1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng mô hình đồng quản lý hoạt động khai thác thủy sản vùng biển ven bờ áp dụng ở xã hải ninh, huyện tĩnh gia, tỉnh thanh hóa

128 483 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 3,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG LÊ VĂN SÁNG XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐỒNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY SẢN VÙNG BIỂN VEN BỜ ÁP DỤNG Ở XÃ HẢI NINH, HUYỆN TĨNH GIA, TỈNH THANH HÓA NGÀNH: KỸ THUẬT K

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

LÊ VĂN SÁNG

XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐỒNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY SẢN VÙNG BIỂN VEN BỜ ÁP DỤNG Ở

XÃ HẢI NINH, HUYỆN TĨNH GIA, TỈNH THANH HÓA

NGÀNH: KỸ THUẬT KHAI THÁC THỦY SẢN

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo, cán

bộ Viện Khoa học và Công nghệ khai thác thủy sản, đặc biệt là sự quan tâm, tận tình chỉ dẫn của TS Trần Đức Phú, là người đã hướng dẫn tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Nông nghiệp và PTNT Thanh Hóa, Chi cục Khai thác và BVNL thủy sản Thanh Hóa, Ban quản lý dự án Nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững tỉnh Thanh Hóa, UBND huyện Tĩnh Gia, Phòng Nông nghiệp và PTNT, Phòng Tài nguyên và môi trường, Chi cục Thống kê huyện, UBND xã Hải Ninh, cùng toàn thể hộ ngư dân trên địa bàn các xã Hải Ninh đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, động viên của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện trong suốt thời gian qua

Xin chân trọng cảm ơn!

Khánh Hòa, ngày tháng 11 năm 2014

Tác giả

Lê Văn Sáng

Trang 5

MỤC LỤC

CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II MỤC LỤC III DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT: VII DANH MỤC BẢNG BIỂU VIII DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ IX

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 3

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 3

1.1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong nước 6

1.2 Tổng quan về điều kiện tự nhiên 11

1.2.1 Vị trí địa lý 11

1.2.2 Điều kiện địa hình 11

1.2.3 Điều kiện đất và sử dụng đất 12

1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 12

1.3.1 Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện 12

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội ở xã Hải Ninh 13

1.3.2.1 Dân số, lao động 13

1.3.2.2 Giáo dục và đào tạo 13

1.3.2.3 Cơ sở hạ tầng 13

1.3.2.4 Hoạt động kinh tế 14

1.3.2.5 Điều kiện sống của hộ dân trong xã 15

1.3.2.6 Bảo vệ nguồn lợi tự nhiên ven biển 17

1.3.3 Đặc điểm thời tiết, khí hậu và thủy văn 18

1.4 Tổng quan về phát triển khai thác thủy sản 18

1.4.1 Nguồn lợi hải sản và ngư trường khai thác 18

1.4.1.1 Đặc điểm vùng biển 18

1.4.1.2 Nguồn lợi thuỷ sản và ngư trường khai thác 19

1.4.2 Năng lực khai thác thủy sản 19

1.4.2.1 Năng lực thuỷ sản của tỉnh Thanh Hóa 19

1.4.2.2 Năng lực khai thác của huyện Tĩnh Gia 21

Trang 6

CHƯƠNG 2 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Phương pháp tiếp cận 23

2.2 Phương pháp điều tra hiện trạng kinh tế - xã hội 24

2.3 Xử lý số liệu 25

2.3.1 Xử lý ban đầu (xử lý số liệu thô) 25

2.3.2 Xử lý và phân tích số liệu 25

2.3.3 Qui trình xây dựng mô hình 26

2.4 Tổ chức tham vấn cộng đồng 27

2.4.1 Cách thức tổ chức 27

2.4.2 Khó khăn trong tổ chức tham vấn và giải pháp 27

2.4.3 Xây dựng điều kiện để thực hiện đồng quản lý 28

2.4.4 Phân tích những thuận lợi, khó khăn, điểm mạnh, điểm yếu áp dụng tại địa phương 29

2.4.4.1 Thuận lợi 29

2.4.4.2 Khó khăn 30

2.4.4.3 Điểm mạnh 30

2.4.4.4 Điểm yếu 31

CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32

3.1 Thực trạng hoạt động khai thác thủy sản vùng biển ven bờ xã Hải Ninh, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa 32

3.1.1 Năng lực tàu thuyền 32

3.1.2 Thực trạng nghề khai thác 33

3.1.3 Sản lượng, cơ cấu, hiệu quả nghề khai thác thủy sản 34

3.1.3.1 Sản lượng cơ cấu theo vùng hoạt động 34

3.1.3.2 Năng suất khai thác theo cơ cấu nghề 36

3.1.3.3 Chi phí sản xuất khai thác thủy sản ven bờ 37

3.1.3.4 Trang thiết bị phục vụ khai thác 37

3.1.3.5 Nguồn lực lao động và chất lượng lao động 37

3.1.3.6 Cơ sở hạ tầng dịch vụ nghề cá 37

3.1.3.7 Chính sách hỗ trợ phát triển nghề cá 38

3.1.4 Những thách thức đối với quản lý hoạt động KTTS ven bờ 38

3.1.4.1 Thể chế và chính sách quản lý nghề cá ven bờ chưa hoàn thiện 38

3.1.4.2 Quản lý, thực thi pháp luật cấp tỉnh/huyện/xã và cộng đồng ngư dân 38

3.1.4.3 Sự suy thoái môi trường ven biển 39

3.1.4.4 Sinh kế cho cộng đồng ngư dân thiếu ổn định 41

Trang 7

3.1.4.5 Đánh giá chung tình hình khai thác ven bờ xã Hải Ninh 42

3.2 Xây dựng mô hình Đồng quản lý hoạt động khai thác thủy sản áp dụng tại xã Hải Ninh, huyện Tĩnh Gia 43

3.2.1 Quy mô xây dựng mô hình 43

3.2.2 Mục tiêu của mô hình 43

3.2.2.1 Mục tiêu chung: 43

3.2.2.2 Mục tiêu cụ thể: 44

3.2.3 Hoạt động khai thác thủy sản của mô hình 44

3.2.3.1 Vấn đề hoàn thiện thể chế pháp lý quản lý nghề cá ven bờ: 44

3.2.3.2 Năng lực quản lý và thực thi pháp luật cấp tỉnh/huyện/xã và cộng đồng ngư dân còn yếu và thiếu: 45

3.2.3.3 46

3.2.3.4 Một số quan điểm của ngư dân tham gia mô hình ĐQL: 46

3.2.4 Nghiên cứu tình hình môi trường, sử dụng nguồn lợi thủy sản 51

3.2.4.1 Bảo vệ môi trường ngư trường khu vực ven biển 51

3.2.4.2 Sử dụng nguồn lợi thủy sản: 53

3.2.4.3 Xác định các vấn đề sử dụng nguồn lợi thuỷ sản 54

3.2.5 Hỗ trợ kỹ thuật cho Tổ đồng quản lý 57

3.2.5.1 Đào tạo nhóm lãnh đạo ĐQL 57

3.2.5.2 Điều hành cuộc họp 58

3.2.5.3 Xây dựng thể chế quản lý 58

3.2.5.4 Hỗ trợ xây dựng các hoạt động kỹ thuật, chuyên ngành 59

3.2.6 Xác định nguồn lực cho ĐQL 60

3.2.6.1 Xác định nguồn nhân lực 60

3.2.6.2 Nguồn tài chính 60

3.2.6.3 Cơ sở hạ tầng phục vụ mô hình 61

3.2.7 Các quy định thực hiện mô hình đồng quản lý 61

3.2.7.1 Đối tượng, phạm vi điều chỉnh của mô hình 61

3.2.7.2 Thành lập các đội, tổ/nhóm quản lý/điều hành mô hình 62

3.2.7.3 Các bên tham gia đồng quản lý 63

3.2.7.4 Thiết lập cơ chế phối hợp, báo cáo của mô hình 68

3.3 Tổ chức triển khai mô hình 68

3.3.1 Xây dựng thể chế và chính sách quản lý nghề cá ven bờ 68

3.3.2 Quản lý và thực thi pháp luật cấp tỉnh/huyện/xã 69

3.3.2.1 Thành Lập Tổ đồng quản lý nghề cá của ngư dân 69

Trang 8

3.3.2.2 Phối hợp giữa các cơ quan quản lý nghề cá địa phương với Tổ ĐQL

trong tuần tra, kiểm soát, giám sát khai thác 69

3.3.2.3 Kiểm soát tàu các ven bờ 70

3.3.3 Khắc phục sự suy thoái môi trường ven biển 70

3.3.3.1 Quản lý chất thải gây ô nhiểm 70

3.3.3.2 Khắc phục suy thoái sinh cảnh tự nhiên ven biển 70

3.3.4 Sinh kế của cộng đồng ngư dân 70

3.3.5 Đánh giá, giám sát thực hiện mô hình 71

3.3.5.1 Cơ chế giám sát, đánh giá các chỉ tiêu 71

3.3.5.2 Cơ chế báo cáo giám sát, đánh giá 71

3.4 Những đặc điểm nổi bật của mô hình ĐQL áp dụng ở xã Hải Ninh, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa 72

3.4.1 Các hoạt động chính của mô hình đồng quản lý 72

3.4.2 Điểm nổi bật dự kiến đạt được 72

3.4.3 Các yếu tố tác động đến việc thực hiện các mô hình đồng quản lý 72

3.4.4 Đánh giá kết quả thành lập mô hình 73

3.5 Đề xuất các giải pháp hỗ trợ xây dựng mô hình 74

3.5.1 Phân chia vùng, khu vực thực hiện ĐQL (phân chia ranh giới) 74

3.5.2 Giải pháp về xây dựng quy trình thực hiện việc xây dựng mô hình quản lý nguồn lợi thủy sản có sự tham gia của cộng đồng qua bài học kinh nghiệm rút ra từ các mô hình áp dụng ở xã Hải Ninh 76

3.5.3 Giải pháp về quyền khai thác của cộng đồng ngư dân 76

3.5.4 Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá mô hình đồng quản quản lý hoạt động khai thác thủy sản 77

3.5.5 Xây dựng và ban hành một số văn bản pháp quy (khung thể chế pháp lý) áp dụng ở mô hình vào áp dụng ở diện rộng phù hợp với điều kiện của tỉnh 77

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 78

1 Kết luận 78

2 Khuyến nghị 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

PHỤ LỤC 82

Trang 9

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

BVNL : Bảo vệ nguồn lợi

CRSD : Nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững ĐQL : Đồng quản lý

KTTS : Khai thác thủy sản

NTTS : Nuôi trồng thủy sản

PTNT : Phát triển nông thôn

PPMU : Ban quản lý dự án

UBND : Uỷ ban nhân dân

WB : Ngân hàng Thế giới

Trang 10

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Những ngành nghề thu hút chị em phụ nữ ở khu vực ĐQL 16

Bảng 1.2 Biến động tàu cá giai đoạn 2009 - 2013 tỉnh Thanh Hóa 20

Bảng 1.3 Biến động tàu cá giai đoạn 2009 – 2013 huyện Tĩnh Gia 22

Bảng 3.1 Biến động tàu cá giai đoạn 2009 - 2013 xã Hải Ninh 32

Bảng 3.2 Biến động nghề khai thác thủy sản giai đoạn 2009 - 2013 33

Bảng 3.3 Sản lượng thủy sản khai thác giai đoạn 2009 – 2013 35

Bảng 3.4 Quan điểm chung về sản lượng khai thác 47

Bảng 3.5 Quan điểm về nguồn lợi của một số đội tàu KTTS chính 47

Bảng 3.6 Quan điểm của ngư dân đối với quản lý nguồn lợi 48

Bảng 3.7 Quan điểm về thu nhập so với các năm trước 48

Bảng 3.8 Tương lai của nghề KTTS 49

Bảng 3.9 Hộ ngư dân có nhu cầu đầu tư tăng qui mô nghề KTTS 50

Bảng 3.10 Chuyển đổi nghề khai thác sang các nghề liên quan đến nghề cá 50

Bảng 3.11 Hộ ngư dân từ bỏ nghề khai thác thủy sản sang ngành nghề khác 50

Bảng 3.12 Phân công trách nhiệm tập thể của từng hoạt động của mô hình 55

Trang 11

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 1.1 Tàu cá hoạt động khai thác ở vùng biển xa bờ 21

Hình 1.2 Bè, mảng hoạt động khai thác ở vùng biển ven bờ 21

Hình 3.1 Tàu cá khai thác thủy sản vùng biển ven bờ xã Hải Ninh 34

Hình 3.2 Phương tiện, nghề khai thác thủy sản ven bờ xã Hải Ninh 34

Hình 3.3 Nghề lưới gõ vây khai thác ở vùng biển ven bờ xã Hải Ninh 36

Hình 3.4 Rác thải ở khu vực dân cư để ra biển xã Hải Ninh 40

Hình 3.5 Ngư dân sử dụng kích điện kết hợp nghề lưới kéo để KTTS 40

Hình 3.6 Chất nổ được sử dụng để KTTS bị bắt giữ ở khu vực ĐQL 41

Hình 3.7 Bản đồ mô phỏng khu vực đồng quản lý xã Hải Ninh 43

Hình 3.2: Ký kết biên bản thỏa thuận giữa Tổ ĐQL và các bên liên quan 63

Hình 3.3: Hoạt động xây dựng thể chế của mô hình 64

Hình 3.4 Hệ thống phao phân ranh giới khu vực đồng quản lý 75

Hình 3.5 Phao phân vùng khai thác,vùng cấm khai thác ở vùng biển ven bờ 75

Đồ thị 3.1 Cơ cấu tàu thuyền theo công suất xã Hải Ninh, huyện Tĩnh Gia 32

Đồ thị 3.2 Cơ cấu nghề khai thác thủy ở xã Hải Ninh, huyện Tĩnh Gia 33

Đồ thị 3.3 Biến động sản lượng khai thác giai đoạn 2009 - 2013 35

Trang 12

MỞ ĐẦU

chục nghìn lao động nghèo ven biển Những vùng nước ven bờ này cũng là những bãi

đẻ và các bãi ương nuôi tự nhiên của nhiều loài thủy sản và bổ sung cho nguồn lợi thủy sản xa bờ Theo kết quả khảo sát ý kiến ngư dân khai thác thủy sản ven biển Nguồn lợi thủy sản ven biển đang bị khai thác quá mức ít nhất 10 - 12% Hầu hết các ngư dân được khảo sát cho thấy có sự suy giảm nhanh về sản lượng khai thác về cả khối lượng và kích thước cá đánh bắt được Đến năm 2013, có khoảng trên 6.263 tàu cá cỡ nhỏ dưới 90CV [9]

áp lực nghiêm trọng đối với nghề khai thác hải sản ven bờ và gây ra nhiều khó khăn cho các cộng đồng ven biển Với sự gia tăng giá dầu hiện tại, hầu hết hoạt động khai thác ven bờ không có hiệu quả kinh tế

Huyện Tĩnh Gia có chiều dài bờ biển 42 km, gồm 15 xã làm nghề cá nhưng cơ cấu phương tiện và nghề nghiệp khai thác ở các vùng biển chưa phù hợp, chủ yếu tàu thuyền nhỏ dưới 20CV có 1.505 chiếc, chiếm 57,8% (Nguồn: Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Tĩnh Gia), khai thác với kỹ thuật lạc hậu lao động thủ công là chính Trong khai thác vẫn còn hiện tượng dùng kích thước mắt lưới quá nhỏ không đúng quy định,

sử dụng thuốc nổ, chất độc, kích điện để khai thác mang tính huỷ diệt nguồn lợi, dẫn đến ngư trường bị tàn phá nghiêm trọng, một số loài thuỷ sản có nguy cơ bị diệt chủng Hiệu quả kinh tế của nghề khai thác thuỷ sản thấp, đời sống của đại bộ phận ngư dân còn khó khăn, không có vốn để đầu tư phát triển tuyến khơi hoặc chuyển đổi nghề khác

Nghề khai thác cá biển ở huyện tập trung phát triển 03 khu vực: ở phía Bắc có các xã Hải Châu và Hải Ninh, khu vực trung tâm có các xã Hải Thanh và Hải Bình, khu vực phía Nam có Nghi Sơn và Hải Hà Khu vực phía Bắc huyện Tĩnh Gia có 02 xã nghề cá trọng điểm là xã Hải Châu và xã Hải Ninh, với hơn 700 tàu cá, thu hút hơn 4.000 lao động trực tiếp và gần 2.000 lao động gián tiếp tham gia như: chế biến cá biển, dịch vụ hậu cần nghề

cá, … phần lớn trong số đó tập trung ở xã Hải Ninh

Cũng như các xã ven biển khác trong tỉnh và huyện, KTTS vùng biển ven bờ xã Hải Ninh ít đóng góp vào giá trị xuất khẩu so với khai thác xa bờ Nhưng đóng vai trò

Trang 13

quan trọng trong việc cung cấp trực tiếp hoặc gián tiếp việc làm cho phần lớn người dân ven biển Hơn nữa, vùng ven bờ biển là bãi đẻ, nơi sinh sản của nhiều loài thủy hải sản quý hiếm như cá song, tôm bộp, Với gần 400 tàu cá ven bờ, chiếm 80% tổng số tàu cá của xã, cùng với hàng trăm tàu cá nhỏ của các xã khác ngày đêm khai thác làm cho trữ lượng nguồn lợi thủy sản gần bờ giảm đi rõ rệt, năng suất khai thác của nhiều nghề giảm từ 20 - 30% so với 5 năm gần đây, như nghề lưới kéo tôm, lưới rê,…

Hiện nay, nghề KTTS ven bờ ở xã Hải Ninh, huyện Tĩnh Gia đang phải đối mặt với những thách thức lớn và đây cũng là tình trạng chung của tỉnh như: KTTS chủ yếu còn mang tính tự phát, nguồn lợi thuỷ sản ven bờ đang bị cạn kiệt, ngư dân vẫn lén lút

sử dựng ngư cụ đánh bắt mang tính huỷ diệt vẫn đang tồn tại, cơ cấu nghề nghiệp phân

bố chưa hợp lý, rủi ro cao trong quá trình lao động sản xuất trên biển, xung đột giữa các nghề khai thác thuỷ sản ngày càng khốc liệt nên hiệu quả khai thác ngày một giảm, dẫn đến thu nhập suy giảm,… Trong khi đó nghề cá xa bờ đang gặp những khó khăn

về trình độ khoa học công nghệ, vốn đầu tư nâng cấp phương tiện, nghề khai thác, hiểu biết thông tin về ngư trường khai thác còn hạn chế,… nên hiệu quả mang lại chưa cao

Để tổ chức khai thác hợp lý, ổn định và thực sự có hiệu quả nguồn lợi thuỷ sản ven bờ ở

xã Hải Ninh, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa nói riêng và nguồn lợi thủy sản ở các vùng biển nói chung là thực sự cần thiết

Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Xây dựng mô

hình đồng quản lý hoạt động khai thác thủy sản vùng biển ven bờ áp dụng ở xã Hải Ninh, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa” Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là

nghiên cứu và đề xuất giải pháp đồng quản lý hoạt động khai thác thủy sản vùng biển ven bờ áp dụng ở xã Hải Ninh, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa nhằm tổ chức hoạt động khai thác thủy sản ven bờ hợp lý, cụ thể:

- Đánh giá hiện trạng hoạt động quản lý khai thác thủy sản vùng biển ven bờ xã Hải Ninh, huyện Tĩnh Gia, tỉnhThanh Hóa

- Đề xuất giải pháp ĐQL hoạt động khai thác (sau đây gọi tắt là đồng quản lý nghề cá) ở vùng biển ven bờ dựa vào cộng đồng phù hợp với điều kiện của các địa phương

Bố cục của đề tài bao gồm 3 chương:

Chương 1- Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2- Phương pháp nghiên cứu

Chương 3- Kết quả nghiên cứu

Kết luận và khuyến nghị

Trang 14

CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Khai thác thủy sản đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn thực phẩm, góp phần cải thiện sinh kế của người dân cũng như phát triển kinh tế xã hội của nhiều nước trên thế giới Năm 2012, sản lượng khai thác toàn cầu đạt 91,3 triệu tấn, giảm không đáng kể so với năm 2011 (93,7 triệu tấn); trong đó, khai thác biển đạt 79,7 triệu tấn, khai thác nội địa đạt 11,6 triệu tấn

Trong những năm gần đây, sản lượng khai thác toàn cầu giảm sút cùng với tình trạng khai thác quá mức đã gióng lên một hồi chuông cảnh báo tình trạng khai thác biển toàn cầu đang ngày càng xấu đi Khai thác quá mức không chỉ gây hậu quả về mặt sinh thái mà còn góp phần làm giảm sản lượng khai thác và ảnh hưởng xấu đến kinh tế xã hội trên toàn cầu Tỷ trọng trữ lượng thủy sản khai thác ở mức độ bền vững cho phép giảm

từ 90% trong năm 1974 xuống còn 71,2% trong năm 2011 Theo đánh giá nguồn lợi thủy sản năm 2011, trữ lượng thủy sản bị khai thác triệt để chiếm 61,3% và trữ lượng thủy sản chưa khai thác triệt để là 9,9% Năm 2011, 10 loài thủy sản có sản lượng cao nhất chiếm khoảng 24% sản lượng khai thác biển toàn cầu Hầu hết trữ lượng của các loài này đã bị khai thác triệt để và số còn lại bị khai thác quá mức Tái tạo lại nguồn lợi thủy sản có thể khiến sản lượng khai thác hàng năm tăng 16,5 triệu tấn (tương đương với 32 tỷ đô la Mỹ)

Đánh cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) vẫn là những thách thức mà các nước đang phải đối mặt trong việc đảm bảo phát triển nghề cá bền vững và tăng cường hệ sinh thái lành mạnh Hiện tại, nhiều nước trên thế giới đang tiếp tục thực hiện Kế hoạch hành động quốc tế nhằm ngăn chặn, giảm thiểu và loại trừ IUU Về phía các cơ quan quản lý nghề cá khu vực (RFBs), đã tham gia tích cực trong các chiến dịch nhằm đối phó với IUU Tháng 6/2014, Ủy ban nghề cá của FAO (COFI)

đã xem xét thông qua các hướng dẫn tự nguyện cho sự thực hiện của quốc gia treo cờ Đây được coi là công cụ hiệu quả trong việc ngăn ngừa, ngăn chặn và loại bỏ đánh cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định

Sản phẩm phụ trong khai thác cũng là vấn đề quan ngại đối với nhiều quốc gia FAO đã xây dựng các hướng dẫn quốc tế về quản lý và giảm thiểu sản phẩm phụ trong

Trang 15

khai thác, đồng thời giúp đỡ các nước xây dựng năng lực trong việc thực hiện tiếp cận

hệ sinh thái

Dự báo, sản lượng khai thác toàn cầu tiếp tục ổn định (mặc dù có một số thay đổi đáng kể về sản lượng ở từng nước, từng vùng và từng loài) với tốc độ tăng trưởng khoảng 5% năm 2022 Năm 2011, sản lượng khai thác chiếm 60% tổng sản lượng thủy sản toàn cầu và tỷ trọng này được dự báo sẽ giảm một nửa, với sản lượng khai thác chỉ tăng khoảng 2,8 triệu tấn vào năm 2030 Tại khu vực Nam Á, sản lượng khai thác được

dự báo sẽ tăng lên, trong khi sản lượng khai thác của Nhật Bản sẽ giảm khoảng 15% trong giai đoạn 2010-2030

Từ lâu vấn đề khai thác nguồn lợi sinh vật biển là một trong những sinh kế của con người Thế giới đã biết khai thác biển để phục vụ lợi ích con người từ rất sớm, từ việc đánh bắt ven bờ bằng những dụng cụ thô sơ như dùng những bó đuốc để dẫn dụ

cá, biết dùng những cây lao có đầu nhọn để sát thương cá, đánh bắt cá bằng các ngư cụ bẫy,… đến việc sử dụng công nghệ cao với quy mô công nghiệp để đánh cá đại dương Tùy theo mức độ hoàn thiện ngư cụ và kỹ thuật khai thác mà con người đã tiến từ vùng nước nội địa đến khai thác các đại dương Cho đến nay có thể nói rằng các tài nguyên sinh vật và không sinh vật của biển đã được con người khai thác một cách triệt để và đến lúc phải lên tiếng báo động về sự xâm hại môi trường, phá vỡ sự cân bằng sinh thái và đánh bắt cạn kiệt nguồn lợi thủy sản đặc biệt là nguồn lợi ven bờ

Hiện nay nhiều nước có nghề cá quy mô lớn khai thác ở vùng đại dương đã đưa

ra có những biện pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi vùng ven bờ dựa vào cộng đồng như: trồng rừng ngập mặn, định kỳ khai thác theo mùa, thả con giống để phát triển mạnh

về nuôi trồng thuỷ sản,

Xu hướng chung của nghề cá thế giới hiện nay là tìm mọi biện pháp tích cực để bảo vệ sự đa dạng sinh học của biển, tái tạo nguồn lợi và phát triển bền vững nguồn lợi ven bờ, nghiên cứu những yếu tố tác hại bất lợi cho nghề cá do sự biến đổi khí hậu toàn cầu Trong đó, quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng hay các mô hình đồng quản lý hiện đang được áp dụng khá phổ biến ở các nước có nghề cá phát triển trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia có nghề cá quy mô nhỏ ở khu vực Châu Á

Theo, Pomeroy “Đồng quản lý là một sự hợp tác, trong đó cộng đồng địa phương, người sử dụng nguồn lợi (ngư dân), Nhà nước, các bên liên quan (chủ tàu, nậu vựa, cơ sở đóng tàu, dịch vụ hậu cần…) và các cơ quan bên ngoài (các tổ chức phi

Trang 16

chính phủ (NGOs), các đơn vị nghiên cứu (Viện Nghiên cứu, Trường Đại học) cùng nhau chia sẻ trách nhiệm, quyền lợi trong việc quản lý nghề cá Thông qua việc tham vấn, thương lượng các bên liên quan đưa ra một quy định chung về vai trò, trách nhiệm và quyền hạn trong công tác quản lý nghề cá Đồng quản lý còn được gọi là quản lý có sự tham gia hay hợp tác quản lý” (Pomeroy, 2005)

Một số các mô hình tổ chức cộng đồng trên thế giới:

Mô hình thứ nhất, ĐQL ở hồ chứa ở hồ Nam Houm - Thái Lan:

Được thiết lập từ năm 2001 đến nay bỡi sáng kiến của LARReC (Trung tâm nghiên cứu Nguồn lợi thuỷ sinh) và MRC (Uỷ hội sông Mê Kông): Mô hình đã thiết lập được vùng bảo tồn phía trước đầm chính (1.500m từ đầm) và được tuyên bố là vùng đóng cửa khai thác đối với tất cả các ngư cụ trong cả năm; 04 vùng bảo tồn theo mùa nằm ở khu vực đầu nguồn hoặc nằm ở các suối cấp nước cho hồ Những vùng này được tuyên bố đóng cửa trong mùa sinh sản, thông thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 8; Vùng bảo tồn thường xuyên được giám sát bới lực lượng tuần tra đặc biệt là trong mùa sinh sản (bắt đầu vào mùa mưa); với các hoạt động: xây dựng các bảng cảnh báo, các bảng chỉ dẫn thông báo cho người dân địa phương về qui định khai thác

và các vùng bảo vệ cá, các kí hiệu cảnh báo được đặt ở từng khu bảo tồn và tại điểm neo tàu ở các làng và đội đồng quản lý tiến hành các hoạt động tuần tra đặc biệt là trong mùa sinh sản (tháng 5 đến tháng 8 hàng năm),…

Mô hình thứ hai, Quản lý cộng đồng dựa trên các quyền được thực hiện bởi các

Hiệp hội Hợp tác xã thủy sản ở Nhật Bản:

Chính phủ trao quyền khai thác để tạo điều kiện thuận lợi và duy trì đồng quản lý dựa trên cộng đồng, do đó người dân địa phương là phần không thể thiếu được của quản

lý tổng hợp, trong khi đó chính phủ không thể hiểu và điều tra được hiện trạng chi tiết của các vùng ven biển, chỉ người dân địa phương mới giám sát, điều tra, thực thi các

biện pháp chi tiết có hiệu quả phù hợp với điều kiện của địa phương Như vậy, ngư dân

có thể tự quyết định các qui định, luật lệ và không cần khung pháp lý hoặc thực thi pháp luật bởi Chính phủ Triển khai các luật lệ địa phương một cách tự nguyện và linh hoạt để bảo tồn/sử dụng nguồn lợi của địa phương (đặc biệt dưới sự biến động của môi trường), chi phí quản lý (Chi phí cho MCS) có thể là rất nhỏ (theo dõi chung , ), chi phí thu thập

dữ liệu cho nghề cá (sản lượng, số lượng ngư dân, tàu thuyền,…) có thể là rất nhỏ

Trang 17

Mô hình thứ ba, Quản lý nghề cá dựa trên cộng đồng ở Khu Di sản Thế giới

Siretoko - Nhật Bản:

Khu vực phía nam có băng trôi theo mùa, ngành công nghiệp chính: Thủy sản

và Du lịch, sản lượng thủy sản năm 2006 là 73.640 tấn, đạt giá trị 28,4 triệu USD Khu vực đồng quản lý có 3 xã, với 851 thành viên và khoảng 20% người dân địa phương làm trong ngành công nghiệp thủy sản Các hoạt động của cộng đồng: Ngư dân địa phương không chỉ tham gia vào hoạt động khai thác, mà còn tham gia vào hoạt động bảo vệ nguồn lợi, quan tâm đến nhu cầu bảo vệ môi trường biển và ven biển nhằm đảm bảo sử dụng bền vững nguồn lợi thủy sản Các ngư dân chủ chốt tham gia 15-20 cuộc họp trong 1 tháng để tự quản lý (một phần của hoạt động nghề cá)

Mô hình thứ tư, Tổ chức cộng đồng ở Bangladesh:

Ở Bangladesh, cán bộ lãnh đạo các thủy vực nước nội địa được các ngư dân lựa chọn và bầu ra Đội ngũ lãnh đạo khối văn phòng thường bị hạn chế để những người khác có cơ hội học hỏi kỹ năng lãnh đạo và giảm tham nhũng Sự tín nhiệm dành cho một cá nhân là cán bộ lãnh đạo có thể là một vấn đề đáng lưu tâm Trong một số trường hợp, các hoạt động quản lý thường được thực hiện với cán bộ lãnh đạo từ thành phần xã hội đặc biệt hay nhóm đối tượng cụ thể trong cộng đồng, nhưng điều này thường được mở rộng thành một quá trình dịch chuyển nhằm đảm bảo sự tham gia trên quy mô rộng

Trong quá trình tổ chức cộng đồng, cán bộ lãnh đạo tuyến đầu và tuyến hai cũng được lấy trong số các cán bộ lãnh đạo cộng đồng có kinh nghiệm dày dạn trong các chương trình/dự án trước đó

Cán bộ lãnh đạo giải quyết có hiệu quả những khó khăn trong quá trình tổ chức cộng đồng (người tiên phong, tìm kiếm cơ hội, thực nghiệm, ); Chia sẻ nhận định (nhìn xa trông rộng, hình dung tương lai, dành được sự cộng tác của các đối tượng khác); Tạo điều kiện để mọi người tham gia hoạt động (tham gia nhóm, đẩy mạnh hoạt động hợp tác, hỗ trợ đối tượng tham gia); Động viên các thành phần trọng tâm (cán bộ lãnh đạo nhiệt huyết, nhận ra những đóng góp, có hoạt động đánh dấu/kỷ niệm khi đã hoàn thành công việc); Sẵn sàng đón nhận những lời phê bình

1.1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam trong khoảng 10 năm trước đây, việc quản lý nguồn lợi ven bờ dựa vào cộng đồng đã được đề cập đến, nhưng mức độ ứng dụng trong thực tiễn còn chậm

Trang 18

và đang trong quá trình phát triển Trong quá trình hoạt động, các cán bộ quản lý và kỹ thuật làm công tác này cũng như những thành viên trong cộng đồng phát hiện nhiều vấn đề đổi mới ở cơ sở với nhiều sáng kiến của địa phương

Các nghiên cứu của một số tác giả1 chỉ ra rằng "quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng" và thậm chí "đồng quản lý" không phải là khái niệm mới mẻ đối với Việt Nam,

có mới chăng chỉ là ở tên gọi mà thôi Khoảng 400 năm trước nghề cá sông ở Việt Nam đã được giao cho các cộng đồng ngư dân đánh cá quản lý và tự điều chỉnh phân chia quyền thả lưới ở từng quãng sông Dưới triều đại nhà Nguyễn, nghề cá đầm phá ở Thừa Thiên Huế được Nhà nước giao cho các làng quản lý theo thể thức lãnh trưng Tại miền Bắc Việt Nam, các Chuôm ở từng làng và các đầm ở trên các cánh đồng thường là nơi đánh cá chung của cả làng nhưng là của từng làng riêng biệt,… Từ khoảng 1995 trở đến nay, các nghiên cứu triển khai về quản lý thuỷ sản dựa vào cộng đồng hoặc đồng quản lý đã bắt đầu trở lại

Một số mô hình đồng quản lý nghề cá ở trong nước

Mô hình thứ nhất 2, Quản lý nguồn lợi ven bờ dựa vào cộng đồng xã Phù Long, huyện Cát Hải - Hải Phòng được phối hợp thực hiện bởi Trung tâm Phát triển Nông thôn (Hà Nội), Chi cục Khai thác và Bảo vệ Nguồn lợi Thuỷ sản Hải Phòng và UBND huyện Cát Hải dưới sự trợ giúp của Viện Konrad Adenauer (KAS) là tổ chức phi chính phủ của Đức, từ năm 1999 Ý tưởng chính của dự án "quản lý nguồn lợi ven bờ dựa vào cộng đồng" là phân cấp cho địa phương và lôi kéo sự tham gia đông đảo của những người sử dụng nguồn lợi vào việc bảo vệ chính những nguồn lợi đó Mục tiêu dự án là triển khai thí điểm mô hình quản lý nguồn lợi ven bờ dựa vào cộng đồng để khi có điều kiện, có thể nhân rộng trên toàn huyện,

Một số kết quả đạt được của mô hình: Nhận thức và năng lực của cộng đồng từng bước được nâng cao; Thả phao và khai trương khu bảo tồn nguồn lợi xã Phù Long vào tháng 3 năm 2003; Hội đồng quản lý khu bảo tồn nguồn lợi với 10 thành viên là các ngư dân và cán bộ địa phương được thành lập do Chủ tịch UBND xã đứng đầu, bên cạnh đó Đội tuần tra, kiểm soát với 6 thành viên cũng được lập ra với nhiệm

vụ chính là tuần tra, phát hiện và ngăn chặn các hoạt động khai thác bất hợp pháp

cá cộng đồng truyền thống ở Việt Nam – traditional organization of fisheries communities in Vietnam (1998); Nguyễn Duy Thiệu: Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam (2002)

Thiên Huế (2009)

Trang 19

trong phạm vi khu bảo tồn nguồn lợi; Nguồn lợi thuỷ sản có dấu hiệu bắt đầu phục hồi; Bước đầu định hướng phát triển các hoạt động khai thác thân thiện với môi trường,

Các vấn đề còn tồn đọng, cần giải quyết lúc kết thúc dự án là: Chưa có khung pháp lý cho khu bảo tồn biển Phù Long; Chưa có cơ chế tài chính để tiếp tục duy trì các hoạt động của khu bảo tồn; Năng lực quản lý khu bảo tồn của cán bộ và cộng đồng dân địa phương chưa cao; Chưa có sự nhất trí giữa các ban ngành cấp huyện, tỉnh và địa phương,

Mô hình thứ hai 3 , Bảo tồn biển Rạn Trào do địa phương quản lý ở thôn Xuân Tự,

xã Vạn Hưng, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà, được phối hợp thực hiện bởi Liên minh Sinh vật biển Quốc tế Việt Nam4 và UBND huyện Vạn Ninh từ năm 2001 đến 2004 Rạn Trào là một rạn san hô cách bờ khoảng 5 km thuộc thôn Xuân Tự, xã Vạn Hưng, huyện Vạn Ninh tỉnh Khánh Hoà, cách thành phố Nha Trang khoảng 60 km về phía Bắc Khu vực này thuộc vịnh Vân Phong, vùng ven bờ phần lớn là các rạn san hô, không có sông đổ vào, nước biển luôn luôn có độ mặn cao, độ trong lớn Vùng bờ biển tiếp giáp Rạn Trào là một vùng thảm cỏ biển lớn, chủ yếu là cỏ lá dừa và cỏ vích

Rạn Trào có thành phần san hô rất phong phú, năng suất sinh học của cả hệ sinh thái rạn san hô và hệ sinh thái cỏ biển đặc biệt cao Nhờ đó mà xã Vạn Hưng đã có điều kiện phát triển và trở thành một vùng phát triển nhất cả nước về nghề nuôi tôm hùm lồng Đời sống của người dân đã được cải thiện đáng kể

Mục tiêu là quản lý và bảo tồn tốt hệ sinh thái san hô Rạn Trào (27 hecta) tại xã Vạn Hưng, thông qua áp dụng đồng quản lý và quản lý có sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động bảo vệ, bảo tồn, khai thác và nuôi trồng thuỷ sản bền vững Các mục tiêu khác, như: Nâng cao năng lực người dân trong bảo vệ môi trường; Xây dựng và thực hiện kế hoạch quản lý và sử dụng hợp lý nguồn lợi ven bờ; Xây dựng một mô hình quản

lý vùng ven biển để phổ biến và áp dụng tại các vùng biển khác của Việt Nam

Các kết quả đạt được là: Nguồn lợi rạn san hô và cá rạn san hô tại khu bảo tồn Rạn Trào được bảo vệ và tái tạo, nguồn lợi thuỷ sản dần dần được khôi phục với số chủng loại và trữ lượng loài tăng lên rõ rệt Trong khu bảo tồn đã xuất hiện lại nhiều nguồn giống trước đây đã cạn kiệt như: tôm hùm, cá ngựa, hải sâm, ốc nhảy, bàn mai Trong đợt khai thác thử vào cuối tháng 8/2003 đã thu được 85 kg ốc vỗ (ốc Mặt trăng)

và 650 con ốc nhảy đạt cỡ thương phẩm Nhận thức về bảo vệ môi trường sinh thái, đa

Trang 20

dạng sinh học và nguồn lợi biển của đại bộ phận nhân dân được nâng cao rõ rệt Người dân đã có ý thức trong việc vệ sinh môi trường biển và đất liền, không xả chất thải sản xuất và sinh hoạt làm ô nhiễm môi trường Tình trạng khai thác thuỷ sản bằng các hình thức huỷ diệt cơ bản đã được xoá bỏ: đánh mìn, dùng xianua, phá hoại các rạn san hô Người dân được tạo điều kiện tiếp cận các nguồn tín dụng, tăng cường sinh kế, các kỹ thuật nuôi trồng hải sản lựa chọn được cải thiện theo hướng tăng năng suất và giảm thiểu tác động tiêu cực đối với môi trường biển Mô hình nuôi trồng thủy sản kết hợp bền vững được người dân ủng hộ và tham gia tích cực Người dân được chính quyền

và các tổ chức hỗ trợ cho vay vốn phát triển sản xuất nuôi trồng thủy sản có kết quả, đời sống được cải thiện, tỷ lệ các hộ nghèo trong vùng dự án giảm nhanh Năng lực quản lý nguồn lợi hải sản ven bờ của người dân và cán bộ quản lý thủy sản được nâng cao thông qua các hoạt động đào tạo và quản lý dự án Một phương pháp luận phù hợp cho việc quản lý nguồn lợi thuỷ sản rạn san hô ven bờ được xây dựng và phổ biến áp dụng cho các vùng biển khác của Việt Nam

Mô hình thứ ba 5 , Đồng quản lý nghề cá ở tỉnh Thừa Thiên - Huế: Quản lý

nghề cá dựa vào cộng đồng (dựa vào dân) ở Thừa Thiên - Huế là quá trình quản lý thuỷ sản của Nhà nước có sự tham gia của cộng đồng sử dụng chung ngư trường, nguồn lợi thuỷ sản, môi trường thuỷ sinh, trên vùng thuỷ vực nhất định, thông qua tổ chức xã hội - nghề nghiệp của họ ở địa phương, cơ sở Nếu được thể chế, hệ thống hoá, các tổ chức ngư dân sẽ chủ động, sáng tạo tự quản lý trong quyền hạn và trách nhiệm được phân, tạo nên hệ thống quản lý nghề cá dựa vào dân, góp phần cùng Nhà nước quản lý tốt hơn nghề cá quy mô nhỏ

Xây dựng mô hình đồng quản lý là chuẩn bị về mặt tổ chức cho việc phối hợp giữa chính quyền, cộng đồng và các bên hữu quan, bắt đầu bằng việc áp dụng phương pháp dựa vào cộng đồng trong quản lý tài nguyên và phát triển sinh kế

Đồng quản lý được chọn để xây dựng mô hình ở tỉnh Thừa Thiên - Huế dựa vào

sự đồng thuận và hợp tác của các bên, không quản lý theo kiểu áp đặt hoặc đánh giá thấp vai trò cộng đồng

Ở mỗi làng cá trong tỉnh, tập quán tuy có khác nhau nhưng đều có chung quan điểm là: Quy định về trách nhiệm phải hỗ trợ nhau trong nghề nghiệp và cứu trợ nhau lúc gặp hoạn nạn trên biển; Quy định bến đậu thuyền của các làng; Quy định về quyền

Thiên Huế (2003)

Trang 21

được khai thác thuỷ sản của ngư dân từng vùng cụ thể, ; Quy định về mùa đánh bắt; Quy định những loại ngư cụ, hoặc các loại thuốc độc làm cá chết hàng loạt không được sử dụng,

Triển khai mô hình thực hiện đồng bộ 3 quá trình: xây dựng mô hình thí điểm, xây dựng thể chế, xây dựng kế hoạch quản lý trong vùng nước sinh thái Chính việc triển khai đồng bộ nên mô hình đã được phát triển nhân rộng nhanh chóng Để trở thành hệ thống quản lý nghề cá dựa vào dân thì các giai đoạn nghiên cứu, thiết kế ban đầu và "hậu - triển khai" cần được chú trọng nhiều hơn chứ không đơn thuần triển khai

mô hình thí điểm tại thực địa Các giai đoạn nghiên cứu, triển khai mô hình gồm: (1) Nghiên cứu, thiết kế hệ thống; (2) Tiền triển khai; (3) Triển khai; (4) Hậu triển khai

Những kết quả cụ thể từ mô hình thí điểm làm cơ sở để các nhà quản lý mạnh dạn hơn trong phân quyền quản lý thuỷ sản cho tổ chức ngư dân, thể chế mới được xác lập

Nghiên cứu quản lý nghề cá chú trọng vào yếu tố con người, quản lý các nguồn lực của con người, thu hút mạnh mẽ sự quan tâm của các cấp chính quyền và cộng đồng ngư dân Ngư dân rất chú trọng đến sự biến động nguồn lợi thuỷ sản liên quan đến khả năng thu nhập hiện tại và lâu dài của họ, đồng thời nó cũng gắn liền với quyền lợi cũng như quyền hạn trong việc sử dụng nguồn lợi thuỷ sản đó

Việc triển khai các mô hình trên thường gắn liền với bảo vệ môi trường sống của các loại thủy sản có giá trị kinh tế cao, gắn với việc bảo toàn nguồn vốn sinh thái (rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển, các thuỷ vực ) nhằm ổn định nguồn thu lấy

từ sản phẩm đầu ra của chính các hệ sinh thái; triển khai mô hình cũng đã giúp được phần lớn cộng đồng ngư dân trong khu vực xây dựng mô hình có thể hiểu rõ tình hình nguồn lợi và sử dụng nguồn lợi thủy sản ở địa bàn của họ Nhiều bài học thực tiễn rút

ra từ các mô hình quản lý nguồn lợi thủy sản dựa vào cộng đồng ở nước ngoài (Nhật Bản, Đài Loan, Philippines, Thái Lan, ) có thể chọn lọc vận dụng phù hợp với hoàn cảnh của nước ta

Tuy nhiên, cho đến nay không thể đưa ra được một khuôn mẫu nào áp dụng hoặc thích ứng đối với mỗi vùng biển, mỗi địa phương trong khi áp dụng quản lý nguồn lợi ven bờ dựa vào cộng đồng, mà luôn luôn đòi hỏi ở người cán bộ sự sáng tạo, năng nổ trong hoạt động Các mô hình đã được triển khai ở nước ta thường kém ổn định, không phát huy được tác dụng sau khi dự án kết thúc, thiếu các cơ chế chính

Trang 22

sách bảo đảm cho người dân tham gia đầy đủ, chủ động và hiệu quả Cụ thể một hạn chế như sau:

- Do chưa hiểu đúng về khái niệm ĐQL và cách tiếp cận, dẫn đến việc thực hiện không bài bản, lẫn lộn giữa mô hình kỹ thuật và mô hình ĐQL, vẫn áp đặt cách quản

lý từ trên xuống theo kiểu truyền thống trong khá nhiều dự án cộng đồng

- Hầu hết các mô hình đều chỉ có quyết định thành lập Tổ, quy chế nội bộ, hoạt động trong phạm vi nội bộ,… nhưng chưa có cơ chế phối hợp thật sự chặt chẽ giữa các bên liên quan (chỉ phối hợp theo các hệ thống văn bản hành chính hiện có mà thôi) nên chưa tạo ra sự khác biệt lớn trong công tác quản lý, so với quản lý theo kiểu hành chính hiện nay Các mô hình đều thiếu cơ sở pháp lý đủ để giúp họ thực hiện tốt nhiệm

vụ quản lý

- Hầu hết các mô hình được xây dựng và thực hiện như một hoạt động, một bước

đi hay một nhiệm vụ của một dự án nào đó Chưa có một mô hình nào do người dân hoặc chính quyền địa phương tự đề xuất và kêu gọi hỗ trợ Bên cạnh đó chưa thực hiện tốt công tác chuyển giao, chuẩn bị những hỗ trợ tài chính cần thiết khi Dự án kết thúc nên nhiều mô hình chấm dứt hoạt động khi hết sự hỗ trợ của dự án

- Tâm lý đi làm dự án, chứ không phải là công việc thường xuyên của công chức, cũng đã xuất hiện trong một số bộ phận cán bộ của ngành thủy sản và cán bộ các địa phương trong quá trình xây dựng và thực hiện các mô hình nói trên

Vì thế, khả năng nhân các mô hình trên ra diện rộng hơn thường gặp khó khăn, thiếu khả thi

1.2 Tổng quan về điều kiện tự nhiên

1.2.1 Vị trí địa lý

Xã Hải Ninh nằm ở phía Đông Bắc của huyện Tĩnh Gia, cách trung tâm huyện

13 km; bao gồm 9 thôn, ranh giới của xã tiếp giáp:

- Phía đông giáp biển Đông;

- Phía nam giáp xã Hải An, huyện Tĩnh Gia;

- Phía tây giáp các xã Triều Dương, Thanh Thủy, huyện Tĩnh Gia;

- Phía bắc giáp các xã Hải Châu, Thanh Thủy, huyện Tĩnh Gia

1.2.2 Điều kiện địa hình

Xã Hải Ninh, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa nằm trong vùng địa hình đồng bằng ven biển Địa hình tuyến đi qua tương đối bằng phẳng, cao độ bề mặt địa hình

Trang 23

thay đổi không nhiều Địa hình hai bên là nhà dân và ruộng mầu Nhìn chung điều kiện địa hình, địa mạo khu vực là khá đơn giản, thuận lợi cho quá trình khảo sát, thiết kế và thi công công trình

1.2.3 Điều kiện đất và sử dụng đất

Với địa hình hướng dốc nghiêng dần từ Tây sang Đông, đất đai có khả năng tưới tiêu tự chảy Diện tích tự nhiên là 614,19 ha Trong đó đất trồng cây hàng năm 155,82 ha (trồng lúa 67,5 ha còn lại là trồng màu; đất nuôi trồng thủy sản 41,5 ha và diện tích mặt nước ven biển kể cả đầm 60 ha) đất trống, đất hoang 51,4 ha

1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội

1.3.1 Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện

Tĩnh Gia là huyện cực nam của tỉnh Thanh Hoá, phía nam giáp tỉnh Nghệ An, phía đông giáp biển, phía bắc giáp huyện Quảng Xương, phía tây giáp huyện Nông Cống và huyện Như Thanh Vừa có biển, vừa có núi rừng cùng nhiều danh thắng, huyện Tĩnh Gia có nhiều lợi thế phát triển kinh tế tương đối toàn diện, đặc biệt là phát triển du lịch, công nghiệp và thuỷ, hải sản

Ðịa hình bán sơn địa, bao gồm những hang động hoang sơ, vùng đồng bằng và đất bãi ven biển, đường bờ biển dài với những dải cát mịn, cùng quần thể các hòn đảo nhỏ, 3 cửa lạch, 2 cảng biển lớn đã tạo cho Tĩnh Gia tiềm năng và lợi thế "đặc biệt" Diện tích tự nhiên 450 km2, dân số 220.000 người chiếm 6,47% dân số toàn tỉnh (3,4 triệu người, năm 2010)

Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm trên 10%/năm Những tiềm năng và lợi thế đó cùng với những thành tựu đạt được trong thời kỳ đổi mới đang và sẽ là điểm tựa

để Tĩnh Gia vươn mạnh, khẳng định vị thế của mình trong thế kỷ XXI

Về lao động và việc làm: theo kết quả điều tra đến ngày 31/12/2010, số người trong độ tuổi lao động trong huyện là 130.000 người, chiếm 59,1% dân số, trong đó lao động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 93.000 người, chiếm 71,5% tổng số người trong độ tuổi lao động Nguồn lao động của huyện tương đối trẻ, có trình độ văn hoá khá Lực lượng lao động đã qua đào tạo chiếm 27%, trong đó lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chiếm 5,4%

Với 15 xã ven biển có phương tiện khai thác thủy sản với tổng dân số 147.788 người/29.782 hộ, hộ nghèo là 8.329 hộ, chiếm 28% tổng số hộ ven biển (năm 2010)

Trang 24

Số hộ làm nghề khai thác thủy sản 6.270 hộ, chiếm 21% tổng số hộ ven biển, thu hút hơn 9.900 lao động trực tiếp trên tàu cá

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội ở xã Hải Ninh

1.3.2.1 Dân số, lao động

Năm 2013, dân số là 16.995 người, với 3.283 hộ, tốc độ tăng trưởng dân số là 13,25%/năm, dân số trong độ tuổi lao đông (15 - 60 tuổi) là 10.760 người, chiếm 63,5% tổng dân số đây là nguồn lao động dồi dào của xã có thể bổ sung cho nghề cá và các ngành khác ở trong và ngoài xã

1.3.2.2 Giáo dục và đào tạo

Năm học 2012 - 2013 ở tất cả các cấp học có 3.332 học sinh tham gia, tăng 441 học sinh so với năm học 2011- 2012, trình độ học vấn trung bình đã phổ cập của người dân trong xã 7/12, tỷ lệ người dân không biết chữ là 5% tổng số dân trong xã đã đến tuổi đi học

Đào tạo nghề nghiệp ở địa phương tính đến năm 2013: có 1.105 công nhân kỹ thuật trở lên, chiếm 10,3% tổng số người trong độ tuổi lao động, trong đó: Trên Đại học, Đại học, Cao Đẳng: 110 người, chiếm 10%; Trung cấp: 512 người, chiếm 46,4%; Công nhân kỹ thuật: 483 người, chiếm 43,6% tổng số người đã qua đào tạo Lao động chưa qua đào tạo là 9.655 người chiếm 89,7% tổng số người ở độ tuổi lao động Như vậy, hầu hết lao động trên địa bàn xã chưa đào tạo nghề nghiệp Trình độ chuyên môn của lao động thấp gây ảnh hưởng nhiều tới quá trình áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất

1.3.2.3 Cơ sở hạ tầng

Xã có 3,0 km quốc lộ 1A, 1,2 km quốc lộ 8 liên huyện Tĩnh Gia - Nông Cống đi qua Hệ thống giao thông liên thôn toàn xã là 18 km, trong đó đã cứng hóa được 5 km, còn lại 13 km nền đất cát gây khó khăn cho việc vận chuyển vật tư, nguyên nhiên vật liệu, cũng như sản phẩm thủy sản khai thác phục vụ chế biến, tiêu thụ sản phẩm thủy sản như: bụi, nóng khi trời nắng, sình, lội khi trời mưa 100% hộ dân sử dụng điện lưới quốc gia; 40% dân số sử dụng điện thoại để liên lạc, trong đó có 350 máy điện thoại cố định Hệ thống thu phát truyền thanh chưa hoàn chính, đặc biệt ngư dân đã trang bị được 12 máy bộ đàm, 380 máy định vị vệ tinh

Trường học: trong những năm qua được sự quan tâm hỗ trợ của Nhà nước đến sự nghiệp giáo dục nói chung và ở xã nói riêng đã được đầu tư cơ sở hạ tầng trường học,

Trang 25

lớp học khang trang, trang thiết bị cơ bản đầy đủ phục vụ giảng dạy, tính đến năm 2013

đã đầu tư xây dựng được 9 phòng trông giữ trẻ ở các thôn, 01 trường mầm non, với 12 phòng; 01 trường tiểu học, với 24 phòng học, phòng chuyên môn và 01 trường trung học

Chương trình, dự án xây dựng cơ sở hạ tầng từ 2011 - 2013, xã đã tiếp nhận hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng cho công trình điện lưới nông thôn do WB hỗ trợ vốn, phát triển đướng liên thôn và xây dựng trường học nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp

Chăn nuôi: ở xã chủ yếu có 03 đối tượng nuôi chính là: trâu bò, lợn, gia cầm (gà, vịt, ngan, ngỗng), số lượng nuôi hàng năm: trâu bò 632 con, lợn là 9.500 con, và gia cầm là 24.000 con Thu nhập từ các hoạt động chăn nuôi là 120.000 đồng/ngày công, là nguồn thu nhập phụ của các hộ trồng trọt và khai thác thủy sản

Thủy sản: Năm 2013, toàn xã có 543 hộ làm nghề thủy sản, trong đó có 11 hộ NTTS, thu hút 30 lao động, diện tích là 11 ha, đối tượng là nuôi ngao, sản lượng là 120 tấn/năm, thu nhập người lao động 180.000 đồng/ngày công Hộ KTTS là 533 hộ, thu hút hơn 1.400 lao động tham gia, trong đó lao động nữ là 75 người, năm 2013 sản lượng khai thác được là 4.800 tấn,thu nhập khoảng 130.000 đồng/ngày công; chế biến

Trang 26

và dịch vụ hậu cần nghề cá hiện có 4 doanh nghiệp tham gia, thu hút 45 lao động thường xuyên tham gia, lương người lao đông từ 2 - 3 triệu đông/tháng

Hoạt động kinh tế phi nông nghiệp: toàn xã hiện có 512 hộ hoạt động các ngành nghề phi nông nghiệp, thu hút được 845 lao động thường xuyên tham gia, trong đó lao động nữ là 467 người, chiếm 55,3% tổng số Thu nhập của nhóm nghề phi nông nghiệp là từ 120.000 - 150.000 đồng/ngày công

1.3.2.5 Điều kiện sống của hộ dân trong xã

Nhà ở, nước sạch và vệ sinh: 21% hộ có nhà mái bê tông kiên cố một hoặc nhiều tầng, 57% hộ có nhà xây gạch, mái lợp ngói hoặc mái tôn và 22% hộ có nhà làm bằng vật liệu tạm; Nước sạch: 80% số hộ dùng nước giếng khoan phục vụ sinh hoạt và 20%

sử dụng nước mưa để sinh hoạt; Điều kiện vệ sinh: 30% hộ có nhà vệ sinh tự hoại, 69% nhà vệ sinh hai ngăn, đậy nắp kín và 1% hộ có nhà vệ sinh đơn gian

Mức sống: Hải Ninh là xã vùng bãi ngang thuộc diện nghèo, với tổng số hộ nghèo 790 hộ, chiếm 24,1% tổng số hộ trong xã và 1.280 hộ cận nghèo chiếm 39% tổng số hộ (theo tiêu chuẩn quốc gia) Trong đó, có 505 hộ nghèo thuộc các thôn nghề

cá, chiếm 64% tổng số hộ nghèo

Chính sách xóa đói giảm nghèo: trong những năm qua, trên địa bàn xã đã có nhiều chính sách của Nhà nước được áp dụng để xóa đói giảm nghèo cho cộng đồng dân cư: chính sách hỗ trợ xây dựng nhà ở cho hộ nghèo, hộ chính sách, chính sách hỗ trợ rủi ro thiên tai cho ngư dân, hỗ trợ tạo việc làm, hỗ trợ thủ tục vay vốn từ các quỹ

hỗ trợ giảm nghèo, bảo hiểm y tế,

Phát triển mạng lưới xã hội: gồm có 8 tổ chức chính trị xã hội ở xã (Mặt trận tổ quốc, Hội Nông, ngư dân; Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội làm vườn, Hội chữ thập đỏ, Hội người cao tuổi, Đoàn thanh niên) với nhiệm vụ hỗ trợ cộng đồng về hòa giải các mâu thuẫn, tập huấn, hướng dẫn kỹ năng sản xuất, hỗ trợ bảo lãnh vay vốn, giúp đỡ khó khăn, giới thiệu việc làm,

Phát triển xã hội: Tổng số hộ nghèo của xã là 790 hộ, chiếm 24,1% tổng số hộ trong xã, trong đó có 505 hộ nghèo thuộc các thôn nghề cá, chiếm 64% tổng số hộ nghèo; hoạt động sinh kế dựa vào khai thác hải sản Hoạt động KTTS chủ yếu ở vùng biển ven bờ của huyện và các huyện lân cận với tổng lao động 1.368 người Hoạt động khai thác chủ yếu ở vùng biển ven bờ của huyện và các huyện lân cận

Trang 27

Bảng 1.1 Những ngành nghề thu hút chị em phụ nữ ở khu vực ĐQL

TT Ngành nghề tham gia

Tổng

số lao động

Trong đó chia ra:

Tỷ lệ (%)

Hộ ngoài nghề cá

Hộ làm nghề cá

1 Sửa chữa tàu thuyền 28 12 16 57,1

2 Sản xuất vật liệu xây dựng 132 102 30 22,7

8 Phụ giúp đi biển (vá lưới, bán cá, ) 310 0 310 100

9 Công nhân ở khu CN 195 125 70 35,9

Những hoạt động thu hút nhiều phụ nữ: Hiện nay, toàn xã 4.950 phụ nữ đang trong độ tuổi lao động, trong đó có 81,8% phụ nữ có việc làm không ổn đinh và 18,2% phụ nữ có việc làm ổn định Nhìn chung, phụ nữ và trẻ em ở cộng đồng nghề cá trong những năm qua đã tích cực tham gia vào việc giảm nghèo, phát triển gia đình, cộng đồng Tuy nhiên, họ vẫn còn tiềm ẩn những nguy cơ là nạn nhân của phân biệt đối xử, bạo lực, bất bình đẳng giới và các rào cản xã hội khác như trọng nam khinh nữ, gia trưởng, phân biệt nghề nghiệp, thu nhập, kiểm soát cơ thể,… đặc biệt là vấn đề phụ nữ ít

có cơ hội tham gia chính trị, góp tiếng nói cho các tổ chức chính trị xã hội ở cộng đồng Đối với trẻ em, đang phải đối mặt với các nguy cơ như bị sâm hại thân thể, thể chất sức khỏe, sử dụng lao động trẻ em trong nghề cá, việc trẻ là con em ngư dân được học hành

ít, cùng với điều kiện cuộc sống gia đình khó khăn nên trẻ thiếu các kỹ năng sống cần thiết, thiếu sự giáo dục thường xuyên của cha mẹ, thiếu các quan điểm chính trị chống bất bình đẳng giới,…

Qua quá trình khảo sát, nhóm Tư vấn6

đã ghi nhận được một số đề xuất từ các đại diện cho chị em phụ nữ ở địa phương:

Trang 28

- Mở lớp tập huấn, đào tạo việc làm cho chị em phụ nữ thuộc khu vực ven biển

làm nghề chế biến thủy sản gắn với tiềm năng nguồn lợi sẵn có ở địa phương

- Đề nghị các cơ quan, ban ngành, các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước hỗ trợ chị em phụ nữ địa phương xây dựng mô hình chế biến thủy sản gắn với nguồn nguyên liệu tại chỗ thân thiện với môi trường Ngoài ra hỗ trợ các hộ gia đình nghề cá ven bờ đa dạng hóa thu nhập bằng việc tăng gia chăn nuôi gia súc, gia cầm,

1.3.2.6 Bảo vệ nguồn lợi tự nhiên ven biển

Nhóm7 cung cấp thông tin kinh tế của xã đề xuất 03 biện pháp để bảo vệ và phát triển nguồn lợi ven biển như sau:

- Biện pháp 1: Tăng cường và đấu mối công tác tuyên truyền, vận động đến mọi người dân, đặc biệt là ngư dân nắm rõ được tác hại của các dụng cụ kích điện, chất nổ, hoá chất; các nghề lưới kéo, te bẫy, rùng; hạn chế các tàu có công suất nhỏ hơn 20CV; không khai thác cá con khi cá vào bờ

- Biện pháp 2: Tạo thêm công ăn việc làm khác nghề khai thác thủy sản, hỗ trợ các hộ có kế hoạch chế biến, nuôi trồng thủy sản và dịch vụ thương mại

- Biện pháp 3: Khuyến khích ngư dân khai thác thủy sản ven bờ đầu tư tàu công suất lớn hơn 90CV đánh bắt xa bờ như hỗ trợ một phần kinh phí để đóng mới, mua mới tàu, nghề khai thác thân thiện với môi trường từ nguồn ngân sách Nhà nước

Nhóm cũng đề xuất được thực hiện 05 mô hình/hoạt động sản xuất/kinh doanh có thể áp dụng ở xã để thay thế nghề đánh bắt ven bờ của các hộ: (1) Nuôi trồng thuỷ sản, (2) Chế biến hải sản, (3) Cải hoán nâng cao công suất và ngư lưới cụ để đánh bắt xa bờ, (4) Dịch vụ hậu cần nghề biển, (5) Dịch vụ du lịch

Hỗ trợ đào tạo nghề tại địa phương, gồm các nghề được đề xuất: (1) Chế biến thủy sản, (2) Nuôi trồng thuỷ hải sản, (3) Kỹ thuật khai thác; (4) Thuyền trưởng, máy trưởng (5) Chăn nuôi gia súc, gia cầm

Hỗ trợ kỹ thuật cho các mô hình sản xuất chuyển đổi mới: (1) Nuôi trồng thuỷ sản, (2) Chế biến hải sản, (3) Dịch vụ hậu cần nghề biển, (4) Dịch vụ du lịch, (5) làm việc tại các khu công nghiệp và xuất khẩu lao động

Trang 29

Hỗ trợ về cơ sở hạ tầng: (1) Đường giao thông nông thôn; (2) Hệ thống nước sạch và các công trình vệ sinh; (3) Nhà văn hoá thôn; (4) Nâng cấp công sở làm việc tại UBND xã

Các hỗ trợ khác: Có cơ chế chuyến khích để các doanh nghiệp lớn như may mặc, giày da, đầu tư tại địa phương để con em ngư dân địa phương có việc làm chuyển đổi nghề, góp phần làm giảm số hộ, số tàu khai thác thủy sản ven bờ

1.3.3 Đặc điểm thời tiết, khí hậu và thủy văn

Vùng biển huyện Tĩnh Gia nói chung và xã Hải Ninh nói riêng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, gió Tây Nam từ tháng 4 đến tháng 9, gió Đông Bắc từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Hàng năm có trung bình 3 4 cơn bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào đất liền hoặc ảnh hưởng đến vùng biển Thanh Hoá, tập trung vào tháng 8, 9

Thuỷ triều thuộc chế độ nhật triều không đều, hàng tháng có từ 18 20 ngày nhật triều, còn lại là bán nhật triều không đều, biên độ kỳ nước cường trung bình 2,6m Nhiệt độ tầng mặt mùa đông trung bình 21 24oC, vào mùa hè 28 30oC Dòng chảy theo hai chiều ngược nhau: gió Đông Bắc hướng chảy từ Bắc vào Nam, gió Tây Nam hướng chảy ngược lại8

1.4 Tổng quan về phát triển khai thác thủy sản

1.4.1 Nguồn lợi hải sản và ngư trường khai thác

1.4.1.1 Đặc điểm vùng biển

Vùng biển Thanh Hóa nói chung, xã Hải Ninh - huyện Tĩnh Gia nói riêng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, gió Tây Nam từ tháng 4 đến tháng 9, gió Đông Bắc từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Hàng năm có trung bình 3 4 cơn bão và

áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào đất liền hoặc ảnh hưởng đến vùng biển Thanh Hoá Thuỷ triều thuộc chế độ nhật triều không đều, biên độ kỳ nước cường trung bình 2,6m Nhiệt

độ tầng mặt và tầng đáy chênh lệch 2oC nên các loài ở lẫn được với nhau Đáy biển có

độ dốc thoải từ bờ cho đến ngoài khơi, mặt đáy tương đối bằng phẳng, chất đáy chủ yếu là cát pha bùn và bùn Vùng biển được thiên nhiên ưu đãi có đảo Hòn Nẹ, đảo Hòn

Mê, Vụng Thủi, Vịnh Biện Sơn và các dải đá ngầm là nơi trú ngụ, sinh sản của nhiều loài hải sản quí, hiếm tạo điều kiện thuận lợi để nghề khai thác hải sản phát triển

hướng đến năm 2015

Trang 30

1.4.1.2 Nguồn lợi thuỷ sản và ngư trường khai thác

Nguồn lợi thủy sản: Khu vực ven biển xã Hải Ninh nằm trong vùng biển huyện Tĩnh Gia, nguồn lợi thuỷ sản vùng biển được chia làm hai loại, đó là thủy sản nổi và đáy, xuất hiện tập trung ở một số bãi cá, tôm, mực chủ yếu như sau:

- Bãi cá nổi xuất hiện ở tuyến khơi, độ sâu từ 20 40m nước từ ngang cửa Lạch Ghép thuộc vùng lộng Đối tượng khai thác chủ yếu là: cá Lầm, cá Nục, cá Trích, cá Cơm chiếm khoảng 60 70%, cá Chim, cá Thu, cá Bạc má chiếm khoảng 20 30%

- Bãi cá đáy xuất hiện ở vùng khơi, độ sâu 30 40m nước từ ngang Lạch Hới đến Đông Nam Hòn Mê là có sản lượng khai thác ổn định quanh năm Đối tượng khai thác chủ yếu là: cá Hồng, cá Lượng, cá Phèn, cá Mối, cá Bánh đường, cá Trác… cá đáy phân bố ở khắp các vùng thuộc ngư trường Tĩnh Gia

Nguồn lợi tôm: là khu vực sinh sản, sinh trưởng phát triển của các tôm giá trị kinh tế cao như: tôm He, tôm Rảo, tôm Bộp, tôm Vàng,…

Vùng ven biển xã Hải Ninh là bãi đẻ, sinh trưởng của các loài thủy sản trọng điểm của tỉnh như bãi tôm bộp, bãi cá trích phía Bắc đảo Hòn Mê

Khu vực ven biển xã Hải Ninh nằm ở trung tâm ngư trường khu vực phía Nam của tỉnh gồm bãi cá Bắc Hòn Mê và ngang Lạch Ghép, đây là nơi trú ngụ, sinh sản, phát triển của các đối tượng khai thác chủ yếu là cá thu, cá trích, mực nang và các loại

cá đáy: hồng, phèn, lượng, mối, cá song, cá mú, tôm bộp, bề bề, ghẹ,…

1.4.2 Năng lực khai thác thủy sản

1.4.2.1 Năng lực thuỷ sản của tỉnh Thanh Hóa

Năm 2013, theo số liệu khảo sát toàn tỉnh có 6.962 tàu cá, số lượng tàu cá nhỏ khai thác ven bờ của tỉnh trong những năm qua có xu hướng giảm từ 6.923 chiếc năm

2009, giảm xuống còn 5.000 chiếc, chiếm 71,8% (giảm 1.923 chiếc, tương đương 27,8% tổng số tàu cá nhỏ), loại từ 20CV đến dưới 90CV là 820 chiếc, giảm 38,2% so với năm 2009 (tương đương 507 chiếc) Đối với tàu cá công suất lớn đang có sự chuyển dịch mạnh mẽ, chuyển từ công suất dưới 90CV lên tàu cá có công suất trên 90CV, năm 2013 toàn tỉnh có 1.142 tàu cá công suất từ 90CV trở lên, tăng 48,3% so với năm 2009 (tăng 372 chiếc)

Cơ cấu nghề khai thác chủ yếu ở các nghề: Lưới kéo (lưới kéo đơn, lưới kéo đôi), lưới vây, lưới rê, câu, vó mành và nghề khác (xăm moi, vớt sứa, ) Nghề khai thác biến động theo chiều hướng giảm dần theo xu hướng giảm số lượng tàu cá chung

Trang 31

toàn tỉnh, năm 2013 cơ cấu các nghề khai thác giảm so với năm 2009 là: nghề lưới vây 50,2%, vó mành 35,2%, lưới kéo 33,6%, câu kết hợp chụp 31,6% tổng số nghề, các nghề lưới rê, nghề khác phát triển ổn định phù hợp với tập quán đầu tư cho khai thác theo qui mô đầu tư nhỏ của ngư dân

Bảng 1.2 Biến động tàu cá giai đoạn 2009 - 2013 tỉnh Thanh Hóa

(Nguồn: Chi cục Khai thác và BVNL thủy sản tỉnh Thanh Hóa, 2013)

Từ 2009 đến nay, đội tàu khai thác thuỷ sản của tỉnh Thanh Hóa có sự thay đổi đáng kể về số lượng và công suất máy Cơ cấu đội tàu phát triển theo hướng giảm dần loại tàu thuyền có công suất nhỏ < 20CV và tăng mạnh số lượng loại tàu có công suất

từ 90CV trở lên Điều này được giải thích là do ngư dân tự cải tiến lắp thêm máy (loại

50 - < 90CV) để tăng thêm sức kéo Mặc dù đội tàu này được nâng cấp máy tàu nhưng vẫn chủ yếu hoạt động khai thác ở vùng lộng và ven bờ, công nghệ khai thác còn chậm đổi mới Một số mẫu tàu cá, bè mảng hoạt động khai thác thủy sản ở Thanh Hóa như sau:

Trang 32

Hình 1.1 Tàu cá hoạt động khai thác ở vùng biển xa bờ

Hình 1.2 Bè, mảng hoạt động khai thác ở vùng biển ven bờ

1.4.2.2 Năng lực khai thác của huyện Tĩnh Gia

Theo số liệu điều tra, khảo sát tại địa phương và cơ quan quản lý nghề cá cấp tỉnh, tính đến năm 2013 huyện Tĩnh Gia có tổng số 1.996 tàu cá, bằng 28,7% tổng số tàu cá toàn tỉnh và giảm 1.144 chiếc so với năm 2009, nguyên nhân giảm được xác định phần lớn số lượng tàu cá nhỏ tập trung ở các xã nằm trong khu vực qui hoạch xây dựng nhà máy lọc hoá dầu Nghi Sơn phải di dời đi nơi khác, mặt khác do tàu cá giải bản do cũ, chìm đắm ro thiên tai gây ra

Trang 33

Bảng 1.3 Biến động tàu cá giai đoạn 2009 – 2013 huyện Tĩnh Gia

(Nguồn: Chi cục Khai thác và BVNL thủy sản tỉnh Thanh Hóa, 2013)

Cùng với sự biến động chung tàu cá của toàn tỉnh, năng lực tàu cá của huyện Tĩnh Gia không ngừng biến động theo hướng giảm dần tàu cá có công suất nhỏ khai thác ven bờ (giảm 52% tàu cá có công suất dưới 20CV) và tăng dần tàu cá công suất lớn hoạt động khai thác xa bờ, cụ thể năm 2009 toàn huyện có 232 tàu cá công suất từ 90CV trở lên, đến năm 2013 là 503 chiếc, tăng 271 chiếc so với năm 2009

Trang 34

CHƯƠNG 2 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Phương pháp tiếp cận

Quản lý nguồn lợi thủy sản có sự tham gia của cộng đồng hướng tới việc tăng cường các hoạt động tự quản và tự điều hành của người dân địa phương đối với “nồi cơm chung” của họ Trong khi nguồn lợi thuỷ sản được hưởng dụng bởi các tổ chức khác nhau, thậm chí bởi các cộng đồng khác nhau Chính vì vậy, cách tiếp cận đối tác (partnership approach) với vai trò khác nhau giữa các bên liên quan đến nguồn lợi (fisheries stakeholders), ngư dân, các cơ quan chính phủ và phi chính phủ, chính quyền các cấp trong quản lý và bảo vệ nguồn lợi sẽ được áp dụng để tiến tới đồng quản lý nguồn lợi (co-management) Dựa trên cách tiếp cận như vậy, tuỳ theo đặc thù của các điểm lựa chọn mô hình mà xác định đúng các đối tượng nguồn lợi cần quản lý, các vấn đề quản lý, các đặc trưng của cộng đồng, mà xác định các nội dung và giải pháp phù hợp

Một số phương pháp tổ chức xây dựng mô hình sẽ được áp dụng trong quá trình triển khai là:

- Áp dụng quy trình “nhận-biết-bàn-làm-kiểm tra”, tức là cần làm rõ khi tham

gia cộng đồng nhận được các lợi ích gì?, họ có nhiệm vụ phải làm gì?, được bàn bạc cái gì và đến đâu?, tổ chức thực hiện nhiệm vụ và giải pháp thế nào?, và tự kiểm tra kết quả thực hiện không?

- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA): phỏng vấn bán chính thức, hỏi-trả lời trực tiếp theo mẫu câu hỏi chuẩn bị sẵn và ma-trận tác động để xác định quan hệ tương tác nhiều chiều, lập bản đồ nguồn lợi có sự tham gia của người dân địa phương,

- Phương pháp phân tích cây vấn đề: nhằm tìm ra các vấn đề ở địa phương, các vấn đề bức xúc và các ưu tiên giải quyết ở cấp cộng đồng Vấn đề ở đây chỉ là bề nổi của các sự kiện, kết quả của mối tương tác đa chiều của các nguyên nhân khác nhau và được gán cho các chức năng tương ứng gốc cây, cành cây, nhánh cây cấp khác nhau

- Phương pháp truyền thông: không thể thiếu để hỗ trợ quá trình xây dựng mô hình, để lôi cuốn tối đa những người quan tâm đến chính quyền lợi của họ Nội dung của phương pháp này rất khác nhau, linh hoạt để phù hợp với đối tượng truyền thông: giao tiếp các nhóm cộng đồng, họp với cộng đồng, hội thảo cộng đồng, thông tin đại chúng, triển lãm, các phương tiện truyền thông hỗ trợ, sân khấu hoá, tham quan mô hình tốt tại địa điểm khác

Trang 35

- Phân tích các nhóm đối tượng tham gia mô hình: khi thiết kế một mô hình cụ thể, một cộng đồng thuần nhất có thể bị phân dị thành các nhóm đối tượng khác nhau

về nhận thức, thái độ và hành vi đối với nguồn lợi, vì thế phải phân tích ra các nhóm

và đánh giá theo các tiêu chí trên

- Phương pháp phân tích SMART: nhằm xác định mục tiêu của mô hình phù hợp và khả thi, trong đó S-mục tiêu phải cụ thể, rõ ràng, M-mục tiêu cần định lượng để

ai cũng có thể đo lường được với kết quả như nhau, A-có thể đạt được trong phạm vi nguồn lực hiện có, không đặt chỉ tiêu quá cao, không phụ thuộc quá nhiều vào sự hỗ trợ bên ngoài, R-hiện thực, đáp ứng quyền lợi và nhu cầu thực tế của cộng đồng và T-

có thể đạt được trong khoảng thời gian hợp lý

2.2 Phương pháp điều tra hiện trạng kinh tế - xã hội

- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp được áp dụng để thu thập thông tin về dân số; thành phần hộ; những thông tin khác về kinh tế xã hội (mức đầu tư cho nghề khai thác thủy sản, lao động cho nghề khai thác thủy sản, thu nhập, ) của các xã có hoạt động nghề khai thác thủy sản ở vùng biển ven bờ huyện Tĩnh Gia Các nguồn thông tin được thu thập từ các báo cáo, tài liệu,

- Các thông tin về dịch vụ cho nghề khai thác thủy sản; quản lý nghề khai thác thủy sản; về giới, tuổi, dân tộc, và công bằng xã hội liên quan đến nghề khai thác thủy sản; cơ sở hạ tầng và phúc lợi công cộng của cộng đồng làm nghề khai thác thủy sản được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn

- Các thông tin về sinh kế của hộ gia đình làm nghề cá (thu nhập hộ gia đình, các hoạt động về nghề khai thác thủy sản, mức độ phụ thuộc vào nghề khai thác thủy sản, mức độ nghèo đói của cộng đồng làm nghề cá, ); tình hình khai thác của hộ gia đình; mức tiêu thụ sản phẩm cá và thủy sản tại lưu vực được thu thập bằng phương pháp dùng bộ câu hỏi, phỏng vấn, và phỏng vấn theo nhóm

- Công cụ điều tra hiện trạng kinh tế - xã hội và sinh kế:

+ Phiếu điều tra tổng quan tình hình kinh tế xã hội xã Hải Ninh, thu thập các thông tin về đặc điểm tự nhiên, dân số, lao động, dân tộc, tôn giáo; cơ sở hạ tầng về giao thông, trường học, trạm y tế, hệ thống điện, điện thoại, hệ thống chợ nông thôn; thông tin về lĩnh vực ngành nghề trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp, những thuận lợi khó khăn mà xã đang gặp phải Đối tượng phỏng vấn là cán bộ

Trang 36

UBND xã: cán bộ làm công tác thống kê, cán bộ phụ trách thủy sản, Chủ tịch, các Phó chủ tịch UBND xã và trưởng thông nghề cá trọng điểm

+ Phiếu điều tra, thu thập thông tin cấp hộ gia đình nghề cá các chỉ tiêu thu thập: thông tin chung hộ gia đình (thông tin thành viên, thu nhập, nghề nghiệp, ), tình hình sản xuất (trồng trọt, nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản), vốn đầu tư sản xuất, thông tin về quản lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản (tình trạng sản lượng khai thác, mức

độ hài lòng trong quản lý nghề cá, biến động sản lượng đánh bắt, thu nhập trong 5 năm qua, các mâu thuẩn diễn ra, nghề khai thác hủy diệt, thông tin về đối tượng khai thác chính, bãi đẻ, ); thông tin về chuyển đối nghề, chuyển đổi sinh kế, Đối tượng điều tra là hộ khai thác thủy sản tham gia mô hình đồng quản lý

- Sự tham gia của các bên (Lãnh đạo UBND xã, trưởng thôn nghề cá, hộ ngư dân) vào việc cung cấp thông tin diễn ra thuận lợi, được sự đồng thuận, hỗ trợ cung cấp thông tin của các bên, các số liệu được thu thập đầy đủ theo nội dung phiếu điều tra và bổ sung các thông tin các tài liệu chưa đáp ứng được như: thông tin về đối tượng khai thác truyền thống, bãi đẻ, khu vực phát triển,

2.3 Xử lý số liệu

2.3.1 Xử lý ban đầu (xử lý số liệu thô)

- Nhập số liệu sẽ vào sổ các phiếu điều tra của các xã ven biển huyện Tĩnh Gia Từng phiếu điều tra khi nhận sẽ được đánh dấu vào bản danh sách mẫu

- Nhập số liệu sẽ tiến hành kiểm tra từng phiếu điều tra Phải kiểm tra độ chính xác và tính hoàn chỉnh của từng phiếu điều tra khi nhận được Khi kiểm tra các phiếu điều tra, Cán bộ nhập số liệu phải phát hiện những chỗ trả lời không đúng quy định hoặc mâu thuẫn với câu trả lời của các câu hỏi khác để chỉnh lý cho phù hợp

kê để kiểm tra giả thuyết nghiên cứu

- Cơ sở dữ liệu được thiết lập dựa trên các kết quả đánh giá theo các chỉ số, tiêu chí đã được xác định

Trang 37

2.3.3 Qui trình xây dựng mô hình

Bước 1- Gắn kết sự tham gia của cộng đồng:

pháp

Chỉ tiêu đánh giá và Phương tiện kiểm chứng

Địa điểm

1 Thu thập thông tin cơ

bản về cộng đồng

Thu thập dữ liệu thứ cấp

Thu một số thông tin cơ bản về cộng đồng

Ý kiến đồng thuận của người tham gia về mục tiêu, cách tiếp cận của dự

án

Thôn, xóm

3 Họp phổ biến giới

thiệu dự án CRSD với

cộng đồng

Tổ chức họp nhóm

Ý kiến đồng thuận của cộng đồng (có biên bản);

Chọn được Hướng dẫn viên cộng đồng

Thôn, xóm

Bước 2 - Xây dựng hồ sơ cộng đồng, đánh giá nhu cầu và tính khả thi

pháp

Chỉ tiêu đánh giá và Phương tiện kiểm chứng

Địa điểm

1 Xác định thông tin nào

còn thiếu; xây dựng

phiếu thu thập thông tin

nội dung điều tra

Khảo sát có

sự tham gia

Bảng hỏi/danh mục đối chiếu

2 Đào tạo kỹ thuật thu

thập thông tin

Các khóa tập huấn về RRA/PRA

Cán bộ hỗ trợ cộng đồng và các cán bộ liên quan

Thôn, xóm

4 Xử lý thông tin Nghiên cứu

tài liệu

Xây dựng hồ sơ cộng đồng hoàn chỉnh

Trang 38

Bước 3 - Xây dựng kế hoạch đồng quản lý

pháp

Chỉ tiêu đánh giá và Phương tiện kiểm chứng

Địa điểm

1 Lập khung kế hoạch sơ

bộ cho xây dựng mô

hình ĐQL

Tự xây dựng hoặc PRA

Khung kế hoạch tóm lược được các vấn đề chính trong kế hoạch đồng quản

Đạt được đồng thuận giữa các bên về kế hoạch - Hoàn thiện kế hoạch

Kế hoạch hoàn chỉnh được thống nhất giữa các bên tham gia

Thôn, xóm

và UBND xã

2.4 Tổ chức tham vấn cộng đồng

2.4.1 Cách thức tổ chức

Việc tổ chức các buổi tham vấn cộng đồng cần xác định mục tiêu, kết quả/đầu

ra mong đợi, danh sách người tham gia, kế hoạch tham vấn, điều hành buổi tham vấn

và đảm bảo rằng:

- Trong giai đoạn đầu, cần có sự hỗ trợ tài chính từ các chương trình, dự án, các nhà tài trợ đóng vai trò quan trọng và cán bộ hỗ trợ cộng đồng đóng vai trò hỗ trợ Vai trò chính sẽ dần chuyển giao cho cán bộ hỗ trợ cộng đồng sau khi cán bộ này có thêm kinh nghiệm

- Thời gian và địa điểm tổ chức tham vấn cần phải phù hợp, hậu cần hợp lý nếu cần thiết, tránh thông báo cho ngư dân tham gia họp quá gấp

- Cộng đồng ngư dân địa phương cần tham gia chủ yếu, ghi lại các ý kiến đóng góp tại buổi tham vấn và thể hiện trong biên bản cuộc họp, sau đó chia sẻ cho những người không tham gia họp nắm bắt được nội dung cuộc họp

2.4.2 Khó khăn trong tổ chức tham vấn và giải pháp

Thực hiện các bước xây dựng mô hình đồng quản lý nghề cá tại địa phương phát hiện ra những khó khăn trong tổ chức tham vấn cộng đồng ngư dân và các bên liên quan tham gia vào quá trình xây dựng mô hình đồng quản lý, từ đó nhóm chuyên gia đã đưa ra các giải pháp khắc phục, tháo gỡ những khó khăn đã gặp phải nhằm đạt

Trang 39

được hiệu quả thực sự trong việc tham vấn cộng đồng để thu hút cộng đồng việc cùng nhau xây dung mô hình đồng quản lý nghề cá áp dụng ở địa phương, cụ thể như sau:

2.4.3 Xây dựng điều kiện để thực hiện đồng quản lý

Xây dựng mô hình đồng quản lý tập trung vào việc xây dựng sự đồng thuận từ dưới lên Cần tổ chức thêm các khóa tập huấn để đảm bảo rằng các bên liên quan hiểu

rõ vấn đề cùng xây dựng bản kế hoạch thống nhất

Trong mô hình, kế hoạch đồng quản lý gồm hoạt động theo dõi, kiểm soát, giám sát khai thác (MCS) sẽ được chính cộng đồng và hệ thống của chính quyền thực hiện

Ít người tham gia Sử dụng tài liệu và công cụ được chuẩn bị kỹ lưỡng, nâng

cao nhận thức cộng đồng về lợi ích mà dự án sẽ mang lại trong tương lai

Chỉ ra sự thành công của mô hình thành công ở Việt Nam

và quốc gia khác

Tránh tận dụng quá nhiều thời gian của người dân Tặng món quà nhỏ (bút, áo phông có logo của dự án,…) Cung cấp bữa ăn và đồ uống nhẹ

Quá nhiều ý kiến

khiến họp quá giờ

Phạm vi một buổi tham vấn cần vừa phải, không quá tham vọng

Người dân không

hiểu hoặc không hy

vọng quá nhiều

Sử dụng ngôn ngữ địa phương quen thuộc với người dân Không hứa hẹn nhiều

Trang 40

ĐQL là mối quan hệ đối tác giữa cộng đồng khai thác và lực lượng của chính quyền nhằm quản lý bền vững nguồn lợi để sử dụng bền vững Các cơ chế đồng quản lý có thể khác nhau trong đó vai trò của cộng đồng lớn hơn vai trò của các lực lượng thực thi của chính quyền hoặc ngược lại phụ thuộc vào tình hình cụ thể Tuy nhiên, vào cuối dự án, lý tưởng là vai trò chính sẽ được chuyển dần từ các lực lượng thực thi của chính quyền sang cộng đồng địa phương

Xây dựng kế hoạch đồng quản lý cần có sự hỗ trợ của nhóm chuyên gia tư vấn

và cán bộ hỗ trợ cộng đồng có năng lực do cộng đồng ngư dân tín nhiệm bầu lên hoặc được tuyển dụng Các cán bộ hỗ trợ cộng đồng nên là ngư dân ở địa phương và đại diện cho cộng đồng địa phương (không nên lấy người là cán bộ nhà nước hoặc cán bộ của các tổ chức nhà nước)

Xây dựng kế hoạch ĐQL cần mang tính thích nghi, dân chủ, công bằng, phân cấp và thể chế hóa Các yếu tố này là chìa khóa thành công cho cơ chế ĐQL

Quan trọng là việc tham vấn với cộng đồng địa phương phải được điều phối tốt phục vụ đa mục đích như phân tích xã hội, phát triển sinh kế, phát triển giới, phát triển dân tộc thiểu số, đánh giá đa dạng sinh học, Thông tin và số liệu từ các nhóm chuyên gia tư vấn sẽ góp phần vào việc xây dựng kế hoạch đồng quản lý có sự tham gia của người dân

Việc xây dựng mô hình ĐQL cần có bước chính: (1) tổ chức các cuộc họp thôn xóm để gắn kết cộng đồng địa phương, (2) xây dựng hồ sơ cộng đồng và đánh giá tính khả thi của đồng quản lý; (3) xây dựng kế hoạch hành động được thống nhất (đồng quản lý) sẽ do cộng đồng và chính quyền địa phương thực hiện Không nên xây dựng ngay nhóm ĐQL (hoặc nhóm cán bộ của chính quyền) để thực hiện quá trình này mà không có sự tham gia đầu tiên của cộng đồng địa phương

2.4.4 Phân tích những thuận lợi, khó khăn, điểm mạnh, điểm yếu áp dụng tại địa phương

2.4.4.1 Thuận lợi

- Nguồn lợi thủy sản đa dạng về thành phần loại, trữ lượng tương đối lớn, nhất

là đối tượng như tôm bọp, cua ghẹ,

- Điều kiện khí hậu và tự nhiên phù hợp cho việc phát triển nguồn lợi thủy sản tại khu vực ven bờ xã Hải Ninh, huyện Tĩnh Gia

Ngày đăng: 26/11/2015, 10:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Tàu cá hoạt động khai thác ở vùng biển xa bờ - Xây dựng mô hình đồng quản lý hoạt động khai thác thủy sản vùng biển ven bờ áp dụng ở xã hải ninh, huyện tĩnh gia, tỉnh thanh hóa
Hình 1.1. Tàu cá hoạt động khai thác ở vùng biển xa bờ (Trang 32)
Hình 1.2. Bè, mảng hoạt động khai thác ở vùng biển ven bờ - Xây dựng mô hình đồng quản lý hoạt động khai thác thủy sản vùng biển ven bờ áp dụng ở xã hải ninh, huyện tĩnh gia, tỉnh thanh hóa
Hình 1.2. Bè, mảng hoạt động khai thác ở vùng biển ven bờ (Trang 32)
Hình ĐQL - Xây dựng mô hình đồng quản lý hoạt động khai thác thủy sản vùng biển ven bờ áp dụng ở xã hải ninh, huyện tĩnh gia, tỉnh thanh hóa
nh ĐQL (Trang 38)
Hình 3.2. Phương tiện, nghề khai thác thủy sản ven bờ xã Hải Ninh - Xây dựng mô hình đồng quản lý hoạt động khai thác thủy sản vùng biển ven bờ áp dụng ở xã hải ninh, huyện tĩnh gia, tỉnh thanh hóa
Hình 3.2. Phương tiện, nghề khai thác thủy sản ven bờ xã Hải Ninh (Trang 45)
Hình 3.1. Tàu cá khai thác thủy sản vùng biển ven bờ xã Hải Ninh - Xây dựng mô hình đồng quản lý hoạt động khai thác thủy sản vùng biển ven bờ áp dụng ở xã hải ninh, huyện tĩnh gia, tỉnh thanh hóa
Hình 3.1. Tàu cá khai thác thủy sản vùng biển ven bờ xã Hải Ninh (Trang 45)
Đồ thị 3.3. Biến động sản lƣợng khai thác giai đoạn 2009 - 2013 - Xây dựng mô hình đồng quản lý hoạt động khai thác thủy sản vùng biển ven bờ áp dụng ở xã hải ninh, huyện tĩnh gia, tỉnh thanh hóa
th ị 3.3. Biến động sản lƣợng khai thác giai đoạn 2009 - 2013 (Trang 46)
Hình 3.3. Nghề lưới gõ vây khai thác ở vùng biển ven bờ xã Hải Ninh - Xây dựng mô hình đồng quản lý hoạt động khai thác thủy sản vùng biển ven bờ áp dụng ở xã hải ninh, huyện tĩnh gia, tỉnh thanh hóa
Hình 3.3. Nghề lưới gõ vây khai thác ở vùng biển ven bờ xã Hải Ninh (Trang 47)
Hình 3.5. Ngư dân sử dụng kích điện kết hợp nghề lưới kéo để KTTS - Xây dựng mô hình đồng quản lý hoạt động khai thác thủy sản vùng biển ven bờ áp dụng ở xã hải ninh, huyện tĩnh gia, tỉnh thanh hóa
Hình 3.5. Ngư dân sử dụng kích điện kết hợp nghề lưới kéo để KTTS (Trang 51)
Hình 3.4. Rác thải ở khu vực dân cƣ để ra biển xã Hải Ninh - Xây dựng mô hình đồng quản lý hoạt động khai thác thủy sản vùng biển ven bờ áp dụng ở xã hải ninh, huyện tĩnh gia, tỉnh thanh hóa
Hình 3.4. Rác thải ở khu vực dân cƣ để ra biển xã Hải Ninh (Trang 51)
Hình 3.6. Chất nổ đƣợc sử dụng để KTTS bị bắt giữ ở khu vực ĐQL - Xây dựng mô hình đồng quản lý hoạt động khai thác thủy sản vùng biển ven bờ áp dụng ở xã hải ninh, huyện tĩnh gia, tỉnh thanh hóa
Hình 3.6. Chất nổ đƣợc sử dụng để KTTS bị bắt giữ ở khu vực ĐQL (Trang 52)
Hình 3.7. Bản đồ mô phỏng khu vực đồng quản lý xã Hải Ninh - Xây dựng mô hình đồng quản lý hoạt động khai thác thủy sản vùng biển ven bờ áp dụng ở xã hải ninh, huyện tĩnh gia, tỉnh thanh hóa
Hình 3.7. Bản đồ mô phỏng khu vực đồng quản lý xã Hải Ninh (Trang 54)
Hình 3.2: Ký kết biên bản thỏa thuận giữa Tổ ĐQL và các bên liên quan - Xây dựng mô hình đồng quản lý hoạt động khai thác thủy sản vùng biển ven bờ áp dụng ở xã hải ninh, huyện tĩnh gia, tỉnh thanh hóa
Hình 3.2 Ký kết biên bản thỏa thuận giữa Tổ ĐQL và các bên liên quan (Trang 74)
Hình 3.3: Hoạt động xây dựng thể chế của mô hình - Xây dựng mô hình đồng quản lý hoạt động khai thác thủy sản vùng biển ven bờ áp dụng ở xã hải ninh, huyện tĩnh gia, tỉnh thanh hóa
Hình 3.3 Hoạt động xây dựng thể chế của mô hình (Trang 75)
Hình 3.5. Phao phân vùng khai thác,vùng cấm khai thác ở vùng biển ven bờ - Xây dựng mô hình đồng quản lý hoạt động khai thác thủy sản vùng biển ven bờ áp dụng ở xã hải ninh, huyện tĩnh gia, tỉnh thanh hóa
Hình 3.5. Phao phân vùng khai thác,vùng cấm khai thác ở vùng biển ven bờ (Trang 86)
Hình 3.4. Hệ thống phao phân ranh giới khu vực đồng quản lý - Xây dựng mô hình đồng quản lý hoạt động khai thác thủy sản vùng biển ven bờ áp dụng ở xã hải ninh, huyện tĩnh gia, tỉnh thanh hóa
Hình 3.4. Hệ thống phao phân ranh giới khu vực đồng quản lý (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm