1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quản lý ngân sách xã tại huyện thanh miện tỉnh hải dương

119 296 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù đã có nhiều văn bản pháp lý cùng với các thông tư hướng dẫn thực hiện quản lý ngân sách xã đã được ban hành nhưng công tác quản lý ngân sách xã vẫn còn điều bất cập và tồn tại cần

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

-

PHẠM VĂN HẠNH

QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ TẠI HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, NĂM 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

-

PHẠM VĂN HẠNH

QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ TẠI HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƯƠNG

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

MÃ SỐ: 60.34.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS ĐỖ QUANG GIÁM

HÀ NỘI, NĂM 2014

Trang 3

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các nội dung, số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi cũng xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng 11 năm 2014

Tác giả luận văn

Phạm Văn Hạnh

Trang 4

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page ii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được

sự hỗ trợ, giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân Với tình cảm chân thành, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả các cá nhân và cơ quan đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và cảm ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, Học viên Nông nghiệp

Việt Nam; đặc biệt là sự quan tâm, chỉ dẫn tận tình của Thầy giáo, TS Đỗ Quang Giám –Trưởng bộ môn Kế toán Quản trị và kiểm toán Học viện Nông nghiệp Việt

Nam là người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Phòng Tài chính- Kế hoạch Huyện Thanh Miện Tỉnh Hải Dương; các đồng nghiệp và các bạn bè đã nhiệt tình cộng tác, cung cấp những tư liệu thực tế và thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này Tuy nhiên có nhiều cố gắng, nhưng trong luận văn không tránh khỏi thiếu sót, hạn chế Tôi kính mong quý thầy, cô giáo, các chuyên gia, những người quan tâm đến đề tài, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè tiếp tục giúp đỡ, đóng góp ý kiến để

đề tài được hoàn thiện hơn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến tất cả người thân, bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu đề tài

Hà Nội, ngày tháng 11 Năm 2014

Tác giả luận văn

Phạm Văn Hạnh

Trang 5

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iii

2.1.4 Tổ chức hệ thống và phân cấp quản lý ngân sách nhà nước 9

2.2.1 Kinh nghiệm quản lý ngân sách xã ở một số nước trên thế giới 26

Trang 6

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iv

4.1 Thực trạng quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Thanh Miện 48 4.1.1 Bộ máy quản lý ngân sách xã tại Phòng Tài chính-Kế hoạch huyện

4.1.4 Công tác quyết toán ngân sách xã trên địa huyện Thanh Miện 72 4.2 Đánh giá chung về quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Thanh

4.2.1 Những kết quả đạt được trong công tác quản lý ngân sách xã 83

4.2.4 Đánh giá của chủ tịch, kế toán ủy ban nhân dân các xã, thị trấn về

4.3 Hoàn thiện quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Thanh Miện 94 4.3.1 Định hướng hoàn thiện quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện

Trang 7

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page v

4.3.2 Các giải pháp hoàn thiện quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện

Trang 8

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU

STT TÊN BẢNG TRANG

4.1 Tổng hợp dự toán thu ngân sách xã huyện Thanh Miện (2011- 2013) 56 4.2 Tổng hợp dự toán chi ngân sách xã huyện Thanh Miện (2011- 2013) 60 4.3 Tổng hợp chấp hành dự toán thu ngân sách xã, trên địa bàn huyện

4.9 Ý kiến trả lời chủ tịch, kế toán ủy ban nhân dân các xã thị trấn về thu

4.10 Ý kiến trả lời chủ tịch, kế toán ủy ban nhân dân các xã thị trấn về chi

Trang 9

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vii

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH

STT TÊN SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH TRANG

Sơ đồ 4.1 Sơ đồ bộ máy quản lý Phòng Tài chính-Kế hoạch huyện Thanh Miện 49

Biểu đồ 4.1 Biến động nguồn thu ngân sách xã của huyện Thanh Miện 76

Trang 10

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page viii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 11

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trải qua hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng trong hoạt động thực tiễn trên nhiều lĩnh vực, đã đưa đất nước ta ra khỏi khủng khoảng kinh tế- xã hội, kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ sơ vật chất được tăng cường, đời sống các tầng lớp nhân dân không ngừng được cải thiện Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế nước ta, quan tâm đến nông nghiệp- nông dân - nông thôn là một chủ trương lớn của Đảng

và Nhà nước đang được triển khai tại các địa phương là việc triển khai xây dựng nông thôn mới, để giúp cho nông thôn có được đời sống vật chất và tinh thần ngày càng tốt hơn Để thực hiện điều đó ngoài việc xây dựng công trình cơ sở hạ tầng chúng ta còn phải xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách cho quản lý ở cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã)

Ngân sách nhà nước (NSNN) có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước Cần hiểu rằng, vai trò của ngân sách nhà nước luôn gắn liền với vai trò của nhà nước theo từng giai đoạn nhất định Đối với nền kinh tế thị trường, ngân sách nhà nước đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế, xã hội Ngân sách nhà nước là công

cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội Là một bộ phận của Ngân sách Nhà nước, Ngân sách xã (NSX) có tầm quan trọng đặc biệt đối với chính quyền cấp

xã Nó là nguồn cung cấp tài chính cho hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã

và được gọi chung là ngân sách xã

Mặc dù đã có nhiều văn bản pháp lý cùng với các thông tư hướng dẫn thực hiện quản lý ngân sách xã đã được ban hành nhưng công tác quản lý ngân sách xã vẫn còn điều bất cập và tồn tại cần phải giải quyết đó là: phân cấp nguồn thu không hợp lý, khai thác nguồn thu chưa triệt để, định mức chi chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của các địa phương, trình độ quản lý của cán bộ

Trang 12

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 2

cấp xã chưa theo kịp với yêu cầu của quản lý ngân sách xã Việc khắc phục được những bất cập nói trên sẽ góp phần vào sự ổn định phát triển của ngân sách Nhà nước và nền tài chính quốc gia

Huyện Thanh Miện là huyện đồng bằng nằm ở phía tây nam của tỉnh Hải Dương Nguồn thu ngân sách (NS) các xã của Thanh Miện vẫn còn thấp so với tiềm năng, nhất là khoản thu trên địa bàn huyện không đáp ứng được nhu cầu chi Hàng năm ngân sách cấp trên vẫn phải hỗ trợ trên 60% trong tổng số chi hàng năm của ngân sách xã Công tác quản lý ngân sách nhà nước nói chung và đặc biệt đối với công tác quản lý ngân sách xã tại huyện Thanh Miện đã từng bước được triển khai

và thực hiện theo Luật Ngân sách nhà nước góp phần đảm bảo, ổn định, dân chủ, công khai và đúng nguyên tắc tài chính ở cấp chính quyền địa phương, góp phần đem lại công bằng xã hội, từng bước thay đổi bộ mặt của nông thôn, cơ sở hạ tầng ngày càng được đầu tư hoàn thiện, đời sống nhân dân nâng cao rõ rệt Tuy nhiên, công tác quản lý ngân sách xã của huyện vẫn còn không ít địa phương gặp nhiều khó khăn như: thu, chi sai qui định; chi không có cơ sở hoặc không có chứng từ gốc, lập quỹ thu, chi không qua ngân sách Công tác quản lý, khai thác nguồn thu từ giao thầu, khoán đất công ích chưa hiệu quả, hợp đồng ký vượt thời hạn qui định Mặt khác, trình độ quản lý, điều hành của lãnh đạo xã, chuyên môn nghiệp vụ của

kế toán xã ở một số nơi còn hạn chế, thực hiện quá trình thu, quản lý sử dụng và quyết toán nguồn chi còn có những vướng mắc

Quá trình quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Thanh Miện đang diễn ra như thế nào? Làm thế nào để quản lý tốt ngân sách xã trên địa bàn huyện Thanh Miện? Để trả lời được các câu hỏi này đòi hỏi chúng ta phải có một nghiên cứu đầy

đủ về, quá trình quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Thanh Miện Bên cạnh đó

từ trước đến nay chưa có một đề tài nghiên cứu, đánh giá nào về công tác quản lý ngân sách xã của huyện Thanh Miện Xuất phát từ thực trạng đó, tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài "Quản lý ngân sách xã tại huyện Thanh Miện, tỉnh Hải

Dương"

Trang 13

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 3

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở hệ thống lý luận quản lý nhà nước về công tác quản lý ngân sách

xã, đề tài đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý ngân sách xã tại huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương trong thời gian qua, nêu lên những nguyên nhân và hạn chế, để từ đó đưa ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác quản

lý ngân sách xã tại huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu cụ thể quá trình lập dự toán ngân sách xã ở huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương

- Nghiên cứu quá trình chấp hành dự toán ngân sách xã ở huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương

- Nghiên cứu quá trình quyết toán ngân sách xã ở huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương

Trang 14

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 4

Thanh Miện, được tập trung chủ yếu từ năm 2011 - 2013

Trang 15

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 5

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Một số khái niệm về ngân sách nhà nước

Tài chính nhà nước là một phạm trù kinh tế- lịch sử, gắn liền với sự ra đời của nhà nước và nền kinh tế hàng hoá tiền tệ Nhà nước sử dụng quyền lực của mình tham gia vào quá trình phân phối sản phẩm xã hội dưới hình thức tiền tệ như thuế bằng tiền, vay nợ để phục vụ cho hoạt động của mình, hình thành nên ngân sách nhà nước bộ phận quan trọng nhất của khu vực tài chính nhà nước Tuy nhiên thuật ngữ “ngân sách nhà nước” chỉ thực sự xuất hiện khi nền sản xuất xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định Khi đó các khoản thu, chi của nhà nước được thể chế hoá bằng luật pháp, tách việc thực hiện quyền lập pháp về NSNN thuộc về Quốc hội và quyền hành pháp về NSNN giao cho Chính phủ điều hành

Trong thực tiễn, hoạt động NSNN là hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nước Trong quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội, nguồn tài chính luôn vận động giữa một bên là Nhà nước một bên là các chủ thể kinh tế xã hội Đằng sau các hoạt động đó chứa đựng các mối quan hệ giữa Nhà nước với các chủ thể khác, thông qua việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước chuyển dịch của một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể đó thành thu nhập của nhà nước và Nhà nước chuyển dịch thu nhập đó đến các chủ thể được thụ hưởng để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước

Vai trò của NSNN trong hệ thống tài chính nói chung, cũng như trong khu vực tài chính nhà nước nói riêng, NSNN luôn giữ vị trí trọng yếu trong việc đảm bảo cho sự tồn tại cũng như đối với các hoạt động của nhà nước

Quan điểm thứ nhất: “Ngân sách nhà nước là một bản dự toán thu chi tài chính của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là 1 năm” Quan điểm thứ hai: “Ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ của Nhà nước”

(Đồng Thị Vân Hồng, 2010)

Từ những quan điểm trên về NSNN ta thấy rằng các quan điểm này có những nhân tố hợp lý song vẫn chưa đầy đủ, nó mới cho thấy được mặt cụ thể, mặt vật

Trang 16

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 6

chất của NSNN mà chưa thấy hết được các mặt về kinh tế - xã hội của NSNN Nếu nhìn một cách đơn giản thì NSNN là các hoạt động thu, chi tài chính của Nhà nước Khái niệm về NSNN phải thể hiện được nội dung kinh tế - xã hội của NSNN, phải được xem xét trên các mặt hình thức, thực thể và quan hệ kinh tế chưa tập trung trong NSNN

Nếu xét về hình thức: Ngân sách nhà nước là một bản báo cáo thu chi do Chính phủ lập ra, được đệ trình lên Quốc hội phê duyệt và giao cho Chính phủ tổ chức thực hiện

Nếu xét về thực thể: Ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu cụ thể, những khoản chi cụ thể và được định hướng

Các khoản thu đều được nộp quỹ và các khoản chi rút ra từ quỹ đó

Nếu xét về các quan hệ kinh tế: Chứa đựng trong NSNN, các khoản thu, chi

từ NSNN đều phản ánh những quan hệ nhất định giữa Nhà nước với người nộp, Nhà nước với các cơ quan, đơn vị thụ hưởng (Đồng Thị Vân Hồng, 2010)

Định nghĩa ngân sách nhà nước về phương diện kinh tế, ngân sách nhà nước

là một khái niệm thuộc phạm trù kinh tế học hay hẹp hơn là tài chính học, xét từ góc

độ này, “ngân sách nhà nước được hiểu là bản dự toán các khoản thu và chi tiền tệ của một quốc gia, được cơ quan có thẩm quyền của nhà nước quyết định để thực hiện trong thời hạn nhất định, thường là một năm” (Nguyễn Văn Tuyển, 2008)

“Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước được cơ quan có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để thực hiện chức năng nhiệm vụ của nhà nước” (Phương Thị Hồng Hà, 2006)

Định nghĩa ngân sách nhà nước về phương diện pháp lý, khái niệm này hàm chứa nhiều nội dung chính trị - pháp lý quan trọng như mối tương quan quyền lực giữa cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp trong việc thiết lập và thi hành ngân sách; thủ tục soạn thảo, quyết định và chấp hành ngân sách cũng như sự phân chia giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp trong việc kiểm soát quá trình ngân sách Quốc hội (2002) khoá XI nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ hai tại Điều 1 Luật NSNN được cũng khẳng định:“Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ

Trang 17

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 7

quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”

2.1.2 Đặc điểm ngân sách nhà nước

Ngân sách Nhà nước có một số đặc điểm như sau:

Thứ nhất: Ngân sách nhà nước có tính pháp lý cao, trong quá trình thực hiện

được tiến hành trên cơ sở những pháp lý nhất định, khiến các hoạt động thu, chi của ngân sách nhà nước thực hiện tuân thủ và nghiêm ngặt

Thứ hai: Hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối lại các nguồn

lực tài chính, nó thể hiện ở hai lĩnh vực thu và chi của nhà nước, trong đó thu ngân sách giữ vai trò quyết định của Ngân sách nhà nước

Thứ ba: Ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chứa

đựng những lợi ích chung, lợi ích công cộng; các mối quan hệ lợi ích đó luôn được bảo đảm công bằng giữa các đối tượng, những vấn đề lợi ích của quốc gia, lợi ích của tập thể phải được đặt lên hàng đầu và nó thực hiện việc chi phối tất cả các mặt lợi ích khác trong xã hội

Thứ tư: Ngân sách nhà nước cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ

khác Nét khác biệt của ngân sách nhà nước với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, nó được chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được chi dùng cho những mục đích đã định

Thứ năm: Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước được thực hiện theo

nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu

2.1.3 Vai trò của ngân sách nhà nước

NSNN có một vai trò quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế- xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước, vai trò của NSNN luôn gắn liền với chức năng nhiệm vụ của Nhà nước và nó tuỳ thuộc vào từng thời kỳ, từng giai đoạn khác nhau mà có những biểu hiện khác nhau và trong quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc gia Ngân sách nhà nước có các vai trò như sau :

Thứ nhất: Vai trò huy động các nguồn Tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu

của Nhà nước

Trang 18

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 8

Vai trò này xuất phát từ bản chất kinh tế của Ngân sách nhà nước, để đảm bảo cho hoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội đòi hỏi phải có những nguồn tài chính nhất định Những nguồn tài chính này được hình thành từ các khoản thu thuế và các khoản thu ngoài thuế Đây là vai trò lịch sử của Ngân sách nhà nước mà trong bất kỳ chế độ xã hội nào, cơ chế kinh tế nào ngân sách nhà nước đều phải thực hiện

Thứ hai: Ngân sách Nhà nước là công cụ điều tiết thị trường, bình ổn giá cả

và chống lạm phát

Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế thị trường là sự cạnh tranh giữa các nhà doanh nghiệp nhằm đạt được lợi nhuận tối đa, các yếu tố cơ bản của thị trường là cung cầu và giá cả thường xuyên tác động lẫn nhau và chi phối hoạt động của thị trường Sự mất cân đối giữa cung và cầu sẽ làm cho giá cả tăng lên hoặc giảm đột biến và gây ra biến động trên thị trường, dẫn đến sự dịch chuyển vốn của các doanh nghiệp từ ngành này sang ngành khác, từ địa phương này sang địa phương khác Việc dịch chuyển vốn hàng loạt sẽ tác động tiêu cực đến cơ cấu kinh tế, nền kinh tế phát triển không cân đối Do đó, để đảm bảo lợi ích cho nhà sản xuất cũng như người tiêu dùng nhà nước phải sử dụng ngân sách để can thiệp vào thị trường nhằm bình ổn giá cả thông qua công cụ thuế và các khoản chi từ ngân sách nhà nước dưới các hình thức tài trợ vốn, trợ giá và sử dụng các quỹ dự trữ hàng hoá và dự trữ tài chính Đồng thời, trong quá trình điều tiết thị trường ngân sách nhà nước còn tác động đến thị trường tiền tệ và thị trường vốn thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính như: phát hành trái phiếu chính phủ, thu hút viện trợ nước ngoài, tham gia mua bán chứng khoán trên thị trường vốn qua đó góp phần kiểm soát lạm phát

Thứ ba: Ngân sách Nhà nước là công cụ định huớng phát triển sản xuất

Để định hướng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhà nước sử dụng công cụ thuế và chi ngân sách Bằng công cụ thuế một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách, mặt khác nhà nước sử dụng thuế với các loại thuế, các mức thuế suất khác nhau sẽ góp phần kích thích sản xuất phát triển và hướng dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào những vùng những lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế theo hướng đã định Đồng thời, với các khoản chi phát triển kinh tế, đầu tư vào cơ sở hạ tầng, vào

Trang 19

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 9

các ngành kinh tế mũi nhọn… nhà nước có thể tạo điều kiện và hướng dẫn các nguồn vốn đầu tư của xã hội vào những vùng, lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý

Thứ tư: Ngân sách Nhà nước là công cụ điều chỉnh thu nhập giữa các tầng

lớp dân cư

Nền kinh tế thị trường với những khuyết tật của nó sẽ dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, nhà nước phải có một chính sách phân phối lại thu nhập hợp lý nhằm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu nhập trong dân cư Ngân sách nhà nước là công cụ tài chính hữu hiệu được nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập, với các sắc thuế như thuế thu nhập luỹ tiến, thuế tiêu thụ đặc biệt … một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách mặt khác lại điều tiết một phần thu nhập của tầng lớp dân cư có thu nhập cao Bên cạnh công cụ thuế, với các khoản chi của ngân sách nhà nước như chi trợ cấp, chi phúc lợi cho các chương trình phát triển xã hội: phòng chống dịch bệnh, phổ cập giáo dục tiểu học, dân số và kế hoạch hoá gia đình… là nguồn bổ sung thu nhập cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp

Các vai trò trên của Ngân sách nhà nước cho thấy tính chất quan trọng của Ngân sách nhà nước, với các công cụ của nó có thể quản lý toàn diện và có hiệu quả đối với toàn bộ nền kinh tế- xã hội của đất nước

2.1.4 Tổ chức hệ thống và phân cấp quản lý ngân sách nhà nước

+ Tổ chức hệ thống NSNN

Hệ thống các cấp NSNN là tổng thể ngân sách các cấp gắn bó hữu cơ với nhau, có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm

vụ thu, chi của từng cấp ngân sách

Tổ chức hệ thống các cấp NSNN luôn gắn liền với tổ chức bộ máy Nhà nước

và vai trò, vị trí bộ máy trong quá trình phát triển kinh tế xã hội Trên cơ sở hiến pháp, mỗi cấp chính quyền có một cấp ngân sách riêng cung cấp phương tiện vật chất cho cấp chính quyền đó thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình trên vùng lãnh thổ Việc hình thành chính quyền Nhà nước các cấp là một tất yếu khách quan nhằm thực hiện chức năng nhiệm vụ của Nhà nước trên mọi vùng quốc gia Sự ra đời của

hệ thống chính quyền Nhà nước là tiền đề để tổ chức hệ thống NSNN nhiều cấp

Trang 20

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 10

Quốc hội (2002) Luật NSNN, quy định hệ thống NSNN gồm: Ngân sách trung ương và Ngân sách địa phương Trong đó, NSĐP gồm: Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ngân sách tỉnh); Ngân sách thành phố, thị xã, quận, huyện trực thuộc tỉnh, trực thuộc thành phố trực thuộc trung ương (ngân sách huyện); NSX, phường, thị trấn (NSX)

Hiện nay quy định Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân (HĐND) và Uỷ ban nhân dân (UBND)

Vì vậy ứng với mỗi cấp chính quyền thì có một cấp ngân sách tương ứng, do đó hệ thống ngân sách của ta gồm các cấp được thể hiện trên sơ đồ sau:

Sơ đồ 2.1 Hệ thống Ngân sách Nhà nước

+ Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước

Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là việc xử lý các mối quan hệ giữa các cấp chính quyền nhà nước từ trung ương đến địa phương trong hoạt động của ngân sách nhà nước, từ đó cho phép hình thành một cơ chế phân chia ranh giới quyền lực

về quản lý ngân sách nhà nước giữa các cấp chính quyền Vì vậy nội dung phân cấp quản lý ngân sách nhà nước về cơ bản bao gồm nguyên tắc chủ yếu sau:

Ngân sách Nhà nước

Ngân sách Trung ương Ngân sách địa phương

NS tỉnh và thành phố trực thuộc Trung

NS huyện, quận, thị xã thành phố

NS xã, phường, thị trấn

Trang 21

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 11

Một là: Phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh

của Nhà nước và năng lực quản lý của mỗi cấp trên địa bàn;

Hai là: Ngân sách trung ương và ngân sách địa phương được phân định nguồn thu, nhiệm vụ chi cụ thể :

- Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia như : các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội có tác động đến cả nước hoặc nhiều địa phương, các chương trình,

dự án quốc gia, các chính sách xã hội quan trọng, điều phối hoạt động kinh tế vĩ mô của đất nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hỗ trợ những địa phương chưa cân đối được thu, chi ngân sách

- Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động thực hiện những nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội trong phạm vi quản lý

Ba là: Việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định, thời gian thực hiện phân cấp này phải phù hợp với thời kỳ ổn định ngân sách ở địa phương; cấp xã được tăng cường nguồn thu, phương tiện và cán bộ quản lý tài chính - ngân sách để quản lý tốt, có hiệu quả các nguồn lực tài chính trên địa bàn được phân cấp

Bốn là: Kết thúc mỗi kỳ ổn định ngân sách, căn cứ vào khả năng nguồn thu

và nhiệm vụ chi của từng cấp, theo thẩm quyền quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Quốc hội, Hội đồng nhân dân điều chỉnh mức bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới; Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định việc điều chỉnh tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp

2.1.5 Nội dung chủ yếu của công tác quản lý ngân sách xã

2.1.5.1 Đặc điểm của ngân sách xã

“Ngân sách xã là một bộ phận của ngân sách nhà nước”(Bộ Tài chính,

2003), chính vì lý do đó NSX cũng mang những tính đặc trưng của NSNN đó là:

- Về bản chất, ngân sách xã là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể khác, phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ

Trang 22

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 12

tiền tệ của chính quyền Nhà nước cấp xã, nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền nhà nước cấp cơ sở trong khuôn khổ được pháp luật phân công, phân cấp quản lý

- Về hình thức, quá trình vận động của quỹ NSX các được nhìn nhận trên hai giác độ: Quá trình huy động nguồn thu và quá trình phân phối, sử dụng ngân sách

xã (thường gọi là chi) Sự nhìn nhận về hình thức của NSX còn được thể hiện thông qua chu trình với các khâu: Lập, chấp hành, quyết toán NSX mà chính quyền cơ sở mọi nơi phải tuân thủ thực hiện

- Một điểm khác biệt giữa NSX với các ngân sách khác trong hệ thống NSNN, đó là: NSX vừa là một cấp trong hệ thống NSNN, lại vừa là đơn vị sử dụng NSNN Nó đóng vai trò một cấp ngân sách, vì NSX cũng được phân cấp quản lý nguồn thu và thực hiện các nhiệm vụ chi như một cấp ngân sách thực thụ Nó đóng vai trò như một đơn vị sử dụng ngân sách, bởi xã cũng có nhiệm vụ trực tiếp chi tiêu các nguồn kinh phí theo chế độ, tiêu chuẩn, định mức quy định Chính yếu tố

“lưỡng tính” đó của NSX tạo lên những trở ngại không nhỏ cho quá trình quản lý

NSX ở nước ta hiện nay

2.1.5.2 Vai trò của ngân sách xã đối với nền kinh tế

Ngân sách xã là một bộ phận của ngân sách nhà nước, được kết cấu chặt chẽ và chịu sự điều chỉnh vĩ mô của ngân sách nhà nước theo mục tiêu chung của quốc gia, kết hợp hài hòa giữa lợi ích chung và quyền lợi vật chất của từng xã, dựa trên cơ sở sử dụng nguồn tài chính tại chỗ có hiệu quả, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cấp xã hoàn thành nhiệm vụ được giao NSX là nhân tố góp phần thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn

Ngân sách xã là một cấp, một bộ phận cấu thành của NSNN, chính vì vậy mà NSX thể hiện đầy đủ vai trò của NSNN Tuy nhiên nó có những đặc thù và vai trò riêng biệt được thể hiện:

Thứ nhất: NSX cung cấp các phương tiện vật chất, tiền tài vật lực cho sự tồn

tại và hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã; để đảm bảo cho sự tồn tại và hoạt động của bộ máy chính quyền Nhà nước thì chỉ có nguồn tài chính từ NSNN Như vậy mọi chi phí cho bộ máy cấp xã phải do NSX đảm nhiệm

Trang 23

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 13

Thứ hai: NSX là một công cụ Tài chính quan trọng để chính quyền xã quản

lý một cách toàn diện mọi hoạt động kinh tế, xã hội trên địa bàn xã trong lĩnh vực được phân cấp, được thể hiện thông qua:

- Hoạt động thu ngân sách: Qua hoạt động thu còn giúp chính quyền xã thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát và điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh đi theo đúng hướng, đúng khuôn khổ của pháp luật thu ngân sách còn góp phần thực hiện các chính sách về công bằng xã hội Việc thực hiện các chế độ thu phạt vi phạm đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm góp phần răn đe, giáo dục chấp hành đúng chính sách pháp luật, giữ gìn an ninh trật tự xã hội

- Hoạt động chi ngân sách: Từ việc chi ngân sách mà sự tồn tại và hoạt động của bộ máy chính quyền được duy trì và phát triển liên tục, ổn định Từ đó đảm bảo được vai trò quản lý hành chính cấp cơ sở của chính quyền; chi NSX có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo công bằng xã hội

Thứ ba, NSX góp phần quan trọng trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng vùng

nông thôn Với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, hệ thống giao thông liên thôn, liên xã được xây dựng và nâng cấp thường xuyên, nhờ đó các cụm dân cư dần được hình thành Kinh tế nông thôn từng bước có sự chuyển dịch từ kinh tế thuần nông sang kinh tế sản xuất hàng hóa, người dân được hưởng lợi ích lớn hơn

về giáo dục và y tế

Thứ tư, NSX góp phần thực hiện tốt công tác văn hóa xã hội ở nông thôn

Với các khoản chi NSX hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao được quan tâm góp phần nâng cao đời sống của cư dân nông thôn Chi NSX để phát triển hệ thống truyền hình, truyền thông nhằm nâng cao nhận thức văn hóa của mọi người, loại bỏ những thủ tục lạc hậu

2.1.5.3 Phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi ngân sách xã

* Phân cấp nguồn thu ngân sách xã

Căn cứ để phân cấp nguồn thu cho NSX là nhu cầu chi đảm bảo thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở cấp chính quyền cơ sở, xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp các dịch vụ công cộng, các phương tiện phục vụ dân sinh

Trang 24

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 14

Đối với ngân sách ở các cấp trên, trong việc phân cấp thu được gắn với nhiều mục tiêu, riêng NSX nay chỉ gắn với mục tiêu chính đó là tạo nguồn để đáp ứng các nhiệm vụ chi, khuyến khích nuôi dưỡng, khai thác tốt các nguồn thu tại chỗ Nguồn thu của NSX được hình thành từ 3 nguồn chủ yếu sau:

+ Các khoản thu ngân sách xã hưởng một trăm phần trăm (100%):

Là các khoản thu dành cho xã sử dụng toàn bộ để chủ động về nguồn tài chính bảo đảm các nhiệm vụ chi thường xuyên, đầu tư Căn cứ quy mô nguồn thu, chế độ phân cấp quản lý kinh tế - xã hội và nguyên tắc đảm bảo tối đa nguồn tại chỗ cân đối cho các nhiệm vụ chi thường xuyên, khi phân cấp nguồn thu, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét dành cho ngân sách xã hưởng 100% các khoản thu dưới đây:

- Các khoản phí, lệ phí thu vào ngân sách xã theo quy định

- Thu từ các hoạt động sự nghiệp của xã, phần nộp vào ngân sách nhà nước theo chế độ quy định;

- Thu đấu thầu, thu khoán theo mùa vụ từ quỹ đất công ích và hoa lợi công sản khác theo quy định của pháp luật do xã quản lý

- Các khoản huy động đóng góp của tổ chức, cá nhân gồm: các khoản huy động đóng góp theo pháp luật quy định, các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng do Hội đồng nhân dân xã quyết định đưa vào ngân sách xã quản lý và các khoản đóng góp tự nguyện khác

- Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức và cá nhân ở ngoài nước trực tiếp cho ngân sách xã theo chế độ quy định

- Thu kết dư ngân sách xã năm trước

- Các khoản thu khác của ngân sách xã theo quy định của pháp luật

+ Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách xã với ngân sách cấp trên:

- Theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước gồm: Thuế chuyển quyền sử dụng đất; Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; Thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh; Thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình; Lệ phí trước bạ nhà, đất Các khoản thu trên, tỷ lệ ngân sách xã, thị trấn được hưởng tối thiểu 70% Căn

cứ vào nguồn thu và nhiệm vụ chi của xã, thị trấn, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có thể quyết định tỷ lệ ngân sách xã, thị trấn được hưởng cao hơn, đến tối đa là 100%

Trang 25

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 15

- Ngoài các khoản thu phân chia theo quy định nêu trên, ngân sách xã còn được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh bổ sung thêm các nguồn thu phân chia sau khi các khoản thuế, lệ phí phân chia theo Luật Ngân sách nhà nước đã dành 100% cho xã, thị trấn và các khoản thu ngân sách xã được hưởng 100% nhưng vẫn chưa cân đối được nhiệm vụ chi

+ Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách xã:

Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách xã gồm 2 nội dung:

- Thu bổ sung để cân đối ngân sách là mức chênh lệch giữa dự toán chi được giao và dự toán thu từ các nguồn thu được phân cấp (các khoản thu 100% và các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm) Số bổ sung cân đối này được xác định từ năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách và được giao ổn định từ 3 đến 5 năm

- Thu bổ sung có mục tiêu là các khoản bổ sung theo từng năm để hỗ trợ xã thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể

* Phân cấp nhiệm vụ chi ngân sách xã

Chi ngân sách xã gồm 2 nội dung chi chủ yếu: chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên

Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định phân cấp nhiệm vụ chi cho ngân sách

xã Căn cứ chế độ phân cấp quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước, các chính sách chế độ về hoạt động của các cơ quan Nhà nước, Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của xã, khi phân cấp nhiệm vụ chi cho ngân sách xã, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét giao cho ngân sách xã thực hiện các nhiệm vụ chi cụ thể sau:

+ Chi đầu tư phát triển gồm:

- Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không

có khả năng thu hồi vốn theo phân cấp của cấp tỉnh

- Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của xã từ nguồn huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân cho từng dự án nhất định theo quy định của pháp luật, do Hội đồng nhân dân xã quyết định đưa vào ngân sách xã quản lý

- Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật

+ Các khoản chi thường xuyên:

Trang 26

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 16

- Chi cho hoạt động của các cơ quan nhà nước ở xã: Tiền lương, tiền công cho cán bộ, công chức cấp xã; Sinh hoạt phí đại biểu Hội đồng nhân dân; Các khoản phụ cấp khác theo quy định của Nhà nước; Công tác phí; Chi về hoạt động, văn phòng, như: chi phí điện, nước, văn phòng phẩm, phí bưu điện, điện thoại, hội nghị, chi tiếp tân, khánh tiết; Chi mua sắm, sửa chữa thường xuyên trụ sở, phương tiện làm việc; Chi khác theo chế độ quy định

- Kinh phí hoạt động của cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam ở xã

- Kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị- xã hội ở xã (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam) sau khi trừ các khoản thu theo điều lệ và các khoản thu khác (nếu có)

- Đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho cán bộ xã và các đối tượng khác theo chế độ quy định

- Chi cho công tác dân quân tự vệ, trật tự an toàn xã hội: Chi huấn luyện dân quân tự vệ, các khoản phụ cấp huy động dân quân tự vệ và các khoản chi khác về dân quân tự vệ thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách xã theo quy định của Pháp lệnh về dân quân tự vệ; Chi thực hiện việc đăng ký nghĩa vụ quân sự, công tác nghĩa vụ quân sự khác thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách xã theo quy định của pháp luật; Chi tuyên truyền, vận động và tổ chức phong trào bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã; Các khoản chi khác theo chế độ quy định

- Chi cho công tác xã hội và hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục thể thao do

xã quản lý: Trợ cấp hàng tháng cho cán bộ xã nghỉ việc theo chế độ quy định (không kể trợ cấp hàng tháng cho cán bộ xã nghỉ việc và trợ cấp thôi việc 1 lần cho cán bộ xã nghỉ việc từ ngày 01/01/1998 trở về sau do tổ chức bảo hiểm xã hội chi); chi thăm hỏi các gia đình chính sách; cứu tế xã hội và công tác xã hội khác; Chi hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao, truyền thanh do xã quản lý

- Chi sự nghiệp giáo dục: Hỗ trợ các lớp bổ túc văn hoá, trợ cấp nhà trẻ, lớp mẫu giáo, kể cả trợ cấp cho giáo viên mẫu giáo và cô nuôi dạy trẻ do xã, thị trấn quản lý (đối với phường do ngân sách cấp trên chi)

Trang 27

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 17

- Chi sự nghiệp y tế: Hỗ trợ chi thường xuyên và mua sắm các khoản trang thiết bị phục vụ cho khám chữa bệnh của trạm y tế xã

- Chi sửa chữa, cải tạo các công trình phúc lợi, các công trình kết cấu hạ tầng

do xã quản lý như: trường học, trạm y tế, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, nhà văn hoá, thư viện, đài tưởng niệm, cơ sở thể dục thể thao, cầu, đường giao thông, công trình cấp

và thoát nước công cộng, ; riêng đối với thị trấn còn có nhiệm vụ chi sửa chữa cải tạo vỉa hè, đường phố nội thị, đèn chiếu sáng, công viên, cây xanh (đối với phường do ngân sách cấp trên chi)

Hỗ trợ khuyến khích phát triển các sự nghiệp kinh tế như: khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm theo chế độ quy định

- Các khoản chi thường xuyên khác ở xã theo quy định của pháp luật

Căn cứ vào định mức, chế độ, tiêu chuẩn của Nhà nước; Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể mức chi thường xuyên cho từng công việc phù hợp với tình hình đặc điểm và khả năng ngân sách địa phương

2.1.5.4 Quy trình quản lý Ngân sách xã

Là một quá trình quản lý ngân sách được thực hiện từ khi bắt đầu đến khi kết thúc thực hiện qua các bước Bước 1: là lập dự toán, bước 2: chấp hành dự toán; bước 3 kiểm toán và quyết toán ngân sách

* Lập dự toán ngân sách xã

+ Lập dự toán NSX phải đảm bảo những yêu cầu sau:

- Phải phản ánh một cách đầy đủ, chính xác các khoản thu, chi dự kiến có thể phát sinh năm kế hoạch theo đúng chế độ tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước Điều này có nghĩa là: khi lập dự toán NSX người lập phải tính toán đầy đủ các khả năng của xã, đồng thời tính toán, phân bổ chỉ tiêu NSX tiết kiệm và hiệu quả

- Phải lập dự toán NSX theo đúng các mẫu biểu quy định, đúng thời gian, đúng mục lục NSX, gửi kịp thời các cơ quan chức năng của Nhà nước xét duyệt, tổng hợp

- Lập dự toán NSX phải đảm bảo cân đối theo nguyên tắc chi không vượt quá

số thu định có thể khai thác năm kế hoạch Nghiêm cấm vay hoặc chiếm dụng vốn dưới mọi hình thức để cân đối NSX

Trang 28

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 18

+ Căn cứ lập dự toán ngân sách xã:

- Các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đảm, bảo an ninh quốc phòng, trật

tự an toàn xã hội của xã

- Chính sách, chế độ thu ngân sách nhà nước, cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách xã và tỷ lệ phân chia nguồn thu do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định

- Chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định

- Số kiểm tra về dự toán ngân sách xã do Uỷ ban nhân dân huyện thông báo

- Tình hình thực hiện dự toán ngân sách xã năm hiện hành và các năm trước

+ Trình tự lập dự toán ngân sách xã:

- Ban Tài chính xã phối hợp với cơ quan thuế hoặc đội thu thuế xã (nếu có) tính toán các khoản thu ngân sách nhà nước trên địa bàn (trong phạm vi phân cấp cho xã quản lý)

- Các ban, tổ chức thuộc Uỷ ban nhân dân xã căn cứ vào chức năng nhiệm vụ được giao và chế độ, định mức, tiêu chuẩn chi lập dự toán chi của đơn vị tổ chức mình

- Ban Tài chính xã lập dự toán thu, chi và cân đối ngân sách xã trình Uỷ ban nhân dân xã báo cáo Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã để xem xét gửi

Uỷ ban nhân dân huyện và Phòng tài chính huyện Thời gian báo cáo dự toán ngân sách xã do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định

- Đối với năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách, Phòng Tài chính huyện làm việc với Uỷ ban nhân dân xã về cân đối thu, chi ngân sách xã thời kỳ ổn định mới theo khả năng bố trí cân đối chung của ngân sách địa phương Đối với các năm tiếp theo của thời kỳ ổn định, Phòng Tài chính huyện chỉ tổ chức làm việc với Uỷ ban nhân dân xã về dự toán ngân sách khi Uỷ ban nhân dân xã có yêu cầu

+ Trình duyệt và Quyết định dự toán ngân sách xã:

Sau khi hệ thống biểu mẫu dự toán NSX được xây dựng đầy đủ, ban tài chính

xã có trách nhiệm lập bản thuyết minh dự toán nhằm tạo điều kiện cho việc xét duyệt dự toán NSX được nhanh chóng, xác thực Trong bản thuyết minh phải nêu rõ một số nội dung cơ bản như sau: căn cứ xác định các chỉ tiêu trong dự toán, cơ cấu

Trang 29

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 19

thu chi NSX dự kiến năm kế hoạch có phù hợp với định hướng ổn định và phát triển kinh tế xã hội do UBND xã đã quyết định hay không Sự thay đổi thu chi NSX dự kiến năm kế hoạch so với năm báo cáo, lý do của sự thay đổi, các biện pháp về kinh

tế, tài chính và hành chính để thực hiện tốt các dự toán NSX Bản thuyết minh sau khi lập xong với các biểu mẫu dự toán hợp thành hồ sơ dự toán NSX Ban tài chính

có trách nhiệm báo cáo với chủ tịch UBND xã xem xét hồ sơ dự toán NSX Nếu cần thiết chủ tịch UBND xã có thể yêu cầu ban tài chính xã sửa đổi bổ sung cho hợp lý Sau khi trưởng ban tài chính xã chỉnh lại dự toán theo chỉ đạo, dự toán NSX sẽ được trình cho chủ tịch UBND xã Dự toán NSX đã được chủ tịch UBND xã chấp thuận sẽ gửi cho phòng Tài chính huyện xem xét tổng hợp báo cáo UBND huyện và trình HĐND huyện phê chuẩn dự toán NSX vào kỳ họp cuối năm

Sau khi nhận được quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách của Uỷ ban nhân dân huyện, Uỷ ban nhân dân xã hoàn chỉnh dự toán ngân sách xã và phương

án phân bổ ngân sách xã trình Hội đồng nhân dân xã quyết định Sau khi dự toán ngân sách xã được Hội đồng nhân dân xã quyết định, Uỷ ban nhân dân xã báo cáo

Uỷ ban nhân dân huyện, Phòng Tài chính huyện, đồng thời thông báo công khai dự toán ngân sách xã cho nhân dân biết theo chế độ công khai tài chính về ngân sách nhà nước

+ Điều chỉnh dự toán NSX:

Điều chỉnh dự toán ngân sách xã hàng năm (nếu có) trong các trường hợp có yêu cầu của Uỷ ban nhân dân cấp trên để đảm bảo phù hợp với định hướng chung hoặc có biến động lớn về nguồn thu và nhiệm vụ chi

Uỷ ban nhân dân xã tiến hành lập dự toán điều chỉnh trình Hội đồng nhân dân xã quyết định và báo cáo Uỷ ban nhân dân huyện

* Chấp hành dự toán ngân sách xã:

Sau khi hoàn tất quá trình lập dự toán NSX, căn cứ vào dự toán được giao; trên cơ sở nguồn thu, nhiệm vụ chi theo quy định của Luật NSNN, các xã tổ chức thực hiện dự toán theo đúng quy trình quy định

- Căn cứ dự toán ngân sách xã và phương án phân bổ ngân sách xã cả năm đã được Hội đồng nhân dân xã quyết định, Uỷ ban nhân dân xã phân bổ chi tiết dự toán

Trang 30

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 20

chi ngân sách xã theo Mục lục ngân sách nhà nước gửi Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch để làm căn cứ thanh toán và kiểm soát chi

- Căn cứ vào dự toán cả năm và khả năng thu, nhu cầu chi của từng quý, Uỷ ban nhân dân xã lập dự toán thu, chi quý (có chia ra tháng) gửi Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch Đối với những xã có các nguồn thu chủ yếu theo mùa vụ, Uỷ ban nhân dân xã đề nghị cơ quan tài chính cấp trên thực hiện tiến độ cấp số bổ sung cân đối trong dự toán đã được giao (nếu có) cho phù hợp để điều hành chi theo tiến độ công việc

- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã (hoặc người được uỷ quyền) là chủ tài khoản thu, chi ngân sách xã

- Xã có quỹ tiền mặt tại xã để thanh toán các khoản chi có giá trị nhỏ Định mức tồn quỹ tiền mặt tại xã do Kho bạc Nhà nước huyện quy định cho từng loại xã Riêng những xã ở xa Kho bạc Nhà nước, điều kiện đi lại khó khăn, chưa thể thực hiện việc nộp trực tiếp các khoản thu của ngân sách xã vào Kho bạc Nhà nước, định mức tồn quỹ tiền mặt được quy định ở mức phù hợp

- Đối với các khoản thu thuộc nhiệm vụ thu của cơ quan thuế, cơ quan thuế thu, sau đó lập giấy nộp tiền và nộp tiền vào Kho bạc Nhà nước Trường hợp cơ quan thuế uỷ quyền cho Ban Tài chính xã thu, thì cũng thực hiện theo quy trình trên

và được hưởng phí uỷ nhiệm thu theo chế độ quy định

- Đối với các khoản thu thuộc nhiệm vụ thu của Ban Tài chính xã, Ban Tài chính xã thu, sau đó lập giấy nộp tiền và nộp tiền vào Kho bạc Nhà nước hoặc nộp

Trang 31

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 21

vào quỹ của ngân sách xã để chi theo chế độ quy định nếu là các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa chưa có điều kiện giao dịch thường xuyên với Kho bạc Nhà nước Nghiêm cấm thu không có biên lai, thu để ngoài sổ sách; khi thu phải giao biên lai cho đối tượng nộp Cơ quan Thuế, Phòng Tài chính huyện có nhiệm vụ cung cấp biên lai đầy đủ, kịp thời cho Ban Tài chính xã để thực hiện thu nộp ngân sách nhà nước Định kỳ, Ban Tài chính xã báo cáo việc sử dụng và quyết toán biên lai đã được cấp với cơ quan cung cấp biên lai

Trường hợp cơ quan có thẩm quyền quyết định phải hoàn trả khoản thu ngân sách xã, Kho bạc Nhà nước xác nhận rõ số tiền đã thu vào ngân sách xã của các đối tượng nộp trực tiếp hoặc chuyển khoản vào Kho bạc Nhà nước; đối với đối tượng nộp qua cơ quan thu thì cơ quan thu xác nhận để Ban Tài chính xã làm căn cứ hoàn trả Việc luân chuyển chứng từ thu được thực hiện như sau:

- Đối với các khoản thu ngân sách xã được hưởng 100%, Kho bạc Nhà nước chuyển một liên chứng từ thu cho Ban Tài chính xã

- Đối với các khoản thu phân chia với ngân sách cấp trên, Kho bạc Nhà nước lập Bảng kê các khoản thu ngân sách có phân chia cho, gửi Ban Tài chính xã

Đối với số thu bổ sung từ ngân sách huyện cho ngân sách xã, Phòng Tài chính huyện căn cứ vào dự toán số bổ sung đã giao cho từng xã, dự toán thu chi hàng quý của các xã và khả năng cân đối của ngân sách huyện, thông báo số bổ sung hàng quý (chia ra tháng) cho xã chủ động điều hành ngân sách Phòng tài chính huyện cấp số bổ sung cho xã (bằng Lệnh chi tiền) theo định kỳ hàng tháng + Tổ chức thực hiện nhiệm vụ chi ngân sách:

* Trách nhiệm của các cơ quan và cá nhân trong việc quản lý chi ngân sách xã

Các tổ chức, đơn vị thuộc xã:

- Chi đúng dự toán được giao, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức, đúng mục đích, đối tượng và tiết kiệm, có hiệu quả

- Lập dự toán sử dụng kinh phí hàng quý (có chia tháng) gửi Ban Tài chính

xã Khi có nhu cầu chi, làm các thủ tục đề nghị Ban Tài chính xã rút tiền tại Kho bạc hoặc quỹ tại xã để thanh toán

Trang 32

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 22

- Chấp hành đúng quy định của pháp luật về kế toán, thống kê và quyết toán

sử dụng kinh phí với Ban Tài chính xã và công khai kết quả thu, chi tài chính của tổ chức, đơn vị

Ban Tài chính xã:

- Thẩm tra nhu cầu sử dụng kinh phí của các tổ chức đơn vị

- Bố trí nguồn theo dự toán năm và dự toán quý để đáp ứng nhu cầu chi, trường hợp nhu cầu chi lớn hơn thu trong quý cần có biện pháp đề nghị cấp trên tăng tiến độ cấp bổ sung hoặc tạm thời sắp xếp lại nhu cầu chi phù hợp với nguồn thu, theo nguyên tắc đảm bảo chi lương, có tính chất lương đầy đủ, kịp thời

- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện chi ngân sách, sử dụng tài sản của các tổ chức đơn vị sử dụng ngân sách, phát hiện và báo cáo đề xuất kịp thời Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã về những vi phạm chế độ, tiêu chuẩn, định mức để có biện pháp đảm bảo thực hiện mục tiêu và tiến độ quy định

Chủ tịch UBND xã hoặc người được uỷ quyền quyết định chi:

- Việc quyết định chi phải theo đúng chế độ, tiêu chuẩn và mức chi trong phạm vi dự toán được phê duyệt và người ra quyết định chi phải chịu trách nhiệm

về quyết định của mình, nếu chi sai phải bồi hoàn cho công quỹ và tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm còn bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự

* Nguyên tắc chi ngân sách:

Việc thực hiện chi phải bảo đảm các điều kiện:

- Đã được ghi trong dự toán được giao, trừ trường hợp dự toán và phân bổ dự toán chưa được cấp có thẩm quyền quyết định và chi từ nguồn tăng thu, nguồn dự phòng ngân sách

- Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức quy định

- Được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã hoặc người được uỷ quyền quyết định chi

* Căn cứ vào dự toán chi cả năm, dự toán quý có chia tháng và tiến độ công việc

Ban Tài chính xã làm thủ tục chi trình Chủ tịch xã hoặc người được uỷ quyền quyết định gửi Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch và kèm theo các tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật Việc thanh toán các khoản chi của ngân sách xã bằng

Trang 33

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 23

Lệnh chi ngân sách xã Trên Lệnh chi ngân sách xã phải ghi cụ thể, đầy đủ chương, loại, khoản, mục, tiểu mục theo quy định của Mục lục ngân sách nhà nước, kèm theo Bảng kê chứng từ chi; đối với các khoản chi lớn phải kèm theo tài liệu chứng minh Trường hợp thanh toán một lần có nhiều chương, thì lập thêm Bảng kê chi, chi tiết theo Mục lục ngân sách nhà nước, trên Bảng kê ghi rõ số hiệu, ngày tháng của Lệnh chi ngân sách xã, đồng thời trên Lệnh chi ngân sách xã phải ghi rõ số hiệu của Bảng kê, tổng số tiền

- Trường hợp thanh toán bằng tiền mặt, sử dụng Lệnh chi ngân sách xã bằng tiền mặt Kho bạc Nhà nước kiểm tra, nếu đủ điều kiện thì thực hiện thanh toán cho khách hàng hoặc người được sử dụng

- Trong những trường hợp thật cần thiết, như tạm ứng công tác phí, ứng tiền trước cho khách hàng, cho nhà thầu theo hợp đồng, chuẩn bị hội nghị, tiếp khách, mua sắm nhỏ, được tạm ứng để chi Trong trường hợp này, trên Lệnh chi ngân sách xã chỉ ghi tổng số tiền cần tạm ứng Khi thanh toán tạm ứng phải có đủ chứng

từ hợp lệ, Ban Tài chính xã phải lập Bảng kê chứng từ chi và Giấy đề nghị thanh toán tạm ứng gửi Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch làm thủ tục chuyển tạm ứng sang thực chi ngân sách

- Các khoản thanh toán ngân sách xã qua Kho bạc Nhà nước cho các đối tượng có tài khoản giao dịch ở Kho bạc Nhà nước hoặc ở ngân hàng phải được thực hiện bằng hình thức chuyển khoản (trừ trường hợp khoản chi nhỏ có thể thanh toán bằng tiền mặt) Khi thanh toán bằng chuyển khoản, sử dụng Lệnh chi ngân sách xã bằng chuyển khoản

- Đối với các khoản chi từ các nguồn thu được giữ lại tại xã, Ban Tài chính

xã phối hợp với Kho bạc Nhà nước định kỳ làm thủ tục hạch toán thu, hạch toán chi vào ngân sách xã; khi làm thủ tục hạch toán thu, hạch toán chi phải kèm theo Bảng

kê chứng từ thu và Bảng kê chứng từ chi theo đúng chế độ quy định

* Chi thường xuyên:

- Ưu tiên chi trả tiền lương, các khoản phụ cấp cho cán bộ công chức xã, nghiêm cấm việc nợ lương và các khoản phụ cấp

Trang 34

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 24

- Các khoản chi thường xuyên khác phải căn cứ vào dự toán năm, khối lượng thực hiện công việc, khả năng của ngân sách xã tại thời điểm chi để thực hiện chi cho phù hợp

* Chi đầu tư phát triển:

- Việc quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách xã phải thực hiện đầy đủ theo quy định của Nhà nước về quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản và phân cấp của tỉnh; việc cấp phát thanh toán, quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách xã thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính

- Đối với dự án đầu tư bằng nguồn đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện, ngoài các quy định chung cần phải bảo đảm:

Mở sổ sách theo dõi và phản ánh kịp thời mọi khoản đóng góp bằng tiền, ngày công lao động, hiện vật của nhân dân

Quá trình thi công, nghiệm thu và thanh toán phải có sự giám sát của Ban giám sát dự án do nhân dân cử

Kết quả đầu tư và quyết toán dự án phải được thông báo công khai cho nhân dân biết

- Thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ bản phải đảm bảo đúng dự toán, nguồn tài chính theo chế độ quy định, nghiêm cấm việc nợ xây dựng cơ bản, chiếm dụng vốn dưới mọi hình thức

+ Kiểm tra, giám sát hoạt động ngân sách xã:

- Hội đồng nhân dân xã giám sát việc thực hiện thu, chi ngân sách xã

- Các cơ quan tài chính cấp trên thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn công tác quản lý ngân sách xã

* Kế toán và quyết toán ngân sách xã:

- Ban Tài chính xã có trách nhiệm thực hiện công tác hạch toán kế toán và quyết toán ngân sách xã theo Mục lục ngân sách nhà nước và chế độ kế toán ngân sách xã hiện hành; thực hiện chế độ báo cáo kế toán và quyết toán theo quy định Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch thực hiện công tác kế toán thu, chi quỹ ngân sách

xã theo quy định; định kỳ hàng tháng, quý báo cáo tình hình thực hiện thu, chi ngân

Trang 35

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 25

sách xã, tồn quỹ ngân sách xã gửi Uỷ ban nhân dân xã; và báo cáo đột xuất khác theo yêu cầu của Uỷ ban nhân dân xã

- Thời gian chỉnh lý quyết toán ngân sách xã hết ngày 31 tháng 01 năm sau

- Để thực hiện công tác khoá sổ và quyết toán hàng năm, Ban Tài chính xã thực hiện các việc sau đây:

Ngay trong tháng 12 phải rà soát tất cả các khoản thu, chi theo dự toán, có biện pháp thu đầy đủ các khoản phải thu vào ngân sách và giải quyết kịp thời các nhu cầu chi theo dự toán Trường hợp có khả năng hụt thu phải chủ động có phương

án sắp xếp lại các khoản chi để đảm bảo cân đối ngân sách xã

Phối hợp với Kho bạc Nhà nước huyện nơi giao dịch đối chiếu tất cả các khoản thu, chi ngân sách xã trong năm, bảo đảm hạch toán đầy đủ, chính xác các khoản thu, chi theo Mục lục ngân sách nhà nước, kiểm tra lại số thu được phân chia giữa các cấp ngân sách theo tỉ lệ quy định

Đối với các khoản tạm thu, tạm giữ, tạm vay (nếu có) phải xem xét xử lý hoặc hoàn trả, trường hợp chưa xử lý được, thì phải làm thủ tục chuyển sang năm sau Các khoản thu, chi phát sinh vào thời điểm cuối năm được thực hiện theo nguyên tắc sau:

Các khoản thu phải nộp chậm nhất trước cuối giờ làm việc ngày 31/12, nếu nộp sau thời hạn trên phải hạch toán vào thu ngân sách năm sau

Nhiệm vụ chi được bố trí trong dự toán ngân sách năm, chỉ được chi trong niên độ ngân sách năm đó, các khoản chi có trong dự toán đến hết 31/12 chưa thực hiện được không được chuyển sang năm sau chi tiếp, trừ trường hợp cần thiết phải chi nhưng chưa chi được, phải được Uỷ ban nhân dân quyết định cho chi tiếp, khi

đó hạch toán và quyết toán như sau: nếu thực hiện trong thời gian chỉnh lý quyết toán thì dùng tồn quỹ năm trước để chi và quyết toán vào ngân sách năm trước; nếu được quyết định thực hiện trong năm sau, thì làm thủ tục chuyển nguồn sang năm sau để chi tiếp và thực hiện quyết toán vào chi ngân sách năm sau

- Quyết toán ngân sách xã hàng năm:

Ban Tài chính xã lập báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách xã hàng năm trình Uỷ ban nhân dân xã xem xét để trình Hội đồng nhân dân xã phê chuẩn, đồng

Trang 36

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 26

thời gửi Phòng Tài chính huyện để tổng hợp Thời gian gửi báo cáo quyết toán năm cho Phòng Tài chính huyện do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định

Quyết toán chi ngân sách xã không được lớn hơn quyết toán thu ngân sách

xã Kết dư ngân sách xã là số chênh lệch lớn hơn giữa số thực thu và số thực chi ngân sách xã Toàn bộ kết dư năm trước (nếu có) được chuyển vào thu ngân sách năm sau

Sau khi Hội đồng nhân dân xã phê chuẩn, báo cáo quyết toán được lập thành

05 bản để gửi cho Hội đồng nhân dân xã, Uỷ ban nhân dân xã, Phòng tài chính huyện, Kho bạc Nhà nước nơi xã giao dịch (để làm thủ tục ghi thu kết dư ngân sách), lưu Ban tài chính xã và thông báo công khai nơi công cộng cho nhân dân trong xã biết

Phòng Tài chính huyện có trách nhiệm thẩm định báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách xã, trường hợp có sai sót phải báo cáo Uỷ ban nhân dân huyện yêu cầu Hội đồng nhân dân xã điều chỉnh

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Kinh nghiệm quản lý ngân sách xã ở một số nước trên thế giới

Kinh nghiệm tại Pháp

Hệ thống các cơ quan địa phương ở Pháp được xây dựng trên cơ sở phân chia đơn vị hành chính–lãnh thổ Đơn vị hành chính của Pháp bao gồm: xã, tỉnh và vùng; mỗi đơn vị hành chính–lãnh thổ đều có thực hiện chế độ tự quản ở các mức độ khác nhau (Trần Thị Minh Châu, 2013)

- Đối với đơn vị hành chính xã: Hiện nay, ở Pháp có khoảng 36 nghìn xã Chịu trách nhiệm tổ chức, điều hành các công việc ở xã như: Quyết định những vấn

đề liên quan đến lợi ích của xã, định đoạt tài sản của xã, chỉ đạo cung ứng các dịch

vụ cần thiết như: bệnh viện; chợ; xây dựng, sửa chữa đường sá, cầu cống; trường học; bảo tàng là Hội đồng và xã trưởng

- Đối với đơn vị hành chính Tỉnh: Tỉnh là đơn vị hành chính lãnh thổ chủ yếu

ở Pháp Tổ chức điều hành hoạt động của tỉnh là do Hội đồng tỉnh (hay còn gọi là Hàng tổng), đứng đầu Hội đồng tỉnh là Chủ tịch Hội đồng tỉnh

Trang 37

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 27

Hoạt động của Hội đồng tỉnh bao gồm: thông qua ngân sách và kiểm tra việc thực hiện ngân sách, tổ chức cung ứng các dịch vụ do cấp trên cung cấp và quản lý tài sản của tỉnh

Nhiệm vụ của Chủ tịch Hội đồng là thi hành các quyết định của Hội đồng, chịu trách nhiệm về việc quản lý tỉnh, chi phối kinh phí và đứng đầu các tổ chức dịch vụ hành chính, kỹ thuật của tỉnh

- Đối với đơn vị hành chính Vùng: Pháp có 22 vùng ở mẫu quốc và các vùng riêng biệt như: Guadeloupe; Guyane; Martinique; Rounion Vùng có nhiều nét giống với tỉnh về cơ cấu tổ chức Tổ chức Vùng có Hội đồng vùng và Chủ tịch Hội đồng, ngoài ra tuỳ mỗi vùng mà có thêm Hội đồng kinh tế và xã hội; Hội đồng về vấn đề vay nợ và Viện kiểm toán Hội đồng vùng đưa ra các biện pháp về phát triển kinh tế, xã hội, vệ sinh môi trường, phát triển khoa học công nghệ và các biện pháp xây dựng lãnh thổ trên cơ sở tôn trọng tính toàn vẹn lãnh thổ của mỗi vùng

Chủ tịch Hội đồng vùng là người chuẩn bị và thi hành các quyết định của Hội đồng, chi phối kinh phí, quản lý tài sản, lãnh đạo các cơ quan của Vùng

Hội đồng kinh tế và xã hội không có quyền ban hành quyết định mà chỉ có quyền đưa ra ý kiến đối với Hội đồng vùng về các vấn đề như: chuẩn bị thi hành những kế hoạch của Nhà nước đối với vùng, chiến lược phát triển vùng

Kinh nghiệm tại Cộng hoà liên bang Đức

Cơ sở pháp lý hình thành chế độ tự quản địa phương ở CHLB Đức là Hiến pháp Liên bang và Luật của các bang (Trần Thị Minh Châu, 2013)

Đơn vị hành chính tự quản địa phương ở CHLB Đức là xã và liên xã Hai loại đơn vị hành chính này với tư cách là cấp tự quản ở địa phương có quyền quyết định và tự chịu trách nhiệm về tất cả các công việc của cộng đồng địa phương trong khuôn khổ pháp luật

Xã ở CHLB Đức là khái niệm chỉ một đơn vị hành chính cơ sở, kể cả thành phố lớn, vừa và nhỏ (chỉ trừ 3 thành phố được hưởng quy chế đặc biệt là: Berlin, Bermen, Hamburg) Hiện nay CHLB Đức có khoảng 14.619 xã Liên xã ở CHLB Đức là khái niệm chỉ hình thức liên kết giữa một số xã có quy mô nhỏ thành một đơn vị hành chính cơ sở

Trang 38

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 28

- Tổ chức, hoạt động của chính quyền xã, liên xã ở CHLB Đức:

Trong khuôn khổ pháp luật, xã có nghĩa vụ và quyền điều hành công việc của mình theo tinh thần tự chịu trách nhiệm Xã có quyền khiếu kiện trước các toà án có thẩm quyền về những sự can thiệp trái pháp luật và những cản trở đối với quyền tự quản của mình Các xã, liên xã có biểu tượng riêng, có cờ và con dấu công vụ của mình

Cơ cấu tổ chức chính quyền tự quản xã, liên xã ở CHLB Đức bao gồm: Hội đồng, Xã trưởng và các phòng ban chuyên môn

+ Hội đồng xã, liên xã (sau đây gọi là Hội đồng xã) được nhân dân địa phương bầu ra thông qua bỏ phiếu Số lượng thành viên của Hội đồng xã phụ thuộc vào số dân của xã, có nhiệm kỳ 5 năm Nhiệm vụ của Hội đồng xã là: Quyết định phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao phúc lợi cho nhân dân địa phương; Quyết định ngân sách và quyết toán hằng năm,quy định về thuế và đảm bảo nguồn tài chính cho địa phương; Ban hành điều lệ, quy chế pháp lý của xã; Bầu xã trưởng, sa thải cán bộ, công chức; Quy định việc thành lập các cơ quan công quyền và Ban hành quy chế hoạt động cho Hội đồng xã Quyền hạn của Hội đồng

xã là giám sát đối với hoạt động của xã

+ Xã trưởng được Hội đồng xã bầu ngoại trừ một số xã dân bầu trực tiếp xã trưởng với nhiệm kỳ từ 6 đến 12 năm, tuỳ thuộc vào quy chế của từng xã Xã trưởng là người lãnh đạo bộ máy hành chính xã, có quyền trực tiếp quyết định những vấn đề có tính chất cấp bách của xã; Chuẩn bị và thực hiện các Nghị quyết của Hội đồng xã; Đại diện pháp lý cho xã về đối ngoại; Điều hành các công việc của các phòng ban chuyên môn thuộc cơ quan hành chính xã

+ Các phòng ban chuyên môn có số lượng khác nhau tuỳ thuộc vào quy chế của từng xã Cơ cấu thành phần các phòng ban chuyên môn do Hội đồng xã quyết định Trưởng phòng và nhân viên các phòng ban chuyên môn do Xã trưởng bổ nhiệm Hoạt động của các phòng ban chuyên môn khá đa dạng về nhiều lĩnh vực như: Xây dựng, nhà đất, an ninh trật tự, giáo dục, thuế, thống kê, pháp luật, an sinh xã hội…

Trang 39

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 29

2.2.2 Quản lý ngân sách xã tại một số địa phương ở Việt Nam

Tại tỉnh Quảng Ninh

Tăng cường phân cấp quản lý nhà nước cho các địa phương, đơn vị (Nhật

Dạ, 2014)

Quảng Ninh có lẽ là tỉnh tiên phong trong việc thực hiện phân cấp mạnh mẽ công tác quản lý nhà nước cho các ngành, địa phương, đặc biệt đối với các ngành, lĩnh vực quan trọng và các địa phương là đô thị Việc phân cấp, uỷ quyền đã tạo điều kiện thuận lợi, sự chủ động cho cơ quan cấp dưới và các đơn vị, doanh nghiệp thực hiện tốt nhiệm vụ của mình

Việc phân cấp được tỉnh xác định trên cơ sở thẩm quyền của mỗi cấp hành chính trong các văn bản quy phạm pháp luật và chuyển giao thẩm quyền của cấp trên cho cấp dưới bằng các quyết định cụ thể nhằm mục tiêu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước Cụ thể là: UBND tỉnh đã thực hiện phân cấp uỷ quyền cho

Sở TN&MT thực hiện việc cấp gia hạn, thay đổi thời hạn, điều chỉnh nội dung, đình chỉ hiệu lực và thu hồi giấy phép hoạt động tài nguyên nước và hành nghề khoan nước dưới đất thuộc thẩm quyền cấp phép của UBND tỉnh; phân cấp cho các huyện, thị xã, thành phố được tự lựa chọn nhà đầu tư và phê duyệt phương án chuyển đổi chợ (đối với chợ loại II, loại III) và phân cấp cho Sở Công thương xác nhận việc tái xuất hàng hoá qua khu kinh tế cửa khẩu

UBND tỉnh cũng uỷ quyền cho chủ tịch UBND cấp huyện quyết định giá khởi điểm để đấu giá quyền sử dụng đất đối với các thửa đất thuộc thẩm quyền giao đất, cho thuê đất của Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố; phân cấp cho UBND cấp huyện phê duyệt các đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng các trung tâm hướng nghiệp và giáo dục thường xuyên trên địa bàn mà địa phương quản lý; phân cấp quản lý cán bộ, công chức cấp xã; chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công; đào tạo, bồi dưỡng và thu hút nhân tài của tỉnh Đồng thời, tỉnh cũng phân cấp quản lý nhà nước với một số lĩnh vực về kinh tế - xã hội cho Chủ tịch UBND các thành phố: Hạ Long, Móng Cái, Cẩm Phả, Uông Bí; phân cấp, uỷ quyền quản lý chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự

Trang 40

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 30

nghiệp dịch vụ công; công tác quy hoạch, công tác thu chi ngân sách, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

Cùng với việc phân cấp, tỉnh cũng đặc biệt chú trọng hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện phân cấp, nên đã kịp thời phát hiện, tháo gỡ nhiều vướng mắc, nhất là việc giải quyết các thủ tục hành chính đã được phân cấp, giảm đến mức thấp nhất cơ chế xin - cho trong quản lý kinh tế Các địa phương, đơn vị được phân cấp coi việc được phân cấp là nhiệm vụ thường xuyên trong thực thi thẩm quyền, trách nhiệm quản lý hành chính nhà nước đối với các ngành, lĩnh vực của mình ở địa phương Công tác này đã tạo sự chủ động cho cơ quan cấp dưới và thuận lợi nhất cho đơn vị, doanh nghiệp, phát huy được quyền chủ động, sáng tạo; đồng thời xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của các cấp chính quyền, các tổ chức, người đứng đầu đơn vị trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao

Cùng với việc phân cấp về quản lý nhà nước, tỉnh tiếp tục đổi mới cơ chế, biện pháp điều hành ngân sách Từ năm 2014, tỉnh chỉ đạo đổi mới phân cấp quản

lý kinh phí đối với các đơn vị dự toán cấp tỉnh, cấp huyện qua ngành chủ quản, trên nguyên tắc phù hợp với phân cấp quản lý cán bộ và quy định của Luật Ngân sách Công tác rà soát tình hình quản lý và sử dụng kinh phí của các đơn vị sự nghiệp trong tỉnh cũng được tỉnh đặc biệt chú trọng thực hiện Qua rà soát đã phân loại, điều chỉnh phương án phân bổ ngân sách năm 2014 cho 30 đơn vị sự nghiệp Cụ thể

là đối với những đơn vị sự nghiệp kinh tế có khả năng xã hội hoá cao thì giảm dần việc hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, chuyển sang tự chủ hoàn toàn về tài chính Thực hiện phương án này, năm 2014 dự kiến giảm cân đối ngân sách trên 26 tỷ đồng Cùng với đó, tỉnh cũng chú trọng việc rà soát, thẩm định các quy chế chi tiêu nội bộ của các đơn vị thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, qua đó chấn chỉnh việc chi tiêu tại các đơn vị đảm bảo phù hợp với các chế độ chính sách tài chính hiện hành, thực hành tiết kiệm, nâng cao hiệu quả chi ngân sách nhà nước

Nhìn chung, việc thực hiện phân cấp các lĩnh vực trên đã và đang mang lại hiệu lực, hiệu quả tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương

Ngày đăng: 25/11/2015, 23:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2003), Thông tư số: 59/2003/TT- BTC ngày 23/6/2003 của Bộ tài chính Hướng dẫn thực hiện Nghị định số: 60/2003/NĐ- CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN Khác
2. Bộ Tài chính (2003), Thông tư số: 60/2003/TT- BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính Quy định về quản lý ngân sách xã và các hoạt động tài chính khác của xã, phường, thị trấn Khác
3. Bộ Tài chính (2005), Quyết định số 94/2005/QĐ- BTC ngày 12/12/2005 của Bộ Tài chính Quy định chế độ kế toán ngân sách và tài chính xã Khác
4. Trần Thị Minh Châu (2013), Về chế độ tự quản địa phương của một số quốc gia trên thế giới, Bộ nội vụ, Viện khoa học tổ chức nhà nước Khác
5. Duy Chiến (2013), Các biện pháp chỉ đạo tăng thu, quản lý ngân sách những tháng cuối năm 2013, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang Khác
6. Chính phủ (2003), Nghị định số: 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước Khác
7. Nhật Dạ (2014), Tăng cường phân cấp quản lý nhà nước cho các địa phương, đơn vị, tỉnh Quảng Ninh Khác
8. Phương Thị Hồng Hà (2006), Giáo trình Quản lý ngân sách nhà nước, NXB Hà Nội Khác
9. Đặng Thị Vân Hồng (2010), Giáo trình Quản lý ngân sách, NXB Lao động Khác
10. Lương Khánh (2013), tăng cường chất lượng quản lý tài chính, ngân sách xã, tại xã Quảng yên, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá Khác
11. Quốc hội (2002) nước Cộng hoà XHCN Việt Nam: Luật Ngân sách Nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 Khác
12. Quy hoạch sử dụng đất của huyện giai đoạn 2011- 2015 của Phòng TN và MT huyện cung cấp Khác
13. Quyết toán ngân sách xã các năm 2011, năm 2012, năm 2013 của Phòng Tài chính- Kế hoạch huyện Thanh Miện Khác
15. Nguyễn Văn Tuyển (2008), Giáo trình luật ngân sách nhà nước, NXB Công an nhân dân, tái bản lần thứ 4 Khác
16. UBND tỉnh Hải Dương (2010), Quyết định số: 34/2010/QĐ- UBND, ngày 20/12/2010 của UBND tỉnh Hải Dương Quy định tỷ lệ phân chia các khoản thu giữa các cấp ngân sách trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2010- 2015 Khác
17. UBND tỉnh Hải Dương (2011), Quyết định số: 32/2011/QĐ- UBND V/v điều chỉnh bổ sung phân cấp nguồn thu, tỷ lệ (%) phân chia nguồn thu giữa các cấp ngân sách trên địa bàn tỉnh Hải Dương Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1. Hệ thống Ngân sách Nhà nước - quản lý ngân sách xã tại huyện thanh miện tỉnh hải dương
Sơ đồ 2.1. Hệ thống Ngân sách Nhà nước (Trang 20)
Hình 3.1: Bản đồ hành chính huyện Thanh Miện - quản lý ngân sách xã tại huyện thanh miện tỉnh hải dương
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Thanh Miện (Trang 46)
Bảng 3.1. Tình hình đấi đai, dân số, lao động huyện Thanh Miện - quản lý ngân sách xã tại huyện thanh miện tỉnh hải dương
Bảng 3.1. Tình hình đấi đai, dân số, lao động huyện Thanh Miện (Trang 48)
Bảng 3.2: Một số chỉ tiêu kinh tế huyện Thanh Miện - quản lý ngân sách xã tại huyện thanh miện tỉnh hải dương
Bảng 3.2 Một số chỉ tiêu kinh tế huyện Thanh Miện (Trang 52)
Sơ đồ 4.1. Sơ đồ bộ máy quản lý Phòng Tài chính-Kế hoạch - quản lý ngân sách xã tại huyện thanh miện tỉnh hải dương
Sơ đồ 4.1. Sơ đồ bộ máy quản lý Phòng Tài chính-Kế hoạch (Trang 59)
Sơ đồ 4.2. Quy trình lập dự toán ngân sách xã - quản lý ngân sách xã tại huyện thanh miện tỉnh hải dương
Sơ đồ 4.2. Quy trình lập dự toán ngân sách xã (Trang 62)
Bảng 4.1. Tổng hợp dự toán thu ngân sách xã huyện Thanh Miện (2011- 2013) - quản lý ngân sách xã tại huyện thanh miện tỉnh hải dương
Bảng 4.1. Tổng hợp dự toán thu ngân sách xã huyện Thanh Miện (2011- 2013) (Trang 66)
Bảng 4.2. Tổng hợp dự toán chi ngân sách xã huyện Thanh Miện (2011- 2013)  Chỉ tiêu - quản lý ngân sách xã tại huyện thanh miện tỉnh hải dương
Bảng 4.2. Tổng hợp dự toán chi ngân sách xã huyện Thanh Miện (2011- 2013) Chỉ tiêu (Trang 70)
Bảng 4.3. Tổng hợp chấp hành dự toán thu ngân sách xã, trên địa bàn huyện Thanh Miện (2011- 2013) - quản lý ngân sách xã tại huyện thanh miện tỉnh hải dương
Bảng 4.3. Tổng hợp chấp hành dự toán thu ngân sách xã, trên địa bàn huyện Thanh Miện (2011- 2013) (Trang 74)
Bảng 4.4. Tổng hợp chấp hành dự toán chi ngân sách xã, trên địa bàn huyện Thanh Miện (2011- 2013) - quản lý ngân sách xã tại huyện thanh miện tỉnh hải dương
Bảng 4.4. Tổng hợp chấp hành dự toán chi ngân sách xã, trên địa bàn huyện Thanh Miện (2011- 2013) (Trang 77)
Bảng 4.5. Tổng hợp bổ sung dự toán chi ngân sách xã huyện Thanh Miện (2011- 2013) - quản lý ngân sách xã tại huyện thanh miện tỉnh hải dương
Bảng 4.5. Tổng hợp bổ sung dự toán chi ngân sách xã huyện Thanh Miện (2011- 2013) (Trang 81)
Bảng 4.6. Quyết toán thu ngân sách xã trên địa bàn huyện Thanh Miện (2011- 2013)  Chỉ tiêu - quản lý ngân sách xã tại huyện thanh miện tỉnh hải dương
Bảng 4.6. Quyết toán thu ngân sách xã trên địa bàn huyện Thanh Miện (2011- 2013) Chỉ tiêu (Trang 84)
Bảng 4.7. Quyết toán chi ngân sách xã trên địa bàn huyện Thanh Miện (2011- 2013)  Chỉ tiêu - quản lý ngân sách xã tại huyện thanh miện tỉnh hải dương
Bảng 4.7. Quyết toán chi ngân sách xã trên địa bàn huyện Thanh Miện (2011- 2013) Chỉ tiêu (Trang 90)
Bảng 4.8. Ý kiến trả lời chủ tịch, kế toán ủy ban nhân dân các xã thị trấn - quản lý ngân sách xã tại huyện thanh miện tỉnh hải dương
Bảng 4.8. Ý kiến trả lời chủ tịch, kế toán ủy ban nhân dân các xã thị trấn (Trang 99)
Bảng 4.10. Ý kiến trả lời chủ tịch, kế toán ủy ban nhân dân các xã thị trấn - quản lý ngân sách xã tại huyện thanh miện tỉnh hải dương
Bảng 4.10. Ý kiến trả lời chủ tịch, kế toán ủy ban nhân dân các xã thị trấn (Trang 102)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm