1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá thực trạng công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình theo quy định của luật đất đai 2003

93 609 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Luật đất đai 2003 thì công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và s

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

TRẦN THỊ THU HOÀI

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP, KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIM SƠN, TỈNH NINH BÌNH THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT ĐẤT ĐAI 2003

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

TRẦN THỊ THU HOÀI

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP, KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIM SƠN, TỈNH NINH BÌNH THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT ĐẤT ĐAI 2003

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS.NGUYỄN ĐÌNH BỒNG

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Tác giả

Trần Thị Thu Hoài

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ được hoàn thành tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam Có được bản luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới đến Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Khoa Quản lý đất đai và đặc biệt là TS Nguyễn Đình Bồng đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tác giả với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và

hoàn thành đề tài: “Đánh giá thực trạng công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại,

tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình theo quy định của Luật Đất đai 2003”

Xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo - Các nhà khoa học đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt những kiến thức khoa học chuyên ngành Quản lý đất đai cho bản thân tác giả trong nhưng năm tháng qua

Xin gửi tới Phòng TNMT huyện Kim Sơn, phòng Thanh tra huyện Kim Sơn lời cảm tạ sâu sắc vì đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tác giả thu thập số liệu ngoại nghiệp cũng như những tài liệu nghiên cứu cần thiết liên quan tới đề tài tốt nghiệp

Một lần nữa tác giả xin chân thành cảm ơn các đơn vị và cá nhân đã hết lòng quan tâm tới sự nghiệp đào tạo đội ngũ cán bộ ngành Quản lý đất đai Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp, phê bình của quý Thầy Cô, các nhà khoa học, độc giả và các bạn đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Tác giả

Trần Thị Thu Hoài

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích, yêu cầu 2

2.1 Mục đích 2

2.2 Yêu cầu 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Cơ sở lý luận về công tác giải quyết tranh chấp khiếu nại , tố cáo về đất đai 3

1.1.1 Khái niệm về giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai 3

1.1.2 Đặc điểm của công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai 4

1.2 Kinh nghiệm Trung Quốc về giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai 8

1.2.1 Khái quát về Trung Quốc 8

1.2.2 Tình hình công tác thanh tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tranh chấp đất đai ở Trung Quốc 10

1.3 Công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai ở Việt Nam 11

1.3.1 Khái quát về công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại , tố cáo về đất đai ở Việt Nam 11

1.3.2 Hệ thống các văn bản pháp luật về công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai ở Việt Nam giai đoạn 2003-2013 14

1.3.3 Quy định của Luật Đất đai 2003 Luật Khiếu nại 2011 và Luật tố cáo 2011 về giải quyết tranh chấp, khiếu nại , tố cáo về đất đai 15

1.3.4 Tình hình thực hiện công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại , tố cáo về đất đai 25

Trang 6

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 36

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 36

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 36

2.2 Nội dung nghiên cứu 36

2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình; 36

2.2.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình; 36

2.2.3 Kết quả giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình theo Luật đất đai 2003; 36

2.2.4 Đề xuất giải pháp tăng cường hiệu lực công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình; 36

2.3 Phương pháp nghiên cứu 36

2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 36

2.3.2 Phương pháp thống kê và tổng hợp số liệu 36

2.3.3 Phương pháp phân tích, so sánh 37

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu: 37

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Kim Sơn 38

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 38

3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 40

3.1.3 Thực trạng môi trường 42

3.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội 44

3.1.5 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 48

3.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất đai 49

3.2.1 Tình hình quản lý đất đai 49

3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất đai trên địa bàn Huyện 52

3.3 Kết quả giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Kim Sơn theo Luật đất đai 2003 55

3.3.1 Công tác tiếp dân và tiến nhận đơn thư 55

Trang 7

3.3.2 Công tác giải quyết khiếu nại về đất đai trên địa bàn Huyện Kim Sơn 59

3.3.3 Kết quả công tác giải quyết tố cáo liên quan đến quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Kim Sơn 68

3.3.4 Kết quả công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn Huyện Kim Sơn 70 3.3.5 Đánh giá tình hình công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai trên địa bàn Huyện 74

3.4 Đề xuất giải pháp tăng cường hiệu lực công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Kim Sơn 75

3.4.1 Nhóm giải pháp về chính sách, pháp luật về giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai 75

3.4.2 Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện 77

3.4.3 Nhóm giải pháp về tổ chức, cán bộ 77

3.4.4 Nhóm giải pháp tăng cường năng lực cơ sở vật chất kỹ thuật 78

3.4.5 Nhóm giải pháp về cải cách thủ tục hành chính 78

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79

1.Kết luận 79

2 Kiến nghị 80

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

3.1: Tình hình dân số và lao động của huyện Kim Sơngiai đoạn 2010-2013 44

3.2: Tình hình phát triển kinh tế huyện Kim Sơn năm 2010 - 2013 47

3.3: Hiện trạng sử dụng đất huyện Kim Sơn năm 2013 53

3.4: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Kim Sơn năm 2013 54

3.5: Các loại hình sử dụng đất chính của huyện Kim Sơn năm 2013 54

3.6 Số lượt tiếp dân và đơn thư từng năm trên địa bàn huyện Kim Sơn 57

3.7: Số đơn khiếu nại, tố cáo, tranh chấp trong lĩnh vực đất đai tiếp nhận trong giai đoạn 2010-2013 trên địa bàn huyện Kim Sơn 58

3.8: Các hình thức Khiếu nại về đất đai trên địa bàn huyện Kim Sơn 59

3.9 Giá các loại đất Nông nghiệp huyện Kim Sơn năm 2013 63

3.10 Kết quả giải quyết khiếu nại trên địa bàn huyện Kim Sơn 65

3.11 Nội dung đơn tố cáo liên quan đến quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Kim Sơn 68

3.12 Kết quả giải quyết tố cáo về quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Kim Sơn 69

3.13 Các hình thức tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Kim Sơn 71

3.14 Kết quả giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Kim Sơn 72

3.15 Các vụ tranh chấp còn tồn đọng trên địa bàn huyện Kim Sơn 73

3.16 Kết quả giải quyết các vụ tranh chấp đất đai còn tồn đọng từ năm 2009 trên địa bàn huyện Kim Sơn 74

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH

1.1: Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai 6 1.2: Trình tự giải quyết tranh chấp đất đai 20 3.1: Sơ đồ vị trí huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình 38

Trang 10

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

UBND Ủỷ ban nhân dân

HĐND Hội đồng nhân dân

CHND Cộng hòa nhân dân

TTLT Thông tư liên tịch

TANDTC Tòa án nhân dân tối cao

VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao

BTNMT Bộ tài nguyên Môi trường

KNTC Khiếu nại, tố cáo

CNH – HĐH Công nghiệp hóa, hiện đâị hóa

GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia trên thế giới đều hình thành, tồn tại và phát triển trên nền tảng quan trọng nhất đó là đất đai Ngay từ khi xuất hiện, con người đã lấy đất đai làm nơi cư ngụ, sinh tồn, phát triển Ngày nay đất đai trở thành nguồn tài nguyên, tài sản, tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng , có vai trò hết sức to lớn trong đời sống xã hội, và gắn chặt với đời sống lao động của con người Tuy nhiên, đất đai chỉ thực sự phát huy tác dụng dưới sự tác động tích cực và thường xuyên của con người

Nhận thức được vấn đề đó, công tác quản lý nhà nước về đất đai của Nhà nước

ta luôn được đặt lên hàng đầu và được sự quan tâm của toàn xã hội Hiến pháp năm

1992 tại điều 17, 18 đã quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý” và “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả” Luật đất đai năm 1993, Luật sửa đổi, sổ sung một số điều của Luật đất đai các năm 1998, 2001

và đặc biệt là Luật đất đai 2003 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/07/2004 từng bước đưa ra các quy định phù hợp với thực tế quản lý và sử dụng đất, với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Theo Luật đất đai 2003 thì công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai được coi

là một trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai Trong thực tế, đã có nhiều địa phương, đơn vị, cá nhân thực hiện tốt chức năng quản lý, sử dụng đất theo quy định của pháp luật Nhưng bên cạnh đó còn một

số bộ phận cá nhân thực hiện chức năng quản lý còn lỏng lẻo, chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội Tình hình quản lý đất đai còn nhiều bất cập, việc thực hiện pháp luật đất đai chưa tốt không chỉ đối với chủ sử dụng đất mà ngay cả với cơ quan Nhà nước Do vậy vẫn xảy ra nhiều vi phạm như sử dụng đất không đúng mục đích được giao, lấn chiếm, tranh chấp đất đai, mua bán đất trái phép… dẫn đến việc tranh chấp, khiếu kiện, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất

Trang 12

đai ngày càng nhiều, có lúc, có nơi trở thành điểm nóng tác động đến một mặt đời sống kinh tế xã hội của địa phương, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với chính quyền các cấp trong việc thực hiện pháp luật và việc quản lý nhà nước về đất đai Kim Sơn là một huyện ven biển nằm ở cực Nam của tỉnh Ninh Bình, đây là một huyện đồng bằng, được thành lập bởi doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ trong công cuộc khai hoang lấn biển cách đây 2 thế kỷ 7 xã vùng ven biển Kim Sơn với những giá trị đa dạng sinh học nổi bật toàn cầu đã được UNESCO công nhận là khu

dự trữ sinh quyển thế giới

Ngày nay, trong quá trình đổi mới, cùng với tỉnh Ninh Bình, huyện Kim Sơn

đã phát huy nguồn nội lực đất đai để phát triển kinh tế xã hội địa phương với những thành tựu quan trọng, trong thành công đó, có phần đóng góp của công tác quản lý đất đai Tuy nhiên việc quản lý, sử dụng đất cũng còn nhiều bất cập và là nguyên nhân của những tranh chấp, khiếu nại, tố cáo liên quan đến quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn

Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực

trạng công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình theo quy định của Luật Đất đai 2003”

- Số liệu, tài liệu, vụ việc phải được thực hiện chính xác và khách quan

- Phản ánh đúng thực trạng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn của huyện Kim Sơn

- Đưa ra những giải pháp có cơ sở khoa học, phù hợp với thực tế của địa phương, có tính khả thi

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận về công tác giải quyết tranh chấp khiếu nại , tố cáo về đất đai

1.1.1 Khái niệm về giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai

Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp 1992 của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Tại Điều 74 Hiến pháp “Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào “ (Quốc Hội, 1992, Hiến Pháp, Điều 74)

Hiến pháp 2013 của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam cũng quy định “ Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân” (Quốc Hội, 2013, Hiến pháp Điều 30)

- Tranh chấp đất đai: là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai (Quốc Hội, 2003, Luật Đất đai Khoản 26 Điều 4)

- Khiếu nại: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật Khiếu nại quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình (Quốc Hội, 2011, Luật khiếu nại, Khoản 1 Điều 2)

- Tố cáo: “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật tố cáo quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.”.(Quốc Hội,

2011, Luật Tố cáo, Khoản 1, Điều 2)

Trang 14

1.1.2 Đặc điểm của công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai

1.1.2.1 Đặc điểm công tác giải quyết tranh chấp đất đai:

Tranh chấp đất đai là một trong các tranh chấp xảy ra nhiều và khó xử lý nhất tại tất cả các địa phương trên cả nước Các hình thức tranh chấp đất đai hết sức

đa dạng và phổ biến là các hình thức tranh chấp sau:

i. Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất: do mục đích là để tiện cho việc sản xuất, canh tác nên các hộ gia đình, cá nhân đã chuyển đổi quyền

sử dụng đất cho nhau Trong quá trình chuyển đổi, do hai bên không viết hợp đồng hoặc viết không rõ ràng, trong quá trình sản xuất một trong hai bên thấy thiệt thòi nên xảy ra tranh chấp

ii. Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất: loại tranh chấp này khá phổ biến, xảy ra do một hoặc cả hai bên không thực hiện đúng những thỏa thuận ghi trong hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng đã được thỏa thuận, ký kết nhưng do một trong hai bên bị lừa dối hoặc cảm thấy thiệt thòi nên rút lại hợp đồng,

do không hiểu biết pháp luật, chuyển nhượng không đúng thủ tục

iii. Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất: do bên thuê không trả tiền thuê đất hoặc trả không đúng thời hạn hoặc bên thuê sử dụng đất không đúng mục đích khi thuê, do bên cho thuê đòi lại đất trước thời hạn Tóm lại do một trong hai bên vi phạm hợp đồng thuê đất nên xảy ra tranh chấp

iv. Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất: tranh chấp này thường phát sinh sau khi kết thúc hợp đồng do bên có nghĩa vụ không thực hiện xong nghĩa vụ hoặc trong thời hạn thế chấp việc định giá đất không chính xác dẫn đến tranh chấp

v. Tranh chấp do bị lấn chiếm đất đai: Loại tranh chấp này diễn ra khá phổ biến giữa những người sử dụng đất, thường là lấn chiếm ranh giới đất hoặc chiếm toàn bộ diện tích đất của người khác, hay do trước đây cho mượn, nay đòi lại dẫn đến tranh chấp

vi. Tranh chấp do thừa kế: nguyên nhân do người có quyền sử dụng đất chết nhưng không để lại di chúc hoặc có di chúc nhưng không rõ ràng về phân chia thừa

kế dẫn đến tranh chấp Hoặc người có quyền sử dụng đất chết có để lại di chúc, do không nắm rõ pháp luật nên di chúc không đúng quy định của pháp luật dẫn đến tranh chấp

Trang 15

vii. Tranh chấp tài sản gắn liền với đất: bao gồm tranh chấp về nhà ở, các công trình và tài sản trên đất Loại tranh chấp này luôn gắn liền với việc công nhận quyền sử dụng đất

viii. Tranh chấp quyền sử dụng đất khi ly hôn: loại tranh chấp này xảy ra khi hai

vợ chồng ly hôn, nó liên quan đến phân chia tài sản và quyền sử dụng đất Cả hai bên

ly hôn đều cho rằng mình có quyền và lợi ích nhiều hơn về quyền sử dụng đất

ix. Tranh chấp đất công: loại hình tranh chấp này là do cá nhân, tổ chức và hộ gia đình tự ý chiếm dụng đất của Nhà nước hoặc do hoàn cảnh lịch sử để lại việc sử dụng đất của nhân dân qua nhiều lần biến động, việc quản lý đất trước đây còn nhiều sai sót, sơ hở gây tự ý sử dụng đất, khi đòi lại dẫn đến tranh chấp

x. Tranh chấp về địa giới hành chính các cấp: loại tranh chấp này là tranh chấp giữa Nhà nước với Nhà nước Hai đơn vị hành chính tranh cãi với nhau về phạm vi, địa bàn quản lý dẫn đến tranh chấp

1.1.2.2 Đặc điểm công tác khiếu nại về đất đai

Người sử dụng đất có quyền khiếu nại về quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về đất đai Các hình thức khiếu nại đất đai thường gặp như sau:

- Khiếu nại về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do sai họ tên người sử dụng đất, sai sơ đồ và diện tích thửa đất, không có lý do thuyết phục về việc không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giải quyết hồ sơ chậm, gây nhiều thủ tục phiền hà, trái pháp luật

- Khiếu nại về quyết định giao đất, thu hồi đất không có căn cứ pháp lý, không đúng đối tượng, sai thẩm quyền, sai diện tích

- Khiếu nại quyết định hành chính về chế độ quản lý, sử dụng đất do: ra quyết định xử phạt không đúng thẩm quyền, không có căn cứ, sai đối tượng, mức phạt hành chính chưa đúng quy định

- Khiếu nại về đăng ký đất do: không cho đăng ký đất mà không có lý do chính đáng, sổ đăng ký đất sai tên chủ sử dụng, diện tích, thời hạn sử dụng

- Khiếu nại quyết định của UBND về giải quyết tranh chấp đất đai do không đồng ý với quyết định của UBND, việc giải quyết không đúng thẩm quyền, sai pháp luật, gây chậm chễ (kéo dài thời gian giải quyết) đòi hỏi nhiều thủ tục hành chính phiền hà gây khó khăn cho các bên

Trang 16

- Khiếu nại về thu hoặc truy thuế, lệ phí đất đai: mức thu, truy thu phí, lệ phí đất đai không hợp lý, sai thẩm quyền, thu thuế không theo quy định (không lập sổ, ghi biên lai) Thực hiện chính sách miễn giảm thuế không đúng hoặc không thực hiện việc miễn giảm thuế

1.1.2.3 Đặc điểm của công tác giải quyết tố cáo về đất đai

i.Trong lĩnh vực đất đai là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm, mỗi cá nhân đều có quyền tố cáo việc vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai

ii.Tố cáo cán bộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn cửa quyền, nhũng nhiễu trong việc thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai, như: giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; lợi dụng các chương trình, dự án của Nhà nước để bao chiếm ruộng đất, chia chác đất đai,…Tố cáo UBND giao đất trái tẩm quyền; giao đất, cho thuê đất không đúng đối tượng, không đúng quy hoạch; sử dụng tiền thu từ đất công ích (5%) trái quy định của pháp luật

iii.Tố cáo hành vi gian lận trong việc lập phương án bồi thường về đất đai để tham ô

iv Tố cáo hành vi trục lợi về đất đai thông qua việc lập phương án hoặc điều chỉnh phương án quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch diểm dân cư nông thôn không phù hợp với thực tế, gây xáo trộn không cần thiết đối với đời sống nhân dân

1.1.2.4 Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai

Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai

Sơ đồ 1.1: Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai

Trang 17

Bước 1: Tổ chức tiếp dân và nhận đơn khiếu nại, tố cáo:

- Các cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai phải tổ chức các bộ phận tiếp dân

và xét giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo;

- Lắng nghe đương sự trình bày và nhận đơn;

- Khi nhận đơn thư khiếu tố phải đảm bảo bý mật cho người tố cáo nếu họ yêu cầu;

Bước 2: Nghiên cứu, phân loại đơn:

- Xem xét các vấn đề đó xảy ra trong hoàn cảnh, điều kiện nào? Các đối tượng

bị khiếu tố? Những người có liên quan, các chứng cứ cần phải có?

- Nếu là đơn có nội dung vừa khiếu nại, vừa tố cáo thì phải xác định rõ từng nội dung, tách riêng để giải quyết theo đúng quy định của pháp luật khiếu nại, tố cáo;

Bước 3: Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thụ lý giải quyết

hoặc quyết định thành lập đoàn thanh tra (nếu thuộc thẩm quyền giải quyết) Trong trường hợp không thuộc thẩm quyền giải quyết thì chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết hoặc thông báo cho công dân biết về việc không giải quyết của mình

Bước 4: Lập kế hoạch và triển khai thực hiện kế hoạch:

- Lập kế hoạch

- Họp để thảo luận kế hoạch, quán triệt thống nhất về nhận thức và hành động

- Tổ chức công bố quyết định về kế hoạch với đơn vị được thanh tra

Bước 5: Thẩm tra, xác minh:

Đây là bước thực hiện các biện pháp nghiệp vụ, có tầm quan trọng đặc biệt

và có ý nghĩa quyết định nhất

Lập biên bản và làm việc với người khiếu tố, người bị khiếu tố, cá nhân, tập thể có liên quan đến vụ việc để đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết

Bước 6: Kiểm tra các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, đối chiếu với các chế độ

chính sách và pháp luật của Nhà nước

- Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ giải quyết khiếu tố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng , là căn cứ pháp lý để kết luận vụ việc

- Để kết luận vụ việc được khách quan, đúng pháp luật phải có đầy đủ văn bản pháp luật cần thiết của Nhà nước, quy định của địa phương để đối chiếu

Trang 18

Bước 7: Kết luận: Văn bản kết luận phải nêu rõ nội dung khiếu tố, tình tiết sự

việc, thể hiện đầy đủ căn cứ pháp lý để kết luận nội dung Từ đó có những kiến nghị

và những giải pháp nhất định

1.2 Kinh nghiệm Trung Quốc về giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai

1.2.1 Khái quát về Trung Quốc

Tổng diện tích của Trung Quốc là 960 triệu ha, trong đó, theo số liệu khảo sát chính thức, tỉ lệ đất canh tác, đất rừng, đồng cỏ, đất cho xây dựng, đất có mặt nước

và đất chưa được khai thác chiếm tương ứng là 13.8%, 20.7%, 27.55%, 2.95%, 3.8% và 31.3% tổng diện tích Trung Quốc là đất nước có nhiều đồi núi, chiếm tới 2/3 diện tích tự nhiên, Trung Quốc cũng là một nước đông dân Tất cả những điều kiện trên tạo nên đặc trưng của Trung Quốc là một nước thiếu đất trồng trọt Diện tích tự nhiên bình quân đầu người là 0.9 ha, trong khi đó diện tích đất trồng trọt bình quân là 0.11 ha, chỉ bằng l/3 so với bình quân thế giới Trong những năm gần đây, diện tích đất canh tác đã sụt giảm với tốc độ hàng trăm nghìn ha mỗi năm Mâu thuẫn giữa nhu cầu đất sử dụng cho nông nghiệp và đất phục vụ công nghiệp hoá,

đô thị hoá đang ngày càng trở nên trầm trọng Việc canh tác quá mức các đồng cỏ chăn thả, đất cho các doanh nghiệp nhỏ ở nông thôn và vùng ven đô thị, ô nhiễm nguồn đất, xói mòn đất và quá trình đô thị hoá nhanh là các nguyên nhân đang phá huỷ nghiêm trọng và làm giảm giá trị của nguồn tài nguyên đất

Hiện tại ở Trung Quốc, Bộ Đất đai và Tài nguyên đang là cơ quan đầu ngành chịu trách nhiệm quản lý tổng thể việc sử dụng đất đai, và cũng là cơ quan quản lý của Hội đồng nhà nước thực hiện lập kế hoạch, quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên đất, tài nguyên khoáng sản và tài nguyên biển Bộ được thành lập trên cơ sở sát nhập Bộ Địa chất và Khoáng sản, Tổng cục Địa chính, Tổng cục Biển và Cục Đo đạc bản đồ nhà nước trước đây

Chính phủ Trung Quốc đã ban hành các văn bản luật và các quy định liên quan đến quản lý đất đai, bao gồm: Luật Quản lý Đất đai, Các Quy định để thực hiện Luật Quản lý đất đai, Các Quy định về bảo vệ đất chăn nuôi trồng trọt, Các Quy định về cải tạo đất, Các Quy định về Thuế đất, Các biện pháp quản lý đất xây dựng… Luật Quản lý đất đai được sửa đổi tại kỳ họp thứ 4 của Ủy ban thường vụ

Trang 19

Quốc vụ viện (Quốc hội) khóa IX Trung Quốc vào ngày 29/8/1998 Luật mới được sửa đổi phù hợp với Hiến pháp về mục đích tăng cường quản lý đất đai, bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên đất, sử dụng tối đa nguồn tài nguyên đất đai, bảo vệ hiệu quả đất canh tác, thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế xã hội Thêm vào đó, sử dụng đất bất hợp pháp được đề cập trong Luật Hình sự của Trung Quốc (ban hành năm 1997) Chúng ta có thể nói rằng, hệ thống kiểm tra và theo dõi quản lý đất đai

ở Trung Quốc đã được thiết lập và dần hoàn thiện, đưa hoạt động quản lý đất đai vào hệ thống quản lý pháp luật

Trong những năm gần đây, Chính phủ Trung Quốc đã ban hành và thực thi Luật Bảo tồn tài nguyên đất và tài nguyên nước, Các Quy định để thực hiện Luật Bảo tồn tài nguyên đất và tài nguyên nước Các văn bản này đã khuyến khích kiểm soát và ứng phó với các vấn đề về nguồn đất và nguồn nước

Việc thực hiện Luật Quản lý đất đai, các luật và quy định liên quan vẫn chưa được diễn ra nhanh Sau khi có những sửa đổi bổ sung đối với Luật Quản lý Đất đai, Các văn bản (tương đương với Nghị định của Việt Nam) có tên gọi: Các biện pháp thực hiện Luật Quản lý Đất đai, Các quy định về bảo vệ đất chăn nuôi trồng trọt, Các Phương pháp kiểm tra đất xây dựng đã được trình Hội đồng nhà nước thông qua đã được ban hành Cùng lúc đó, 5 Văn bản quy phạm pháp luật cấp Bộ và hơn

30 Văn bản điều chỉnh mang tính quy phạm pháp luật đã được Bộ Đất đai và Tài nguyên ban hành Trong số đó có văn bản Các Quy định về Quản lý kế hoạch sử dụng đất hàng năm, Quy định về Quản lý công tác kiểm tra, đệ trình và phê chuẩn đối với đất sử dụng cho mục đích xây dựng, Các phương thức xử lý đất không sử dụng, Các biện pháp quản lý thu thập và sử dụng tiền sử dụng đất đối với đất xây dựng… Bên cạnh đó, chính quyền địa phương cũng ban hành các văn bản hướng dẫn luật và quy định của địa phương liên quan đến đất đai

Hơn nữa, bằng việc thực hiện và giám sát luật một cách nghiêm túc, trật tự quản lý đất đai, theo nhận định quốc gia, đang ngày càng tốt hơn Một ví dụ điển hình là năm 1999, có tới 745 trường hợp vi phạm pháp luật liên quan đến đất đai đã

bị điều tra và xử lý với tỉ lệ xử lý được là 83% và 105 cán bộ phụ trách đã bị xử

Trang 20

phạt hành chính theo quy định của pháp luật./ (Tổng cục Quản lý Đất đai, 11/2012 Cục Quy hoạch Báo cáo nghiên cứu khảo sát quản lý đất đai Trung Quốc)

1.2.2 Tình hình công tác thanh tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tranh chấp đất đai ở Trung Quốc

Chính phủ Trung Quốc đã ban hành các văn bản luật và các quy định liên quan đến quản lý đất đai, bao gồm: Luật Quản lý Đất đai, Các Quy định để thực hiện Luật Quản lý đất đai, Các Quy định về bảo vệ đất chăn nuôi trồng trọt, Các Quy định về cải tạo đất, Các Quy định về Thuế đất, Các biện pháp quản lý đất xây dựng… Luật Quản lý đất đai được sửa đổi tại kỳ họp thứ 4 của Ủy ban thường vụ Quốc vụ viện (Quốc hội) khóa IX Trung Quốc vào ngày 29/8/1998 Luật mới được sửa đổi phù hợp với Hiến pháp về mục đích tăng cường quản lý đất đai, bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên đất, sử dụng tối đa nguồn tài nguyên đất đai, bảo vệ hiệu quả đất canh tác, thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế xã hội Thêm vào đó, sử dụng đất bất hợp pháp được đề cập trong Luật Hình sự của Trung Quốc (ban hành năm 1997) Chúng ta có thể nói rằng, hệ thống kiểm tra và theo dõi quản lý đất đai

ở Trung Quốc đã được thiết lập và dần hoàn thiện, đưa hoạt động quản lý đất đai vào hệ thống quản lý pháp luật

Việc thực hiện Luật Quản lý đất đai, các luật và quy định liên quan vẫn chưa được diễn ra nhanh Sau khi có những sửa đổi bổ sung đối với Luật Quản lý Đất đai, Các văn bản (tương đương với Nghị định của Việt Nam) có tên gọi: Các biện pháp thực hiện Luật Quản lý Đất đai, Các quy định về bảo vệ đất chăn nuôi trồng trọt, Các Phương pháp kiểm tra đất xây dựng đã được trình Hội đồng nhà nước thông qua đã được ban hành Cùng lúc đó, 5 Văn bản quy phạm pháp luật cấp Bộ và hơn

30 Văn bản điều chỉnh mang tính quy phạm pháp luật đã được Bộ Đất đai và Tài nguyên ban hành Trong số đó có văn bản Các Quy định về Quản lý kế hoạch sử dụng đất hàng năm, Quy định về Quản lý công tác kiểm tra, đệ trình và phê chuẩn đối với đất sử dụng cho mục đích xây dựng, Các phương thức xử lý đất không sử dụng, Các biện pháp quản lý thu thập và sử dụng tiền sử dụng đất đối với đất xây dựng… Bên cạnh đó, chính quyền địa phương cũng ban hành các văn bản hướng dẫn luật và quy định của địa phương liên quan đến đất đai Tất cả nỗ lực đã được

Trang 21

thực hiện và sẽ tiếp tục được thực hiện để thể hiện sức mạnh và tính đảm bảo pháp

lý nhằm tăng cường quản lý đất đai, bảo tồn đất canh tác và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất

Hơn nữa, bằng việc thực hiện và giám sát luật một cách nghiêm túc, trật tự quản lý đất đai, theo nhận định quốc gia, đang ngày càng tốt hơn Một ví dụ điển hình là năm 1999, có tới 745 trường hợp vi phạm pháp luật liên quan đến đất đai đã

bị điều tra và xử lý với tỉ lệ xử lý được là 83% và 105 cán bộ phụ trách đã bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật./

Khi xẩy ra sự tranh chấp của hai đơn vị thì sẽ do chính quyền cấp huyện trở lên giải quyết

Khi xẩy ra sự tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân, hoặc giữa cá nhân và đơn vị thì chính quyền cấp xã hoặc cấp huyện trở lên giải quyết

Trong trường hợp các bên đương sự không đồng ý với kết quả do chính quyền địa phương giải quyết thì khởi kiện lên tòa án nhân dân, trong vòng 30 ngày làm việc kể từ ngày đương sự nhận được quyết định xử lí của tòa án

Trước khi giải tranh chấp quyết quyền sở hữu và quyền sử dụng đất, cả hai bên đều không được thay đổi hiện trạng, mục đích đất đang xẩy ra tranh chấp (Luật Quản lý Đất đai nước CHND Trung Hoa, 1998, Điều 16)

Công tác giải quyết tranh chấp đất đai của Trung Quốc luôn luôn nhấn mạnh vai trò của công tác thương lượng và hòa giải, đặc biệt là sự tham gia của các cơ quan quản

lý nhà nước đã làm cho công tác giải quyết tranh chấp đất đai của Trung Quốc được giải quyết nhanh chóng, kịp thời tránh tiêu tốn thời gian và tiền bạc của nhân dân Công tác giải quyết tranh chấp đất đai luôn có sự tham gia của cơ quan quản lý đất đai trước khi vụ việc được đưa ra Tòa án (Tổng cục Quản lý đất đai, 2012, Báo cáo nghiên cứu khảo sát Quản lý đất đai và thị trường bất động sản Trung Quốc)

1.3 Công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai ở Việt Nam

1.3.1 Khái quát về công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại , tố cáo về đất đai ở Việt Nam

Đất nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước cho nên mọi nguồn lực đều rất quan trọng đối với sự lớn mạnh của Nước nhà Đất

Trang 22

đai là một nguồn tài nguyên đặc biệt, một nguồn lực không thể thiếu cho chặng đường phát triển về chất cũng như về lượng của Việt Nam

Nhận thức về điều đó, những năm qua Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề quản lý và sử dụng đất đai Đặc biệt là công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai vì đây là vấn để hết sức nhạy cảm, liên quan đến an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội của đất nước

1.3.1.1 Giai đoạn trước khi có luật đất đai 1987

Thời kỳ này người dân tham gia sản xuất trong các HTX nông nghiệp, lấy ngày công làm thước đo giá trị sản xuất Mọi người hưởng như nhau vì vậy chưa xảy ra các trường hợp tranh chấp đất đai hoặc khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai

1.3.1.2 Giai đoạn từ khi có Luật Đất đai 1987 đến 1992

Luật Đất đai 1987 quy định người sử dụng đất bao gồm: Các nông trường, lâm trường, hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp; các xí nghiệp; đơn vị

vũ trang nhân dân; cơ quan nhà nước; tổ chức xã hội; cá nhân

Luật Đất đai 1987quy định cụ thể quyền của người sử dụng đất: “Nhà nước

đảm bảo cho người sử dụng đất được hưởng những quyền lợi hợp pháp trên đất được giao, kể cả quyền chuyển nhượng, bán thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất được giao khi không còn sử dụng đất và đất đó được giao cho người khác

sử dụng theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định” (Quốc hội, 1987, Luật Đất đai, Điều 3)

Bảo vệ chế độ sở hữu đất đai: Luật Đất đai 1987 quy định: “Nghiêm cấm việc

mua, bán, lấn chiếm đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức, nhận đất được giao mà không sử dụng, sử dụng đất không đúng mục đích, tự tiện sử dụng đất nông

nghiệp, đất có rừng vào mục đích khác, làm hủy hoại đất đai” (Quốc hội, 1987, Luật

Đất đai, Điều 1)

1.3.1.3 Giai đoạn từ khi có Luật Đất đai 1993 đến 2002;

Luật đất đai năm 1993 quy định hai trường hợp: nếu tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất có giấy chứng nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và tranh chấp về tài sản gắn liền với việc sử dụng đất đó thì Tòa án nhân dân giải quyết (Quốc hội, 1993, Luật đất đai, Khoản 3 Điều 38) Tranh chấp về quyền

Trang 23

sử dụng đất mà người sử dụng đất không có giấy chứng nhận của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền thì do Ủy ban Nhân dân giải quyết (Quốc hội, 1992Luật đất đai, Khoản 2 Điều 38)

Từ khi có Luật đất đai 1993 đến năm 2002 Nhà nước đã ban hành hàng chục văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai, kịp thời tìm ra những giải pháp hữu hiệu trong việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trong đó có việc kiện toàn bộ máy giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai cũng như nâng cao nghiệp vụ các cán bộ chuyên trách Đáng kể đến là việc tháo gỡ được những vướng mắc về thẩm quyền giải quyết giữa các cơ quan Nhà nước như việc ban hành Thông tư liên tịch số 01 – TTLT ngày 3/1/2002 của TANDTC, VKSNDTC, Tổng cục Địa chính về “Hướng dẫn về thẩm quyền của toàn án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất (Quốc hội, 1993, Luật đất đai, Khoản 3 Điều 38)

1.3.1.4 Giai đoạn từ khi có Luật Đất đai 2003 đến 30/6/2014

Luật Đất đai năm 2003 quy định, việc giải quyết tranh chấp đất đai phải qua hòa giải tại UBND cấp xã đương sự mới có quyền khởi kiện đến Tòa án Quy định này qua nhiều năm thi hành vẫn chưa được hướng dẫn cụ thể, nên có nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau, gây cản trở, ách tắc trong công tác giải quyết tranh chấp đất đai Theo quy định tại các Điều 135 và 136 của Luật Đất đai 2003, khi xảy

ra tranh chấp đất đai nhất thiết phải qua hòa giải tại UBND xã, phường, thị trấn (UBND cấp xã) nơi có đất tranh chấp Chỉ sau khi UBND cấp xã đã tiến hành hoà giải mà một hoặc các bên đương sự không nhất trí mới được quyền khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết (nếu tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án) Triển khai thi hành Luật Đất đai 2003, ngày 22.7.2004 Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành công văn số 116/2004/KHXX hướng dẫn: kể từ ngày 1.7.2003, Tòa án chỉ thụ lý, giải quyết tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại UBND cấp xã mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí và khởi kiện đến Toà án Trong trường hợp đương sự nộp đơn khởi kiện mà tranh chấp đó chưa qua hoà giải tại UBND cấp xã, thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho đương sự Với quy định này, thực tiễn giải

Trang 24

quyết tranh chấp đất đai trong thời gian qua đã phát sinh những vướng mắc chưa được tháo gỡ

Trong giai đoạn trước khi ban hành Luật Đất đai năm 2003, việc giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất được thực hiện theo hướng dẫn tại các thông tư liên tịch giữa Tổng cục Địa chính, Tòa án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Điều 136 của Luật Đất đai 2003 đã kế thừa quy định của Luật Đất đai năm 1993 và phát triển từ nội dung hướng dẫn của Thông tư liên tịch này Tuy nhiên, từ khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành (ngày 01/7/2004) đến nay, vẫn không có văn bản hướng dẫn chi tiết quy định tại Điều 136 của Luật Đất đai năm 2003 Do có sự khác nhau rất lớn giữa cơ chế, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai theo thẩm quyền của Tòa án (có thể giải quyết nhiều lần) và theo thẩm quyền của UBND (chỉ có thể giải quyết hai lần), nên trong thực tiễn đã phát sinh nhiều vướng mắc

1.3.2 Hệ thống các văn bản pháp luật về công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai ở Việt Nam giai đoạn 2003-2013

1.3.2.1 Văn bản do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành

- Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;

- Bộ Luật Dân sự năm 2005;

- Luật Khiếu nại năm 2011;

- Luật Tố cáo năm 2011;

- Luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi sổ sung năm 2011);

- Luật Đất đai năm 2003;

- Luật Thanh tra năm 2010;

- Luật Nhà ở năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009);

- Luật Tố tụng hành chính năm 2011;

- Luật Bảo vệ môi trường năm 2005;

1.3.2.2 Văn bản do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành

- Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo;

Trang 25

- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ

về việc thi hành Luật Đất đai;

- Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ

về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;

- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 05 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;

- Chỉ thị số 36/2004/CT-TTg ngày 27 tháng 10 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chỉnh và tăng cường trách nhiệm của Thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo

1.3.2.3 Văn bản do Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành

- Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 02 tháng 7 năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ về trình tự thu hồi đất và thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất;

- Thông tư số 01/2002/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-TCĐC ngày 03 tháng

01 năm 2002 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao Tổng cục Địa chính hướng dẫn về thẩm quyền của toà án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất

1.3.3 Quy định của Luật Đất đai 2003 Luật Khiếu nại 2011 và Luật tố cáo 2011

về giải quyết tranh chấp, khiếu nại , tố cáo về đất đai

1.3.3.1 Tranh chấp và giải quyết tranh chấp liên quan đến đất đai

a) Tranh chấp về đất đai

Theo quy định tại khoản 26 Điều 1 Luật Đất đai năm 2003 thì tranh chấp về đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ

i) Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về đất đai

Theo quy định của Điều 136 Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai,

Trang 26

thì việc giải quyết tranh chấp về đất đai được thực hiện theo hai cách: giải quyết tại Tòa án và giải quyết tại các cơ quan hành chính nhà nước Cụ thể là:

- Tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà các đương sự có giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất hoặc có một trong các giấy tờ sau: những giấy tờ về quyền sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 (tức là trước khi Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực thi hành) do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính; giấy tờ hợp pháp thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất; giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua, bán nhà ở gắn liền với đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất theo quy định của pháp luật; giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất Hộ gia đình và cá nhân đang sử dụng đất có một trong các giấy tờ nói trên mà trên giấy tờ có ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được

Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành (khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 50 Luật Đất đai) và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa

án nhân dân giải quyết

- Tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan hành chính

Tranh chấp về thẩm quyền sử dụng mà đương sự không có giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các giấy tờ quy định như nói ở trên thì

Trang 27

được giải quyết như sau: trường hợp Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết Khi Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết thì quyết định này là quyết định giải quyết cuối cùng Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Quyết định giải quyết khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là quyết định giải quyết cuối cùng

b) Giải quyết tranh chấp đất đai

- Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án

+ Điều kiện khởi kiện vụ án tranh chấp đất đai tại Tòa án

Những tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Theo quy định của Điều 136 Luật Đất đai và Điều 160 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP thì trước khi những tranh chấp đất đai được giải quyết tại Tòa án, các bên phải tiến hành việc giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải, nếu hòa giải không thành thì tranh chấp đất đai sẽ do Tòa án giải quyết với hai điều kiện sau:

Thứ nhất là: đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Theo quy định của Điều 4, Luật Đất đai thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy chứng nhận

do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất

Thứ hai là: đương sự tuy không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng

có một trong các giấy tờ quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai như

đã nói ở phần trên

+ Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai

Việc giải quyết tranh chấp đất đai tại Toà án được thực hiện theo quy định của

Bộ Luật Tố tụng dân sự, cụ thể là khi có tranh chấp đất đai phát sinh thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khởi kiện vụ án tranh chấp về đất đai tại Toà án có thẩm quyền Điểm c khoản 1 Điều 35

Trang 28

của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định đất đai là một loại bất động sản nên Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp bất động sản là Toà án nơi có bất động sản Khi làm đơn khởi kiện, người khởi kiện phải chấp hành quy định tại Điều 164 của Bộ luật Tố tụng dân sự Người khởi kiện vụ án gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Toà án có thẩm quyền bằng một trong các phương thức sau: nộp trực tiếp tại Toà án; gửi đến Toà án qua đường bưu điện Ngày khởi kiện được tính từ ngày đương sự nộp đơn tại Toà án hoặc ngày có dấu của Bưu điện nơi gửi Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Toà án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và Toà án sẽ thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Toà án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí

Trường hợp đơn khởi kiện không đủ các nội dung trên thì Toà án sẽ thông báo cho người khởi kiện biết và người khởi kiện phải sửa đổi, bổ sung trong thời hạn do Toà án quy định Nếu không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của Toà án thì Toà án sẽ trả lại đơn khởi kiện Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo do Toà án trả lại, người khởi kiện có quyền khiếu nại với Chánh án Toà án đã trả lại đơn khởi kiện Người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp

Trường hợp đủ điều kiện thì thụ lý để giải quyết Kể từ ngày thụ lý vụ án có một khoảng thời gian chuẩn bị xét xử là 4 tháng, trong thời gian này, Toà án nhân dân tiến hành hoà giải để các đương sự tiến hành thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án Đây là giai đoạn bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự và việc hoà giải này cũng khác với việc hoà giải trước khi khởi kiện Hoà giải trong giai đoạn này do Toà án nhân dân chủ trì và tiến hành

Giải quyết tranh chấp đất đai tại các cơ quan hành chính nhà nước

Theo quy định, các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền giải quyết đối với tranh chấp mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cũng không có một trong các loại giấy tờ sau đây:

Những giấy tờ về quyền sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do các

cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách nhà đất

Trang 29

của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính; giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất, giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;

Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua, bán nhà ở gắn liền với đất trước ngày 15/10/1993; giấy tờ thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất theo quy định của pháp luật;

Giấy tờ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

Bản án hoặc Quyết định của Toà án, Quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quyền sử dụng đất

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết đối với tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết khiếu nại lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì có quyền gửi đơn xin giải quyết tranh chấp đất đai đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Quyết định giải quyết của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết tranh chấp cuối cùng

Đối với tranh chấp giữa tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài với nhau hoặc giữa tổ chức, cơ

sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư sẽ do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giải quyết Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giải quyết lần đầu mà một trong các bên đương sự không đồng ý thì có quyền đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường yêu cầu giải quyết Quyết định giải

Trang 30

quyết của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là quyết định giải quyết tranh chấp cuối cùng

Sơ đồ 1.2: Trình tự giải quyết tranh chấp đất đai

Đối với việc giải quyết tranh chấp liên quan đến địa giới hành chính thì giải quyết theo quy định tại Điều 137 Luật Đất đai Theo đó, tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính giữa các đơn vị hành chính do Uỷ ban nhân dân của đơn vị hành chính đó cùng phối hợp giải quyết Trong trường hợp không đạt được sự nhất trí hoặc việc giải quyết làm thay đổi địa giới hành chính thì thẩm quyền giải quyết được quy định như sau:

- Tranh chấp liên quan đến địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh có trách nhiệm cung cấp các tài liệu cần thiết và phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính

- Bộ Tài nguyên và Môi trường, cơ quan quản lý đất đai của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh có trách nhiệm cung cấp các tài liệu cần thiết và phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính

Trang 31

1.3.3.2 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về đất đai

a) Khiếu nại về đất đai

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại thì công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai khi có căn cứ cho rằng các quyết định hành chính, hành vi hành chính xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại (Điều 162 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai):

- Quyết định hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại bao gồm:

+ Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất;

+ Quyết định bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư;

+ Quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất;

- Hành vi hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại là hành vi của cán bộ, công chức nhà nước khi giải quyết công việc thuộc phạm vi quy định như nói ở trên

i) Thẩm quyền giải quyết khiếu nại

Theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2011 thì thẩm quyền giải quyết khiếu nại được quy định như sau:

Chủ tịch UBND cấp xã, thủ trưởng cơ quan thuộc UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp huyện, Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương, Giám đốc Sở

và cấp tương đương của UBND cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh, thủ trưởng cơ quan thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính hành vi hành chính của mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp

Ngoài ra, Chủ tịch UBND cấp huyện giải quyết khiếu nại mà Chủ tịch UBND cấp xã, thủ trưởng cơ quan chuyên môn cấp huyện đã giải quyết nhưng còn khiếu nại, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết khiếu nại mà Chủ tịch UBND cấp

Trang 32

huyện đã giải quyết nhưng còn khiếu nại; giải quyết khiếu nại mà Giám đốc Sở hoặc cấp tương đương thuộc UBND cấp tỉnh đã giải quyết nhưng còn khiếu nại mà nội dung thuộc phạm vi quản lý nhà nước của UBND cấp tỉnh

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại mà Thủ trưởng cơ quan thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang Bộ, thuộc cơ quan thuộc Chính phủ đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại, giải quyết khiếu nại có nội dung thuộc quyền quản lý nhà nước của Bộ, ngành mình mà Chủ tịch UBND cấp tỉnh, giám đốc Sở hoặc cấp tương đương thuộc UBND cấp tỉnh đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại

Tổng thanh tra có thẩm quyền giải quyết khiếu nại mà Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại; giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, thi hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật

Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền lãnh đạo công tác giải quyết khiếu nại của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp; xử lý các kiến nghị của Tổng thanh tra theo quy định

Tuy nhiên Luật Đất đai quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND cấp huyện và UBND cấp tỉnh Cụ thể tại khoản 2 Điều 138 quy định như sau:

- Trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai do Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án nhân dân hoặc tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh Trong trường hợp khiếu nại đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh thì quyết định của Chủ tịch UBND cấp tỉnh là quyết định giải quyết cuối cùng;

- Trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết lần đầu

mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định đó thì có quyền khởi kiện tại Toà

án nhân dân

Trang 33

ii) Thủ tục giải quyết khiếu nại

Theo quy định tại Điều 28, 33, 34 Luật Khiếu nại hiện hành thì người khiếu nại lần đầu phải khiếu nại với người ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có cán

bộ, công chức có hành vi hành chính mà người khiếu nại có căn cứ cho rằng quyết định hành chính đó, hành vi hành chính đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết quy định tại Điều 28 Luật Khiếu nại, tố cáo mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết tiếp theo hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy định của pháp luật; đối với vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn thì thời hạn nói trên có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ thì

có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án nhân dân cấp tỉnh, trừ trường hợp luật có quy định khác Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 43 Luật Khiếu nại mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án; đối với vùng sâu, vùng

xa, đi lại khó khăn thì thời hạn nói trên có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày Như vậy, Luật Đất đai quy định việc giải quyết khiếu nại về đất đai theo hướng: người khiếu nại chỉ có quyền khởi kiện ra toà án trong trường hợp đã có quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà không đồng ý với quyết định đó và không tiếp tục khiếu nại lên cơ quan hành chính cấp trên Vấn đề khởi kiện ra toà trong trường hợp đã có quyết định giải quyết khiếu nại lần hai không được đặt ra

1.3.3.3 Thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai

Theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2011 thì thẩm quyền giải quyết khiếu nại được quy định như sau:

Chủ tịch UBND cấp xã, thủ trưởng cơ quan thuộc UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp huyện, Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương, Giám đốc sở

và cấp tương đương của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Thủ trưởng cơ quan thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang Bộ,

Trang 34

thuộc cơ quan thuộc Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp Ngoài ra, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện giải quyết khiếu nại mà Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn cấp huyện đã giải quyết nhưng còn khiếu nại, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết khiếu nại mà Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện đã giải quyết nhưng còn khiếu nại; giải quyết khiếu nại mà Giám đốc sở hoặc cấp tương đương thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết nhưng còn khiếu nại mà nội dung thuộc phạm vi quản lý của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại mà Thủ trưởng cơ quan thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang Bộ, thuộc cơ quan thuộc Chính phủ

đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại, giải quyết khiếu nại có nội dung thuộc quyền quản lý nhà nước của Bộ, ngành mình mà Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Giám đốc sở hoặc cấp tương đương thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết lần đầu nhưng còn có khiếu nại

Tổng Thanh tra có thẩm quyền giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, thi hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật

Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền lãnh đạo công tác giải quyết khiếu nại của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp;

xử lý các kiến nghị của Tổng Thanh tra quy định, chỉ đạo, xử lý tranh chấp về thẩm qyền giải quyết khiếu nại giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính Phủ, UBND cấp Tỉnh

Tuy nhiên, Luật Đất đai năm 2003 quy định Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh mới có thẩm quyền cấp đất, vì vậy Luật Đất đai chỉ quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cụ thể tại khoản 2 Điều 138 như sau:

Trang 35

Trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu kiện tới Toà án nhân dân hoặc tiếp tục khiếu nại lên Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Trong trường hợp khiếu nại lên Chủ tịch

Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì quyết định cuả Chủ tịch

Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng;

Trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giải quyết mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu kiện tới Toà án nhân dân

Một trong các nội dung liên quan đến quá trình giải quyết tố cáo của các cơ quan có thẩm quyền là việc thực hiện quy định về "giữ bí mật" Tại điểm b khoản 1 Điều 57 - Luật Tố cáo quy định người tố cáo có quyền yêu cầu giữ bí mật họ tên, địa chỉ bút tích của mình Điều 72 của Luật quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận tố cáo, giải quyết tố cáo phải giữ bí mật cho người tố cáo, không được tiết lộ

họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và các thông tin khác có hại cho người tố cáo Nếu chỉ đọc nội dung để bổ sung kiến thức thì không thấy có gì khúc mắc hiện hữu, nhưng vấn đề cần phải bàn ở đây là tại sao và trong trường hợp nào phải giữ bí mật? Hiện các văn bản pháp luật có liên quan đến Luật Khiếu nại, tố cáo chưa có hướng dẫn cụ thể

1.3.4 Tình hình thực hiện công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại , tố cáo về đất đai

1.3.4.1 Tình hình thực hiện công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại , tố cáo về đất đai trên địa bàn cả nước

Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân, được Hiến

pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 ghi nhận: "Công dân có

quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào" Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân

Trang 36

được quy định cụ thể hơn trong Luật Khiếu nại – tố cáo 2011

Khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai là một hiện tượng xảy ra phổ biến trong xã hội; đặc biệt khi nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện cơ chế quản lý mới bằng việc trả lại đất đai những giá trị vốn có thì tranh chấp đất đai phát sinh có xu hướng ngày càng tăng cả về số lượng cũng như tính chất phức tạp về mặt nội dung Tuy nhiên, tranh chấp đất đai kéo dài với số lượng ngày càng đông người dân tham gia thì lại là vấn đề rất đáng quan tâm tìm hiểu nguyên nhân nảy sinh để đề ra các biện pháp giải quyết phù hợp nhằm “tháo ngòi nổ” xung đột không để phát sinh trở thành “điểm nóng” gây mất ổn định chính trị, tình hình trật tự an toàn xã hội Tính phức tạp của tranh chấp đất đai, khiếu kiện kéo dài không chỉ bắt nguồn từ những xung đột gay gắt về lợi ích kinh tế, từ hệ quả của

sự quản lý thiếu hiệu quả của cơ quan công quyền, sự bất hợp lý và thiếu đồng bộ của hệ thống chính sách, pháp luật đất đai…mà còn do những nguyên nhân có tính lịch sử trong quản lý và sử dụng đất đai qua các thời kỳ

Từ nhiều năm nay, Đảng và Nhà nước đã có nhiều Chỉ thị, Nghị quyết về vấn đề này Các văn bản đó đã và đang được triển khai thực hiện, có tác động tích cực đến tình hình khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo Nhờ vậy, nhiều

“điểm nóng”, nhiều vụ việc phức tạp đã được giải quyết, góp phần ổn định tình hình

an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, thời gian gần đây tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân diễn ra không bình thường, số lượng gia tăng, tính chất phức tạp, trong đó khiếu nại, tố cáo, tranh chấp

về đất đai chiếm số lượng lớn, khoảng 80% so với các khiếu nại, tố cáo trong cả nước, có những tỉnh, thành phố riêng về đất đai chiếm số lượng rất lớn như: thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng, Thái Bình, Cần Thơ, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An, Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang, Sóc Trăng… (Bộ TNMT, 2010, Thống kê tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai trên phạm vi cả nước)

Năm 2000, thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, Chính phủ đã thành lập 6 Đoàn công tác của Trung ương kiểm tra, đôn đốc và cùng các địa phương giải quyết các khiếu tố đông người, phức tạp, tồn đọng kéo dài tại 21 tỉnh, thành phố

Trang 37

Năm 2003, Quốc Hội có Nghị quyết số 23/2003/QH11 về vấn đề nhà đất do Nhà nước đã quản lý, sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà, đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01 tháng 7 năm 1991

Ngày 20 tháng 3 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị số 05/CT-TTg

về tập trung xử lý khiếu kiện của công dân trước, trong và sau Đại hội IX của Đảng; Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 09 tháng 10 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc tạo điều kiện để Hội Nông dân tham gia giải quyết khiếu kiện của nông dân; Chỉ thị

số 36/2004/CT-TTg ngày 27 tháng 10 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chỉnh và tăng cường trách nhiệm của Thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo v.v Trên cơ sở đó, các cấp uỷ, chính quyền địa phương, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tập trung chú trọng đến công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai; đã tổ chức, triển khai, quán triệt các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai tới cán bộ làm công tác giải quyết và tuyên truyền tới người dân, như: Bộ luật Dân sự; Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 và các Nghị định hướng dẫn thi hành; Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2004, Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2011 và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo; quán triệt về trách nhiệm, thẩm quyền của Thủ trưởng các cấp, ngành trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã đặt công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai của công dân là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Bộ, phân công một đồng chí Thứ trưởng phụ trách công tác Thanh tra, nhằm tập trung giải quyết cơ bản, dứt điểm lượng đơn tồn đọng trong thời gian ngắn nhất, kịp thời

xử lý các điểm nóng phát sinh, tăng cường giải quyết ở cơ sở, hạn chế mức tối đa người khiếu kiện kéo về Trung ương Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chỉ đạo quyết liệt đối với toàn ngành để thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai, đồng thời cải tiến lề lối làm việc, thành lập các Đoàn công tác phối hợp lực lượng giải quyết giữa Trung ương và địa phương Để thống nhất về trình tự, thủ tục trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai, Bộ Tài

Trang 38

nguyên và Môi trường đã ban hành quy chế quy định về trình tự, thủ tục trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai, ban hành quy chế làm việc của các Đoàn phối hợp giải quyết khiếu nại, tố cáo theo hướng phân công trách nhiệm

rõ ràng, phối hợp chặt chẽ với địa phương, mở rộng dân chủ, tăng cường đối thoại với người khiếu nại tại cơ sở

Trong năm 2003 và 2004, Bộ Tài nguyên Môi trường và các tỉnh đã có sự phối hợp tốt trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai; đã tổ chức Hội nghị với 11 tỉnh có nhiều khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai để trao đổi, bàn các biện pháp để thống nhất kế hoạch giải quyết đơn thư tồn đọng, đồng thời thống nhất nhận thức pháp luật, tăng cường năng lực tổ chức thực hiện nhiệm

vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai của cán bộ địa phương Tổ chức ký kết văn bản số 22 CTPH/HND-TCĐC ngày 04 tháng 3 năm 2002 về chương trình phối hợp thực hiện Chỉ thị số 26/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ giữa Tổng cục Địa chính (Bộ Tài nguyên và Môi trường) và Hội Nông dân Việt Nam; tại các địa phương cũng đã triển khai tốt việc Hội Nông dân tỉnh cùng tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai

Thời gian gần đây, có rất nhiều vụ việc khiếu nại liên quan đến đất đai Nhiều trường hợp khiếu nại có liên quan đến việc Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế – xã hội, như đòi được bồi thường đất ở, nâng giá bồi thường, tăng tiền hỗ trợ, bố trí tái định cư, giải quyết việc làm; đòi lại đất cũ, tranh chấp đất đai, nhà ở Ngoài ra, có một số khiếu nại liên quan đến việc thực hiện chính sách xã hội, kỷ luật của cán bộ, công chức… Về nội dung tố cáo, chủ yếu là

tố cáo cán bộ, công chức làm sai chính sách, tiêu cực, tham nhũng trong quản lý đất đai, tài chính, đầu tư, xây dựng cơ bản, thực hiện chính sách xã hội, cổ phần hóa doanh nghiệp; thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại, bao che người bị tố cáo, không xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật

Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, hàng năm Bộ nhận được gần 10.000 lượt đơn tranh chấp, khiếu nại, tố cáo thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường của công dân 64/64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong đó đơn thuộc lĩnh vực đất đai chiếm 98,6% tổng số đơn Các địa phương có nhiều đơn gửi đến Bộ Tài nguyên và Môi trường là thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Cần Thơ,

Trang 39

Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An, Đồng Tháp, Bến Tre, Bình Thuận, Đồng Nai, Kiên Giang và Tây Ninh (bình quân mỗi địa phương có gần 500 lượt đơn thư/năm) (Bộ TNMT, thống kê lượng đơn thư tố cáo trên cả nước )

Tình hình trên nếu không được xử lý kịp thời sẽ rất phức tạp, gây tâm lý hoang mang, thiếu tin tưởng vào chính quyền, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và lợi ích quốc gia

a) Tình hình đơn thư tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của công dân

gửi đến Bộ Tài nguyên và Môi trường từ năm 2003 đến năm 2013:

- Tổng số đơn Bộ nhận được từ năm 2003-2013 là 47.652 lượt (bình quân gần 8.000 lượt/năm và riêng năm 2008 là 7.005), đơn thư Bộ nhận được có ở cả 64 tỉnh, thành phố Kết quả phân tích đơn thư như sau:

+ Đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ: 985 vụ việc (chiếm tỷ lệ 2,1%

số đơn thư Bộ nhận được)

+ Đơn do Thủ tướng Chính phủ giao: 139 vụ việc (chiếm tỷ lệ 0,3%)

+ Đơn đã có quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: 7.551 vụ việc (chiếm tỷ lệ 15,8%)

+ Đơn tố cáo: 1.125 vụ việc (chiếm tỷ lệ 2,4%)

+ Đơn vượt cấp: 13.812 vụ việc (chiếm tỷ lệ 29%)

+ Đơn trùng và đơn không đủ điều kiện: 24.088 lượt đơn (chiếm tỷ lệ 50,4%)

- Các vụ việc thuộc thẩm quyền của Bộ tập trung nhiều vào các năm 2003 và

2004 với tổng số 682 vụ (chiếm 69,2% số vụ việc thuộc thẩm quyền), do Luật Đất đai năm 2003 chưa có hiệu lực nên các vụ việc liên quan đến công tác thu hồi đất và bồi thường vẫn thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ Sau khi Luật Đất đai năm 2003

có hiệu lực, thẩm quyền của Bộ tập trung chủ yếu vào công tác giải quyết các vụ việc tranh chấp đất đai có yếu tố tổ chức (Bộ TNMT, 2013)

b)Tình hình khiếu nại đông người trong lĩnh vực đất đai trong năm 2012 và 6

tháng đầu năm 2013

Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận được 84 đơn khiếu nại đông người, trong đó các tỉnh, thành phố phía Nam có nhiều vụ việc nhất chiếm 85,6% tổng số

Trang 40

vụ việc Một số địa phương phía Nam có đơn thư tập thể là: Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Cần Thơ, Long An, Đồng Nai, Cà Mau, An Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Bà Rịa – Vũng Tàu và Kiên Giang

Một số vụ việc khiếu nại nổi cộm, mang tính bức xúc mà Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận được trong thời gian qua như: Việc một số hộ dân đồng bào dân tộc thiểu số Khơmer ở 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên (tỉnh An Giang) đòi lại đất trước đây của các hộ do chiến tranh biên giới nên phải di dời nay người khác sử dụng; các hộ dân ở thành phố Hồ Chí Minh khiếu nại liên quan đến việc thu hồi đất

và sử dụng đất tại dự án khu đô thị mới Thủ Thiêm; khiếu nại của các hộ dân ở thành phố Cần Thơ liên quan đến quy hoạch tại khu vực Cồn Cái Khế; việc một số

hộ dân đòi lại đất hiện do Cty Cao su Tân Biên, Nhà máy đường Nước Trong (tỉnh Tây Ninh) đang sử dụng; việc thu hồi đất trồng cao su của các hộ dân tại xã An Tây, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Văn Lâm - Hưng Yên, Tiên Lãng - Hải Phòng… Một số vụ việc đông người, phức tạp Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm tra, xác minh đề xuất giải quyết như: Vụ việc của một

số công dân ở phường Phước Thới, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ khiếu nại việc thu hồi đất để xây dựng trung tâm điện lực Ô Môn; vụ việc một số doanh nghiệp và

hộ dân khiếu nại việc thu hồi đất để xây dựng khu công nghiệp Tân Phú Trung, thành phố Hồ Chí Minh Bên cạnh đó Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Thanh tra Chính phủ, Ủy ban nhân dân một số tỉnh để xem xét, giải quyết các vụ việc đông người, phức tạp như: Khiếu nại của các hộ dân Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh liên quan đến việc thu hồi đất để thực hiện dự án Khu công nghệ cao; khiếu nại của 684 hộ dân liên quan đến việc thu hồi đất để thực hiện dự án mở rộng Quốc lộ 1A, dự án đuờng cao tốc Trung Lương, dự án khu công nghiệp Tân Hương và dự án đường dây 500 KV Nhà Bè – Ô Môn (tỉnh Tiền Giang) (Bộ TNMT, 2013)

c) Tình hình khiếu nại, tố cáo năm 2013

Năm 2013, các bộ, ngành Trung ương đã tiếp 62.269 lượt người, các địa phương đã tiếp 295.621 lượt người, riêng Trụ sở tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã tiếp 22.369 lượt

Ngày đăng: 26/11/2015, 15:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai - đánh giá thực trạng công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình theo quy định của luật đất đai 2003
Sơ đồ 1.1 Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai (Trang 16)
Hình 3.1: Sơ đồ vị trí huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình - đánh giá thực trạng công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình theo quy định của luật đất đai 2003
Hình 3.1 Sơ đồ vị trí huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình (Trang 48)
Bảng 3.1: Tình hình dân số và lao động của huyện Kim Sơn - đánh giá thực trạng công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình theo quy định của luật đất đai 2003
Bảng 3.1 Tình hình dân số và lao động của huyện Kim Sơn (Trang 54)
Bảng 3.2: Tình hình phát triển kinh tế huyện Kim Sơn năm 2010 - 2013 - đánh giá thực trạng công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình theo quy định của luật đất đai 2003
Bảng 3.2 Tình hình phát triển kinh tế huyện Kim Sơn năm 2010 - 2013 (Trang 57)
Bảng 3.3:  Hiện trạng sử dụng đất huyện Kim Sơn năm 2013 - đánh giá thực trạng công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình theo quy định của luật đất đai 2003
Bảng 3.3 Hiện trạng sử dụng đất huyện Kim Sơn năm 2013 (Trang 63)
Bảng 3.4: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Kim Sơn năm 2013 - đánh giá thực trạng công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình theo quy định của luật đất đai 2003
Bảng 3.4 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Kim Sơn năm 2013 (Trang 64)
Bảng 3.5: Các loại hình sử dụng đất chính của huyện Kim Sơn năm 2013 - đánh giá thực trạng công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình theo quy định của luật đất đai 2003
Bảng 3.5 Các loại hình sử dụng đất chính của huyện Kim Sơn năm 2013 (Trang 64)
Bảng 3.6. Số lượt tiếp dân và đơn thư từng năm trên địa bàn huyện Kim Sơn - đánh giá thực trạng công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình theo quy định của luật đất đai 2003
Bảng 3.6. Số lượt tiếp dân và đơn thư từng năm trên địa bàn huyện Kim Sơn (Trang 67)
Bảng 3.8: Các hình thức Khiếu nại về đất đai  trên địa bàn huyện Kim Sơn - đánh giá thực trạng công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình theo quy định của luật đất đai 2003
Bảng 3.8 Các hình thức Khiếu nại về đất đai trên địa bàn huyện Kim Sơn (Trang 69)
Bảng 3.9 Giá các loại đất Nông nghiệp huyện Kim Sơn năm 2013 - đánh giá thực trạng công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình theo quy định của luật đất đai 2003
Bảng 3.9 Giá các loại đất Nông nghiệp huyện Kim Sơn năm 2013 (Trang 73)
Bảng 3.10 Kết quả giải quyết khiếu nại trên địa bàn huyện Kim Sơn - đánh giá thực trạng công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình theo quy định của luật đất đai 2003
Bảng 3.10 Kết quả giải quyết khiếu nại trên địa bàn huyện Kim Sơn (Trang 75)
Bảng 3.12 Kết quả giải quyết tố cáo về quản lý và sử dụng đất đai - đánh giá thực trạng công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình theo quy định của luật đất đai 2003
Bảng 3.12 Kết quả giải quyết tố cáo về quản lý và sử dụng đất đai (Trang 79)
Bảng 3.13 Các hình thức tranh chấp đất đai  trên địa bàn huyện Kim Sơn - đánh giá thực trạng công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình theo quy định của luật đất đai 2003
Bảng 3.13 Các hình thức tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Kim Sơn (Trang 81)
Bảng 3.14 Kết quả giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Kim Sơn - đánh giá thực trạng công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình theo quy định của luật đất đai 2003
Bảng 3.14 Kết quả giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Kim Sơn (Trang 82)
Bảng 3.15 Các vụ tranh chấp còn tồn đọng trên địa bàn huyện Kim Sơn - đánh giá thực trạng công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện kim sơn, tỉnh ninh bình theo quy định của luật đất đai 2003
Bảng 3.15 Các vụ tranh chấp còn tồn đọng trên địa bàn huyện Kim Sơn (Trang 83)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm