MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU - Xây dựng khung phân tích về tình trạng nghèo và bất bình đẳng đối với cộng đồng ngư dân tại vùng ben biển tỉnh Ninh Thuận - Phân tích đặc điểm nghèo và bất bình đẳn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân với sự giúp
đỡ của giáo viên hướng dẫn Các thông tin, số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và khách quan do chính tác giả thu thập và phân tích, chưa được sử dụng
để bảo vệ một báo cáo hay một công trình nghiên cứu khoa học nào khác
Ninh Thuận, tháng … năm 2014
Học viên cao học
Phan Vĩnh An
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng cám ơn quý thầy, cô giáo Trường Đại học Nha Trang, nhất là các cán bộ, giảng viên Khoa Kinh tế, Khoa Sau Đại Học đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành luận văn này Đặc biệt tác giả xin trân trọng cảm ơn giáo viên hướng dẫn - TS Phạm Hồng Mạnh đã hết lòng ủng hộ và hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn này
Tác giả xin trân trọng cám ơn UBND tỉnh Ninh Thuận, Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Ninh Thuận, Sở Nông Nghiệp Phát triển Nông thôn tỉnh Ninh Thuận, Cục Thống Kê tỉnh Ninh Thuận, lãnh đạo Trường Cao đẳng Nghề Ninh Thuận và Quý hộ ngư dân sống ven biển tỉnh Ninh Thuận đã quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện rất thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình thu thập thông tin, tài liệu phục vụ trong công tác nghiên cứu
Cuối cùng tác giả xin cám ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, chia sẻ những khó khăn và động viên tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cám ơn !
Trang 5
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH VẼ - SƠ ĐỒ ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÂN TÍCH NGHÈO VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG 6
1.1 CÁC QUAN ĐIỂM VÀ KHÁI NIỆM VỀ NGHÈO VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG 6
1.1.1 Quan điểm về nghèo 6
1.1.2 Khái niệm về nghèo 6
1.1.3 Các phương pháp tiếp cận đo lường nghèo 7
1.1.4 Các quan điểm về bất bình đẳng 10
1.1.5 Khái niệm về bất bình đẳng 12
1.2 CÁC CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ NGHÈO ĐÓI VÀ BẦT BÌNH ĐẲNG 14
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI TÌNH TRẠNG NGHÈO VÀ BÌNH ĐẲNG CỦA HỘ GIA ĐÌNH 17
1.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng nghèo đói 17
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới trong thu nhập 19
1.4 TỔNG QUAN VỀ MỘT SỐ CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN 20
1.4.1 Tổng quan về một số công trình về nghèo đói 20
1.4.2 Tổng quan về một số công trình về bất bình đẳng 23
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Qui trình nghiên cứu 24
2.2 NGHIÊN CỨU SƠ BỘ 25
2.3 NGHIÊN CỨU CHÍNH THỨC 26
2.3.1 Xây dựng bảng câu hỏi chính thức 26
2.3.2 Chọn mẫu điều tra 26
2.3.3 Nguồn số liệu được sử dụng trong nghiên cứu 27
Trang 62.3.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu 27
2.3.5 Mô hình và những giả định các yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của cộng đồng dân cư ven biển Ninh Thuận 28
2.3.6 Mô hình đánh giá tác động biên của từng yếu tố tới tình trạng nghèo của hộ gia đình 31
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 SƠ LƯỢC VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH NINH THUẬN 34
3.1.1 Vị trí địa lý 34
3.1.2 Khí hậu 35
3.1.3 Tài nguyên thiên nhiên 35
3.1.4 Tiềm năng kinh tế 37
3.2 KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH NINH THUẬN 37
3.2.1 Tốc độ tăng trưởng và cơ cấu kinh tế 37
3.2.2 Giáo dục 38
3.2.3 Y tế 39
3.2.4 Tình hình đời sống dân cư 40
3.3 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NGHÈO VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ VEN BIỂN TỈNH NINH THUẬN 42
3.3.1 Khái quát về mẫu nghiên cứu 42
3.3.2 Đo lường mức độ nghèo 46
3.3.3 Đặc điểm tình trạng nghèo của hộ gia đình ngư dân ven biển tỉnh Ninh Thuận 48
3.3.4 Nguyên nhân gây ra tình trạng nghèo cho hộ gia đình trong cộng đồng ngư dân 54
3.3.5 Nguyện vọng của cộng đồng dân cư ven biển tỉnh Ninh Thuận cần được Nhà nước và chính quyền địa phương hỗ trợ 56
3.3.6 Tiếp cận các chương trình phát triển tại địa phương 56
3.3.7 Đặc điểm bất bình đẳng của cộng đồng dân cư ven biển tỉnh Ninh Thuận 57
3.4 YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI TÌNH TRẠNG NGHÈO CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ VEN BIỂN TỈNH NINH THUẬN 58
3.4.1 Nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân tới thu nhập của hộ gia đình 58
3.4.2 Ảnh hưởng của các nguyên nhân đối với khả năng rơi vào tình trạng nghèo 60
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 62
Trang 7CHƯƠNG 4 GỢI Ý CHÍNH SÁCH NHẰM GIẢM NGHÈO ĐÓI VÀ BẤT BÌNH
ĐẲNG CHO CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ VEN BIỂN TỈNH NINH THUẬN 63
4.1 NHỮNG GỢI Ý VÀ GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯ DÂN VEN BIỂN TỈNH NINH THUẬN 63
4.1.1 Đào tạo nghề và giải quyết việc làm 63
4.1.2 Giáo dục và đào tạo 67
4.1.3 Chính sách dân số 69
4.1.4 Đất đai: 71
4.1.5 Chuyển đổi nghề 72
4.1.6 Quy hoạch hệ thống các chợ dân sinh thuận tiện cho cộng đồng ngư dân ven biển Ninh Thuận 73
4.2 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 74
KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PPA : Phương pháp đánh giá có sự tham gia của người dân SPSS : Phần mềm thống kê cho khoa học xã hội
UNDP : Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc
USD ($) : Đơn vị tiền tệ Hoa Kỳ
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói 17
Bảng 3.1 Số giáo viên và sinh viên, học sinh tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2008 - 2012 39
Bảng 3.2 Số bác sĩ bình quân/vạn dân và số cán bộ y tế, cán bộ dược tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2008 - 2012 40
Bảng 3.3 Số liệu tỉ lệ hộ sử dụng điện sinh hoạt, nước sinh hoạt và hố xí hợp vệ sinh từ 2008 đến 2012 42
Bảng 3.4 Thông tin cá nhân của hộ gia đình ngư dân 43
Bảng 3.5 Thu nhập bình quân đầu người và quy mô hộ gia đình 43
Bảng 3.6 Thu nhập bình quân đầu người và giới tính 44
Bảng 3.7 Tài sản và tình trạng nghèo của hộ gia đình trong mẫu nghiên cứu 44
Bảng 3.8 Tình trạng sử dụng các dịch vụ tối thiểu và tình trạng nghèo của hộ gia đình trong mẫu nghiên cứu 45
Bảng 3.9 Đường giao thông nông thôn đến trung tâm xã và tình trạng nghèo của hộ gia đình trong mẫu nghiên cứu 46
Bảng 3.10 Nhà ở và tình trạng nghèo của hộ gia đình trong mẫu nghiên cứu 46
Bảng 3.11 Chỉ số đánh giá tình trạng nghèo trong cộng đồng ngư dân khai thác ven biển tỉnh Ninh Thuận 47
Bảng 3.12 Cơ cấu nghề khai thác ven bờ trong mẫu nghiên cứu 48
Bảng 3.13 Cơ cấu nghề khai thác ven bờ và tình trạng nghèo của hộ gia đình trong mẫu nghiên cứu 48
Bảng 3.14 Cơ cấu nguồn thu nhập chủ yếu và tình trạng nghèo của hộ gia đình trong mẫu nghiên cứu 49
Bảng 3.15 Công suất tàu thuyền và tình trạng nghèo 49
Bảng 3.16 Trình độ học vấn và tình trạng nghèo của chủ hộ 50
Bảng 3.17 Qui mô hộ gia đình và số người sống phụ thuộc 51
Bảng 3.18 Số người sống phụ thuộc và tình trạng nghèo của hộ 51
Bảng 3.19 Giới tính chủ hộ và tình trạng nghèo 52
Bảng 3.20 Tình trạng nghèo và việc làm thêm của hộ gia đình 52
Bảng 3.21 So sánh thu nhập từ nghề làm thêm với nghề khai thác thủy sản 53
Bảng 3.22 Khả năng tiếp cận tín dụng của hộ gia đình ngư dân 53
Bảng 3.23 Khoản tiền vay và tình trạng nghèo của hộ 54
Trang 10Bảng 3.24 Đất đai và tình trạng nghèo của hộ 54
Bảng 3.25 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo của hộ gia đình 55
Bảng 3.26 Nguyện vọng của cộng đồng dân cư ven biển tỉnh Ninh Thuận 56
Bảng 3.27 Sự tham gia của ngư dân trong các chương trình phát triển tại địa phương 56
Bảng 3.28 Hệ số bất bình đẳng (Gini) của cộng đồng dân cư ven biển tỉnh Ninh Thuận 57
Bảng 3.29 Kết quả mô hình hồi quy về các nguyên nhân ảnh hưởng tới thu nhập của hộ gia đình của hộ 59
Bảng 3.30 Kết quả mô hình hồi quy Binary logistic về tình trạng nghèo của hộ 61
Bảng 3.31 Kết quả mô phỏng về tình trạng nghèo của hộ 62
Trang 11DANH MỤC HÌNH VẼ - SƠ ĐỒ Hình 1.1 Sự biến động giữa thu nhập và chi tiêu theo thời gian 10 Hình 1.2 Đường cong Lorenz 16 Hình 3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Ninh Thuận 34 Hình 3.2 Thu nhập bình quân 1 nhân khẩu 1 tháng chia theo 5 nhóm thu nhập của tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2004 - 2012 41 Hình 3.3 Đường công Lorenz chia theo 5 nhóm thu nhập của cộng đồng dân cư ven biển tỉnh Ninh Thuận 58
Sơ đồ 2.1 Qui trình nghiên cứu 24
Sơ đồ 2.2 Mô hình nghiên cứu đề nghị 33
Trang 12MỞ ĐẦU
1 SỰ CẦN THIẾT CỦA NGHIÊN CỨU
Nghề khai thác hải sản ở Việt Nam có những đặc điểm đó là: quy mô nhỏ, đa nghề và sử dụng các ngư cụ truyền thống Nghề khai thác hải sản ven bờ này đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ, như: tác động của biến đổi khí hậu đến đánh bắt hải sản, đói nghèo, những vấn đề về suy giảm nguồn lợi hải sản và ô nhiễm môi trường, xung đột trong khai thác, giá nhiên liệu tăng, khả năng huy động vốn, cơ chế - chính sách [1]
Theo nghiên cứu của Phạm Hồng Mạnh [12], tại khu vực Nam Trung Bộ, tỉ lệ nghèo của hộ gia đình ngư dân nghề khai thác ven bờ là 31,2% ở mức chuẩn nghèo là
400 nghìn đồng/người/tháng Khoảng cách giữa hộ nghèo và hộ không nghèo là 6,0634; độ sâu của tình trạng nghèo là 1,8336 Các yếu tố ảnh hưởng tới chi tiêu của
hộ gia đình ngư dân bao gồm: tuổi (chủ hộ), thời gian đi học (chủ hộ), tỷ lệ sống phụ thuộc, trình độ học vấn những người trưởng thành, tình trạng việc làm, tiếp cận tín dụng, công suất tàu thuyền, nghề khai thác mành, vó và nghề khai thác cố định (đăng, đáy) Trong đó, tình trạng việc làm của những người trưởng thành trong hộ có ảnh hưởng mạnh nhất tới chi tiêu của hộ, công suất tàu thuyền có tác động yếu nhất Có ba yếu tố có khả năng làm trầm trọng thêm tình trạng nghèo của hộ, bao gồm: vấn đề tiếp cận tín dụng, nghề khai thác cố định, nghề mành vó và tỷ lệ người sống phụ thuộc trong hộ gia đình ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ tại khu vực Nam Trung Bộ hiện nay
Ninh Thuận là một tỉnh ven biển thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ của Việt Nam Trung tâm của tỉnh là thành phố Phan Rang - Tháp Chàm nằm cách Thành phố
Hồ Chí Minh khoảng 350 km về phía nam, cách Nha Trang 105 km, cách Đà Lạt 110
km đồng thời nằm cách sân bay Cam Ranh khoảng 60 km, thuận tiện cho việc giao lưu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Nghèo đói đang giảm nhanh tại tỉnh Ninh Thuận Theo các số liệu thống kê chính thức, mức sống của người dân địa phương đã được cải thiện [14] Các yếu tố chủ yếu tạo ra thay đổi này chủ yếu là hoạt động kinh tế gia tăng, cơ sở hạ tầng tốt hơn, người dân tiếp cận tốt hơn các dịch vụ y tế và giáo dục cũng như các lợi ích khác do các chương trình giảm nghèo hiện nay mang lại
Tuy nhiên, tình trạng nghèo đói và bất bình đẳng vẫn còn tồn tại trong tỉnh và quá trình giảm có thể sẽ vô cùng thách thức Các nỗ lực giảm nghèo trong tương lai phải đương đầu với nhóm nghèo “thâm căn cố đế” Một thực tế cần được nhìn nhận là có
Trang 13một số khá lớn những hộ “giáp ranh nghèo” với mức sống không hơn những hộ nghèo là bao Những cú sốc trong đời sống xã hội và tự nhiên cực nhỏ đến đời sống của họ sẽ dễ dàng đẩy họ trở lại tình trạng nghèo
Ninh Thuận là một tỉnh nghèo vùng Đông Nam bộ Khu vực ven biển tỉnh Ninh Thuận là khu vực tập trung nhiều cộng đồng ngư dân hoạt động nghề khai thác hải sản ven bờ sinh sống và là một trong những khu vực có nhiều hộ nghèo ven biển đặc biệt khó khăn [19] Cái nghèo ở vùng này còn kèm theo sự khắc nghiệt của tự nhiên, nắng nóng gây khô hạn quanh năm mà cũng thường xuyên chịu lũ lụt nặng nề Cho nên người ta thường gắn nguyên nhân của nghèo với điều kiện khí hậu mà quên đi những yếu tố quan trọng khác Chẳng hạn như sự thiếu hụt đất đai dùng cho canh tác, tình trạng thiếu việc làm, quy mô hộ gia đình lớn, trình độ học vấn thấp, thiếu vốn, … Nếu có quan tâm thì người ta cũng không biết được tác động của từng yếu tố như vậy là bao nhiêu, yếu tố nào là quan trọng hơn
Hai câu hỏi nghiên cứu đặt ra đó là:
- Thực trạng tình hình nghèo đói và bất bình đẳng của cộng đồng ngư dân ven biển vùng này ?
- Các nhân tố nào ảnh hưởng nghèo đói và bất bình đẳng của cộng đồng ngư dân ven biển tỉnh Ninh Thuận ?
Vì vậy, việc phân tích đặc điểm đói nghèo và bất bình đẳng đối với cộng đồng ngư dân ven biển tỉnh Ninh Thuận là cần thiết nhằm giúp cho cơ quan quản lý Nhà nước và chính quyền địa phương có chính sách giúp địa phương trong tiến trình xóa đói giảm nghèo tại khu vực này
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Xây dựng khung phân tích về tình trạng nghèo và bất bình đẳng đối với cộng đồng ngư dân tại vùng ben biển tỉnh Ninh Thuận
- Phân tích đặc điểm nghèo và bất bình đẳng của cộng đồng ngư dân ven biển tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2008 - 2012;
- Xác định một số yếu tố tác động đến tình trạng nghèo của các hộ ngư dân;
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: “Đánh giá tình trạng đói nghèo và bất bình đẳng trong cộng đồng ngư dân ven biển tỉnh Ninh Thuận”
Trang 14Đề tài tập trung khảo sát vào đối tượng ngư dân làm nghề khai thác hải sản tại địa phương giai đoạn 2008 – 2012 Các lý do chọn địa phương để điều tra nghiên cứu
đó là:
Thứ nhất, những xã ven biển đa phần đều xa trung tâm thành phố và nguy cơ tụt hậu, khả năng tiếp cận các điều kiện về cơ sở hạ tầng và các dịch vụ chăm sóc y tế, giáo dục thấp [12]
Thứ hai, cái nghèo ở vùng này còn kèm theo sự khắc nghiệt của tự nhiên, nắng nóng gây khô hạn quanh năm mà cũng thường xuyên chịu lũ lụt nặng nề [12], đã làm cho đời sống sản xuất của hộ gia đình ngư dân vốn đã khốn khó thì nay càng có khăn hơn
Thứ ba, sự gia tăng dân số nhanh trong các cộng đồng ngư dân [27], có thể gây
ra tình khó khăn về việc làm và tình trạng nghèo cho các hộ gia đình ngư dân này
Thứ tư, các chính sách của Chính phủ trong việc ngăn chặn sự gia tăng hoạt động khai thác hải sản ven bờ [26], có thể tạo ra sự xáo trộn khá lớn về điều kiện kinh
tế và khả năng sẽ làm cho nhiều hộ gia đình ngư dân hoạt động trong nghề này nằm dưới ngưỡng nghèo
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu của đề tài được thực hiện trong phạm vi sau đây:
- Phạm vi lý thuyết: Phạm vi lý thuyết của nghiên cứu dựa trên nền tảng phân tích về các yếu tố ảnh hưởng tới nghèo tình trạng nghèo đói và bất bình đẳng của các
hộ gia đình sẽ đề cập ở chương cơ sở lý thuyết, với phương pháp dựa vào thu nhập bình quân hàng tháng tính trên đầu người của hộ gia đình để thiết lập các mô hình kinh
tế lượng Bên cạnh đó, nghiên cứu này chỉ tập trung vào việc đo lường và phân tích một số yếu tố điển hình mang tính chất đặc trưng của cộng đồng ngư dân nghề cá như: đặc trưng về nhân khẩu học, các đặc trưng của nghề khai thác hải sản, v.v…
- Phạm vi ngành: Đối tượng khảo sát là các hộ gia đình ngư dân hoạt động trong nghề khai thác hải sản, bởi đây là đối tượng mà nhà nước đang đặc biệt quan tâm trong điều kiện nguồn lợi hải sản ven bờ đang suy giảm nhanh chóng nên sự biến động về tình trạng nghèo của khu vực này có thể có những thay đổi lớn [1] và trong giai đoạn triển khai chiến lược biển Việt Nam, Chiến lược phát triển ngành Thủy sản giai đoạn
2015 – 2020 và tầm nhìn đến 2030 [12], [26]
- Phạm vi địa lý: Các hộ ngư dân nghề khai thác hải sản ven biển tại khu vực tỉnh Ninh Thuận
Trang 15- Phạm vi thời gian: Số liệu sơ cấp về nghèo đói, bất bình đẳng của các hộ ngư dân hoạt động trong nghề khai thác hải sản ven bờ trong nghiên cứu được thu thập điều tra trong thời gian từ tháng 01/2014 đến 05/2014 Số liệu thứ cấp về nghèo đói liên quan được thu thập từ giai đoạn 2008 đến 2012 [18] Việc phân tích đánh giá về nghèo đói và bất bình đẳng là cơ sở để các cơ quan quản lý, chính quyền các địa phương đưa ra những chiến lược và chính sách sát thực hơn trong công tác giảm nghèo
4 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA NGHIÊN CỨU
4.1 Về mặt lý luận
Nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, làm rõ bản chất của nghèo đói, bất bình đẳng nói chung và tình trạng nghèo của ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ nói riêng Đồng thời tổng hợp, so sánh, đánh giá hệ thống các lý thuyết về nghèo, bất bình đẳng
4.2 Về mặt thực tiễn
Thứ nhất, tác giả đã tiến hành điều tra thực địa với quy mô 300 mẫu ngư dân nghề khai thác hải sản ven biển tại khu vực tỉnh Ninh Thuận Bên cạnh đó, thu thập và tổng hợp các tài liệu liên quan đến phân tích nghèo đối với hộ gia đình nói chung và
hộ gia đình ngư dân nói riêng
Thứ hai, nghiên cứu trình bày về thực trạng nghèo, bất bình đẳng trong cộng đồng ngư dân nghề khai thác hải sản ven biển tại khu vực tỉnh Ninh Thuận
Thứ ba, nghiên cứu phân tích đặc điểm ảnh hưởng tới tình trạng nghèo và đánh giá mức độ ảnh hưởng của chúng tới tình trạng nghèo, bất bình đẳng của các hộ ngư dân nghề khai thác hải sản ven biển tại khu vực này Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm giảm tình trạng nghèo và bất bình đẳng cho các hộ gia đình ngư dân nghề khai thác hải sản ven biển tại tỉnh Ninh Thuận
Thứ tư, nhận diện các yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ gia đình: Nghiên cứu nhận diện và xác định những yếu tố đặc trưng của hộ gia đình ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ (bao gồm các yếu
tố định lượng và phi định lượng), như: (i) Những đặc trưng của hộ gia đình ngư dân, (ii) Đặc điểm về nguồn lợi hải sản và môi trường ven biển, v.v…
Thứ năm, xây dựng các mô hình kinh tế lượng để kiểm định các yếu tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố tới tình trạng nghèo và bất bình đẳng của
hộ gia đình ngư dân nghề khai thác hải sản ven biển tại tỉnh Ninh Thuận, có thể là mô hình để xem xét các địa phương ven biển khác tại Việt Nam
Trang 16Thứ sáu, những giải pháp mà nghiên cứu đề xuất được dựa trên kết quả nghiên cứu, phù hợp với ngư dân nghề khai thác hải sản ven biển tại khu vực tỉnh Ninh Thuận hiện nay
7 DỰ KIẾN KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, kết luận – kiến nghị, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, đề tài được kết cấu thành bốn chương Nội dung chủ yếu của các chương bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn về phân tích nghèo và bất bình đẳng Chương này đề cập tới cơ sở lý thuyết về nghèo và bất bình đẳng, bao gồm: những khái niệm, các phương pháp tiếp cận trong việc đo lường nghèo đói và bất bình đẳng, những nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng tới tình trạng nghèo và bất bình đẳng của hộ
Chương 2: Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và Phương pháp nghiên cứu Nội dung chính của chương này đề cập tới phương pháp nghiên cứu bao gồm: đề xuất mô hình nghiên cứu của đề tài, nguồn số liệu sử dụng, mẫu nghiên cứu và các phần mềm được sử dụng
Chương 3: Phân tích thực trạng nghèo và bất bình đẳng đối với ngư dân ven biển tỉnh Ninh Thuận Trong chương 3 trình bày về kết quả nghiên cứu bao gồm: khái quát
về điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế xã hội và thực trạng về tình hình nghèo đói của tỉnh Ninh Thuận, kết quả phân tích mẫu nghiên cứu về tình trạng nghèo và bất bình đẳng của cộng đồng ngư dân ven biển tại khu vực này Trong chương này, nghiên cứu cũng trình bày về kết quả ước lượng các mô hình kinh tế lượng về các nguyên nhân ảnh hưởng tới tình trạng nghèo
Chương 4 Giải pháp giảm nghèo và bất bình đẳng Chương cuối cùng này sẽ đề cập tới những giải pháp nhằm đưa ra những gợi ý chính sách góp phần giảm nghèo đối với hộ gia đình trong cộng đồng ngư dân ven biển tỉnh Ninh Thuận
Trang 17- Quan điểm nhu cầu cơ bản: Quan điểm này không xuất phát từ mức thu nhập
mà xuất phát từ khả năng mà xã hội có thể cung cấp cho người dân để họ ngăn ngừa nghèo đói Nghĩa là thu nhập của họ không nhiều, họ có thể tự mình sản xuất một phần sản phẩm nào đấy, còn các nhu cầu khác sẽ được thỏa mãn nhờ các dịch vụ miễn phí của Nhà nước như y tế, giáo dục, giao thông, thông tin liên lạc…
- Quan điểm khả năng phát triển tiềm năng con người: Người dân không thể có được khả năng thỏa mãn một cách đầy đủ mọi nhu cầu căn bản của mình như: ăn, mặc, ở…Ngoài ra, họ còn bị hạn chế tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giáo dục, tham gia vào các hoạt động đoàn thể và không được thỏa mãn cả nhu cầu về văn hóa xã hội…Tóm lại là sự lựa chọn của họ bị hạn chế Áp dụng quan điểm tiếp cận này cho phép định nghĩa nghèo đói như là một sự thiếu vắng hàng loạt nhu cầu cơ bản
và hạn chế sự lựa chọn của con người Quan điểm này nó bao trùm 2 quan điểm trên Nghĩa là cả mức thu nhập và hạn chế khả năng con người thỏa mãn những nhu cầu
cơ bản của mình Cách nhìn vấn đề từ quan điểm phát triển con người cho phép khảo sát nghèo đói như là một hiện tượng đa chiều, có nguồn gốc sâu xa [5] 1.1.2 Khái niệm về nghèo
Là người đầu tiên đi tìm thước đo nghèo đói và trong những hoàn cảnh cụ thể ở thành phố York nước Anh vào đầu thế kỷ 20, Benjamin Seebohn Rowntree cho rằng nghèo đói là tình trạng thiếu một số lượng tiền cần để “ có được những thứ tối thiểu cần thiết cho việc duy trì thể chất thuần túy” [13]
Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới và phát triển xã hội tổ chức tại Copenhaghen, Đan Mạch, 1995: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đôla
Trang 18(USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại.” [13]
Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc tháng 9/1993 đưa ra định nghĩa: “Nghèo là thực trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội
và phong tục tập quán của địa phương”
Khái niệm trên đây có thể xem là định nghĩa chung nhất của nghèo đói, một định nghĩa có tính chất hướng dẫn về phương pháp đánh giá, nhận diện chủ yếu, phổ biến về nghèo đói Từ đây cho thấy nghèo đói có thể hiểu theo hai cách: nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối
Nghèo tương đối: Là sự thỏa mãn chưa đầy đủ nhu cầu cuộc sống của con người
như cơm ăn chưa ngon, quần áo mặc chưa đẹp, nhà ở chưa khang trang hoặc có sự so sánh người này với người khác hay giữa vùng này với vùng khác
Nghèo tuyệt đối: Là sự không thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu của con người
để duy trì cuộc sống như cơm ăn chưa no, áo không đủ mặc, nhà cửa không che được mưa nắng
Theo Ngân hàng Thế Giới [15], các nguyên nhân về vùng miền, nguyên nhân mang tính cộng đồng, đặc tính chủ hộ và các đặc tính cá nhân dẫn đến nghèo đói có thể tóm tắt như sau: Đặc trưng vùng miền (sống ở vùng xa xôi cách biệt, giới hạn về
cơ sở hạ tầng và kém về khả năng tiếp cận các dịch vụ và chợ; Sống dựa chính vào tài nguyên, gồm cả tài nguyên đất có giá trị và chất lượng; Yếu tố thời tiết, ví dụ như hạn hán hoặc lũ lụt và điều kiện về môi trường, ví dụ như thường xuyên bị động đất); Đặc tính cộng đồng (cơ sở hạ tầng, ví dụ như tiếp cận nguồn nước, điện, tiếp cận đường nhựa; phân phối đất; tiếp cận các dịch vụ công cộng, gần trường học hay bệnh viện; cấu trúc xã hội và tài sản xã hội); Đặc trưng hộ gia đình (Kích cỡ hộ gia đình; tỷ
số phụ thuộc; giới tính của chủ hộ; tài sản; cấu trúc của thu nhập và công việc; Tình trạng sức khỏe và trình độ giáo dục của các thành viên trong gia đình); Đặc tính cá nhân (Tuổi, trình độ học vấn, tình trạng việc làm, tình trạng về sức khỏe và sắc tộc) [15]
1.1.3 Các phương pháp tiếp cận đo lường nghèo
1.1.3.1 Cơ sở xác định nghèo
1.1.3.1.1 Phương pháp phân loại của địa phương
Điểm căn bản trong việc xác định đối tượng nghèo và phân bổ các khoản trợ giúp trên thực tế ở các địa phương là có sự chi phối theo một tập tục truyền thống, đó
Trang 19là thôn Mỗi thôn sẽ lên danh sách những hộ nghèo và đói Danh sách này sẽ được cập nhật một hoặc hai lần trong một năm, khi mà những lợi ích như miễn học phí và thẻ khám chữa bệnh được phát Trên thực tế thì chúng ta dễ dàng hiểu được rằng những hộ không nghèo thường không tham gia hội đồng này vì họ ít có khả năng nhận được những lợi ích kèm theo Nhiều khi những khoản lợi ích được cấp không cung ứng đầy đủ cho tất cả những hộ thuộc diện nghèo, do đó vấn đề đặt ra là xem ai xứng đáng nhận được những khoản trợ giúp đó, cộng thêm sự đánh giá chủ quan của những hộ khác, ngoài những yếu tố về mặt thu nhập Và đến đây thì chúng ta có thể thấy được ưu điểm của phương pháp mà Bộ LĐTB&XH áp dụng để xác định những
hộ nghèo
Nhược điểm của phương pháp này đó là thiếu một quy tắc chặt chẽ để xác định
hộ nghèo và liệu việc thảo luận cấp thôn có thật sự thành công trong việc xác định ai là người cần giúp đỡ nhất hay không vẫn là một câu hỏi cần bỏ nghỏ, một mặt nữa là những hộ bị coi là không chăm chỉ lao động hoặc không có trách nhiệm xã hội hiếm khi nhận được sự giúp đỡ, trên thực tế thì con cái của những hộ này chịu sự thiệt thòi rất lớn từ các phân loại này
Trên cơ sở những phân tích trên, đề tài sử dụng chỉ tiêu "chi tiêu bình quân để đánh giá sự nghèo đói của các hộ ngư dân ven biển tỉnh Ninh Thuận và đồng thời tìm
ra những nguyên nhân ảnh hưởng đến sự nghèo đói này [12]
1.1.3.1.2 Phương pháp dựa vào thu nhập
Việc áp dụng phương pháp tính toán và xác định nghèo đói theo phương pháp dựa vào thu nhập được Bộ LĐTB&XH nước ta áp dụng và triển khai trong điều tra đánh giá mức sống dân cư năm 2010 [23] Nội dung chủ yếu của phương pháp này đó là điều tra những thông tin liên quan đến thu nhập của một hộ gia đình trong một năm và lấy bình quân theo đầu người của hộ đó, trên cơ sở số liệu đó đối chiếu với chuẩn nghèo được ban hành đối với khu vực hộ đó đang cư trú Ở Việt Nam, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội dựa trên điều tra gồm những câu hổi về tài sản và về thu nhập từ các nguồn khác nhau Thu nhập từ tất cả các nguồn này được cộng lại, chia cho số người trong hộ và so sánh với một trong hai chuẩn nghèo tùy theo xã đó thuộc vùng nào
Để phục vụ cho các chiến lược phát triển kinh tế xã hội, Chính phủ đã xây dựng chuẩn nghèo tuyệt đối cho từng giai đoạn Kể từ 1993 đến nay Chính phủ đã 7 lần điều chỉnh mức chuẩn nghèo Chuẩn nghèo đã được điều chỉnh 6 lần vào các năm 1993,
1997, 1998, 2001, 2005, 2007 [44] Chuẩn nghèo được áp dụng cho giai đoạn 2011 -
Trang 202015 đối với khu vực nông thôn, những hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, còn ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (dưới 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo [6]
1.1.3.1.3 Phương pháp dựa vào chi tiêu hộ gia đình
Theo Phạm Hồng Mạnh [12] thì có 3 lý do để cho rằng dựa vào chi tiêu hộ gia đình tốt hơn thu nhập của hộ gia đình, đó là:
- Thứ nhất, chi tiêu phản ánh tốt hơn thu nhập trong việc đo lường phúc lợi kinh
tế hộ gia đình
- Thứ hai, trong hoạt động khai thác hải sản, thu nhập phụ thuộc vào nghề khai thác, năng lực tàu thuyền và thời gian đánh bắt Bên cạnh đó, một số hộ gia đình tham gia sản xuất nông nghiệp, thu nhập của các hộ gia đình này có thể dao động trong năm
do phụ thuộc vào mùa vụ thu hoạch Điều này cho thấy một khó khăn tiềm năng khi các hộ gia đình nhớ lại thu nhập của họ, trong đó có thể những thông tin về thu nhập của hộ gia đình từ quá trình khảo sát này có thể dẫn tới chất lượng thấp
- Thứ ba, chi tiêu có thể phản ánh tốt hơn tiêu chuẩn thực tế của một hộ gia đình sinh sống và khả năng để đáp ứng nhu cầu cơ bản
Theo Ngân hàng thế giới [38], cách tiếp cận phổ biến nhất hiện nay trong đo lường phúc lợi kinh tế đó là dựa vào chi tiêu hay thu nhập của hộ gia đình nếu chúng
ta chia đều cho các thành viên của hộ thì được chỉ tiêu chi tiêu hay thu nhập bình quân đầu người Ngân hàng thế giới [37] thì các nước phát triển sử dụng thu nhập để xác định nghèo đói vì nó mang tính ổn định cao hơn, đối với các nước đang phát triển thì dùng chỉ tiêu chi tiêu vì dễ thấy và dễ dàng hơn
Nội dung của phương pháp này dựa vào các cuộc điều tra về thông tin chi tiết chi tiêu của hộ, từ đó là cơ sở để tính toán chuẩn nghèo và được đo bằng mức chi tiêu cần thiết để đảm bảo đủ 2100 Kcalo trong một ngày, dựa vào cách mà hộ phân bổ chi tiêu giữa những nhu cầu khác nhau trong cuộc sống như lương thực và phi lương thực Bên cạnh đó, chuẩn nghèo mà World Bank đưa ra cho các nước đang phát triển
là 1.25$/ ngày và các nước có thu nhập ở mức trung bình là 2$/ ngày theo sức mua tương đương [39], [46] Trên cơ sở đó những hộ có mức chi tiêu bình quân đầu người dưới chuẩn nghèo là những hộ nghèo và tỷ lệ nghèo là tỷ lệ dân số có mức chi tiêu dưới chuẩn nghèo Tuy nhiên phương pháp này cũng có những nhược điểm như là chi phí lớn, điều tra chi tiêu đầu người mẫu thường nhỏ và sai số trong quá trình ước tính
Trang 21nghèo đói có thể xảy ra rất cao Phương pháp này thường cho kết quả khả quan và đáng tin cậy với cấp độ tính toán trên phạm vi rộng từ cấp vùng hoặc tỉnh trở lên
Tuy nhiên phương pháp này cũng mắc phải một số nhược điểm như: tâm lý của người dân không muốn khai thật về mức thu nhập của mình Thu nhập từ các hoạt động khai thác thủy sản có thể thay đổi bất thường hàng năm hoặc thậm chí hàng ngày trong khi mức tiêu dùng vẫn tương đối ổn định [12] Như vậy, ta dễ dàng nhận thấy chi tiêu ổn định nhiều hơn so với thu nhập và được sử dụng tốt hơn trong phân tích đói nghèo Những biến động của thu nhập và chi tiêu được minh họa trong Hình 1.1
Hình 1.1 Sự biến động giữa thu nhập và chi tiêu theo thời gian
(Nguồn: [37], tr 29)
Rõ ràng, chi tiêu không những ít bị khai thấp hơn thu nhập mà nó còn ổn định hơn từ năm này qua năm khác, do đó có đủ cơ sở và căn cứ lý thuyết để sử dụng các thước đo chi tiêu nhằm phản ánh mức sống
1.1.4.1 Quan điểm dựa vào yếu tố sinh học của cá nhân
Quan điểm này cho rằng, bất bình đẳng là một thực tế của xã hội, nó luôn hiện diện bởi sự khác biệt giữa các cá nhân Trong một xã hội mở và nếu con người có sự khác nhau về tài năng và nhu cầu thì điều đó tất yếu dẫn đến bất bình đẳng “Một số bất bình đẳng đến như là kết quả không thể né tránh về bất bình đẳng sinh học của kỹ năng, thể chất, khả năng tinh thần và những khía cạnh của nhân cách” [36]
Trang 22Ngay từ thời cổ đại, một số nhà triết học đã khẳng định những “khác biệt” mang tính tự nhiên giữa các cá nhân Trong thực tế, vẫn có những khác biệt trong kiểu phân chia giới như là kết quả không thể tránh được của bất bình đẳng Aristotle (384 –
322 TCN) cho rằng: “Đàn ông bản chất là thống trị, đàn bà là bị trị, và đó là một luật lệ.” Ngay cả đến hiện nay, quan điểm này vẫn còn tồn tại Steven Goldberg nêu quan điểm: “Sự thống trị và sự thành đạt cao của nam giới là khả năng không thể đảo ngược, bởi có những khác biệt về sinh học giữa nam và nữ” [8]
Thực ra những quan điểm hoàn toàn tương tự có thể được tìm thấy trong các xã hội khác Trong không ít các gia đình Việt Nam hiện đại, tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn tồn tại Người con trai luôn được dành cho những ưu tiên và cơ hội nhiều hơn người con gái và tất yếu điều này làm cho sự bất bình đẳng ngày một kéo dài và trầm trọng hơn
1.1.4.2 Quan điểm dựa vào yếu tố kinh tế
Trong luận văn Về nguồn gốc của sự bất bình đẳng năm 1753, Jean-Jacques
Rousseau đã vạch rõ nguồn gốc của sự bất bình đẳng trong xã hội là ở chế độ tư hữu tài sản Theo ông, bất bình đẳng không phải là một quy luật tự nhiên, mà là sản phẩm của xã hội loài người; nó tồn tại và phát triển từ khi xuất hiện chế độ tư hữu tài sản; rằng con người đã tạo ra sự bất bình đẳng thì con người cũng có thể xóa bỏ nó [11], [20] Những đặc điểm về kinh tế – chính trị và thị trường lao động tạo ra những khác biệt trong thu nhập và của cải Thực chất, sự khác biệt về vị trí của các cá nhân trong
cơ cấu xã hội gây ra bất bình đẳng kinh tế Ông cũng đã phân biệt rõ hai loại bất bình đẳng giữa người với người Đó là bất bình đẳng tự nhiên và bất bình đẳng xã hội – bất bình đẳng do cơ chế xã hội tạo nên
Một số nhà xã hội học khác cho rằng bất bình đẳng là không thể tránh khỏi do
xã hội có những nhiệm vụ này cần thiết hơn những nhiệm vụ khác và khả năng thực hiện những nhiệm vụ này khác nhau Họ lập luận rằng bất bình đẳng xã hội về lợi ích giữa các cá nhân là cần thiết để thúc đẩy người tài nhất thực hiện những nhiệm vụ khó khăn nhất Chính sự bất bình đẳng thúc đẩy các cá nhân lao động, học tập để mang lại
cơ hội cho chính bản thân mình Do vậy không thể thủ tiêu bất bình đẳng, vì bình đẳng
có thể nguy hiểm cho xã hội như nhà kinh tế học A Lechevalier phân tích: “Bình đẳng chung chung thậm chí còn đi ngược lại ý niệm về sự công bằng, không chỉ là công bằng về nỗ lực cá nhân, về nhu cầu, ham muốn mà cả những thiệt thòi” [20]
Trang 231.1.4.3 Quan điểm Max Weber
Max Weber nghiên cứu cấu trúc xã hội sau Marx hơn nửa thế kỷ Do vậy, ông
đã ghi nhận những thay đổi trong cơ cấu giai cấp xã hội để phát triển lý thuyết xã hội học về sự phân tầng xã hội Theo đó, lĩnh vực kinh tế không còn vai trò quan trọng đối với sự phân chia giai cấp và tầng lớp xã hội trong xã hội tư bản hiện đại Cấu trúc xã hội nói chung và sự phân tầng xã hội nói riêng chịu tác động của hai nhóm yếu tố cơ bản là các yếu tố kinh tế và các yếu tố phi kinh tế trong quá trình hình thành, biến đổi cấu trúc xã hội và sự phân tầng xã hội [20]
Weber không coi mọi cấu trúc xã hội đều bất bình đẳng như trong một xã hội có giai cấp Ông nhấn mạnh rằng quyền lực kinh tế có thể là kết quả nắm giữ quyền lực dựa vào các nền tảng khác Địa vị xã hội và uy tín xã hội có thể xuất phát từ quyền lực kinh tế, song đó không phải là tất yếu duy nhất Ngược lại, địa vị có thể tạo nên cơ sở của quyền lực chính trị [20]
Weber nhấn mạnh tầm quan trọng của thị trường chứ không phải là tái sản xuất, như là cơ sở kinh tế của giai cấp Ông quan niệm giai cấp là một tập hợp người có chung các cơ hội sống trong điều kiện kinh tế thị trường Nguyên nhân đầu tiên của bất bình đẳng trong xã hội tư bản là khác biệt về khả năng thị trường [20]
1.1.5 Khái niệm về bất bình đẳng
Tất cả các xã hội đều được đặc trưng bởi sự khác biệt xã hội Đó là quá trình mà con người tạo nên khoảng cách do cách ứng xử khác nhau bởi vị thế, vai trò cùng những đặc điểm khác Quá trình đó chuẩn bị cho bất bình đẳng xã hội, là điều kiện mà con người có cơ hội không ngang bằng nhau về sử dụng của cải, quyền lực và uy tín Bất bình đẳng là một hiện tượng mang tính kế thừa ở mọi thời đại vì nó tồn tại trong mọi xã hội do cơ cấu xã hội mang lại Bất bình đẳng không phải là một hiện tượng tự nhiên, tồn tại một cách ngẫu nhiên giữa các mối quan hệ trong xã hội, nó tồn tại “khi
có một nhóm xã hội kiểm soát và khai thác các nhóm xã hội khác” [20], [16]
Bất bình đẳng xã hội là sự không bằng nhau về mặt xã hội, tức là sự khác nhau
về những lợi ích, cơ hội về mặt vật chất lẫn tinh thần cũng như thỏa mãn các lợi ích đó của cá nhân trong một nhóm xã hội hay nhiều nhóm xã hội khác nhau [20]
Thu nhập chính là động lực của người lao động từ đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế Đảm bảo được bình đẳng giới thu nhập không những giải phóng sức lao động, tận dụng nguồn lực, làm lành mạnh thị trường lao động góp phần thúc đẩy tăng
Trang 24trưởng kinh tế Chính vì sự quan trọng trên, trong khuôn khổ đề tài này tác giả đề cập chủ yếu là bất bình đẳng giới trong thu nhập
Sự bất bình đẳng đang diễn ra dưới rất nhiều hình thức trong cuộc sống Theo ILO thì bất cứ sự phân biệt nào hình thành trên cơ sở chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, khuynh hướng chính trị, nguồn gốc xã hội mà có ảnh hưởng và làm tổn hại đến việc tiếp cận các cơ hội hay sự đối xử trong công việc và nghề nghiệp thì được coi là
Sự bất bình đẳng giới trong thu nhập là sự khác biệt giữa thu nhập của lao động nam và lao động nữ mặc dù có cùng các đặc tính năng lực và năng suất lao động (Rio,
C D và các cộng sự, 2006) Phân tích bất bình đẳng giới trong thu nhập là quá trình phân tích thông tin về thu nhập giữa nam và nữ nhằm đảm bảo rằng các lợi ích phát triển và các nguồn lực được sử dụng và phân phối một cách hiệu quả và công bằng cho
cả nam giới và phụ nữ, đồng thời lường trước và tránh được các tác động tiêu cực mà quá trình phát triển có thể có đối với phụ nữ hoặc đối với mối quan hệ giới Không nhận thức đầy đủ về vấn đề giới đồng nghĩa với việc hạn chế sự tiếp cận của phụ nữ với các nguồn lực sản xuất và việc làm (và do đó làm giảm năng suất lao động cho cả nền kinh tế nói chung), loại trừ lực lượng lao động nữ và công việc của phụ nữ ra khỏi quá trình phát triển của địa phương và quốc gia [45]
Theo tài liệu Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ Việt Nam [45] thì "Bình đẳng giới” là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới" Nam giới và phụ nữ cùng có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình, có cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực của xã hội trong quá trình phát triển, được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống một cách bình đẳng, được hưởng thành quả một cách bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội Theo khái niệm trên thì bình đẳng giới không phải là sự hoán đổi vai trò của nam và nữ từ thái cực này sang thái cực khác
Và khái niệm này cũng không phải là sự tuyệt đối hoá bằng con số hay tỷ lệ ngang
Trang 25nhau mà là sự khác biệt về giới tính trong các vai trò sản xuất, tái sản xuất, vai trò chính trị và cộng đồng, đặc biệt là sự chia sẻ công việc gia đình, chăm sóc các thành viên gia đình để tạo cơ hội và điều kiện cho nam, nữ phát triển toàn diện về mọi mặt Đồng thời khái niệm này còn đề cập đến việc tạo điều kiện và cơ hội cho phụ nữ bù đắp những khoảng trống do việc mang thai, sinh con và gánh vác phần lớn lao động gia đình đem lại [3]
Như vậy bất bình đẳng giới được hiểu là sự phân biệt trên cơ sở giới tính mà sự phân biệt này ảnh hưởng đến sự tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực của
xã hội và quá trình phát triển của con người Xét riêng trong lĩnh vực lao động thì sự bất bình đẳng giới thể hiện ở sự phân biệt trong việc tiếp cận các cơ hội, sự phân biệt đối xử trong công việc và nghề nghiệp cũng như sự phân biệt trong việc thừa hưởng các thành quả lao động giữa lao động nam và lao động nữ [3]
Trên thực tế có thể thấy có sự phân biệt đối xử và bất bình đẳng giới ở hầu hết các xã hội Sự phân biệt đối xử thường được thấy ở bốn lĩnh vực là: lĩnh vực giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, tiếp cận với các cơ hội kinh tế (Ví dụ: tham gia vào thị trường lao động, thu nhập) và tham gia vào lãnh đạo và tham chính Sự phân biệt đối xử này xuất phát từ quan niệm rập khuôn cho rằng phụ nữ có ít quyền tự quyết hơn, có ít nguồn lực để sử dụng hơn và có ít ảnh hưởng đối với quá trình ra quyết định có liên quan tới
xã hội và cuộc sống riêng của họ Nó đặt người phụ nữ vào một vị trí phải phục tùng
và bất lợi so với nam giới Điều này thường xảy ra, chẳng hạn, khi người phụ nữ bị từ chối cơ hội việc làm bởi khuôn mẫu giới là người đàn ông là người ra quyết định tốt hơn [3]
1.2 CÁC CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ NGHÈO ĐÓI VÀ BẦT BÌNH ĐẲNG
Sau khi xác định các nhóm chi tiêu, chúng ta có thể tính toán được một số thống
kê mô tả như qui mô, mức độ của nghèo đói Những thống kê này bao gồm chỉ số đếm đầu người (xác định tỷ lệ nghèo đói), khoảng cách nghèo đói (xác định mức độ sâu của nghèo đói), bình phương khoảng cách nghèo đói (xác định tính nghiêm trọng của nghèo đói) Các tác giả Foster, Green và Thorbecke (1984) đã chỉ ra rằng ba thước đo này được tính toán dựa vào công thức sau:
y z
Trang 26α là đại lượng đo mức độ quan tâm đến sự bất bình đẳng đến những người nghèo
Khi α = 0, đẳng thức trên tương đương M/N, tức bằng số người nghèo chia tổng
số người có trong mẫu Thước đo này gọi là tỷ số đếm đầu (Headcount ratio) Có thể nói rằng chỉ số này là dễ tính nhất, tuy nhiên không nhạy cảm với khoảng cách những người nghèo so với ngưỡng nghèo
Khi α =1, ta có chỉ số khoảng cách nghèo đói Chỉ số này cho biết sự thiếu hụt trong chi tiêu của các hộ nghèo so với ngưỡng nghèo và nó thể hiện như mức trung bình của tất cả mọi người trong quần thể Có thể xem đây là chi phí tối thiểu để xóa bỏ nghèo đói trong điều kiện mọi khoản chi chuyển nhượng đều đúng đối tượng Tuy nhiên, trong thực tế việc chuyển giao thường có hao hụt và chi phí hành chính cho nên chi phí thực tế để xóa bỏ nghèo đói thường là bội số của khoảng cách nghèo đói
Khi α =2, ta có chỉ số khoảng cách nghèo đói bình phương (Squared Poverty gap index) hay còn gọi là chỉ sốn nhảy cảm nghèo Chỉ số này thể hiện mức độ nghiêm trọng của nghèo đói và làm tăng thêm trọng số cho nhóm người nghèo nhất trong số những người nghèo
Ngoài ra người ta còn dùng đường cong Lorenz để thể hiện mức độ bất bình đẳng trong phân phối Đường cong Lorenz là sự biểu diễn bằng hình học của hàm phân bố tích lũy, chỉ ra quan hệ giữa tỷ lệ phần trăm của một giá trị thể hiện qua trục tung với tỷ lệ phần trăm của một giá trị khác thể hiện qua trục hoành Đường cong Lorenz thường được sử dụng trong việc nghiên cứu sự phân bố thu nhập, chỉ ra tỷ lệ phần trăm số hộ gia đình hay dân số trong tổng số và tỷ lệ phần trăm thu nhập của họ trong tổng thu nhập Một đường cong Lorenz điển hình như sau:
Trang 27Hình 1.2 Đường cong Lorenz
Đường phía dưới (Đường số 2) được gọi là đường bất bình đẳng tuyệt đối Mỗi điểm trên đường này thể hiện tỷ lệ phần trăm số hộ gia đình không có thu nhập hoặc tỷ lệ phần trăm số hộ gia đình chiếm toàn bộ tổng thu nhập
Đường cong Lorenz luôn luôn bắt đầu từ điểm (0,0) và kết thúc tại điểm (1,1)
Nó không thể nằm phía trên đường bình đẳng tuyệt đối, cũng không thể nằm phía dưới đường bất bình đẳng tuyệt đối Một đường Lorenz điển hình là đường lõm hướng về gốc (0,0) Một điểm bất kỳ trên đường Lorenz cho biết tỷ lệ % cộng dồn của nhóm dân
cư nghèo nhất nhận được bao nhiêu % tổng thu nhập Như vậy đường Lorenz là cách biểu hiện trực quan của sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, nó càng lõm thì mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập càng cao
Để phản ánh một cách đầy đủ và thông qua những chỉ tiêu cụ thể về mức độ bất bình đẳng trong thu nhập của các tầng lớp dân cư người ta dùng hệ số GINI thông qua đường cong Lorenz Số 0 tượng trưng cho sự bình đẳng thu nhập tuyệt đối (mọi người đều có cùng một mức thu nhập), số 1 tượng trưng cho sự bất bình đẳng thu nhập tuyệt
Trang 28đối (một người có toàn bộ thu nhập, trong khi tất cả mọi người khác không có thu nhập)
1 L X dX
Hoặc hệ số GINI (G) được tính theo công thức sau:
)
32(21
bq
ny y
y y y n n
Trong đó:
y1, y2, yn: Thu nhập của từng nhóm hộ theo thứ tự giảm dần;
ybq: Thu nhập bình quân của hộ;
n: Tổng số nhóm hộ
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI TÌNH TRẠNG NGHÈO VÀ BÌNH ĐẲNG CỦA HỘ GIA ĐÌNH
1.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng nghèo đói
Theo World Bank [37], các nguyên nhân về vùng miền, nguyên nhân mang tính cộng đồng, đặc tính chủ hộ và các đặc tính cá nhân dẫn đến nghèo đói có thể tóm tắt theo bảng sau:
Bảng 1.1 Các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói Đặc trưng vùng
Trang 29- Cấu trúc của thu nhập và công việc
- Tình trạng sức khỏe và trình độ giáo dục của các thành viên trong gia đình (tính trung bình)
- Nghề nghiệp, tình trạng việc làm
Người nghèo thường không có việc làm, làm thuê hoặc làm việc trong nông nghiệp, người giàu thường có việc làm trong những lĩnh vực có thu nhập cao và tương đối ổn định như buôn bán, dịch vụ, công chức [10]
- Trình độ học vấn
Vì không có đủ tiền để trang trải chi phí học tập nên con cái họ thường bỏ học rất sớm hay thậm chí không đi học Người nghèo thường thiếu hiểu biết, thiếu khả năng tiếp thu kiến thức chuyên môn cần thiết trong hoạt động kinh tế Hệ quả là rơi vào bẫy: ít học – nghèo [10]
- Giới tính của chủ hộ
Ở vùng nông thôn, những hộ gia đình có chủ hộ là nữ có nhiều khả năng nghèo hơn những hộ có chủ là nam Điều đó do nữ thường có ít cơ hội làm việc với thu nhập cao mà thường làm việc nhà và sống dựa vào nguồn thu từ người nam trong gia đình [10]
- Quy mô hộ
Quy mô một hộ gia đình càng lớn thì hộ có chi tiêu bình quân đầu người thấp hơn, do đó nhiều khả năng nghèo hơn hộ gia đình có ít người [10]
Trang 30- Số người sống phụ thuộc
Tỷ lệ người ăn theo càng cao, họ phải gánh chịu nhiều chi phí hơn cho học hành, khám chữa bệnh, do đó có nhiều khả năng nghèo hơn hộ có ít người phụ thuộc [10]
- Quy mô diện tích đất của hộ gia đình
Ở nông thôn đất là tự liệu sản xuất chủ yếu của nông nghiệp, nguồn tạo ra thu nhập, không có đất hoặc quy mô đất ít thường đi đôi với nghèo [10]
- Quy mô vốn vay từ định chế chính thức
Thiếu vốn đầu tư dẫn đến năng suất thấp, kéo theo thu nhập hộ gia đình thấp
Do đó vốn vay từ định chế chính thức là công cụ quan trọng giúp hộ ngư dân thoát nghèo [10]
- Khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng nông thôn bao gồm đường giao thông, điện, chợ, nước sạch, hệ thống thông tin liên lạc Cơ sở hạ tầng nông thôn phát triển, nhất là thông qua thực hiện các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, sẽ tạo nhiều cơ hội việc làm cho người nghèo ở vùng nông thôn [10]
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới trong thu nhập
1.3.2.1 Yếu tố phi kinh tế - Quan niệm bất bình đẳng giới truyền thống
Những quan niệm bất bình đẳng giới hay những định kiến xã hội về giới đang là những cản trở đối với sự phát triển cân bằng giới, quan hệ bình đẳng nam nữ Đó là những quan niệm phong kiến từ hàng ngàn năm trước đây về địa vị, giá trị của phụ nữ trong gia đình cũng như xã hội
Theo quan niệm phong kiến, nam giới có quyền tham gia việc ngoài xã hội, thực hiện chức năng sản xuất, gánh vác trách nhiệm và quản lý xã hội, còn phụ nữ trông nom việc nhà, con cái Nam giới có toàn quyền chỉ huy định đoạt mọi việc lớn trong gia đình, nữ giới thừa hành, phục vụ chồng con Người phụ nữ hoàn toàn phụ thuộc vào nam giới, không có bất kỳ quyền định đoạt gì kể cả đối với bản thân Đặc biệt đối
với các nước Châu Á, có quan niệm trọng nam khinh nữ: nhất nam viết hữu, thập nữ
viết vô, điều đó thể hiện sự đề cao tuyệt đối giá trị của nam giới đồng thời phủ nhận
hoàn toàn giá trị nữ giới [3]
1.3.2.2 Các yếu tố kinh tế
- Nhóm yếu tố đặc điểm người lao động
Nhóm yếu tố đặc điểm của người lao động gồm những yếu tố liên quan về mặt thể chất và giới tính gồm: độ tuổi, tình trạng hôn nhân, sức khoẻ và chi tiêu bình quân đầu người [3]
Trang 31- Nhóm yếu tố giáo dục - đào tạo
Giáo dục - đào tạo là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động Công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, kỹ năng phức tạp có mức lương cao hơn nhiều so với các công việc mang tính giản đơn Do vậy người được tiếp cận với nền giáo dục cao hơn sẽ có cơ hội tìm kiếm công việc có thu nhập cao hơn [3]
- Nhóm yếu tố lao động, công việc
Nhóm này bao gồm các yếu tố: ngành nghề, chuyên môn, kinh nghiệm làm việc, tổ chức làm việc
Thông thường người lao động làm việc trong ngành nông nghiệp được trả lương thấp hơn những người làm trong ngành công nghiệp và dịch vụ do yêu cầu về
kỹ năng, trình độ của ngành này thấp Bản thân trong cùng một ngành nghề thì thu nhập của người lao động còn phụ thuộc vào chuyên môn (loại hình công việc) và kinh nghiệm công tác của người lao động do những công việc phức tạp được trả lương cao hơn những công việc giản đơn và những người có thời gian tiếp xúc với công việc dài hơn thì có khả năng hoàn thành công việc nhanh và tốt hơn những người ít kinh nghiệm nên được trả lương cao hơn [3]
- Nhóm yếu tố địa lý: vùng, thành thị/nông thôn
Thu nhập được trả cho người lao động phải đảm bảo cho cuộc sống của bản thân họ và gia đình Do mức sống, mức chi tiêu ở các vùng khác nhau là khác nhau nên thu nhập của người lao động tại các địa phương khác nhau sẽ khác nhau
Bên cạnh sự khác biệt do yếu tố vùng miền lãnh thổ, mức sống và thu nhập của người lao động còn phụ thuộc khu vực sinh sống là thành thị hay nông thôn Người lao động ở thành thị có mức thu nhập cao hơn với người lao động nông thôn, xét theo công việc có tính chất và độ phức tạp tương đương [3]
1.4 TỔNG QUAN VỀ MỘT SỐ CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN
1.4.1 Tổng quan về một số công trình về nghèo đói
Ở nước ngoài đã có nhiều công trình nghiên cứu về nghèo đói Những nghiên cứu điển hình như: công trình nghiên cứu của Gordon [35], cho thấy tình trạng sở hữu chung trong ngành thủy sản quy mô nhỏ cũng dẫn đến tình trạng nghèo đói Ngày càng
có nhiều người có thể tham gia khai thác hải sản với kinh nghiệm hoặc vốn đầu tư hạn chế trong điều kiện tự do tiếp cận Điều này dẫn đến việc khai thác quá mức các nguồn tài nguyên và có những trở ngại trong hoạt động sinh kế trên biển [34], [32] Kết quả là
Trang 32làm cho lợi tức kinh tế giảm sút và thu nhập của ngư dân thấp Nguyên chủ yếu dẫn đến tình trạng nghèo đói của các hộ ngư dân có liên quan đến việc tiếp cận ở cấp độ thấp đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên như thủy sản [31]
Nghiên cứu của Béné [33], đã đưa ra kết luận khá tương đồng với của Gordon [31] Nghiên cứu này cũng đã có những lý giải về mối quan hệ giữa nghề cá và đói nghèo Ngư dân được coi như là những người nghèo nhất của người nghèo mà nguyên nhân xuất phát
từ những đặc điểm của ngành thuỷ sản và đưa tới kết luận rằng: Nói chung nghề cá quy
mô nhỏ tạo ra thu nhập cho ngư dân, bất kỳ nỗ lực nào, ngư dân sẽ vẫn là người nghèo
và quyền tự do tiếp cận trong tài nguyên thuỷ sản đã làm cho ngư dân trở thành những người nghèo nhất Nghề cá quy mô nhỏ được coi như công việc cuối cùng có thể đảm bảo an toàn cho người nghèo và cho phép mọi người đều có thể tham gia vào hoạt động khai thác hải sản thậm chí họ không có bất kỳ kỹ năng hoặc tài sản gì
Tại Việt Nam, về vấn đề nghèo đói trong ngành thủy sản đã có một số tác giả nghiên cứu như:
Theo nghiên cứu của Phạm Hồng Mạnh [12], tại khu vực Nam Trung Bộ, tỉ lệ nghèo của hộ gia đình ngư dân nghề khai thác ven bờ là 31,2% ở mức chuẩn nghèo là
400 nghìn đồng/người/tháng Khoảng cách giữa hộ nghèo và hộ không nghèo là 0,0634; độ sâu của tình trạng nghèo là 1,5336 Các yếu tố ảnh hưởng tới chi tiêu của
hộ gia đình ngư dân bao gồm: tuổi (chủ hộ), thời gian đi học (chủ hộ), tỷ lệ sống phụ thuộc, trình độ học vấn những người trưởng thành, tình trạng việc làm, tiếp cận tín dụng, công suất tàu thuyền, nghề khai thác mành, vó và nghề khai thác cố định (đăng, đáy) Trong đó, tình trạng việc làm của những người trưởng thành trong hộ có ảnh hưởng mạnh nhất tới chi tiêu của hộ, công suất tàu thuyền có tác động yếu nhất Có ba yếu tố có khả năng làm trầm trọng thêm tình trạng nghèo của hộ, bao gồm: vấn đề tiếp cận tín dụng, nghề khai thác cố định, nghề mành vó và tỷ lệ người sống phụ thuộc trong hộ gia đình ngư dân nghề khai thác hải sản ven bờ tại khu vực Nam Trung Bộ hiện nay Hạn chế của nghiên cứu là quy mô điều tra mẫu nhỏ so với quy mô hộ gia đình hoạt động trong nghề khai thác hải sản ven bờ của khu vực này
Theo Phạm Anh Tuấn và cộng tác viên, trong nghiên cứu “Đánh giá nghèo đói có
sự tham gia của cộng đồng tại Ninh Thuận” [21], cho rằng các yếu tố sau đây ảnh hưởng đến nghèo đói như: thiếu vốn, đông nhân khẩu, thiếu việc làm, thiếu đất, thiếu kinh nghiệm, vv… Hạn chế của nghiên cứu là chỉ mới dừng lại ở mức độ khảo sát các yếu tố ảnh hưởng của nghèo đói, chưa nêu ra được sự bất bình đẳng, cũng như các giải
Trang 33pháp để giải quyết vấn đề bất bình đẳng Bên cạnh đó, kết quả này được thực hiện năm
2003, với các chuẩn mực về nghèo đói đã có sự sai khác rất lớn so với qui định hiện nay, do đó, tính cập nhật thông tin cần phải được xem xét
Theo Phạm Văn Ngọc và cộng tác viên, trong nghiên cứu “Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Đắc Lắk” [17], cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đói đó là: thiếu vốn, thiếu đất, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, cơ sở hạ tầng kém, thị trường kém phát triển, các chương trình, chính sách của nhà nước kém hiệu quả, vv… Hạn chế của nghiên cứu là chỉ mới dừng lại ở mức độ khảo sát các yếu tố ảnh hưởng của nghèo đói, chưa nêu ra được sự bất bình đẳng, cũng như các giải pháp để giải quyết vấn đề bất bình đẳng Bên cạnh đó, kết quả này được thực hiện năm 2003, với các chuẩn mực về nghèo đói đã có sự sai khác rất lớn so với qui định hiện nay, do
đó, tính cập nhật thông tin cần phải được xem xét Bên cạnh đó, việc đo lường dưới góc độ định lượng về tình trạng nghèo trong việc giải thích ảnh hưởng của các yếu tố mới dừng lại ở mức độ khảo sát tại Đắc Lắk trong một giai đoạn chưa dài
Theo Phan Đình Hùng, trong nghiên cứu “Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến nghèo đói của ngư dân ven biển huyện Quảng Trạch – tỉnh Quảng Bình” [9], dựa trên
số liệu điều tra từ 380 hộ dân địa phương, nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy đa biến
và hồi quy phi tuyến Binary logistic để phân tích tình hình nghèo đói của các hộ dân khu vực này Kết quả nghiên cứu cho thấy có 5 nhân tố ảnh hưởng có ý nghĩa đến sự nghèo đói của các hộ dân ở đây, đó là tình trạng việc làm, lĩnh vực của việc làm, tình trạng sở hữu đất sản xuất, quy mô hộ và tiếp cận tín dụng, trong đó quan trọng nhất là tình trạng việc làm Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy ảnh hưởng độc lập của từng yếu
tố đến xác suất nghèo của một hộ gia đình Hạn chế của nghiên cứu là chỉ mới dừng lại
ở mức độ khảo sát các yếu tố ảnh hưởng của nghèo đói, chưa nêu ra được sự bất bình đẳng, cũng như các giải pháp để giải quyết vấn đề bất bình đẳng
Theo Đào Công Thiên, trong nghiên cứu “Nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự nghèo đói của các hộ ngư dân ven đầm Nha Phu, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa” [22], cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đói đó là: Tuổi, dân tộc, giới tính, học vấn, việc làm, của chủ hộ, quy mô hộ, số con, số người phụ thuộc, đất đai để sản xuất, tín dụng, … Hạn chế của nghiên cứu là chỉ mới dừng lại ở mức độ khảo sát các yếu tố ảnh hưởng của nghèo đói, chưa nêu ra được sự bất bình đẳng, cũng như các giải pháp để giải quyết vấn đề bất bình đẳng Bên cạnh đó, kết quả này được thực hiện năm 2008, với các chuẩn mực về nghèo đói đã có sự sai khác rất lớn so với qui định hiện nay
Đối với cách tiếp cận mô hình kinh tế lượng, tác giả cũng áp dụng mô hình mà ngân hàng thế giới và các nghiên cứu thực nghiệm đã áp dụng rộng rãi để đánh giá về
Trang 34vấn đề đói nghèo và bất bình đẳng cho cộng đồng ngư dân ven biển tỉnh Ninh Thuận Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu tác giả thấy một số nhược điểm như một số nghiên cứu đã xây dựng mô hình đưa quá nhiều biến không phù hợp để phân tích như:
- Số con của chủ hộ: Tác giả nhận thấy rằng số con của chủ hộ càng lớn thì quy
mô hộ càng tăng, chính vì lý do đó biến quy mô hộ sẽ giải thích thay cho biến số con của hộ
Ngoài ra một số nghiên cứu số mẫu ít, chưa đại diện cho tổng thể Mức độ giải thích của mô hình thấp (R2 nhỏ) Chuẩn nghèo mới được áp dụng không còn phù hợp Theo Trần Mai Thị Kim Hòa, trong nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến hộ nghèo sống ven đầm Thủy Triều, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa” [10], cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đói đó là: học vấn, việc làm, tuổi, giới tính, việc làm
và thu nhập của chủ hộ, tín dụng, quy mô hộ, số người phụ thuộc, số năm kinh nghiệm trong hoạt động khai thác, … Hạn chế của nghiên cứu là chỉ mới dừng lại ở mức độ khảo sát các yếu tố ảnh hưởng của nghèo đói, chưa đánh giá được sự bất bình đẳng, cũng như các giải pháp để giải quyết vấn đề bất bình đẳng
1.4.2 Tổng quan về một số công trình về bất bình đẳng
Theo nghiên cứu Nguyễn Thị Nguyệt – Bộ Kế hoạch Đầu tư – Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương: “Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động ở Việt Nam và một số gợi ý giải pháp chính sách” [3], cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới trong thu nhập đó là: tuổi, tình trạng hôn nhân, tình trạng sức khoẻ, học vấn, ngành nghề lao động, trình độ chuyên môn, tổ chức làm việc, kinh nghiệm làm việc, … Hạn chế của nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở mức độ khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng trong thu nhập chưa giải quyết được vấn đề phân phối lại thu nhập và giảm nghèo
Theo Nguyễn Đức Tâm và nhóm tác giả: “Bất bình đẳng xã hội” [20], cũng chỉ dừng lại ở mức khảo sát bất bình đẳng về quyền lực thông qua các mối quan hệ xã hội, bất bình đẳng giới, thu nhập, chưa đánh giá được các yếu tố ảnh hưởng tới bất bình đẳng bằng mô hình và chưa giải quyết được vấn đề giảm nghèo
Những đề tài và công trình nghiên cứu trên đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận, quan điểm từ những phương pháp tiếp cận và phạm vi nghiên cứu khác nhau trong việc nghiên cứu nghèo đói, nhất là tình hình nghèo đói của cộng đồng ngư dân ven biển trong thời gian qua Những nghiên cứu này đã gợi mở và xác định được một số yếu tố ảnh hưởng tới nghèo đói của các hộ ngư dân trên, xong vẫn còn những hạn chế, đặc biệt là đánh giá tình trạng bất bình đẳng là chưa nghiên cứu
Trang 35CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Qui trình nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu đề ra ở trên, qui trình nghiên cứu của đề tài được tổ chức hai giai đoạn bao gồm nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định tính bao gồm 2 nội dung cơ bản là nghiên cứu các cơ sở lý thuyết về nghèo đói và bất bình đẳng và tổng quan về các kết quả nghiên cứu trước đây nhằm hình thành khung lý thuyết và xác định mô hình nghiên cứu của đề tài Bước tiếp theo là tổ chức phỏng vấn thử tại các hộ gia đình ngư dân ven biển trên địa bàn để bước đầu nhận diện những yếu tố ảnh hưởng tới đói nghèo của các hộ ngư dân cũng như những rào cản ảnh hưởng tới việc thoát nghèo của đối tượng này Cùng với những kết quả nghiên cứu trước của các nghiên cứu khác thì việc phỏng vấn thử còn là cơ sở để xây dựng bảng câu hỏi điều tra phục vụ cho quá trình nghiên cứu định lượng tiếp theo
Nghiên cứu định lượng: Sau khi kết quả khảo sát được thu thập về với mẫu là
376, tác giả nhập liệu và phân tích thống kê mô tả, phân tích hồi quy đa biến, hồi quy binary logistic, phân tích bất bình đẳng thông qua hệ số Gini
Toàn bộ qui trình nghiên cứu này được tóm tắt trong sơ đồ 2.1
Sơ đồ 2.1 Qui trình nghiên cứu
Phỏng vấn thử N=50
Hoàn thiện bản câu hỏi sơ bộ
Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên
cứu về nghèo đói Định hướng mô hình lý
thuyết
Bản câu hỏi mẫu
Bản câu hỏi chính thức
Đề xuất các giải pháp và những gợi ý chính sách cho công tác xóa đói
giảm nghèo và bất bình đẳng trong cộng đồng ngư dân ven biển tại Ninh
Thuận
Phân tích bất bình đẳng thông qua hệ số
Gini
Trang 362.2 NGHIÊN CỨU SƠ BỘ
Mục tiêu của việc nghiên cứu sơ bộ là bước đầu nhận dạng những yếu tố nào ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của các hộ ngư dân ven biển tại các địa phương của Ninh Thuận Các câu hỏi được lựa chọn đưa vào bảng câu hỏi sơ bộ được tổng hợp từ ba nguồn: từ các nghiên cứu trước, từ ý kiến tư vấn của các chuyên gia và từ kết quả của việc phân tích phỏng vấn nhóm Các thông tin cơ bản trong bảng câu hỏi bao gồm: các đặc điểm về nhân khẩu học của chủ hộ và các thành viên trong gia đình (tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, giới tính của chủ hộ và các thông tin khác có liên quan), thu nhập từ các hoạt động kinh tế, tình hình chi tiêu của hộ gia đình, v.v
Có thể nói rằng, việc nghiên cứu sơ bộ đã bước đầu khám phá sơ bộ những đặc điểm nghèo của hộ, đồng thời nhận diện những yếu tố đặc trưng ảnh hưởng tình trạng nghèo trong các hộ gia đình ngư dân ven biển Ninh Thuận Cuối cùng là hình thành mô hình nghiên cứu sơ bộ Sau khi xây dựng thang đo nháp ban đầu, tác giả tiến hành thảo luận nhóm với các chuyên gia gồm Trưởng, Phó phòng Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn Ninh Thuận; đồng thời tham khảo ý kiến của các chuyên gia là các giảng viên có kinh nghiệm giảng dạy tại trường Đại học và được tiếp tục lấy ý kiến đóng góp
từ điều tra thí điểm có độ lớn là n = 50
Nghiên cứu sơ bộ tập trung vào 03 câu hỏi chính:
- Anh (chị) có bao nhiêu năm hoạt động trong nghề khai thác hải sản ? Nghề khai thác chính của gia đình là gì ?
- Theo quan điểm của Anh (Chị), những yếu tố nào ảnh hưởng đến nghèo đói
và bất bình đẳng của gia đình ?
- Theo Anh (Chị) yếu tố nào là quan trọng nhất, nhì, ba và không quan trọng trong các yếu tố trên ? Vì sao ?
Mục đích của bước nghiên cứu sơ bộ định lượng là nhằm đánh giá sơ bộ thang
đo trước khi tiến hành nghiên cứu chính thức Kết quả của nghiên cứu sơ bộ là cơ sở quan trọng trong việc xây dựng và thiết kế bảng câu hỏi điều tra phục vụ cho nghiên cứu tiếp theo Kết quả đưa ra được các nhân tố như sau: Học làm của người trưởng thành trong hộ; Số con của chủ hộ; Làm nông; Tuổi; Giới tính; Sức khỏe; Khoảng cách chợ; Đường giao thông; Qui mô hộ; Số năm đi chọ của người trưởng thành trong gia đình; Kinh nghiệm của chủ hộ; Công suất của tàu; Nghề lưới kéo; Số tháng khai thác; Có đất sản xuất; Có vay vốn; Làm thêm
Kết quả nghiên cứu sơ bộ được trình bày trong phần phụ lục 5
Trang 372.3 NGHIÊN CỨU CHÍNH THỨC
2.3.1 Xây dựng bảng câu hỏi chính thức
Bảng câu hỏi là một công cụ dùng để thu thập các thông tin cần thiết để giải quyết vấn đề cần nghiên cứu Từ việc nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thí điểm là
cơ sở quan trọng để xây dựng và điều chỉnh bảng câu hỏi phù hợp với mục tiêu nghiên cứu và thời gian thực hiện của đề tài
2.3.2 Chọn mẫu điều tra
Việc chọn mẫu được tiến hành để điều tra các hộ gia đình cần đảm bảo tính đại diện cho tổng thể Sau khi có thông tin thu được từ mẫu nghiên cứu sẽ suy rộng cho các đặc tính của tổng thể nghiên cứu Cụ thể, mẫu nghiên cứu trong nghiên cứu được thực hiện như sau:
- Kích thước mẫu cần thu thập
Trong phân tích thống kê kích thước mẫu cần thu thập phải đủ lớn để đạt được mục tiêu của nghiên cứu và đạt được độ tin cậy nhất định Tuy nhiên, kích thước mẫu
là bao nhiêu thì được gọi là lớn thì còn chưa được xác định rõ ràng Việc xác định kích thước mẫu tùy thuộc vào phương pháp ước lượng được sử dụng Có nhiều nhà nghiên cứu đồng ý rằng phương pháp ước lượng OLS thì số mẫu tối thiểu cho một biến cần ước lượng trong phân tích hồi qui là 10 Còn Tabachnick và Fidell thì cho rằng, số mẫu tối thiểu trong phân tích hồi qui OLS bằng 50 + 5k (với k là số biến độc lập) Tuy nhiên, xuất phát từ đặc điểm của tổng thể và kinh nghiệm nghiên cứu nhằm đảm bảo tính đại diện và nâng cao độ tin cậy trong kết quả phân tích, nghiên cứu thực hiện khảo sát 300 hộ gia đình ngư dân ven biển Ninh Thuận
- Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Chọn mẫu là quá trình chọn lựa một bộ phận tương đối nhỏ từ một tổng thể, với
tư cách là đại diện cho tổng thể nghiên cứu Do vậy, nghiên cứu đã tiến hành khảo sát các hộ ngư dân ven biển tại Ninh Thuận bằng phương pháp lấy mẫu định mức (quota sampling) Việc quyết định các tổng thể còn dựa trên tỉ lệ tổng thể tàu thuyền khai thác ven bờ của mỗi địa phương trong tỉnh Phương pháp lấy mẫu định mức này tương tự như lấy mẫu xác suất phân tầng, nhưng điểm khác biệt cơ bản là trong từng tổng thể con những hộ gia đình được chọn mẫu tại hiện trường theo cách thuận tiện và phán đoán cũng như kinh nghiệm nghiên cứu của tác giả [7] để phục vụ cho quá trình điều tra Trên cơ sở nguồn lực được phê duyệt, số lượng mẫu điều tra là 376 hộ gia đình ngư dân hoạt động khai thác hải sản tại các địa phương của Ninh Thuận Số phiếu
Trang 38khảo sát phát ra là 376 phiếu, số phiếu thu về 320 phiếu: có 56 trường hợp làm mất phiếu hoặc không chịu điền vào phiếu khảo sát Sau khi làm sạch còn lại 214 phiếu đưa vào sử dụng cho việc phân tích: có 106 phiếu không đạt do điền không đúng thông tin hoặc bị thiếu thông tin
2.3.3 Nguồn số liệu được sử dụng trong nghiên cứu
- Nguồn số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu thập từ quá trình điều tra phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình ngư dân ven biển để thu thập những thông tin về những đặc điểm kinh tế - xã hội của đối tượng này Bên cạnh đó, nghiên cứu còn sử dụng phương pháp đánh giá có sự tham gia của người dân để nhận dạng và xác định yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ
- Nguồn số liệu thứ cấp:
Số liệu thứ cấp được thu thập chủ yếu từ Cục Thống kê tỉnh Ninh Thuận, Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Ninh Thuận, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Ninh Thuận
2.3.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu
Từ cơ sở lý thuyết về nghèo đói và tổng quan về các kết quả nghiên cứu có liên quan [9], [10], [12], [22] để xây dựng mô hình nghiên cứu của đề tài như:
- Trong đề tài này tác giả cũng áp dụng hai cách tiếp cận nghèo đói đó là sử dụng các chỉ tiêu của quốc gia, chỉ tiêu quốc tế nhằm đánh giá tình hình nghèo đói chung của khu vực nghiên cứu, đồng thời sử dụng mô hình kinh tế lượng nhằm đánh giá những nhân tố tác động đến sự nghèo đói và bất bình đẳng của cộng đồng dân cư ven biển tỉnh Ninh Thuận
- Về cơ bản các đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội của cộng đồng dân cư ven biển tỉnh Ninh Thuận không khác nhiều so với các địa phương khác ở ven biển Miền Trung Việt Nam Vì vậy, trên cơ sở các nghiên cứu trước tương tự [12], [10], [22] và sau khi loại bỏ các yếu tố tác động khác cho phù với nghiên cứu, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu sự nghèo đói của của cộng đồng dân cư ven biển tỉnh Ninh Thuận như sau:
- Theo Phạm Hồng Mạnh [12], mô hình kinh tế lượng phân tích những yếu tố tác động đến nghèo đói với biến thu nhập có dạng hàm logarit Biến phụ thuộc là logarit của thu nhập bình quân đầu người, với mô hình lý thuyết tổng quát như sau:
Trang 39Ln(I) = 0 + iXi + (4) Trong đó:
I là thu nhập bình quân đầu người hàng tháng
0, i là hệ số hồi quy của mô hình
Xi là các biến độc lập (các yếu tố có ảnh hưởng đến chi tiêu bình quân)
: Sai số của mô hìnhs
2.3.5 Mô hình và những giả định các yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của cộng
đồng dân cư ven biển Ninh Thuận
Mô hình nghiên cứu nghèo đói được đề xuất cho các hộ ngư dân ven biển tại
Ninh Thuận với những yếu tố cơ bản sau:
- Biến phụ thuộc được đo trực tiếp theo thu nhập hoặc chi tiêu bình quân đầu
người/tháng
- Mô hình kinh tế lượng các yếu tố tác động tới đói nghèo của ngư dân ven biển
tại Ninh Thuận đề xuất là:
LAMTHEM SOTHAKTH
KEO NGHE
TA CSUAT KINHCHU
CH HOCVA QUIMO
GT DUONG CHO
KC SUCKHOE
GIOITINH TUOI
I
LN
14 13
12 11
10 9
8 7
6
5 4
3 2
1 0
_ _
_
_ _
)
(
Trong đó:
ε : là sai số ngẫu nhiên của hàm hồi qui tổng thể
I: là biến phụ thuộc thể hiện thu nhập bình quân đầu người/ thu nhập hàng tháng
TUOI: Biến số tuổi tính từ năm sinh của chủ hộ Kỳ vọng mang dấu dương (+)
Cũng theo kết quả điều tra mức sống dân cư và kết quả của các công trình nghiên cứu
nghèo đói khác [12], cho rằng tuổi của chủ hộ sẽ đồng biến với kinh nghiệm trong hoạt
động sản xuất nghề khai thác và tác động tích cực đến thu nhập, từ đó giảm thiểu khả
năng rơi vào ngưỡng nghèo của hộ Trong nghiên cứu, biến số này được giả định là
tuổi của chủ hộ có quan hệ thuận chiều với khả năng rơi vào ngưỡng nghèo
GIOITINH: biến độc lập, biến giả, nhận giá trị 1 nếu chủ hộ thuộc nam giới,
nhận giá trị 0 cho trường hợp chủ hộ thuộc nữ giới, kỳ vọng dấu hệ số hồi quy
(-) Do đặc tính nghề nghiệp khai thác thủy sản nên thường phù hợp với lao động nam
hơn, vì vậy chúng tôi kỳ vọng nếu các yếu tố khác không đổi nếu chuyển từ chủ hộ là
nữ sang chủ hộ nam sẽ làm giảm xác suất nghèo của hộ
SUCKHOE: biến độc lập, biến giả, nhận giá trị 1 nếu chủ hộ có sức khỏe bình
thường và tốt, có đủ sức khỏe tham gia lao động tạo ra thu nhập, nhận giá trị 0 nếu
Trang 40bệnh tật, già yếu, không có khả năng sức khỏe tham gia lao động tạo ra thu nhập Kỳ vọng mang dấu dương (+) Qua điều tra những hộ ngư dân sông ven biển tỉnh Ninh Thuận, những chủ hộ sức khỏe tốt thì khả năng có thu nhập cao hơn những hộ sức khỏe không tốt Trong nghiên cứu, biến số này được giả định là sức khỏe của chủ hộ
có quan hệ thuận chiều với khả năng rơi vào ngưỡng nghèo
KC_CHO: biến số khoảng cách chợ là biến số khoảng cách tính từ nhà chủ hộ đến trung tâm chợ Kỳ vọng mang dấu (+) Hộ gia đình có khoảng cách gần chờ thường thuận tiện trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, giảm bớt chi phí đi lại Trong nghiên cứu, biến số này được giả định là khoảng cách từ nhà của chủ hộ đến trung tâm chợ có quan hệ ngược chiều với khả năng rơi vào ngưỡng nghèo
DUONG_GT: biến độc lập, biến giả, nhận giá trị 1 nếu là đường đất (loại đường giao thông thuận tiện cho lưu thông xe lớn) và nhận giá trị là 0 nếu là các loại đường khác (loại đường giao thông không thuận lợi cho lưu thông các loại xe lớn), kỳ vọng dấu hệ số hồi quy (-) Tiếp cận hạ tầng cơ sở thiết yếu là đường giao thông đã góp phần rất lớn trong việc giảm nghèo Nghiên cứu giả định hộ gia đình tiếp cận dễ dàng các hạ tầng cơ sở thiết yếu trên sẽ có xác xuất rơi vào nghèo đói thấp hơn so với các hộ khác
QUYMO: Biến thể hiện số người sống trong một hộ, không tính đến người làm thuê và ở nhờ Kỳ vọng mang dấu (-) Theo điều tra mức sống dân cư của Tổng cục thống kê phối hợp với UNDP cho chúng ta bằng chứng là tại mức thu nhập thấp của
hộ gia đình điều tra thì qui mô hộ thường cao hơn các mức thu nhập khác, ngoài ra trong hộ gia đình có nhiều thành viên cho dù đến độ tuổi lao động nhưng do trước đó các thành viên này thiếu tiếp cận với các dịch vụ giáo dục, y tế nên khả năng tiếp cận thị trường lao động yếu Chúng tôi giả định rằng qui mô hộ có mối quan hệ đồng biến với xác suất rơi vào ngưỡng nghèo
HOCVA_CH: thể hiện số năm đi học trung bình của những người trưởng thành trong gia đình, kỳ vọng mang dấu dương (+) Hộ gia đình nghèo thường không có điều kiện cho con theo học ở các bậc học cao Khi trình độ học vấn của các thành viên trong gia đình càng cao càng có khả năng tiếp cận với công nghệ, kỹ thuật trong sản xuất, tiếp cận với thị trường lao động và nâng cao cơ hội cải thiện thu nhập Do đó kỳ vọng nếu các yếu tố khác không đổi, việc tăng thêm 1 đơn vị của biến này sẽ làm giảm xác suất rơi vào tình trạng nghèo của hộ