Từ trước tới nay cũng đã có rất nhiều các đề tài nghiên cứu về sinh kế bền vững, từ đó cũng cho ta thấy để có được một sinh kế bền vững thì phụ thuộc rất nhiều vào vị trí địa lý, môi trư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
TRẦN VĂN THUẬN
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
HUYỆN BA TƠ TỈNH QUẢNG NGÃI
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
PGS.TS ĐỖ VĂN VIỆN
HÀ NỘI – 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu luận văn thạc sỹ chuyên ngành QTKD – thuộc một sản phẩm đào tạo của đề tài khoa học công nghệ cấp bộ: “Đánh giá nguồn lực và đề xuất giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ngãi” – tôi được tham gia điều tra thực tế tại Ba Tơ Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực
và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào Mọi thông tin thứ cấp sử dụng trong đề tài đã được trích dẫn đầy đủ
Tác giả luận văn
Trần Văn Thuận
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa học và đề tài nghiên cứu tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ quý báu của quý Thầy, quý Cô trong Khoa Kế Toán & Quản trị kinh doanh trường Học viện Nông Nghiệp Việt Nam; Phòng Đào tạo Sau đại học - Trường Học viện Nông Nghiệp Việt Nam, xin gửi tới quý Thầy, Cô lòng biết ơn chân thành và tình cảm quý mến nhất
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy giáo PGS.TS Đỗ Văn Viện, người hướng dẫn khoa học, người đã nhiệt tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình hoàn thiện luận văn, đã tạo điều kiện cho tôi cùng tham gia thực tế nghiên cứu Đề Tài cùng Bộ môn Quản trị Kinh doanh tại Quảng Ngãi
Tôi xin trân trọng chân thành cảm ơn lãnh đạo UBND Huyện Ba Tơ, Phòng Nông Nghiệp phát triển nông thôn, Trạm Khuyến Nông Ba Tơ, Ủy ban nhân nhân xã Ba Dinh,xã Ba Xa và các bà con dân tộc thiểu số, cá nhân thuộc các nhóm hộ điều tra tại Huyện Ba Tơ tỉnh Quảng Ngãi đã giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện cho tôi trong thời gian nghiên cứu tại địa bàn
Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những người thân, bạn bè và các thầy cô trong Bộ Môn Quản Trị Kinh doanh đã góp ý, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Hà Nội, ngày 17 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Trần Văn Thuận
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
Danh mục viết tắt viii
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
2.1 Cơ sở lý luận về phát triển sinh kế bền vững 4
2.1.1 Các vấn đề cơ bản về nguồn lực và sinh kế bền vững 4
2.1.2 Vai trò của việc phát triển sinh kế bền vững và vấn đề DTTS 18
2.1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến sinh kế 23
2.2 Cơ sở thực tiễn 26
2.2.1 Kinh nghiệm phát triển sinh kế bền vững các nước trên thế giới 26
2.2.2 Kinh nghiệm phát triển sinh kế bền vững tại Việt Nam 31
2.2.3 Các công trình nghiên cứu liên quan 32
3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
3.1 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 35
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 35
Trang 63.1.2 Đặc điểm, phong tục tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số
Ba Tơ 40
3.1.3 Đặc điểm kinh tế xã hội của Huyện Ba Tơ 42
3.2 Thực trạng phát triển một số ngành và lĩnh vực chủ yếu tại Huyện Ba Tơ 45
3.2.1 Nông, lâm nghiệp thuỷ sản 46
3.2.2 Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và kết cấu hạ tầng 48
3.2.3 Thương mại, dịch vụ, du lịch, bưu chính viễn thông 51
3.3 Phương pháp nghiên cứu 52
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 52
3.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 53
3.3.3 Phương pháp phân tích 53
3.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 55
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 58
4.1 Thực trạng sinh kế tại địa bàn nghiên cứu 58
4.1.1 Kết quả sinh kế tại địa bàn nghiên cứu 58
4.1.2 Bối cảnh dễ tổn thương và phương thức đối phó 59
4.1.3 Các nguồn vốn sinh kế của các nhóm hộ 63
4.1.4 Chiến lược sinh kế 85
4.1.5 Chính sách, thể chế và những tác động của chúng 88
4.1.6 Một số mô hình sinh kế đang triển khai trên địa bàn 92
4.2 Định hướng và giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi những năm tới 98
4.2.1 Cơ sở giải pháp 98
4.2.2 Giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số huyện Ba Tơ 103
Trang 74.2.3 Giải pháp nguồn lực phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào
DTTS huyện Ba Tơ 104
4.2.4 Giải pháp đối với các mô hình sinh kế bền vững 112
5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 114
5.1 Kết luận 114
5.2 Kiến nghị 115
5.2.1 Đối với Nhà nước 115
5.2.2 Đối với đồng bào dân tộc thiểu số địa phương 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
Trang 8DANH MỤC BẢNG
STT TÊN BẢNG TRANG Bảng 3.1 Diện tích, dân số và mật độ dân số các xã thuộc huyện Ba
Tơ, tỉnh Quảng Ngãi 42
Bảng 3.2 Lao động và thu nhập tại huyện Ba Tơ 43
Bảng 3.3 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện 45
Bảng 3.4 Phương pháp thu thập 53
Bảng 3.5: Bảng các chị thị trong thang đo BS 57
Bảng 4.1 Kết quả phân hạng kinh tế hộ tại các thôn nghiên cứu 58
Bảng 4.2 Rủi ro xảy ra tại Ba Tơ và các giải pháp ứng phó, khắc phục 61
Bảng 4.3 Xu hướng thu nhập trong năm của các hộ 62
Bảng 4.4 Xu hướng chi tiêu trong năm của các hộ 62
Bảng 4.5 Chủ hộ các hộ điều tra tại huyện Ba Tơ năm 2013 64
Bảng 4.6 Nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra năm 2013 66
Bảng 4.7 Tỷ lệ mục đích tham gia các cuộc tiếp xúc cử tri 69
Bảng 4.8 Mục đích tham gia, nội dung các cuộc họp thôn 70
Bảng 4.9: Mức độ và kết quả tham gia các mô hình khuyến nông tại 2 xã Ba Dinh và Ba Xa 71
Bảng 4.10: Các nguồn vốn vay của người dân 73
Bảng 4.11: Các loại phương tiện sinh hoạt trong gia đình 80
Bảng 4.12: Đánh giá giá trị các nguồn lực sinh kế 82
Bảng 4.13: Bảng giá trị thang đo BS 84
Bảng 4.14: Phân tích SWOT để hình thành các chiến lược sinh kế cho đồng bào DTTS huyện Ba Tơ 87
Trang 9DANH MỤC HÌNH
STT TÊN HÌNH TRANG
Hình 2.1: Khung sinh kế bền vững 9
Hình 2.2: Mô hình sinh kế bền vững tại vùng nông thôn Ấn Độ 27
Hình 2.3: Mô hình sinh kế bền vững vùng ven biển (IMM,2004) 28
Hình 3.1: Bản đồ hành chính huyện Ba Tơ – Quảng Ngãi 35
Hình 3.2: Cơ cấu sử dụng đất tại Ba Tơ năm 2013 37
Hình 4.1 Biến động thời tiết khí hậu trong năm 60
Hình 4.2 Trình độ học vấn của lao động điều tra 67
Hình 4.3 Cơ cấu nguồn vốn vay của người dân 74
Hình 4.4 Mức tiêu dùng của hộ điều tra 77
Hình 4.5 Thực trạng các nguồn lực sinh kế huyện Ba Tơ 83
Hình 4.6 Thước đo tính bền vững trong phát triển sinh kế 85
Trang 10DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CARE Hợp tác xã cho việc gửi hàng của Mỹ sang châu Âu
IUCN Liên minh Quốc tế bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên
TTGDTX Trung tâm giáo dục thường xuyên
Trang 111 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Sinh kế bền vững hiện nay là mối quan tâm trăn trở của Đảng của nhà nước ta, nó là điều cần thiết để phát triển hơn, đáp ứng được nhu cầu của con người giúp người dân thoát nghèo và phát triển bền vững Từ trước tới nay cũng
đã có rất nhiều các đề tài nghiên cứu về sinh kế bền vững, từ đó cũng cho ta thấy
để có được một sinh kế bền vững thì phụ thuộc rất nhiều vào vị trí địa lý, môi trường tự nhiên, con người, văn hóa…Sinh kế bền vững với mục tiêu giảm nghèo, phát triển bền vững và sinh kế chủ yếu trong phát triển nông thôn cho nông dân Mục tiêu của nông dân là tăng thu nhập, bất cứ từ hoạt động kinh tế nào, do đó họ đa dạng hóa hoạt động kinh tế Hộ nông dân có nhiều người có khả năng lao động khác nhau, muốn có thu nhập cao mỗi thành viên của gia đình phải làm việc thích hợp nhất Sinh kế bền vững giúp con người có thể đối phó và phục hồi những áp lực và các cú sốc đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản cả ở hiện tại lẫn trong tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Việt Nam là một quốc gia có rất nhiều dân tộc khác nhau, trong đó dân tộc Kinh chiếm đại đa số, nhưng đồng bào dân tộc thiểu số cũng có vị trí vô cùng quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội Tỉnh Quảng Ngãi có dân số 1.216.773 người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa chiếm khoảng 12%, điều kiện kinh tế - xã hội ở những nơi này còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí, đời sống kinh tế và hiểu biết pháp luật của
bà con còn thấp Với đặc điểm như vậy cho nên cuộc sống của bà con dân tộc nơi đây bị hạn chế về nhiều mặt Ở những xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, cơ sở vật chất kinh tế, kỹ thuật hạ tầng còn nhiều thiếu thốn cho nên
bà con dân tộc ở đây ít có cơ hội để tiếp xúc với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, trình độ nhận thức của bà con còn nhiều hạn chế
Trang 12Ba Tơ là một huyện miền núi của tỉnh Quảng Ngãi, với thành phần dân
cư chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số Thu nhập của người dân nơi đây chủ yếu là từ sản xuất nông nghiệp Với nguồn thu nhập như vậy Ba Tơ còn nhiều
hộ nghèo, cuộc sống sinh hoạt rất khó khăn Điều kiện cơ sở vật chất kinh tế,
kỹ thuật hạ tầng của huyện còn nhiều thiếu thốn, đồng bào ở đây ít có cơ hội
để tiếp xúc với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, trình độ nhận thức của
bà con còn nhiều hạn chế Điều này càng khiến cho họ khó thoát nghèo Vấn
đề đặt ra ở đây là “làm thế nào để nâng cao và cải thiện mức sống của họ?”
Để trả lời được câu hỏi nay cần có sự hợp tác đồng bộ giữa các cơ quan ban ngành, các tổ chức và người dân để có những chính sách, hoạt động nhằm hộ trợ, giúp đỡ họ thoát cành nghèo đói, cải thiện cuộc sống
Để đảm bảo và phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu
số trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nói chung và huyện Ba Tơ nói riêng các cơ quan ban ngành, các tổ chức cần hướng dẫn người dân khai thác một cách có hiệu quả các nguồn lực sẵn có, giúp họ thấy được nguyên nhân chính gây ra cái nghèo, tránh đầu tư sai lầm trong sản xuất kinh doanh, bảo quản nguồn vốn tốt Bên cạnh đó cần xây dựng giúp họ chiến lược sinh kế lâu dài đồng thời hướng dẫn họ thực hiện các hoạt động Việc giám sát và đánh giá hiệu quả của các hoạt động sinh kế của người dân cũng là một vấn đề quan trọng trong quá trình giúp người dân phát triển sinh kế bền vững
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Thực trạng
và giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số huyện Ba Tơ, Tỉnh Quảng Ngãi ”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 13- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sinh kế tại điểm nghiên cứu
- Đề xuất giải pháp sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số Huyện Ba Tơ những năm tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các nguồn lực và mô hình sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện
Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài tiến hành tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi trong
đó tập trung vào 2 xã điển hình đại diện mẫu là xã Ba Xa, và xã Ba Dinh
- Số liệu thu thập: Phục vụ nghiên cứu từ năm 2011 đến 2013, thông tin
số liệu điều tra năm 2013
- Thời gian nghiên cứu : Đề tài được thực hiện từ tháng 5/2013 đến tháng
10/2014
Trang 142 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận về phát triển sinh kế bền vững
2.1.1 Các vấn đề cơ bản về nguồn lực và sinh kế bền vững
2.1.1.1 Các khái niệm
Về nguồn lực: Lâu nay không có gì tranh luận lớn, nhưng nhìn nhận về
nguồn lực chưa nhất quán và thiếu cách nhìn định lượng, chưa quan tâm đúng mức đến việc tranh giành và độc quyền đối với một số nguồn lực nhờ danh nghĩa tổ chức nhà nước Việc lãng phí nguồn lực cũng chưa được xem xét đúng mức Thực tiễn khai thác và sử dụng nguồn lực hiện nay đặt ra nhiều vấn đề từ nhận thức đến phương cách tiếp cận mới theo chiều hướng thực tế, thiết thực hơn, kết hợp định tính với định lượng trong đánh giá nguồn lực; làm cho nguồn lực mang giá trị đúng của nó để phát triển đất nước nhanh, có chất lượng và bền vững
Những thứ được coi là nguồn lực phải là những thứ được sử dụng hoặc
có khả năng sử dụng trong thời kì dự kiến phát triển Tiềm năng chưa đưa được vào sử dụng hoặc chưa có khả năng đưa vào sử dụng thì chưa được xem
là nguồn lực
Các nguồn lực được xem xét dưới nhiều góc độ Có nghĩa là dưới nhiều góc độ, người ta chia các nguồn lực thành các loại khác nhau để có thái độ đúng đắn và có cách ứng xử với chúng thích hợp Thông thường nguồn lực được phân chia thành hai nhóm là nhóm nguồn lực vật chất (nguồn vật lực) và nhóm nguồn lực con người (nguồn nhân lực) Trong đó: Nhóm nguồn lực vật chất gồm có: Tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên thủy điện, tài nguyên nước, tài nguyên khí hậu, vị trí địa lí kinh tế ) và cơ sở vật chất kĩ thuật đã tạo dựng (nhà cửa, công trình công cộng, đường xá, hải cảng, sân bay, hệ thống sản xuất và truyền tải điện,
hệ thống cung cấp và thoát nước, hệ thống xử lí chất thải, hệ thống viễn thông
Trang 15và truyền thông ).Nhóm nguồn lực con người bao gồm sức khỏe, trình độ nhận thức, trình độ chuyên môn…
Về sinh kế : Sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực ( gồm các nguồn
lực vật chất và xã hội ) cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người (DFID)
Một sinh kế có thể được miêu tả như là sự tập hợp các nguồn lực và khả năng mà con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động
mà họ thực thi nhằm kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ
Một sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản, nguồn tài nguyên, đất đai, đường xá ) và các hoạt động cần có để kiếm sống
Về sinh kế bền vững: Sinh kế bền vững đã nổi bật lên thành một khái
niệm phát triển vào đầu những năm 1990, dựa trên những tiến bộ trong sự hiểu biết về nạn đói và mất an ninh lương thực trong những năm 1980 Định nghĩa Chambers và Conway (1991) về sinh kế: "sinh kế bao gồm các khả năng, tài sản (bao gồm cả vật chất và nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết cho một phương tiện sinh hoạt; Sinh kế bền vững đạt được khi nó có thể ứng phó và phục hồi từ căng thẳng và những cú sốc" CARE, UNDP, Oxfam
và IISD là một trong những tổ chức sớm đưa ra các phương pháp sinh kế bền vững Cuối những năm 1990, sinh kế bền vững đã được Cơ quan phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đầu tư trong nghiên cứu, hội thảo và xuất bản và các giấy tờ khác Điều này bao gồm một nền tảng học tập dựa trên website, sinh kế Kết nối, từ đó đã phát triển thành một cơ sở tri thức trực tuyến nguồn và phổ biến thông tin mới nhất về việc sử dụng các phương pháp tiếp cận sinh kế bởi một loạt các tổ chức, cá nhân Sinh kế Kết nối cũng hoạt động như Ban thư ký của một mạng sinh kế quốc tế bao gồm hơn 200 tổ chức
và cá nhân có quan tâm đến việc sử dụng các phương pháp tiếp cận sinh kế để giảm nghèo và phát triển bền vững Thông qua một sự kết hợp của cả hai
Trang 16không gian ảo và vật lý mạng tập hợp các học viên, các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách: tham gia vào các thảo luận và tranh luận, truy cập vào hỗ trợ đồng đẳng và kiến thức ngầm, phát triển các hoạt động hợp tác, cùng nhau tạo ra kiến thức mới
Theo C Ashley, D Carney / Cục Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh, năm 1999: Cách tiếp cận đã được cho là hữu ích :hỗ trợ phân tích hệ thống của đói nghèo và nguyên nhân của nó, trong một cách toàn diện - do đó thực tế hơn nhưng cũng quản lý, thúc đẩy một cái nhìn rộng lớn hơn và tốt hơn thông báo của cơ hội cho các hoạt động phát triển và tác động khả năng của họ Các nguyên tắc cốt lõi cơ bản: Người làm trung tâm; đáp ứng và có sự tham gia của người nghèo, thực hiện đa cấp, quan hệ đối tác, bền vững, năng động
Có rất nhiều các tổ chức, các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm đến việc phát triển sinh kế bền vững và có những phương pháp để phát triển sinh
kế bền vững Với chiến lược toàn cầu của Tổ chức Vredeseilanden, mang lại thu nhập cho các nhóm nông hộ bằng việc nâng cao vai trò của họ trong toàn
bộ chuỗi nông nghiệp bền vững (SACD) tại quốc gia và khu vực Hoặc Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (Công ước Ramsar) được ký vào tháng 2-1971 tại Iran Hiện có 153 quốc gia, vùng lãnh thổ tham gia công ước
Vậy, Sinh kế trở nên bền vững khi nó giải quyết được những căng thẳng và đột biến, hoặc có khả năng phục hồi, duy trì và tăng cường khả năng
và nguồn lực hiện tại và tương lai mà không làm tổn hại đến cơ sở tài nguyên thiên nhiên (DFID)
Một sinh kế là bền vững khi con người có thể đối phó và phục hồi từ những áp lực và các cú sốc đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng
và tài sản cả ở hiện tại lẫn trong tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Trang 17Một sinh kế được xem là bền vững khi nó phải phát huy được tiềm năng con người để từ đó sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ
Nó phải có khả năng đương đầu và vượt qua áp lực cũng như các thay đổi bất ngờ Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai – trên thực tế thì
nó nên thúc đẩy sự hoà hợp giữa chúng và mang lại những điều tốt đẹp cho các thế hệ tương lai (Chambers and Conway 1992)
Đặc điểm của sinh kế bền vững:
- Được xây dựng dựa trên các nguồn lực của người dân chứ không phải dựa trên nhu cầu của họ
- Đưa mọi khía cạnh đời sống và sinh kế con người vào trong lập kế hoạch phát triển, thực hiện và đánh giá kế hoạch
- Liên kết các lĩnh vực khác nhau vào trong cùng một chủ đề chung
- Tính đến yếu tố các quyết định phát triển ảnh hưởng mỗi nhóm người riêng biệt như thế nào, đến nam giới so với nữ giới
- Nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hiểu biết các mối liên kết giữa các quyết định chính sách và các hoạt động cấp hộ gia đình
- Thu hút các đối tác có liên quan, có thể thuộc nhà nước, nhân dân hay tư nhân, địa phương hay toàn quốc, trong khu vực hay quốc tế
- Phản ứng nhanh chóng với các tình huống thay đổi
Nguyên tắc của sinh kế bền vững:
Sinh kế bền vững phải hội tụ đủ những nguyên tắc sau :Lấy con người làm trung tâm, dễ tiếp cận, có sự tham gia của người dân, xây dựng dựa trên sức mạnh con người và đối phó với các khả năng dễ bị tổn thương, tổng thể, thực hiện ở nhiều cấp, trong mối quan hệ với đối tác, bền vững và năng động, lấy “bền vững” làm trọng tâm, xem xét vấn đề một cách toàn diện, kết
Trang 18nối vĩ mô – vi mô, xem các yếu tố của khung sinh kế là yếu tố động, xây dựng các trên những thế mạnh của cộng đồng
2.1.1.2 Khung sinh kế bền vững
Khung chương trình sinh kế bền vững là một công cụ trực quan hoá được Bộ Phát triển Quốc tế Anh (Department for International Development - DIFID) xây dựng từ những năm 80 của thế kỷ XX nhằm tìm hiểu các loại hình sinh kế Mục đích của nó là giúp người sử dụng nắm được những khía cạnh khác nhau của các loại hình sinh kế, đặc biệt là những yếu tố làm nảy sinh vấn đề hay những yếu tố tạo cơ hội Một số tổ chức khác cũng đã phát triển những khung sinh kế tương tự và có sự bổ sung cho khung của DIFID
Khung sinh kế có thể chia làm năm hợp phần chính: bối cảnh tổn
thương; các nguồn lực sinh kế; những chính sách thể chế và tiến trình; các chiến lược sinh kế và các hệ quả sinh kế
Khung sinh kế đưa ra sự hình dung trực quan về cách thức những yếu tố này gắn kết với nhau như thế nào Trên thực tế, các mối liên kết giữa chúng (thể hiện bằng mũi tên trong khung chương trình) vẫn còn nhiều điều cần bàn đến, khi chúng được dùng để thể hiện cách thức người dân chuyển từ các tài sản sinh
kế thành hoạt động như thế nào hoặc thể hiện cách thức các chính sách, thể chế
và tiến trình ảnh hưởng đến các hợp phần chính của sinh kế ra sao
Khung sinh kế không đưa ra một mô hình phản ánh chính xác thực tế
Nó là sự rút gọn và cần được triển khai khi áp dụng trong từng hoàn cảnh cụ thể Phương pháp tiếp cận sinh kế không có mục đích đưa ra các giải pháp hoặc “kê đơn” cho nội dung các chương trình giảm nghèo
Tuy vậy, việc phân tích các loại hình sinh kế cho ta thấy đâu là hoạt động phát triển có hiệu quả nhất trong giảm nghèo Áp dụng phương pháp tiếp cận này có nghĩa là sử dụng một cách nhìn rộng, không bị bó buộc bởi bất kỳ một tư tưởng nào ở hiện tại về vấn đề cái gì là quan trọng đối với con người, với những gì con người thực hiện hoặc cố gắng để đạt
Trang 19Hình 2.1: Khung sinh kế bền vững
Hợp phần của khung phân tích sinh kế bền vững
Bối cảnh tổn thương
Bối cảnh dễ tổn thương đề cập tới phạm vi người dân bị ảnh hưởng và bị lâm
vào các loại sốc, xu hướng gồm cả các xu hướng kinh tế - xã hội, môi trường
và sự dao động Nó có tác động rất lớn và sâu sắc đến các nguồn lực sinh kế
và chiến lược sinh kế của con người
Một đặc điểm quan trọng trong khả năng tổn thương là con người không thể dễ dàng kiểm soát những yếu tố trước mắt hoặc dài lâu hơn nữa Khả năng tổn thương hay sự bấp bênh trong sinh kế tạo ra từ những yếu tố này là một thực tế thường trực cho rất nhiều hộ nghèo Điều này chủ yếu là do
họ không có khả năng tiếp cận với những nguồn lực có thể giúp họ bảo vệ mình khỏi những tác động xấu
Ở Việt Nam, bối cảnh tổn thương tác động rất mạnh đến chiến lược xoá đói giảm nghèo, do người nghèo là người dễ bị tổn thương nhất, sức chống đỡ đối với các cú sốc là rất yếu, cùng với khả năng tăng thu nhập rất hạn chế
Ảnh hưởng
& tiếp cận
Cấu trúc và quá trình biến đổi
Các cấp chính quyền Khu vực tư nhân Pháp luật, chính sách văn hoá thể chế quy trình thực hiên
CHIẾN LƯỢC SINH
Trang 20nên sinh kế của họ thường không bền vững, hiện tượng tái nghèo thường phổ biến (nhất là vùng xa, vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số)
Các nguồn lực sinh kế
Nguồn lực sinh kế được hiểu như là các điều kiện khách quan và chủ quan tác động vào một sự vật hiện tượng làm cho nó thay đổi về chất hoặc lượng Theo DFID’s Sustainable Livelihood Guidance Sheet có 5 loại cơ bản
• Nguồn lực con người
Nguồn lực con người thể hiện kĩ năng, kiến thức, năng lực để lao động, và cùng với sức khỏe tốt giúp con người theo đuổi những chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được mục tiêu sinh kế của mình Ở mức hộ gia đình thì nguồn lực con người là yếu tố về số lượng và chất lượng lao động sẵn có; yếu
tố này thay đổi tùy theo số lượng người trong hộ, kĩ năng lao động, khả năng lãnh đạo, tình trạng sức khỏe, v.v…Ví dụ về nguồn lực con người: trình độ học vấn, kiến thức chuyên môn, khả năng ngôn ngữ, kĩ năng quản lý tài chính, khả năng kinh doanh, v.v
Nguồn lực con người của hộ được thể hiện qua các chỉ số:
- Số lượng và cơ cấu nhân khẩu của một hộ gia đình gồm tỷ lệ giữa người trong độ tuổi lao động và người không thuộc diện lao động, giới tính
- Kiến thức và giáo dục của các thành viên trong gia đình bao gồm trình
độ học vấn, trình độ chuyên môn, kiến thức truyền thống…
- Sức khoẻ tâm lý và sinh lý của các thành viên trong gia đình, đời sống tâm linh và tình cảm của họ
- Khả năng lãnh đạo và các kỹ năng lao động
- Quỹ thời gian của mọi người và khả năng sử dụng thời gian 1 cách hiệu quả
- Hình thức phân công lao động cho cả người lớn và trẻ em
Nguồn lực con người của các gia đình và cộng đồng nghèo vùng núi có một số đặc điểm đáng được quan tâm:
Trang 21- Người lao động ít, người ăn theo nhiều (do xu hướng tăng dân số)
- Trình độ lao động thấp (do giáo dục và đào tạo nghề còn rất hạn chế)
- Sức khoẻ lao động chưa đạt yêu cầu (do điều kiện sống còn rất khó khăn, y tế chưa phát triển, chưa đáp ứng được nhu cầu phòng và chữa bệnh, tác động của tệ nạn xã hội )
- Các mạng lưới hỗ trợ từ bạn bè, họ hàng, láng giềng, hội đồng niên (được lập nên do có chung mối quan hệ hoặc cùng sở thích)
- Các cơ chế hợp tác trong sản xuất và trên thị trường (ví dụ các hợp tác
xã và các hiệp hội)
- Những luật lệ, quy ước của thôn, bản về các hành vi ứng xử, sự trao đổi và quan hệ qua lại trong cộng đồng
- Các sự kiện, lễ hội và niềm tin xuất phát từ truyền thống, tôn giáo
- Những cơ hội để tiếp cận thông tin như các cuộc họp thôn, câu lạc bộ khuyến nông, câu lạc bộ phụ nữ
- Những cơ hội tham gia và tạo ảnh hưởng đến các công việc của địa phương như tham gia vào các tổ chức đoàn thể và chính quyền xã
- Những cơ chế hoà giải mâu thuẫn của địa phương
Vốn xã hội có thể có hiệu quả trong tăng cường quản lý các nguồn lực chung (vốn tự nhiên) và bảo dưỡng các công trình hạ tầng (vốn vật chất)
Trang 22Vốn xã hội của các hộ gia đình nghèo, các cộng đồng nghèo thường rất thấp do nhận thức xã hội của họ còn ở mức thấp, thể hiện rõ rệt nhất là khả năng tiếp cận, khả năng nắm bắt các cơ hội hỗ trợ giảm nghèo rất hạn chế Những hiện tượng cho thấy khả năng huy động vốn xã hội còn thấp như bán lúa non, cúng bái khi bị bệnh hiểm nghèo, bị lép vế khi kiện tụng còn phổ biến
- Các loại đất đai do cộng đồng quản lý như đất rừng và rừng cộng đồng, đất thuộc các công trình cơ sở hạ tầng do cộng đồng quản lý
- Các loại đất của hộ gia đình bao gồm đất ở, đất trồng cây nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất vườn hộ
- Nguồn cung cấp thức ăn và nguyên liệu từ tự nhiên và nguồn do con người sản xuất ra
- Đa dạng sinh học, các nguồn gen thực vật và động vật từ việc nuôi, trồng của hộ và từ rừng trong tự nhiên
- Các khu vực chăn thả và các nguồn cây thức ăn gia súc cho chăn nuôi
- Các nguồn nước và việc cung cấp nước cho sinh hoạt hàng ngày, thuỷ lợi (nước cho sản xuất), nuôi trồng thuỷ sản
- Các nguồn dinh dưỡng trong đất trồng bao gồm cả các chất hữu cơ và chu kỳ dinh dưỡng
- Các yếu tố khí hậu và những yếu tố về thời tiết địa phương
- Giá trị cảnh quan cho việc quản lý các nguồn tài nguyên và giải trí Hiện tại, nhiều hộ gia đình nghèo là do thiếu nguồn vốn tự nhiên, đặc biệt là do thiếu đất canh tác (do nhiều nguyên nhân), một số hộ gia đình
Trang 23nghèo có đất nhưng chất lượng đất bị thoái hoá nghiêm trọng do phương thức quảng canh, đất bị rửa trôi các chất dinh dưỡng mạnh, do sự khắc nghiệt của
tự nhiên (hạn hán, lũ lụt ) dẫn tới năng suất cây trồng rất thấp và do đó thiếu
an ninh lương thực, thu nhập thấp sinh kế gặp khó khăn
• Nguồn lực tài chính
Vốn tài chính được định nghĩa là các nguồn tài chính mà con người dùng để đạt được mục tiêu của mình Những nguồn này bao gồm nguồn dự trữ tài chính và dòng tài chính
Dự trữ tài chính: tiết kiệm là một loại vốn tài chính được ưa chuộng do
nó không kèm theo trách nhiệm liên quan Tiết kiệm có thể dưới nhiều dạng: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng hoặc các tài sản khác như vật nuôi, đồ trang sức Các nguồn tài chính cũng có thể có được qua các đơn vị hoạt động tín dụng Nguồn lực tài chính của hộ được thể hiện dưới các chỉ số:
- Thu nhập tiền mặt thường xuyên từ nhiều nguồn khác nhau như bán sản phẩm, việc làm và tiền của thân nhân gửi về
- Khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính về tín dụng và tiết kiệm từ các nguồn chính thức (ví dụ ngân hàng) và các nguồn phí chính thức (ví dụ chủ
- Các hoạt động tạo thu nhập phụ như thu lượm lâm sản ngoài gỗ
- Những chi trả từ phúc lợi xã hội (như lương hưu, một số miễn trừ chi phí) và một số dạng trợ cấp của nhà nước
Nguồn lực tài chính là một loại nguồn lực sinh kế mà người nghèo thường có
ít nhất Trên thực tế, do thiếu nguồn lực tài chính nên đã làm cho các nguồn lực sinh kế khác trở nên rất có giá trị đối với người nghèo
Trang 24• Nguồn lực vật chất
Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội cơ bản cũng như các tài sản và công cụ sản xuất của hộ gia đình Vốn vật chất của hộ gia đình được thể hiện dưới các chỉ số
- Cơ sở hạ tầng và các dịch vụ công cộng gồm đường giao thông, cầu cống, công trình thuỷ lợi, các hệ thống cấp nước sinh hoạt và vệ sinh, các mạng lưới cung cấp năng lượng, trạm y tế, trường học, nơi làm việc của chính quyền xã và nơi tổ chức các cuộc họp của thôn bản
- Nhà ở, nơi trú ngụ và các dạng kiến trúc khác như chuồng trại, nhà vệ sinh
- Các tài sản trong gia đình như đồ nội thất, dụng cụ nấu nướng, đồ chơi trẻ em
- Các công cụ sản xuất như dụng cụ, trang thiết bị và máy móc chế biến nông sản
- Các hệ thống vận tải công cộng như xe chở khách và các phương tiện giao thông của gia đình như xe máy
- Cơ sở hạ tầng về truyền thông và thiết bị truyền thông của gia đình như đài, ti vi…
Một số nghiên cứu đã cho thấy việc thiếu hạ tầng cơ bản, nơi trú ngụ không đảm bảo và thiếu hàng hoá tiêu dùng là những vấn đề cốt lõi của nghèo đói Nếu không có sự trợ giúp của công cụ và thiết bị, sẽ không khai thác hết được tiềm năng sản xuất của con người
Chính sách, thể chế và những tác động của chúng lên sinh kế
Các chính sách và thể chế bao gồm một loạt những yếu tố liên quan đến bối cảnh có những tác động mạnh lên mọi khía cạnh của sinh kế Rất nhiều trong số những yếu tố này có liên quan đến chính sách và các dịch vụ do nhà nước thực hiện Tuy nhiên những vấn đề đó cũng bao gồm cả các cơ quan cấp địa phương, các tổ chức dựa vào cộng đồng và những hoạt động của khu vực
tư nhân
Trang 25Các chính sách và thể chế là phần quan trọng trong khung sinh kế bởi chúng định ra:
- Khả năng người dân tiếp cận các nguồn vốn sinh kế, những chiến lược sinh kế, với những cơ quan ra quyết định và các nguồn lực ảnh hưởng
- Những quy định cho việc trao đổi giữa các loại thị trường vốn sinh kế
- Lợi ích của người dân khi thực hiện hoặc đầu tư một số hoạt động sinh kế nhất định
Ngoài ra, đây còn là những yếu tố tác động lên cả các mối quan hệ cá nhân (các nhóm khác nhau đối xử với nhau như thế nào) lẫn khả năng liệu người dân có thể nằm trong sự bao gồm và đạt được những điều kiện sống tốt
Việc kiểm tra các khía cạnh thể chế trong khung sinh kế đưa đến việc xem xét những cách thức những thay đổi diễn ra trong khung quy định và chính sách hay trong cung cấp các dịch vụ, sẽ tác động đến các chiến lược sinh kế của con người
Chiến lược sinh kế và hoạt động sinh kế
• Chiến lược sinh kế: là những quyết định trong việc lựa chọn, kết hợp,
sử dụng và quản lý các nguồn lực sinh kế của hộ gia đình hoặc cá nhân để kiếm sống cũng như đạt được ước vọng của họ Ví dụ: quyết định đầu tư vào loại vốn sinh kế, quyết định qui mô của các hoạt động tạo thu nhập, cách thức
sử dụng tài sản và đối phó với rủi ro để đạt kết quả sinh kế tốt
Để duy trì hộ, hộ gia đình thường có các chiến lược sinh kế khác nhau, theo (Seppaỉa, 1996) chiến lược sinh kế có thể chia làm 3 loại:
- Chiến lược tích lũy: là chiến lược dài hạn nhằm hướng tới tăng trưởng
và có thể là kết hợp của nhiều hoạt động hướng tới tích luỹ và giàu có
- Chiến lược tái sản xuất: là chiến lược trung hạn gồm nhiều hoạt động
tạo thu nhập, những ưu tiên có thể nhắm tới hoạt động của cộng đồng và an sinh xã hội
Trang 26- Chiến lược tồn tại: là chiến lược ngắn hạn, gồm cả các hoạt động tạo
thu nhập chỉ để tồn tại mà không tích luỹ
Lưu ý: Các chiến lược sinh kế có thể thay đổi theo thời gian Đối với
dự án FLITCH, các hỗ trợ cũng được chia thành hai nhóm đó là cho các mục đích trước mắt và cho các mục đích cải thiện sinh kế lâu dài
Thuật ngữ “chiến lược sinh kế” được dùng để chỉ phạm vi và sự kết hợp những lựa chọn và quyết định mà người dân đưa ra trong việc sử dụng, quản lý các nguồn vốn và tài sản sinh kế nhằm tăng thu nhập và nâng cao đời sống (kết quả sinh kế)
Chiến lược sinh kế bao gồm những lựa chọn và quyết định của người dân về những việc như:
- Họ đầu tư vào nguồn vốn và sự kết hợp tài sản sinh kế nào
- Quy mô của các hoạt động tạo thu nhập mà họ theo đuổi
- Cách thức họ quản lý như thế nào để bảo tồn các tài sản sinh kế và thu nhập
- Cách thức họ thu nhận và phát triển như thế nào những kiến thức, kỹ năng cần thiết để kiếm sống
- Họ đối phó như thế nào với những rủi ro, những cú sốc và những cuộc khủng hoảng ở nhiều dạng khác nhau
- Họ sử dụng thời gian và công sức lao động mà họ có như thế nào để làm được những điều trên
Hoạt động sinh kế: Là tất cả các hoạt động kiếm ra tiền mặt hoặc các
sản phẩm tự tiêu dùng phục vụ mục tiêu kiếm sống của cộng đồng, hộ gia đình hoặc cá nhân
Các loại hoạt động sinh kế: Phân theo việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên: Hoạt động dựa vào tài nguyên và loại hoạt động không dựa vào tài nguyên thiên nhiên Phân theo lĩnh vực hoạt động: Hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp
Trang 27Kết quả sinh kế
Mục đích của việc sử dụng khung sinh kế là để tìm hiểu những cách thức mà con người kết hợp và sử dụng các nguồn lực, khả năng nhằm kiếm sống cũng như đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ Những mục tiêu và ước nguyện này có thể gọi là kết quả sinh kế - đó là những thứ mà con người muốn đạt được trong cuộc sống cả trước mắt lẫn lâu dài
• Kết quả sinh kế có thể là :
- Hưng thịnh hơn: Thu nhập cao và ổn định hơn, cơ hội việc làm tốt hơn; kết quả của những công việc mà người dân đang thực hiện tăng lên và nhìn chung lượng tiền của hộ gia đình thu được gia tăng
- Đời sống được nâng cao: Ngoài tiền và những thứ mua được bằng tiền, người ta còn đánh giá đời sống bằng giá trị của những hàng hoá phi vật chất khác Sự đánh giá về đời sống của người dân chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố, ví dụ như căn cứ vào vấn đề giáo dục và y tế cho các thành viên gia đình được đảm bảo, các điều kiện sống tốt, sự an toàn
- Khả năng tổn thương được giảm: Người nghèo luôn phải sống trong trạng thái dễ bị tổn thương Do vậy, sự ưu tiên của họ có thể là tập trung cho việc bảo vệ gia đình khỏi những đe doạ tiềm ẩn, thay vì phát triển tối đa những cơ hội của mình Việc giảm khả năng tổn thương có trong ổn định giá cả thị trường, an toàn sau các thảm hoạ, khả năng kiểm soát dịch bệnh gia súc
- An ninh lương thực được củng cố: An ninh lương thực là một vấn đề cốt lõi trong sự tổn thương và đói nghèo Việc tăng cường an ninh lương thực có thể được thực hiện thông qua đảm bảo khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên đất, nâng cao và ổn định thu hoạch mùa màng, đa dạng hoá các loại cây lương thực
- Sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên : Sự bền vững môi trường là một mối quan tâm lớn mang ý nghĩa quan trọng và hỗ trợ cho các kết quả sinh kế khác
Trang 282.1.2 Vai trò của việc phát triển sinh kế bền vững và vấn đề DTTS
2.1.2.1 Vai trò
Phát triển sinh kế bền vững đóng một vai trò quan trọng trong mục tiêu giảm nghèo bền vững và phát triển bền vững Bao gồm các vai trò sau:
Cải thiện mức sống và giảm nghèo, tăng cường an ninh lương thực
Thứ nhất, thực tế cho thấy tăng trưởng kinh tế là cần thiết cho việc giảm nghèo nhưng không có một liên hệ trực tiếp giữa hai tác nhân này từ khi
nó hoàn toàn phụ thuộc và khả năng của người nghèo tự tìm kiếm các cơ hội
để phát triển kinh tế Vì vậy, điều quan trọng là tìm ra chính xác cái gì đã ngăn cản hoặc thách thức người nghèo cải thiện sinh kế của họ trong điều kiện cụ thể để thiết kế các họat động hỗ trợ cho dự án
Thứ hai, về nhận biết đói nghèo - như chính cảm nhận của những người nghèo - không chỉ là vấn đề thu nhập thấp mà còn bao gồm cả các yếu
tố như chăm sóc y tế kém, giáo dục kém, thiếu các dịch vụ xã hội, v.v…, như
là tình trạng dễ bị tổn thương và cảm giác của sự bất lực Hơn nữa, đói nghèo hiện nay được xem là có sự liên kết giữa các yếu tố gây ra nghèo đói và cải thiện một yếu tố có thể có tác động tích cực đối với yếu tố khác Cải thiện giáo dục có thể mang lại tác động tích cực cho việc chăm sóc y tế, mà nó có thể tăng khả năng sản xuất Giảm tình trạng dễ bị tổn thương cho người nghèo bằng cách nêu rõ các rủi ro cho họ có thể gia tăng xu hướng để rơi vào các hoạt động rủi ro chưa được kiểm chứng trước đó nhưng mà có hiệu quả kinh tế hơn, và cứ tiếp tục như thế v.v….Ngày nay chúng ta nhận ra rằng chính người nghèo thường hiểu về họ và nhu cầu của họ tốt nhất và vì vậy phải lôi kéo họ tham gia trong việc thiết kế các chính sách và dự án để cải thiện số phận của họ Khi thiết kế, chúng thường được cam kết nhiều hơn để thực hiện Vì vậy, sự tham gia của người nghèo sẽ cải thiện kết quả của các
dự án
Trang 29Giảm thiểu tình trạng dễ bị tổn thương
Tình trạnh dễ bị tổn thương được tạo ra do các biến động (shock) về các yếu tố tự nhiện kinh tế xã hội, môi trường chính trị, hoặc các xu hướng biến đổi của dân số, tài nguyên, quốc tế và trong nước, khoa học kỹ thuật hoặc các yếu tố biến đổi mang tính mùa vụ như: sản xuất, giá cả, sức khỏe, cơ hội việc làm
Thiệt hại do những rủi ro gây nên đối với các hộ gia đình sẽ ảnh hưởng đến sinh kế của người dân như mất tư liệu sản xuất, giảm thu nhập, chi phí phát sinh… một số hộ gia đình khó khăn sẽ phải đi vay, đi làm thuê hay bán các tài sản mình có để khắc phục dẫn đến nghèo đói và bần cùng hoá Vượt qua rủi ro là một vấn đề nan giải của người nghèo, đây là những người dễ bị tổn thương do các tác động từ các rủi ro bất ngờ
Bền vững về xã hội
Những hỗ trợ về mặt kinh tế mang lại các tác động gián tiếp cho xã hội Nếu tác động vào một mặt có thể mang lại kết quả tích cực vào mặt khác Việc nâng cao giáo dục và đời sống sẽ có tác động giảm các tệ nạn xã hội Đồng thời tạo ra các dịch vụ tốt về an sinh xã hội như giáo dục, y tế
Bền vững về sử dụng tài nguyên thiên nhiên
Chia sẻ quyền hạn, trách nhiệm và lợi ích (đồng quản lý) trong việc bảo vệ và sử dụng một cách hợp lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường ở địa phương là một trong những phương thức đang được nghiên cứu ứng dụng Sinh kế của người dân là bền vững khi họ có thể duy trì và nâng cao được nguồn lực, có thể đối phó và vượt qua các cơn sốc nội tại cũng như từ ngoài, mà không làm tổn thương hoặc phung phí tài nguyên thiên nhiên mà con người phụ thuộc Trong bối cảnh này, “sự bền vững” không phải là một trạng thái cân bằng bất động, mà ở trong một điều kiện có sự chấp nhận rủi ro
và có khả năng phục hồi “Tiếp cận sinh kế bền vững” là ứng dụng sự hiểu biết rộng hơn về sinh kế để hướng các nghiên cứu liên quan đến nghèo đói
Trang 30quan tâm đến một sự thật rằng nhiều người dân ở vùng nông thôn có cuộc sống hoàn toàn phụ thuộc vào các tài nguyên và môi trường cũng như các hoạt động đi kèm với nó; cải thiện quá trình kế hoạch và thực thi chương trình đồng quản lý bằng cách cung cấp một cách đầy đủ hơn các mặt mạnh, điểm yếu, cơ hội, và thách thức gắn liền với phát triển tài nguyên và môi trường; thẩm định lại các chiến lược quản lý và phát triển tài nguyên thiên nhiên và môi trường và đưa ra các tư vấn cho những chính sách tương lai bằng cách đưa ra một cách nhìn thực tế các sinh kế cho người dân nông thôn
Trao quyền và tăng cường thể chế
Ở Việt Nam, trao quyền được thực hiện thông qua Nghị định 79/2003/ND-CP Ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã (cấp cơ sở) Nghị định này quy định về quyền hạn, trách nhiệm của trưởng thôn, đồng thời quy định về định kỳ và nội dung của các cuộc họp thôn Qua đó, họp thôn được tổ chức định kỳ 6 tháng một lần và thảo luận các vấn đề “Thảo luận và quyết định các công việc của nội bộ cộng đồng dân cư về sản xuất, xây dựng cơ sở
hạ tầng, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, đoàn kết tương trợ giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống, những vấn đề về văn hóa, xã hội, vệ sinh môi trường, an ninh, trật tự an toàn xã hội phù hợp pháp luật”
Tiếp cận thông tin
Thông tin là một lọai tài sản vô hình Đa dạng về các nguồn thông tin
sẽ tạo ra nhiều cơ hội hơn cho người dân cải thiện sinh kế Người dân địa phương được tiếp cận các thông tin sản xuất từ các nguồn như tivi, sách báo,
và các bộ địa phương Nguồn cung cấp thông tin cho thấy vai trò của các tổ chức trong vốn xã hội Các thông tin được truyền tải từ ngoài cộng đồng vào cộng đồng, từ các cá nhân trong công đồng với nhau, sẽ giúp tăng nguồn lực
xã hội của người dân Các kênh thông tin chính hiện nay được chia làm 2 kênh là chính thống và không chính thống
Trang 31Tăng cường thể chế, năng lực của chính quyền địa phương
Các tổ chức chính quyền địa phương thuộc địa bàn nghiên cứu này là chính quyền huyện, xã, thôn, các hiệp hội như hội nông dân, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, đoàn thanh niên
Tăng cường sự tham gia và quyền phụ nữ
Nghiên cứu của WB (2002) về trao quyền khẳng định rằng “trao quyền cũng có nghĩa là gia tăng sự tham gia, gia tăng phương pháp tiếp cận từ dưới lên để đạt được các mục tiêu phát triển Hiện nay đã có sự thống nhất về phương pháp tiếp cận, trao cho người nghèo nhiều quyền tự do hơn trong các quyết định kinh tế, gia tăng hiệu quả của phát triển từ cấp địa phương từ thiết
kế, thực hiện đến kết quả
Tăng cường sự tham gia của người dân hay nâng cao dân chủ cơ sở, tạo
ra cơ hội cho mọi người dân có quyền tham gia và quyết định trong tất các các họat động của dự án Sự tham gia của người dân ngày càng được cộng đồng và chính quyền địa phương đánh giá cao trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển cộng đồng, xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển xã, thôn gắn với nhu cầu, đề xuất của người dân, khả năng vay vốn dựa trên đánh giá của người dân trong thôn, bản; sự tham gia nhiệt tình của người dân vào các tổ chức, các chương trình xã hội tạo ra động lực nâng cao năng lực
Trao quyền cho phụ nữ đi đôi với sự minh bạch của chính quyền và quản lý nhà nước tốt hơn Đặc biệt là phụ nữ tham gia ngày càng sâu vào công việc công cộng thì mức độ tham nhũng càng ít, kể cả đối với những nước có cùng thu nhập, tự do xã hội, giáo dục và thể chế (Ngân hàng Thế giới, 2002) Phụ nữ bị hạn chế hơn nam giới trong việc tiếp cận nguồn lực con người (nâng cao trình độ học vấn) và nguồn lực tài chính (do thiếu hiểu biết, tỷ lệ phụ nữ được vay vốn hạn chế hơn), nguồn lực tự nhiên (phụ nữ ít được đứng tên chủ hộ, chủ đất, chủ rừng…) Đa số các quyết định liên quan đến các hoạt động kinh tế đều do nam giới làm chủ Trong khi đó phụ nữ phải
Trang 32làm những công việc vất vả hơn trong gia đình như: làm nương rẫy, chăm sóc con cái, chuẩn bị bữa ăn hàng ngày cho gia đình Điều này cho thấy sự bất bình đẳng về quyền của phụ nữa là một rào cản để hộ tiếp cận với các nguồn lực từ bên ngoài
Tuy nhiên, tiếng nói của người nghèo vẫn chưa được đặc biệt quan tâm Trong một số trường hợp thì người nghèo chỉ là thiểu số trong cộng đồng Vì vậy tiếng nói của họ chưa đại diện cho cộng đồng và không được cộng đồng chấp nhận
2.1.2.2 Phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc miền núi
Khái niệm dân tộc : Cộng đồng người hình thành trong lịch sử có
chung một lãnh thổ, các quan hệ kinh tế, một ngôn ngữ văn học và một số đặc trưng văn hoá và tính cách.Tên gọi chung những cộng đồng người cùng chung một ngôn ngữ, lãnh thổ, đời sống kinh tế và văn hoá, hình thành trong lịch sử từ sau bộ lạc
Dân tộc thiểu số là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến
trên thế giới hiện nay.Các học giả phương Tây quan niệm rằng, đây là một thuật ngữ chuyên ngành dân tộc học,dùng để chỉ những dân tộc có dân số
ít Trong một số trường hợp, người ta đánh đồng ý nghĩa “dân tộc thiểu số” với “dân tộc lạc hậu”, “dân tộc chậm tiến”, “dân tộc kém phát triển”, “dân tộc chậm phát triển”… Có nhiều nguyên nhân, trong đó có sự chi phối bởi quan điểm chính trị của giai cấp thống trị trong mỗi quốc gia
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, khái niệm “dân tộc thiểu số” không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc Địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc không phụ thuộc ở số dân nhiều hay ít, mà nó được chi phối bởi những điều kiện kinh tế - chính trị- xã hội và lịch sử của mỗi dân tộc
Trang 332.1.2.3 Đặc điểm của đồng bào dân tộc thiểu số
Truyền thống yêu lao động, cần cù, chịu khó, tính cộng đồng cao, ý thức đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau Tinh thần lạc quan, lòng trung thành,
sự dũng cảm và truyền thống lão quyền (đề cao vai trò của già làng), là rất quan trọng trong thúc đẩy các hoạt động cộng đồng Tính sở hữu cộng đồng,
ví dụ: cách thức quản lý đất đai theo thôn làng và cách bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng ma, rừng thiêng, là những kinh nghiệm quý giúp quản lý tốt đất đai và bảo vệ tài nguyên môi trườngTuy nhiên những phong tục tập quán không còn phù hợp với xu thế hiện nay như: Lối canh tác chỉ dựa vào tự nhiên (trồng trọt không bón phân, tưới nước, chăn nuôi không cần chuồng trại, ); Tính bảo thủ, bình quân, tự cung tự cấp, khép kín; Tính thụ động và thực dụng chỉ quen sống dựa vào tự nhiên để khai thác mà không có ý thức hoặc không biết quản lý và tái tạo tài nguyên
Trình độ học vấn thấp, tỷ lệ mù chữ và tái mù cao, thiếu kiến thức về các kỹ thuật mới, chỉ quen làm ăn theo kinh nghiệm là chính, gặp khó khăn khi tiếp nhận các hoạt động SK mới
Quá coi trọng người già và vai trò của đàn ông sẽ làm giảm khả năng sáng tạo của giới trẻ, không lôi cuốn được lớp trẻ, phụ nữ tham gia vào các hoạt động
Tập quán thích đông con sẽ tạo nên những áp lực về mặt dân số và xã hội Tập quán sản xuất tự cung, tự cấp, không xem lao động là hàng hóa sẽ gây khó khăn cho việc phát triển hoạt động thị trường sản phẩm để tăng giá trị lợi nhuận của sản xuất
2.1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến sinh kế
2.1.3.1 Các yếu tố tác động bên ngoài
* Văn hóa xã hội : Mỗi quốc gia trên thế giới đều có một nền văn hóa riêng biệt và văn hóa mỗi nước ảnh hưởng đến tư duy và hành động của con
Trang 34người trong đời sống kinh tế xã hội của nước đó Các truyền thống, tập quán, thói quen, lễ nghi, các quy phạm tư tưởng và đạo đức tạo nên lối sống văn hoá và môi trường hoạt động xă hội của con người nói chung và từng người dân tộc thiểu số nó riêng
Văn hóa của các tộc người thiểu số ở nước ta là sự kế thừa những giá trị truyền thống của các tộc người trong quá trình cộng cư, giao lưu và tiếp biến văn hóa trên lãnh thổ nước ta qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước Những giá trị văn hóa truyền thống đó đã góp phần làm phong phú những giá trị văn hóa Việt Nam, tạo nên sức mạnh để cho dân tộc Việt Nam vượt qua những thử thách lớn lao trong đấu tranh chống kẻ thù xâm lược cũng như trong xây dựng hòa bình Trải qua thời gian, những giá trị của văn hóa cũng có những thay đổi.Có những giá trị ở giai đoạn lịch sử trước được đề cao, thì ở giai đoạn sau có thể không còn phù hợp nữa, trở thành lực cản của phát triển.Ở các tộc người thiểu số Việt Nam cũng có một tình hình tương tự Để có thể phát triển đòi hỏi phải hội nhập.Mà muốn hội nhập phải nâng cao nhân lực có đào tạo của chính tộc người đó.Tuy nhiên, những di sản và hạn chế của lịch sử phát triển của một tộc người cần phải được nhận thức một cách khoa học
* Khoa học kĩ thuật: Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật là yếu tố khách
quan ảnh hưởng mạnh mê đến sinh kế , cho phép các người dân lựa chọn việc kết hợp nguồn lực như thế nào, và ảnh hưởng tới quy mô và số lượng của việc thực hiện các kế hoạch để phát triển kinh tế Một xã hội cập nhật được sự tiến
bộ của khoa học kĩ thuật sẽ làm cho nền kinh tế của xã hội đó có sự tiến bộ vượt bậc.Chúng ta đang sống trong thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa với
sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật Việc người dân áp dụng khoa học như thế nào còn là một vấn đề nhức nhối trong thời gian qua.Đặc biệt là người dân ở vũng dân tộc thiểu số, sự hiểu biết về khoa học kĩ thuật còn hạn chế
Trang 35* Pháp luật: Môi trường pháp lý bao gồm các văn bản pháp luật có liên quan đến vấn đề kinh tế, phát triển sinh kế bền vững, đây là khung pháp lý cho các cá nhân, tập thể doanh nghiệp dù phát triển theo cách nào, chiều hướng nào cũng phải tuân thủ theo pháp luật Và đó cũng là tiền đề cho các cá nhân tập thể , doanh nghiệp xây dựng các tiêu chuẩn pháp lý khi hình thành, củng cố và phát triển sinh kế
2.1.3.2 Các yếu tố bên trong
* Điều kiện kinh tế : Bao gồm các yếu tố như tốc độ tăng trưởng và sự ổn định của nền kinh tế, sứ, sự ổn định của giá cả, tiền tệ, lạm phát, tỷ giá hố đoái tất cả các yếu tố này đều ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanhcủa người dân.Những biến động của các yếu tố kinh tế có thể tạo ra cơ hội và cả những thách thức.Để đảm bảo thành công của hoạt động trước biến động về kinh
tế, người dân phải theo dõi, phân tích, dự báo biến động của từng yếu tố để đưa
ra các giải pháp, các chính sách tương ứng trong từng thời điểm cụ thể nhằm tận dụng, khai thác những cơ hội, né tránh, giảm thiểu nguy cơ và đe dọa…Chu kỳ kinh tế và chu kỳ sản suất ảnh hưởng rất lớn đến người dân Trong giai đoạn kinh tế phát triển người dân có nhu cầu mở rộng sản xuất do vậy cần phát triển lao động mới, tăng cường công tác đào tạo, huấn luyện và bồi dưỡng hơn nữa việc mở rộng sản xuất này đòi hỏi nguời dân phảilà người có năng lực, có trình
độ và nhận thức nhất định để có thể vận dụng những kiến thức sẵn có để mở rộng và phát triển sản xuất
* Dân số và lực lượng lao động xã hội: Lao động xă hội bao gồm
những người có khả năng lao động, đang có hoặc chưa có việc làm Cơ cấu lao động được thể hiện qua tuổi tác, giới tính, trình độ dân trí, sự hiểu biết của các tầng lớp dân cư, trình độ học vấn và chuyên môn tay nghề cũng như các nguồn lao động bổ sung số lượng và cơ cấu lao động xă hội ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng, chất lượng lao động
Trang 36* Cơ cấu tổ chức: Cơ cấu tổ chức là cách sắp xếp bộ máy phòng ban,
các mối quan hệ, các luồng thông tin giữa các công việc, các cấp Nó xác định các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa những con người đảm nhận các công việc Nó là yếu tố quan trọng quyết định đến kết quả sinh kế của tỉnh đó, huyện đó
Cơ cấu tổ chức của một huyện quyết định cách thức quản trị nhân lực tại huyện đó Dù có thiết kế được một cơ cấu tổ chức tối ưu nhưng nếu không có con người phù hợp, không trao quyền hạn cho họ thì đơn vị đó sẽ không thể đạt được những mục tiêu mà đơn vị đó đã đề ra Khi một cơ cấu tổ chức thay đổi, tăng hoặc giảm cấp bậc, mở rộng hoặc thu hẹp chức năng, tăng quyền hạn hoặc thu hẹp bớt quyền hạn, thì sự phát triển sinh kế cũng bị ảnh hưởng
* Trình độ học vấn: Trình độ học vấn ảnh hưởng đến mức sống của
người dân Người dân ý thức rõ được vai trò quan trọng của trình độ học vấn đối với cuộc sống của họ Trình độ học vấn càng cao thì thu nhập càng cao Trình độ học vấn cũng ảnh hưởng đến cơ cấu chi tiêu trong các hộ gia đình.Trình độ học vấn càng thấp, càng chi tiêu nhiều cho đầu tư sản xuất Có học vấn thì người dân
sẽ biết cách khai thác nguồn lực của gia đình mình, của xã hội một cách tốt nhất, biết cập nhật sự tiến bộ khoa học vào sản xuất giúp giảm đi sức lao động về người, tăng năng suất lao động, tạo thêm nhiều thu nhâp, cải thiện được đời sống của người dân
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm phát triển sinh kế bền vững các nước trên thế giới
Có rất nhiều các tổ chức, các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm đến việc phát triển sinh kế bền vững và có những phương pháp để phát triển sinh kế bền vững Với chiến lược toàn cầu của Tổ chức Vredeseilanden, mang lại thu nhập cho các nhóm nông hộ bằng việc nâng cao vai trò của họ trong toàn bộ chuỗi nông nghiệp bền vững (SACD) tại quốc gia và khu vực Hoặc
Trang 37Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (Công ước Ramsar) được ký vào tháng 2-1971 tại Iran Hiện có 153 quốc gia, vùng lãnh thổ tham gia công ước
Ấn Độ -Thuỵ Sỹ
Mô hình phân tích sinh kế của dự án hợp tác nghiên cứu Ấn Độ - Thụy Sỹ trên các hệ thống sinh kế nông thôn ở Ấn Độ bán khô hạn, Baumgartner & Högger (2004): thấy được các nguồn lực ảnh hưởng đến sinh kế của một gia đình, các nguồn lực thuộc bản thân con người và các nguồn lực bên ngoài Phân tích sự tác động của các nguồn lực từ đó hình thành nên chiến lược sinh kế:
Hình 2.2: Mô hình sinh kế bền vững tại vùng nông thôn Ấn Độ
“Khung Sinh kế Bền vững vùng Ven biển” của IMM Vòng tròn bao quanh cộng đồng ven biển thể hiện các nguồn lực (con người, tự nhiên, xã hội, tài chính, vật chất) mà họ có thể sử dụng Một số các yếu tố ảnh hưởng có thể liên quan đến đặc điểm cá nhân: tuổi tác, giới tính, tôn giáo Các yếu tố khác có thể liên quan tới khía cạnh của xã hội mà họ đang sống, cơ cấu chính trị, chính quyền, khu vực kinh tế tư nhân mà họ có tương tác trực tiếp, do đó có thể kiểm soát
Trang 38Hình 2.3: Mô hình sinh kế bền vững vùng ven biển (IMM,2004)
Dự án Corali của IMM đang xây dựng quy trình thực hiện SLED như
đã nêu ở trên Dự án đúc rút những bài học kinh nghiệm về phát triển sinh kế bền vững vùng ven biển trong khu vực: Trước khi tiến hành các công việc phục vụ phát triển và đổi mới sinh kế, cần tìm hiểu các chiến lược sinh kế hiện tại Cần kết nối công tác phát triển sinh kế với các biện pháp quản lý môi trường, kể cả việc thực thi luật pháp Điều quan trọng là phải có sự cam kết làm việc lâu dài với cộng đồng - nếu quá trình thực hiện đòi hỏi cần nhiều thời gian mới đạt được kết quả bền vững Để thực hiện cam kết về lâu dài đó - cần phát triển những mối liên lạc và quan hệ đối tác với các cơ quan, đơn vị,
tổ chức đã tồn tại lâu dài trong cộng đồng
Trang 39* Những thành tựu đã đạt được:
- Có sự tham gia của cộng đồng: người dân địa phương hiểu rõ nhất những mục tiêu, nguồn lực, điều kiện, năng lực và khó khăn của chính họ cho phép đánh giá tốt hơn những ưu điểm, nhược điểm, cơ hội và nguy cơ
- Có được các giải pháp tác động hữu hiệu hơn cho việc hỗ trợ sinh kế
- Giúp thiết kế được các chương trình hành động đáp ứng trực tiếp nhu cầu hỗ trợ sinh kế địa phương
* Những hạn chế: Tuy nhiên các bài học còn đòi hỏi kỹ năng và tri thức
mới, phải có một mô hình kinh doanh mới chưa hề được chứng minh về hiệu quả với cộng đồng và không quen thuộc, phải có sự tham gia tích cực của
cộng đồng địa phương, cần lượng vốn đầu tư lớn Những người nghèo thường
ngần ngại trước nguy cơ gặp rủi ro, và do đó không mấy quan tâm tới các hoạt động sinh kế bổ trợ Đòi hỏi hình thức sử dụng mới hoặc khác biệt đối
với nguồn lực sinh kế của hộ gia đình và cộng đồng
Indonesia: Chương trình Phát triển Kecamatan (KDP)
Được triển khai thí điểm từ năm 1998 ở 28 thôn làng của Indonesia KDP là một trong những chương trình phát triển dựa vào cộng đồng lớn nhất thế giới, trao quyền ra quyết định phát triển cho cấp cơ sở, tới hàng vạn dân nghèo trên toàn đất nước Indonesia Chương trình này cho phép các cộng đồng nông thôn
tự quyết định cách thức cải thiện sinh kế của họ, xây dựng cơ sở hạ tầng thích hợp, cung cấp dịch vụ y tế và giáo dục, và củng cố các thể chế có hiệu quả
trong cộng đồng cũng như chính quyền
- Những đặc điểm về cấu trúc chương trình KDP: Cam kết đa ngành và
hướng tiếp cận dưới hình thức “thực đơn mở” sẽ giúp người dân có cơ sở để
tự mình chọn lựa ra các dự án hoặc hoạt động mà họ coi là quan trọng nhất Lồng ghép chương trình tín dụng cho các hoạt động kinh tế, làm tăng sự lựa chọn ở cấp thôn ấp, và có thể cung cấp một hình thức quản lý rủi ro được “xã
Trang 40hội hóa” Việc thiết kế kỹ lưỡng và nhanh chóng như chuẩn bị một chiến dịch quy mô ngay từ đầu, sẽ làm tăng độ tin cậy với người dân địa phương về những lợi ích mà chương trình sẽ đem lại cho họ Người dân cần được khuyến khích để tự nêu lên ý kiến của mình Chuyển giao trách nhiệm thực hiện đến một cơ quan có năng lực hạn chế hơn, nhưng có cơ cấu triển khai ở cấp vùng hoặc cấp cơ sở, cho phép Ngân hàng xây dựng khung chương trình dễ dàng Ngân hàng sẵn sàng cam kết hỗ trợ về nhân lực ở mức cao, với các nhân viên
hoạt động ngay trong nước, để giám sát việc thiết kế và thực thi chương trình
* Những thành tựu đã đạt được của chương trình:
- Tạo dựng một môi trường kinh tế thuận lợi - cải thiện các nguồn lực sinh
kế, cải thiện điều kiện sống, và mở ra những giải pháp sinh kế tích cực hơn
- Tăng cường các hoạt động tạo thu nhập và sinh kế hiện tại: Giảm thiểu rủi ro; gia tăng giá trị; giới thiệu công nghệ tiên tiến để thu lợi nhuận cao hơn và bền vững hơn; quản lý nguồn lợi tốt hơn
- Phát triển các hoạt động tạo thu nhập thay thế hoặc bổ trợ: Ngoài việc làm tăng các nguồn lực sinh kế nói chung để tạo ra những giải pháp lựa chọn sinh kế tốt hơn, các chương trình hành động có thể tập trung vào việc xác định và trợ giúp cho các hoạt động tạo nguồn thu nhập thay thế hoặc bổ sung cho các hoạt động hiện thời