1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích hiệu quả kinh tế nghề câu xa bờ tại khánh hòa

96 416 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 2,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các thông tin thu thập bao gồm: đặc điểm hoạt động đánh bắt số chuyến, số tháng, số ngày hoạt động trong năm, số thuyền viên, số lưỡi câu sử dụng trong một chuyến, ngư trường và đặc điểm

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

PHAN THỊ THANH THỦY

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ NGHỀ CÂU XA BỜ TẠI KHÁNH HÒA

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Khánh Hòa, năm 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

PHAN THỊ THANH THỦY

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ NGHỀ CÂU XA BỜ TẠI KHÁNH HÒA

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS LÊ KIM LONG

Khánh Hòa, năm 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

tài liệu, thực hiện điều tra khảo sát thực tế tại Nha Trang, Khánh Hoà thời điểm năm 2012/2013 Số liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, được xử lý theo phương pháp khoa học và đảm bảo độ tin cậy

Kết quả nghiên cứu của luận văn là mới, không trùng lặp với bất kỳ luận án bảo

vệ học vị nào đã có trước đây

Nha Trang, ngày 01 tháng 11 năm 2014

Tác giả

Phan Thị Thanh Thuỷ

LỜI CẢM ƠN

Trang 4

Trong suốt quá trình làm đề tài tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất lớn từ thầy cô, người thân và bạn bè

Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn đến TS Lê Kim Long và Th.s Nguyễn Ngọc Duy đã nhiệt tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô của trường Đại học Nha Trang đã trang bị cho chúng rôi những kiến thức, kỹ năng cần thiết trong suốt khóa học để hoàn thành nội dung chương trình học tại trường

Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến ban lãnh đạo, các anh chị trong Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã cho tôi những thông tin quý báu và những góp ý giúp tôi hoàn thành đề tài này

Bên cạnh đó, tôi cũng muốn cảm ơn đến những ngư dân và các anh chị làm việc tại Ban quản lý cảng Hòn Rớ đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc điều tra khảo sát Nếu không có sự giúp đỡ đó tôi không thể nào hoàn thành công việc của mình

Và cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã ủng hộ và động viên tôi trong suốt quá trình học và hoàn thành đề tài

Nha Trang, ngày 01 tháng 11 năm 2014

Học viên

Phan Thị Thanh Thuỷ

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG BIỂU vi

DANH MỤC HÌNH vii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ viii

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 3

5 Phương pháp thu thập số liệu 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THUỶ SẢN 5

1.1 Khái niệm kết quả và hiệu quả kinh tế của hoạt động khai thác hải sản 5

1.2 Lý thuyết doanh thu - chi phí theo quan điểm kinh tế và quản lý nghề cá: Mô hình Gorden- Shaefer .6

1.3 Lý thuyết hành vi kinh tế của tàu đánh bắt trong nghề cá tiếp cận mở (tham khảo Flaaten, 2010) 9

1.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 13

1.5 Tình hình các nghiên cứu trong nước và ngoài nước về hiệu quả kinh tế ngành thủy sản 19

1.5.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 19

1.5.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 22

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHỀ CÂU XA BỜ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

A Tổng quan nghề câu xa bờ 25

2.1 Tình hình khai thác nghề câu xa bờ của một số nước trên thế giới 25

2.2 Tình hình phát triển nghề câu xa bờ ở Việt Nam 28

2.3 Đặc điểm ảnh hưởng tới nghề câu xa bờ tại tỉnh Khánh Hoà 29

Trang 6

2.3.1 Điều kiện tự nhiên 29

2.3.2 Điều kiện xã hội 31

2.3.3 Đặc thù khai thác của Khánh Hoà 32

2.4 Đặc điểm hoạt động đánh bắt của nghề câu xa bờ tại Khánh Hoà 32

2.4.1 Đặc điểm ngư trường đánh bắt 33

2.4.2 Đặc điểm nghề câu xa bờ (nghề câu tay cá ngừ kết hợp ánh sáng) 33

2.4.3 Đối tượng đánh bắt 36

2.4.4 Sản lượng khai thác 38

2.5 Tiềm năng phát triển của ngành thuỷ sản ở tỉnh Khánh Hoà 39

B Phương pháp nghiên cứu 40

2.6 Phương pháp thu thập số liệu 40

2.6.1 Phương pháp thứ cấp 40

2.6.2 Phương pháp sơ cấp 40

2.7 Phương pháp xử lý số liệu 43

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44

3.1 Hiện trạng khai thác nghề câu xa bờ tại Nha Trang, Khánh Hoà 44

3.1.1 Giới thiệu về địa bàn điều tra 44

3.1.2 Cơ cấu độ tuổi 45

3.1.3 Trình độ văn hoá và kinh nghiệm khai thác 46

3.2 Phân tích kết quả của nghề câu xa bờ 47

3.3 Vốn đầu tư 48

3.4 Chi phí 49

3.4.1 Chi phí biến đổi 49

3.4.2 Chi phí hoạt động cố định 51

3.4.3 Chi phí khấu hao 53

3.4.4 Chi phí lãi vay 54

3.5 Phân phối tiền lương 55

3.6 Đánh giá kết quả và hiệu quả của nghề câu xa bờ tại Khánh Hòa 55

3.6.1 Đánh giá kết quả và hiệu quả trên doanh thực tế (chưa tính đến hỗ trợ của Chính phủ) 55

3.6.2 Đánh giá kết quả và hiệu quả trên doanh thu bao gồm hỗ trợ dầu của Chính phủ. 59

Trang 7

3.7 Đánh giá hiệu quả kinh tế của nghề câu thông qua chỉ tiêu hiệu quả sử dụng

cường lực khai thác quy đổi trong nghề khai thác thuỷ sản .60

3.7.1 Mô tả tổng quát về dữ liệu ước lượng hàm sản xuất 60

3.7.2 Kết quả ước lượng mô hình 60

3.7.3 Ước lượng sản lượng đánh bắt từ mô hình 62

3.7.4 Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng cường lực đánh bắt quy đổi trong nghề khai thác thủy sản 63

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 69

4.1 Kết luận 69

4.2 Hạn chế của đề tài 69

4.3 Hướng mở của đề tài 70

4.4 Khuyến nghị 70

4.4.1 Định hướng công suất đóng mới tàu thuyền, đầu tư các thiết bị khai thác đối với nghề câu xa bờ. 70

4.4.2 Ổn định đối ngũ thuyền viên và nâng cao trình độ cho thuyền trưởng 70

4.4.3 Tổ chức sản xuất theo đội hình tàu 71

4.4.4 Tạo việc làm thêm cho các hộ ngư dân 73

4.4.5 Một số khuyến nghị khác 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 2.1: Tổng sản lượng khai thác cá ngừ hang năm theo loại nghề hoạt động tại

Nhật Bản từ năm 1960 - 2010 26

Bảng 2.2: Đối tượng đánh bắt của nghề câu xa bờ tại Khánh Hoà 36

Bảng 2.3: Sản lượng khai thác của nghề câu xa bờ tại Khánh Hoà năm 2013 38

Bảng 2.4: Số lượng tàu đánh bắt xa bờ tại Nha Trang năm 2013 42

Bảng 3.1 Cơ cấu độ tuổi chủ tàu khai thác nghề câu tại Nha Trang 45

Bảng 3.2 Bảng thống kê trình độ học vấn của chủ tàu và thuyền trưởng 46

Bảng 3.3 Bảng thống kê số năm kinh nghiệm của chủ tàu 47

Bảng 3.4: Sự phân bố tàu theo nghề và công suất tại Khánh Hòa năm 2013 47

Bảng 3.5 Bảng cơ cấu vốn đầu tư của đội tàu nghề câu xa bờ 48

Bảng 3.6: Chi phí biến đổi bình quân một chuyến biển của đội tàu nghề câu xa bờ tại Nha Trang, Khánh Hoà năm 2013 49

Bảng 3.7: Chi phí sửa chữa lớn trong năm của đội tàu nghề câu xa bờ 51

Bảng 3.8: Chi phí bảo hiểm, phí, lệ phí của đội tàu nghề câu xa bờ 52

Bảng 3.9 Cơ cấu chi phí hoạt động cố định 52

Bảng 3.10 Chi phí khấu hao của nghề câu xa bờ tại Nha Trang 53

Bảng 3.11 Chi phí lãi vay của đội tàu nghề câu xa bờ 54

Bảng 3.12: Doanh thu và lợi nhuận của đội tàu khai thác nghề câu xa bờ tại Khánh Hoà năm 2012/2013 56

Bảng 3.13: Kết quả và hiệu quả hoạt động đánh bắt của đội tàu khai thác nghề câu xa bờ tại Khánh Hoà năm 2012/2013 58

Bảng 3.14: Kết quả và hiệu quả hoạt động đánh bắt của đội tàu khai thác nghề câu xa bờ tại Khánh Hoà năm 2012/2013 59

Bảng 3.15 Mô tả tổng quát dữ liệu 60

Bảng 3.16 Sơ lược mô hình 60

Bảng 3.17 Phân tích ANOVA 61

Bảng 3.18: Kết quả ước lượng hàm sản xuất đối với nghề câu xa bờ tại Nha Trang, Khánh Hoà năm 2012/2013 61

Bảng 3.19 Thống kê sản lượng theo mô hình hồi quy 62

Bảng 3.20 Đánh giá hiệu quả kinh tế thông qua chỉ tiêu hiệu quả sử dụng cường lực đánh bắt quy đổi 63

Trang 9

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ

Trang

Hình 1.1 Mô hình Gorden-Shaefer với giá cố định 6

Hình 1.2 Mô hình Gorden-Shaefer với giá thay đổi 7

Hình 1.3 Hành vị điều chỉnh quy mô nỗ lực trong ngắn hạn của hai tàu với cơ cấu vốn, giá sản phẩm, trữ lượng đánh bắt và mức trữ lượng cho trước 10

Hình 1.4 Hành vi điều chỉnh quy mô nỗ lực trong dài hạn của hai tàu với cơ cấu vốn, giá sản phẩm, khả năng đánh bắt và mức trữ lượng cho trước .12

Hình 1.5 Mô hình tổng quát mối quan hệ của các nhân tố tác động đến kết quả kinh tế hoạt động khai thác hải sản 16

Hình 1.6 Mô hình mối quan hệ của các nhân tố tác động đến kết quả kinh tế hoạt động khai thác hải sản 17

Hình 2.1 Biển Khánh Hoà 29

Hình 2.2 Thông tin về tình hình thời tiết năm 2013 tại Khánh Hoà 31

Hình 2.3 Bản đồ phân bố ngư trường cá ngừ đại dương ở vùng biển Việt Nam 33

Hình 2.4: Quy trình khai thác cá ngừ bằng nghề câu tay kết hợp ánh sáng 34

Hình 2.5 Cá ngừ vây vàng (Thunnus albacores) 37

Hình 2.6 Cá ngừ mắt to (Thunnus obesus) 38

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ

Trang

Biểu đồ 3.1 Cơ cấu độ tuổi chủ tàu khai thác nghề câu tại Nha Trang 46 Biểu đồ 3.2: Cơ cấu vốn đầu tư của nghề câu xa bờ tại Khánh Hoà 49 Biểu đồ 3.3: Chi phí biến đổi bình quân 50 Biểu đồ 3.4 Cơ cấu chi phí khấu hao tàu khai thác nghề câu xa bờ tại Khánh Hoà 54

Đồ thi 3.5 Sản lượng đánh bắt ước lượng được từ mô hình hồi quy (3.11) 62

Đồ thị 3.6 Sản lượng đánh bắt ước lượng được từ mô hình hồi quy (3.11) sắp xếp từ

mức thấp nhất đến cao nhất 63

Đồ thị 3.7: Mối tương quan giữa cường lực đánh bắt quy đổi (ki) và hiệu quả sử dụng

cường lực đánh bắt quy đổi trong nghề (trong ngắn hạn) 65

Đồ thị 3.8: Mối tương quan giữa cường lực đánh bắt quy đổi (ki) và hiệu quả sử dụng

cường lực đánh bắt quy đổi trong nghề (trong dài hạn) 67

Trang 11

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nước ta với hệ thống sông ngòi dày đặc và có đường biển kéo dài hơn 3.260km nên rất thuận lợi cho sự phát triển hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản Trong năm 2012, sản lượng khai thác tăng mạnh 10,6% so với năm 2011, chủ yếu do sản lượng đánh bắt cá ngừ đại dương bằng đèn cao áp, nâng công suất lên gấp đôi và giảm thời gian đi biển 15 – 30% Sản lượng thủy sản Việt Nam đã duy trì tăng trưởng liên tục trong 17 năm qua với mức tăng bình quân là 9,07%/năm Trong đó sản lượng khai thác tăng gần 5%/năm, đạt khoảng 2.414,4 nghìn tấn trong năm 2010 Sản lượng khai thác biển chiếm khoảng 90% (2.220 nghìn tấn) trong tổng sản lượng đánh bắt, trong đó sản lượng cá biển chiếm hơn 75% (1.594,7 nghìn tấn) trong sản lượng khai thác biển Khánh Hòa với thế mạnh 385 km bờ biển kéo dài từ xã Đại Lãnh tới cuối Cam Ranh cùng với sáu đầm và vịnh lớn là một trong những địa phương phát triển các ngành nghề khai thác trên biển Hàng năm sản lượng khai thác biển tăng bình quân 1,3%/ năm từ năm 2001 đến 2009 và chiếm 73% - 88% tổng sản lượng thủy sản của cả tỉnh, trong đó sản lượng cá biển luôn chiếm hơn 90% (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Khánh Hoà, 2009) Năm 2009, sản lượng khai thác của Khánh Hòa khoảng 72.301 tấn và tạo việc làm cho hơn 31.000 lao động (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Khánh Hoà, 2009) Số lượng tàu cá của toàn tỉnh tăng từ 4.812 chiếc lên 12.802 chiếc (15%/năm) trong giai đoạn 2001 -2009 và công suất máy tăng khoảng 18%/năm (Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản Khánh Hoà, 2009) Năng suất khai thác của đội tàu đánh bắt ở Khánh Hòa giảm từ 2001 đến 2009 với tốc độ giảm bình quân của năng suất/ tàu là 9,4%/năm và năng suất/ mã lực khoảng 12%/năm Năm 2009, sản lượng đánh bắt bình quân đạt 5.56 tấn/ tàu, tương ứng với 0,195 tấn/ 1 đơn vị công suất (CV) Nhìn chung 8 tháng đầu năm 2013, sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 1,728 triệu tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm 2012, trong đó khai thác biển 8 tháng ước đạt 1,611 triệu tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2012 Hiện nay ở Việt Nam nói chung và Khánh Hòa nói riêng hoạt động khai thác chủ yếu là hình thức đánh bắt quy mô nhỏ trong vòng 3 – 10 hải lý tính từ đất liền, sử dụng tàu cá dưới 20 CV Mặc dù có nhiều lợi thế và đạt được những thành quả to lớn nhưng ngành khai thác thủy sản biển của Khánh Hòa đang phải đối mặt với nhiều thách thức

Trang 12

lớn khi sản lượng khai thác ngày càng cạn kiệt trong khi số lượng tàu thuyền và công suất khai thác ngày càng tăng Một nguyên nhân chủ yếu đó là việc khai thác nguồn lợi thủy sản ven bờ thiếu kiểm soát chặt chẽ đang khiến nguồn lợi này dần cạn kiệt, một

số loài đã trở nên khan hiếm Với cường độ khai thác như hiện nay thì khả năng tái tạo của nguồn lợi biển là rất khó khăn và đang đe dọa kế sinh nhai của cộng đồng ngư dân khai thác thủy sản ven bở trong tỉnh Chính vì thế, hiện nay Chính phủ đang ngày càng khuyến khích phát triển các ngành nghề xa bờ

Trong những năm gần đây có một số nghiên cứu đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế và kỹ thuật của một số nghề khai thác ở Khánh Hòa Nguyễn Tuấn (2004) và Duy và ctv (2012) đánh giá hiệu quả kinh tế của nghề lưới rê xa bờ; Long và ctv (2008) nghiên cứu về kết quả kinh tế và các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu và thu nhập của nghề câu xa bờ Đối với khai thác ven bờ, nghiên cứu của Phạm Thị Thanh Thủy (2007) và Hoa (2012) điều tra về doanh thu và chi phí nghề lưới vây, trong khi

đó Hao (2012) đánh giá hiệu quả kinh tế của nghề lưới kéo FAO (2005) cho rằng các nghiên cứu đánh giá về hiệu quả kinh tế và kỹ thuật của các đội tàu cần thiết phải được thực hiện liên tục qua thời gian để cung cấp đầy đủ và chính xác bằng chứng khoa học thực nghiệm giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra quyết định đúng đắn cho việc quản lý nghề cá Cho nên việc hoạt động điều tra và đánh giá các thông tin kinh tế cho các nghề khai thác thủy sản là quan trọng cho Việt Nam nói chung và Khánh Hòa nói

riêng Chính vì vậy, tôi thực hiện đề tài “Phân tích hiệu quả kinh tế nghề câu xa bờ

tại Khánh Hòa”

Đề tài này trọng tâm nghiên cứu về hiệu quả kinh tế của nghề câu xa bờ ở Khánh Hòa Nghề câu xa bờ được chọn là đối tượng nghiên cứu bởi đây là nghề có số lượng tàu đánh bắt xa bờ với công suất lớn trên 90CV chiếm tỷ trọng hơn 15% tại tỉnh Khánh Hoà Nghề khai thác này là phương kế sinh nhai quan trọng của cộng đồng dân cư khai thác thủy sản ven bờ trong tỉnh và tạo việc làm cho hàng vạn lao động Kết quả nghiên cứu được kỳ vọng sẽ giúp ngư dân có chiến lược đánh bắt hiệu quả và cung cấp căn cứ cho các nhà hoạch định chính sách và quản lý thủy sản

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Điều tra, phân tích kết quả khai thác của nghề câu xa bờ tại Khánh Hòa và đề xuất những khuyến nghị nhằm phát triển bền vững nghề này trong tương lai

Trang 13

2.2 Mục tiêu cụ thể

Đề tài sẽ trọng tâm vào trả lời những mục tiêu nghiên cứu sau:

+ Đo lường, phân tích kết quả và hiệu quả kinh tế của đội tàu câu xa bờ theo cách tiếp cận doanh thu – chi phí

+ Phân tích hiệu quả kinh tế của nghề câu thông qua chỉ tiêu hiệu quả sử dụng cường lực khai thác quy đổi trong nghề khai thác thuỷ sản

+ Đề xuất những khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả đánh bắt và hoạch định chính sách quản lý, phát triển bền vững nghề khai thác câu xa bờ ở Khánh Hòa

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Là hiệu quả kinh tế nghề câu xa bờ tại Khánh Hòa

- Phạm vi nghiên cứu: Các tàu hoạt động nghề câu xa bờ tại Khánh Hòa trong

năm 2012 và 2013

4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nghiên cứu sử dụng mô hình lý thuyết kinh tế học nghề cá – Mô hình

Gorden- Shaefer để hiểu được mối quan hệ giữa doanh thu, chi phí & cường lực khai thác trong ngành khai thác thủy sản (tham khảo từ Flaaten, 2010)

4.2 Lý thuyết hành vi kinh tế của tàu đánh bắt trong nghề cá tiếp cận mở (tham

khảo Flaaten, 2010): nhằm giải thích hành vi đầu tư cường lực khai thác của chủ tàu và các tàu có hiệu quả kinh tế khác nhau như thế nào trong nghề cá tiếp cận mở

4.3 Nghiên cứu sử dụng các chỉ số để đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế

tham khảo từ Long và ctv (2008) và Duy và ctv (2012)

4.4 Nghiên cứu sử dụng hàm sản xuất để đánh giá các nhân tố đầu vào ảnh

hưởng đến hiệu quả khai thác của đội tàu Sau đó, tính toán và phân tích chỉ tiêu hiệu quả sử dụng cường lực khai thác quy đổi trong nghề khai thác thuỷ sản

5 Phương pháp thu thập số liệu

Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu điều tra đối với các ngư dân khai thác nghề câu xa bờ Số liệu thu cho mùa vụ năm 2012/2013 Các thông tin thu thập bao gồm: đặc điểm hoạt động đánh bắt (số chuyến, số tháng, số ngày hoạt động trong năm, số thuyền viên, số lưỡi câu sử dụng trong một chuyến, ngư trường) và đặc điểm kỹ thuật của tàu (chiều dài, công suất tàu); dữ liệu về chi phí biến đổi bình quân cho 1 chuyến đi biển; các chi phí đầu tư cho tàu và ngư cụ, chi phí sửa chữa và lãi vay; thông tin sản lượng khai thác và giá bán bình quân, doanh thu; các thông tin về

Trang 14

đặc điểm hoạt động tiêu thụ đầu ra (nơi bán, người mua, cơ cấu sản lượng của người mua và giá bán, hình thức bán, phương thức giao dịch, trao đổi, tiếp cận thông tin thị trường và phương thức thanh toán…); thông tin bảo quản chất lượng sản phẩm và ghi chép nhật kí khai thác và các thông tin khác

6 Ý nghĩa nghiên cứu

Đề tài góp phần đưa ra một bức tranh cụ thể về thực trạng nghề câu xa bờ tại tỉnh Khánh Hòa nhằm xác định được nhóm tàu nào đạt hiệu quả kinh tế cao nhất; đánh giá được các yếu tố đầu vào ảnh hưởng đến hiệu quả đánh bắt của tàu Từ đó làm cơ sở khoa học giúp ngư dân có thể tham khảo để điều chỉnh sản xuất, góp phần trong công tác quy hoạch phát triển bền vững nghề câu xa bờ

Đề tài góp phần bổ sung vào bộ dữ liệu thống kê về hoạt động khai thác của nghề câu xa bờ tỉnh Khánh Hòa

Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng có thể là tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu tiếp theo về khai thác hải sản và cho các nghiên cứu khác có liên quan đến kinh tế thủy sản ở Khánh Hòa nói riêng và Việt Nam nói chung

7 Kết cấu của đề tài:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, các danh mục và tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh tế hoạt động khai thác thuỷ sản

Chương 2: Tổng quan nghề câu xa bờ tại Khánh Hoà và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 4: Kết luận và khuyến nghị

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ

HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THUỶ SẢN

1.1 Khái niệm kết quả và hiệu quả kinh tế của hoạt động khai thác hải sản

Mục đích của sản xuất là thoả mãn tốt nhất các nhu cầu vật chất và tinh thần cho con người và cho xã hội Mục đích đó được thực hiện khi nền sản xuất xã hội tạo ra những kết quả hữu ích ngày càng cao cho xã hội, sản xuất đạt mục tiêu về kết quả kinh

tế khi có một khối lượng nguồn lực nhất định tạo ra khối lượng hữu ích ngày càng lớn

Từ kết quả đó chúng ta đánh giá được hiệu quả của hoạt động kinh tế được xác định

bở tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó

Kết quả kinh tế của hoạt động khai thác hải sản là sự khác biệt giữa kết quả thu được là doanh thu và những chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó như: chi phí khấu hao của giá trị đầu tư (đầu tư cho tàu, ngư cụ và trang thiết bị), chi phí nhiên liệu, chi phí tiền lương thủy thủ, chi phí bảo quản, chi phí lương thực thực phẩm, chi phí sửa chữa nhỏ, chi phí sửa chữa lớn, chi phí bảo hiểm, chi phí thuế, chi phí lãi vay

“Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định Hiệu quả kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế Như vậy hiệu quả kinh tế liên quan trực tiếp đến các yếu tố đầu vào và việc sử dụng nó tạo ra các yếu tố đầu ra của quá trình sản

xuất (Trương Hòa Bình và Võ Thị Tuyết, 2010)

Bản chất của hiệu quả kinh tế là xác định trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào để tạo ra các kết quả đạt được trong điều kiện nguồn tài nguyên hữu hạn nhằm đạt được lợi nhuận cao trong quá trình sản xuất Đó chính là hiệu quả của lao động sản xuất, được xác định thông qua các đại lượng được đo lường bằng hiện vật hay giá trị

Trong lĩnh vực khai thác hải sản, xác định hiệu quả là việc xác định những kết quả đạt được trong quá trình khai thác và các yếu tố đầu vào đã bỏ ra Hiệu quả kinh tế sẽ vận dụng những tương quan so sánh giữa giá trị kết quả đạt được và chi phí yếu tố đầu vào (Duy, 2010) Chi phí các yếu tố đầu vào cụ thể của hoạt động khai thác có thể là: vốn đầu tư cho tàu (bao gồm vỏ tàu và máy tàu), vốn đầu tư cho ngư cụ, vốn đầu tư trang thiết bị trên tàu, nhiên liệu, các chất bảo quản sản phẩm sau khai thác (đá cây, muối), lương thực thực phẩm phục vụ ăn uống và sinh hoạt của thủy thủ, lương của

Trang 16

thủy thủ và vốn bằng tiền khác (dùng để sửa chữa tàu, đóng bảo hiểm, nộp thuế nhà nước, trả lãi vay và các chi phí khác) Giá trị kết quả hoạt động đánh bắt đạt được là doanh thu và một số chỉ tiêu lợi nhuận khác Đối với hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào (còn gọi hiệu quả kỹ thuật, technical efficiency) đó là mối quan hệ giữa các yếu đầu vào đã sử dụng hoạt động đánh bắt (có thể đo lường bằng vật chất hoặc giá trị) và kết quả đạt được bằng sản lượng cá khai thác được

1.2 Lý thuyết doanh thu - chi phí theo quan điểm kinh tế và quản lý nghề cá: Mô hình Gorden- Shaefer

Một hoạt động kinh tế, được duy trì trong dài hạn khi doanh thu bù đắp được chi phí bỏ ra Khoản mục chi phí không chỉ bao gồm chi phí của các yếu tố đầu vào mua được mà còn chi phí do người chủ lao động bỏ ra như chi phí khấu hao, lãi suất vốn và kể cả chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn (doanh thu kiếm được từ những hoạt động khác) Theo Flaaten (2010) nếu không có quy định nào hạn chế người dân tham gia đánh bắt và không có tác động ngoại ứng nào (còn gọi bằng thuật ngữ là “nghề cá tiếp cận mở”), hoạt động kinh tế trong dài hạn của ngành sẽ có xu hướng đạt đến trạng thái cân bằng khi lợi nhuận biên của ngành bằng không

Hình 1.1 Mô hình Gorden-Shaefer với giá cố định

Nguồn: Tham khảo từ Duy (2010)

Trang 17

Mô hình Gorden- Shaefer ở hình 1.1 trình bày mối quan hệ giữa doanh thu, chi phí với cường lực khai thác Mối quan hệ chi phí-cường lực (TC) là một đường đường thẳng bởi vì chi phí cho một đơn vị được giả sử là không đổi, do đó tổng chi phí (bao gồm chi phí sử dụng nguồn lợi) tương ứng tỷ lệ với cường lực Mối quan hệ doanh thu-cường lực (TR) có dạng hình parabol dựa vào mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng trữ lượng và trữ lượng cá (xem Flaaten (2010)) Hình 1.1 cho thấy rằng, khi chưa có hoạt động đánh bắt, nếu cường lực tăng sẽ làm cho doanh thu khai thác tăng nhưng với một tỷ lệ giảm Điểm MSY (sản lượng bền vững) tối đa- Maximum Sustainable Yield) được xem như là ngưỡng tới hạn mà nếu tiếp tục tăng cường lực khai thác thì doanh thu sẽ giảm vì trữ lượng được xem đã bị khai thác quá mức (overfishing) Điểm MSY được xem là điểm mà tại đó sản lượng bền vững tối đa, nghĩa là sản lượng tối đa được duy trì trong dài hạn với trữ lượng ổn định và mức cường lực khai thác không đổi

Hình 1.2 Mô hình Gorden-Shaefer với giá thay đổi

Nguồn: Tham khảo từ Duy (2010)

Tuy nhiên, hoạt động đánh bắt lại có những điểm khác biệt Một trong những yếu tố đầu vào tham gia vào hoạt động này là trữ lượng cá Trong khi đối với xã hội, trữ lượng là khan hiếm thì đối với ngư dân nó được xem là một loại hàng hóa miễn

Trang 18

phí Mối quan tâm của xã hội hiện nay là làm thế nào để tiết kiệm được nguồn lợi, cũng như tiết kiệm các loại nguồn lợi khan hiếm khác Đối với xã hội, nguồn lợi thủy sản là khan hiếm và việc sử dụng nó phải trả phí gọi là chi phí xã hội (chi phí sử dụng vốn nguồn lực tài nguyên) Đối với từng cá nhân người dân, nguồn lợi cá biển là dồi dào và việc sử dụng nó không mất phí

Vì vậy, tổng chi phí khai thác của người dân thấp hơn so với tổng chi phí khai thác của xã hội và do đó hoạt động khai thác có khả năng vượt trên mức mà xã hội nên thực hiện Cá nhân người ngư dân có thể sẽ gia tăng cường lực khai thác để tìm kiếm tối đa hóa lợi nhuận của mình, trong khi trên khía cạnh xã hội lại lâm vào tình trạng tổn thất gia tăng khi hoạt động khai thác mở rộng Vì thế, tổng chi phí khai thác tăng Nếu số lượng tàu tham gia đánh bắt vẫn tăng lên, có thể xảy ra trạng thái cân bằng lợi nhuận bằng không Một số ngư dân có hiệu quả khai thác cao vẫn có thể bù đắp được mọi chi phí, bao gồm cả chi phí cơ hội, nhưng xét trên toàn xã hội thì không Vì xã hội phải chịu lỗ ròng do bù dắp chi phí sử dụng nguồn lợi, một nguồn lợi đang bị khan hiếm và cũng đáng giá như lao động và vốn

Nếu xã hội đánh thuế người ngư dân khi họ sử dụng nguồn lợi thì khi đó tổng chi phí khai thác sẽ tăng trên mức hiện tại Chi phí khai thác càng cao làm cho một số ngư dân hoạt động đánh bắt không có lợi nhuận, do đó sẽ giảm cường lực khai thác xuống mức mà tại đó có thể tối đa hóa lợi nhuận ròng Khi cường lực khai thác thấp hơn, nghĩa là thời gian khai thác thấp hơn, ít tàu tham gia đánh bắt hơn, thậm chí ít người làm việc trên biển hơn Tuy nhiên, trong một đất nước dư thừa lao động bởi phát triển kinh tế chung, không giải quyết được lao động dư dôi ra khi ngư dân bỏ nghề thì đây chính là một cản trở lớn

Do đó, để đưa ra những chính sách có ý nghĩa cần xác định lợi nhuận cá nhân và lợi nhuận xã hội bằng cách tính toán và so sánh chi phí và doanh thu Để làm được điều này cần phải nghiên cứu nhiều năm để tìm ra khuynh hướng lợi nhuận, xu hướng này không chỉ thể hiện khả năng sinh lợi mà còn thể hiện tính ổn định chắc chắn của nghề Lợi nhuận khác nhau tương ứng sẽ có những chính sách khác nhau Lợi nhuận tăng đòi hỏi phải kiểm soát nghề cá đang mở rộng Lợi nhuận giảm cần có sự can thiệp của chính phủ nhằm hạn chế số lượng tàu bè gia nhập ngành Lợi nhuận bằng không đòi hỏi giảm cường lực khai thác trong khi lợi nhuận âm cần khuyến khích thay đổi hoặc sự trợ giúp tái thiết lập lại của những ngư dân làm ăn có lãi cuối cùng, biên dao

Trang 19

động lợi nhuận rộng đòi hỏi cần có một chính sách ổn định có thể mở rộng hoặc thắt chặt hoạt động của nghề khi cần thiết

Xét trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, vì hạn chế về thời gian chi phí, đề tài không thể đi sâu thu thập dữ liệu trong nhiều năm mà chỉ có thể nghiên cứu trong một năm cụ thể với doanh thu và chi phí khai thác trung bình

1.3 Lý thuyết hành vi kinh tế của tàu đánh bắt trong nghề cá tiếp cận mở (tham khảo Flaaten, 2010)

Khi sản lượng đánh bắt của một tàu là nhỏ tương đối so với quy mô nguồn lợi, chúng ta giả định rằng chủ tàu sẽ đánh bắt nguồn lợi không đổi trong ngắn hạn và nguồn lợi sẽ không bị ảnh hưởng bởi sản lượng đánh bắt của một tàu Điều này cũng

có nghĩa là giá cả thị trường của cá (xét trên quan điểm của chủ tàu) không bị ảnh hưởng bởi sản lượng của mỗi tàu khi cập bến Vì vậy, để phân tích một sự mô phỏng của mỗi tàu, hoạt động đánh bắt của mỗi tàu riêng lẻ không ảnh hưởng đến mức độ nguồn lợi và giá cả thị trường Do đó, có thể là hợp lý khi giả định rằng nguồn lợi và giá cá không bị ảnh hưởng bởi sản lượng đánh bắt của tàu trong thời gian xem xét là một năm

Tại một thời kỳ nhất định, với một trữ lượng nguồn lợi cho trước, sản lượng đánh bắt của các tàu được giả định là một hàm số theo nỗ lực/cường lực khai thác và

có thể biểu diễn theo hàm số đánh bắt của Schaefer như sau:

h (e,X) = q.e.X (3.1) với e là nỗ lực đánh bắt (hay còn gọi là cường lực khai thác) của một tàu, q là

hệ số khả năng đánh bắt và X là trữ lượng cá

Lợi nhuận đánh bắt của ngành là: п = p.q.E.X - TC(E)

Lợi nhuận của hoạt động đánh bắt của mỗi tàu là:

п (e;X) = p.h(e,X) – tc(e) hay п (e;X) = p.q.e.X – tc(e) (3.2) với p là giá thị trường trên thị trường cạnh tranh và tc(e) là tổng chi phí theo cường lực đánh bắt của mỗi tàu Trong ngắn hạn, tc(e) là chi phí biến đổi (chi phí/ 1 chuyến biển

= tvc(e)) Trong dài hạn, tc(e) là tất cả chi phí (chi phí biến đổi và chi phí cố định) Tổng doanh thu của tàu là pqeX - một hàm số phụ thuộc vào cường lực đánh bắt

Giả định rằng, mục tiêu của mỗi tàu là tối đa hóa lợi nhuận thì ta có:

Trang 20

Phương trình (3.3) cho thấy lợi nhuận của một tàu được tối đa khi doanh thu biên bằng chi phí biên Như vậy, với các yếu tố như giá cả, hệ số đánh bắt và trữ lượng

là biết trước, cường lực khai thác tối ưu của tàu là mức nỗ lực tại đó tàu đạt mức lợi nhuận tối đa

Thông thường, một đơn vị kinh doanh sẽ kiểm soát được toàn bộ quá trình sản xuất, bao gồm tất cả các yếu tố đầu vào cần thiết và chi phí của các yếu tố này Tuy nhiên, đối với khai thác thuỷ sản nói chung và nghề câu xa bờ nói riêng, các tàu đánh bắt lại không thể kiểm soát được yếu tố đầu vào quan trọng nhất là trữ lượng cá vì nó

là yếu tố tự nhiên, không phải là nguồn đầu vào thông thường như nhiên liệu hay ngư

cụ mà chúng ta có thể mua được trên thị trường Vì vậy, chi phí đơn vị sẽ phụ thuộc vào cả chi phí các yếu tố đầu vào, mức trữ lượng cho trước và trữ lượng đánh bắt

Hình 1.3 Hành vị điều chỉnh quy mô nỗ lực trong ngắn hạn của hai tàu với cơ cấu vốn, giá sản phẩm, trữ lượng đánh bắt và mức trữ lượng cho trước

Nguồn: Tham khảo từ Flaaten (2010)

Chi phí biến đổi trung bình (avc) và chi phí biên (mc)được minh họa trên đồ thị trên cho thấy đường avc ban đầu suy giảm, xuống đến điểm cực tiểu tại mức nỗ lực e

và sau đó tăng dần Đường cong avc xuống đến cực tiểu thì mc bằng với avc Chúng ta

có thể nhận dạng các đường cong này từ lý thuyết sản xuất, nhưng sự khác biệt quan trọng là trong trường hợp này, nỗ lực là biến số trên trục hoành, trong khi biến số được

sử dụng trong kinh tế vi mô thông thường là sản lượng Chúng ta có thể xem nỗ lực sản phẩm trung gian của tàu đánh bắt – sản lượng được tạo ra bằng việc sử dụng các yếu tố đầu vào thường xuyên Tuy nhiên, nỗ lực sẽ đem lại kết quả đầu ra (sản lượng)

Trang 21

bao nhiêu còn tùy thuộc vào quy mô trữ lượng và sự sẵn có của nguồn lợi Nếu biết chính xác nỗ lực sẽ mang lại bao nhiêu sản lượng thì chúng ta có thể tính toán được chi phí sản lượng đơn vị Sự phân biệt giữa chi phí (chi phí trung bình và chi phí biên)

nỗ lực đơn vị và chi phí sản lượng đơn vị rất quan trọng để hiểu được bản chất của kinh tế học nghề cá

Đồ thị trên thể hiện quá trình điều chỉnh nỗ lực của hai tàu hoạt động nhằm mục

đích tối đa hóa lợi nhuận, gồm tàu i và tàu j Hình (a) chỉ ra doanh thu biên của nỗ lực pqX với hai mức trữ lượng X ∞ và X1 Nỗ lực tối ưu của tàu i là e i

∞ tương ứng với mức trữ lượng

X ∞ Trong trường hợp này, tàu i không tạo ra lợi nhuận mà chỉ đạt điểm hòa vốn, vì doanh thu biên mr(e) bằng với chi phí biên mc(e) Nếu doanh thu của tàu thấp hơn mức pqX ∞ và duy trì trong dài hạn thì tàu có khả năng dừng hoạt động vì doanh thu biên lúc này sẽ thấp hơn chi phí biến đổi trung bình tối thiểu Nếu tàu vẫn duy trì hoạt động trong trường hợp

này sẽ bị thua lỗ Tàu i là tài hoạt động biên tại mức trữ lượng X ∞ vì chỉ một sự suy giảm

nhỏ trong mức trữ lượng cũng có thể khiến tàu tạm ngừng hoạt động

Đồ thị (b) cho thấy tàu j đạt lợi nhuận tối đa tại điểm nỗ lực e j

∞ tương ứng với

hợp này Lợi nhuận trên còn được gọi là thặng dư của nhà sản xuất hay cũng chính là lợi tức nội biên (intra – marginal rent) trong kinh tế học nghề cá Lợi tức nội biên là các khoản lợi tức thu được bởi những tàu thuyền tiết giảm chi phí tốt hơn các tàu hoạt

động biên Trong đồ thị trên, tại mức trữ lượng X ∞ , tàu i chính là tàu hoạt động biên còn tàu j là tàu hoạt động thu được lợi tức nội biên Tàu j có thể hoạt động với mức lợi nhuận dương ngay cả khi quy mô tữ lượng thấp hơn X ∞. Trong nghiên cứu thực nghiệm của đề tài này, với số liệu của 39 tàu nghề câu trong 1 năm hoạt động thì giả thiết được đặt ra là: Có sự tồn tại những tàu thu được lợi tức nội biên (intra-marginal vessels), tàu hoạt động biên (marginal vessels) và tàu gặp tổn thất ngoại biên (extra-marginal vessels)

Cũng giống như trong kinh doanh, trong khai thác, các chủ tàu có những tiêu chí khác nhau quyết định hành vi điều chỉnh trong ngắn hạn và trong dài hạn Trong ngắn hạn, chỉ cần trang trải đủ chi phí hoạt động nhưng trong dài hạn, phải kiếm đủ để trang trải cả chi phí cố định

Trong đó, chi phí nỗ lực biên là mc(e), chi phí biến đổi trung bình là avc(e) và tổng chi phí trung bình là atc(e) Đường chi phí trung bình và chi phí biên đều được

Trang 22

tính toán trên cơ sở tổng chi phí tc(e) = c(e) + k, với c(e) là chi phí biến đổi và k là chi

phí cố định

Đường chi phí biên cắt đường tổng chi phí trung bình và chi phí biến đổi trung bình ở bên dưới tương ứng với hai điểm cực tiểu (Hình 1.4) Điều rõ ràng là đường tổng chi phí trung bình nằm trên đường chi phí biến đổi trung bình tại bất cứ điểm nỗ lực nào Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa tổng chi phí trung bình và chi phí biến đổi trung bình thu hẹp dần khi nỗ lực tăng thêm vì điều này cho phép chi phí cố định chia đều trên một số lượng nỗ lực lớn hơn Trong ngắn hạn, tàu có thể hoạt động nếu doanh

thu biên của nỗ lực lớn hơn pqX M – điểm tối thiểu của chi phí biến đổi trung bình Với giá trị p và q cho trước, điều này có nghĩa là mức trữ lượng tối thiểu cũng phải lớn hơn mức X M Nhưng trong dài hạn, mỗi tàu đều phải trang trải chi phí cố định, có nghĩa là

quy mô trữ lượng phải bằng hoặc lớn hơn X ∞ để tàu có thể bù đắp được chi phí vốn Chúng ta sử dụng chỉ số dưới ∞ biểu hiện mức trữ lượng mà ở đó, các tàu hoạt động biên có thể đạt điểm hoà vốn ngay cả trong vùng biển được tiếp cận tự do (open

access) Tàu hoạt động biên trong dài hạn, với mức nỗ lực e ∞, sẽ có thể bù đắp tất cả các khoản chi phí - bao gồm chi phí biến đổi và chi phí cố định Tuy nhiên, nếu có

chính sách quản lý hiệu quả để có trữ lượng đạt ở mức cao hơn, ví dụ như tại X 1, thì tàu sẽ thu được khoản lợi nhuận gộp ABEF như trong đồ thị trên Lợi nhuận gộp này bao gồm lợi nhuận DOEF Trong trường này, lợi nhuận DOEF chỉ là phần tiền tô tài nguyên mà tàu đạt được

pqX atc(e) mc(e)

pqX1

atc(e) atv(e) mc(e)

EOB

Hình 1.4 Hành vi điều chỉnh quy mô nỗ lực trong dài hạn của hai tàu với cơ cấu

vốn, giá sản phẩm, khả năng đánh bắt và mức trữ lượng cho trước

Nguồn: Tham khảo từ Flaaten (2010)

Trang 23

Mức nỗ lực tối ưu của tàu phụ thuộc vào doanh thu biên, ký hiệu pqX trong đồ thị

trên và chi phí biên của nỗ lực Nếu tích số của giá, hệ số khả năng đánh bắt và trữ lượng

pqX tăng, thì mức nỗ lực tối ưu của tàu cũng sẽ tăng Ví dụ, nếu như một tàu nghề lưới rê

hoạt động với mức doanh thu biên cao, nó có thể tăng lợi nhuận bằng cách tăng cường sử dụng các yếu tố đầu vào, như sử dụng thêm nhiên liệu để tăng tốc độ di chuyển giữa cảng

cá và ngư trường, tăng thời gian khai thác hoặc ngư cụ đánh bắt

1.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

1.4.1 Các chỉ tiêu thể hiện kết quả kinh tế của hoạt động sản xuất

Phương pháp tính toán các chỉ số kết quả kinh tế của tàu trong nghiên cứu này

được tham khảo từ Long và ctv (2008) và Duy và ctv (2012) Sự tính toán cụ thể như sau:

Tổng doanh thu khai thác

- Chi phí biến đổi (chưa tính CP lao động)

= Thu nhập

- Chi phí hoạt động cố định (sửa chữa, bảo trì hàng năm, các phí và bảo hiểm)

= Giá trị thu nhập tăng thêm

Tổng doanh thu khai thác được xác định là giá trị thu được của tàu trong năm

của hoạt động Tổng doanh thu theo năm là doanh thu trung bình một chuyến của tàu nhân với số chuyến biển trong năm (tính bình quân cho cả mùa chính và mùa phụ)

Chi phí biến đổi là tổng chi phí cho tất cả các chuyến đi câu cá trong năm,

không tính đến chi phí lao động Bao gồm chi phí nhiên liệu, dầu, nước đá,thực phẩm cung cấp, sửa chữa nhỏ

Thu nhập là sự chênh lệch giữa doanh thu và chi phí biến đổi, ngoại trừ chi phí

lao động

Chi phí hoạt động cố định là toàn bộ chi phí sửa chữa và bảo dưỡng hàng năm

của thân tàu, các thiết bị trên tàu, bảo hiểm cho tàu và tất cả các thuyền viên Chi phí

Trang 24

hoạt động cố định không đổi với số lượng các chuyến biển thực hiện trong năm 2012 Trong đó chi phí sửa chữa là những khoản chi phí sửa chữa phục hồi, thay thế những

bộ phận bị hao mòn, hư hỏng trong quá trình sử dụng tài sản cố định Những khoản chi phí này chủ yếu phát sinh trong khi tàu ngưng hoạt động và bao gồm: chi phí sửa chữa

vỏ tàu, sửa chữa lớn máy tàu và trang thiết bị trên tàu

Giá trị thu nhập tăng thêm là giá trị của doanh thu hàng năm trừ đi tổng số chi

phí biến đổi hàng năm và chi phí hoạt động cố định, không bao gồm chi phí lao động

Chi phí lao động là chi phí cho các thuyền viên sau khi trừ đi chi phí biến đổi

của 1 chuyến (phí tổn) chia đều cho các thành viên trên tàu bao gồm cả thuyền trưởng

Dòng tiền ròng là lợi nhuận thu được sau khi lấy doanh thu trừ đi tất cả chi phí

bao gồm: chi phí biến đổi,chi phí cố định, chi phí lao động, ngoại trừ khấu hao và chi phí lãi vay Dòng tiền ròng còn là tổng hợp của chi phí khấu hao, trả lãi vay, chi phí sử dụng vốn và lợi nhuận ròng

Khấu hao được tính là tổn thất thực tế về giá trị của tài sản cố định thông qua

việc sử dụng các tài sản, mà không được bù đắp bằng bảo trì và sửa chữa trong giai đoạn do hao mòn Trong nghiên cứu này, chi phí khấu hao được tính dựa trên giá trị ước tính của tài sản cố định tại thời điểm điểu tra và thời gian sử dụng còn lại còn lại của tài sản cố đinh đó (theo ước lượng của chủ tàu)

Chi phí lãi vay là chi phí trả lãi cho các khoản vay trong năm Tỷ lệ lãi suất trên

các khoản vay có sự khác biệt giữa các chủ tàu Đặc điểm này được tạo ra bởi một chủ tàu có thể có các nguồn vay khác nhau, từ gia đình, ngân hàng hay các chủ thể trung gian với những mức lãi suất phát sinh khác nhau

Lợi nhuận là giá trị còn lại sau khi trừ các khoản phải trả, khấu hao và lãi vay

(chưa tính đến chi phí sử dụng vốn) từ dòng tiền

Chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu được gọi là chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn

chủ sở hữu trong hoạt động đánh bắt Chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu sử dụng trong nghiên cứu này là lãi suất cho vay trung bình thực tế tại thời điểm điều tra (năm 2012): 8%/năm

Lợi nhuận ròng được tính bằng doanh thu trừ tổng chi phí (gồm chi phí sửa

chữa, thuế và bảo hiểm, chi phí khấu hao, chi phí lãi vay, khấu hao và chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu)

Trang 25

1.4.2 Các chỉ tiêu thể hiện hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất

1.4.2.1 Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế dựa vào phân tích doanh thu – chi phí

+ Tỷ suất dòng tiền ròng trên tổng doanh thu = Dòng tiền ròng/ tổng doanh thu

Tỷ suất dòng tiền ròng trên tổng doanh thu được gọi là tỷ lệ của dòng tiền ròng

trên tổng doanh thu Tỷ lệ này thể hiện tỉ lệ phần trăm của tổng khoản tiền thu được sau khi khấu trừ chi phí biến đổi, chi phí hoạt động cố định và chi phí lao động trên tổng doanh thu

+ Tỷ suất lợi nhuận trên tổng doanh thu = (Lợi nhuận + Chi phí lãi vay)/Tổng doanh thu

Tỷ suất lợi nhuận trên tổng doanh thu được định nghĩa là tỷ suất lợi nhuận

(chưa trừ chi phí lãi vay) trên tổng doanh thu Tỷ lệ này thể hiện là lợi nhuận mà chủ tàu đạt được so với tổng doanh thu và là tỷ số giá trị thu được tính bình quân trên một đơn vị chuyến biển hoặc tháng hoặc năm với tổng chi phí tương ứng

+ Tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn đầu tư = Lợi nhuận/ Tổng vốn đầu tư

Lợi nhuận trên tổng vốn đầu tư được định nghĩa là tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu

tư ròng của tàu Qua chỉ tiêu này cho thấy, bỏ ra một đồng vốn vào sản xuất thì sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận

+ Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận/ Vốn chủ sở hữu

Tỷ suất lợi nhuận/Vốn chủ sở hữu (ROE) được định nghĩa là tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của chủ tàu Đây là chỉ tiêu phổ biến dùng để đánh giá kết quả hoạt động đánh bắt của chủ tàu, thể hiện hiệu quả sử dụng vốn của ngư dân khai thác thuỷ sản Chỉ số này là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy tạo

ra bao nhiêu đồng lời Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ chủ tàu sử dụng hiệu quả đồng vốn

1.4.2.2 Chỉ tiêu chi phí cho mỗi đơn vị cường lực quy đổi trong nghề khai thác thuỷ sản

Tác giả sử dụng phương pháp đề xuất bởi Duy (2010) và Duy và ctv (2012) để xác định hiệu quả sử dụng cường lực đánh bắt quy đổi của mỗi tàu Phương pháp này cũng được áp trong Nga (2010), Hào (2012) và Hòa (2012) Các bước thực hiện như sau:

Trang 26

Bước 1: Ước lượng hàm sản xuất trong khai thác thủy sản

Nguyễn Tuấn (2005) đã tổng hợp các nghiên cứu trước về các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động khai thác trong ngành thuỷ sản (Hình 1.5) Nhóm nhân tố đầu tiên liên quan đến đặc điểm kỹ thuật của tàu như công suất, chiều dài, trọng lượng của tàu….; nhóm nhân tố liên quan đến đặc điểm hoạt động như số ngày đánh bắt, số tháng đánh bắt trong năm hoặc số chuyến…; nhóm nhân tố liên quan đến lao động như

số thuyền viên, thuyền trưởng…; nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên như trữ lượng cá

Hình 1.5 Mô hình tổng quát mối quan hệ của các nhân tố tác động đến

kết quả kinh tế hoạt động khai thác hải sản Nguồn: Tham khảo từ Tuấn (2005)

Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động khai thác được các tác giả nghiên cứu tách rời nhau theo từng nhóm Với điều kiện của mẫu thu thập được, tác giả nghiên cứu lấy đại diện các nhóm nhân tố về đặc điểm kỹ thuật của tàu và nhóm nhân

tố về đặc điểm hoạt động tác động đến kết quả hoạt động của nghề câu, cụ thể nghiên

Điều kiện tự nhiên

- Đặc điểm trữ lượng và sinh học

- Đặc điểm về ngư trường

- Đặc điểm về thời tiết

- Số tháng khai thác trong năm

- Số chuyến khai thác trong năm

Đặc điểm lao động

- Đặc điểm về chủ tàu

- Đặc điểm về thuyền trưởng

- Đặc điểm về nhân công

Trang 27

cứu các nhân tố tác động đến kết quả kinh tế hoạt động đội tàu khai thác nghề câu bao gồm: nhân tố về chiều dài tàu, nhân tố về số thuyền viên, nhân tố về số chuyến hoạt động trong năm, nhân tố về ngư cụ Tác giả đề xuất mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động khai thác như sau:

Hình 1.6 Mô hình mối quan hệ của các nhân tố tác động đến

kết quả kinh tế hoạt động khai thác hải sản

Nghiên cứu của Pascoe và Coglan (2002) chỉ ra rằng các nhân tố chiều dài tàu, chiều rộng tàu, công suất tàu, trọng tải tàu, số lượng thủy thủ và năm đóng tàu tác động đến sản lượng khai thác mỗi ngày của nghề lưới kéo tại vùng eo biển Anh Nghiên cứu về nghề cá tiếp cận mở tại vùng biển Đông của Long và ctv (2008) đã nghiên cứu mô hình đánh giá sự tác động của các nhân tố: Chiều dài tàu, tổng số tháng đánh bắt trong năm, số thuyền viên và số chuyến biển tác động lên doanh thu của nghề câu xa bờ Tuấn (2008) cũng đã sử dụng chiều dài tàu, số lượng ngư cụ, đầu tư trang thiết bị trên tàu và số năm sử dụng của tàu cho nghề lưới rê tại Khánh Hoà Nghiên cứu của Nga (2010) cũng đã dùng chiều dài tàu và số ngày đánh bắt cho nghề câu xa

bờ Khánh Hòa

Nghiên cứu của Thuỷ (2007) về đánh giá kết quả kinh tế nghề lước vây tại thành phố Cam Ranh tỉnh Khánh Hoà đã chỉ ra rằng hai yếu tố số thuyền viên và vốn đầu tư có ảnh hưởng đến lợi nhuận của nghề lưới vây tại Cam Ranh, Khánh Hoà

Diana Tinley và ctv (2005) đã sử dụng phương pháp SPF và phương pháp DEA nghiên cứu các nhân tố tác động đến sản lượng khai thác, các nhân tố gồm: số ngày khai thác, công suất tàu, tuổi chủ tàu, kinh nghiệm thuyền trưởng, đặc trưng mùa vụ, loại nghề khai thác và một số trang thiết bị khai thác

Kết quả kinh tế hoạt động khai thác hải sản

Chiều dài tàu

Số thuyền viên

Số ngày đánh bắt

Trang 28

Nghiên cứu của Duy và ctv (2012) dùng số ngày đánh bắt là một trong những yếu tố đầu vào để đánh giá hiệu quả kinh tế của nghề lưới rê xa bờ tại Khánh Hoà; Hoà (2012); Hoà (2012), Hào (2012) cũng dùng công suất và số ngày khai thác trong năm

để phân tích hiệu quả của nghề lưới vây và nghề giã cào

Nghiên cứu này sử dụng hàm sản xuất Cobb - Douglas có dạng như sau:

Yi = AX1i

α1

X2i α2

X3i

α3 (*)

Logarit hóa hai vế ta có phương trình:

Bước 2: Ước lượng sản lượng đánh bắt từ mô hình hàm sản xuất đã ước lượng

Sau khi ước lượng mô hình hàm sản xuất, ta có được phương trình (*) với các hệ

số α1, α2, α3 và A biết được Tính toán sản lượng đánh bắt (Y’) được ước lượng từ mô hình cho mỗi tàu bằng cách thay thế các giá trị thực của chiều dài, số thuyền viên và số ngày vào lại phương trình (*)

Bước 3: Xác định cường lực đánh bắt quy đổi (Chỉ tiêu còn được gọi sức mạnh

đánh bắt tương quan giữa các tàu, hoặc gọi là cường lực đánh bắt được chuẩn hóa hay qui đổi)

Dựa vào kết quả sản lượng đánh bắt từ mô hình hàm sản xuất ở bước 2, ta xác định cường lực đánh bắt qui đổi (chuẩn hóa) như sau:

Hiệu quả đánh bắt tương quan: ki = Y’i/ /Y, i = (1,n)

Trang 29

Trong đó,

Sản lượng ước lượng được từ mô hình: Yi = AX1i

α1

X2i α2

X3i α3

Giá trị sản lượng trung bình ước lượng được từ mô hình:

Y = (Y’1 + Y’2 + Y’3 +… +Y’n) / n với n là tổng số tàu

Bước 4: Xác định hiệu quả sử dụng cường lực đánh bắt quy đổi của mỗi tàu

Từ kết quả trên ta xác định hiệu quả sử dụng cường lực đánh bắt quy đổi của mỗi tàu bằng cách tính tỷ lệ tổng chi phí (TCi) trên một đơn vị cường lực đánh bắt qui đổi cho mỗi tàu, cụ thể như sau:

Hiệu quả sử dụng cường lực đánh bắt quy đổi của mỗi tàu i = TCi /k i

Trong nghiên cứu này, có 2 chỉ số tổng chi phí gồm: tổng chi phí trong ngắn hạn là tổng của các chi phí biến đổi, chi phí hoạt động và chi phí lao động; và tổng chi phí trong dài hạn gồm tất cả các chi phí (ngoại trừ chi phí cơ hội) Như vậy ta sẽ có 2 chỉ tiêu hiệu quả sử dụng cường lực đánh bắt quy đổi của mỗi tàu – trong ngắn hạn và trong dài hạn

Hiệu quả sử dụng cường lực đánh bắt quy đổi được xem là hiệu quả sử dụng chi phí của tàu Tuy nhiên, với giả định rằng hệ số khả năng khai thác q không đổi và trữ lượng X và giá cá cố định trong 1 năm nên doanh thu biên được giả định là không đổi nên hiệu quả sử dụng cường lực đánh bắt quy đổi của mỗi tàu cũng được xem là hiệu quả kinh tế của việc sử dụng cường lực đánh bắt quy đổi của mỗi tàu Một tàu có chỉ

số hiệu quả sử dụng cường lực đánh bắt quy đổi càng chứng tỏ hiệu quả chi phí sử dụng các yếu tố đầu vào cao hay hiệu quả kinh tế cũng cao

1.5 Tình hình các nghiên cứu trong nước và ngoài nước về hiệu quả kinh tế ngành thủy sản

1.5.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Có nhiều nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đánh giá hiệu quả kinh tế của nông nghiệp nói chung và ngành thuỷ sản nói riêng Một trong những nghiên cứu kinh

tế đầu tiên trong lĩnh vực khai thác thuỷ sản là của tác giả Huvanandana được thực hiện vào năm 1973 Ông đã nghiên cứu và so sánh doanh thu chi phí của 2 đội tàu lưới vây rút chì (purse seine) và lưới vây nổi (encirling) của Thái Lan và Trung Quốc khai thác cá thu ở vùng biển Ấn Độ Dương Kết quả cho thấy ngư cụ nghề vây nổi mang lại

lợi nhuận cao hơn nghề vây rút chì (Huvanandana, 1973).

Trang 30

Nghiên cứu của FAO trong ba năm 1995 đến 1997 về khả năng phát triển kinh

tế trong lĩnh vực khai thác thủy sản của một số nước tiêu biểu thuộc bốn nhóm: Châu

Á, Châu Phi, Châu Âu và Châu Mỹ La tinh Sau đó, trong báo cáo của FAO về thành tựu kinh tế kỹ thuật nghề cá đã tóm tắt những kết quả kinh tế tài chính trong hoạt động khai thác hải sản của 15 nước thực hiện trong năm 1999 và 2000 Nghiên cứu này dựa trên kết quả điều tra đã được thực hiện từ năm 1995 đến năm 1997 và được xuất bản trên tạp chí FAO Fisheries Technical Paper số 377 Nghiên cứu cho thấy, trong 108 nghề được nghiên cứu tại 15 nước (Nam Mỹ, Châu Âu, Châu Phi và Châu Á) có 105 nghề đạt dòng tiền dương (positive gross cash flow) (dòng tiền = doanh thu thuần - chi phí hoạt động) chiếm 97% Nghiên cứu cũng cho thấy khi xem xét chi phí sử dụng vốn như: chi phí khấu hao và chi phí lãi vay thì có 92 nghề đạt lợi nhuận khai thác dương, chiếm 85% tổng số nghề nghiên cứu

Ola Flaaten, Knut Heen, và Kjell G Salvanes đã so sánh sự khác biệt lợi nhuận của đội tàu khai thác lưới vây sử dụng giấy phép miễn phí và đội tàu khai thác lưới vây mua giấy phép theo giá thị trường tại Nauy Các tác giả đã sử dụng phương pháp hồi quy OLS để phân tích những nhân tố tác động đến doanh thu và chi phí của 2 đội tàu khai thác lưới vây nhằm chỉ ra những khác biệt về doanh thu và chi phí của 2 đội tàu,

từ đó xác định sự khác biệt về lợi nhuận, làm cơ sở tìm ra giá trị thật của giấy phép trên thị trường chuyển nhượng Các ông nhận thấy rằng: các tàu vây được cấp hạn ngạch quota có lợi nhuận cao hơn so với các nhóm tàu vây khác Nguyên nhân chính

là do chủ tàu đã phải tốn chi phí vốn quá cao (Ola Flaaten, Knut Heen và Kjell G Salvanes, 1995)

Nauy cũng như một số nước Châu Âu (Đan Mạch, Pháp, Hà Lan, Anh) đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về doanh thu, chi phí của các đội tàu khai thác hải sản Các công trình nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào nghề cá đơn loài, kỹ thuật khai thác mang tính công nghiệp hóa rất cao và hoạt động khai thác được quản lý giám sát

rất chặt chẽ (W.P Davidse, 1997)

Trong bài viết nghiên cứu về hoạt động kinh tế và tài chính các nghề cá biển ở

15 nước trên thế giới của các tác giả U Tietze và J.Prado J.-M.Le Ry R Lasch, trong tổng số 108 loại tàu khai thác thì có đến 105 (chiếm 97%) loại tàu có dòng tiền luân chuyển dương (gross cash flow) và bù đắp được mọi chi phí bỏ ra Nếu trừ chi phí khấu hao và lãi suất, thì có 92 trên 108 loại tàu có lợi nhuận ròng Chỉ có các loại tàu

Trang 31

lưới kéo cá và tôm tầng đáy có dòng tiền luân chuyển âm Những tàu trước đây có kết quả lợi nhuận dương, nhưng một thời gian sau đó có lợi nhuận âm thường rơi vào những tàu có tuổi thọ khá lớn

Bên cạnh đó, hội thảo khu vực Đông Nam Á tháng 12 năm 2005 tại Việt Nam cũng đã bàn đến việc ứng dụng các chỉ số trong công tác quản lý thích ứng nghề cá biển ở một số nước như Brunei, Malaixia, Indonesia, Thái Lan …, cũng là những nước

có đặc điểm cá đa loài như ở Việt Nam

Giáo sư Marcia Hamilton và giáo sư Steve Huffman thuộc trường Đại học Hawaii viện Nghiên cứu Thủy sản và Khí quyển trong hai năm 1995-1996 đã nghiên cứu doanh thu chi phí của bốn nhóm ngư dân hoạt động khai thác nghề cá nổi quy mô nhỏ: nhóm làm nghề đánh cá toàn thời gian (fulltime fishermen), nhóm làm nghề đánh

cá bán thời gian (partime fishermen), nhóm lấy nghề đánh cá làm tiêu khiển (recreational fishermen) và nhóm làm nghề đánh cá với mục đích chỉ cần bù đắp được chi phí chuyến biển (expense fishermen) Kết quả cho thấy: nhóm làm nghề đánh cá toàn thời gian (fulltime fishermen) có doanh thu và chi phí cố định cao nhất, nhóm làm nghề đánh cá với mục đích chỉ cần bù đắp được chi phí chuyến biển (expense fishermen) có doanh thu và chi phí cố định thấp nhất Riêng chi phí biến đổi chuyến biển khá đồng đều nhau giữa các nhóm, chỉ dao động nhẹ theo khả năng di chuyển ngư trường hoạt động Sự khác nhau trong chi phí biến đổi là, chi phí nhiên liệu, chi phí đá

và chi phí mồi câu, trong đó nghề cá toàn thời gian và bán thời gian thường tiêu tốn nhiều hơn so với hai nhóm còn lại

Kumpa đã phân tích cấu trúc chi phí và khả năng sinh lợi của các đội tàu khai thác quy mô nhỏ ở thành phố Chumphon Tác giả nhận thấy rằng các loại ngư cụ tầng nổi như lưới vây, lưới rê thường đem lại kết quả cao hơn so với các loại ngư cụ tầng

đáy như lưới kéo (Kumpa, 1981)

Bàn về đánh giá tác động của Chương trình Hỗ trợ Tài chính của Chính phủ, nghiên cứu đã chỉ ra rằng tại hai quốc gia khảo sát, Ấn Độ và một số quốc gia khác thuộc châu Âu, hầu hết các tàu vốn từ trước đến nay nhận được khoản tiền trợ cấp của chính phủ vẫn có khả năng hoạt động có lãi mà không cần đến khoản trợ cấp đó Ở Hàn Quốc, kết quả vẫn chưa rõ ràng trong khi tại Thái Lan, các tàu trong diện ưu đãi miễn thuế nhiên liệu chỉ có thể hoạt động có lãi nếu chính sách này tiếp tục được duy trì Nghề cá Indonesia lại không nhận được khoản trợ cấp nào Còn đối với nhiều quốc

Trang 32

gia khác, vẫn chưa thu thập được các thông tin thực nghiệm cụ thể về quy mô hỗ trợ của chính phủ đối với ngành khai thác cũng như hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp khai thác tư nhân Chính vì vậy, cần thiết phải có các cuộc điều tra khảo sát thu thập dữ liệu và phân tích thông tin về số lượng và tác động của các khoản hỗ trợ từ phía chính phủ lên hoạt động nghề cá của các doanh nghiệp tư nhân nhằm mục đích giảm thiểu và hợp lí hóa việc sử dụng nguồn ngân sách eo hẹp từ phía chính phủ và đồng thời, tránh các khoản trợ cấp gây tác động tiêu cực lên nguồn lợi, môi trường

biển và hoạt động thương mại (U.Tietze và J Prado, 2001)

Tại Úc, một số công trình nghiên cứu về các chỉ số kinh tế cho một số nghề phục vụ cho mục đích nghiên cứu tối đa hóa lợi ích do tài nguyên mang lại (resource rent) là nhân tố làm cơ sở xác định thuế tài nguyên mà các đội tàu phải trả khi hưởng lợi từ nguồn tài

nguyên thiên nhiên của quốc gia (EconSearch Pty Ltd, May 2004 & Roger Rose)

Các công trình nghiên cứu của Pascoe, Đại học Portsmouth - Anh, chủ yếu liên quan đến kết quả kinh tế nghề khai thác hải sản, đồng thời phân tích các nhân tố tác động đến kết quả kinh tế và hiệu quả kỹ thuật các đội tàu khai thác tại một số quốc gia châu Âu Các nghiên cứu này chủ yếu thực hiện bằng kỹ thuật phân tích hồi quy, kỹ thuật phân tích DEA (Data Envelopement Analysis) và kỹ thuật SPF (Stochastic

Production Frontier) (Sean Pascoe 2003, 2005)

1.5.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Cùng với sự gia tằng cường lực khai thác trong những năm gần đây, nguồn lợi thuỷ hải sản biển ngày một suy giảm, đặc biệt ở vùng nước ven bờ Các nhà quản lý nghề cá từ Trung ương đến địa phương và đặc biệt là ngư dân cũng đã nhận thức được điều này Chính vì vậy, tại Việt Nam ngày càng có nhiều cuộc điều tra chủ yếu xoay quanh vấn đề xác định nguồn lợi và đa dạng sinh học biển

“Tổng quan nghề cá Khánh Hòa” do Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng và

Viện Kinh tế & Quy hoạch thủy sản thực hiện đã khái quát sơ lược những nét cơ bản

về đặc điểm kinh tế xã hội cũng như thực trạng nghề cá Khánh Hòa Tuy nhiên, nghiên cứu này không đề cập một cách chi tiết đến từng nghề cá trên từng địa bàn cụ thể Bên cạnh đó, số lượng lấy mẫu quá ít (bình quân 5-10 mẫu cho 1 nghề) nên chưa thể mang

tính đại diện cho nghề cá Khánh Hòa (Viện Kinh tế & Quy hoạch thủy sản, Viện Nghiên cứu Hải sản, 2005)

Trang 33

Chiến lược phát triển khai thác hải sản tỉnh Khánh Hoà đến năm 2010 và định hướng phát triển đến 2020 đã khái quát được hiện trạng khai thác hải sản Khánh Hòa; thực hiện các công cụ thống kê xác định số lượng tàu thuyền, công suất và năng lực khai thác hải sản tại Khánh Hòa, đánh giá chất lượng tàu thuyền và trang thiết bị sử dụng trên tàu, xác định cơ cấu nghề nghiệp và ngư trường khai thác chủ yếu của các đội tàu trong tỉnh, đánh giá về lực lượng lao động tham gia khai thác hải sản, xác định thị trường tiêu thụ và công tác hậu cần nghề cá Thông qua công tác đánh giá thực trạng đã xác định những thành tựu và những tồn tại, từ đó đề ra những chiến lược phát triển cho ngành Các chiến lược được đưa ra chủ yếu mang tính tổng quát, chưa đi vào

cụ thể cho từng nghề

Quy hoạch tổng thể ngành thuỷ sản, đây là một công trình nghiên cứu do Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản thực hiện Nhóm nghiên cứu đã thực hiện khá công phu để đánh giá hiện trạng và xác định tiềm năng phát triển của ngành thuỷ sản ở Việt Nam Dựa vào kết quả đánh giá về hiện trạng ngành thuỷ sản các lĩnh vực khai thác gần bờ, khai thác xa bờ, nuôi trồng, chế biến hải sản , nhóm nghiên cứu đã xây dựng các mục tiêu và định hướng phát triển ngành thuỷ sản nước ta đến năm 2010 Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này chưa đánh giá kết quả kinh tế trong khai thác hải sản

và đề cập các giải pháp nâng cao kết quả kinh tế của các nghề khai thác ở nước ta Nghiên cứu về kết quả kinh tế nghề câu vàng cá ngừ đại dương tại Nha Trang, Khánh Hoà cho thấy nghề này mang lại lợi nhuận tương đối cao trong năm 2004, một trong những nghề mới phát triển trong những năm gần đây đã tạo được công ăn việc làm cho nhiều lao động nghề cá với thu nhập ổn định Nghiên cứu cũng đã bước đầu xây dựng

mô hình kinh tế lượng đánh giá về tác động của những nhân tố kỹ thuật đến doanh thu

khai thác và doanh thu khai thác trên một đơn vị cường lực (CPUE) (Long, 2006)

Nghiên cứu về đánh giá hiệu quả kinh tế và hiệu quả của các đội tàu đánh bắt xa

bờ ở Việt Nam nói chung và đối với nghề lưới rê tại Nha Trang nói riêng Kết quả của nghiên cứu đã cho thấy lợi nhuận trung bình của một tàu lưới rê là 17,3% Nghiên cứu cũng chứng minh rằng công suất máy, ngư cụ và số ngày đánh bắt trên một chuyến

biển là những yếu tố phản ánh nhiều nhất nỗ lực đánh bắt của các (Duy, 2010)

“Đánh giá kết quả kinh tế của nghề lưới vây tại thành phố Cam Ranh tỉnh Khánh Hoà” năm 2005 của cô Phạm Thị Thanh Thuỷ đã chỉ ra rằng đây là nhóm nghề khai thác vẫn còn khá hấp dẫn với tỷ suất sinh lợi cao trong các loại nghề khai thác ven bờ

Trang 34

Bên cạnh đó, nghề này cũng đóng vai trò quan trọng trong tạo việc làm cho ngư dân miền biển, thực phẩm bổ dưỡng và thu nhập đáng kể cho cộng đồng địa phương Nghiên cứu cũng cung cấp cho chính các ngư dân rõ hơn một số chỉ tiêu như doanh lợi trên doanh thu, doanh lợi trên chi phí, doanh lợi trên tổng vốn đầu tư, từ đó có thể kiểm soát được toàn bộ quyết định của mình trong phân bổ các nguồn lực Việc nắm bắt thông tin của ngư dân còn hạn chế bởi vì thiếu sự tính toán một cách khoa học về các hoạt động kinh tế của họ

Trong nghiên cứu của mình điều tra về kết quả kinh tế của nghề lưới rê thu ngừ tại Nha Trang,… Tuan đồng thời cũng xác định các nhân tố kỹ thuật của tàu và ngư cụ tác động đến doanh thu nghề lưới rê thu ngừ Nghiên cứu chủ yếu dựa vào phương pháp phân tích thống kê mô tả và phương pháp hồi quy đa biến OLS để chỉ ra rằng nhân tố kỹ thuật tác động đến doanh thu khai thác nghề lưới rê được xác định là có ý nghĩa thống kê gồm: chiều dài tàu, số lượng ngư cụ, đầu tư trang thiết bị trên tàu và số năm sử dụng của tàu

Trang 35

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHỀ CÂU XA BỜ

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

A Tổng quan nghề câu xa bờ

2.1 Tình hình khai thác nghề câu xa bờ của một số nước trên thế giới

Nghề câu xa bờ đã được nhiều quốc gia và các tổ chức trên thế giới nghiên cứu

và phát triển Với những ưu điểm nổi bật của nghề này như: kết cấu ngư cụ đơn giản, chi phí đầu tư ngư cụ thấp, dễ đánh bắt, đánh bắt có tính chọn lọc cao, hoạt động ở những ngư trường xa….nên nghề câu xa bờ được quan tâm và phát triển ở nhiều nước trên thế giới Nhiều công trình nghiên cứu của các nước như Hàn Quốc, Thái Lan, Nhật Bản,… đã được triển khai và thu được kết quả khả quan và đã được ứng dụng rộng rãi để khai thác

Trên thế giới, nghề câu cá ngừ đại dương đã có từ lâu với sản lượng lớn Các nước có sản lượng đánh bắt lớn là Nhật Bản, Mỹ, Tây Ban Nha, Pháp, Hàn Quốc Cá ngừ đại dương là một trong các đối tượng khai thác chính của nghề cá xa bờ Cá ngừ đại dương ở Việt Nam bao gồm cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares) và cá ngừ mắt to (Thunnus obesus) Trong tổng số 4 triệu tấn cá ngừ đánh bắt được hàng năm trên thế giới, có tới 65% sản lượng khai thác ở Thái Bình Dương, 21% ở ấn Độ Dương và 14%

ở Đại Tây Dương, trong đó, cá ngừ vây vàng chiếm đến 30% và cá ngừ mắt to chiếm khoảng 10% tổng sản lượng cá ngừ thế giới (Joseph, 2003) Trong đó, có một số nước tiêu biểu như:

* Nhật Bản

Nhật Bản là quốc gia tiêu thụ sashimi cá ngừ đại dương lớn nhất thế giới Theo ước tính của Tổ chức Hòa Bình Xanh, hàng năm có đến 80% lượng cá ngừ đại dương thế giới được tiêu thụ dưới hình thức này tại Nhật Bản

Đồng thời, Nhật Bản cũng chính là quốc gia có nghề khai thác cá ngừ đại dương phát triển mạnh Ủy ban Quản lý nghề cá Trung và Tây Thái Bình Dương (WCPFC) cho biết, số liệu thống kê liên quan đến hoạt động khai thác cá ngừ của Nhật Bản được bắt đầu ghi nhận từ năm 1953 Theo đó, các ngư cụ sử dụng chính gồm có: câu vàng, câu chạy và lưới vây Việc thu thập số liệu đối với nghề khai thác cá ngừ đại dương của Nhật Bản được thực hiện liên tục, chi tiết đến sản lượng của mỗi loài cá quan trọng như cá ngừ mắt to, ngừ vây vàng, ngừ sọc dưa, cá kiếm, cá cờ, thu ngàng…

và được thống kê, thu thập cho từng đội tàu riêng biệt

Trang 36

Năm 1953, Nhật Bản có 669 tàu câu vàng cá ngừ ven bờ, 1.064 tàu câu vàng cá ngừ xa bờ và đại dương, 622 tàu câu chạy cá ngừ Đến năm 1969 mới xuất hiện 4 tàu lưới vây cá ngừ Số lượng tàu câu vàng cá ngừ ven bờ cũng như tàu câu vàng cá ngừ

xa bờ và viễn dương của Nhật Bản biến động mạnh trong suốt mấy thập kỷ qua Cho đến thời điểm năm 2003, số lượng tàu câu vàng cá ngừ ven bờ chỉ còn khoảng 320 chiếc và hiện tại còn khoảng 230 chiếc Tương tự với số lượng tàu câu vàng cá ngừ xa

bờ và viễn dương, đến năm 2006 còn 683 chiếc và thời điểm năm 2012 chỉ còn 124 chiếc Điều này cho thấy, mặc dù được phát triển sớm, số lượng tàu đánh bắt cá ngừ đại dương của Nhật Bản đã giảm đi đáng kể trong hai thập kỷ qua

Nghề câu chạy cá ngừ cũng có xu hướng liên tục giảm số lượng phương tiện khai thác Đến năm 2000 chỉ còn 160 phương tiện và hiện tại chỉ còn khoảng 90 phương tiện đang hoạt động Nghề câu chạy chủ yếu khai thác cá ngừ sọc dưa và một

số cá ngừ đại dương khác Số lượng tàu thuyền nhiều nhất vào những năm cuối của thập niên 70 đến đầu năm 1980, khoảng 650 phương tiện Sau năm 1980, đội tàu này

đã giảm dần về số lượng

Nghề lưới vây cá ngừ Nhật Bản phát triển sau so với hai nghề trên, song xu hướng về biến động số lượng phương tiện khai thác thì ngược lại - tăng liên tục Đến năm 2000 có 37 chiếc, 2010 có 70 chiếc và hiện tại Nhật Bản có khoảng 80 tàu làm nghề lưới vây cá ngừ Số phương tiện làm nghề này tăng nhanh vào năm 2004 - 66 chiếc) Trước đó (năm 2003) đội tàu này chỉ có 35 chiếc

Sản lượng khai thác cá ngừ đại dương của Nhật Bản cao nhất vào những năm

1980 đạt khoảng 530.000 tấn và sau đó chỉ tiêu này giảm, duy trì ở mức ổn định, dao động khoảng 430.000 tấn trong vài năm lại đây Thông tin chi tiết về tổng sản lượng khai thác cá ngừ hàng năm theo loại nghề hoạt động được trình bày ở bảng dưới đây:

Bảng 2.1: Tổng sản lượng khai thác cá ngừ hàng năm theo loại nghề hoạt động tại

Lưới vây cá ngừ

Trang 37

Nghề lưới vây cá ngừ đang có xu hướng tăng mạnh về sản lượng trong khi các nhóm nghề câu trái lại có xu hướng giảm sản lượng Điều này có thể do sự hạn chế về ngư trường do việc thực hiện Công ước Quốc tế về Luật biển năm 1982 và sự suy giảm nguồn lợi cá ngừ đại dương, đặc biệt là cá ngừ vây xanh, cá ngừ vây ngực dài và

cá ngừ mắt to

Nhóm lưới vây cá ngừ thường có tỷ lệ trội của cá ngừ sọc dưa Katsuwonus pelamis trong sản lượng khai thác, chủ yếu dao động trong khoảng 70-85% tổng sản lượng chuyến biển Tiếp đó là cá ngừ vây vàng khoảng 15%, cá ngừ mắt to chỉ chiếm khoảng 3% tổng sản lượng khai thác

Tương tự như nghề lưới vây, nghề câu chạy cá ngừ có đối tượng khai thác chính là cá ngừ sọc dưa (trên 50% sản lượng), tiếp theo là cá ngừ vây ngực dài (trên 20% sản lượng), cá ngừ vây vàng và ngừ mắt to chiếm tỷ lệ không đáng kể, tỷ lệ sản

lượng của mỗi loài chỉ chiếm khoảng 2% tổng sản lượng khai thác của nghề (Báo cáo của Tổng cục Thuỷ sản, 2011)

* Phillippin

Nghề khai thác cá ngừ đại dương của Philippine phát triển từ khá sớm, ngư dân Philippine sử dụng nhiều loại ngư cụ như: nghề câu tay, câu vàng, câu chạy và lưới rê… để đánh bắt cá ngừ đại dương (cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to) và các loài cá ngừ khác

Sản lượng khai thác cá ngừ vào năm 2004 của Philippine khoảng 525.670 tấn, trong đó cá ngừ đại dương là 272.696 tấn, riêng sản lượng cá ngừ của nghề câu tay chiếm khoảng 70.000 tấn/năm Nghề câu tay các loài cá ngừ đại dương ở đây thường

sử dụng các tàu có chiều dài từ 15 - 20m và có công suất từ 80 – 160CV

Ngư trường khai thác của nghề câu tay cá ngừ đại dương của Philippine chủ yếu là vùng biển Philippine, Indonesia, Papua New Guine và vùng đại dương

Nghề câu tay cá ngừ thường sử dụng kết hợp với chà, người ta dùng chà để tập trung cá, rồi câu tay quanh chà Mùa vụ khai thác chính hàng năm là các tháng 4, 5, 6

và 11, 12 Các tháng còn lại sản lượng khai thác đạt thấp hơn Câu cá ban ngày tốt hơn

ban đêm, thời điểm câu tốt nhất là vào lúc chập choạng tối và rạng đông (Nguyễn Văn Kháng và Lê Văn Bôn, 2006)

Trang 38

* Malaysia

Nghề câu là một nghề chiếm tỷ trọng lớn trong nghề cá biển của Malaysia Số lượng tàu làm nghề câu chiếm thứ 3 trong tổng số tàu thuyền tham gia khai thác hải sản Năm 2000, tổng số tàu thuyền làm nghề câu của Malaysia có 2.180 chiếc, sản lượng khai thác đạt 53.837 tấn, chiếm khoảng 4% tổng sản lượng khai thác của Malaysia Trước kia, nghề câu ở Malaysia tập trung chủ yếu trên những đội tàu nhỏ, khai thác ven bờ Đến nay, số lượng tàu lớn đã phát triển, đẩy mạnh khai thác ở những vùng biển xa bờ như khu vực Sarawak, Sabah và Labuan Sản lượng khai thác đem lại

từ đội tàu này khoảng 600 tấn/năm.( SEAFDEC, 2002)

Bên cạnh đó còn có một số nước như Mỹ, Argentina, Quốc đảo Bắc

Marianna…( Phạm Văn Long, 2013) cũng có lịch sử phát triển nghề câu khá lâu Trên

thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu và tài liệu nói về nghề câu xa bờ, một

số nước đã phát triển đội tàu câu công nghiệp với quy mô hiện đại và áp dụng công nghệ tự động hoá trong khai thác Tuy nhiên, để có thể ứng dụng những tiến bộ về khoa học kỹ thuật của nghề câu trên thế giới vào nước ta thì cần phải có những nghiên cứu, áp dụng cụ thể đối với từng điều kiện của vùng biển, tập quán khai thác và đối tượng khai thác

2.2 Tình hình phát triển nghề câu xa bờ ở Việt Nam

Nghề câu cá ngừ được du nhập vào Việt Nam vào những năm đầu của thế kỷ

XX và hiện nay nghề này cung cấp cá xuất khẩu có giá trị và đang phát triển mạnh ở

nước ta Nghề câu cá ngừ đại dương phát triển mạnh ở các tỉnh ven biển miền Trung

và miền Nam Trung Bộ như: Đà Nẵng, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận, Vũng Tàu Tại các tỉnh này đã hình thành đội tàu công suất lớn, chủ yếu hoạt động ở

quần đảo Trường Sa với sản lượng bình quân đạt từ 3000 – 5000 tấn/năm

Ở Việt Nam, cá ngừ đại dương là mặt hàng quan trọng chiếm vị trí thứ 3 trong cơ cấu hàng xuất khẩu hải sản (sau tôm và cá ba sa) tới hơn 60 nước trên thế giới Đây là loại hải sản có giá trị kinh tế cao và là đối tượng khau thác chính của nghề câu vàng, lưới rê và lưới vây tại vùng biển miền Trung và Biển Đông (BMT&BĐ) Chính vì vậy (ngoại từ nguyễn nhân nguồn lợi cá gần bờ đã và đang bị khai thác quá mức), trong chiến lược phát triển ngành thuỷ sản, Nhà nước vẫn xác định mục tiêu phát triển các nghề đánh bắt xa bờ, tiến tới vươn ra các ngư trường quốc tế, đồng thời đã chọn các ngừ đại dương là một trong những đối tượng hang đầu để phát triển nghề khai thác xa bờ

Trang 39

Vùng khơi khai thác xa bờ đã và đang được sự khuyến khích, đầu tư của Nhà nước

và hiện đã trở thành các hoạt động phổ biến, nhất là ở các tỉnh Bình Định, Phú Yên và Khánh Hoà Mặc dù đã có được vị trí nhất định trong cơ cấu ngành nghề khai thác biển, song hoạt động khai thác xa bờ cho đến nay vẫn chủ yếu dựa trên kinh nghiệm của ngư dân nên sản lượng khai thác không ổn định, đầu tư cho sản xuất kém hiệu quả, nhất là trong vài ba năm gầnđây khi giá nhiên liệu và giá sản phẩm khai thác có những biến động không lường trước Điều này khẳng định khai thác biển nói chung, khai thác xa bờ nói riêng không chỉ đòi hỏi về đầu tư trang thiết bị kỹ thuật, lực lượng lao động và năng lực quản lý phù hợp mà còn rất cần sự đóng góp của khoa học nghề cá

Nghề câu đèn xuất hiện tại vùng biển XBMT&GBD cuối năm 2010 Đây là loại nghề mới xuất hiện ở Việt Nam gần đây nhưng đã nhanh chóng phát triển rộng rãi và trở thành nghề khai thác xa bờ chính với các đối tượng khai thác chủ yếu là cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to và cá ngừ đại dương có giá trị kinh tế rất cao

2.3 Đặc điểm ảnh hưởng tới nghề câu xa bờ tại tỉnh Khánh Hoà

2.3.1 Điều kiện tự nhiên

* Địa lý:

Khánh Hòa là một trong những tỉnh

nằm ở miền duyên hải Nam Trung bộ Phía

Bắc giáp tỉnh Phú Yên, phía Nam giáp tỉnh

Ninh Thuận, phía Tây giáp hai tỉnh Đắc Lắc

và Lâm Đồng, phía Đông giáp biển Đông

Trên bản đồ Việt Nam, Khánh Hòa nằm ở tọa

(Tham khảo từ wedsite: wikipedia.org)

Hình 2.1 Biển Khánh Hoà

Trang 40

Biển Khánh Hòa có nhiều tài nguyên phong phú, với nhiều loại hải sản như: tôm, cua, mực, các loại cá… đặc biệt là yến sào, một loại đặc sản quý hiếm, được coi

là “vàng trắng”, có giá trị xuất khẩu rất cao

Sông ngòi ở Khánh Hòa không lớn nhưng mật độ sông suối khá dày Toàn tỉnh

có khoảng trên 40 con sông trong đó có hai sông chính là sông Cái Nha Trang (sông Cù) dài 75km và sông Cái Ninh Hòa (sông Dinh) dài 49km Khánh Hòa có 8 cửa lạch lớn nhỏ, nhìn chung dài và nông (trừ Cam Ranh), các cửa lạch dễ thay đổi diện mạo sau mỗi kỳ mưa cho nên không thuận tiện cho việc nuôi trồng thuỷ sản và xây dựng cầu cảng

Khánh Hòa có 10 đầm, vũng vịnh với diện tích 70.000 ha, trên các vũng vịnh có nhiều bãi triều và vùng nước nóng có khả năng xây dựng các công trình nuôi trồng thuỷ sản và đặc sản có giá trị kinh tế cao Với 7 bán đảo lớn và trên 200 đảo nhỏ tạo thành nhiều đầm, vịnh kín gió tạo điều kiện cho các đàn cá di cư đến sinh sản Ven bờ

có nhiều rạn san hô là nơi có đa dạng hải sản sinh sống với giá trị kinh tế cao (Chu Tiến Luận, 2004)

* Khí hậu, thời tiết

Nằm trong khu vực duyên hải miền Trung, Khánh Hòa chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng khô ráo ôn hòa, quanh năm nắng ấm, thường chỉ có hai mùa

rõ rệt: mùa khô kéo dài từ 8 đến 9 tháng và mùa mưa ngắn chỉ từ 3 đến 4 tháng Mưa bão, gió mùa Đông bắc cũng như áp thấp nhiệt đới chỉ ảnh hưởng đến vùng biển Khánh Hoà từ tháng 9-12 Vì vậy rất thuận lợi cho hoạt động khai thác hải sản, đặc biệt tàu dưới 30 CV có thể sản xuất từ 230 – 280 ngày/ năm Nhiệt độ trung bình hàng năm trên dưới 260C, các tháng cuối năm và đầu năm hơi lạnh nhưng không rét buốt, mùa hè ít bị ảnh hưởng bởi gió tây Lượng mưa cũng tương đối ít, trung bình từ 1.200 đến 1.800 mm

Biển Khánh Hoà chịu ảnh hưởng của 2 dòng hải lưu chính: dòng chảy mùa gió Tây Nam và dòng chảy gió mùa Đông Bắc Dòng hải lưu nóng đưa theo nhiều ấu trùng, thức ăn và nhiều loài cá đến tạo ngư trường phong phú với sản lượng cao Dòng hải lưu mạnh đẩy cá đi xa bờ gây khó khăn cho nghề khai thác thuỷ sản Hoạt động chế độ hải lưu tạo thành hiện tượng nước trồi lưu động từ tháng 4 đến tháng 10 Đây là mùa cá chính của Khánh Hoà Từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, ảnh hưởng của nước triều yếu dần cá di cư xa bờ làm sản lượng cá giảm rõ rệt

Ngày đăng: 26/11/2015, 11:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Dương Trí Thảo (2009), Giáo trình Kinh tế học quản lý nghề cá, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh, tr 50 – 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế học quản lý nghề cá
Tác giả: Dương Trí Thảo
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2009
6. Nguyễn Trọng Lương (2013). Báo cáo Chuyên đề: “Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng cá ngừ đại dương trong nghề câu tay kết hợp ánh sang tại Bình Định” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng cá ngừ đại dương trong nghề câu tay kết hợp ánh sang tại Bình Định
Tác giả: Nguyễn Trọng Lương
Năm: 2013
9. Phạm Văn Long (2013). Đánh giá hiệu quả nghề câu tầng đáy ở huyện Hưng Yên tỉnh Quảng Ninh. Luận văn Thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả nghề câu tầng đáy ở huyện Hưng Yên tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Phạm Văn Long
Năm: 2013
10. Phạm Thị Thanh Thủy (2007). Đánh giá kết quả kinh tế nghề lưới vây tại thị xã Cam Ranh tỉnh Khánh Hòa. Luận văn thạc sĩ Kinh tế thủy sản, Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả kinh tế nghề lưới vây tại thị xã Cam Ranh tỉnh Khánh Hòa
Tác giả: Phạm Thị Thanh Thủy
Năm: 2007
15. Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản, Viện Nghiên cứu Hải sản (2005). Tổng quan nghề cá Khánh Hòa.II. Danh mục tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan nghề cá Khánh Hòa
Tác giả: Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản, Viện Nghiên cứu Hải sản
Năm: 2005
18. Duy N.N., Ola F., Kim Anh N.T. and Khanh Ngọc Q.T. (2012), “Open-access Fishing Rent and Efficiency - The Case of Gillnet Vessels in Nha Trang, Vietnam”, Fisheries Research, 127-128 (2012), pp. 98-108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Open-access Fishing Rent and Efficiency - The Case of Gillnet Vessels in Nha Trang, Vietnam
Tác giả: Duy N.N., Ola F., Kim Anh N.T. and Khanh Ngọc Q.T. (2012), “Open-access Fishing Rent and Efficiency - The Case of Gillnet Vessels in Nha Trang, Vietnam”, Fisheries Research, 127-128
Năm: 2012
21.FAO, 2009a. FAO Country Profiles Vietnam. Fisheries and Aquaculture Countr y Profiles –Vietnam.Profile home. Available from:http://www.fao.org/fishery/countrysector/FI-CP_VN/en Link
22.FAO, 2009b. Workshop on assessment and management of the offshore resourc es of South andSoutheast Asia. RAP publication 2009/13. Bangkok, Thailand: FAO R egional Office for Asia and the Pacific; 2008. Available from:ftp://ftp.fao.org/docrep/fao/012/i1014e/i1014e00.pdf Link
23. Flaaten, O. 2010. Fisheries economics and management, Norwegian College of Fishery Science, Available at: http://munin.uit.no/handle/10037/2509 [accessed 6th October 2013] Link
1. Chi cục Khai thác và bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản Khánh Hòa (2009). Báo cáo đăng ký tàu cá theo loại nghề Khác
2. Chi cục Khai thác và bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản Khánh Hòa (2009). Báo cáo đăng ký tàu cá theo công suất Khác
5. Nguyễn Văn Kháng và Lê Văn Bôn (2006). Bản tin điện tử Quý 2 tháng 10/2006 về nghề câu tay Khác
7. Nguyễn Tuấn (2005). Điều tra kết quả kinh tế nghề lưới rê thu ngừ tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Khác
11. Phú Lâm, Phú Yên (2006).Báo cáo tham luận của tổ tàu thuyền an toàn số 01 nghề câu cá ngừ đại dương, phường Phú Lâm. Tuy Hòa, Phú Yên năm 2006 Khác
12. Tổng cục Thuỷ sản (2011). Báo cáo tại trang web Hiệp hội cá ngừ Việt Nam Khác
13. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Khánh Hoà (2007). Báo cáo số lượng tàu thuyền tỉnh Khánh Hòa Khác
14. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Khánh Hoà (2009). Báo cáo sơ kết tình hình khai thác thuỷ sản Khánh Hoà giai đoạn 2000 – 2009 Khác
16.Davidse W. P., Cormack K., Oakeshott E., Frost H., Jensen C., Rey H. S., Fouca ult F. and Taal C.,1993. Costs and Earnings of Fishing Fleets in Four EC Countries Ca lculated on a Uniform Basisfor the Development of Sectoral Fleet Models. Agricultura l Economic Research Institute (LEI-DLO). The Hague Khác
17. Duy N.N., 2010. On the economic performance and efficiency of gillnet vessels in Nha Trang, Vietnam. Master thesis, UiT Khác
19. FAO, 2004. Report of the national conference on reponsiable fisheries in Vietnam. FAO/FishCode Review No.9, Food and Agricultural Organization of the United Nations, Rome, Italy Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Mô hình Gorden-Shaefer với giá cố định - Phân tích hiệu quả kinh tế nghề câu xa bờ tại khánh hòa
Hình 1.1. Mô hình Gorden-Shaefer với giá cố định (Trang 16)
Hình 1.2. Mô hình Gorden-Shaefer với giá thay đổi - Phân tích hiệu quả kinh tế nghề câu xa bờ tại khánh hòa
Hình 1.2. Mô hình Gorden-Shaefer với giá thay đổi (Trang 17)
Hình 1.4. Hành vi điều chỉnh quy mô nỗ lực trong dài hạn của hai tàu với cơ cấu - Phân tích hiệu quả kinh tế nghề câu xa bờ tại khánh hòa
Hình 1.4. Hành vi điều chỉnh quy mô nỗ lực trong dài hạn của hai tàu với cơ cấu (Trang 22)
Hình 1.5. Mô hình tổng quát mối quan hệ của các nhân tố tác động đến - Phân tích hiệu quả kinh tế nghề câu xa bờ tại khánh hòa
Hình 1.5. Mô hình tổng quát mối quan hệ của các nhân tố tác động đến (Trang 26)
Hình 2.3. Bản đồ phân bố ngư trường cá ngừ đại dương - Phân tích hiệu quả kinh tế nghề câu xa bờ tại khánh hòa
Hình 2.3. Bản đồ phân bố ngư trường cá ngừ đại dương (Trang 43)
Hình 2.5. Cá ngừ vây vàng (Thunnus albacores)  Nguồn: Tham khảo từ wedsite wikipedia.org - Phân tích hiệu quả kinh tế nghề câu xa bờ tại khánh hòa
Hình 2.5. Cá ngừ vây vàng (Thunnus albacores) Nguồn: Tham khảo từ wedsite wikipedia.org (Trang 47)
Hình 2.6. Cá ngừ mắt to (Thunnus obesus)  Nguồn: Tham khảo từ wedsite wikipedia.org  2.4.4 - Phân tích hiệu quả kinh tế nghề câu xa bờ tại khánh hòa
Hình 2.6. Cá ngừ mắt to (Thunnus obesus) Nguồn: Tham khảo từ wedsite wikipedia.org 2.4.4 (Trang 48)
Bảng 2.3: Sản lượng khai thác của nghề câu xa bờ tại Khánh Hoà năm 2013 - Phân tích hiệu quả kinh tế nghề câu xa bờ tại khánh hòa
Bảng 2.3 Sản lượng khai thác của nghề câu xa bờ tại Khánh Hoà năm 2013 (Trang 48)
Bảng 3.2. Bảng thống kê trình độ học vấn của chủ tàu và thuyền trưởng - Phân tích hiệu quả kinh tế nghề câu xa bờ tại khánh hòa
Bảng 3.2. Bảng thống kê trình độ học vấn của chủ tàu và thuyền trưởng (Trang 56)
Bảng 3.6: Chi phí biến đổi bình quân một chuyến biển của đội tàu nghề câu xa bờ - Phân tích hiệu quả kinh tế nghề câu xa bờ tại khánh hòa
Bảng 3.6 Chi phí biến đổi bình quân một chuyến biển của đội tàu nghề câu xa bờ (Trang 59)
Bảng 3.9. Cơ cấu chi phí hoạt động cố định - Phân tích hiệu quả kinh tế nghề câu xa bờ tại khánh hòa
Bảng 3.9. Cơ cấu chi phí hoạt động cố định (Trang 62)
Bảng 3.14: Kết quả và hiệu quả hoạt động đánh bắt của đội tàu khai thác nghề - Phân tích hiệu quả kinh tế nghề câu xa bờ tại khánh hòa
Bảng 3.14 Kết quả và hiệu quả hoạt động đánh bắt của đội tàu khai thác nghề (Trang 69)
Bảng 3.19. Thống kê sản lượng theo mô hình hồi quy - Phân tích hiệu quả kinh tế nghề câu xa bờ tại khánh hòa
Bảng 3.19. Thống kê sản lượng theo mô hình hồi quy (Trang 72)
Đồ thị 3.6. Sản lượng đánh bắt ước lượng được từ mô hình hồi quy (3.11) sắp - Phân tích hiệu quả kinh tế nghề câu xa bờ tại khánh hòa
th ị 3.6. Sản lượng đánh bắt ước lượng được từ mô hình hồi quy (3.11) sắp (Trang 73)
Phụ lục 3: Bảng câu hỏi điều tra - Phân tích hiệu quả kinh tế nghề câu xa bờ tại khánh hòa
h ụ lục 3: Bảng câu hỏi điều tra (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w