phạm tội của Tòa án là đã cụ thể những quy định trong BLHS, áp
Trang 14dụng vào thực tế đối với một cá nhân cụ thể lúc này nghĩa vụ pháp lý sẽ phát sinh,
cá nhân đó sẽ chịu trách nhiệm đối với hành vi vi phạm pháp luật của bản thân
Th ứ ba: Áp dụng pháp luật khi xảy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ pháp
lý giữa các bên khi các bên tham gia các quan hệ pháp luật mà họ không tự giải quyết được Trong trường hợp này, quan hệ pháp luật đã phát sinh nhưng quyền và nghĩa vụ của các bên không được thực hiện và có sự tranh chấp
Ví dụ: tranh chấp giữa các bên tham gia hợp đồng kinh tế hoặc hợp đồng dân
sự
Th ứ tư: Áp dụng pháp luật trong trườ ng hợp nhà nước thấy cần thiết phải
tham gia để kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên trong một số quan hệ pháp
luật, hoặc nhà nước phải xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại một số sự việc, sự
kiện kinh tế
Ví dụ: xác nhận di chúc, chứng nhận tài sản thế chấp hoặc trường hợp kiểm tra, giám sát hoạt động xét xử của Tòa án xem là có xảy ra sai phạm gì trong quá trình xét xử không, và hoạt động áp dụng pháp luật ở Tòa được thực hiện như thế nào có phù với tình hình thực tế không
Từ những vấn đề phân tích như trên thì áp dụng pháp luật được định nghĩa
như sau: “Áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực
nhà nước, được thực hiện thông qua những cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà
ch ức trách hoặc các tổ chức xã hội khi được nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hóa
nh ững quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức
c ụ thể 3
Ví dụ: Khi ban hành BLHS cơ quan nhà nước có thẩm quyền không phổ
biến, đưa những quy định trong BLHS vào cuộc sống đến với người dân để họ có
thể hiểu, thì có thể họ sẽ không biết và không bao giờ nghĩ việc không cứu giúp
”
Tóm lại từ định nghĩa trên ta có thể hiểu áp dụng pháp luật một cách ngắn
gọn như sau: áp dụng pháp luật là đưa pháp luật vào cuộc sống, cá biệt hóa các quy
phạm pháp luật vào từng trường hợp cụ thể trong tất cả các lĩnh vực hình sự, dân sự, hành chính, lao động do những chủ thể có thẩm quyền tiến hành Có quá trình áp
dụng pháp luật như vậy thì các quy phạm pháp luật được đặt ra, sẽ được đưa vào
cuộc sống một cách cụ thể, có hiệu quả và khả năng áp dụng cao trên thực tế Đó là trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tổ chức xã hội được trao quyền
3
Giáo trình Lý lu ận nhà nước và Pháp luật Trường ĐH luật Hà Nội 2004 Trang 460
Trang 15Vi ệt Nam hiện nay
người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, là phạm tội quy định tại Điều 102 BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009
1 Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính
m ạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết, thì bị
ph ạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm
2 Ph ạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:
a) Người không cứu giúp là người đã vô ý gây ra tình trạng nguy hiểm; b) Người không cứu giúp là người mà theo pháp luật hay nghề nghiệp có ngh ĩa vụ phải cứu giúp
3 N gười phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công vi ệc nhất định từ một năm đến năm năm
Pháp luật có sự quy định như vậy là để giáo dục con người về mặt đạo đức,
phải biết giúp đỡ khi người khác gặp khó khăn hoạn nạn, phải biết tương thân, tương ái và làm những gì trong khả năng.Từ đó cho thấy việc áp dụng pháp luật là
vô cùng quan trọng vì đây là quá trình đưa pháp luật vào cuộc sống đến với người dân, giúp họ hiểu rõ và nắm vững Có làm được điều đó thì pháp luật đặt ra mới có
hiệu quả và đảm bảo tính khả thi
1.1.1.2 Khái ni ệm áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử
Xét xử là chức năng của Tòa án và chức năng này được quy định tại Điều
127 hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 cụ thể như sau: “Toà án nhân
dân t ối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do lu ật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Vi ệt Nam” Vì thế ở nước ta Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử Theo
quy định tại Điều 1 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 thì “Tòa án xét xử
nh ững vụ án dân sự, hình sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế… Xét xử là
chức năng của Tòa án và Tòa án tiến hành hoạt động xét xử, để thực hiện chức năng
của mình Về cơ bản hoạt động xét xử không thể tự phát sinh, chỉ phát sinh khi có
chủ thể bên ngoài Tòa án yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án, vụ việc Trong lĩnh vực
tố tụng dân sự, việc giải quyết vụ án, việc dân sự của Tòa án chỉ phát sinh khi có yêu cầu của một bên đương sự Còn trong tố tụng hình sự cũng vậy việc giải quyết
vụ án hình sự chỉ phát sinh khi bên buộc tội truy tố bị can ra trước Tòa án, yêu cầu tòa xét xử Hoạt động xét xử nói chung mục đích cuối cùng muốn đạt được là tìm ra
sự thật khách quan, đem đến kết quả như mong muốn đối với những người tham gia vào hoạt động đó trong bất cứ lĩnh vực nào từ dân sự, hình sự, thương mại, lao
Trang 16động Muốn làm được điều đó trong hoạt động xét xử Tòa án phải thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng do pháp luật quy định khi tiến hành giải quyết một vấn đề nào đó Trong quá trình xét xử việc áp dụng pháp luật, áp dụng những quy định của
thủ tục tố tụng phải luôn chính xác và thể hiện được sự khách quan khi đánh giá, phân tích, nhận xét vụ việc mà Tòa án đang thụ lý giải quyết, tạo lòng tin cho mọi người đối với hoạt động xét xử, mang lại hiểu quả cao, kết quả cuối cùng mà Tòa án đem đến cho mọi người là đúng đắn, chính xác và hợp pháp
Tóm lại: Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử là việc làm của Tòa án,
áp d ụng những quy định của pháp luật, quy định về trình tự, thủ tục tố tụng vào
ho ạt động xét xử để tìm ra sự thật khách quan, từ đó cụ thể hóa những quy phạm pháp lu ật để áp dụng vào những hành vi vi phạm cụ thể
1.1.1.3 Khái ni ệm áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử vụ án hình
s ự của Tòa án nhân dân
Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (trích Điều 127 Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung 2001) Việc xét xử của Tòa án bao
gồm nhiều loại án khác nhau như: án hình sự, dân sự, lao động, hôn nhân gia đình…
ở mọi loại án khác nhau thì có cách áp dụng pháp luật để giải quyết không giống nhau Để giải quyết vụ án dân sự thì Tòa án áp dụng luật hình thức là Bộ luật tố
tụng dân sự 2004, luật nội dung là Bộ luật dân sự 2005 Còn trong lĩnh vự hình sự khi có vụ án xảy ra để làm sáng tỏ và định tội chính xác, tuyên hình phạt áp dụng đối với đúng người thì Tòa án cụ thể là nói đến Tòa án nhân dân, sẽ áp dụng luật nội dung là BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, và luật hình thức là Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003 để giải quyết vụ án Tòa án (Hội đồng xét xử) sẽ đưa những quy định về nội dung và hình thức của luật áp dụng vào quá trình giải quyết vụ án, làm rõ mọi vấn đề có liên quan đến vụ án hình sự mà Tòa án nhân dân đang thụ lý
và giải quyết
Đối với vụ án hình sự khi đưa ra tòa xét xử thì cũng đã qua nhiều giai đoạn
mà Tòa án cần phải làm như là xem xét và thụ lý hồ sơ vụ án Phải xem án đó có thuộc thẩm quyền xét xử của tòa mình không, nếu thuộc thẩm quyền thì tiến hành
thụ lý vụ án đó, không thuộc thẩm quyền của Tòa án mình thì chuyển vụ án theo quy định Điều 174 BLTTHS 2003, sau đó là đến giai đoạn chuẩn bị xét xử và xét
xử Ở mỗi giai đoạn BLTTHS năm 2003 đều có quy định trình tự, thủ tục một cách
cụ thể Tòa án phải áp dụng một cách đúng đắn những quy định đó của pháp luật vào quá trình xét xử, để vụ án nhanh chóng được làm sáng tỏ đem lại công bằng cho người bị hại Đối với vụ án hình sự khi giải quyết phải vận dụng tất cả những quy định của pháp luật có liên quan đến vụ án để đưa vào giải quyết, đó là việc làm linh
Trang 17Vi ệt Nam hiện nay
hoạt áp dụng pháp luật một cách triệt để Trong quá trình xét xử vụ án hình sự của Tòa án nhân dân những án nhỏ, ít nghiêm trọng thì không đáng kể có thể ít được sự quan tâm của dư luận xã hội, nhưng đối với những án lớn đặc biệt nghiệm trọng thì
dư luận xã hội rất quan tâm, xem việc xét xử và kết tội có đúng và hợp lý không,
diễn biến trong suốt quá trình làm việc của hội đồng xét xử có đúng quy định của pháp luật không, đó là vấn đề quan trọng Chính vì thế khi giải quyết án hình sự Tòa
án cần làm đúng theo những quy định của pháp luật và BLTTHS năm 2003, đưa pháp luật áp dụng vào quá trình giải quyết, phân tích, đánh giá tình tiết sự việc một cách rõ ràng để đi đến kết luận định tội chính xác, khách quan
Ví dụ: Tai nan giao thông đường Láng- Hòa Lạc làm chết hai học sinh lớp 9
là Phạm Anh Thư và Phạm Phương Linh xả y ra vào cuối năm 20014
Từ những vấn đề nói trên áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử vụ án hình sự của Tòa án nhân dân được định nghĩa như sau: Áp dụng pháp luật trong
ho ạt động xét xử vụ án hình sự của Tòa án nhân dân là hoạt động của Tòa án nhân dân di ễn ra tại phiên tòa, nhằm áp dụng những quy định của pháp luật, quy định
c ủa BLTTHS năm 2003 vào quá trình phân tích, xem xét, đánh giá những tình tiết
Khi phiên tòa phúc thẩm lần ba đang diễn ra thì phải tạm dừng bất thường, vì lý do là bà Phạm Phương Dung mẹ của Phạm Phương Linh không nhận đư ợc giấy triệu tập của Tòa
án gửi trong khi đó bà là người quan trọng, là người bị hại và chính là mẹ ruột của
nạn nhân sự có mặt của bà tại phiên tòa là hết sức quan trọng và cần thiết trong việc
giải quyết vụ án
Trong ví dụ trên đã thấy được sự sơ xuất của Tòa án trong việc áp dụng pháp luật, theo quy định tại Điều 183 BLTTHS 2003 “ Căn cứ vào quyết định đưa
v ụ án ra xét xử, Thẩm phán triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa” Điều
luật quy định là phải triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa trước ngày
diễn ra phiên tòa, nhưng ở đây đến ngày phiên tòa diễn ra mà bà Dung vẫn chưa
nhận được giấy triệu tập Điều này chứng tỏ sự làm việc thiếu trách nhiệm của Tòa
án, của Thẩm phán, từ đó mới gây ra những sai sót không đáng có làm cho vụ án kéo dài gây mất thời gian Do đó việc áp d ụng pháp luật trong hoạt động xét xử vụ
án hình sự của Tòa án nhân dân là rất cần thiết và quan trọng, nếu làm tốt điều đó
mọi việc sẽ nhanh chóng sáng tỏ tuyên hình phạt và định tội đúng người, không gây
ra oan sai, không làm mất lòng tin của nhân dân đối với pháp luật nhất là lòng tin đối với Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử ở nước ta
4Tai nạn giao thông trên đường Láng Hòa Lạc - Việt Báo
www.vietbao.vn/tp/Tai-nan-giao-thong duong-Lang-Hoa-Lac/102886/ truy cập ngày 9/2/2012.
Trang 18c ủa vụ án để làm sáng tỏ sự thật khách quan, giúp cho vụ án được giải quyết nhanh chóng, trên cơ sở đó áp dụng hình phạt đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
1.1.2 Đặc điểm của việc áp dụng pháp luật
1.1.2.1 Đặc điểm chung
Áp dụng pháp luật là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay tổ
chức xã hội được trao quyền, nên có những đặc điểm như sau:
Th ứ nhất, áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức, quyền lực nhà nước
Nếu chúng ta quan niệm thực hiện pháp luật có bốn hình thức là tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật thì chỉ có duy nhất áp dụng pháp luật là hình thức luôn luôn thể hiện tính tổ chức, quyền lực nhà nước Điều đó được thể hiện qua chủ thể tiến hành, trình tự, thủ tục tiến hành
hoạt động áp dụng pháp luật và kết quả của quá trình áp dụng pháp luật Cụ thể:
Tính quyền lực: Hoạt động áp dụng pháp luật chỉ do các cơ quan, tổ
chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tiến hành và mỗi chủ
thể đó cũng chỉ được phép áp dụng pháp luật trong một phạm vi nhất định theo quy định của pháp luật
Ví dụ: Trong hệ thống các cơ quan, tổ chức nhà nước thì chỉ Toà án mới có quyền xét xử để định tội và tuyên hình phạt đối với người phạm tội Tòa án thụ lý nhiều loại án khác nhau như: án hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, lao động… Đối
với mỗi loại án khác nhau khi thụ lý giải quyết luật áp dụng lại không giống nhau, như trong quá trình giải quyết vụ án hình sự thì luật hình thức được áp dụng là BLTTHS, còn đối với vụ án dân sự thì lại áp dụng luật hình thức của Bộ luật tố tụng dân sư Mặc dù cùng là hoạt động áp dụng pháp luật và cùng là những chủ thể có
thẩm quyền áp dụng pháp luật nhưng chỉ được thực hiện trong phạm vi nhất định do pháp luật quy định
Trong quá trình áp dụng pháp luật, chủ thể có thẩm quyền áp dụng nhân danh quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để ban hành những mệnh
lệnh, quyết định có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện đối với các tổ
chức và cá nhân có liên quan Các mệnh lệnh, quyết định này luôn thể hiện ý chí đơn phương của chủ thể có thẩm quyền áp dụng mà không phụ thuộc vào ý chí của
chủ thể là đối tượng áp dụng Tuy nhiên, ý chí đơn phương của chủ thể có thẩm quyền không thể là ý chí cá nhân, tùy tiện của người áp dụng mà phải là ý chí được xây dựng trên cơ sở pháp luật, căn cứ vào pháp luật và phù hợp với pháp luật
Trang 19Vi ệt Nam hiện nay
Ví dụ: Khi xét xử vụ án “Lê Văn Luyện cướp tiệm vàng Ngọc Bích5
Tính tổ chức: Áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức rất cao vì
nó vừa là hình thức thực hiện pháp luật vừa là hình thức nhà nước tổ chức cho các
chủ thể thực hiện các quy định của pháp luật Chính vì áp dụng pháp luật là hình
”
Mặc
dù khi tuyên án đối với Luyện là dựa vào ý chí đơn phương của Hội đồng xét xử để đưa ra kết luận cuối cùng đối với luyện là 18 năm tù, nhưng ý chí đơn phương đó
cũng xuất phát từ những quy định của pháp luật, từ cái nhìn khách quan và toàn
diện trong quá trình đánh giá tình tiết của vụ án Tất cả đều phải được xây dựng trên
cơ sở pháp luật thì Hội đồng xét xử mới có thể đưa ra bản án kết tội cuối cùng đối
với Luyện Do Luyện là người chưa thành niên khi thực hiện hành vi chỉ mới 17
tuổi vài tháng, dù đã phạm tội đăc biệt nghiêm trọng và có tính nguy hiểm cao cho
xã hội nhưng hình phạt đối với Luyện vẫn là phạt tù có thời hạn, điều này căn cứ
vào Điều 34, 35 BLHS “không áp dụng hình phạt tù chung thân và tử hình đối với
người chưa thành niên phạm tội” và khoản 1 Điều 74 BLHS “Đối với người từ đủ
16 tu ổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình
ph ạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười tám năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp
d ụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định” Do đó khi áp dụng
pháp luật nói là dựa trên ý chí đơn phương của chủ thể có thẩm quyền nhưng đều
phải dựa trên quy định của pháp luật để thực hiện
Các mệnh lệnh, quyết định áp dụng pháp luật được nhà nước bảo đảm
thực hiện bằng các biện pháp mang tính quyền lực nhà nước Sau khi ban hành ra các mệnh lệnh, quyết định áp dụng pháp luật, các chủ thể có thẩm quyền sẽ công bố cho đối tượng áp dụng để họ biết mà thực hiện Đối với các quyết định cụ thể hoá quyền pháp lý cho các chủ thể thì đương nhiên họ sẽ tự giác thực hiện Còn đối các quyết định cụ thể hoá nghĩa vụ pháp lý cho các chủ thể thì có thể có hai trường hợp
xảy ra, một là các chủ thể tự giác thực hiện mà không cần đến sự cưỡng chế của nhà nước, hai là chủ thể không tự giác thực hiện các mệnh lệnh, quyết định đó và các
chủ thể có thẩm quyền phải cưỡng chế thi hành để bảo đảm cho các mệnh lệnh, quyết định đó được thực hiện nghiêm chỉnh Từ những vấn đề phân tích trên cho
thấy hoạt động áp dụng pháp luật mang tính quyền lực rõ nét, thể hiện ý chí của nhà nước, ý chí của chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật trong khi ra quyết định hay tuyên bản án kết tội đối với người phạm tội, nhưng tất cả những điều đó phải
dựa trên cơ sở những quy định của pháp luật
5Vụ án Lê Văn Luyện giết người cướp tiệm vàng ở Bắc Giang
www.24h.com.vn/xet-xu-vu-an-le-van-luyen-c51e2018.html, truy cập ngày 9/2/2012
Trang 20thức đặc thù của thực hiện pháp luật nên đòi hỏi phải có tính tổ chức, để việc áp
dụng pháp luật trên thực tế mang lại hiệu quả, phải có tính tổ chức thì sự phân công,
phối hợp trong quá trình làm việc của các chủ thể có thẩm quyền áp dụng của nhà nước mới được rõ ràng không có sự nhập nhằng, phải có sự phân công và phối hợp khi làm việc theo đúng trình tự pháp luật đã quy định Vì thế, hoạt động này phải được tiến hành theo những điều kiện, trình tự, thủ tục rất chặt chẽ do pháp luật quy định Trình tự, thủ tục này thường khác nhau trong các trường hợp áp dụng pháp
luật khác nhau tùy theo quy định cụ thể của pháp luật, chẳng hạn như trình tự thủ
tục quy định về việc giải quyết vụ án hình sự khác với vụ án dân sự, hay những quy định về thi hành án dân sự cũng khác với quy định về thi hành án hình sự Từ
những vấn đề phân tích trên cho thấy áp dụng pháp luật là một hoạt động có tính tổ
chức
Th ứ hai, áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với các quan h ệ xã hội hay là hoạt động nhằm cá biệt hoá các quy phạm pháp luật hiện
hành vào những trường hợp cụ thể, đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể
Các quy phạm pháp luật là những quy tắc xử sự chung nên không chỉ rõ
chủ thể cụ thể và trường hợp cụ thể cần áp dụng Khi một quy phạm nào đó được áp
dụng vào việc giải quyết một vụ việc thực tế của một chủ thể cụ thể thì có nghĩa là quy phạm đó đã được cá biệt hoá vào trường hợp của chủ thể đó Tuy nhiên, các quy phạm được áp dụng vào việc giải quyết các vụ việc thực tế, cụ thể hay được cá
biệt hoá phải là các quy phạm pháp luật hiện hành hay các quy phạm đang còn hiệu
lực pháp lý Vì vậy, khi tiến hành áp dụng pháp luật, chủ thể có thẩm quyền không
thể lựa chọn và áp dụng các quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực
Ví dụ: Hình phạt tử hình đã tuyên với Nguyễn Đức Nghĩa trong vụ án “Giết người và Cướp tài sản6
Tóm lại các đặc điểm trên làm cho áp dụng pháp luật khác hoàn toàn với các hình thức thực hiện pháp luật khác, bởi lẽ, chủ thể của các hình thức tuân theo, thi hành, sử dụng pháp luật có thể là bất kỳ tổ chức, cá nhân nào trong xã hội; trong khi đó, chủ thể tiến hành áp dụng pháp luật chỉ có thể là chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Khi tuân theo, thi hành hoặc sử dụng pháp luật, các chủ thể
” Nghĩa đã phạm một lúc hai tội là giết người và cướp tài
sản quy định tại hai điều luật là Điều 93 và Điều 133 BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, hai điều luật trên đã được áp dụng để xét xử Nguyễn Đức Nghĩa đó
là đã cụ thể hóa quy phạm pháp luật vào áp dụng đói với cá nhân cụ thể
6Vụ án Nguyễn Đức Nghĩa giết người yêu và cướp tài sản
vtc.vn/7 /hom-nay-xet-xu-vu-nguyen-duc-nghia-cat-co-nguoi-yeu.htm, truy cập ngày 9/2/2012.
Trang 21Vi ệt Nam hiện nay
này có thể không cần đưa ra một quyết định pháp lý nào và cũng có thể không bị bắt
buộc phải theo những trình tự, thủ tục nhất định Còn khi áp dụng pháp luật, chủ thể
có thẩm quyền luôn bị bắt buộc phải tiến hành theo những điều kiện, trình tự, thủ
tục chặt chẽ do pháp luật quy định và bao giờ cũng phải đưa ra một quyết định áp
dụng pháp luật để giải quyết vụ việc mà mình thụ lý Có thể nói, áp dụng pháp luật bao hàm cả ba hình thức trên bởi lẽ, trong quá trình áp dụng pháp luật, chủ thể có
thẩm quyền cũng có thể bị cấm thực hiện những hành vi nhất định và họ phải tuân theo pháp luật, họ cũng phải thực hiện những nghĩa vụ pháp lý nhất định, tức là phải thi hành pháp luật, đồng thời có những quyền hạn nhất định tức là có thể sử dụng pháp luật
Ngoài các đặc điểm cơ bản trên, áp dụng pháp luật còn có một đặc điểm
nữa là: Áp dụng pháp luật là hoạt động đòi hỏi có tính sáng tạo, bởi vì các quy định
của pháp luật thường mang tính chất chung, khái quát Song các vụ việc xảy ra trong thực tế lại rất đa dạng, phong phú nên muốn đưa ra được một quyết định đúng đắn, chính xác, vừa thấu tình, vừa đạt lý để giải quyết vụ việc cần giải quyết thì đòi
hỏi phải có tính sáng tạo của người áp dụng Song sự sáng tạo trong quá trình áp
dụng pháp luật không phải là sự tùy tiện của chủ thể áp dụng mà hoàn toàn dựa trên
cơ sở các quy định của pháp luật và nằm trong khuôn khổ của các quy định ấy Sự sáng tạo ở đây là sáng tạo trong quá trình áp dụng pháp luật, nghĩa là sự vận dụng
kiến thức pháp luật một cách linh hoạt và sáng tạo của các chủ thể có thẩm quyền
áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ việc Vì pháp luật là bất biến, mặc
dù pháp luật có thể sửa đổi bổ sung nhưng việc sửa đổi bổ sung để làm hoàn thiện quy định của pháp luật không phải là việc làm đơn giản, và trong thời gian ngắn là hoàn thiện được mà đó là cả một quá trình tìm hiểu nghiên cứu của các nhà làm
luật Trong khi đó các quan hê xã hội luôn biến động từng ngày, nên có nhiều quan
hệ xã hội phát sinh mà chưa có quy phạm pháp luật điều chỉnh kịp thời, trường hợp này nếu chờ sửa đổi bổ sung luật thì không biết khi nào vấn đề mới được giải quyết, trong khi đó thực tế sự việc đang xảy ra và cần phải được giải quyết kịp thời Do đó trong quá trình làm việc, áp dụng pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền cần có sự linh hoạt và sáng tạo, để có thể vận dụng kiến thức pháp luật của bản thân vào xử lý
những sự việc xảy ra trên thực tế chưa có quy phạm pháp luật điều chỉnh, mà gần
giống hoặc có những tình tiết tương tự với sự việc đã xảy ra và pháp luật đã có quy định về sự việc đó để giải quyết vấn đề, nhưng như đã nói ở trên là phải trong khuôn khổ và quy định của pháp luật Điều này cho thấy đó là việc làm không đơn
giản đòi hỏi sự chuyên nghiệp và kiến thức về pháp luật, phải vô cùng sâu rộng thì
sự sáng tạo đó mới có hiệu quả và được ghi nhận
Trang 22Ví dụ: Trường hợp áp dụng pháp luật tương tự cũng thể hiện được sự sáng
tạo của các chủ thể có thẩm quyền áp dụng, vì trong trường hợp này để đưa ra quyết định áp dụng pháp luật tương tự thì các chủ thể có thẩm quyền đã vận dụng khả năng hiểu biết và vốn kiến thức của bản thân để phân tích, đánh giá tình tiết của sự
việc là xem xét sự việc đó có tính chất pháp lý hay không và phải chắc chắn là trong
hệ thống pháp luật không có quy phạm pháp luật nào điều chỉnh vụ việc, và cũng không có quy phạm pháp luật nào điều chỉnh vụ việc khác có nội dung tương tự như
vậy Để làm được điều đó đòi hỏi chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật phải có
vốn kiến thức pháp luật và có sự nhạy bén khả năng nhìn nhận, đánh giá vấn đề một cách hết sức linh hoạt Hay một trường hợp khác đơn giản hơn nói về tính sáng tạo
của chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật là trong quá trình xét xử vụ án hình
sự, khi tuyên án luật không quy định là mọi người trong phòng xử án phải ngồi hay đứng để nghe đọc bản án Do đó Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có thể cho mọi người tròng phòng xử án ngồi xuống khi nghe đọc bản án kết tội đối với bị cáo, đó cũng là
việc làm thể hiện tính sáng tạo trong quá trình áp dụng pháp luật (áp dụng pháp luật tương tự không áp dụng trong lĩnh vực hình sư ví dụ nhằm làm rõ về tính sáng tạo)
1.1.2.2 Đặc điểm của việc áp dụng pháp luật hình sự trong hoạt động xét x ử
Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử vụ án hình sự là để xác định tội
phạm và định khung hình phạt đối với từng loại tội phạm cụ thể Việc xác định tội
phạm và định khung hình phạt là mục đích hướng tới của quá trình xét xử khi Tòa
án thụ lý giải quyết một vụ án hình sự nào đó Khi có hành vi phạm tội xảy ra thì không chỉ những người trong cuộc mà những người ngoài và cả Hội đồng xét xử, đều mong muốn là sẽ xác định được đối tượng phạm tội và tuyên hình phạt thích đáng với hành vi đó trong quá trình xét xử Phải xác định được tội phạm và khung hình phạt đối với người có hành vi phạm tội là để trừng phạt, răn đe, giáo dục họ giúp cho họ hiểu và biết được đó là việc làm sai trái, nếu vi phạm sẽ bị sự trừng
phạt của pháp luật một cách nghiêm khắc Hình phạt nghiêm khắc nhất là bị tử hình
hoặc tù chung thân như vậy là đã tước đi quyền sống hoặc cách ly hoàn toàn cuộc
sống của họ với thế giới bên ngoài, hình phạt trên chỉ áp dụng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng Việc làm đó cũng có tác dụng là cảnh báo đối với tất cả mọi người, biết đâu là việc nên làm và không làm những điều phạm pháp, góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội, giảm bớt tình hình tội phạm, làm cho
xã hội phát triển ổn định
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự việc xác định tội phạm và định khung hình phạt là việc làm không đơn giản, phải tiến hành nhiều bước và qua
Trang 23Vi ệt Nam hiện nay
nhiều giai đoạn mới có thể đi đến kết luận đúng, vì thế cần phải có sự làm việc cực
lực của Tòa án (cụ thể là của Hội đồng xét xử), phải có kiến thức pháp luật và kinh nghiệm làm việc để áp dụng phù hợp những quy định của pháp luật vào quá trình xét xử, thì việc đưa ra bản án kết tội đối với tội phạm mới chính xác Để đi được đến giai đoạn xét xử thì vụ án hình sự đã qua các giai đoạn trước đó là khởi tố, điều tra, truy tố Nhưng khi đến xét xử lại còn các bước nhỏ nữa như là trước khi xét xử hay còn gọi là chuẩn bị xét xử, trong và cả sau khi xét xử đó là cả một quá trình dài, đều đòi hỏi sự hiểu biết và vận dụng kiến thức pháp luật về tố tụng hình sự một cách linh hoạt, đúng theo quy định để áp dụng giải quyết vụ án như: khi xét xử thì
phải trực tiếp bằng lời nói và phải diễn ra liên tục theo quy định tại Điều 184 BLTTHS năm 2003:
“Tòa án ph ải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe ý ki ến của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quy ền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ, người làm chứng, người giám định, xem xét vật chứng và nghe ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự Bản án chỉ được căn
c ứ vào những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa
Vi ệc xét xử phải tiến hành liên tục, trừ thời gian nghỉ” Hay là Thẩm phán
chủ tọa phiên tòa phải kiểm tra sự có mặt của đương sự cẩn thận để tránh xảy ra trường hợp xét xử một người, nhưng khi thi hành án lại là một người khác Đây là
việc làm quan trọng và cần thiết trong quá trình giải quyết vụ án Do đó để việc định tội và hình phạt được chính xác thì phải tuân theo trình tự do luật định
Quy trình áp dụng pháp luật trong hoạt động giải quyết án hình sự của tòa
án được thực hiện theo quy định của luật hình thức là Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS), và luật nội dung giải quyết vụ án hình sự phải là Bộ luật hình sự (BLHS) Luật quy định như thế là đối với các loại án khác nhau thì có quy định trình tự, thủ tục giải quyết không giống nhau, như vụ án dân sự thì có luật hình thức
là Bộ luật tố tụng dân sự 2004 Có quy định như vậy là do các loại án hình sự, dân
sự… có tính chất, tình tiết khác nhau, những vụ án dân sự mức độ nguy hiểm cho xã
hội không cao chỉ là những tranh chấp dân sự thông thường như tranh chấp về tài
sản, đòi bồi thường thiệt hại… sự việc xảy ra đơn giản việc giải quyết ít gặp khó khăn đối với án dân sự Còn án hình sự khi xảy ra các tình tiết rất phức tạp muốn làm sáng tỏ là cả một vấn đề, mức độ nguy hiểm cho xã hội cao , không còn là
những tranh chấp thông thường mà là sự thiệt hại về tính mạng, các tội phạm nguy
hiểm như xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người… Ngoài những tội kể trên thì còn rất nhiều tội mà BLHS
Trang 24có liệt kê rất đầy đủ Do đó khi xét xử thì phải căn cứ vào hành vi, tình tiết của vụ
án sau đó dựa vào những điều quy định trong BLHS để làm cơ sở xác định tội
phạm Phải có luật nội dung quy định cụ thể từng điều, khoản thì khi xét xử Hội đồng xét xử mới có luật để áp dụng vào quá trình giải quyết án, biết được hành vi
đó của người phạm tội là phạm vào tội gì được quy định tại điều mấy, khoản mấy
của BLHS
Do tính chất và tình tiết của một vụ án hình sự hoàn toàn khác với vụ án dân sự nên phải được giải quyết theo một trình tự khác, vì thế luật hình thức áp
dụng cho việc giải quyết vụ án hình sự là BLTTHS năm 2003 Đối với vụ án hình
sự khi xét xử luôn có sự tham gia của Viện kiểm sát đó là điều bắt buộc hoặc bị cáo
nếu bị tạm giam đến ngày xét xử thì sẽ có công an áp giải đến tòa hoặc đối với bị cáo nguy hiểm thì sẽ bị còng tay khi xử… đó là sự khác biệt giữa phiên tòa xét xử hình sự và các phiên tòa khác Trong các phiên tòa khác như phiên tòa xét xử vụ án dân sự, không nhất thiết phải có sự tham gia của Viện kiểm sát điều này không bắt
buộc vì mọi yêu cầu về quyền và nghĩa vụ đều được nguyên đơn trình bày rất rõ ràng, điểm khác biệt dễ nhận thấy nữa là hay trong phiên tòa dân sự không có bị cáo hay người bị hại mà chỉ có bị đơn và nguyên đơn Chính vì trình tự, thủ tục khác nhau nên luật áp dụng không thể giống nhau, do đó mà đối với vụ án hình sự khi xét
xử Tòa án phải áp dụng luật nội dung là BLHS và luật hình thức là BLTTHS
1.2 Cơ sở lý luận của việc áp dụng pháp luật hình sự
1.2.1 Nguyên t ắc của hoạt động áp dụng pháp luật
Áp dụng pháp luật là hoạt động rất quan trọng vì pháp luật tác động vào các quan hệ xã hội, vào cuộc sống và những quy phạm pháp luật đặt ra là để điều chỉnh
những mối quan hệ trong xã hội Để điều đó đạt được hiệu quả cao nhất thì chỉ khi
những quy định của pháp luật được áp dụng chính xác, triệt để Nhưng nếu chỉ thông qua các hình thức tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật thì sẽ có rất nhiều quy phạm pháp luật không được thực hiện hoặc thực hiện không chính xác Do đó cần phải có quá trình áp dụng pháp luật để đưa các quy định cụ
thể của pháp luật vào cuộc sống, giúp nhân dân hiểu rõ và nắm vững pháp luật Để
áp dụng pháp luật được chính xác và đạt hiệu quả cao cần tuân theo một số nguyên
tắc sau:
1.2.1.1 Phân tích đánh giá đúng, chính xác mọi tình tiết hoàn cảnh, điều
ki ện của vụ việc thực tế xảy ra
Đây là nguyên tắc cần thiết trong quá trình áp dụng pháp luật, vì chỉ khi có
hoạt động phân tích đánh giá đúng, chính xác mọi tình tiết của vấn đề thì vụ việc
mới được làm sáng tỏ Tòa án (Hội đồng xét xử) khi áp dụng pháp luật cần xem xét
Trang 25Vi ệt Nam hiện nay
tất cả những tình tiết của vụ việc, làm sáng tỏ những sự kiện có liên quan đến vụ án
dù là nhỏ để tránh trường hợp bỏ sót những tình tiết quan trọng Trong những trường hợp cần thiết, phải áp dụng những biện pháp chuyên môn đặc biệt như giám định để xác định đúng tính chất của sự kiện như: giám định tỷ lệ thương tật đối với
vụ án cố ý gây thương tích, giám định vật chứng, giám định ADN trong vụ án hiếp dâm… Khi tiến hành xét xử đối với bất cứ vụ án hình sự nào ngoài việc căn cứ vào
bản cáo trạng của Viện kiểm sát, Tòa án (Hội đồng xét xử) còn căn cứ vào những tình tiết, diễn biến của vụ án diễn ra tại tòa trong phiên xử và cả những chứng cứ thu thập được Hội đồng xét xử phải tiến hành phân tích, đánh giá trên mọi phương
diện để kết quả của hoạt động xét xử đem lại là đúng đắn
Ngoài việc xem xét các tình tiết thực tế cũng đòi hỏi phải nghiên cứu xác định vụ việc đó thật sự có ý nghĩa pháp lý hay không, vì pháp luật không thể được
áp dụng đối với những vụ việc không có đặc trưng pháp lý Đặc trưng pháp lý ở đây được hiểu là về chủ thể thực hiện hành vi phạm tội về độ tuổi, trạng thái tinh thần, hành vi đã thực hiện… phải xem xét ở mọi góc độ thì mới có thể đưa ra sự đánh giá đúng bản chất của vụ án Do đó điều quan trọng không chỉ là xác định những tình
tiết, sự kiện của sự việc mà còn phải đánh giá tầm quan trọng về mặt pháp lý của
nó
Đối với nguyên tắc này quá trình áp dụng pháp luật yêu cầu phải đạt được
một số vấn đề sau:
Nghiên cứu khách quan, toàn diện và đầy đủ những tình tiết của vụ việc
cần có sự nhìn nhận và đánh giá đúng vấn đề, để đem lại sự chính xác khi áp dụng pháp luật vào sự việc cụ thể;
Xác định đặc trưng pháp lý của sự việc;
Tuân thủ tất cả các quy định mang tính thủ tục gắn với mỗi loại vụ việc
1.2.1.2 Lưa chọn quy phạm pháp luật phù hợp và phân tích làm sáng
rõ n ội dung, ý nghĩa của quy phạm pháp luật đối với trường hợp cần áp dụng
Sau khi phân tích, xem xét đánh giá tình tiết của vụ việc một cách rõ ràng, xác định xong đặc trưng pháp lý thì cần phải lựa chọn quy phạm pháp luật để giải quyết vấn đề Muốn lựa chọn quy phạm pháp luật để giải quyết vụ việc, trước hết
cần xác định được ngành luật nào điều chỉnh vụ việc đó, sau mới đến lựa chọn quy
phạm pháp luật cụ thể thích ứng với vụ việc
Ví dụ: một người phạm tội giết người theo quy định tại Điều 93 BLHS năm
1999 sửa đổi bổ sung năm 20097
7 Xem điều 93 BLHS năm 1999 sửa đổi bổ xung năm 2009
Trường hợp này xác định ngay được ngành luật
Trang 26áp dụng là luật hình sự Khi lựa chọn quy phạm pháp luật áp dụng, phải tính đến
những biến đổi của pháp luật Quy phạm được lựa chọn phải có hiệu lực, nghĩa là được chọn từ các văn bản quy phạm pháp luật mà tại thời điểm xảy ra sự việc cần
áp dụng thì chúng đang có hiệu lực Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật
có quy định hiệu lực trở về trước (hiệu lực hồi tố), thì áp dụng theo quy định đó
Nếu gặp trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, thì áp dụng văn bản có giá trị pháp lý cao hơn hoặc văn bản được ban hành sau nếu do cùng một cơ quan ban hành Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng quy định của văn bản
mới Những cơ quan, cá nhân có thẩm quyền áp dụng pháp luật cần nắm vững
những quy định hiệu lực về thời gian, không gian và đối tượng áp dụng của văn bản quy phạm pháp luật
Tiếp theo cần làm sáng tỏ nội dung và ý nghĩa của quy phạm pháp luật được lựa chọn , điều đó đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật đúng đắn và chính xác Thêm vấn đề quan trọng là cán bộ có thẩm quyền áp dụng pháp luật, đặc biệt là
những cán bộ làm công tác xét xử trong ngành Tòa án (Thẩm phán) phải có sự đào
tạo pháp lý cần thiết, có kiến thức và có sự hiểu biết sâu rộng về pháp luật, thấy rõ
mối liên hệ giữa những quy phạm pháp luật và những hiện tượng xã hội, quan hệ
giữa các quy phạm trong hệ thống pháp luật
Tóm lại những điều cần đạt được ở nguyên tắc này là:
Lựa chọn đúng quy phạm pháp luật được trù tính cho trường hợp đó; Xác định quy phạm pháp luật được lựa chọn là đang có hiệu lực và không mâu thuẫn với các đạo luật và văn bản quy phạm pháp luật khác;
Xác định tính chân chính của văn bản quy chứa đựng quy phạm này;
Nhận thức đúng nội dung, tư tưởng của quy phạm pháp luật
1.2.2 Nh ững yêu cầu của việc áp dụng pháp luật hình sự trong hoạt động xét x ử
1.2.2.1 Tính h ợp Hiến
Áp dụng pháp luật là hoạt động đưa pháp luật, đưa những quy phạm pháp
luật cụ thể vào cuộc sống và cụ thể vào những trường hợp nhất định, của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay tổ chức xã hội được trao quyền đó là áp dụng pháp
luật nói chung Còn áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án là việc làm của Tòa án nhân dân nhằm đưa ra những quyết định, bản án chính xác áp dụng
với những đối tượng phạm tội, những người có hành vi vi phạm pháp luật cụ thể
Trang 27Vi ệt Nam hiện nay
Các bản án đã tuyên, quyết định do Tòa án đưa ra phải đúng với quy định của pháp
luật và phù hợp với Hiến pháp Vì pháp luật dựa trên nền tảng hiến pháp ban hành
ra, Hiến pháp là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, chỉ có Quốc hội mới có quyền
lập hiến Pháp luật là sự cụ thể hóa của Hiến pháp để áp dụng vào những trường
hợp trên thực tế Việc áp dụng pháp luật hình sự trong hoạt động xét xử của Tòa án
là để cụ thể hóa những quy định của BLHS vào các hành vi phạm tội cụ thể của
từng đối tượng, làm cho quá trình xét xử đạt hiệu quả xử đúng người, đúng tội, các
bản án Tòa án đã tuyên áp dụng khả thi vào thực tế Chính vì có sự phù hợp với
hiến pháp nên các bản án mà Tòa án đã tuyên đều được áp dụng, nếu không có sự phù hợp thì các văn bản luật và kể cả bản án kết tội của Tòa án đối với tội phạm cụ
thể, đều không có hiệu lực và không được đem ra áp dụng trên thực tế Vì khi trái
với quy định của hiến pháp sẽ bị Quốc hội bải bỏ những văn bản và quyết định đó,
theo quy định tại Điều 84 khoản 9 Hiến pháp 1992 sủa đổi bổ sung năm 2001 “Bãi
b ỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái
v ới Hiếp pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội.” Do đó tính hợp hiến rất quan
trọng đối với hoạt động áp dụng pháp luật và đối với hoạt động xét xử của Tòa án
cũng vậy
Ví dụ: Sự phù hợp giữa Hiến pháp và pháp luật dễ dàng nhận thấy nhất là trong các quy định của BLTTHS năm 2003, phần quy định các nguyên tắc của tố
tụng hình sự từ Điều 6 đến Điều 9 BLTTHS năm 2003 là sự cụ thể hóa các quy định
từ Điều 71 đến Điều 73 trong Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 20018
Khi xét xử vụ án hình sự muốn đạt được hiệu quả trong quá trình xét xử, thì đòi hỏi việc áp dụng pháp luật phải thể hiện được yêu cầu là chính xác và khách
Trang 28quan Yêu cầu trên được thể hiện thông qua hai nguyên tắc của Tố tụng hình sự là
“Tòa án xét xử tập thể và xét xử công khai”
Trước hết tìm hiểu về nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể được quy định tại
Điều 17 BLTTHS năm 2003 “Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số ” và
đây cũng là nguyên tắc hiến định được quy định tại đoạn 2 Điều 131 Hiến pháp năm
1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 Quy định nguyên tắc trên là nhằm đảm bảo việc xét xử được kh ách quan, mọi vấn đề trong quá trình giải quyết vụ án đều được quyết định theo đa số và thực hiện bằng cách biểu quyết Khi bản án được tuyên
phải có sự đồng thuận của tất cả mọi người trong Hội đồng xét xử, ý kiến của mọi người trong Hội đồng đều được đem ra xem xét và bàn bạc một cách cẩn thận để đi đến quyết định cuối cùng, ý kiến được nhiều người đồng tình sẽ được đem ra áp
dụng Tuy nhiên còn ý kiến thiểu số không vì vậy mà bị che lấp và bỏ đi “người có
ý ki ến thiểu số sẽ được trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ
sơ vụ án” (trích Điều 222 khoản 1 BLTTHS năm 2003)
Thứ hai là xét xử công khai được quy định tại Điều 18 BLTTHS năm 2003
“Vi ệc xét xử của Toà án được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham
d ự, trừ trường hợp do Bộ luật này quy định
Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục
c ủa dân tộc hoặc để giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì Toà án xét x ử kín, nhưng phải tuyên án công khai ”, và tại đoạn 1 điều 131 Hiến
pháp 1992 sửa đổi sung năm 2001 Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền Xã
hội chủ nghĩa (Điều 2 Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001), nên việc công khai hoạt động của nhà nước là một biện pháp bảo đảm pháp quyền dân chủ trong
xã hội Tòa án là một thiết chế dân chủ nên việc xét xử công khai là nguyên tắc quan trọng, Tòa án tiến hành xét xử công khai là tạo điều kiện phát huy dân chủ, thể
hiện sự khách quan, trung thực của hoạt động áp dụng pháp luật và công khai còn
có tác dụng là tuyên truyền, phổ biến pháp luật giúp nhân dân hiểu biết và có thêm
kiến thức về pháp luật, biết được hành vi nào là vi phạm pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân có thể tham dự phiên tòa và trực tiếp giám sát quá trình xử
án
Hai nguyên tắc trên đã thể hiện được tính chính xác, khách quan của việc áp
dụng pháp luật trong hoạt động xét xử Tạp thể tham gia xét xử, xét xử công khai và
tập thể cùng quyết định, là khi quyết định một vấn đề có nhiều ý kiến thì việc quyết định sẽ dẽ hơn vì có sự đánh giá và nhận xét từ nhiều phía, đối với vụ án cũng vậy
có sự xem xét, phân tích từ nhiều gốc độ thì việc đưa ra lời nhận xét cuối cùng, sẽ
có sự chính xác và khách quan hơn đối với cách nhìn cục bộ và suy nghĩ chủ quan
Trang 29Vi ệt Nam hiện nay
của một người Và do việc xét xử là nhằm định tội và tuyên hình phạt với một người
có hành vi vi phạm pháp luật hình sự, nên đòi hỏi tính chính xác và khách quan rất cao để đem lại kết quả đúng đắn, không gây ra oan sai, bỏ lọt tội phạm, tạo được lòng tin trong nhân dân, tin vào pháp luật là để bảo vệ lẽ phải
1.2.2.3 Tính công b ằng, bình đẳng
Sự công bằng, bình đẳng trong việc áp dụng pháp luật khi xét xử của Tòa
án là thể hiện được bản chất của nhà nước, là nhà nước của dân, do dân, vì dân mọi
việc làm đều hướng tới lợi ích của nhân dân, muốn đem lại công bằng và công lý cho xã hội vì Tòa án là sự hiện diện của công lý Tính công bằng và bình đẳng đó
được thể hiện trong Điều 52 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001“Mọi
công dân đều bình đẳng trước pháp luật” và được cụ thể hóa tại Điều 5 BLTTHS
năm 2003 “Tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng
trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần
xã h ội, địa vị xã hội Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật” Pháp
luật đã quy định về sự công bằng và bình đẳng rất rõ ràng, đòi hỏi trong hoạt động xét xử khi tiến hành giải quyết một vụ án hình sự cụ thể, Tòa án (Hội đồng xét xử)
phải làm được điều đó phải xử sự một cách công bằng, công minh, đối xử với mọi người như nhau không được có sự phân biệt người có chức vụ quyền hạn hay người bình thường khi họ đã phạm tội quy định trong BLHS, thì bất cứ ai đều bị pháp luật
trừng phạt nghiêm khắc Tính công bằng, bình đẳng trong hoạt động áp dụng pháp
luật của Tòa án còn được thể hiện qua thái độ của Hội đồng xét xử đối với các bên trong vụ án, luôn thể hiện vai trò là người trung lập trong hoạt động xét xử để đem đến một kết luận công bằng đúng người, đúng tội, không được có thái độ thiên lệnh
về bên nào trong suốt quá trình diễn ra vụ án, phải giữ được thái độ công bằng của
cả Hội đồng xét xử Để tạo được niềm tin vững chắc cho mọi người đối với hoạt động xét xử của Tòa án, tin vào kết luận cuối cùng mà Tòa án đưa ra là đúng và phù
hợp với những quy định của pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng
1.2.2.4 Tính độc lập
Yêu cầu về tính độc lập của hoạt động áp dụng pháp luật được thể hiện trong nguyên tắc của Tố tụng hình sự, đây là nguyên tắc quy định tại Điều 16
BLTTHS “Khi xét x ử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập chỉ tuân theo pháp luật ”
Ngoài ra cũng được quy định trong Điều 130 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 Hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước, mọi phán quyết của Tòa án ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Do đó điều quan trọng trong quá trình xét
Trang 30xử là phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Muốn làm được điều đó thì khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm phải độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Độc lập ở đây là sự độc lập giữa Thẩm phán và Hội thẩm, khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải độc lập với nhau vì Hội thẩm là đại diện của nhân dân để tham gia vào hoạt động xét xử của Tòa án, nói lên tiếng nói nguyện vọng của nhân dân Khi xét xử không chỉ cần m ột Thẩm phán có kiến thức pháp luật uyên bác mà cần có thêm Hội thẩm đứng ở gốc độ của người tham gia tố tụng để xem xét, đánh giá sự việc như về môi trường sống của bị cáo, để đưa ra những ý kiến cho Thẩm phán tham khảo khi vào phòng nghị án, phải có sự độc lập thì Hội thẩm
mới phát huy hết vai trò của mình, không có sự ỷ lại, phụ thuộc vào Thẩm phán trong việc đưa ra ý kiến đánh giá đối với vụ án Trong quá trình xét xử Thẩm phán
và Hội thẩm phải tự dựa vào bản lĩnh chính trị, trình độ nghề nghiệp, kiến thức và
sự am hiểu về pháp luật để đưa ra ý kiến của riêng mình trong việc giải quyết vụ án,
để từ đó đưa ra bản án áp dụng đối với bị cáo đúng đắn Sự độc lập còn là độc lập đối với cơ quan, tổ chức khác khi xét xử chỉ tuân theo pháp luật và theo những quy định của pháp luật mà ra phán quyết cuối cùng, không chịu sự ảnh hưởng và chi
phối của bất cứ cá nhân, cơ quan hay tổ chức nào, kể cả Tòa án cấp trên mọi vấn đề
chỉ tuân theo trình tự và thủ tục do luật định Sự độc lập trong hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án là rất cần thiết, vì xét xử là hoạt động nhằm tìm ra sự thật tìm
ra tội phạm Vì thế nếu hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án mà bị chi phối bị ảnh hưởng từ bên ngoài thì sự thật sẽ không được tìm ra, tội phạm không được
chứng minh
Ví dụ: Đối với vấn đề áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử một vụ án hình sự cụ thể của Tòa án nhân dân, tính độc lập được thể hiện rõ nét nhất trong quá trình nghị án của Hội đồng xét xử được quy định tại Điều 222 BLTTHS năm 2003 Khoản 1 Điều 222 quy định như sau “Chỉ Thẩm phán và Hội thẩm mới có quyền
ngh ị án Các thành viên của Hội đồng xét xử phải biểu quyết tất cả các vấn đề của
v ụ án bằng cách biểu quyết theo đa số từng vấn đề một Thẩm phán biểu quyết sau cùng Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án” Các vấn đề của vụ án đều đem ra xem xét và tất cả
thành viên Hội đồng xét xử phải đưa ra ý kiến, nhận xét một cách độc lập khách quan dựa trên nền tảng kiến thức pháp luật, kinh nghiệm sống và sự hiểu biết của
bản thân về vụ án Thẩm phán sẽ là người đưa ra ý kiến sau cùng để tạo sự độc lập
về suy nghĩ đối với Hội thẩm, để Hội thẩm tự nêu lên quan điểm của mình và đưa ra
lời nhận xét khách quan, trung thực không bị chi phối từ ý kiến mà Thẩm phán đã
Trang 31Vi ệt Nam hiện nay
trình bày, có trường hợp Hội thẩm nghĩ rằng Thẩm phán luôn đúng vì đó là người được đào tạo chuyên môn có kiến thức pháp luật nên ý kiến của Thẩm phán sẽ đúng Do đó họ sẽ không đưa ra ý kiến của bản thân, không nêu lên quan điểm đối
với vụ án mà cứ theo ý kiến Thẩm phán đưa ra, điều đó làm cho bản án kết tội đối
với bị cáo mất đi sự khách quan và tính độc lập của Hội đồng xét xử trong việc áp
dụng pháp luật cũng mất đi Sau cùng tất cả những ý kiến Hội đồng xét xử đưa ra
sẽ được các thành viên biểu quyết và lấy ý kiến được nhiều người đồng ý để làm quyết định sau cùng Ý kiến của thành viên thiểu số mặc dù không không được đem
ra áp dụng trong bản án được tuyên nhưng vẫn được ghi nhận và đưa vào hồ sơ vụ
án Đó là sự độc lập trong hoạt động áp dụng pháp luật của Hội đồng xét xử, độc lập trong cách suy nghĩ nhìn nhận vấn đề, mỗi người đều có quan điểm của bản thân và được nêu ra trong quá trình nghị án, từ đó bàn bạc đưa ra quyết định sau cùng là đúng đắn và chính xác đối với người bị áp dụng bản án đó (bị cáo)
Tóm lại những yêu cầu của việc áp dụng pháp luật hình sự trong hoạt động xét xử vừa trình bày trên là rất cần thiết, để việc áp dụng pháp luật đạt hiệu quả cao
và có tính khả thi khi áp dụng vào thực tế thì cần đạt được những yêu cầu trên
Trang 32Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN VỀ
2.1 Th ực trạng áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử vụ án hình sự của Tòa án nhân dân Vi ệt Nam hiện nay
2.1.1 Tình hình vi ệc áp dụng pháp luật hình sự trong hoạt động xét xử
c ủa Tòa án hiện nay
Hiện nay trong công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần nghị quyết số NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng về “ Một số nhiệm vụ
08-tr ọng tâm công tác cải cách tư pháp trong thời gian tới ”, và nghị quyết số 49
-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về “ Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020” Thì hoạt động tư pháp đã trở thành một hoạt động hết sức quan trọng của Nhà nước ta, thể hiện vai trò mới, những đòi hỏi mới của lĩnh vực hoạt động đó
Hoạt động tư pháp là hoạt động của các cơ quan Nhà nước nhằm duy trì và bảo vệ công lý và trật tự pháp luật, góp phần bảo vệ các thành quả của cách mạng, bảo vệ
chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm các quyền
và lợi ích hợp pháp và chính đáng của công dân Do đó hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân cũng rất được trú trọng và quan tâm, để việc xét xử đem lại kết quả đúng đắn vì Tòa án được xác định là trung tâm của hệ thống Tư pháp, nên việc áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hình sự cũng là vấn đề đặc biệt được quan tâm Hoạt động xét xử vụ án hình sự của Tòa án mục đích cuối cùng là xác định tội danh và định khung hình phạt đối với đúng người, đúng tội, đem lại những phán quyết công bằng cho xã hội Trong tất cả các bản Hiến pháp đều quy định “Tòa án
là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử”, do là duy nhất nên mọi hoạt động cần
có sự chính xác, khách quan mới tạo được lòng tin của nhân dân đối với pháp luật, tin vào công lý
Áp dụng pháp luật trong hoạt động giải quyết án hình sự là hoạt động thường xuyên của Tòa án nhân dân trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ
của mình do Hiến pháp quy định Áp dụng pháp luật trong hoạt động giải quyết án hình sự của Tòa án mang những đặc điểm chung của việc áp dụng pháp luật, bên
cạnh đó cũng có những đặc điểm riêng9
9 Xem lại phần 1.1.2.2 trang 13 chương 1 của luận văn
Quy trình áp dụng pháp luật khi giải quyết
vụ án hình sự của Tòa án được thực hiện theo quy định của BLTTHS và luật nội
Trang 33Vi ệt Nam hiện nay
dung là BLHS Việc áp dụng pháp luật của Tòa án luôn là mối quan tâm của xã hội, đặc biệt khi chúng ta đang tiến hành cải cách tư pháp nhằm thực hiện tốt công cuộc đổi mới, xây dựng nhà nước pháp quyền Do tính chất quan trọng nên hoạt động áp
dụng pháp luật trong những năm vừa qua mang lại những kết quả như sau:
Thành T ựu
Thực tế việc xét xử các vụ án hình sự ở các cấp đã có những tiến bộ nhất định, điều này thể hiện ở chổ mặc dù số lượng án hình sự phải thụ lý giải quyết không giảm nhưng tốc độ giải quyết tại cấp sơ thẩm đã nhanh chóng hơn, lượng án
tồn động ngày càng giảm Đặc biệt chất lượng xét xử từng bước được nâng cao, số lượng án bị kháng cáo, kháng nghị có chiều hướng thuyên giảm so với thời gian trước Số lượng án bị xét xử phúc thẩm theo hướng không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị hoặc giải quyết khác với yêu cầu của kháng cáo, kháng nghị chiếm tỷ lệ cao hơn so với số lượng án bị sửa, bị hủy theo yêu cầu của kháng cáo, kháng nghị Điều đó được thể hiện cụ thể qua những số liệu thực tế mà ngành Tòa án các tỉnh đã đạt được trong những năm qua, cụ thể như sau:
Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai: Năm 2011, toàn ngành Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã thụ lý 13.316 vụ án các loại và đã giải quyết 12.592 vụ, đạt tỷ lệ 94,56% So với cùng kỳ năm 2010, thụ lý tăng 1928 vụ và giải quyết tăng 2.274 vụ (năm 2010 thụ lý 11388 vụ, giải quyết 10.318 vụ) Riêng Toà án nhân dân cấp tỉnh
thụ lý 1.613 vụ án các loại và đã giải quyết 1.435vụ, đạt tỷ lệ 88,96% So với cùng
kỳ năm 2010, thụ lý tăng 333 vụ, giải quyết tăng 292 vụ Trong đó án sơ thẩm thụ lý
651 vụ, giải quyết 575 vụ; phúc thẩm thụ lý 936 vụ, giải quyết 836 vụ, giám đốc thẩm thụ lý 26 vụ, giải quyết 24 vu10
Tòa án nhân dân huyện Thuận An: Trong 5 năm qua, đơn vị đã thụ lý 4.664 vụ án các loại, giải quyết 4.398 vụ, đạt tỷ lệ 94,2% Cụ thể trong năm 2009
giải quyết 1.299/1340 vụ đạt tỷ lệ 97% Về chất lượng xét xử cũng đạt hiệu quả rất cao, trong tổng vụ việc đã giải quyết có 458 vụ có kháng cáo, 07 vụ có kháng nghị, trong số án đã xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm có 31 vụ bị sửa do sai chiếm tỷ lệ
̣ Đó là tình hình chung đối với hoạt động xét
xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đạt được trong năm 2011, thông qua những
số liệu đó cho thấy trong hoạt động xét xử của tỉnh Đồng Nai đã có những bước tiến
bộ rõ rệt so với năm trước, số án thụ lý tăng nhưng kết quả giải quyết án cũng tăng mang lại những tích cực đối với hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án tỉnh trong
hoạt động xét xử án
10
Tham lu ận về công tác xét xử của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
Nguồn: Tòa án n h ân dân tỉn h Đồng Nai, www.toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?p, truy c ập ngày 20/4/2012
Trang 340,7%, huỷ án 14 vụ chiếm tỷ lệ 0,3%, riêng trong năm 2009 án bị hủy 4 vụ (tỷ lệ 0,3%), án bị sửa 9 vụ (tỷ lệ 0 ,69%) Trong Trong 05 năm, đơn vị đã giải quyết 895/954 vụ án tăng thẩm quyền các loại, đạt tỷ lệ 93,8%, trong đó án hình sự giải quyết 358/377 vụ, dân sự (chung) 537/577 vụ Chất lượng xét xử được bảo đảm, không bỏ lọt tội phạm, không xét xử oan sai Trong số án đã giải quyết có 103 vụ có kháng cáo, 02 vụ có kháng nghị, số án đã có kết quả phúc thẩm, giám đốc thẩm án
có 01 vụ bị hủy do sai (chiếm tỷ lệ 0,1%), 05 vụ bị sửa do sai (chiếm tỷ lệ 0,55%) Đặc biệt với công tác xét xử án hình sự, các vụ án được đưa ra xét xử kịp thời, tuyệt đối không để án quá hạn luật định, Hội đồng xét xử đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, thận trọng xem xét, áp dụng pháp luật đúng đắn trong từng vụ án cụ thể để quyết định hình phạt chính xác, nghiêm minh Vì vậy mà các bản án đã tuyên được
dư luận đồng tình ủng hộ, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, đồng thời mang tính răn đe giáo dục và phòng ngừa chung Tòa án nhân dân huyện Thuận An đã tổ chức được 92 phiên tòa lưu động xét xử các bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản, tổ chức vận chuyển, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy, cố ý gây thương tích, chống người thi hành công vụ Những vụ án điểm, nghiêm trọng đều được đưa ra xét xử nhanh chóng, kịp thời, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ chính trị tại địa phương11
Tòa án nhân dân Thị xã Tân Châu: Theo báo cáo, năm 2011 Tòa án thị
xã Tân Châu giải quyết được 535 vụ án các loại trong tổng số 565 vụ đã thụ lý, đạt 94,69% So cùng kỳ năm 2010, án thụ lý tăng 64 vụ, án giải quyết tăng 131 vụ Đáng chú ý là tỷ lệ các bản án, quyết định bị huỷ, sửa do nguyên nhân chủ quan đều
giảm so với cùng kỳ năm trước Trong số các vụ án Tòa án cấp trên xét xử phúc
thẩm, có 17 vụ y án, sửa án 06 vụ, đình chỉ xét xử phúc thẩm 04 vụ, hủy 08 vụ (trong đó, có 02 vụ bị hủy do lỗi chủ quan, chiếm tỉ lệ 0,37%) So cùng kỳ năm
2010, án bị hủy do lỗi chủ quan giảm 03 vụ Trong đó, Hội thẩm nhân dân trực tiếp tham gia xét xử 328 vụ Ngoài ra, Tòa án thị xã Tân Châu còn chủ động phối hợp
chặt chẽ với các cơ quan tiến hành tố tụng, chính quyền địa phương, đã đưa ra xét
xử lưu động 13 vụ án hình sự trọng điểm tại các địa bàn nơi xảy ra tội phạm, góp
phần tuyên truyền pháp luật trong nhân dân Hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân
thị xã Tân Châu từng bước được thực hiện theo đúng yêu cầu tinh thần cải cách tư pháp, dân chủ, khách quan, đảm bảo nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa
Trang 35Vi ệt Nam hiện nay
Việc xét xử án hình sự đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không xử oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm12
Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Năm 2011 Toàn ngành đã thụ
lý 47.559 vụ án các loại, đã giải quyết 40.569 vụ, đạt tỷ lệ 85,30%; so với cùng kỳ
thụ lý tăng 1.916 vụ, tỷ lệ tăng 9,4%, giải quyết tăng 3.124 vụ, tỷ lệ tăng 14,2% Trong đó tại cấp thành phố thụ lý 6.530 vụ, giải quyết 6.179 vụ, so với cùng kỳ thụ
lý tăng 377 vụ, tỷ lệ tăng 5,7%, giải quyết tăng 380 vụ, tỷ lệ tăng 6,2% Tại cấp huyện thụ lý 41.29 vụ, giải quyết 34.390 vụ, so với cùng kỳ thụ lý tăng 1539 vụ, tỷ
lệ tăng 3,7%; giải quyết tăng 2.744 vụ, tỷ lệ tăng 8% Trong năm đã đưa ra xét xử
kịp thời và nghiêm minh những vụ án hình sự đặc biệt nghiêm trọng xâm hại đến an ninh quốc gia như vụ Phạm Minh Hoàng phạm tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền”; các vụ án được dư luận quan tâm như vụ Nguyễn Trọng Nhân và đồng
phạm về tội “giết người”, “cướp tài sản”, người bị hại là Phó Bí thư quận ủy quận Phú Nhuận; vụ Ngô Quang Chướng và đồng phạm về tội “Giết người” – đây là vụ
án thuê giết đối thủ trong hoạt động kinh doanh Bên cạnh đó toàn ngành đã đưa ra xét xử lưu động 263 vụ án hình sự trên các địa bàn nơi xảy ra vụ án để giáo dục pháp luật và răn đe tội phạm
13
Qua những số liệu thực tế có được từ việc xét xử của Tòa án ở những địa phương khác nhau, trong hoạt động xét xử nói chung và hoạt động xét xử vụ án hình sự nói riêng đều có những bước tiến bộ rõ rệt đạt được thành tích cao trong
hoạt động áp dụng pháp luật Bản án, quyết định đưa ra đúng người, đúng tội, tốc
độ giải quyết án nhanh và đúng theo quy định của pháp luật, lượng án phúc thẩm tuy vẫn còn cao nhưng việc xét xử giải quyết được nhanh chóng hạn chế việc xét xử oan, sai, những bản án phúc thẩm bi hủy, bị sủa đã giảm đáng kể, góp phấn tích cực vào việc đảm bảo trật tự án toàn xã hội Nhìn chung kết quả đạt được là do trong
Trong năm 2011 ngành Tòa án nhân dân thành phố
Hồ Chí Minh đã đẩy mạnh công tác xét xử, nâng cao chất lượng giải quyết án nhằm đảm bảo các chỉ tiêu công tác theo quy định của ngành Với tình hình thụ lý và giải quyết năm sau luôn tăng cao so với năm trước, nhưng với tinh thần quyết tâm, ngành Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã có nhiều giải pháp trong công tác quản lý, chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc để hoàn thành nhiệm vụ xét xử tại địa phương nói riêng và góp phần vào thành tích chung của ngành Tòa án nhân dân nói chung
12
Tòa án nhân dân th ị xã Tân Châu (An Giang): tổng kết công tác Hội thẩm năm 2011 và triển khai nhiệm
vụ công tác năm 2012, người viết Duy Bình
www.angiang.gov.vn/ /04, cập nhật ngày 24/02/2012, truy cập ngày 20/4/2012
13
Tham lu ận về một số kiến nghị nhằm nâng cao năng lực ngành Tòa án nhân dân nói chung và ngành Tòa
án nhân dân thành ph ố hồ chí minh nói riêng
www.toaan.gov.vn/portal/pls/ /tandtc.baocao_EDITOR_PLT.download_file?p , truy cập ngày 20/4/2012
Trang 36những năm gần đây hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án đã có nhiều tiến bộ, các quy định về trình tự, thủ tục tố tụng cũng như các nguyên tắc tố tụng được các
cơ quan tiến hành tố tụng nhất là Tòa án các cấp thực hiện đầy đủ, nghiêm túc, chặt
chẽ Nên đã mang lại nhiều kết quả khả quan, những kết quả tích cực đó đã góp
phần không nhỏ vào việc tăng cường pháp chế, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước của xã hội và công dân
Từ thực tiễn trên cho thấy hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân khi xét xử vụ án hình sự có nhiều bước tiến bộ rõ rệt, góp phần quan trọng vào
việc thực hiện cải cách tư pháp mà Đảng và Nhà nước đã đề ra Những bản án, quyết định của Tòa án luôn được áp dụng và thực hiện đúng, tuyên đối với đúng người, đúng tội đem lại hiệu quả cao cho công tác xét xử của Tòa án nhân dân Thể
hiện được bản chất, vai trò của Tòa án là nơi thực thi công lý, là biểu tượng của công lý, xứng đáng là chổ dựa và niềm tin mà nhân dân đặt vào đó Đúng với câu nói chỉ có 8 chữ mà Bác Hồ đã nói về Tòa án, và nhiệm vụ là Tòa án phải làm được
những gì trong 8 chữ đó đã nói là “ Phụng công, Thủ pháp, Chí công Vô tư” Câu
nói của Bác có nghĩa là trong quá trình làm việc của cơ quan nhà nước nói chung,
hệ thống Tòa án nói riêng đều làm việc gì mục đích công, phục vụ cho dân, lấy lợi ích của nhân dân làm đầu, Mọi việc khi làm, khi tiến hành phải tuyệt đối tuân thủ theo những quy định của pháp luật, làm đúng thẩm quyền trách nhiệm, công bằng,
vô tư để đem lại niềm tin cho nhân dân vào hệ thống pháp luật, vào cơ quan nhà nước và nhất là với hệ thống Tòa án Tuy chỉ là 8 chữ ngắn gọn và xúc tích nhưng hàm chứa một ý nghĩa lớn, đòi hỏi mọi người công tác trong ngành Tòa án đặc biệt đối với những người làm công tác xét xử (Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân), phải làm được những điều mà Bác Hồ đã dạy, có như vậy thì những phán quyết của Tòa
án đưa ra mới đem lại sự tâm phục khẩu phục cho tất cả mọi người, có được sự chính xác, khách quan Qua những điều đạt được trong công tác xét xử của Tòa án,
đã góp phần đem lại nhiều kết quả tích cực trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn
xã hội, tình hình tội phạm được đẩy lùi, pháp luật hình sự được tuyên truyền, phổ
biến rộng rãi có tác dụng rất lớn trong việc răn đe, giáo dục quần chúng nhân dân giúp họ có nhận thức đúng đắn về hành vi của mình, để từ đó có những hành động đúng không vi phạm pháp luật hình sự Đảm bảo xã hội phát triển ổn định, nhân dân
có cuộc sống lành mạnh
H ạn chế
Bên cạnh những điều đạt được thì vẫn tồn tại nhiều hạn chế và vướng mắc,
cần kịp thời phát hiện để khắc phục, sữa chữa Những vướng mắc đó là: