Những thông tin quan trọng thu thập từ các tác nhân trong chuỗi bao gồm: - Ngư dân: các thông tin về đặc điểm hoạt động đánh bắt số chuyến, số tháng, số ngày hoạt động trong năm, số thuy
Trang 1Nha Trang, tháng 04 năm 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
-
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
NGHIÊN CỨU CHUỖI CUNG ỨNG MẶT HÀNG
CÁ BIỂN FILLET THỊT TRẮNG TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ NHA TRANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 2Nha Trang, tháng 04 năm 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
-
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
NGHIÊN CỨU CHUỖI CUNG ỨNG MẶT HÀNG
CÁ BIỂN FILLET THỊT TRẮNG TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ NHA TRANG
Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh
Mã số : 60.34.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THỊ TRÂM ANH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên Nguyễn Thị Phương Thảo, học viên lớp Cao học Quản trị kinh doanh Khóa 2011, Trường Đại học Nha Trang xin cam đoan:
Mọi tài liệu, số liệu dùng phân tích, tính toán và dẫn chứng trong luận văn thạc sĩ
là chính xác, trung thực, hợp lệ và không vi phạm pháp luật
Tôi thực hiện nội dung luận văn này dưới sự hướng dẫn khoa học của Cô TS Nguyễn Thị Trâm Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có được kết quả nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, trong thời gian thực hiện đề tài tôi luôn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các Thầy Cô, sự ủng hộ của gia đình và sự hỗ trợ nhiệt tình của đồng nghiệp, bạn bè và cộng đồng những người sản xuất và kinh doanh sản phẩm cá fillet thịt trắng tại Nha Trang
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến
- TS Nguyễn Thị Trâm Anh là người trực tiếp hướng dẫn đã tận tình giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài;
- Gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện về thời gian, động viên tinh thần và giúp đỡ để tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp của mình;
- Các chủ tàu, các ngư dân, các chủ nậu vựa, các anh chị của các công ty chế biến, những người bán sỉ và lẻ ở các chợ trên địa bàn thành phố Nha Trang đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp thông tin trong quá trình tôi thu thập số liệu và hình ảnh để hoàn thiện đề tài;
- Các Thầy Cô khoa Kinh tế - Trường Đại học Nha Trang đã tận tâm và nhiệt tình giảng dạy tôi trong suốt thời gian học Cao học tại trường
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Thị Phương Thảo
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 4
4.1.1 Quy trình thu thập dữ liệu sơ cấp 4
4.1.2 Thông tin dữ liệu 4
4.2 Phương pháp tính toán và xử lý dữ liệu 5
5 Ý ngĩa và thực tiễn của luận văn 6
6 Bố cục của luận văn 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG 7
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHUỖI CUNG ỨNG (SUPPLY CHAIN) 7
1.1.1 Khái niệm chuỗi cung ứng 7
1.1.2 Chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng 8
1.1.3 Chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản toàn cầu 9
1.1.4 Mục tiêu của chuỗi cung ứng 14
1.1.5 Cấu trúc và các thành phần chuỗi cung ứng 15
1.1.6 Xu hướng phát triển của chuỗi cung ứng 16
1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XÂY DỰNG CHUỖI CUNG ỨNG 17
1.2.1 Sự cần thiết của việc xây dựng chuỗi cung ứng cho Doanh Nghiệp 17
1.2.2 Xây dựng chuỗi cung ứng 18
1.2.3 Khái niệm về chuỗi cung ứng của công ty chế biến và xuất khẩu thủy sản 19 1.2.4 Các đối tượng trong chuỗi cung ứng của công ty CB & XKTS 20
Trang 61.2.5 Phân tích chuỗi giá trị dựa vào ứng dụng mô hình SCP 21
1.3 TRUY XUẨT NGUỒN GỐC TRONG CHUỖI CUNG ỨNG 23
1.3.1 Khái niệm chung 23
1.3.2 Hệ thống truy xuất nguồn gốc 25
1.3.3 Những lợi ích của việc truy xuất nguồn gốc cho sản phẩm thủy sản 25
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHUỖI CUNG ỨNG CỦA MẶT HÀNG CÁ BIỂN FILLET THỊT TRẮNG TẠI NHA TRANG NĂM 2012-2014 27
2.1 TÌNH HÌNH CUNG VÀ CẦU THỦY SẢN THẾ GIỚI 27
2.1.1 Một số kết quả về cung – cầu của ngành thủy sản thế giới 27
2.1.2 Lĩnh vực khai thác thủy sản 28
2.1.3 Lĩnh vực nuôi trồng thủy sản 29
2.1.4 Lao động nghề cá 30
2.1.5 Năng suất lao động 31
2.1.6 Thương mại thủy sản 31
2.1.7 Xu hướng tiêu dùng mới 32
2.2 TỔNG QUAN VỀ SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM THỦY SẢN VIỆT NAM 33
2.2.1 Tình hình cung nguyên liệu 33
2.2.1.1 Hoạt động khai thác 33
2.2.2 Tình hình chế biến thủy sản 33
2.2.3 Tình hình tiêu thụ 36
2.3 TỔNG QUAN VỀ SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM THỦY SẢN KHÁNH HÒA 39
2.3.1 Khai thác thủy sản 39
2.3.2 Nuôi trồng thủy sản 41
2.3.3 Tình hình chế biến thủy sản 42
2.3.4 Tình hình tiêu thụ 43
2.4 GIỚI THIỆU CÁ THỊT TRẮNG 45
2.4.1 Cá thịt trắng 45
2.4.2 Đặc điểm 45
2.4.3 Sử dụng 46
Trang 72.4.4 Tiêu thụ 46
2.4.5 Chủng loại 47
2.5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHUỖI CUNG ỨNG CÁ BIỂN FILLET THỊT TRẮNG TẠI NHA TRANG 47
2.5.1 Phân tích cấu trúc thị trường cá biển fillet thịt trắng 47
2.5.2 Đặc điểm những tác nhân trong chuỗi cung ứng cá biển fillet thịt trắng tại Nha Trang 48
2.6 TỔ CHỨC VẬN HÀNH THỊ TRƯỜNG VÀ TÌNH HÌNH CẠNH TRANH TRONG NGÀNH 54
2.6.1 Phương thức giao dịch mua bán và thanh toán trên thị trường 54
2.6.2 Quy trình xác lập giá mua bán 55
2.6.3 Tiếp cận thông tin thị trường 56
2.6.4 Hoạt động kiểm soát chất lượng sản phẩm và thực hiện truy xuất nguồn gốc 58
2.6.5 Tình hình cạnh tranh trong ngành 59
2.7 Kết quả thực hiện thị trường 65
2.7.1 Phân tích chi phí và lợi nhuận biên cho mỗi tác nhân 65
2.7.2 Phân tích cơ cấu giá trị tăng thêm và tỷ suất lợi nhuận biên trong chuỗi cung ứng cá biển fillet thịt trắng tại Nha Trang 69
2.8 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức 76
CHƯƠNG 3 THẢO LUẬN KẾT QUẢ VÀ KHUYẾN NGHỊ 78
3.1 THẢO LUẬN KẾT QUẢ 78
3.2 KHUYẾN NGHỊ 79
PHẦN KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHỤ LỤC 87
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ATPDEA : Andean Trade Promotion and Drug Eradication Act
ASEAN : Association of Southeast Asian Nations (Hiệp hội các Quốc gia
Đông Nam Á) NN&PTNNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
BRC : British Retail Censortium
KT & BVNLTSKH : Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Khánh Hòa
CV : Đơn vị công suất máy tàu (mã lực)
CNĐD : Cá ngừ đại dương
EC : European commission (Hội đồng liên minh Châu Âu)
FAO : Food and Agriculture Organization
GAP : Good Agriculturial Practices
GDP : Gross domestic product
GSO : General Statistical Ofiice
GTGT : Giá trị gia tăng
HACCP : Hazard Analysis and Critical Control Points
IO : Industrial Organization
IUU : Illegal, unreported and unregulated fishing
KHAFA : Hội nghề cá tỉnh Khánh Hòa
NAFIQAD : Cục quản lý chất lượng Nông lâm sản và thủy sản
NGTKKH : Niên giám thống kê Khánh Hòa
NTTS : Nuôi trồng thủy sản
SCP : Structure – Conduct – Performance
Sở NN & PTNTKH : Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Khánh Hòa
SPS : Hiệp định vệ sinh kiểm dịch động thực vật
TSCĐ : Tài sản cố định
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
TNHH MTV : Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
UNIDO : United Nations Industrial Development Organization
Trang 9VASEP : Vietnam Association of Seafood Exporters and Producers VINAFIS : Vietnam fisheries Society
VSATTP : Vệ sinh an toàn thực phẩm
RFID : Radio Frequency Identification (Nhận dạng tần số sóng vô tuyến)
WB : World bank (Ngân hàng thế giới)
WTO : Tổ chức thương mại Thế giới
XKTS : Xuất khẩu thủy sản
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Các nhân tố của mô hình SCP 22
Bảng 1.2: Các nhân tố của SCP sử dụng trong nghiên cứu chuỗi cung ứng 22
Bảng 2.1: Cân đối cung cầu thủy sản quốc tế (ĐVT: Triệu Tấn) 27
Bảng 2.2: Sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản thế giới 28
Bảng 2.3: Sản lượng thủy sản Việt Nam 33
Bảng 2.4: Giá trị sản xuất thủy sản năm 2014 theo giá so sánh 2013 35
Bảng 2.5: Ước kết quả sản xuất thủy sản năm 2014 36
Bảng 2.6: Kim ngạch xuất khẩu ngành thủy sản Việt Nam 37
Bảng 2.7: Sản lượng nuôi trồng thủy sản tỉnh Khánh Hòa 41
Bảng 2.8: Kim ngạch xuất khẩu ngành thủy sản Khánh Hòa 43
Bảng 2.9: Đặc điểm của các tàu được điều tra (trung bình cho 1 tàu) 49
Bảng 2.10: Các hình thức thanh toán trong giao dịch mua bán quốc tế 55
Bảng 2.11: Khả năng tiếp cận thông tin thị trường của mỗi tác nhân 57
Bảng 2.12: Nguồn cung cấp thông tin thị trường cho các tác nhân 57
Bảng 2.13: Chi phí và lợi nhuận biên của các tác nhân trong chuỗi 66
Bảng 2.14: Phân phối giá trị tăng thêm và tỷ suất lợi nhuận biên trong chuỗi cung ứng từ ngư dân đến công ty chế biến xuất khẩu 70
Bảng 2.15: Phân phối giá trị tăng thêm và tỷ suất lợi nhuận trong kênh nội địa 73
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Chuỗi giá trị mở rộng 9
Hình 1.2 Chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản điển hình Nguồn FAO(2006) 10
Hình 1.3 Một số chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản: Nguồn FAO (2006) 11
Hình 1.4 Phân phối giá trị gia tăng giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản 11
Hình 1.5 Các dạng chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản khai thác biển 13
Hình 1.7 Chuỗi cung ứng tổng quát 15
Hình 1.8 Chuỗi cung cấp sản phẩm thủy sản 19
Nguồn: Bain (1951) 21
Hình 1.9 Sự tương tác qua lại giữa ba yếu tố trong mô hình SCP 21
Hình 2.1 Sản lượng nuôi trồng thủy sản năm 2010 30
Hình 2.2 Sản lượng và giá trị thương mại thủy sản Thế giới 31
Hình 2.3 Kim ngạch xuất khẩu thủy sản từ 2010 – 2014 37
Hình 2.4 Sản lượng thủy sản và số tàu thuyền của Khánh Hòa giai đoạn 2009-2014 40 Hình 2.5 Cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng thủy sản Khánh Hòa 44
Hình 2.6 Miếng cá Fillet 46
Hình 2.7 Chuỗi cung ứng cá biển fillet thịt trắng tại Nha Trang 48
Hình 2.8 Những hoạt động khai thác cá biển thịt trắng của nghề lưới rê, lưới vây 50
Hình 2.9 Hoạt động bán sỉ tại cảng cá 52
Hình 2.10 Người bán lẻ tại chợ Đầm ở Nha Trang 53
Hình 2.11 Cơ cấu giá trị tạo ra của mỗi tác nhân trong chuỗi cung cứng 68
Hình 2.12 Lợi nhuận biên trên tổng chi phí của các tác nhân trong chuỗi xuất khẩu 71
Hình 2.13 Phân phối lợi nhuận biên và giá trị tăng thêm giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị xuất khẩu 71
Hình 2.14 Lợi nhuận biên trên tổng chi phí của các tác nhân trong kênh nội địa 74
Hình 2.15 Phân phối lợi nhuận biên và giá trị tăng thêm giữa các tác nhân ở 74
kênh nội địa 74
Hình 3.1 Mô hình hợp tác dọc trong chuỗi cung ứng sản phẩm cá biển fillet thịt trắng 80
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam nằm bên bờ Tây của Biển Đông, là một biển lớn của Thái Bình Dương, có diện tích khoản 3.448.000 km2, có bờ biển dài 3.260 km Vùng nội thủy và lãnh hải rộng 226.000 km2, vùng biển đặc quyền kinh tế rộng hơn 1 triệu km2 với hơn 4.000 hòn đảo, tạo nên 12 vịnh, đầm phá với tổng diện tích 1.160 km2, được che chắn tốt dễ trú đậu tàu thuyền Biển Việt Nam có tính đa dạng sinh học khá cao, cũng là nơi phát sinh và phát tán của nhiều nhóm sinh vật biển vùng nhiệt đới Ấn Độ - Thái Bình Dương với chừng 11.000 loài sinh vật đã được phát triển Với hệ thống sông ngòi dày đặc và có đường biển dài rất thuận lợi phát triển hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản[47]
Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam, với diện tích tự nhiên cả trên đất liền và hơn 200 đảo và quần đảo là 5.197 km2 Bờ biển dài 385 km với nhiều cửa lạch, đầm, vịnh, nhiều đảo và vùng biển rộng lớn Ðặc biệt, Khánh Hòa
có Trường Sa là huyện đảo, nơi có vị trí kinh tế, an ninh quốc phòng trọng yếu Với điều kiện vị trí địa lý tự nhiên thuận lợi, Khánh hòa là một tỉnh có thế mạnh trong việc khai thác đánh bắt thủy sản, ngư trường đánh bắt thủy sản nhiều tiềm năng, đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngư dân tỉnh Khánh Hòa
Ngành thủy sản là một trong những ngành tạo ra lương thực, thực phẩm, cung cấp các sản phẩm tiêu dùng trực tiếp Nguồn thủy sản có vai trò rất quan trọng, không những phục vụ nhu cầu sinh hoạt trong nước, mà chúng còn áp dụng công nghệ hiện đại để chế biến xuất khẩu sang thị trường thế giới Hoạt động xuất khẩu không thể thiếu được đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, nó đóng góp mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đất nước đó Các hoạt động xuất khẩu phản ánh mối quan hệ xã hội giữa các quốc gia này với các quốc gia khác; đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển
Trong nhiều năm liền, ngành thủy sản Việt Nam luôn giữ vị trí là một trong 10 ngành có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất đất nước Kim ngạch xuất khẩu thủy sản
cả nước năm 2013 đạt 6,73 tỷ USD, trong đó tỉnh Khánh Hòa là 464,14 triệu USD; năm 2014 đạt 7,84 tỷ USD, tỉnh Khánh Hòa là 466 triệu USD (Bảng 2.6 và Bảng 2.8)
Cá biển thịt trắng có giá trị dinh dưỡng cao, ngày càng được thị trường nước ngoài ưa chuộng (EU) Giai đoạn 2008-2013: SL cá thịt trắng khai thác toàn cầu tăng
Trang 13BQ 4,6% so với cá nuôi; 2014 SL khai thác cá thịt trắng của EU đạt 2,9 triệu tấn; chiếm 20% thị phần thủy sản EU
Bản thân tác giả là người làm trong ngành thủy sản, và mặt hàng cá biển fillet thịt trắng là một mặt hàng chủ lực của Công ty tác giả hiện đang công tác Nên việc nghiên cứu chuỗi cung ứng mặt hàng cá biển thịt trắng là một việc làm cấp thiết để có thể đóng góp lợi ích cho công ty Năm 2014, doanh thu Công ty đạt 165 tỷ VNĐ, trong
đó mặt hàng cá biển fillet thịt trắng chiếm 140 tỷ VNĐ (tương đương 6,7 triệu USD) Vậy làm thế nào để phát triển một cách bền vững, và nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành thủy sản nói chung và sản phẩm cá biển fillet thịt trắng nói riêng; đang là một thách thức lớn đối với các Doanh Nghiệp của Việt Nam nói chung; và các Doanh Nghiệp trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa nói riêng Và đó
cũng chính là lý do thôi thúc tác giả chọn đề tài ‘‘Nghiên cứu chuỗi cung ứng của
mặt hàng Cá biển fillet thịt trắng trên địa bàn Thành phố Nha Trang’’ để làm luận
văn thạc sỹ chương trình Cao học Quản trị kinh doanh Tác giả tin rằng, đây là vấn đề chung của rất nhiều doanh nghiệp trong ngành chế biến thủy sản tại Việt Nam hiện nay Do vậy, việc nghiên cứu đề tài này trong bối cảnh môi trường kinh doanh và hiện trạng của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay cũng là góp phần vào sự thành công của các doanh nghiệp cùng lĩnh vực trong tương lai để phát triển bền vững và nâng cao năng lực trong cạnh tranh là hoàn toàn khả thi
2 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan
Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu chuỗi cung ứng sản phẩm; nên khi tác giả nghiên cứu đề tài chuỗi ứng sản phẩm cá biển fillet thịt trắng, đã tham khảo một số đề tài có liên quan đến lĩnh vực thủy sản như sau:
- Theo luận văn thạc sỹ “ Chuỗi giá trị sản phẩm cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang” của tác giả Phan Lê Diễm Hằng, năm 2012 Tác giả đã tiếp cận khung lý thuyết về chuỗi giá trị trên cơ sở áp dụng mô hình SCP (Structure – Conduct – Performance), từ
đó đề ra các giải pháp để hoàn thiện chuỗi cung ứng cá ngừ sọc dưa tại thị trường Nha Trang
- Theo luận văn thạc sỹ “ Nghiên cứu chuỗi cung ứng mặt hàng tôm thẻ chân trắng đông lạnh của công ty cổ phần Nha Trang Seafood F17” của tác giả Nguyễn Thị Liên, năm 2010 Tác giả đã đề cập đến điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và đề
Trang 14xuất các giải pháp cải tiến chuỗi cung ứng mặt hàng tôm thẻ đông lạnh tại công ty NTSF
- Theo luận văn thạc sỹ “ Nghiên cứu chuỗi cung ứng cho mặt hàng cá Tra, cá Basa tại công ty cổ phần Nam Việt” của tác giả Nguyễn Thừa Bửu, năm 2010 Tác giả
đã phân tích điểm mạnh, điểm yếu; cơ hội và thách thức của chuỗi cung ứng mặt hàng
cá Tra, cá Basa Từ đó đề xuất các giải pháp cải tiến chuỗi cung ứng mặt hàng cá Tra,
cá Basa tại công ty cổ phần Nam Việt
Tác giả đã kế thừa khung lý thuyết về chuỗi giá trị trên cơ sở áp dụng mô hình SCP của tác giả Phan Lê Diễm Hằng, năm 2012; để phân tích các tác nhân trong chuỗi cung ứng cho mặt hàng cá biển fillet thịt trắng tại thành phố Nha Trang
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định cấu trúc chuỗi cung ứng mặt hàng cá biển fillet thịt trắng tại Nha Trang
- Đánh giá cách thức tổ chức, vận hành thị trường và tình hình cạnh tranh mặt hàng cá biển fillet thịt trắng tại Nha Trang
- Phân tích phân phối lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị
- Phân tích những điểm mạnh và điểm yếu, cơ hội và thách thức của chuỗi cung ứng mặt hàng cá biển fillet trên địa bàn thành phố Nha Trang
- Đề xuất các khuyến nghị nhằm cải tiến chuỗi cung ứng mặt cá biển fillet trên địa bàn thành phố Nha Trang
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: là các tác nhân trong chuỗi cung ứng sản phẩm cá biển fillet thịt trắng bao gồm: ngư dân, chủ nậu vựa, công ty chế biến, người bán sỹ, người bán lẻ
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu chuỗi cung ứng sản phẩm cá biển fillet thịt trắng được thực hiện trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài chỉ giới hạn tập trung vào trả lời các mục tiêu nghiên cứu trên
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận phân tích: vận dụng các mô hình cạnh tranh của Michael Porter để phân tích tình hình cạnh tranh trong ngành và đánh giá lợi thế cạnh tranh của ngành Phân tích chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị ứng dụng mô hình SCP, tiêu chuẩn Global GAP, BRC, SQF
Trang 15- Phương pháp nghiên cứu: tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả; phương pháp so sánh; phương pháp điều tra trực tiếp; phương pháp phỏng vấn trực tiếp
- Về thu thập thông tin, dữ liệu: dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua việc phỏng vấn trực tiếp các tác nhân trong chuỗi gồm công ty chế biến, chủ nậu vựa, người bán sỉ, người bán lẻ và ngư dân bằng việc sử dụng bảng câu Số liệu điều tra cho
3 năm 2012, 2013, 2014
4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
4.1.1 Quy trình thu thập dữ liệu sơ cấp
Dựa vào nguồn thông tin của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Khánh Hòa, danh sách những công ty chế biến cá biển thịt trắng xuất khẩu được xác định Các công ty chế biến cung cấp địa chỉ các chủ nậu vựa tại Nha Trang thu mua cá biển thịt trắng và các chủ nậu giới thiệu những ngư dân và nghề khai thác sản phẩm này Đối với thị trường nội địa, nghiên cứu bắt đầu từ người tiêu dùng để xác định những người bán lẻ tại các chợ bán lẻ, sau đó xác định được người bán sỉ và nậu vựa
4.1.2 Thông tin dữ liệu
Các bảng câu hỏi điều tra được thiết kế để phỏng vấn trực tiếp cho từng tác nhân trong chuỗi (xem Phụ lục) Số liệu nghiên cứu được thu thập cho năm 2012, 2013 và
2014
Dữ liệu thứ cấp được sử dụng với 30 mẫu phỏng vấn hộ ngư dân nghề lưới rê có tàu đánh bắt xa bờ có công suất từ 90 CV trở lên, 3 nậu vựa, 4 người buôn bán sỉ, 4 người bán lẻ và 1 công ty chế biến thủy sản xuất khẩu Những thông tin quan trọng thu thập từ các tác nhân trong chuỗi bao gồm:
- Ngư dân: các thông tin về đặc điểm hoạt động đánh bắt (số chuyến, số tháng,
số ngày hoạt động trong năm, số thuyền viên, số tấm lưới sử dụng, ngư trường) và đặc điểm kỹ thuật của tàu (chiều dài, công suất và tuổi của tàu); dữ liệu về chi phí biến đổi bình quân cho 1 chuyến biển; các chi phí đầu từ cho tàu và ngư cụ, chi phí sửa chữa và lãi vay; thông tin sản lượng khai thác và giá bán bình quân; các thông tin về đặc điểm hoạt động tiêu thụ đầu ra (nơi bán, người mua, cơ cấu sản lượng của người mua và giá bán; hình thức bán, phương thức giao dịch, trao đổi, tiếp cận thông tin thị trường và phương thức thanh toán…); thông tin bảo quản chất lượng sản phẩm và ghi chép nhật
ký khai thác; và các thông tin khác
Trang 16- Nậu vựa, người bán sỉ và người bán lẻ: gồm thông tin về hoạt động thu mua (nơi mua và người bán; sản lượng mua và giá cả; phương thức giao dịch thu mua, định giá và thanh toán); thông tin hoạt động tiêu thụ (nơi bán, người mua và cơ cấu người mua; sản lượng bán và giá bán; phương thức mua bán, giao hàng, định giá và thanh toán); dữ liệu về các chi phí tăng thêm; phương thức bảo quản, phân loại cá và vận chuyển; cách thức tiếp cận thông tin thị trường…
- Công ty chế biến xuất khẩu: gồm các thông tin về sản lượng, giá cả thu mua nguyên liệu đầu vào, người bán và hình thức thu mua, phương thức giao dịch và thanh toán; các dạng sản phẩm được chế biến và định mức nguyên liệu, cơ cấu sản lượng cá ngừ sọc dưa trong công ty; các khoản mục chi phí sản xuất và cơ cấu chi phí nguyên liệu cá trong tổng giá thành toàn bộ; thông tin về tình hình tiêu thụ (sản lượng và cơ cấu sản phẩm, thị trường tiêu thụ, giá bán, phương thức giao dịch mua bán, định giá và thanh toán…); thông tin về hệ thống kiểm soát chất lượng trong công ty và thực hiện truy xuất nguồn gốc; nhận định về áp lực cạnh tranh trong ngành
Ngoài ra, đề tài nghiên cứu cũng sử dụng những nguồn thông tin thứ cấp ở trong
và ngoài nước có liên quan đến chủ đề nghiên cứu như các báo cáo của các tổ chức quốc tế (FAO, EU), của Chính phủ, bộ ngành; số liệu của các cơ quan thống kê nhà nước và địa phương; các báo cáo nghiên cứu của các cơ quan nghiên cứu cũng như các
cơ quan quản lý địa phương; và những nghiên cứu trước
4.2 Phương pháp tính toán và xử lý dữ liệu
Đề tài sử dụng phần mềm Microsoft Excel để phân tích dữ liệu Những phương pháp tính toán và thống kê cơ bản được sử dụng trong nghiên cứu này Các dữ liệu quan trọng trong phần kết quả nghiên cứu được tính toán như sau:
- Tỷ lệ phân phối sản lượng mua bán cá trong phân tích cấu trúc thị trường: dựa trên cơ cấu sản lượng mua bán trung bình hàng năm của mỗi tác nhân, tỷ lệ cơ cấu sản lượn phân phối trung bình 3 năm trong chuỗi được xác định
- Tính toán chi phí và lợi nhuận biên: số liệu tính toán chi phí và lợi nhuận biên mỗi tác nhân cho trung bình từng năm (2012, 2013 và 2014) trên cơ sở thống nhất qui đổi về đơn vị tính là giá trị trên 1 kg cá nguyên liệu (đồng/kg) Đối với công ty chế biến xuất khẩu, nghiên cứu chỉ xác định tổng chi phí tăng thêm dựa vào thông tin cơ cấu chi phí nguyên liệu chính trong tổng giá thành sản phẩm, bởi vì thiếu dữ liệu các khoản mục chi phí trong giá thành toàn bộ
Trang 17- Tính toán tỷ lệ phân phối giá trị tăng thêm và tỷ suất lợi nhuận trong chuỗi giá trị (xem Phụ lục)
5 Ý ngĩa và thực tiễn của luận văn
- Đề tài nghiên cứu giúp các công ty chế biến sản phẩm thủy sản xuất khẩu hiểu
rõ hơn về các tác nhân trong chuỗi cung ứng Từ đó xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức, để đề xuất các giải pháp hoàn thiện và cải tiện chuỗi cung ứng cho sản phẩm thủy sản nói chung và mặt hàng cá biển fillet thịt trắng nói riêng
- Đề tài nghiên cứu giúp cho các tác nhân trong chuỗi cung ứng có cái nhìn tổng thể, sự cần thiết tạo lập mối liên kết chặt chẽ và thống nhất giữa: ngư dân – nậu vựa – công ty chế biến thủy sản xuất khẩu – nhà nhập khẩu; để mang lại hiệu quả kinh tế cao, nâng cao năng lực cạnh tranh và hướng phát triển bền vững cho sản phẩm này
- Tham gia chuỗi cung ứng sản phẩm thủy sản, góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam, ngày càng có thế mạnh trên thị trường thế giới
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo, mục lục và phụ lục, nội dung chính của
đề tài gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chuỗi cung ứng
Chương 2: Thực trạng chuỗi cung ứng của mặt hàng cá biển fillet thịt trắng tại
Nha Trang
Chương 3: Thảo luận kết quả và khuyến nghị
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHUỖI CUNG ỨNG (SUPPLY CHAIN)
1.1.1 Khái niệm chuỗi cung ứng
Theo Viện quản trị cung ứng mô tả quản trị chuỗi cung ứng là [2]: “việc thiết kế
và quản lý các tiến trình xuyên suốt, tạo giá trị cho các tổ chức để đáp ứng nhu cầu thực sự của khách hàng cuối cùng Sự phát triển và tích hợp nguồn lực con người và công nghệ là then chốt cho việc tích hợp chuỗi cung ứng thành công”
Theo Souviron thì [1] “chuỗi cung cấp là một mạng lưới gồm các tổ chức có liên
quan, thông qua các mối liên kết phía trên và phía dưới trong các quá trình và hoạt động khác nhau sản sinh ra giá trị dưới hình thức sản phẩm dịch vụ trong tay người tiêu dùng cuối cùng” Tức là mọi hoạt động của chuỗi (phía trên có thể là nhà phân
phối hoặc khách hàng; phía dưới có thể là nhà cung cấp, người thu mua, hoặc người dân) đều được liên kết với nhau để tạo ra giá trị lớn hơn cho người sử dụng, với chi phí
thấp nhất cho toàn chuỗi
Theo Lee & Billington thì cho rằng [22] “Chuỗi cung ứng là hệ thống các công
cụ để chuyển hoá nguyên liệu thô từ bán thành phẩm tới thành phẩm, chuyển tới người tiêu dùng thông qua hệ thống phân phối” Khái niệm này thì lại đề cao về công cụ
được thực hiện trong toàn chuỗi Công cụ đó có thể là máy móc hoặc cũng chính là con người
Theo Chopra Sunil và Pter Meindl [1], “Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công
đoạn có liên quan trực tiếp hay gián tiếp, đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng”
Theo Ganeshan & Harrison [2] thì “Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa
chọn về phân phối và các phương tiện để thực hiện thu mua nguyên liệu, biến đổi các nguyên liệu này qua khâu trung gian để sản xuất ra sản phẩm, phân phối sản phẩm này tới tay người tiêu dùng” Ta thấy khái niệm này cũng cho rằng chuỗi là gồm các
hoạt động từ khâu nguyên liệu đầu vào cho tới khi đến tay người tiêu dùng nhưng ở đây chú trọng hơn đến các quyết định được lựa chọn trong tiến trình chuỗi
Trang 19Theo M.Porter (1990) [2], “Chuỗi cung ứng là một quá trình chuyển đổi từ
nguyên vật liệu thô cho tới sản phẩm hoàn chỉnh thông qua quá trình chế biến và phân phối tới tay khách hàng cuối cùng”
Theo TS Hau Lee và đồng tác giả Corey Billington [22] trong bài báo nghiên
cứu thì quản trị chuỗi cung ứng như là: “việc tích hợp các hoạt động xảy ra ở các cơ
sở của mạng lưới nhằm tạo ra nguyên vật liệu, dịch chuyển chúng vào sản phẩm trung gian và sau đó đến sản phẩm hoàn thành cuối cùng, và phân phối sản phẩm đến khách hàng thông qua hệ thống phân phối”
Tại hội thảo khoa học lần thứ 33 của FAEA “Hợp tác phát triển nông nghiệp, hướng đến Cộng đồng Kinh tế ASEAN”, trong bài luận “Malaysia -trung tâm cung cấp thực phẩm Halal: khả năng cạnh tranh và tiềm năng của ngành công nghiệp thịt” đã chỉ
ra rằng khái niệm chuỗi cung ứng hiện đại không phải là về sự cạnh tranh giữa các công ty mà là về quản lý mối quan hệ hợp tác, thu mua và tính hiệu quả về mặt hậu cần đi cùng với toàn bộ chuỗi cung ứng Cũng qua bài viết cho biết khái niệm ban đầu
về chuỗi cung ứng là dựa vào sự tin tưởng trong việc hợp tác với các nhà cung cấp trên
cơ sở chia sẻ tầm nhìn chiến lược trong việc tăng sự thoả mãn của người tiêu dùng và
biểu hiện chính là ở ngành công nghiệp ô tô của Nhật
Như vậy, qua các khái niệm được giới thiệu ở trên ta nhận thấy điểm chung
đó là chuỗi cung ứng đều được coi là một chuỗi các hoạt động tính từ khâu nguyên liệu đầu vào cho đến chế biến và đến tay người tiêu dùng
1.1.2 Chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng
Một thuật ngữ ra đời bao giờ cũng có mối liên hệ với một thuật ngữ khác nào đó
“Chuỗi cung ứng” cũng không ngoại lệ Một doanh nghiệp hoạt động không đơn thuần chỉ tạo ra một chuỗi cung ứng cho sản phẩm bất kỳ nào đó mà còn cần có sự hỗ trợ của các thành phần, hoạt động khác Cộng thêm những hoạt động hỗ trợ ấy, chuỗi cung ứng sẽ tiến dần đến là chuỗi giá trị Theo Michael Porter, người đầu tiên phát triển khái niệm này vào thập niên 80, thì ở cấp độ tổ chức chuỗi giá trị bao gồm các hoạt động dưới hình thức của các hoạt động chính và hoạt động bổ trợ Trong khi đó, chuỗi cung ứng được hiểu như một luồng các hoạt động được thực hiện trình tự từ khâu nguyên liệu đầu vào, sản xuất, lưu chuyển cho đến tay người tiêu dùng hay nói cách
khác nó bao gồm các hoạt động chủ chốt trong chuỗi giá trị Do đó, chuỗi cung ứng có
thể được hiểu như là một thành phần của chuỗi giá trị
Trang 20Với mô hình chuỗi giá trị của Michael Porter thì ta thấy có sự tập trung chủ yếu vào các đối tượng bên trong tổ chức, còn chuỗi cung ứng thì đề cao mối quan hệ với những đối tác bên ngoài hơn Tuy nhiên, các quan niệm hiện nay đã mở rộng mô hình gốc của Michael Porter bao gồm cả các nhà cung cấp và khách hàng, mở rộng phạm vi hoạt động của tổ chức Với quan điếm ấy, các công ty rõ ràng nhận ra rằng cạnh tranh không còn giữa các công ty nữa mà là giữa chuỗi cung ứng hay mạng lưới của họ Các công ty muốn phát triển đều hiểu rằng chính quản lý chi phí, chất lượng và việc giao hàng đòi hỏi họ cần mở rộng sự quan tâm đến nhà cung ứng và khách hàng Xem hình
để thấy rõ hơn mối quan hệ của chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị
Hình 1.1 Chuỗi giá trị mở rộng
Ở mỗi hoạt động, mỗi bộ phận đều tạo ra giá trị riêng có, và tập hợp những giá trị ấy tạo nên một chuỗi giá trị cho toàn bộ doanh nghiệp Chuỗi cung ứng là một bộ phận trong chuỗi giá trị ấy Giữa chúng có sự tác động qua lại lẫn nhau Chuỗi cung ứng của một sản phẩm trong doanh nghiệp được vận hành tốt sẽ tạo ra những giá trị rất lớn góp phần nâng cao giá trị của sản phẩm, gia tăng giá trị của doanh nghiệp Ngược lại một doanh nghiệp với sự phát triển không ngừng của các giá trị thì sẽ tạo đà cho chuỗi cung ứng càng cải tiến tốt hơn Nâng cao chuỗi cung ứng cũng chính là gia tăng chuỗi giá trị, tạo dựng lợi thế cạnh tranh mang lại hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp
1.1.3 Chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản toàn cầu
H ậu cần
đ ầu ra
Trang 21FAO (2006) định nghĩa rằng một chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản điển hình bao gồm hoạt động sản xuất khai thác/nuôi trồng thủy sản, sơ chế, chế biến sản phẩm, phân phối và bán hàng đến người tiêu dùng cuối cùng (Hình 1.3) Theo FAO (2006), có sáu quá trình cơ bản theo trình tự cho một chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản điển hình bao gồm: (1) hoạt động sản xuất của ngư dân khai thác hoặc nuôi trồng; (2) hoạt động của những tác nhân sơ chế ban đầu; (3) hoạt động của tác nhân chế biến; (4) hoạt động các nhà buôn bán sỉ; (5) những người bán lẻ và (6) người tiêu dùng cuối cùng
Hình 1.2 Chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản điển hình Nguồn FAO(2006)
Nhà hàng/
c ử a hàng
th ự c ph ẩ m
Thu
hoạch
Sơ chế ban đầu
Chế biến sản phẩm
Buôn bán
NGƯỜI TIÊU DÙNG
Trang 22
Hình 1.3 Một số chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản: Nguồn FAO (2006)
(a) cá tuyết của Iceland,
(b) cá Nile perch ở Tanzania,
(c) cá cơm xuất khẩu của Maroc (d) cá trích ở Đan Mạch
Nhà ch ế
bi ế n
Bán l ẻ
Ch ế bi ế n
l ầ n 2
Bán l ẻ trong nư ớ c
Xu ấ t kh ẩ u
Trang 23Tuy nhiên, trong thực tế một chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản có thể có nhiều hoặc ít số lượng các quá trình tạo ra giá trị và số các tác nhân trong chuỗi nhưng mỗi quá trình như vậy đều tạo ra giá trị tăng thêm cho sản phẩm cuối cùng đến tay người tiêu dùng FAO (2006) đã sử dụng kết quả nghiên cứu về chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản ở 4 quốc gia để minh họa cho lập luận này (xem Hình 1.3 và 1.4)
Dạng 1:
Dạng 2:
Ngư dân Nhà chếbiến
Kênh bán lẻ
Xu ấ t kh ẩ u
Ngư ờ i tiêu dùng
Ngư dân Nhà nhập khẩu Người bán lẻ Ngư ờ i tiêu
dùng
Dạng 3:
Ngư dân Nhà chếbiến Buôn bán s ỉ Người bán lẻ
Ngư ờ i tiêu dùng
Trang 24Hình 1.5 Các dạng chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản khai thác biển
Nguồn: De Silva (2011)
Hình 1.6 Chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản khai thác biển tổng quát
De Silva (2011) đã nghiên cứu chuỗi giá trị toàn cầu sản phẩm thủy sản khai thác biển ở nhiều quốc gia Mỗi quốc gia có những chuỗi giá trị khác nhau tùy thuộc vào số lượng các tác nhân tham gia trong chuỗi De Silva (2011) đã trình bày các dạng chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản khai thác biển khác nhau trong Hình 1.5, trong đó chuỗi giá trị của một số quốc gia chỉ giới hạn trong thị trường nội địa và không có giao dịch quốc tế, trong khi đó ở những quốc gia khác chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản khai thác biển bao gồm sự mở rộng cho cả thị trường nội địa và quốc tế tạo nên chuỗi giá trị sản phẩm toàn cầu De Silva (2011) kết luận rằng một chuỗi giá trị các mặt hàng sản phẩm này thường có những tác nhân quan trọng đó là người ngư dân, những người
Người bán sĩ
Ngư dân
Những nhà mua bán trung gian
Người bán sĩ
Nhà chế biến nước
bán lẻ
Người bán lẻ
Nhà chế biến
Người tiêu dùng nội địa
Nhà nhập khẩu
Người tiêu dùng nước ngoài
Ngư dân Xu ấ t kh ẩ u Nhà chếbiến
Tái xu ấ t kh ẩ u Buôn bán s ỉ Người bán lẻ Ngư ờ i tiêu
dùng
Trang 25mua bán trung gian (thương lái/nậu vựa), người bán sỉ, người bán lẻ, công ty chế biến
và người tiêu dùng
Vì vậy, có thể định nghĩa rằng chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản khai thác biển là tập hợp tất cả các tác nhân trong chuỗi bao gồm ngư dân, nhà mua bán trung gian, nhà chế biến, nhà nhập khẩu, nhà bán buôn, nhà bán lẻ tạo nên sản phẩm thủy sản cuối cùng cho người tiêu dùng cuối cùng Như vậy, chuỗi giá trị tổng quát sản phẩm thủy sản khai thác biển có thể biểu diễn ở Hình 1.6
1.1.4 Mục tiêu của chuỗi cung ứng
Trước hết, quản trị chuỗi cung ứng phải cân nhắc đến tất cả các thành tố của chuỗi cung ứng; những tác động của nó đến chi phí và vai trò trong việc sản xuất sản phẩm phù hợp với nhu cầu khách hàng; từ nhà cung ứng và các cơ sở sản xuất thông qua các nhà kho và trung tâm phân phối đến nhà bán lẻ và các cửa hàng Thực ra, trong các phân tích chuỗi cung ứng, thực sự là cần thiết phải xét đến người cung cấp của các nhà cung ứng và khách hàng của khách hàng bởi vì họ có tác động đến kết quả
và hiệu quả của chuỗi cung ứng
Thứ hai, mục tiêu của quản trị chuỗi cung ứng là hữu hiệu và hiệu quả trên toàn
hệ thống; tổng chi phí của toàn hệ thống từ khâu vận chuyển, phân phối đến tồn kho nguyên vật liệu, tồn kho trong sản xuất và thành phẩm, cần phải được tối thiểu hóa Nói cách khác, mục tiêu của mọi chuỗi cung ứng là tối đa hóa giá trị tạo ra cho toàn hệ thống Giá trị tạo ra của chuỗi cung cấp là sự khác biệt giữa giá trị của sản phẩm cuối cùng đối với khách hàng và nỗ lực mà chuỗi cung cấp dùng vào việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng Đối với đa số các chuỗi cung ứng thương mại, giá trị liên quan mật thiết đến lợi ích của chuỗi cung ứng, sự khác biệt giữa doanh thu mà khách hàng phải trả cho công ty đối với việc sử dụng sản phẩm và tổng chi phí của cả chuỗi cung ứng
Vì vậy quản lý một cách hiệu quả các dòng này là yếu tố then chốt làm nên sự thành công của chuỗi Quản trị chuỗi cung ứng liên quan đến việc quản lý các dòng dịch chuyển giữa và trong suốt các giai đoạn của chuỗi nhằm tối đa hóa lợi nhuận của toàn chuỗi
Cuối cùng, bởi vì quản trị chuỗi cung ứng tập trung vào việc tích hợp một cách hiệu quả nhà cung cấp, người sản xuất, nhà kho và các cửa hàng, nó bao gồm những hoạt động của công ty ở nhiều cấp độ, từ cấp độ chiến lược đến chiến thuật và tác nghiệp:
Trang 26• Cấp độ chiến lược xử lý với các quyết định có tác động dài hạn đến tổ
chức Những quyết định này bao gồm số lượng, vị trí và công suất của nhà kho, các nhà máy sản xuất, hoặc dòng dịch chuyển nguyên vật liệu trong mạng lưới
• Cấp độ chiến thuật điển hình bao gồm những quyết định được cập nhật ở
bất cứ nơi nào ở thời điểm của quý hoặc năm Điều này bao gồm các quyết định thu mua và sản xuất, các chính sách tồn kho và các quyết định vận tải kể cả tần suất viếng thăm khách hàng
• Cấp độ tác nghiệp liên quan đến các quyết định hàng ngày chẳng hạn như
lên thời gian biểu, lộ trình của xe vận tải…
1.1.5 Cấu trúc và các thành phần chuỗi cung ứng
Hình 1.7 Chuỗi cung ứng tổng quát
Chuỗi cung ứng được xem như đường ống hoặc dây dẫn điện nhằm quản trị một cách hữu hiệu và hiệu quả dòng sản phẩm/ nguyên liệu, dịch vụ, thông tin và tài chính
từ nhà cung cấp của nhà cung cấp xuyên qua các tổ chức/công ty trung gian nhằm đến với khách hàng của khách hàng hoặc một hệ thống mạng lưới hậu cần giữa nhà cung
cấp đầu tiên đến khách hàng cuối cùng: Khách hàng là thành tố tiên quyết của chuỗi
cung ứng
Mục đích then chốt cho sự hiện hữu của bất kỳ chuỗi cung ứng nào là để thỏa mãn nhu cầu khách hàng, trong tiến trình tạo ra lợi nhuận cho chính nó Các hoạt động chuỗi cung ứng bắt đầu với đơn đặt hàng của khách hàng và kết thúc khi khách hàng thanh toán đơn đặt hàng của họ Thuật ngữ chuỗi cung ứng gợi nên hình ảnh sản phẩm hoặc cung cấp dịch chuyển từ nhà cung cấp đến nhà sản xuất đến nhà phân phối đến nhà bán lẻ đến khách hàng dọc theo chuỗi cung ứng Điều quan trọng là phải mường tượng dòng thông tin, sản phẩm và tài chính dọc cả hai hướng của chuỗi này Trong thực tế, nhà sản xuất có thể nhận nguyên liệu từ vài nhà cung cấp và sau đó cung ứng đến nhà phân phối Vì vậy, đa số các chuỗi cung ứng thực sự là các mạng lưới
Trang 27
1.1.6 Xu hướng phát triển của chuỗi cung ứng
Quản trị chuỗi cung ứng là quá trình thiết lập kế hoạch, thực thi các kế hoạch đó
để kiểm soát các hoạt động của chuỗi cung ứng để bảo đảm mục tiêu cuối cùng là thoả mãn yêu cầu của khách hàng ở mức tốt nhất Hoạt động của quản trị chuỗi cung ứng bao quát từ việc quản lý nguyên vật liệu, luân chuyển tồn kho, thành phẩm từ khi sản xuất tới khi sản phẩm được giao tới người tiêu dùng cuối cùng Có thể nói quản trị chuỗi cung ứng là một “chức năng lựa chọn nguồn cung cấp hàng hóa và dịch vụ và quản trị dòng vật tư đầu vào” Ngày nay, xu hướng này là hệ quả tất yếu của sự gia tăng sử dụng nguồn lực bên ngoài (outsourcing) và trao đổi kinh nghiệm của tổ chức với những nhà cung ứng khác nhau nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh Mục tiêu của quản trị chuỗi cung ứng đối với hầu hết tổ chức là cắt giảm chi phí sản xuất và mang đến những giá trị tăng thêm cho khách hàng như dịch vụ khách hàng vượt trội (sự cung ứng nhanh hơn, chính xác hơn) và/ hoặc khả năng cung cấp những đặc tính thiết kế mới hay cho phép khách hàng tự quyết định về sản phẩm được cung ứng Quản trị chuỗi cung ứng dựa trên một cách tiếp cận về quản trị mối quan hệ với nhà cung cấp một cách tập trung hơn là chức năng quản trị hậu cần truyền thống
Với sự phát triển của quản trị chuỗi cung ứng như hiện nay, nhiều mô hình quản trị chuỗi cung ứng sẽ ra đời và được ứng dụng rộng rãi trong thực tế Các công ty sẽ có nhiều mô hình để lựa chọn sao cho phù hợp với tình hình hoạt động và tài chính của công ty mình
Sự hợp nhất các chuỗi cung ứng cũng là hiện tượng nổi trội để nâng cao năng lực cạnh tranh, 3 yếu tố chính sau sẽ tác động trực tiếp tới sự thay đổi cấu trúc để làm sao các công ty duy trì hoạt động của chuỗi cung ứng đó:
Các công ty sẽ liên kết chuỗi cung ứng nội bộ với các chuỗi cung ứng của đối tác
và hợp nhất hoạt động với nhau
Công nghệ và internet là chìa khóa để cải thiện chiến lược quản trị chuỗi cung ứng
Tái cơ cấu hoạt động chuỗi cung ứng để đạt được mục tiêu của công ty
Một xu hướng đang phát triển là công nghệ RFID sẽ phát triển và được ứng dụng rộng rãi trong quản trị chuỗi cung ứng, đặc biệt trong ngành hàng tiêu dùng Công nghệ này giúp định dạng sản phẩm, vận chuyển và kiểm soát tồn kho, tránh hàng hóa trong kho không đủ để phục vụ nhu cầu của thị trường đồng thời giảm thời gian
Trang 28hàng hóa, nguyên vật liệu bị lưu kho chờ sản xuất hay xuất xưởng đưa ra phân phối trên thị trường
1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XÂY DỰNG CHUỖI CUNG ỨNG
1.2.1 Sự cần thiết của việc xây dựng chuỗi cung ứng cho Doanh Nghiệp
Theo Michael E Porter, một nền kinh tế chỉ thành công khi nó khai thác được những thuận lợi và nhờ đó nâng cấp được các lợi thế cạnh tranh của mình - một cách liên tục Như vậy cũng có nghĩa là phải đổi mới liên tục, trên cả cấp độ vi mô của doanh nghiệp lẫn cấp độ vĩ mô của Chính Phủ Ở nhiều nước đang phát triển như Việt Nam, các nguồn lực tự nhiên và lao động rẻ có thể là một mặt sáng của viên kim cương theo Mô hình của Michael E Porter, nhưng nó chỉ có thể tận dụng để nâng cao lợi thế cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn phát triển ban đầu Giáo sư Michael E
Porter đã từng khuyên Việt Nam “cần giảm bớt phụ thuộc vào lợi thế nhân công giá
rẻ” mà “cần chuyển từ một nền kinh tế dựa trên lợi thế về lao động giá rẻ sang nền
kinh tế có năng suất và chất lượng lao động cao”
Ở giai đoạn hiện nay tăng cường lợi thế cạnh tranh quốc gia chủ yếu là đổi mới công nghệ và phương thức quản lý, sản xuất những sản phẩm giá trị gia tăng bằng các công nghệ tiên tiến tương đương với thế giới Việc đổi mới công nghệ và quản lý chủ yếu thông qua:
+ Quan hệ phối hợp giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành hàng;
+ Quan hệ đối tác và phối hợp giữa các ngành hàng liên quan;
+ Các chính sách thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh trong các ngành hàng chủ lực, khuyến khích gia tăng nguồn cung cấp công nghệ và dịch vụ quản lý
Để có thể đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn này, tư duy quản lý phải là
“tư duy giá trị gia tăng”, hay nói khác đi là “tư duy hiệu quả” nhằm tăng tỷ trọng
giá trị mà Việt Nam thu được và giữ lại được cho mình trong tổng giá trị xuất khẩu Muốn vậy, cần phải phân tích chuỗi giá trị quốc tế (international value chain) của từng nhóm sản phẩm chủ lực, tìm cách khai thác có hiệu quả chuỗi giá trị để giành phần lớn hơn cho các khâu thuộc chuỗi giá trị quốc gia (national value chain)
Thách thức chủ yếu trong giai đoạn này là phát triển thiếu bền vững và kém hiệu quả do thiếu sự hợp tác chặt chẽ trong cộng đồng doanh nghiệp và cộng đồng nông ngư dân, giữa cộng đồng doanh nghiệp và cơ quan quản lý Nhà nước để hình thành chuỗi cung ứng và có phương thức quản trị chuỗi cung ứng một cách hiệu quả nhất
Trang 291.2.2 Xây dựng chuỗi cung ứng
Chuỗi cung ứng vốn đã là sự kết hợp của nhiều thành phần và nên làm gì để các thành phần cũng như mối liên hệ giữa chúng được chặt chẽ là một câu hỏi lớn Tác giả Leslie Kossoff đã xem việc quản trị chuỗi như là một phiên bản “lẩu thập cẩm” mà ta nhìn thấy và quản lý doanh nghiệp Nhiều thứ gia vị gộp lại Ban đầu phải biết ta cần
gì và lấy từ đâu, từ ai, rồi làm sao để đưa những loại gia vị ấy vào tổ chức và biến thành thứ có thể bán được, tất cả trở thành một cái nồi lẫu Đi tìm những thứ cần thiết cho “ một nồi lẩu” cũng gần tương tự như việc con người đi tìm cách để hoàn thiện bản thân mình vậy Nhìn nhận vấn đề đang tồn tại là bước đầu tiên trong việc cải thiện
sự việc Muốn quản lý tốt chuỗi cung ứng và bắt nó mang lại năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp thì đầu tiên chúng ta phải nhìn thấy được lộ trình hay cấu trúc toàn chuỗi cung ứng hiện tại Cấu trúc đó không những chỉ ra được tiến trình của các hoạt động của chuỗi mà còn phải thể hiện được cấu trúc của từng quy trình và tác động tương hỗ giữa các quy trình này Qua đó, ta sẽ thấy được chỗ nào ưu cần phát huy, chỗ nào nhược phải cải thiện, từ đó chuỗi cung ứng sẽ được tinh chỉnh dần, hoàn thiện và đạt hiệu quả
Khi nói về chuỗi cung ứng ta phải nghĩ ngay rằng đó là một tổng thể chứ không phải là sự đơn lẻ của từng bộ phận Điểm quan trọng trong chuỗi cung ứng là làm sao
để tối thiểu hóa chi phí ở các khâu trung gian Chi phí ấy giờ đây gần như chỉ có thể được tối thiểu khi thời gian thực hiện một vòng của chuỗi được giảm xuống Điều đó phụ thuộc rất nhiều vào sự liên kết giữa các bên liên quan trong chuỗi Michael Porter, một Guru hàng đầu về chiến lược đã từng lý giải “bất cứ hoạt động đơn lẻ nào cũng có thể được sao chép, nhưng khi kết hợp tất cả lại thì sẽ hình thành lên một hệ thống mà khó có thể sao chép” Đúng vậy, nếu có sự phối hợp với nhau thì chúng ta sẽ xây dựng lên chuỗi cung ứng duy nhất, và đó chính là lợi thế cạnh tranh mà chúng ta có được Nhiều công ty đã thành công trong việc nâng cao lợi thế cạnh tranh qua chuỗi cung ứng nhưng cũng có những công ty thì bị thất bại thảm hại Nguyên nhân phần nhiều là do ban quản trị hiếm khi nhìn ra được yếu tố cần sửa đổi trong chuỗi cung ứng và một số nguyên nhân khách quan khác Để có thể nhìn ra được điểm mạnh yếu ở đâu thì chúng ta phải vẽ ra được sơ đồ chi tiết chuỗi cung ứng hiện tại Sơ đồ này phải thực sự được tinh chỉnh và đảm bảo trung thực Sau đó, doanh nghiệp cần phải xem xét nó đã phù hợp với cấu trúc kinh doanh (đơn vị kinh doanh, các vùng…) và với các
Trang 30đối tác chuỗi cung ứng hay chưa Từ đó tinh chỉnh các mục tiêu chiến lược của chuỗi cung ứng – những ưu tiên kinh doanh mà chuỗi cung ứng phải hỗ trợ đắc lực
Như vậy, công việc chính của quản lý chuỗi cung ứng đó là tạo dựng và tăng cường mối liên kết giữa các đối tượng tham gia trong chuỗi Chính sợi dây liên kết này
sẽ kết hợp các bộ phận của chuỗi thành một thể thống nhất, giúp tiết kiệm chi phí, thời gian, gia tăng giá trị cho khách hàng, mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp Và đó là hàng rào vững chắc cản bước đối thủ cạnh tranh, là tổng thể mang lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Sự cam kết là tiền đề cho việc xây dựng các mối quan hệ Tuy nhiên, yếu tố môi trường thì luôn luôn biến động sẽ làm cho chuỗi cung ứng
có những thay đổi Do đó, công việc trong quản lý chuỗi cung ứng không dừng lại ở bước tạo dựng, duy trì mà đồng thời phải luôn cải tiến cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp, điều kiện của đối tác…
1.2.3 Khái niệm về chuỗi cung ứng của công ty chế biến và xuất khẩu thủy sản
Không có một định nghĩa chính thức nào về chuỗi cung ứng của công ty CB & XKTS, nhưng qua một vài cơ sở lý luận, có thể hiểu khái quát về chuỗi cung ứng của doanh nghiệp CB & XKTS như sau:
« Chuỗi cung ứng cuả một doanh nghiệp CB & XKTS là một quá trình bắt đầu
từ nguyên liệu sống, thông qua các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt, bảo quản, vận chuyển, chế biến tạo thành sản phẩm hoàn chỉnh và được phân phối tới khách hàng” Khái niệm này tuy không phải là một khái niệm chính thống, nhưng qua đó, ta
có thể hiểu được phần nào về chuỗi cung ứng và các hoạt động mà công ty CB & XKTS thường thực hiện để cung cấp cho thị trường những sản phẩm hoàn chỉnh
Hình 1.8 Chuỗi cung cấp sản phẩm thủy sản
Thu mua /Gom hàng
Phân phối/
Xuất Khẩu
Khách hàng
Khách hàng
Trang 31Từ sơ đồ 1.8 cho thấy, quy trình của một mặt hàng thủy sản xuất khẩu thông thường trải qua 4 giai đoạn để phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng Như vậy, để
có được một sản phẩm chất lượng, đảm bảo VSATTP thì vai trò của tất cả các đối tượng trong chuỗi đều quan trọng như nhau, chỉ cần một khâu trong chuỗi không đảm bảo chất lượng thì sản phẩm tới tay người tiêu dùng sẽ không đạt yêu cầu và tác động xấu đến toàn chuỗi cung ứng
1.2.4 Các đối tượng trong chuỗi cung ứng của công ty CB & XKTS
Trong chuỗi cung ứng của công ty CB & XKTS thông thường gồm 4 giai đoạn
và cũng tượng trưng cho 4 nhóm đối tượng trong chuỗi như sau :
a Người nuôi trồng: là những hộ gia đình nông dân đào ao, đìa để nuôi Thông thường những hộ nông dân này tự tìm hiểm kỹ thuật và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau chứ không được đào tạo qua trường lớp chính quy Để vụ nuôi thu hoạch được hiệu quả, đòi hỏi hộ nông dân cần tuân thủ chặt chẽ các yếu tố kỹ thuật theo tiêu chuẩn của ngành, sử dụng hợp lý các chi phí trong quá trình nuôi để mang lại lợi ích kinh tế
b Đại lý thu mua: đóng vai trò trung gian giữa công ty chế biến và người nuôi trồng Họ có chức năng thu mua từ các hộ nuôi trồng hoặc các ngư dân tự đánh bắt, bảo quản và vận chuyển thương phẩm tới nhà máy chế biến và thanh toán tiền trực tiếp cho người nuôi sau khi bắt lên khỏi ao, đìa hoặc thu mua từ các ngư dân Trong một số trường hợp, đại lý có thể ứng tiền cho hộ nuôi hoặc ngư dân nếu họ có nhu cầu Lợi ích họ nhận được là phần chênh lệch giữa số tiền bỏ ra và thu lại khi bán
c Công ty chế biến: đây là đối tượng chính trong chuỗi cung ứng, chịu trách nhiệm toàn bộ về vấn đề chất lượng sản phẩm đối với thị trường và người tiêu dùng Nguyên liệu sau khi được tiếp nhận sẽ được xử lý và chế biến thành sản phẩm đạt chất lượng theo yêu cầu của khách hàng và xuất đi đến các thị trường trên thế giới Với các yêu cầu ngày càng cao về chất lượng VSATTP, đòi hỏi Doanh nghiệp CB & XKTS phải kiểm soát, giám sát được chất lượng ngay từ khâu nguyên liệu, các công đoạn trong quy trình sản xuất cho tới sản phẩm cuối cùng được sự chấp thuận của các cơ quan chức năng và khách hàng
d Nhà nhập khẩu là những tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài có nhu cầu mua
sản phẩm thủy sản của Việt Nam Sau khi tìm hiểu, lựa chọn nhà cung cấp thông qua các hợp đồng mua bán quốc tế để nhập khẩu vào thị trường trong nước, sau đó phân phối tới các cửa hàng bán lẻ, siêu thị Để nhập khẩu được những sản phẩm đạt chất
Trang 32lượng quốc tế, nhà nhập khẩu căn cứ vào quá trình phát triển của công ty, các chứng chỉ, chứng nhận quốc tế về chất lượng sản phẩm và mức giá thỏa thuận giữa hai bên
1.2.5 Phân tích chuỗi giá trị dựa vào ứng dụng mô hình SCP
Mô hình SCP kết hợp cách tiếp cận chuỗi của ngành hàng kinh doanh được sử dụng như là phương pháp phân tích chuỗi giá trị của đề tài nghiên cứu Mô hình SCP (Bain, 1951) chỉ ra mối liên hệ giữa 3 yếu tố cấu trúc thị trường (S), sự vận hành (C)
và kết quả thực hiện thị trường (P) trong chuỗi cung ứng sản phẩm cá biển fillet thịt trắng ở Nha Trang Điểm then chốt của mô hình SCP là cho thấy có sự tương tác nhân quả giữa 3 yếu tố này trong phân tích một chuỗi giá trị (Hình 1.9)
Nguồn: Bain (1951)
Hình 1.9 Sự tương tác qua lại giữa ba yếu tố trong mô hình SCP
Cấu trúc thị trường và sự vận hành thị trường ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thực hiện thị trường/ kết quả kinh doanh của ngành Ngược lại, kết quả thị trường sẽ tác động trở lại đến cấu trúc và sự vận hành thị trường trong dài hạn như được chỉ trong hình 1.9 Kết quả thị trường phụ thuộc vào sự vận hành thị trường của người bán
và người mua thông qua các chính sách định giá, chủng loại sản phẩm, đầu tư phương tiện sản xuất Sự vận hành ảnh hưởng chi phối ngược lại cấu trúc thị trường bao gồm ảnh hưởng đến số lượng và quy mô sản xuất kinh doanh của những người bán và người mua, các kênh marketing, mức độ khác biệt hóa sản phẩm, sự tồn tại hay không của các rào cản gia nhập và xuất ngành Ứng dụng mô hình SCP cho phân tích chuỗi giá trị giúp chúng ta nhận dạng khả năng cải tiến vị thế cạnh tranh chuỗi giá trị sản phẩm Các nhân tố trong của mô hình SCP được thể hiện trong bảng 1.1:
Cấu trúc thị
trường (S)
Vận hành thị trường (C)
Kết quả thực hiện thị trường (P)
Trang 33Bảng 1.1: Các nhân tố của mô hình SCP
Nhân tố cấu trúc (S) Nhân tố vận hành (C) Nhân tố kết quả (P)
-Những trung gian trong
-Phân loại chất lượng
-Phân tích thông tin thị
-Sự thích hợp của sản phẩm liên quan đến thị hiếu của khách hàng -Hiệu quả của dịch vụ cung ứng: +Tỉ lệ lợi nhuận liên quan đến chênh lệch biên tế giữa giá và chi phí marketing
+Phân tích thị trường; thương lượng chi phí giao dịch (tìm kiếm và kí hợp đồng)
+Phân tích khác biệt về giá và giao động về giá theo thời vụ
+Tham gia thị trường -Phân tích sự năng động của thị trường
Nguồn: Đại và ctv (2008)
Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu và những hạn chế về số liệu nghiên cứu, đề tài chỉ đề cập đến các nhân tố chính như trong bảng 1.2:
Bảng 1.2: Các nhân tố của SCP sử dụng trong nghiên cứu chuỗi cung ứng
Cấu trúc thị trường Tổ chức và vận hành thị trường Kết quả thực hiện thị
-Qui trình hình thành giá -Tiếp cận thông tin thị trường -Kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc
-Tình hình cạnh tranh trong ngành -Các cơ chế và chính sách liên quan
-Doanh thu -Chi phí sản xuất -Chi phí tăng thêm -Lợi nhuận và giá trị tăng thêm
-Tỷ suất lợi nhuận biên trên tổng chi phí
-Tỷ suất lợi nhuận biên trên chi phí tăng thêm
Trang 34Trong phân tích kết quả thị trường, đề tài tập trung vào việc phân tích phân phối giá trị tăng thêm của mỗi tác nhân tham gia trong chuỗi nhằm xác định giá trị kinh tế tạo ra cho người tiêu dùng của mỗi tác nhân và của toàn chuỗi giá trị Đối với kênh phân phối cá biển fillet thịt trắng, việc phân tích giá trị tăng thêm dựa vào chi phí sản xuất, chi phí marketing hoặc chi phí tăng thêm và lợi nhuận của mỗi tác nhân trong chuỗi Qua việc phân tích giá trị tăng thêm nhằm làm rõ mức phân chia lợi nhuận cho từng thành viên trong chuỗi Hai chỉ số được sử dụng trong phân tích đó là: tỷ suất lợi nhuận biên trên tổng chi phí và tỷ suất lợi nhuận biên trên chi phí tăng thêm Hai chỉ
số này được sử dụng nhằm so sánh và xác định mức độ hợp lý của việc phân phối lợi nhuận giữa các tác nhân trong chuỗi
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng chi phí =
Lợi nhuận biên Tổng chi phí
Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí gia tăng =
Lợi nhuận biên Chi phí tăng thêm
1.3 TRUY XUẨT NGUỒN GỐC TRONG CHUỖI CUNG ỨNG
1.3.1 Khái niệm chung
Để quản lý tốt chuỗi cung ứng thực phẩm ngày nay thì đòi hỏi cần có chương trình truy xuất nguồn gốc Truy xuất nguồn gốc giúp xác định và truy được dấu vết từ nguyên liệu cho đến sản phẩm với sự trợ giúp của công nghệ thông tin Truy xuất nguồn gốc trở thành yêu cầu bắt buộc đối với các sản phẩm xuất khẩu đến EU, Mỹ, Nhật
Theo qui định 178/2002/EC của Liên minh Châu Âu “ Truy xuất nguồn gốc là khả năng cho phép truy tìm tất cả các công đoạn của quá trình sản xuất, chế biến, phân phối của một sản phẩm thực phẩm, một sản phẩm thức ăn động vật, một động vật dùng
để chế biến thực phẩm hoặc một chất được dùng để đưa vào hoặc có thể được đưa vào một sản phẩm thực phẩm hoặc thức ăn cho động vật.”
Theo ISO 9000:2008 truy xuất nguồn gốc có nghĩa là khả năng truy lại các hồ
sơ, các ứng dụng hay vị trí của những gì liên quan đến sản phẩm Truy xuất nguồn gốc
Trang 35dựa vào sự quan hệ giữa nguồn gốc nguyên liệu, các thành phần các quá trình chế biến
và phân phối sản phẩm Truy xuất bao gồm tìm dấu vết và dò theo dấu vết Với việc tìm dấu vết, sản phẩm được xác định, được đánh dấu và ghi lại thông tin từ nguồn nguyên vật liệu đến tay người tiêu dung Tất cả thông tin liên quan đến sản phẩm như: nguồn nguyên vật liệu, nơi thu hoạch, ngày thu hoạch hay những tin liên quan khác đều được chỉ ra trên bao bì của sản phẩm Với việc dò theo dấu vết, thì ta truy ngược lại từ sản phẩm đến nguyên vật liệu khi có sự cố lô hàng đó yêu cầu phải thu hồi và trả lại Vì vậy truy xuất nguồn gốc giúp ngăn ngừa hàng giả, kém chất lượng Hơn thế, truy xuất nguồn gốc giúp đảm bảo mục tiêu là cung cấp cho người tiêu dùng đầy đủ thông tin
về sản phẩm Quản lý truy xuất nguồn gốc trong chuỗi cung ứng sẽ giúp cho việc tối ưu hóa việc kinh doanh của doanh nghiệp Nó còn giúp nhận diện sản phẩm bị nhiễm vi sinh vật và có thể nhanh chóng thu hồi những sản phẩm không đảm bảo chất lượng trong dây chuyền sản xuất hay trên thị trường
Để chắc chắn đảm bảo an toàn chất lượng thì EU đã yêu cầu các nước xuất khẩu phải có hệ thống truy xuất nguồn gốc cho sản phẩm thủy sản từ năm 2005 Luật này yêu cầu truy xuất nguồn gốc thực phẩm hay thức ăn chăn nuôi được thành lập ở tất cả các công đoạn của sản phẩm, quá trình chế biến và phân phối Họ cũng yêu cầu cần phải xác định nhà cung cấp và khách hàng cho mỗi thị trường Ở Mỹ một đạo luật được thông qua là ghi nhãn nước sản xuất cho cá và nhuyễn thể trở nên bắt buộc từ 4/4/2005 Theo đạo luật này thì các sản phẩm cá bán lẻ phải được cung cấp chi tiết về thông tin nguồn gốc nguyên liệu, nước xuất khẩu, qui trình sản xuất Thêm vào đó cơ quan quản lý an toàn thuốc và dược phẩm đã đưa ra một luật mà yêu cầu tất cả các liên kết trong chuỗi cung ứng, vận chuyển thành lập và duy trì sự ghi chép để tiến hành tìm
và truy dấu đối với nhà cung cấp và người mua trong 9/12/2006 Nhật cũng yêu cầu các doanh nghiệp chế biến thủy sản cất giữ những ghi chép về sản phẩm Điều đáng quan tâm ở đây là những nước này đều là thị trường tiêu thụ chính các mặt hàng thủy sản của Việt Nam
Mặc dù truy xuất nguồn gốc đã được nhắc đến vào năm 2005 ở Việt Nam nhưng cho đến nay chưa có những thủ tục chuẩn mực hay chương trình áp dụng bởi các nhà quản lý Chỉ mới gần đây (4/12/2009) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng
đã ra Quyết định số 3477/QĐ-BNN-KTBVNL để qui định việc thực hiện xác nhận thủy sản khai thác Tuy nhiên các hướng dẫn cụ thể thì chưa được ban hành
Trang 361.3.2 Hệ thống truy xuất nguồn gốc
Hệ thống truy xuất nguồn gốc được phát triển và quản lý bởi hệ thống dữ liệu đơn lẻ hay dữ liệu kết hợp Hệ thống dữ liệu đơn lẻ sử dụng một trung tâm dữ liệu nơi
mà tất cả các thông tin được lưu giữ và truy cập Những tài liệu về những công đoạn trong chuỗi cung ứng được tập trung ở dữ liệu trung tâm thông qua một giao diện website Vì vậy nếu cần thiết thì thông tin được truy lại một cách nhanh chóng Trái lại, hệ thống dữ liệu kết hợp bao gồm những hệ thống dữ liệu riêng biệt, ở đó mỗi bước trong chuỗi cung ứng được lưu giữ trong những tài liệu riêng
Đối với mỗi bước của chuỗi cung cấp, thì thực hiện truy xuất nguồn gốc bao gồm những bước sau:
Đọc và xử lý thông tin bằng thiết bị thông thường hoặc tự động
Lưu giữ thông tin bằng cách sử dụng điện tử hay sử dụng giấy
Chuyển tất cả các thông tin đến khách hang bằng điện tử hay giấy tờ
Hệ thống truy xuất nguồn gốc được phát triển và quản lý bởi hệ thống dữ liệu đơn lẻ hay dữ liệu kết hợp Hệ thống dữ liệu đơn lẻ sử dụng một trung tâm dữ liệu nơi
mà tất cả các thông tin được lưu giữ và truy cập Những tài liệu về những công đoạn trong chuỗi cung ứng được tập trung ở dữ liệu trung tâm thông qua một giao diện website Vì vậy nếu cần thiết thì thông tin được truy lại một cách nhanh chóng Trái lại, hệ thống dữ liệu kết hợp bao gồm những hệ thống dữ liệu riêng biệt, ở đó mỗi bước trong chuỗi cung ứng được lưu giữ trong những tài liệu riêng
Sự thành công của hệ thống truy xuất nguồn gốc gồm có ba nhân tố: thứ nhất, các đơn vị nguồn để truy xuất phải được xác định Nó có thể là một mẻ cá được xác định nguồn gốc hoặc xác định những thuộc tính ngay từ giai đoạn đầu v à thông qua từng bước trong chuỗi cung ứng Thứ hai, sự tương hợp phải được đảm bảo giữa sự tồn tại hay nguồn gốc của từng đ ơn vị trong chuỗi Điều này đòi hỏi sự trao đổi hiệu quả của dữ liệu trong hoạt động của hệ thống Thứ ba, những thông số tiêu chuẩn cho việc chuyển dữ liệu phải được thành lập Công nghệ để truy xuất nguồn gốc bao gồm các chữ số, mã số hay RFID Chúng có thể được dùng ở từng công đoạn khác nhau trong chuỗi cung ứng
1.3.3 Những lợi ích của việc truy xuất nguồn gốc cho sản phẩm thủy sản
Việc áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm thuỷ sản sẽ làm tăng chi phí trong việc đầu tư trang thiết bị, nhân lực và phức tạp trong quản lý , lưu
Trang 37giữ thông tin Tuy nhiên những lợi ích mà truy xuất nguồn gốc mang lại cho doanh nghiệp không phải là nhỏ Theo đó, khi áp dụng thành công hệ thống truy xuất nguồn gốc sẽ mang lại những lợi ích sau:
Đảm bảo thu hồi nhanh chóng sản phẩm Khi có những phản ánh không tốt từ phía khách hàng thì các lô sản phẩm bị sự cố sẽ được xác định tức thời và tiến hành thu hồi nhằm giảm sự ảnh hưởng và bảo vệ người tiêu dùng tránh phải sử dụng sản phẩm bị sự cố
Dễ dàng phát hiện và xử lý nếu có sự cố xảy ra Khi đó doanh nghiệp sẽ tiến hành dò theo từng công đoạn trong chuỗi cung ứng và phát hiện ra ngay sự cố đó phát sinh ở tại khâu nào và sẽ có câu giải thích rõ ràng với khách hàng và đề ra phương án giải quyết kịp thời từ đó sẽ có sự giám sát
v à cải tiến hệ thống nhằm tránh sự cố lại tiếp tục xảy ra sau này
Giới hạn được phạm vi thu hồi sản phẩm khi có sự cố xảy ra từ đó tránh gây ảnh hưởng đến tâm lý của khách hàng
Nâng cao niềm tin của khách hàng vào chất lượng sản phẩm của công ty, nâng cao uy tín và sức cạnh tranh của công ty trên thị trường
Giúp doanh nghiệp hoàn thiện và quản lý tốt chất lượng sản phẩm và chuỗi cung ứng từ nguyên liệu cho đến thành phẩm, vận chuyển, phân phối
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
- Trên cơ sở khung lý thuyết tác giả đã đề cập trong chương 1, ta đã hiểu rõ khái niệm về chuỗi cung ứng, qui trình xây dựng của chuỗi cung ứng, cũng như các tác nhân trong chuỗi cung ứng Bên cạnh đó, đáp ứng được các tiêu chuẩn như Global GAP, BRC hay SQF và truy xuất nguồn gốc cho sản phẩm thủy sản, là một thách thức lớn và quan trọng nhất đối với chuỗi cung ứng hiện nay
- Để nghiên cứu ”chuỗi cung ứng mặt hàng cá biển fillet thịt trắng tại Nha Trang”; tác giả đã ứng dụng mô hình SCP trên khung lý thuyết đã đề cập ở chương 1,
để phân tích các nhân tố và mối quan hệ tương tác giữa các tác nhân trong chuỗi cung ứng trong chương 2
Trang 38CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CHUỖI CUNG ỨNG CỦA MẶT HÀNG CÁ BIỂN FILLET THỊT TRẮNG TẠI NHA TRANG NĂM 2012-2014
2.1 TÌNH HÌNH CUNG VÀ CẦU THỦY SẢN THẾ GIỚI
2.1.1 Một số kết quả về cung – cầu của ngành thủy sản thế giới
Nhu cầu tiêu thụ thủy sản từ năm 2011 đến 2014 (Bảng 2.1) tăng bình quân 1,9% cụ thể từ 156,2 triệu tấn năm 2011; tăng lên 158 triệu tấn năm 2012; 161 triệu tấn năm 2013 và 165,2 triệu tấn năm 2014 Nhu cầu thủy sản tăng do dân số tăng cũng như tiêu dùng thủy sản đầu người tăng Theo báo cáo của FAO, tiêu dùng thủy sản trên đầu người tăng dần từ 18,9 kg/người năm 2011; 19,2 kg/người năm 2012; 19,7 kg/người năm 2013 và 2014 là 20 kg/người
FAO dự báo năm 2014, với cầu tiêu dùng ngày càng tăng, giá nguyên liệu cao còn kích thích nuôi trồng một số loài đến năm 2015 Tuy nhiên năm nay sự xuất hiện của hiện tượng El Nino (hiện tượng thời tiết cực đoan) [42] có thể ảnh hưởng đến sản lượng khai thác một số vùng Dự báo tổng sản lượng thủy sản năm 2014 đạt 195 triệu tấn, tăng 2,6% chủ yếu ở loài thủy sản nuôi
Nhu cầu các sản phẩm thủy sản của các công ty trên thế giới cũng tăng, thể hiện qua sự gia tăng của sản lượng thủy sản nuôi cũng như giá cá một số loài
Bảng 2.1: Cân đối cung cầu thủy sản quốc tế (ĐVT: Triệu Tấn)
trưởng(%) Sản lượng
19,2
9,8 9,4
161
140,9 16,4
3,7
19,7
9,9 9,8
165,2
144,6 16,6
4
20
9,7 10,3
1,9
3,1 -3 -11,5
1,9
-0,7 4,6
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2014)
Trang 39FAO dự báo xu hướng tiêu dùng thủy sản trên thế giới sẽ chuyển sang loại tươi, sống, nhất là các loại có giá trị cao như giáp xác, tôm, cá ngừ, cá hồi, cá fillet thịt trắng, cũng như đối với thủy sản đã qua chế biến bởi tính tiện dụng cao; còn tiêu thụ
đồ hộp ngày càng giảm do nguy cơ nhiễm hóa chất gia tăng Yêu cầu về an toàn thực phẩm cũng ngày càng phổ biến rộng rãi trên thế giới
Năm 2013, thủy sản cung cấp cho thế giới khoảng 16,6% lượng đạm động vật và 6,5% đạm tổng số trên toàn cầu; thủy sản cung cấp đạm động vật cho khoản 3 tỷ người với 25% đạm động vật và khoản 4,3 tỷ người với lượng đạm khoản 15% Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển, mức tiêu thụ thủy sản khá thấp khoản 17 kg/người/năm (2013); các nước thu nhập thấp 10,1 kg/người/năm (2013); các nước phát triển mức tiêu thụ bình quân theo đầu người khoản 24,5 kg/người/năm
Báo cáo của FAO [38] mới được công bố ngày 19/5/2014 cũng cho biết hiện nay
cá chiếm gần 17% hàm lượng protein cho dân số trên toàn cầu - ở một số quốc đảo và quốc gia ven biển có thể lên đến 70%
Sản lượng thủy sản khai thác biển toàn cầu có xu hướng giảm qua các năm từ
2011 đến 2014 do hoạt động khai thác, đánh bắt đang dần bị hạn chế do các nguồn lợi
đã bị khai thác hết tiềm năng, bên cạnh đó do môi trường bị tác động tiêu cực từ hoạt động của con người (Bảng 2.2) Hiện nay, dưới 30% trữ lượng cá tự nhiên thường xuyên được giám sát bởi FAO bị đánh bắt quá mức – lại có một sự đảo ngược về xu hướng, được quan sát trong vài năm qua, là một dấu hiệu tích cực đúng hướng Chỉ hơn 70% thủy sản đang được đánh bắt trong mức độ bền vững về mặt sinh học Trong
số này, trữ lượng đánh bắt triệt để, có nghĩa là ở mức hoặc rất sát với mức sản lượng bền vững tối đa chiếm hơn 60%, và trữ lượng chưa đánh bắt khoảng 10% [38]
Trang 40Theo vùng lãnh thổ, sản lượng khai thác thủy sản của các nước trong khu vực Châu Á chiếm khoản 70% tổng sản lượng, đặc biệt là các quốc gia như: Trung Quốc,
Ấn độ, Băng-la-đét, Mi-an-ma, tiếp đến là Châu Phi, Châu Mỹ
2.1.3 Lĩnh vực nuôi trồng thủy sản
Do nhu cầu ngày càng tăng về các sản phẩm thủy sản nên sản lượng thủy sản từ nuôi trồng ngày càng tăng trưởng Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, sản lượng thủy sản tại các nước sản xuất chính có xu hướng giảm như Mỹ, Tây Ban Nha, Pháp, Ý, Hàn Quốc Nguyên nhân cho sự giảm sản lượng này là do cá được nhập khẩu từ các nước có chi phí sản xuất thấp hơn, giá thành rẻ hơn[44]
Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong 4 năm gần đây (Bảng 2.2) có mức tăng trưởng khá cao, bình quân 6%/năm trong khi tăng trưởng của đánh bắt chỉ 0,26% có
xu hướng chững lại
Châu Á chiếm 89%, tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản thế giới năm 2010, Châu Âu và Châu Mỹ có sản lượng nuôi truồng thủy sản tương đương nhau khoản 2,5 triệu tấn (khoản 4%), trong khi đó Châu Phi và Châu Đại Dương có sản lượng nuôi khiêm tốn, tương ứng với 1,3 triệu tấn (2%) và 0,18 triệu tấn (1%) (Hình 2.1a)
Nằm trong nhóm 10 nước dẫn đầu về sản lượng nuôi trồng thủy sản của Châu Á năm 2010 bao gồm: Trung Quốc (36,7 triệu tấn), Ấn độ (4,6 triệu tấn), Việt Nam (2,67 triệu tấn), In-đô-nê-xi-a (2,3 triệu tấn), Băng-la-đét (1,3 triệu tấn), Thái Lan (1,28 triệu tấn), Mi-an-ma (0,85 triệu tấn), theo sau là Philipin, Nhật Bản, Hàn Quốc (Hình 2.1b)