Với đề tài “Tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng công chức trong cơ quan nhà nước”, người viết sẽ phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật, cũng như thực trạng của công tác tuyển dụn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 34 (2008 – 2012)
Đề tài:
TUYỂN DỤNG, ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC
TRONG CƠ QUAN NHÀ NƯỚC
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Th.S Huỳnh Thị Sinh Hiền Lê Thị Minh Miền
Bộ môn Luật Hành chính MSSV: 5085896
Lớp: Luật Hành chính K34
Cần Thơ, 4/2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Giảng đường đại học là niềm mơ ước của nhiều người, trong đó có tôi Khi thực hiện được ước mơ vào đại học thì cũng là lúc tôi gặp nhiều khó khăn, bỡ ngỡ với môi trường mới, bạn bè mới, thầy cô mới, cách học mới Nhưng có lẽ, khó khăn nhất với tôi
là khoảng thời gian làm luận văn tốt nghiệp Tôi xin chân thành cảm cô Huỳnh Thị Sinh Hiền, cô đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn Tôi xin cảm ơn quý thầy cô Khoa luật thời gian qua đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn để tôi có kiến thức cũng như những kỹ năng cần thiết có thể nghiên cứu đề tài của mình Tôi còn nhận được sự động viên, giúp đỡ rất nhiều từ các bạn chung khoa, các bạn của tôi Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các bạn Ngoài ra, tôi cũng xin cảm ơn các cô chú, anh chị trong các cơ quan Viện kiểm sát, Tòa án, Ủy ban nhân dân huyện Trần Đề, Viện kiểm sát, Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Xuyên đã giúp tôi hoàn thành bảng câu hỏi phỏng vấn thực tế
Tôi xin cảm ơn gia đình đã là chỗ dựa vững chắc cho tôi trong những lúc tôi khó khăn nhất!
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 4NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 5MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU……… …… Trang 1
1 Lý do chọn đề tài……… ……… 1
2 Phạm vi nghiên cứu……… ………2
3 Phương pháp nghiên cứu……… 2
4 Kết quả nghiên cứu……… ………2
5 Bố cục đề tài……… 2
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TUYỂN DỤNG, ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC TRONG CƠ QUAN NHÀ NƯỚC……….3
1.1 Khái quát chung về công chức……….3
1.1.1 Lược sử phát triển của chế định công chức……… 3
1.1.2 Khái niệm công chức……… …………5
1.1.3 Phân loại công chức………6
1.1.4 Vị trí, vai trò của công chức………7
1.2 Khái quát về tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng công chức……… … 11
1.2.1 Khái quát về tuyển dụng công chức………11
1.2.2 Khái quát về đào tạo, bồi dưỡng công chức……… ….15
1.3 Quyền và nghĩa vụ công chức……….19
1.3.1 Quyền của công chức……… ……… 19
1.3.2 Nghĩa vụ của công chức……….20
1.4 Quan niệm của Đảng và Nhà nước về tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng công chức……….……… 23
1.4.1 Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh……… …23
1.4.2 Chủ trương của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ hiện nay………24
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TUYỂN DỤNG, ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC TRONG CƠ QUAN NHÀ NƯỚC………….26
Trang 62.1 Pháp luật về tuyển dụng công chức………26
2.1.1 Căn cứ tuyển dụng……… ……… 26
2.1.2 Cơ quan tuyển dụng……… 27
2.1.3 Tiêu chuẩn tuyển dụng……… 28
2.1.4 Phương thức tuyển dụng……… …32
2.1.5 Tập sự đối với công chức……… 42
2.2 Pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng công chức……….43
2.2.1 Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng công chức……… 44
2.2.2 Nội dung đào tạo, bồi dưỡng công chức……… 45
2.2.3 Chế độ đào tạo, bồi dưỡng công chức……… 46
2.2.4 Quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức………46
2.2.5 Trách nhiệm trong công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức……….47
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHO CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG, ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC TRONG CƠ QUAN NHÀ NƯỚC………51
3.1 Thực trạng về công tác tuyển dụng công chức……….51
3.1.1 Mặt tích cực trong công tác tuyển dụng…….………51
3.1.2 Những tiêu cực trong công tác tuyển dụng công chức……… 54
3.2 Thực trạng về công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức……….64
3.2.1 Mặt tích cực của công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức……… 64
3.2.2 Những tiêu cực trong công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức………… 66
3.3 Một số giải pháp cho công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng công chức…71 3.3.1 Nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác tuyển dụng công chức 71
3.3.2 Giải pháp cho công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức 77
KẾT LUẬN……….……… 83
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Công chức là đối tượng chiếm tỷ lệ khá đông vì họ là nhân tố quan trọng quyết định sự thành công của công cuộc cải cách bộ máy nhà nước Họ là những người đại diện quyền lực công, trực tiếp thực thi các chính sách, pháp luật của nhà nước, là bộ mặt của nhà nước, là uy tín của quốc gia trên trường quốc tế
Tuy nhiên, theo đánh giá của các nhà chuyên môn, người nghiên cứu và cả những người thực thi pháp luật thì chỉ có 1/3 công chức làm được việc, 1/3 phải cầm tay chỉ việc, 1/3 không làm được việc Trong khi cơ quan nhà nước vẫn còn loay hoay với những lớp đào tạo cao đẳng, đại học cho công chức nhà nước thì những người được đào tạo bài bản, có trình độ cử nhân, thạc sỹ trong các lĩnh vực như xây dựng, kinh tế ra trường đang thất nghiệp Và thực tế là chất lượng công chức, hiệu quả công việc vẫn chưa có những thay đổi đáng kể sau những lớp đào tạo, bồi dưỡng Do đó, không
gì khác hơn là vấn đề tuyển dụng công chức có vấn đề, kéo theo công tác đào tạo, bồi dưỡng cũng không hiệu quả, thay vì nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho công chức thì lại đáp ứng yêu cầu nâng cao bằng cấp
Hiện nay tình trạng tham ô, tham nhũng, hối lộ, quan liêu, cửa quyền…trong bộ máy nhà nước ngày càng đáng báo động Mà những hành vi này gắn với những con người cụ thể, những người có chức vụ, địa vị trong nền công vụ Trong đó có một phần không nhỏ là công chức nhà nước Từ đó cho thấy bộ phận công chức hiện nay không chỉ yếu kém về năng lực mà còn về phẩm chất đạo đức chính trị
Đã đến lúc, chúng ta cần phải nhìn nhận, đánh giá một cách nghiêm túc công tác
tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng công chức hiện nay Với đề tài “Tuyển dụng, đào tạo,
bồi dưỡng công chức trong cơ quan nhà nước”, người viết sẽ phân tích, đánh giá
những quy định của pháp luật, cũng như thực trạng của công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng công chức hiện nay Qua đó kịp thời đưa ra những đề xuất, kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của nền công vụ nước nhà, xây dựng và củng cố lòng tin của nhân dân đối với nhà nước
Trang 82 Phạm vi nghiên cứu
Công chức là đối tượng xuất hiện trong nhiều cơ quan như cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp Tuy nhiên, với tầm quan trọng của công chức trong cơ quan nhà nước thì người viết chỉ tập trung tìm hiểu về tuyển dụng,
đào tạo, bồi dưỡng công chức trong phạm vi cơ quan nhà nước
3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp phân tích luật viết, phương pháp so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp, thu thập thông tin, phân tích các bài viết, bài nghiên cứu có liên quan Bên cạnh đó, người viết có sử dụng phương pháp phỏng vấn, điều tra xã hội học (phiếu điều tra), xin ý kiến đánh giá từ những người đang công tác thực tế tại một số cơ quan nhà nước
4 Kết quả nghiên cứu
Đề tài cung cấp cái nhìn tổng quan, từ lý luận đến thực tiễn về công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng công chức Những mặt tích cực, những đóng góp mà công tác mang lại cho công cuộc xây dựng đội ngũ công chức Mặt khác, đề tài cũng chỉ ra rất nhiều những tiêu cực, bất cập, nghịch lý trong công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng công chức Người viết đã tìm hiểu đi sâu phân tích những nguyên nhân gây ra những thiếu sót, bất cập trên để đưa ra những phương hướng đề xuất cụ thể nhằm từng bước sửa đổi, hạn chế những sai phạm nâng cao hiệu quả làm việc của bộ máy nhà nước, củng cố lòng tin của nhân dân với Nhà nước, với Đảng
5 Bố cục đề tài
Ngoài lời giới thiệu, mục lục…Đề tài được chia thành 3 chương, bao gồm:
- Chương 1: Những vấn đề chung về tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng công chức
trong cơ quan nhà nước
- Chương 2: Những quy định của pháp luật về tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng
công chức trong cơ quan nhà nước
- Chương 3: Thực trạng và giải pháp cho công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng
công chức trong cơ quan nhà nước
Cuối cùng là kết luận mà người viết rút ra sau khi nghiên cứu đề tài
Trang 9CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TUYỂN DỤNG, ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÔNG CHỨC TRONG CƠ QUAN NHÀ NƯỚC
1.1 Khái quát chung về công chức
1.1.1 Lược sử phát triển của chế định công chức
Ở Việt Nam, sự hình thành khái niệm công chức gắn với sự phát triển của nền hành chính nước nhà, qua từng giai đoạn khác nhau
Văn bản đầu tiên quy định về công chức là Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của
Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Theo đó, công chức là “những công dân
Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nước đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng do Chính phủ quy định”1 Như vậy, phạm vi công chức rất hẹp, chỉ là những người được tuyển giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, không bao gồm những người làm trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, các
cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát…
Đến năm 1990, do yêu cầu khách quan của tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước và đòi hỏi phải chuẩn hóa đội ngũ cho phù hợp với thông lệ quốc tế, khái niệm công chức đã có sự thay đổi Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng
Bộ trưởng (nay là Chính phủ) quy định về công chức nhà nước như sau “Công dân Việt
Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước, đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước gọi là công chức Nhà nước”2
Đến đây thì khái niệm công chức đã được mở rộng không chỉ trong cơ quan của Chính phủ mà là trong công sở nhà nước ở trung ương, địa phương, trong nước, ngoài nước Kết hợp điều 1 và điều 2 của Nghị định 169/HĐBT sẽ xác định được những đối tượng
cụ thể là công chức nhà nước Bên cạnh đó, Nghị định 169/HĐBT cũng chỉ ra phạm vi những đối tượng không phải là công chức
2
Điều 1 Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991
Trang 10Tháng 2/1998, Pháp lệnh cán bộ, công chức được Ủy ban thường vụ Quốc hội
khóa X ban hành Điều 1 của Pháp lệnh quy định “ Cán bộ, công chức được quy định
tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”3, bao gồm: người được bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội…như Chủ tịch nước, thẩm phán, kiểm sát viên… Quy định này khẳng định quan điểm và nhận thức mới về đội ngũ cán bộ, công chức trong giai đoạn hiện nay, song vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa cán bộ, công chức Tháng 11/1998, Nghị định số 95/1998/NĐ-CP về “tuyển dụng, sử dụng và quản
lý công chức” được ban hành, Nghị định quy định công chức bao gồm những người được quy định tại khoản 3 và khoản 5 điều 1 Pháp lệnh cán bộ, công chức 1998 Cụ thể
là “những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường
xuyên, được phân loại theo một trình tự đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước…, những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp”4 Như vậy, có những điểm chung cơ bản giữa Nghị định này với Nghị định 169/HĐBT là xem công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong công sở, được xếp ngạch và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003 quy định “Cán bộ, công chức tại Pháp
lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế…”5 , Pháp lệnh có nêu các đối tượng là cán bộ, công chức từ trung ương đến địa phương (kể cả những người được bầu đảm nhiệm chức danh lãnh đạo ở cấp xã, người được tuyển dụng giữ chức danh chuyên môn nghiệp vụ trong Ủy ban nhân dân cấp xã), liệt kê khá rõ những người là cán bộ, công chức ở các cấp, cơ quan, tổ chức Pháp lệnh đã có đề cập đến đối tượng làm việc trong đơn vị sự nghiệp Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ngoài hưởng lương từ ngân sách nhà nước còn hưởng lương từ nguồn thu của đơn vị sự
5
Điều 1 Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003
Trang 11nghiệp, nhưng đối tượng này vẫn được gọi chung là cán bộ, công chức, chưa có sự phân biệt
Luật cán bộ, công chức 2008 có hiệu lực ngày 01/01/2010 đến nay đã được 2 năm
Từ đây, khái niệm cán bộ và công chức đã có sự phân biệt một cách rõ ràng Nghị định 24/2010/NĐ-CP quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức cũng như các văn bản về sau cũng đã sử dụng các khái niệm không còn nhập nhằng Cán bộ, công chức, viên chức được đặt vào đúng vị trí của mình giúp cho việc hiểu, thực hiện chức năng nhiệm vụ được tốt hơn, chế độ chính sách cũng phù hợp hơn với đặc trưng của từng đối tượng
1.1.2 Khái niệm công chức
Khoản 2 điều 4 Luật cán bộ, công chức 2008 quy định “Công chức là công dân
Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”
Một người muốn trở thành công chức thì điều kiện đầu tiên là phải có quốc tịch Việt Nam, phải là công dân Việt Nam Do tính chất, đặc thù công việc liên quan đến chính trị, Nhà nước…mà công chức đòi hỏi phải là công dân có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam Đặc trưng của công chức phân biệt với cán bộ là được hình thành từ cơ chế tuyển dụng, chứ không phải được bầu cử Tuy nhiên, công chức được tuyển dụng,
bổ nhiệm vào các vị trí có chức danh, chức vụ trong cơ quan Đảng, Nhà nước…Điều này được phân biệt với viên chức, là viên chức cũng được tuyển dụng nhưng vào các vị trí việc làm theo chế độ hợp đồng lao động, còn công chức được tuyển dụng theo chỉ tiêu biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Điều này cho thấy số lượng công chức sẽ phụ thuộc vào chỉ tiêu biên chế được giao chứ không phải khối lượng công việc Như vậy, để xác định được một chỉ tiêu hợp lý cần có sự tính toán, phân chia
Trang 12công việc một cách hợp lý, khối lượng công việc bao nhiêu thì cần một chỉ tiêu biên chế để tránh tình trạng công việc không bao nhiêu vẫn tăng biên chế gây lãng phí cho ngân sách
Luật cán bộ, công chức 2008 là một bước tiến lớn cho nền công vụ trong việc phân biệt rõ đâu là cán bộ, đâu là công chức và tách biệt các đối tượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp sẽ được quy định trong một luật khác là Luật viên chức Cũng nhờ việc phân định rõ các đối tượng này nên các chính sách đối với cán bộ, công chức được rõ ràng, phù hợp với đặc thù vị trí việc làm của cán bộ công chức không lẫn lộn với đối tượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp
1.1.3 Phân loại công chức
Theo điều 34 Luật cán bộ, công chức 2008 thì công chức được phân loại theo 2 căn cứ Thứ nhất, căn cứ vào ngạch được bổ nhiệm, công chức được phân loại như sau:
- Loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương;
- Loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương;
- Loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương;
- Loại D gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương đương
Trang 13Nhìn chung, tùy vào những tiêu chí khác nhau mà công chức được phân loại khác nhau Theo khoản 1 điều 32 Luật cán bộ, công chức 2008, công chức có thể được phân loại dựa vào cơ quan mà công chức đó công tác Ngoài ra, dựa vào bậc ngạch, vị trí công tác, công chức còn được chia theo điều 34 Theo đó, đây là cách phân loại để tính lương cho công chức Cách phân loại ở đây chủ yếu là dựa vào chức vụ và trình độ của công chức, và lương cũng được tính trên cơ sở các ngạch, chức vụ của cách phân loại này mà chưa quan tâm đến yếu tố năng lực làm việc
1.1.4 Vị trí, vai trò của công chức
Công chức là một trong những yếu tố cấu thành nên cơ quan nhà nước Họ là những người vận hành cho cơ quan hoạt động nhịp nhàng theo guồng máy của bộ máy nhà nước, nhờ đó mà hiệu lực của thể chế được đảm bảo và hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước có thể hoạt động được
Công chức là người sẽ đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với người dân Đồng thời, họ cũng là người phản ánh đời sống, tâm
tư, nguyện vọng của người dân đến với các cơ quan nhà nước để điều chỉnh các quy định cho phù hợp Là cầu nối để đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đi vào thực tiễn đời sống của người dân, thực hiện chức năng quản lý xã hội của Nhà nước Không có đội ngũ công chức thì những quy định đó cũng chỉ là những quy định trên giấy, sẽ không được áp dụng và thực sự không có ý nghĩa
Công chức thực ra cũng là một công dân Muốn là một công chức tốt, trước hết phải là một công dân tốt, thực hiện tốt các quy định của pháp luật Do đó, công chức còn là một tấm gương gần gũi trong cuộc sống mà người dân có thể làm theo, cũng như đánh giá được hoạt động của cơ quan nhà nước, của nền công vụ Bên cạnh đó, công chức là người có tri thức và có khả năng tiếp cận với sự phát triển của xã hội, của các quốc gia trên thế giới Họ có tầm nhìn cũng như khả năng dự đoán được những thay đổi trong đời sống chính trị - kinh tế - xã hội, từ đó có thể đưa ra những chính sách phù hợp phát triển cho đất nước
Chế độ nhà nước hay đường lối chủ nghĩa nào thì dường như nó cũng quá lớn lao đối với người dân, họ không quan tâm nhiều đến những điều đó, cái họ quan tâm là được yên ổn để sinh sống, làm ăn trong môi trường an ninh, trật tự, dân chủ Khi gặp các vấn đề trong cuộc sống, họ tìm đến cơ quan nhà nước, người họ muốn gặp và muốn
Trang 14được sự giúp đỡ đó chính là những công chức sẽ giúp người dân giải quyết các vấn đề liên quan đến cuộc sống Do đó, công chức không chỉ giữ vai trò là người quản lý mà còn là người đồng hành cùng người dân thực thi pháp luật và giải quyết những vướng mắc của người dân trong quá trình áp dụng pháp luật
1.1.4.1 Phân biệt cán bộ, công chức, viên chức
Luật cán bộ, công chức 2008 đã có sự phân biệt tương đối rõ ràng giữa cán bộ, công chức và sự ra đời của Luật viên chức 2010 có hiệu lực từ ngày 01/01/2012 đã tách riêng đối tượng viên chức ra khỏi cán bộ, công chức Căn cứ điều 4 Luật cán bộ, công chức 2008 và điều 2 Luật viên chức 2010, sau đây là một số điểm phân biệt giữa cán
- Được tuyển dụng,
bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh
- Được tuyển dụng theo chế độ hợp đồng cho các vị trí việc làm
Chức năng - Thực hiện quyền lực
chính trị, đại diện nhân dân, đại diện các thành viên trong
tổ chức
- Thực hiện quyền lực công, quyền hạn hành chính, làm nhiệm vụ quản lý
- Hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp
Nơi làm việc - Cơ quan Đảng, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội
- Cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, Công
an nhân dân, trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập
- Làm việc tại đơn vị
sự nghiệp công lập
Bảng 1 Một số điểm phân biệt cán bộ, công chức, viên chức
Trang 15Cán bộ, công chức, viên chức có chế độ làm việc khác nhau nên cần có chính sách đào tạo, bồi dưỡng phù hợp Công chức, viên chức là những người có chế độ làm việc thường xuyên nhưng công chức là những người sẽ trực tiếp giải quyết các công việc mang tính chất công (công vụ), đòi hỏi phải có sự am hiểu về văn hóa, xã hội của địa phương, tổ chức để có những phương thức thực thi các quy định một cách hiệu quả Còn viên chức làm việc ở các đơn vị sự nghiệp, các lĩnh vực chuyên môn đòi hỏi phải đáp ứng được ngay yêu cầu của công việc như giáo viên, bác sỹ…Việc đào tạo, bồi dưỡng cho viên chức là để họ nâng cao tay nghề, chuyên môn hơn trong công việc mà không phải tham gia nhiều lớp lý luận chính trị như công chức Bởi công chức là đối tượng làm việc thường xuyên và mang tính chất công vụ nên ngoài lớp bồi dưỡng chuyên môn còn có các lớp lý luận chính trị bồi dưỡng về tư tưởng, phẩm chất cách mạng để họ làm việc có hiệu quả và giữ chân được họ cho tổ chức Cán bộ là những người làm việc theo nhiệm kỳ, vào tổ chức thông qua hình thức bầu cử Công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đối tượng này phải được xây dựng và thực hiện ngay sau khi trúng
cử để trong thời gian nhiệm kỳ họ có thể mang lại hiệu quả công việc cao nhất
Việc phân biệt cán bộ, công chức, viên chức giúp cho việc thực hiện chế độ lương, phụ cấp…phù hợp với từng đối tượng Nguồn lương từ đơn vị sự nghiệp sẽ là nguồn quan trọng, hỗ trợ cho ngân sách nhà nước trong việc chi trả cho số lượng lớn viên chức hiện nay San sẻ việc quản lý về nguồn lương cũng sẽ phân chia được cơ quan quản lý phù hợp đối với từng đối tượng
Do đó, các quy định hiện nay phân biệt ai là cán bộ, ai là công chức, ai là viên chức có ý nghĩa to lớn và thiết thực Góp phần hoàn thiện và nâng cao chất lượng công tác quản lý, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
1.1.4.2 Vai trò của công chức lãnh đạo
Một cơ quan, đơn vị, tổ chức muốn phát triển, muốn vững mạnh thì nhân tố quan trọng là nhân tố con người trong cơ quan, đơn vị, tổ chức đó Đặc biệt là vai trò của người lãnh đạo, quản lý trong cơ quan, đơn vị, tổ chức Công chức lãnh đạo là công chức đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức, thực hiện việc quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của cơ quan, đơn vị, tổ chức Vai trò công chức lãnh đạo càng được quan tâm hơn khi Luật cán bộ, công chức 2008 dành hẳn điều 10 để quy định nghĩa vụ của công chức là người đứng đầu Trong khi trước đó Pháp lệnh cán bộ, công chức
Trang 161998 (sửa đổi bổ sung năm 2000, 2003) chỉ quy định một điểm nhỏ về nghĩa vụ của công chức lãnh đạo trong điều 7
Công chức lãnh đạo sẽ thực hiện việc lãnh đạo, quản lý trong cơ quan, đơn vị, tổ chức và sẽ chịu trách nhiệm về kết quả của những hoạt động trong cơ quan, đơn vị, tổ chức Do đó, về nguyên tắc công chức lãnh đạo là những người có năng lực, phẩm chất hơn người Họ có khả năng quản lý và tầm nhìn để đưa cơ quan, đơn vị, tổ chức từng bước phát triển Là “những người có thể phụ trách giải quyết các vấn đề trong những hoàn cảnh khó khăn”, là những người mà “khi thất bại không hoang mang, khi thắng lợi không kiêu ngạo” Họ là những người được tôi luyện và trưởng thành trong quần chúng nhân dân, luôn biết rèn luyện để hoàn thiện mình, nghiêm túc xem xét lại mình, biết mình là ai và phải làm gì Họ có khả năng nhạy bén và óc phân tích độc đáo; nhận biết được đâu thuộc về nguyên tắc, đâu là biện pháp để vận dụng, kết hợp hài hòa giữa tính nguyên tắc cứng rắn và tính linh hoạt trong biện pháp thực hiện, thực hiện lời dạy của Bác Hồ “dĩ bất biến ứng vạn biến”
Công chức lãnh đạo có vai trò quan trọng trong việc tạo niềm tin trong nhân dân
Họ là những người “luôn luôn giữ đúng kỷ luật”, “nói đi đôi với làm”, những việc họ làm là xuất phát từ lợi ích của người dân Là người biết lắng nghe, hiểu được tâm tư nguyện vọng người dân, tạo được niềm tin trong nhân dân, được dân tin tưởng và công nhận là người lãnh đạo của mình Dân tin người của Đảng, Nhà nước tức là tin vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Bác Hồ đã dạy
“đưa thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”, “dân là cái gốc của cách mạng”
Công chức lãnh đạo là người có vai trò quan trọng trong việc phát hiện, cất nhắc người tài cho cơ quan, đơn vị, tổ chức Một công chức lãnh đạo công tâm, thực sự biết quý trọng, tôn vinh người có năng lực thì cơ quan, đơn vị, tổ chức đó chắc chắn sẽ vững mạnh và ngày một phát triển Vì họ sẽ biết cách nhận biết, tìm hiểu và thử thách trong các vị trí công việc để sắp xếp phù hợp người có năng lực làm việc phù hợp với chuyên môn của mình Họ sẽ tạo được một môi trường làm việc cạnh tranh công bằng, lành mạnh giữa các thành viên; từ đó hiệu suất công việc càng cao, đồng thời tạo được tinh thần đoàn kết, sức mạnh tập thể trong cơ quan, đơn vị, tổ chức
Trang 171.2 Khái quát về tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng công chức
1.2.1 Khái quát về tuyển dụng công chức
1.2.1.1 Khái niệm tuyển dụng công chức
Khái niệm tuyển dụng được giải thích đầu tiên ở Nghị định 95/1998/NĐ-CP về
tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, theo đó “tuyển dụng là việc tuyển người
vào cơ quan nhà nước sau khi đã đạt được kết quả của kỳ thi tuyển” Tương tự, Nghị
định 117/2003/NĐ-CP về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong
cơ quan nhà nước cũng có giải thích khái niệm tuyển dụng: “tuyển dụng là việc tuyển
người vào làm việc trong biên chế của cơ quan nhà nước thông qua thi hoặc xét tuyển”
Hiện nay, tuyển dụng không còn được giải thích trong các văn bản quy phạm pháp luật Tuy nhiên, trên tinh thần của các văn bản trước và các quy định về tuyển dụng hiện hành có thể hiểu tuyển dụng là việc lựa chọn những người đủ tiêu chuẩn, năng lực, phẩm chất vào những vị trí nhất định trong cơ quan nhà nước thông qua phương thức thi tuyển hoặc xét tuyển Như vậy, tuyển dụng công chức có một điểm đặc trưng
là một bên trong hoạt động này là cơ quan nhà nước mang quyền lực công, mọi quy trình đều được luật hóa
1.2.1.2 Đặc điểm của hoạt động tuyển dụng công chức
Hoạt động tuyển dụng công chức là hoạt động đặc thù và quan trọng vì đằng sau
nó là việc hình thành nên bộ máy nhà nước, hình thành nên các vị trí, chức danh có nhiều quyền lực
Hoạt động này có tính chất đặc thù so với hoạt động tuyển dụng thông thường vì chủ thể tuyển dụng là cơ quan nhà nước Các quy trình, tiêu chuẩn, điều kiện được quy định cụ thể và được luật hóa Người dự tuyển tự nguyện nộp hồ sơ và phải đáp ứng được các yêu cầu của cơ quan tuyển dụng qua các vòng thi tuyển, xét tuyển Người dự tuyển khi được trúng tuyển, được bổ nhiệm vào các vị trí sẽ được hưởng các mức lương, chế độ theo quy định mà không có sự thỏa thuận nào như tuyển dụng ở các công
ty, doanh nghiệp bên ngoài
Một trong những căn cứ tuyển dụng công chức là chỉ tiêu biên chế Chỉ tiêu biên chế của cơ quan sử dụng sẽ do cơ quan quản lý quyết định Ngân sách được phân phối
Trang 18theo chỉ tiêu biên chế; do đó, việc tuyển dụng phải đảm bảo đúng, đủ chỉ tiêu, không được nhiều hơn hay ít hơn biên chế Còn các công ty, doanh nghiệp bên ngoài cũng có tính toán về lượng công việc, số lượng nhân viên, mức lương, chi phí cho số lượng nhân viên này nhưng trong quá trình tuyển dụng, tùy vào năng lực ứng viên mà họ có thể có sự điều chỉnh về số lượng nhân viên (có thể nhiều hơn hoặc ít hơn dự kiến ban đầu) cho phù hợp
Quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động được xác lập bằng một hợp đồng lao động (trong một số trường hợp như lao động giúp việc gia đình, công việc có tính chất tạm thời mà thời hạn dưới 3 tháng… thì có thể giao kết miệng), còn mối quan hệ giữa công chức và cơ quan tuyển dụng được xác lập bằng quyết định tuyển dụng, quyết định bổ nhiệm, đây là những quyết định hành chính
1.2.1.3 Nguyên tắc tuyển dụng công chức
Tuyển dụng công chức là một trong những hoạt động công vụ có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn được những người có năng lực phù hợp với nền công vụ Do đó, bên cạnh những nguyên tắc chung của hoạt động công vụ thì hoạt động tuyển dụng công chức còn có những nguyên tắc riêng được quy định tại điều 38 Luật cán bộ, công chức 2008 bao gồm:
- Bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật
Đây là nguyên tắc đầu tiên được quy định, thể hiện tầm quan trọng của các yếu tố công khai, minh bạch, khách quan, đúng pháp luật trong công tác tuyển dụng Công khai, minh bạch cho thấy công tác được tổ chức dân chủ, rõ ràng, thu hút sự quan tâm cũng như sự giám sát của xã hội đối với công tác tuyển dụng nói riêng và hoạt động công vụ nói chung Khi đã được công khai, minh bạch dưới sự theo dõi của xã hội thì những người thực hiện công tác tuyển dụng ắt hẳn phải thực hiện nghiêm túc theo quy định của pháp luật một cách khách quan Đảm bảo được những yếu tố trên sẽ giúp cho công tác tuyển dụng thực hiện đúng chức năng của mình, không bị biến tướng thành công cụ, con đường để đưa những người không có năng lực vào nền công vụ làm giảm hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, thậm chí gây bè phái trong tổ chức
Trang 19
- Bảo đảm tính cạnh tranh
Trong những môi trường, mục tiêu, đối tượng khác nhau thì cạnh tranh cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau Cơ bản có thể hiểu, cạnh tranh là sự cố gắng nhằm giành lấy phần hơn, phần thắng về mình trong một môi trường cạnh tranh với những người khác có cùng mục tiêu với mình Có cạnh tranh mới có tiến bộ, nhưng cạnh tranh cũng có nhiều mặt Khi đề cập đến cạnh tranh, người ta thường nghĩ đến hai hướng: cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh Muốn tuyển được người tài cho công vụ thì phải tạo được một môi trường để các ứng viên có thể bộc lộ được khả năng của mình một cách công bằng nhất, đó là môi trường cạnh tranh lành mạnh
Bảo đảm tính cạnh tranh là nguyên tắc khá mới mẻ được đề cập gần đây trong nền công vụ nói chung và tuyển dụng công chức nói riêng Với tư tưởng bao cấp trước đây, khi nói đến cạnh tranh người ta thường nghĩ đến yếu tố tư bản, là việc bất chấp mọi thủ đoạn để đạt được mục đích của mình, đó là cạnh tranh không lành mạnh Nhưng hiện nay với chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì cạnh tranh được nhắc đến với cách hiểu mới mẻ hơn, là một yếu tố để thúc đẩy phát triển Đặc biệt khi tính cạnh tranh được kết hợp với các yếu tố công khai, minh bạch, khách quan, đúng pháp luật trong hoạt động tuyển dụng thì cạnh tranh ở đây là cạnh tranh lành mạnh Trong một môi trường công khai, khách quan thì người dự tuyển có thể tự tin thể hiện khả năng của mình mà không có tâm lý ỷ lại vào quen biết hay lo lắng khi mình “không có chân” trong cơ quan tuyển dụng
Trong công tác tuyển dụng công chức, cạnh tranh được đặt ra đối với những người
dự tuyển Tuyển dụng công chức là để lựa chọn được người có phẩm chất chính trị, đạo đức cho công vụ, chọn người có năng lực, phù hợp và có khả năng mang lại hiệu quả cao nhất cho vị trí công việc đó Cho nên, các điều kiện, tiêu chuẩn cho vị trí việc làm
sẽ được đặt ra cho người dự tuyển Người dự tuyển phải đáp ứng được những yêu cầu
đó Tiếp theo, là người dự tuyển sẽ cạnh tranh thể hiện ai là người phù hợp hơn, làm việc tốt hơn ở vị trí việc làm đó Do đó, đảm bảo nguyên tắc cạnh tranh không chỉ để chọn được người đáp ứng được yêu cầu công việc mà là để chọn được ai là người đáp ứng yêu cầu công việc tốt hơn, ai có thể mang lại hiệu quả công việc cao hơn
Trang 20
- Tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và vị trí việc làm
Việc các ứng viên có cơ hội thể hiện sở trường của mình không chỉ giúp họ ghi điểm đối với cơ quan mà còn giúp cho cơ quan tuyển dụng có thể xem xét lựa chọn người phù hợp với vị trí cần tuyển Bên cạnh đó, nội dung thi tuyển phải gắn chặt với chuyên ngành hẹp của vị trí dự tuyển để khảo sát được năng lực và các kỹ năng của các ứng viên, bảo đảm người được tuyển có thể thực hiện ngay công việc ở vị trí tuyển dụng Đây là nguyên tắc liên quan mật thiết nhất với vị trí cần tuyển vì các công việc,
sự chuẩn bị cho công tác tuyển dụng được thực hiện chung quy lại cũng là để tuyển chọn được người phù hợp, đáp ứng được yêu cầu của công việc
- Ưu tiên tuyển chọn được người có tài năng, người có công với nước, người dân
Điều 4 Nghị định 21/2010/NĐ-CP quy định biên chế công chức được xác định dựa trên các căn cứ:
- Đối với cơ quan, tổ chức ở trung ương: biên chế công chức được xác định trên
cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của từng cơ quan, tổ chức,
Trang 21đơn vị được cấp có thẩm quyền quy định Ngoài ra, biên chế công chức còn được xác định dựa trên tính chất, đặc điểm, mức độ phức tạp và quy mô, phạm vi, đối tượng quản lý của ngành, lĩnh vực; quy trình quản lý chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của luật chuyên ngành Mức độ hiện đại hóa công sở, trang thiết bị, phương tiện làm việc và ứng dụng công nghệ thông tin cũng là căn cứ để xác định chỉ tiêu biên chế công chức trung ương
- Đối với cơ quan, tổ chức ở địa phương: biên chế công chức phụ thuộc vào các căn cứ quy định đối với cơ quan, tổ chức ở trung ương và quy mô dân số, diện tích tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương; số lượng đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã; đặc điểm an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội
- Đối với đơn vị sự nghiệp công lập: biên chế công chức căn cứ vào các quy định đối với cơ quan, tổ chức ở Trung ương; quy định của Chính phủ về công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập
Nghị định nêu rõ, việc điều chỉnh biên chế công chức sẽ được thực hiện trên các căn cứ: Thành lập, tổ chức lại, giải thể cơ quan, tổ chức, đơn vị theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính cấp tỉnh, huyện; điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, đơn vị, tổ chức
Theo đó, các cơ quan, đơn vị, tổ chức có trách nhiệm lập kế hoạch biên chế công chức hàng năm và gửi về cơ quan có thẩm quyền trước ngày 20/7 năm trước liền kề Nếu sau ngày 20/7 cơ quan, tổ chức, đơn vị không gửi kế hoạch biên chế công chức
hàng năm thì giữ ổn định số biên chế công chức đã được giao
1.2.2 Khái quát về đào tạo, bồi dưỡng công chức
1.2.2.1 Khái niệm về đào tạo, bồi dưỡng công chức
Theo sự giải thích của khoản 1 và khoản 2 điều 5 Nghị định 18/2010/NĐ-CP thì “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học”, còn bồi dưỡng là “hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” Ở đây có thể hiểu, đào tạo là thực hiện chương trình, khóa học dài hạn (đại học, sau đại học) mà văn bản chứng minh hoàn thành khóa học là văn bằng (cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ) Bồi dưỡng là thực hiện khóa học ngắn hạn nhằm nâng cao nghiệp vụ (theo ngạch, theo chức danh, theo vị trí công tác…) và được ghi
Trang 22nhận hoàn thành bằng chứng nhận, chứng chỉ Như vậy, đào tạo, bồi dưỡng là hai hoạt động có quá trình và kết quả khác nhau, nhưng hai khái niệm này thường hay đi chung
và được dùng một cách phổ cập dẫn đến sự nhặp nhằng không còn phân biệt được các nghĩa vụ phải thực hiện
1.2.2.2 Nguyên tắc đào tạo, bồi dưỡng công chức
Đào tạo, bồi dưỡng công chức một mặt nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ; mặt khác góp phần xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp, có
đủ trình độ, năng lực xây dựng nước nhà tiên tiến, hiện đại Để đạt được mục tiêu trên, công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức phải được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định Những nguyên tắc đó được quy định cụ thể tại điều 3 Nghị định 18/2010/NĐ-CP của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức
- Đào tạo, bồi dưỡng phải căn cứ vào vị trí việc làm, tiêu chuẩn của ngạch công
chức, tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý và nhu cầu xây dựng, phát triển nguồn nhân lực của cơ quan, đơn vị
Các căn cứ để đào tạo, bồi dưỡng phải gắn liền với từng chức năng, nhiệm vụ của công chức Với các vị trí, ngạch, chức vụ khác nhau thì trình độ cũng như yêu cầu công việc cũng khác nhau, do đó công tác đào tạo, bồi dưỡng cũng phải phù hợp với từng vị trí công việc Cơ quan, đơn vị, tổ chức sẽ linh hoạt bố trí từng công chức đảm nhiệm các chức vụ đều được đào tạo, bồi dưỡng tùy vào nguồn nhân sự và điều kiện của cơ quan Trình độ, năng lực của công chức ở vị trí nào còn yếu, công chức ở ngạch nào làm việc hiệu quả có thể làm việc ở ngạch cao hơn thì nên được đào tạo, bồi dưỡng để công chức làm việc hiệu quả hơn Với những công chức đáp ứng được yêu cầu công việc thì khi cơ quan có điều kiện sẽ đưa họ đào tạo, bồi dưỡng để họ được chuyên môn hơn, giải quyết công việc nhanh hơn, hiệu quả hơn
Một trong những căn cứ đào tạo, bồi dưỡng là chức danh lãnh đạo, quản lý của công chức Đây là căn cứ quan trọng mang tính định hướng bởi với các chức vụ lãnh đạo, quản lý thì những người mang các chức danh là những người sẽ hoạch định các chủ trương, đường lối để phát triển cơ quan, đơn vị, tổ chức của mình Bên cạnh đó, họ
là những người trực tiếp sử dụng nguồn nhân lực của cơ quan Có thể nói, nhân lực là yếu tố quyết định của một tổ chức Để sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực thì đòi hỏi người lãnh đạo, quản lý phải có tầm Như vậy, người lãnh đạo, quản lý phải không
Trang 23ngừng nâng cao năng lực quản lý, trình độ chuyên môn mới có thể đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mà thực tế đòi hỏi
- Đào tạo, bồi dưỡng phải bảo đảm tính tự chủ của cơ quan quản lý, đơn vị sử
dụng công chức
Nhìn chung công tác đào tạo, bồi dưỡng phụ thuộc chủ yếu vào cơ quan quản lý,
cơ quan sử dụng công chức Cơ quan quản lý công chức cũng đồng thời quản lý nguồn kinh phí dành cho công tác này; còn cơ quan sử dụng sẽ nắm được tình hình nhân sự của mình như thế nào Công tác đào tạo, bồi dưỡng sẽ tùy vào điều kiện kinh phí, nhân
sự mà tổ chức Đảm bảo tính tự chủ của cơ quan quản lý, đơn vị sử dụng công chức sẽ giúp cho các cơ quan chủ động được trong công tác, tiết kiệm được ngân sách mà vẫn đảm bảo hiệu quả cho công tác
Cơ quan quản lý và cơ quan sử dụng tùy vào điều kiện của cơ quan mà chủ động trong công tác đào tạo, bồi dưỡng Nếu cơ quan sử dụng đã có điều kiện thực hiện một
số hoạt động trong công tác đào tạo, bồi dưỡng thì cơ quan quản lý nên giao quyền thực hiện những hoạt động đó cho cơ quan sử dụng Điều này nhằm san sẻ công việc
và thẩm quyền cho cơ quan sử dụng công chức, giảm bớt trách nhiệm cho cơ quan quản lý và cho cơ quan sử dụng có cơ hội thể hiện khả năng cũng như có hoạt động thực tiễn để nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan
- Kết hợp cơ chế phân cấp và cơ chế cạnh tranh trong tổ chức đào tạo, bồi dưỡng
Phân cấp là sự chuyển giao thẩm quyền, nhiệm vụ, trách nhiệm của cơ quan cấp trên cho cơ quan cấp dưới khi cơ quan cấp dưới đủ các điều kiện nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định Ở đây, việc phân cấp đào tạo, bồi dưỡng nhằm thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho công chức hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình
Bên cạnh việc phân cấp thẩm quyền, nhiệm vụ, trách nhiệm thì cơ quan cấp dưới còn được phân cấp về ngân sách, nhân sự, cơ sở vật chất kỹ thuật…để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của mình Qua đó, cơ quan cấp dưới được trao nhiều thẩm quyền hơn, được đề cao vai trò, tầm quan trọng của mình hơn và quan trọng là có cơ hội để khẳng định mình Nhờ đó, ý thức trách nhiệm được nâng cao, cơ quan cấp dưới có thể tự chủ, năng động thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng được giao một cách tốt nhất Cơ quan quản lý, sử dụng công chức cần đưa ra những tiêu chuẩn, điều kiện cụ thể để được
Trang 24tham gia một lớp đào tạo, bồi dưỡng nào đó thì đòi hỏi công chức phải đáp ứng được những yêu cầu nhất định
Đào tạo, bồi dưỡng công chức bên cạnh cơ chế phân cấp còn phải đảm bảo cơ chế cạnh tranh Để đảm bảo cạnh tranh, các cơ quan có thẩm quyền đưa công chức tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng phải đánh giá một cách bao quát về những người có đủ điều kiện có thể được đi đào tạo, bồi dưỡng Đó có thể là những đánh giá về năng lực làm việc, thái độ, mục đích, nguyện vọng…để được đi đào tạo, bồi dưỡng Từ đó, tạo
cơ chế cạnh tranh công khai để công chức có nguyện vọng được đi đào tạo, bồi dưỡng thể hiện sự xứng đáng được lựa chọn đào tạo, bồi dưỡng một cách công bằng nhất Ngoài ra, những đánh giá về mục đích đi đào tạo, thái độ, phẩm chất của người công chức còn giúp cơ quan giảm thiểu được tình trạng lựa chọn sai đối tượng Đó là những người không vì mục đích nâng cao trình độ phục vụ công việc, phục vụ cơ quan mà muốn dùng cơ quan để làm bệ phóng, được cơ quan đầu tư bồi dưỡng nâng cao trình
độ, đủ điều kiện rồi ra khu vực tư để có thu nhập cao hơn Những sai lầm trong việc lựa chọn người đưa đi đào tạo, bồi dưỡng dẫn đến tình trạng “chảy máu chất xám”, gây tổn thất, lãng phí cho cơ quan nhà nước Do đó, các cơ quan trong cần chú ý đảm bảo nguyên tắc phân cấp, cạnh tranh trong đào tạo, bồi dưỡng công chức
- Đề cao vai trò tự học và quyền của công chức trong việc lựa chọn chương trình
bồi dưỡng theo vị trí việc làm
Nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng chỉ thu hút sự quan tâm, hứng thú học hỏi của người học khi nó đáp ứng được nhu cầu, mong muốn của người học Người học quan tâm đến những nội dung mang tính thực tiễn, gần gũi với công việc mà họ phải giải quyết hàng ngày Bên cạnh đó, trong công tác đào tạo, bồi dưỡng thì công chức là trung tâm của công tác Công tác chỉ đạt kết quả khi công chức thực sự làm chủ trong hoạt động, đầu tiên là việc họ được lựa chọn chương trình đào tạo, bồi dưỡng vì hơn ai hết chính họ mới là người hiểu rõ nhất họ đang cần gì, thiếu gì để phục vụ cho công tác
Như vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng phải chú trọng đến nội dung, chương trình để thu hút được người học và phù hợp với nhu cầu từng đối tượng Ngoài ra, chương trình nên được xây dựng từ những ý kiến về nhu cầu thực tế của công chức Từ đó có thể xây dựng chương trình vừa theo nhu cầu vừa cập nhật những nội dung mới đa dạng cho công chức Người học khi đã quan tâm đến nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng
Trang 25sẽ tự động nâng cao ý thức tự học, tự nghiên cứu tìm hiểu thêm Điều này ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của người học Từ đó có thể nâng cao được hiệu quả của công tác đào tạo, bồi dưỡng cũng như năng lực của công chức, giúp cho công chức hoàn thành tốt hơn công việc sau các khóa đào tạo, bồi dưỡng
- Bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả
Nhà nước luôn quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức nên nguồn ngân sách đầu tư cho công tác này là rất lớn Công tác phải được công khai, minh bạch thì mới có hiệu quả, nếu không sẽ không có hiệu quả, gây mất lòng tin trong nhân dân, mất đi tác dụng của công tác và còn gây lãng phí cho ngân sách nhà nước Vì vậy, công tác này phải bảo đảm tính công khai, minh bạch, có hiệu quả Việc đào tạo, bồi dưỡng thực hiện một cách công khai, minh bạch để người dân có thể quan tâm, giám sát Đồng thời, cơ quan thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cũng có ý thức nâng cao trách nhiệm hoàn thành tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện công tác có hiệu quả, giảm thiểu những tiêu cực có thể xảy ra khi công tác được công khai để người dân giám sát
Để đảm bảo nguyên tắc cần có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan hữu quan Kinh phí ngân sách dành cho công tác phải được công khai trong các báo cáo cuối năm Công tác kiểm tra, quản lý cũng phải được thực hiện thường xuyên, đặc biệt là công tác đánh giá hiệu quả của việc đào tạo, bồi dưỡng Công tác đào tạo, bồi dưỡng cũng như các hoạt động khác của cơ quan nhà nước cần được đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch để xã hội, người dân có thể giám sát và đánh giá hiệu quả của các hoạt
động đó
1.3 Quyền và nghĩa vụ công chức
1.3.1 Quyền của công chức
Nội dung các điều về quyền của công chức trong Luật cán bộ, công chức 2008 khá đầy đủ và bao quát được các nội dung Bên cạnh đó, Luật cán bộ, công chức 2008 được bố cục rõ ràng hơn Quyền và nghĩa vụ của cán bộ, công chức được quy định riêng theo các mục Các quyền của công chức được quy định từ điều 11 đến điều 14 mục 2 chương II Luật cán bộ, công chức
Theo điều 11, công chức được bảo đảm các điều kiện thi hành công vụ: được giao quyền tương xứng với nhiệm vụ; được bảo đảm trang thiết bị và các điều kiện làm việc
Trang 26khác theo quy định của pháp luật; được cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn được giao; được đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ; được pháp luật bảo vệ khi thi hành công vụ
Quyền của công chức về tiền lương và các chế độ liên quan đến tiền lương: được Nhà nước bảo đảm tiền lương tương xứng với nhiệm vụ, quyền hạn được giao, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước Công chức làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc trong các ngành, nghề có môi trường độc hại, nguy hiểm được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật; được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm, công tác phí và các chế độ khác theo quy định của pháp luật Quyền của công chức về nghỉ ngơi: Công chức được nghỉ hàng năm, nghỉ lễ, nghỉ
để giải quyết việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động Trường hợp do yêu cầu nhiệm vụ, công chức không sử dụng hết số ngày nghỉ hằng năm thì ngoài tiền lương còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng tiền lương cho những ngày không nghỉ
Ngoài ra, công chức còn được hưởng các quyền khác như quyền học tập, nghiên cứu khoa học, tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội; được hưởng chính sách ưu đãi về nhà ở, phương tiện đi lại, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật; nếu bị thương hoặc hy sinh trong khi thi hành công vụ thì được xem xét hưởng chế độ, chính sách như thương binh hoặc được xem xét để công nhận là liệt sỹ
và các quyền khác theo quy định của pháp luật
1.3.2 Nghĩa vụ của công chức
Nghĩa vụ của công chức được quy định trong điều 8, 9, 10 mục 1 chương II Luật cán bộ, công chức 2008 Vai trò của công chức là người đứng đầu đã được quan tâm,
đề cao khi được quy định riêng trong điều 10, nhằm khẳng định vao trò của người đứng đầu, người quản lý công chức trong công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong
bộ máy nhà nước
Điều 8 quy định người công chức có nghĩa vụ đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân: trung thành với Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia; tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát
Trang 27của nhân dân; chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
Các nghĩa vụ trên xuất phát từ văn bản quy phạm cao nhất là Hiến pháp 1992 Công chức trước hết là những công dân gương mẫu, chấp hành tốt các quy định của pháp luật Công chức là người đại diện cho bộ máy nhà nước, cơ quan công quyền nên việc tuân thủ các quy định của pháp luật càng được đòi hỏi thực hiện một cách nghiêm chỉnh hơn Trước hết, đó là nghĩa vụ phải trung thành với Đảng, với Tổ quốc, đây là nghĩa vụ đầu tiên không chỉ nước ta mà hầu hết các nước đều đặt ra đối với những người mang quyền lực công như công chức
Nghĩa vụ của công chức trong thi hành công vụ: thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước; chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao; chấp hành quyết định của cấp trên Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình Công chức đứng đầu ngoài việc thực hiện quy định tại điều 8 và điều 9 của Luật cán bộ, công chức 2008 thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị còn phải thực hiện các nghĩa vụ: chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của cán bộ, công chức; tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống quan liêu, tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về việc để xảy ra quan liêu, tham nhũng, lãng phi trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở, văn hóa công sở trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; xử lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý có hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân; giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, theo thẩm quyền hoặc kiến
Trang 28nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cá nhân, tổ chức6
Công chức là cá nhân, bản thân mang quyền lực công khi thực hiện nhiệm vụ, công việc của họ không chỉ ảnh hưởng đến họ mà còn ảnh hưởng đến nhà nước, đến người dân Họ được trao quyền để đảm bảo thực thi công vụ, cụ thể hóa các quy định đến với người dân Quyền lực trao cho họ phải được họ thực hiện một cách đúng đắn và nghiêm túc Cho nên các nghĩa vụ đi kèm với các quyền họ có là phải thực hiện các quyền đó đúng đắn, đầy đủ, tránh lạm quyền và phải chịu trách nhiệm về những việc mình làm Bên cạnh đó, công chức là những người sẽ tiếp xúc với người dân, đưa chính sách pháp luật đến với người dân; đồng thời là người tiếp nhận những ý kiến phản hồi của người dân phản ánh đến cơ quan công quyền Do đó, họ phải biết lắng nghe ý kiến người dân, tận tụy phục vụ nhân dân, không được có thái độ quan liêu,
hách dịch, cửa quyền
Luật cán bộ, công chức 2008 quy định những việc công chức không được làm liên quan đến đạo đức công vụ, bí mật nhà nước, những việc liên quan đến sản xuất, kinh doanh
Công chức không được trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ được giao; gây
bè phái, mất đoàn kết; tự ý bỏ việc hoặc tham gia đình công; không được sử dụng tài sản của Nhà nước và của nhân dân trái pháp luật; không được lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn, sử dụng thông tin liên quan đến công vụ để vụ lợi; không phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức
Công chức không được tiết lộ thông tin liên quan đến bí mật nhà nước dưới mọi hình thức; công chức làm việc ở ngành, nghề có liên quan đến bí mật nhà nước thì trong thời hạn ít nhất 05 năm, kể từ ngày có quyết định nghỉ hưu, thôi việc, không được làm công việc có liên quan đến ngành, nghề mà trước đây mình đã đảm nhiệm cho tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc liên doanh với nước ngoài7
Trang 291.4 Quan niệm của Đảng và Nhà nước về tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng công chức
1.4.1 Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Cơ sở để tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức là nhận thức về vị trí, vai trò của đội ngũ công chức trong sự nghiệp cách mạng Kế thừa tinh hoa tư tưởng của dân tộc, coi “ hiền tài là nguyên khí quốc gia”, Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc
về vị trí, vai trò của người công chức, và tầm quan trọng của công tác công chức Người cho rằng, một khi đã có đường lối cách mạng đúng thì con người là khâu quyết định Người viết “Cán bộ là cái gốc của mọi việc”, “Muốn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo lại cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng” Thực tế là, mọi chủ trương, đường lối của Đảng và Chính phủ đều do công chức nghiên cứu, đề xuất, đồng thời cũng do công chức tổ chức, hướng dẫn nhân dân thực hiện Đường lối của Đảng đúng hay sai, tổ chức thực hiện thành hay không đều phụ thuộc vào công chức Động lực của mọi cuộc cách mạng là quần chúng nhân dân, mà hạt nhân chủ yếu của nó là lực lượng công chức Người cũng nhấn mạnh đến trách nhiệm của Đảng đối với công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện công chức Chăm sóc nuôi dạy công chức là việc làm hệ trọng, phải rất công phu, chu đáo, tỉ mỉ, cũng giống như người làm vườn chăm sóc, vun trồng những cây cối quý báu, cần mẫn, tâm huyết mới có hoa thơm, quả ngọt Vì vậy, Đảng cần phải biết coi trọng, gìn giữ công chức cũ, và tích cực đào tạo, bồi dưỡng công chức mới, trọng dụng nhân tài8
Hồ Chí Minh quan tâm đầu tiên là phẩm chất đạo đức, tư cách người công chức Công chức phải suốt đời phấn đấu hy sinh cho lý tưởng của Đảng, phải đạt quyền lợi của Đảng, của Tổ quốc lên trên hết và trước hết Người nói: Đảng không phải là một tổ chức “làm quan phát tài” Cán bộ cách mạng không phải là “làm quan cách mạng”,
“không phải để thăng quan tiến chức” Không phải làm cán bộ để “đè đầu cưỡi cổ dân chúng như thời thực dân, phong kiến” Người cán bộ, công chức phải tận tụy với sự nghiệp cách mạng, phải trung thành với Đảng, với Tổ quốc, phải hết lòng hết sức phục
thời kỳ mới, tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 14(175) tháng 7/2010
Trang 30vụ cách mạng, phục vụ nhân dân Người cán bộ, công chức phải có một đời tư trong sáng, phải là tấm gương sáng trong cuộc sống
Công chức phải có năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và đoàn thể nhân dân Muốn thế phải “chuyên” Người yêu cầu công chức phải có tài tổ chức, tài quản lý Vì vậy, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, lựa chọn công chức chú ý xuất thân từ công nông nhưng phải “tri thức hóa” họ Công chức phải luôn luôn học tập để không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt Đặc biệt nâng cao lý luận, nâng cao khả năng tổng kết thực tiễn, phải mổ xẻ, xem xét,
so sánh thật kỹ càng thực tế nước ta với nước khác
Công chức phải có mối liên hệ mật thiết với nhân dân Người nhấn mạnh: người công chức bằng mọi hành động thực tế của mình phải làm cho dân tin, dân yêu, dân kính, dân phục Công chức phải có phong cách tốt, phải phòng, chống tác phong chủ quan, quan liêu, đại khái, ham chuộng hình thức, phô trương cho oai, làm qua loa
1.4.2 Chủ trương của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ hiện nay
Ngày nay, Đảng ta đang ra sức vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác công chức nói chung, về tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức nói riêng cho phù hợp với thời kỳ mới để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
do Đảng ta phát động đã và đang diễn ra sôi nổi, ngày càng đi vào chiều sâu và hành động thiết thực trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong mọi ngành, mọi giới Đây cũng là biện pháp quan trọng, tạo ra môi trường thuận lợi cho công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng công chức của đảng ta trong thời kỳ mới
Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về công tác công chức có nêu “phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết, tập hợp rộng rãi các loại cán bộ, công chức, trọng dụng nhân tài, không phân biệt đảng viên hay người ngoài đảng, dân tộc, tôn giáo, người ở trong nước hay người Việt Nam định cư ở nước ngoài; không định kiến với những người có sai lầm trong quá khứ, nay đã hối cải và sửa chữa”9
thời kỳ mới, tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 14(175) tháng 7/2010
Trang 31Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nhấn mạnh: “mục tiêu chung là xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí…” Đổi mới mạnh mẽ, triển khai đồng bộ các khâu đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện, bố trí, sử dụng, xây dựng và thực hiện chính sách cán bộ, xây dựng và thực hiện chính sách phát triển
và trọng dụng nhân tài Đảng ta thực hiện đúng nguyên tắc thống nhất lãnh đạo công tác công chức và quản lý đội ngũ công chức, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác công chức Làm tốt công tác quy hoạch và tuyển dụng, đào tạo nguồn công chức Đánh giá, bồi dưỡng, lựa chọn, sử dụng công chức trên cơ sở tiêu chuẩn, lấy hiệu quả công tác và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu Đổi mới, trẻ hóa đội ngũ lãnh đạo và quản lý, kết hợp các độ tuổi, bảo đảm tính liên tục, kế thừa và phát triển Thực hiện chủ trương luân chuyển công chức lãnh đạo và quản lý Xây dựng và chỉnh đốn các học viện, trường và trung tâm chính trị, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng công chức
Trang 32CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TUYỂN DỤNG, ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC TRONG CƠ QUAN NHÀ NƯỚC
2.1 Pháp luật về tuyển dụng công chức
Trong đó, biên chế của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân được Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định Biên chế công chức trong cơ quan của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập của Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định trên cơ sở chỉ tiêu biên chế được Chính phủ giao11
Nghị định không quy định cụ thể về cách mô tả, xác định vị trí việc làm, mà giao cho cơ quan sử dụng công chức trách nhiệm xác định, mô tả vị trí việc làm để làm căn
cứ tuyển dụng công chức cho phù hợp với từng cơ quan, tổ chức, đơn vị; làm cơ sở cho việc xác định biên chế và cơ cấu công chức Đồng thời là căn cứ để tuyển dụng và quản
lý đội ngũ công chức Theo đó, trong tuyển dụng, điều kiện đăng ký dự tuyển công chức theo yêu cầu của vị trí dự tuyển là các điều kiện cụ thể do cơ quan sử dụng công chức xây dựng trên cơ sở bản mô tả công việc của vị trí việc làm, bao gồm các điều
Trang 33kiện về chuyên ngành đào tạo, các kỹ năng, kinh nghiệm, thâm niên công tác hoặc yêu cầu về độ tuổi, giới tính, sức khỏe phù hợp với vị trí cần tuyển
Căn cứ xác định vị trí việc làm một mặt giúp cơ quan xác định nhu cầu công việc
và yêu cầu đối với người dự tuyển để có thể tuyển dụng, bố trí nguồn nhân lực hợp lý Mặt khác, cơ quan có thể phân giao chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho tập thể hay cá nhân gắn với sơ đồ tổ chức và cơ cấu công chức của cơ quan, đơn vị12
Tuy nhiên, hiện nay việc xác định vị trí việc làm, yêu cầu công việc chưa được rõ ràng, việc tuyển dụng
có tính chất lấy cho đủ chỉ tiêu biên chế rồi sắp xếp “ngẫu nhiên” theo điều kiện của cơ quan Việc thực hiện không chặt chẽ như quy định gây lãng phí trong việc tổ chức thực hiện và hiệu quả công việc không đạt cao do bố trí người và việc không hợp lý
2.1.2 Cơ quan tuyển dụng
Tùy vào chức năng, nhiệm vụ, tổ chức hoạt động của các cơ quan mà Nhà nước giao cho các cơ quan khác nhau thực hiện việc tuyển dụng công chức Cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức là các cơ quan được quy định tại điều 39 Luật cán bộ, công chức 2008, bao gồm:
Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước thực hiện tuyển dụng và phân cấp tuyển dụng công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc quyền quản lý
Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước thực hiện tuyển dụng công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý
Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tuyển dụng và phân cấp tuyển dụng công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc quyền quản lý
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tuyển dụng và phân cấp tuyển dụng công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc quyền quản lý
Cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội tuyển dụng và phân cấp tuyển dụng công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc quyền quản lý
12 ThS Phạm Đức Toàn, “Một vài suy nghĩ về xác định cơ cấu vị trí việc làm trong các cơ quan nhà nước”, Tạp
chí Tổ chức nhà nước số 7/2010
Trang 34Căn cứ số lượng người đăng ký dự tuyển, người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng quyết định việc thành lập Hội đồng thi tuyển khi tổ chức thi tuyển và Hội đồng xét tuyển khi tổ chức xét tuyển (gọi chung là Hội đồng tuyển dụng)
Trường hợp không tổ chức Hội đồng tuyển dụng, bộ phận tham mưu về công tác tổ chức cán bộ của cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng giúp người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng thực hiện việc tuyển dụng Đồng thời khi tổ chức tuyển dụng vẫn phải thành lập các bộ phận giúp việc
Cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức thông thường là cơ quan quản lý công chức Đây là cơ quan đầu mối thực hiện việc quản lý chung đối với công chức như tuyển dụng, bổ nhiệm, nâng ngạch, cho thôi việc, nghỉ hưu…Điều này hợp lý vì các vấn đề bổ nhiệm, nâng lương, khen thưởng…có liên quan với nhau khi đề cập đến công chức Cơ quan tuyển dụng cũng là cơ quan quản lý công chức sẽ có sự thống nhất các vấn đề liên quan đến công chức Và vì đây là cơ quan quản lý nên có đầy đủ thẩm quyền để giải quyết khi có vấn đề xảy ra trong quá trình tuyển dụng, giúp cho vấn đề được giải quyết một cách nhanh chóng không phải chờ ý kiến của cấp trên nữa
2.1.3 Tiêu chuẩn tuyển dụng
Theo điều 36 Luật cán bộ, công chức 2008 thì người có đủ các điều kiện sau đây không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo được đăng
ký dự tuyển công chức:
- Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam và cư trú ở Việt Nam
Điều này xuất phát từ việc công chức chịu sự ràng buộc về chính trị, hoạt động nhằm phục vụ chính trị và xuất phát từ bổn phận, trách nhiệm với đất nước, với dân tộc
và cộng đồng nên họ phải mang quốc tịch Việt Nam Để đảm bảo tính liên tục và thường xuyên của hoạt động công vụ, tính thực tiễn của pháp luật ảnh hưởng như thế nào đến đời sống của người dân và người công chức phải có sự gần gũi, liên hệ thực tế với người dân nên đòi hỏi người dự tuyển phải cư trú tại Việt Nam
- Đủ 18 tuổi trở lên, không mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
Theo điều 18 Bộ luật dân sự 2005 thì người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên Khi đó, một người đã hoàn thiện về tâm sinh lý, có khả năng nhận thức và chịu trách nhiệm cho những hành vi của mình (trừ trường hợp bị mất hoặc hạn chế năng lực
Trang 35hành vi) Công chức là người đại diện Nhà nước, thực hiện công quyền, công tác ảnh hưởng đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…nên công chức phải có đầy đủ năng lực hành vi để thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ được giao, cũng như tự chịu trách nhiệm cho những hành vi của mình
Trước đây, Nghị định 95/1998/NĐ-CP quy định giới hạn tuổi đối với người dự tuyển công chức, đó là nam từ đủ 18 tuổi đến 40 tuổi, nữ từ 18 tuổi đến 35 tuổi Nghị định 117/2003/NĐ-CP quy định người dự tuyển từ đủ 18 tuổi đến 40 tuổi Như vậy, các quy định đều có giới hạn tuổi trong tuyển dụng công chức Đến Nghị định 117/2003/NĐ-CP thì không phân biệt nam nữ, phần nào mở rộng điều kiện dự tuyển về
độ tuổi Tuy nhiên, điều này đã giới hạn phạm vi đối tượng dự tuyển Trong khi đó, những người có độ tuổi trên độ tuổi quy định là những người có khả năng làm việc rất hiệu quả bởi họ là những người đã từng trải, có kinh nghiệm trong cuộc sống cũng như trong công việc Luật quy định như vậy đã vô tình loại bỏ những người có năng lực và không thu hút được người tài cho công vụ Thêm vào đó, những người từ 35, 40 tuổi trở lên vẫn trong độ tuổi lao động, vẫn có quyền làm việc và học tập Với quy định như vậy đã ảnh hưởng đến quyền được làm việc của người dân
- Có đơn dự tuyển, có lý lịch rõ ràng
Đơn dự tuyển thể hiện nguyện vọng gia nhập nền công vụ của người dự tuyển Sơ
yếu lý lịch là một trong những căn cứ để đánh giá phẩm chất đạo đức của người dự tuyển Một sơ yếu lý lịch rõ ràng, có xác nhận của địa phương là một cam kết cho những trải nghiệm, cũng như sự thể hiện một phần thái độ, tinh thần, phẩm chất mà người dự tuyển có được khi muốn tham gia nền công vụ Người dự tuyển chưa là công chức, chưa thực thi công vụ nên cơ quan tuyển dụng chưa thể đánh giá được phẩm chất đạo đức, chính trị của người dự tuyển như thế nào Vì vậy, những gì người dự tuyển đã làm trong quá khứ và hiện tại sẽ là căn cứ cho cơ quan tuyển dụng để đánh giá, dự đoán được thái độ đối với công việc của người dự tuyển trong tương lai
Người dự tuyển phải không đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang chấp hành hoặc đã chấp hành xong bản án, quyết định về hình sự của Tòa án mà chưa được xóa
án tích, đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục Những người đang chấp hành các biện pháp xử lý này là những người đã có hành vi vi phạm pháp luật, từ đó cho thấy ý thức tuân thủ pháp luật của họ là chưa tốt Trong thời gian họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành quyết định hình sự hay
Trang 36chấp hành xong mà chưa được xóa án tích của Tòa án, đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh là thời gian họ chịu sự giáo dục, cải tạo của pháp luật để hoàn thiện suy nghĩ, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật Pháp luật cho họ một khoảng thời gian để chịu trách nhiệm cho những việc họ đã làm, hết thời gian này pháp luật sẽ ghi nhận, đánh giá những sửa đổi của họ Công chức trước tiên phải là những người công dân tốt, có ý thức nghiêm chỉnh tuân thủ pháp luật Mà những người đang chịu các biện pháp xử lý đó đang cần được giáo dục ý thức pháp luật nên họ không được đăng ký dự tuyển công chức
Tiêu chuẩn đòi hỏi là lý lịch rõ ràng chứ không phải lý lịch trong sáng nên có thể thấy lý lịch thể hiện trung thực, đầy đủ những việc làm của người dự tuyển trước đây
và họ không đang bị chịu các biện pháp xử lý tại điểm c khoản 2 điều 36 là có thể được Có thể trước đây người dự tuyển có phạm phải những lỗi lầm nhưng đã có thái
độ sửa đổi tích cực, khắc phục sai phạm thì vẫn có thể được dự tuyển nếu đáp ứng được các tiêu chuẩn Còn với yêu cầu lý lịch trong sáng thì có thể sẽ khó khăn cho những người trước đây lầm lỡ nhưng là người có năng lực và đã có sửa đổi vì nếu người tuyển dụng không công tâm, có tư tưởng hẹp hòi sẽ vịn vào đây để đánh giá lý lịch không trong sáng mà không cho người dự tuyển có cơ hội được thi tuyển
- Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt
Đây là tiêu chuẩn quan trọng, cần thiết đối với một người mang quyền lực công giải quyết công việc Bởi không có phẩm chất chính trị đạo đức thì dễ dẫn đến lạm quyền, quan liêu, hách dịch gây phiền hà cho người dân và ảnh hưởng đến cơ quan, bộ máy Nhưng cũng thật khó để đánh giá được phẩm chất chính trị, đạo đức của một người chỉ mới nộp hồ sơ dự tuyển Tiêu chuẩn đòi hỏi người dự tuyển phải có lập trường chính trị vững vàng, tinh thần phục vụ nhà nước, phục vụ nhân dân nhưng cũng chỉ có thể đánh giá được một phần qua sơ yếu lý lịch, qua phỏng vấn trực tiếp Để đánh
Trang 37giá được phẩm chất của một người cần phải có thời gian và biểu hiện của thái độ, tinh thần khi giải quyết công việc
Xác định được phẩm chất chính trị, đạo đức của một người bình thường, chưa từng phạm tội đã là việc khó Thế thì để xác định được phẩm chất chính trị, đạo đức của một người đã từng phạm tội và đã được xóa án tích còn khó khăn hơn rất nhiều và mang tính mạo hiểm Một người đã từng phạm tội tức là họ đã có hành vi vi phạm pháp luật và hành vi này còn gây nguy hiểm cho xã hội Vậy, phẩm chất chính trị, đạo đức của họ là chưa tốt?! Để xác định một người phạm tội cần điều tra, làm rõ rất nhiều yếu tố Trong đó, động cơ, mục đích, khách thể của tội phạm là rất quan trọng, cần được xem xét đánh giá khi nói về phẩm chất chính trị, đạo đức của người phạm tội
Theo điều 63 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì “người được xóa
án tích coi như chưa bị kết án…”, tức là mặc dù một người đã từng phạm tội nhưng đã
được xóa án tích thì lý lịch của họ cũng được xem như người bình thường, chưa từng phạm tội Sau thời gian chấp hành bản án của Tòa án thì người phạm tội phải không phạm tội mới trong một thời gian nhất định theo quy định tùy theo hình phạt mà họ chịu thì họ sẽ được xóa án tích Lưu ý là đối với các trường hợp phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh tại chương XI và chương XXIV Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) thì phải có quyết định xóa án tích của Tòa án Vậy là, khi một người phạm tội đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích thì họ vẫn được dự được dự tuyển công chức và cũng có thể được xem như vẫn có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt Thêm nữa, khi nước nhà mới giành độc lập, Bác Hồ cũng đã từng mời những nhân sỹ, trí thức từng làm việc cho chế độ cũ như cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Phan Kế Toại, cụ Bùi Bằng Đoàn…mà không hề câu nệ chuyện cũ của họ Bởi Bác biết đây là những người có tài,
có thể giúp được nước nhà trong những ngày đầu thành lập Bên cạnh đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII cũng đã thể hiện chủ
trương của Đảng và Nhà nước “không định kiến với những người có sai lầm trong quá
khứ, nay đã hối cải và sửa chữa” Do đó, khi một người có mắc sai phạm trong quá
khứ nhưng đã có sửa đổi tích cực, được ghi nhận và họ là một nhân tài thì vẫn nên đối
xử bình thường, vẫn được dự tuyển công chức và tiêu chuẩn phẩm chất chính trị, đạo đức sẽ được xem xét thận trọng hơn để không bỏ lọt người tài
Trang 38- Đủ sức khỏe để thực hiện nhiệm vụ
Sức khỏe là một yêu cầu thiết thực, đòi hỏi một người phải có dù làm bất cứ công việc gì Sức khỏe tốt, tinh thần minh mẫn thì hiệu quả công việc sẽ cao hơn Do đó, người dự tuyển phải có đủ sức khỏe để đảm bảo công vụ được thực hiện thường xuyên
và liên tục
- Các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí dự tuyển
Đây là các tiêu chuẩn “mềm” tùy vào yêu cầu công việc, vị trí việc làm mà cơ quan tuyển dụng có thể đưa ra thêm để lựa chọn được người phù hợp, đáp ứng được yêu cầu công việc Trong đó, tùy vào ngành nghề, vị trí cần tuyển mà cơ quan tuyển dụng đưa ra những yêu cầu hợp lý để những người có điều kiện có thể đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của công việc Đồng thời các điều kiện này phải bảo đảm tính thống nhất, không trái với các điều kiện ở trên và các nguyên tắc trong tuyển dụng
2.1.4 Phương thức tuyển dụng
Tuyển dụng công chức hiện nay được thực hiện thông qua phương thức thi tuyển hoặc xét tuyển Phương thức thi tuyển được tổ chức bằng hình thức thi viết gồm các bài thi môn kiến thức chung, kiến thức chuyên ngành, tin học, ngoại ngữ Phương thức xét tuyển thông qua việc xét điểm học tập, điểm tốt nghiệp (điểm luận văn) và phỏng vấn
2.1.4.1 Phương thức thi tuyển
Hình thức, nội dung thi tuyển công chức phải phù hợp với ngành, nghề, bảo đảm
lựa chọn được những người có đủ phẩm chất, trình độ và năng lực đáp ứng yêu cầu tuyển dụng13
Trước đó, tuy có sự khác nhau trong thi tuyển nhưng cả Nghị định 95/1998/NĐ-CP
và Nghị định 117/2003/NĐ-CP đều quy định thi tuyển là hình thức bắt buộc trong tuyển dụng, trừ một số trường hợp được xét tuyển Thông tư 04/1999/TT-TCCP của Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn Nghị định 95/1998/NĐ-CP quy định người dự tuyển phải thi tuyển qua hai phần thi bắt buộc đó là thi viết và thi vấn đáp14
Trang 39phải có thi vấn đáp nhưng có vòng sơ tuyển, khi số người đăng ký dự tuyển từ 100 người trở lên và nhiều hơn hai lần chỉ tiêu được tuyển thì Hội đồng tuyển dụng tổ chức
sơ tuyển để chọn ra số người đủ tiêu chuẩn và điều kiện thi tuyển15
Hiện nay, tuyển dụng công chức bằng hình thức thi tuyển được quy định khá rõ ràng, cụ thể ở Nghị định 24/2010/NĐ-CP từ điều 8 đến điều 11 Trong đó, người dự tuyển phải trải qua các môn thi kiến thức chung về hệ thống chính trị, tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước, pháp luật… về ngành, lĩnh vực tuyển dụng; môn nghiệp vụ chuyên ngành; ngoại ngữ; tin học văn phòng Trong đó môn ngoại ngữ, tin học văn phòng được xem như môn điều kiện để hoàn thành phần thi tuyển mà không tính vào tổng số điểm thi Người dự tuyển được miễn thi môn ngoại ngữ (nếu môn nghiệp vụ chuyên ngành không phải là môn ngoại ngữ) khi có bằng tốt nghiệp đại học, sau đại học về ngoại ngữ; bằng tốt nghiệp đại học, sau đại học ở nước ngoài hoặc bằng tốt nghiệp đại học, sau đại học tại cơ sở đào tạo bằng tiếng nước ngoài ở Việt Nam Người
dự tuyển được miễn thi môn tin học văn phòng (tin học văn phòng không phải là môn nghiệp vụ chuyên ngành) khi có bằng tốt nghiệp từ trung cấp chuyên ngành công nghệ thông tin trở lên
Người trúng tuyển phải có đủ các bài thi các môn, điểm mỗi bài thi từ 50 điểm trở lên (điểm thi được tính theo thang điểm 100), có kết quả thi tuyển cao hơn lấy theo thứ
tự từ cao xuống thấp trong phạm vi chỉ tiêu tuyển dụng của từng vị trí việc làm Những người có điểm thi bằng nhau thì người có điểm thi bài viết môn nghiệp vụ chuyên ngành cao hơn sẽ trúng tuyển; nếu bằng nhau ở bài thi viết thì xem điểm bài thi trắc nghiệm môn nghiệp vụ chuyên ngành, người có điểm cao hơn là người trúng tuyển; nếu vẫn không xác định được thì người đứng đầu cơ quan tuyển dụng sẽ quyết định người trúng tuyển Kết quả tuyển dụng sẽ không được bảo lưu cho kỳ thi tuyển sau
- Một số ưu điểm của hình thức thi tuyển
Hiện nay thi tuyển được thực hiện qua các bài thi viết Bài thi viết sẽ cho các ứng viên thể hiện khả năng phân tích, lập luận của mình, cũng như các yêu cầu về hình thức trong công tác văn thư Bài thi này giúp cho cơ quan tuyển dụng rất nhiều trong công tác chọn lọc các ứng viên Nó giúp cơ quan tuyển dụng có thể chọn ra những người nổi trội trong số đông người tham gia ứng tuyển Từ việc chọn được người đáp ứng đầy đủ
15
Xem 4.II Thông tư 09/2004/TT-BNV hướng dẫn Nghị định 117/2003/NĐ-CP
Trang 40các tiêu chí, đảm bảo thực hiện ngay yêu cầu của công việc đến việc có thể chỉ chọn được người đáp ứng được những yêu cầu cơ bản, chuyên môn phù hợp với công việc thì cũng có thể chỉ ra những yêu cầu về hình thức cần thiết mà họ phải hoàn thiện hơn
để làm tốt công việc
Bên cạnh đó, bài thi viết còn có thể là những câu hỏi mở, tạo điều kiện cho ứng viên thể hiện suy nghĩ, cũng như những sáng kiến của mình cho nền công vụ Bài thi trắc nghiệm để các ứng viên vận dụng sự nhạy bén, tư duy logic, khả năng quyết đoán thể hiện năng lực chuyên môn; đồng thời ứng viên còn thể hiện khả năng phân bố, sắp xếp thời gian một cách hợp lý để có thể hoàn thành công việc một cách tốt nhất
Thi tuyển có ưu điểm nổi bật là được tổ chức công khai, những người quan tâm cũng như xã hội có thể theo dõi hoạt động này Một mặt cho thấy sự dân chủ của cơ quan tuyển dụng, người dân có thể giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước Khi công khai cũng đảm bảo rằng mình sẽ thực hiện đúng theo quy định của pháp luật và sự cầu thị khi cơ quan được đóng góp ý kiến
Mặt khác, thi tuyển còn cho thấy cơ quan tuyển dụng đề cao năng lực thực tế hơn, chứ không chỉ chú trọng vào bằng cấp, từ đó sẽ tạo được tâm lý công bằng cho các ứng viên Sự chuẩn bị kỹ lưỡng từ các ứng viên để có thể thể hiện được hết khả năng của mình mà hoàn thành tốt các phần thi, chứng tỏ với cơ quan tuyển dụng rằng mình là người đáp ứng tốt yêu cầu công việc Trên thực tế, người có điểm số cao, bằng cấp tốt
ở trường chưa chắc đã làm tốt công việc với yêu cầu thực tiễn
Thi tuyển là phương thức tuyển dụng khá hiệu quả, nhưng đòi hỏi phải được tổ chức công phu nên mất nhiều thời gian và tốn kém về tiền bạc Nếu tổ chức mà không hiệu quả, không tuyển được người tài cho công việc thì sẽ rất lãng phí, cả thời gian, công sức và ngân sách của cơ quan Trong khi đó, điều kiện của mỗi cơ quan là không giống nhau, tùy vào ngân sách địa phương, vị trí cần tuyển mà cơ quan quyết định hình thức tuyển dụng phù hợp, không thể khi có tuyển dụng là lại tổ chức thi tuyển Cho nên đây cũng là một hạn chế của hình thức tuyển dụng này
2.1.4.2 Phương thức xét tuyển
Người có đủ điều kiện quy định tại khoản 1 điều 36 Luật cán bộ, công chức năm
2008 cam kết tình nguyện làm việc từ 05 năm trở lên ở miền núi, biên giới, hải đảo,