3.1 Phần trăm số hộ tham gia tập huấn của các hộ sản xuất xà lách xoong tại Đông Bình, Bình Minh, Vĩnh Long 23 3.2 Phần trăm về loại phân bón sử dụng cho cải xà lách xoong của các hộ tại
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
NGUYỄN NGỌC HUYỀN
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC
XÀ LÁCH XOONG (Nasturtium officinale R.Br.) TẠI
ĐÔNG BÌNH, BÌNH MINH, VĨNH LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH NÔNG NGHIỆP SẠCH
Cần Thơ - 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Nguyễn Ngọc Huyền
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC
XÀ LÁCH XOONG (Nasturtium officinale R.Br.) TẠI
ĐÔNG BÌNH, BÌNH MINH, VĨNH LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH NÔNG NGHIỆP SẠCH
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PGS TS Nguyễn Bảo Vệ ThS Bùi Thị Cẩm Hường
Cần Thơ – 2012
Trang 3i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Chứng nhận luận văn tốt nghiệp với đề tài “ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH
TÁC XÀ LÁCH XOONG (Nasturtium officinale R.Br.) TẠI ĐÔNG BÌNH, BÌNH
MINH, VĨNH LONG” do sinh viên NGUYỄN NGỌC HUYỀN thực hiện và đề nạp
Ý kiến đánh giá của cán bộ hướng dẫn: -
-
-
-
-
-
- Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2012
Cán bộ hướng dẫn
PGS TS Nguyễn Bảo Vệ ThS Bùi Thị Cẩm Hường
Trang 4ii
Luận văn tốt nghiệp kèm theo đây, với đề tựa là “ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG
CANH TÁC XÀ LÁCH XOONG (Nasturtium officinale R.Br.) TẠI ĐÔNG BÌNH,
BÌNH MINH, VĨNH LONG” do NGUYỄN NGỌC HUYỀN thực hiện và báo cáo,
đã đƣợc hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp thông qua
Luận văn đƣợc đánh giá ở mức : -
Ý kiến Hội đồng : -
-
-
-
-
-
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2012
Trang 5iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì luận văn nào trước đây
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Huyền
Trang 6iv
LỜI CẢM TẠ Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
Ba, mẹ và tất cả người thân trong gia đình đã luôn chăm sóc, động viên tôi trong suốt quá trình học tập
PGS TS Nguyễn Mỹ Hoa, người đã truyền cho tôi những kiến thức quý báo trong học tập cũng như trong cuộc sống
PGS TS Nguyễn Bảo Vệ và ThS Bùi Thị Cẩm Hường, người đã tận tình hướng dẫn, cho tôi những lời khuyên hết sức bổ ích tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt luận văn này
Xin chân thành cảm ơn
Quý Thầy, Cô của khoa Nông Nghiệp & Sinh học ứng dụng trường Đại học Cần Thơ đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quí báo trong quá trình học
Các cô, chú, anh, chị trong chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Vĩnh Long đã giúp
đỡ tôi thu thập những số liệu cần thiết để hoàn thành luận văn
Tập thể các bạn sinh viên lớp Nông Nghiệp Sạch khóa 34 trường Đại học Cần Thơ đã nhiệt tình hỗ trợ tôi trong thời gian thực hiện luận văn
Xin trân trọng ghi nhớ và gửi lời cảm ơn chân thành tới bạn bè đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn
Trang 7v
QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC
Nơi sinh: Thạnh Trị – Tân Hiệp – Kiên Giang
Thời gian học từ năm 2004 đến năm 2007
Trường Trung học phổ thông Thạnh Đông
Địa chỉ: Thạnh Trị - Tân Hiệp – Kiên Giang
4 Đại học
Trúng tuyển vào ngành Trồng trọt trường Đại học Cần Thơ năm 2008 và học chuyên ngành Nông Nghiệp Sạch
Ngày …… tháng …… năm 2012
Trang 8vi
MỤC LỤC
Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG
LỜI CAM ĐOAN
1
1.1 Khái quát sơ lược về cây rau
1.2 Sự tăng trưởng và phát triển của cây rau
2
2 1.2.1 Chu kỳ đời sống của cây rau
1.2.2 Sự tăng trưởng và phát triển của rau
1.2.3 Tính ngủ nghỉ (miên trạng)
2
2
3 1.3 Vai trò dinh dưỡng của cây rau
1.4 Ý nghĩa kinh tế và ý nghĩa xã hội của cây rau
1.5 Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam
1.6 Cây cải xà lách xoong
Trang 102.1.1 Thời gian và địa điểm
2.1.2 Khái quát đặc điểm vùng điều tra
3.1.1 Tuổi
3.1.2 Kinh nghiệm trồng rau
3.1.3 Trình độ học vấn
3.1.4 Tham dự tập huấn sản xuất rau
3.1.5 Diện tích canh tác rau
Trang 113.2.5.2 Phòng trừ bệnh hại
32
34 3.2.6 Chăm sóc
3.2.7 Thu hoạch và tiêu thụ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
44
47
Trang 123.1 Phần trăm số hộ tham gia tập huấn của các hộ sản xuất xà
lách xoong tại Đông Bình, Bình Minh, Vĩnh Long
23
3.2 Phần trăm về loại phân bón sử dụng cho cải xà lách xoong
của các hộ tại Đông Bình, Bình Minh, Vĩnh Long
28
3.3 Phần trăm số hộ theo bón lót đầu vụ xà lách xoong của các
hộ tại Đông Bình, Bình Minh, Vĩnh Long
29
3.4 Phần trăm theo lượng lân (P2O5) bón cho xà lách xoong tại
Đông Bình, Bình Minh, Vĩnh Long
32
3.5 Phần trăm số hộ theo lượng kali (K2O) bón cho cải xà lách
xoong tại Đông Bình, Bình Minh, Vĩnh Long
33
3.6 Phần trăm sâu hại cải xà lách xoong tại Đông Bình, Bình
Minh, Vĩnh Long
34
3.7 Phần trăm số hộ sử dụng loại thuốc phòng trị bệnh trên cải
xà lách xoong tại Đông Bình, Bình Minh, Vĩnh Long
36
3.8 Phần trăm số hộ theo cách tưới nước cho cải xà lách xoong
tại Đông Bình, Bình Minh, Vĩnh Long
38
3.9 Phần trăm số hộ theo số lần tưới cho xà lách xoong tại Đông
Bình, Bình Minh, Vĩnh Long
39
3.10 Phần trăm số hộ theo thời gian thu hoạch cải xà lách xoong
lần đầu tại Đông Bình, Bình Minh, Vĩnh Long
40
3.11 Phần trăm số hộ theo thời gian thu hoạch cải xà lách xoong
những lần tiếp theo tại Đông Bình, Bình Minh, Vĩnh Long
41
3.12 Phần trăm số hộ theo sản lượng thu hoạch cải xà lách xoong
tại Đông Bình, Bình Minh, Vĩnh Long
42
Trang 133.2 Số hộ và phần trăm số hộ theo kinh nghiệm trồng rau của các hộ
3.3 Số hộ và phần trăm số hộ theo trình độ học vấn của các hộ tại
3.4 Số hộ và phần trăm số hộ theo diện tích canh tác rau của các hộ
3.5 Số hộ và phần trăm số hộ theo thời vụ gieo trồng tại Đông Bình,
3.6 Số hộ và phần trăm số hộ theo lƣợng giống xà lách xoong đƣợc
sử dụng của các hộ tại Đông Bình, Bình Minh, Vĩnh Long 27
3.7 Số hộ và phần trăm số hộ theo số lần bón phân cho cải xà lách
3.8 Số hộ và phần trăm số hộ về lƣợng đạm cung cấp cho cải xà lách
3.9 Số hộ và Phần trăm số hộ theo loại thuốc phòng trừ sâu hại trên
cải xà lách xoong tại Đông Bình, Bình Minh, Vĩnh Long 35
3.10 Số hộ và Phần trăm số hộ theo loại bệnh xuất hiện trên cải xà
3.11 Số hộ và phần trăm số hộ theo số lần làm cỏ cho cải xà lách
3.12 Phần trăm các loại chi phí trong sản xuất cải xà lách xoong của
Trang 14xii
NGUYỄN NGỌC HUYỀN, 2012 “ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC XÀ
LÁCH XOONG (Nasturtium officinale R.BR.) TẠI ĐÔNG BÌNH, BÌNH MINH, VĨNH LONG” Luận văn tốt nghiệp kỹ sư chuyên ngành Nông Nghiệp Sạch, trường
Đại Học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn: PGS TS NGUYỄN BẢO VỆ và ThS BÙI THỊ CẨM HƯỜNG
Kết quả cho thấy có những thuận lợi sau: (1) 100% hộ đều lên liếp, đào rãnh, làm
cỏ, tưới nước và che mát khi trồng cải xà lách xoong; (2) Đa số chủ hộ nằm trong tuổi lao động (30-40 tuổi chiếm 60,0%); (3) Các hộ có kinh nghiệm trồng rau màu lâu năm, kinh nghiệm trung bình là 9,5 năm; những hộ có kinh nghiệm từ 10-20 năm chiếm tỷ lệ cao (56,0%); (4) Đa số các hộ có bón lót trước khi trồng cải xà lách xoong (80,0%); (5) Năng suất cải xà lách xoong tương đối cao (7,97 tấn/ha)
Bên cạnh đó những khó khăn cần giải quyết như: (1) Trình độ học vấn của chủ
hộ còn thấp, đa số chỉ đạt cấp 1 (56,7%); (2) Nông hộ tham gia lớp tập huấn chiếm
tỷ lệ thấp (26,7%) (3) Diện tích canh tác nhỏ lẻ và không tập trung, đa số trong khoảng 0,2-<0,4 ha (56,7%); (4) Thời vụ gieo xà lách xoong không tập trung mà rải rác quanh năm; (5) Đa số hộ không sử dụng phân hữu cơ bón cho rau; (6) Thị trường tiêu thụ còn hạn chế, chỉ bán cho thương lái; (7) 100% nông hộ không đảm bảo thời gian cách ly
Trang 151
MỞ ĐẦU
Huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long có thể nói đây là huyện có nền Nông nghiệp gắn bó từ rất lâu Nông nghiệp của huyện giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu ngành kinh tế, tốc độ gia tăng giá trị sản lượng Nông nghiệp luôn ổn định Trong nhiều hoạt động Nông nghiệp của huyện thì việc canh tác rau cũng đã góp phần không nhỏ vào việc phát triển kinh tế Thêm vào đó, rau còn là thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của con người Rau cung cấp nhiều loại vitamin và khoáng chất cần thiết cho cơ thể mà các loại thực phẩm khác không có Nhiều loại rau còn là những vị thuốc quí được dân gian sử dụng để trị bệnh và cải xà lách xoong cũng là một trong những loại rau có giá trị y học cao Ngày nay, rau xà lách xoong không chỉ được sản xuất để đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn là một mặt hàng xuất khẩu mang lại nhiều ngoại tệ cho nhiều nước trên thế giới
Ở huyện Bình Minh nói riêng và cả nước nói chung, những năm gần đây việc trồng rau xà lách xoong có những bước phát triển vượt bậc; nhiều công trình nghiên cứu về xà lách xoong trong nhà lưới hay canh tác theo hướng an toàn cũng được tiến hành Nhiều vùng sản xuất rau xà lách xoong chuyên canh qui mô lớn đã được hình thành với năng suất và sản lượng ngày càng được nâng cao Xà lách xoong sản xuất ra không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu sang nhiều quốc gia khác Tuy nhiên, với tình hình dân số thế giới ngày càng tăng, việc đáp ứng đủ nhu cầu về rau nói chung, cải xà lách xoong nói riêng cho người tiêu dùng là rất khó Tại một số vùng của huyện Bình Minh cũng đã đóng góp một số lượng xà lách xoong không nhỏ cho cả nước và để huyện có thể mở rộng hơn nữa mô hình canh tác xà lách xoong, sản phẩm có thể tiêu thụ ở các thị trường cao cấp như nhà hàng,
khách sạn, siêu thị,… vì vậy đề tài: “Điều tra hiện trạng canh tác xà lách xoong
(Nasturtium officinale R.Br.) tại Đông Bình, Bình Minh, Vĩnh Long” được thực hiện
nhằm bước đầu đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong quá trình canh tác xà lách xoong của các hộ ở xã Đông Bình, huyện Bình Minh, Vĩnh Long
Trang 162
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 Khái quát sơ lược về cây rau
Hiện nay có hơn 200 loài được liệt kê là rau cải, tuy nhiên trong sản xuất chỉ trồng 70-80 loài Phần lớn các cây rau chính tập trung trong 5 họ sau: họ Hành tỏi
(Alliaceae), họ Cải (Crucifereae), họ Bầu bí (Cucurbitaceae), họ Đậu (Fabaceae),
họ Cà (Solanaceae) (Nguyễn Mạnh Chinh, 2007)
Theo Phạm Hồng Cúc và ctv (2001), các cây rau trong cùng một họ không
phải luôn luôn canh tác cùng phương pháp hoặc sử dụng làm thực phẩm như nhau
Do đó, trong sản xuất thường chú trọng cách xếp nhóm rau theo bộ phận sử dụng Theo cách phân loại này gồm có các nhóm như rau ăn lá, rau ăn hoa, rau ăn trái, rau
ăn củ và rau gia vị Cây rau được phân loại theo chu kỳ sống của chúng gồm có rau hàng năm, rau hai năm và rau nhiều năm (Tạ Thu Cúc, 2005)
1.2 Sự tăng trưởng và phát triển của cây rau
1.2.1 Chu kỳ đời sống của cây rau
Chu kỳ đời sống hay tuổi thọ của cây là thời gian từ khi hạt bắt đầu nảy mầm đến khi cây ra hoa, kết trái rồi chết tự nhiên Theo định nghĩa này, rau có thể chia làm ba nhóm gồm: rau hàng năm, rau hai năm và rau nhiều năm Rau hàng năm là những cây trổ hoa, mang trái một lần và hoàn tất chu kỳ sống trong một năm Rau hai năm cũng trổ hoa và mang trái một lần trong đời nhưng hoàn tất chu kỳ sống trong hai năm; năm đầu phát triển thân lá, năm thứ hai trổ hoa kết trái Những cây rau trổ hoa kết trái nhiều lần trong đời và sống nhiều năm gọi là rau nhiều năm Hầu hết các loại rau thường không hoàn tất chu kỳ sống trong điều kiện ngoài đồng vì rau được canh tác chủ yếu để làm rau ăn, mà phần này chủ yếu là thân, lá, hoa hay
trái còn non (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001)
1.2.2 Sự tăng trưởng và phát triển của rau
Theo Nguyễn Mạnh Chinh (2007), sự tăng trưởng là sự gia tăng về kích thước và trọng lượng cây, nghĩa là những thay đổi về lượng Sự phát triển là sự hình thành các cơ quan sinh sản, ra hoa, đậu trái, là sự thay đổi về chất bên trong cây
Trang 173
Đối với rau sử dụng cơ quan dinh dưỡng như thân, lá, củ cần tạo điều kiện cho cây phát triển mạnh thân, lá và hạn chế ra hoa Đối với các cây rau ăn trái 1 năm như cà chua, dưa leo, bầu bí… cần tạo điều kiện để cây sinh trưởng mạnh cho trái nhiều, năng suất cao
1.2.3 Tính ngủ nghỉ (miên trạng)
Trong suốt chu kỳ sống của cây rau có một giai đoạn tạm ngừng sinh trưởng, giai đoạn đó được gọi là giai đoạn ngủ nghỉ Sự ngủ nghỉ có thể là do các điều kiện ngoại cảnh không thích hợp cho sự sinh trưởng như nhiệt độ, nước, ánh sáng; hoặc
do các nguyên nhân sâu xa bên trong, chủ yếu là sự tích lũy một lượng lớn các chất
ức chế sinh trưởng Hiện tượng ngủ nghỉ thường thấy ở hạt hoặc các cơ quan dự trữ như rễ, củ, thân ngầm Khi gặp điều kiện ngoại cảnh thích hợp hoặc khi các chất ức chế giảm đến mức tối thiểu thì các bộ phận ngủ nghỉ sẽ trở lại sinh trưởng (Nguyễn Mạnh Chinh, 2007)
Theo Phạm Hồng Cúc và ctv (2001), sự thay đổi mùa trong năm là nguyên
nhân làm cho cây rau có giai đoạn sống tích cực và giai đoạn ngủ nghỉ trong chu kỳ sinh trưởng Cây hay cơ quan riêng lẻ của cây ngủ nghỉ để chống chịu với sự lạnh giá của mùa đông và khô hạn trong mùa hè Tính ngủ nghỉ là đặc tính riêng biệt của các loại rau khác nhau Đặc tính này giúp cho việc dự trữ hạt giống, cây giống hay thực phẩm được dễ dàng
1.3 Vai trò dinh dưỡng của cây rau
Rau là thực phẩm không thể thiếu trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của con người Các bộ phận của cây rau như thân, lá, hoa, trái hoặc củ được sử dụng để chế biến thành thực phẩm theo nhiều cách như ăn sống, luộc, xào, nấu, muối mặn, đóng hộp, sấy khô Một số cây rau còn được chế biến thành kẹo, mức hoặc nước giải khát như bí đao, cà rốt, cà chua… (Nguyễn Mạnh Chinh, 2007)
Theo Phạm Hồng Cúc và ctv (2001), thành phần của cây rau chứa từ
70-95% nước Lượng chất bột đường, chất đạm, chất béo trong rau không đáng kể so với các loại thực phẩm khác nên rau không phải là thức ăn có giá trị năng lượng cao Tuy nhiên, rau là nguồn bổ sung vitamin và khoáng chất quan trọng nhất
Trang 184
Trong rau chứa nhiều loại vitamin quan trọng như vitamin A, B, C, E,… mà các loại thực phẩm khác không có hoặc có rất ít (Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan, 2005) Theo Nguyễn Mạnh Chinh (2007), thành phần khoáng chất trong rau chủ yếu
là kali, canxi, photpho, sắt, iốt… Các khoáng chất này rất cần thiết thường ở dạng ion kiềm, nên giúp trung hòa pH trong máu và dịch cơ thể Theo Tạ Thu Cúc (2005), chất xơ trong rau chiếm một khối lượng lớn, tuy không có giá trị về mặt dinh dưỡng nhưng có tác dụng nhuận tràng và làm tăng khả năng tiêu hóa
Một số loại rau có hàm lượng chất đạm cao như cải bixen, trái non đậu hòa lan, bồ ngót và rau muống Việc cung cấp chất đạm từ rau không quan trọng ở các nước phát triển nhưng có ý nghĩa to lớn ở các nước nghèo có tỉ lệ dân thiếu đạm cao
(Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001) Trong nhiều loại rau còn chứa những chất có tác
dụng dược lý như chất phytoxit trong tỏi có tác dụng kháng sinh, vitamin U trong cải bắp có thể làm lành các vết loét bao tử, chất paverin trong rau bồ ngót giúp an thần hay cây hành dùng trị cảm lạnh và ăn khó tiêu (Nguyễn Mạnh Chinh, 2007)
1.4 Ý nghĩa kinh tế và ý nghĩa xã hội của cây rau
Theo Tạ Thu Cúc (2005), rau là loại cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao; cây rau có thời gian sinh trưởng ngắn nên có thể gieo trồng nhiều vụ trong năm, do đó
làm tăng sản lượng trên một đơn vị diện tích Theo Phạm Hồng Cúc và ctv (2001),
sản xuất rau chỉ chiếm 5-6% so với tổng sản lượng Nông nghiệp Tuy nhiên, lợi tức trên diện tích từ sản xuất rau mang lại thường rất cao Lãi thuần và lợi tức ngày công trồng cải bắp, cà chua hay dưa leo thường cao hơn trong lúa, bắp từ 3-6 lần Theo Nguyễn Mạnh Chinh (2007), lao động sử dụng cho trồng rau cao hơn trồng lúa và bắp từ 2-4 lần Kết quả điều tra của Viện Kinh tế Nông nghiệp năm 1996 ở khu vực phía Bắc cũng tương tự
Theo Tạ Thu Cúc (2005), khi nghề sản xuất rau chuyên canh được mở rộng
sẽ có điều kiện sắp xếp lao động một cách hợp lý, giải quyết việc làm cho nông dân trong những lúc nhàn rỗi Phát triển ngành sản xuất rau còn có điều kiện hỗ trợ đối với các ngành nghề khác như đan sọt, giỏ, chế biến kinh doanh rau hay cung cấp thức ăn cho chăn nuôi
Trang 195
1.5 Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam
Theo Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng (2002), nghề trồng rau ở nước ta ra đời rất sớm, trước cả nghề trồng lúa nước Nhưng nước ta chịu ảnh hưởng của một nền Nông nghiệp tự túc trong nhiều thế kỷ nên sự phát triển của ngành trồng rau chưa tương xứng với tiềm năng tự nhiên và trình độ canh tác hiện có
Theo ước tính của các nhà dinh dưỡng học, nhu cầu rau trong ngày của một người trung bình 250-350 g (khoảng 7,5-10 kg/tháng) Ở nước ta hiện nay, sản lượng rau chỉ mới cung cấp được khoảng 180-200 g cho một người một ngày (Nguyễn Mạnh Chinh, 2007)
Theo Thống kê năm 2004 diện tích trồng rau cả nước ta khoảng 615 nghìn hecta, chiếm gần 7% đất Nông nghiệp và 10% đất cây hàng năm Năng suất trung bình đạt 14,5 tấn/ha tương đương với sản lượng khoảng 8,8 triệu tấn (Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan, 2005) Vùng sản xuất rau tập trung ở Đồng bằng sông Hồng với khoảng 30% diện tích và 35% sản lượng rau cả nước, đây cũng là vùng rau hàng hóa với nhiều loại rau ôn đới có khả năng xuất khẩu tốt như cải bắp, súp
lơ, su hào, cà rốt, măng tây, cà chua, hành tây, khoai tây,… Ở các tỉnh phía Nam vùng rau tập trung chủ yếu ở Lâm Đồng (26.000 ha) và TP Hồ Chí Minh (9.000 ha) Vùng rau luân canh với cây lương thực được trồng chủ yếu tại các tỉnh phía Bắc, Đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh Đông Nam Bộ, đây là vùng rau hàng hóa lớn cung cấp cho khu vực và xuất khẩu sang các nước có mùa đông lạnh không trồng được rau (Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng, 2005) Theo Phạm Hồng Cúc
và ctv (2001), sản xuất rau thường tập trung vào vụ Đông Xuân vì điều kiện thời
tiết thuận lợi nên rau trồng vụ này thường có sản lượng cao hơn những vụ khác trong năm
1.6 Cây cải xà lách xoong
1.6.1 Nguồn gốc và phân bố
Cải xà lách xoong có nguồn gốc ở Châu Âu; được trồng ở miền Nam nước ta cuối thế kỷ thứ XIX, sau đó lan dần ra phía Bắc và địa phương khác (Võ Văn Chi, 2005) Theo Purseglove (1968), cải xà lách xoong có nguồn gốc ở nước Anh hoặc ở Bắc Âu, Trung Âu
Trang 206
Theo Việt Hải (2011), ngày nay xà lách xoong được trồng ở phía Tây Châu
Á và Malaysia, Ấn Độ, Indonesia, Philippines và phía Bắc Châu Phi Ở Việt Nam, cải xà lách xoong được trồng chủ yếu ở vùng cao, khí hậu mát mẻ như miền Bắc,
Đà Lạt Ở ĐBSCL, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long là nơi trọng điểm trồng cải xà lách xoong và có truyền thống từ lâu đời, cung cấp cho Đồng bằng sông Cửu Long
và cả thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra, tỉnh An Giang, Cần Thơ cũng có trồng nhưng diện tích không đáng kể
1.6.2 Đặc tính thực vật
Cải xà lách xoong từ tiếng Pháp là Cresson (Cresson de fontaine, cresson
d’eau), tên khoa học Nasturtium officinale R.Br hay còn gọi là Rorippa
nasturtium-aquaticum (L) Hayek ex Mansf hoặc Nasturtium nasturtium-aquaticum L Karsten, thuộc họ
Thập Tự (Cruciferae), số lượng nhiễm sắc thể 2n = 32 (Trần Văn Lài và Lê Thị Hà, 2002)
1.6.2.1 Rễ
Xà lách xoong thuộc loại rễ chùm, có rễ phụ mọc ở đốt thân và phát triển mạnh, có thể hút dinh dưỡng Nếu đem cấy riêng từng đoạn cùng với rễ phụ có thể phát triển thành cây độc lập (Đường Hồng Dật, 2003) Cây có hai loại rễ, rễ đâm sâu giúp cây đứng vững và các rễ bất định mọc trên mặt nước (Fennel, 2006) Cải
xà lách xoong sử dụng nhiều nước và hút nước ít do sự thẩm thấu qua rễ kém và không có lông hút để hấp thu nước hiệu quả (Trần Văn Lài và Lê Thị Hà, 2002)
1.6.2.2 Thân
Chiều dài thân của xà lách xoong từ 10-60 cm, thân bò, màu xanh lục Thân cải non, mềm yếu, xốp, đốt dài 1-6 cm, mỗi mắt có thể mọc ra một cành Khi bị vò nát, cây có vị hơi đắng và hắc (Đường Hồng Dật, 2003)
1.6.2.3 Lá
Lá mọc so le, dạng kép lông chim có từ 3-9 lá chét, đường kính tán lá khoảng 4-6 mm, chiều dài lá từ 13-18 mm Lá chét hình trứng hoặc hình tim không đều, nguyên hay hơi khía tai bèo, màu xanh đậm, lá đỉnh to nhất (Purseglove, 1968)
1.6.2.4 Hoa
Trang 217
Hoa nhỏ trắng hoặc hơi trắng tía và mọc thành từng chùm ở đầu cành, mỗi hoa gồm có bốn cánh (Đường Hồng Dật, 2003) Mỗi chùm hoa đính trên cuống hoa mọc ra từ các nách lá Hoa thuộc loại lưỡng tính, thụ phấn nhờ côn trùng và cũng có thể tự thụ (Fennel, 2006)
1.6.2.5 Trái và hạt
Trái giác, khi chín nứt theo 4 đường dọc thành 2 mảnh vỏ, để giác cũ của bầu mang hạt ở lại giữa quả Giác có cuống ngắn, trong giác có nhiều hạt (Đường Hồng Dật, 2003) Cải xà lách xoong có thể trồng bằng hạt nhưng sinh sản vô tính là chủ yếu (Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi, 1999)
1.6.3 Giá trị của cải xà lách xoong
1.6.3.1 Giá trị dinh dưỡng
Thành phần các chất trong cải xà lách xoong: calories (18 kcal), protein (2,4 g); beta-carotene: 2.016 mcg; vitamin A: 336 mcg (42%); vitamin B1: 0,13 mg (9%); vitamin B6: 0,18 mg (9%); vitamin E: 1,17 mg (12%); vitamin K: 36 mcg (18%); calcium: 136 mg (17%); iodine: 12 mcg (8%); sắt: 1,8 mg (13%); magnesium: 12 mg (4%); manganese: 0,5 mg; phosphorus: 42 mg (5%); potassium:
184 mg; zinc: 0,6 mg(4%); cao hơn cà chua, táo, bông cải xanh Cải xà lách xoong cũng chứa nhiều vitamin C (40-50 mg), vitamin B2 (0,26 mg) và vitamin PP (1 mg) (Al-Shehbaz & Price, 1998) Theo Hippocrates cải xà lách xoong ăn sống tốt hơn nấu chín vì các chất có lợi trong cải xoong dễ bị vô hiệu hóa bởi nhiệt độ cao
1.6.3.2 Giá trị y học
Từ xưa cải xà lách xoong được con người dùng để lọc máu và trị đau gan (Al-Shehbaz & Price, 1998) Hippocrates - ông tổ ngành y, đã dùng cải xà lách xoong để chữa các bệnh về đường phổi, hen suyễn Một số nước dùng cải xà lách xoong để điều trị bệnh nhân bị tiểu đường và tim mạch…
Ông tổ ngành y – Hippocrates cho rằng đáng chú ý nhất là trong cải xà lách xoong còn có sự hiện diện của quercetin, là một hợp chất flavonoid có vai trò quan trọng cho sự kháng viêm, đồng thời là một chất có chức năng chống dị ứng Quercetin cũng là chất chống oxy hóa, giúp loại bỏ các gốc tự do trong cơ thể Do
đó, ăn thường xuyên loại rau này sẽ chống oxy hóa và lão hóa bệnh lý và có một số
Trang 228
nghiên cứu khác tại Đại học Ulster (Anh) kết luận trong cải xà lách xoong có chứa phenyl ethyl isothiocyanate (PEITC), hợp chất có khả năng ngăn chặn các quá trình gây tổn hại DNA trong bạch cầu Nhờ đó, cải xà lách xoong có khả năng kháng ung thư (Al-Shehbaz & Price, 1998)
1.6.4 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh
1.6.4.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển
của rau (Phạm Hồng Cúc và ctv, 2001) Mỗi loại rau đều sinh trưởng và phát triển
nhanh nhất ở một nhiệt độ thích hợp gọi là khung nhiệt tối thích Trong khung nhiệt này, quang hợp và hô hấp xảy ra với một tỷ lệ tạo năng suất thương phẩm cao nhất (Trần Văn Lài và Lê Thị Hà, 2002)
Cải xà lách xoong có thể chịu đựng được sương giá và nhiệt độ thấp -150C (Fennel, 2006) Theo Jeavons (1991), rau họ Thập Tự có giới hạn nhiệt độ bình thường là 40-750F (5-240C) và tối hảo là 60-650F (15-190C) Đối với cải xà lách xoong, nhiệt độ tối hảo là 15-200C (Đường Hồng Dật, 2003) Nghiên cứu ở Hawaii cho rằng, nhiệt độ không khí tối hảo ban ngày là 21-290C thì cải xà lách xoong sinh
trưởng tốt nhất (McHugh và ctv, 1981) Theo Morgan (2002), để cải xoong sinh
trưởng tối hảo cần đáp ứng hai điều kiện để là nhiệt độ dòng nước từ 12-200C cùng nhiệt độ không khí ban ngày từ 20-260C và 15-200C vào ban đêm sẽ cho năng suất
từ 1,5-2,0 kg/m2/tháng (15-20 tấn/ha) Tuy nhiên vào mùa đông cường độ ánh sáng thấp chỉ 0,5 kg/m2/tháng (trung bình từ 1-1,6 kg/m2/tháng)
1.6.4.2 Ánh sáng
Ánh sáng mặt trời là nguồn năng lượng vô tận giúp cây xanh quang tổng hợp
(Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001) Rau nhạy cảm đối với sự thay đổi của thành phần ánh sáng, cường độ ánh sáng và thời gian chiếu sáng (Trần Thị Ba và ctv., 1999)
* Thành phần ánh sáng
Thành phần ánh sáng ảnh hưởng lên sinh trưởng, phát triển và phẩm chất cây rau Trong đó, bức xạ trông thấy có bước sóng 400-660 nm được cây hấp thu để
tham gia phản ứng quang hóa (Đoàn Văn Điếm và ctv., 2005) Tia cực tím làn sóng
dài thúc đẩy quá trình trao đổi chất; tia hồng ngoại làm tăng nhiệt độ mặt đất và
Trang 239
không khí rất cần thiết với cây trồng (Trần Thị Ba và ctv., 1999) hoặc với liều lượng
ít sẽ kích thích chiều cao thực vật (Đoàn Văn Điếm và ctv., 2005) Rau ưa ánh sáng khuếch tán hơn trực tiếp (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001)
* Cường độ ánh sáng
Cường độ ánh sáng cũng rất quan trọng đối với sinh trưởng và phát triển của rau Khi cường độ ánh sáng mạnh lá tiếp nhận nhiều năng lượng Tuy nhiên, cường
độ ánh sáng quá cao lá không thể sử dụng tất cả năng lượng mặt trời hoặc trời âm u
thì năng lượng không đủ cung cấp cho cây (Mai Thị Phương Anh và ctv., 1996)
Theo Tạ Thu Cúc (2005), cường độ ánh sáng thay đổi theo vĩ độ, theo thời
vụ, theo mùa Cường độ ánh sáng khoảng 20.000-40.000 lux là thỏa mãn với tất cả
các loại rau (Mai Thị Phương Anh và ctv., 1996) Ở phần lớn cây rau cường độ chiếu sáng tối hảo khoảng 20.000-34.000 lux (Trần Thị Ba và ctv., 1999)
Năng suất của cải xà lách xoong gắn liền với lượng ánh sáng mặt trời nhận được (cal/cm2) trong suốt vụ Khi bức xạ mặt trời từ 20.000-30.000 cal/cm2 thì năng suất cải xà lách xoong dao động cao nhất trong vụ từ 0,25-0,27 lb/ft2
(tương đương 11-13 tấn/ha) (Kobayashi & McHugh, 1987)
* Thời gian chiếu sáng
Theo Mai Thị Phương Anh và ctv (1996), thời gian chiếu sáng là nhân tố
quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của một số loại rau Thời gian chiếu sáng dài, lượng carbohydrate tạo ra trong quang hợp lớn hơn khi chiếu sáng ngắn, vì vậy lượng carbohydrate đủ cho sinh trưởng và phát triển
Cải xà lách xoong thích được chiếu sáng đầy đủ (Schippers, 2004) Ở các nước gần xích đạo, cải xà lách xoong hiếm khi ra hoa Cây chỉ ra hoa trong điều kiện ngày dài hay khi lượng nước chảy qua rễ cây bị ứ đọng và nhất là khi nước cạn khô và đất khô ráo (Kendrick & Drost, 2008)
Trang 2410
năng suất giảm (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001) Rau cải ưa ẩm độ không khí cao
trong thời kì sinh trưởng (khoảng 85-90 % hoặc 95 %) (Tạ Thu Cúc, 2005) Cải xà lách xoong là cây thích sống trong nước hoặc đất có độ ẩm cao, do đó cây cần được tưới nước thường xuyên (Đường Hồng Dật, 2003)
1.6.4.4 Đất
Cải xà lách xoong thích sống ở nơi nhiều đất bùn, đất thịt, nơi có nước trong, chảy nhẹ và thường xuyên, ngập nước từ 4-5 cm (Purseglove, 1968) Cây không sống được trên đất phèn, đất mặn (Đường Hồng Dật, 2003) Ngoài ra, EC trong đất dao động từ 1,6-2,0 là thích hợp nhất để trồng cải xoong (Fennel, 2006) và pH đất thích hợp là 6,5-7,5 (Kendrick & Drost, 2008)
* Nhiệt độ đất
Nhiệt độ đất quyết định sự hấp thu nước và dinh dưỡng của rễ (Tạ Thu Cúc, 2005) Nhiệt độ đất tăng thúc đẩy bốc thoát hơi nước, tạo áp lực vận chuyển nước,
dinh dưỡng và tăng cường trao đổi chất trong cây (Đoàn Văn Điếm và ctv., 2005)
Nhiệt độ đất thấp ảnh hưởng đến mức độ ăn sâu của rễ; nhiệt độ đất cao rễ bị lão hóa, làm giảm bề mặt và tốc độ hút nước của rễ Nhiều loại rau hút nước thuận lợi khi nhiệt độ đất khoảng 200C (Tạ Thu Cúc, 2005)
* Các loại đất
Theo Tạ Thu Cúc (2005), các loại đất phù hợp sản xuất rau là: đất thịt pha
cát, đất thịt nhẹ, đất thịt mịn, thịt pha sét và phù sa ven sông (Trần Thị Ba và ctv.,
1999) Theo Trần Văn Lài và Lê Thị Hà (2002), đất cát pha thích hợp cho trồng rau
vì có hỗn hợp cát và sét phù hợp, giữ nước và dinh dưỡng tốt
1.6.4.5 Nước
Nước có ý nghĩa rất lớn trong đời sống cây rau vì nó chiếm từ 75-97 % Do
đó, nước ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và phẩm chất rau (Trần Văn Lài và Lê Thị Hà, 2002) Nước vận chuyển vật chất, duy trì độ căng tế bào trong cây (Trung tâm UNESCO phổ biến kiến thức văn hóa giáo dục cộng đồng, 2005) Trong cải xà
lách xoong nước chiếm 93,70% (Mai Thị Phương Anh và ctv., 1996) Nhiệt độ dòng
nước nơi trồng cải xà lách xoong thích hợp từ 10-11,50C Hàm lượng các chất cơ bản trong dòng nước ở suối đá vôi nơi trồng cải xà lách xoong lâu đời ở Anh quốc
Trang 2511
như: nitrate (8 ppm); phosphorus (0,01 ppm); potassium (0,9 ppm) (Fennel, 2006) Nhiệt độ nước trên 25,50C làm cây chậm phát triển (McHugh và ctv., 1981)
1.6.4.6 Chất dinh dưỡng
Rau cần lượng dinh dưỡng rất lớn, chủ yếu là đạm, lân, kali và vi lượng (Mai
Thị Phương Anh và ctv., 1996); chủ yếu được cung cấp từ phân hữu cơ và vô cơ
(Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi, 1999) Chất hữu cơ giúp cải thiện thành phần vật lý và kích thích vi sinh vật hoạt động (Trần Văn Lài và Lê Thị Hà, 2002)
Cải xà lách xoong không đòi hỏi nhu cầu về dinh dưỡng cao Tuy nhiên trồng cải xà lách xoong thì không thể thiếu lân, kali và sắt Triệu chứng thiếu lân: lá xanh đậm, cây còi cọc Thiếu kali: các lá già ở gốc bị vàng Thiếu sắt thường biểu ở gân lá và bề mặt lá bị vàng Hòa tan phân với nước theo hàm lượng dinh dưỡng khuyến cáo đối với từng trường hợp (Kendrick & Drost, 2008)
1.6.5 Kỹ thuật canh tác
1.6.5.1 Chọn giống
Giống canh tác chủ yếu là giống địa phương, khả năng chống chịu sâu bệnh
và chịu nhiệt cao, năng suất ổn định, có phẩm chất ngon (Mai Thị Phương Anh và
để diệt mầm bệnh Trước khi đem cải đi trồng, cho nước vào đánh bùn rồi cấy giống, khoảng cách 5 x 5 cm, đè nhẹ và rút cạn nước cho rau phát triển Khi trồng cải gốc phải vệ sinh đồng ruộng sau thu hoạch và rải thêm đất mới (giàu chất hữu
cơ, khô, nhuyễn) cung cấp đất cho lứa cải sau phát triển
Trang 2612
Cải xà lách xoong có thể nhân giống từ hạt và đoạn thân có rễ (Fennel, 2006) Ở châu Á, cải xà lách xoong trồng bằng hạt có thể hạn chế các bệnh do tác nhân vi rút gây ra vì hạt giống được lấy từ những cây khỏe mạnh, không nhiễm bệnh (Kendrick & Drost, 2008)
1.6.5.4 Bón phân
Đối với việc trồng mới, lượng phân bón cho 1.000 m2 gồm: Super lân bón lót (50 kg), vôi bột (50 kg), phân chuồng hoai (500 kg) Đối với cải gốc lượng phân bón cho 1.000 m2 gồm: lân vi sinh (20 kg), phân tôm (30-40 kg), phân chuồng hoai (200 kg), phân NPK 16-16-8 (30-40 kg), urê (4-5 kg) Giữa hai lần bón thúc có thể
bổ sung phân bón lá và 1 kg urê Ở nước Anh, trung bình mỗi vụ bón NPK (19:14:14) là 32 g/m2/tuần và (0:24:14) là 71 g/m2/tuần (Fennel, 2006)
1.6.5.5 Chăm sóc
* Tưới nước
Tưới nước hàng ngày sẽ rửa sạch bụi bẩn và côn trùng, tạo ẩm độ không khí thuận lợi cho cây và hoạt động của vi sinh vật có lợi phát triển Rau họ Thập Tự rất cần bộ lá ẩm ướt, do đó tưới nước trên tán rau là cách hiệu quả giúp cây sinh trưởng tốt, với cải xà lách xoong cần tưới đủ ẩm lên bề mặt lá bằng cách tưới phun sương nhiều lần trong ngày (Jeavons, 1991)
* Che mát
Ở vùng nhiệt đới, nhiệt độ và lượng mưa quá cao đối với nhiều loại rau Do
đó người trồng rau áp dụng các biện pháp bảo vệ cây trồng như che lưới để chống chịu với ngoại cảnh Cây trồng phổ biến được bảo vệ bằng lưới là cây họ Thập Tự, điển hình là cải xà lách xoong, lưới có thể cản mưa làm giập lá (Trần Văn Lài và Lê Thị Hà, 2002) Đối với cải xà lách xoong nên làm giàn che mát khi cây sinh trưởng, cản 40-50 % lượng ánh sáng mặt trời Ưu và nhược điểm của lưới thông thoáng, trồng rau được quanh năm, chi phí thấp; lưới mau hư hỏng (Dương Hoa Xô, 2007)
1.6.5.6 Phòng trừ sâu bệnh hại phổ biến
Trang 2713
* Bọ nhảy Phyllotreta striolata (Fabricius): Bộ Cánh Cứng (Coleoptera), họ Ánh
Kim (Chrysomelidae) Bọ nhảy được ghi nhận hiện diện trên nhiều quốc gia thuộc Châu Âu, Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ Đây là loài côn trùng gây hại chủ yếu trên cây rau thuộc họ Thập Tự ở nước ta và nhiều nước trên thế giới (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004) Bọ nhảy khi trưởng thành, chúng ăn lá tạo ra những lỗ nhỏ li ti hoặc răng cưa trên lá, khi mật độ cao, chúng có thể ăn hết cả gân lá làm cho
lá rau xơ xác, cây còi cọc phát triển kém Bọ nhảy thường gây hại nặng ở giai đoạn cây con Tuy chúng có kích thước nhỏ nhưng thường phát sinh với số lượng rất lớn nên gây thiệt hại rất nghiêm trọng tại các vùng trồng rau
Phòng trừ: vệ sinh ruộng sau thu hoạch, luân canh cây khác ký chủ Phòng trừ thanh trùng bằng thuốc trừ sâu gốc lân hữu cơ như Basudin 10H, Kinalux…Phun thuốc sát gốc hoặc cho thuốc vào hố khi trồng để diệt ấu trùng trong đất (Nguyễn
Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2003)
* Sâu tơ (Plutella xylostella Linaeus): Thuộc bộ Cánh Vảy (Lepidoptera), họ
Yponomeutidae, phá hoại nhiều nhất đối với họ Thập Tự (Nguyễn Văn Huỳnh và
Lê Thị Sen, 2003) Sâu tơ thường có thói quen đẻ trứng và ẩn nấp dưới lá nên việc phòng trừ gặp nhiều khó khăn Thường sử dụng thiên địch sâu tơ (nhóm ăn mồi,
ong kí sinh như Diadegmaeucerphada, Apantelesplutellae); chế phẩm Bacillus
thuringiensis, chất điều tiết sinh trưởng côn trùng (Trần Văn Hai và ctv., 1999), bố
trí thời vụ sớm thích hợp, luân canh cây khác với ký chủ, đặt bẫy vàng, tưới phun
mù, dùng thuốc gốc Cúc liều thấp kết hợp thuốc vi sinh Vertimec, Peran (Trần Văn Hai và Phạm Hoàng Anh, 2002) để phòng trừ
* Sâu ăn tạp (Spodoptera litura Fab): Thuộc họ Noctuidae và bộ Lepidoptera Đây
là loài côn trùng gây hại quan trọng trong nông nghiệp vùng nhiệt đới (Nguyễn Thị Thùy Dung, 2008) Ở vùng Đông Nam Á, SAT được xác định là loài gây hại quan trọng nhất, chúng xuất hiện nhiều ở Malaysia và Việt Nam (Phạm Huỳnh Thanh Vân và Lê Thị Thùy Minh, 2002) Theo Nguyễn Đức Khiêm (2006), sâu non tập trung thành đám gặm ăn lá, chừa lại biểu bì trên và gân lá, có thể cắn chụi hết lá Khi SAT phát sinh thành dịch, chúng gây thiệt hại đáng kể cho cây trồng Rau ăn lá
Trang 28cày bừa, phơi ải kỹ đất trước khi trồng rau hoặc có thể sử dụng vi khuẩn Bacillus
thuringiensis…(Nguyễn Đức Khiêm, 2006)
* Bệnh thối nhũn: Do vi khuẩn Erwinia caratovora pv gây ra Trong điều kiện ẩm
ướt, nếu xây xát sẽ phát triển nhanh và gây hại đáng kể Phòng trừ: chuẩn bị kỹ đất trồng, phơi đất và để đất nghỉ Dùng dao cắt khử trùng, loại trừ và ngăn bệnh phát
triển (Trần Văn Hai và ctv., 1999) Thu gom sâu bệnh tiêu hủy, rải vôi chỗ bệnh,
không vứt cây bệnh vào nguồn nước tưới Bón phân cân đối, luân canh cây khác họ, tưới nước sạch, không quá ẩm Phun ngừa bằng thuốc gốc Đồng (Trần Văn Hai và Phạm Hoàng Anh, 2002)
* Bệnh héo xanh: Do vi khuẩn Pseudomonas lacrymans gây ra, vi khuẩn lưu tồn
trong tàn dư thực vật, lây lan do mưa, do người thu hoạch Vi khuẩn xâm nhập qua khí khổng, vi khuẩn cũng lưu tồn trong hạt giống (seedborne disease), từ đó gây bệnh cho cây con, bệnh phát triển mạnh trong những tháng mưa Trên lá các đốm bệnh nhỏ, vàng, bị giới hạn trong các gân lá nên tạo đốm có dạng hình có góc cạnh Sau đó, ở mặt dưới lá có tiết những giọt dịch màu nâu, đốm bệnh sẽ chuyển sang màu nâu đỏ, khô và rách đi làm cho lá có những mãng rách (Trần Văn Hai và Phạm Hoàng Anh, 2002)
* Bệnh đốm lá: Do nấm Alternaria spp gây ra, bệnh phát triển thuận lợi trong điều
kiện ẩm ướt mưa nhiều Nấm gây bệnh là loại bán ký sinh, xâm nhập vào cây qua vết thương xây xát và qua vết hại của côn trùng, tồn tại trên tàn dư lá bệnh và trên hạt giống ở dạng sợi nấm và bào tử phân sinh Bào tử phân sinh lan truyền nhờ gió, nước mưa, nước tưới, côn trùng, dụng cụ và con người qua quá trình chăm sóc (Trần Văn Hai và Phạm Hoàng Anh, 2002)
Trang 2915
* Bệnh thán thư: Do nấm Colletotrichum orbiculare gây ra, bệnh có thể tấn công
trên tất cả các bộ phận trên mặt đất của cây Bệnh thường xuất hiện ở các lá già bên dưới trước, đốm bệnh có hình hơi tròn hay bất dạng, màu nâu, bên trong màu nâu nhạt hơn, trong vết bệnh có thể thấy các đĩa đài của nấm như những đầu kim gút màu đen Mầm bệnh có thể lưu tồn trong xác bả thực vật hay bám trên bề mặt hạt giống, bệnh thường xảy ra vào những tháng có mưa nhiều Bào tử lây lan chủ yếu
do mưa (Trần Văn Hai và Phạm Hoàng Anh, 2002)
1.6.5.7 Thu hoạch
Sau khi trồng 30 ngày có thể cắt lứa đầu tiên, các lứa sau cách nhau 25 ngày
(Mai Thị Phương Anh và ctv., 1996), bình quân thu hoạch từ 6-8 lứa trong năm
Theo Morgan (2008), thu hoạch cải xà lách xoong khoảng 4-10 tuần sau khi cấy và phụ thuộc vào mùa vụ Năng suất trung bình 8-10 tấn/ha/vụ Theo Fennel (2006), năng suất đạt được trên ruộng cải xà lách xoong nước Anh là 7,5-10 tấn/ha
1.6.5.8 Để giống
Cải xà lách xoong thu hoạch liên tiếp nhiều năm, tuy nhiên do điều kiện sâu bệnh và cỏ dại nên cần phải trồng mới (Kendrick & Drost, 2008) Ở Việt Nam, tháng 4 cắt dây bánh tét để giống, dùng nứa đóng thành mảng, đắp bùn lên, cấy dập thân xuống bùn, thả mảng trong ao, nơi khuất gió, có bóng râm Tháng 8-9 cắt dây
giâm ra ruộng Đến tháng 10 đem cây ra ruộng sản xuất (Mai Thị Phương Anh và
ctv., 1996) Nếu giống ít có thể lấy cải xoong ở ruộng đã thu 1-2 lứa đầu, để già
thêm một chút rồi làm giống (Đường Hồng Dật, 2003)
1.7 Sơ lược về điều kiện tự nhiên của huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long
Địa hình: Huyện Bình Minh có địa hình tương đối bằng phẳng, cao từ phía
Tây và thấp dần về phía Đông nên thuận lợi cho việc lợi dụng thủy triều để tưới tiêu hoặc tự chảy, kết hợp với hỗ trợ bằng động lực đảm bảo cho sản xuất Nông nghiệp quanh năm
Đất đai: Huyện Bình Minh có diện tích tự nhiên là 242,1 km2, đất đai màu
mỡ được bồi đắp hàng năm Huyện gồm có 3 nhóm đất chủ yếu: đất phù sa được bồi, đất phù sa có tầng loang lỗ đỏ vàng và đất phèn tiềm tàng (Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Vĩnh Long, 2002)
Trang 3016
Thủy văn: Huyện Bình Minh nằm ven sông Hậu và có hệ thống sông ngòi,
kênh, rạch chằng chịt thuận lợi cho việc cung cấp nguồn nước ngọt quanh năm, đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất và sinh hoạt
Khí hậu: Huyện Bình Minh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa mang tính
chất nóng ẩm, nhiệt độ cao và mưa nhiều Thời tiết trong năm chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa nắng từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm là 280C, tương đối ổn định Tuy nhiên nhiệt độ cao nhất khoảng 350C và thấp nhất khoảng 23,30C Ẩm độ không khí trung bình 80%, ẩm độ cao nhất 84% và cao nhất là 77% Lượng mưa trung bình khoảng
230 mm, trong đó lượng mưa cao nhất đạt 274 mm, mùa khô lượng mua giảm rõ rệt, nhất là các tháng 1 và tháng 2 (Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Vĩnh Long, 2002)
Trang 3117
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 Phương tiện
2.1.1 Thời gian và địa điểm
Đề tài được thực hiện từ tháng 9/2011 đến tháng 5/2012 tại ấp Đông Thuận
và Đông Bình của xã Đông Bình, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long Điều tra hiện trạng canh tác xà lách xoong của các hộ tại xã Đông Bình, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long
2.1.2 Khái quát đặc điểm vùng điều tra
Huyện Bình Minh nằm ven sông Hậu, cách thị xã Vĩnh Long gần 30 km, dọc quốc lộ 1A Phía Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp, phía Nam giáp tỉnh Cần Thơ, phía Tây giáp huyện Lai Vung, phía Đông giáp huyện Tam Bình
Hình 2.1 Bản đồ địa giới hành chính huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long