DANH MỤC BẢNG 3.1 Kết quả theo dõi một số biểu hiện lâm sàng ở lợn mắc hội 3.2 Tỷ lệ lợn nái mắc hội chứng MMA tại các địa phương 35 3.4 Tỷ lệ lợn nái mắc hội chứng MMA qua các mùa trong
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án này là trung thực, chính xác và chưa được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ thực hiện luận án này đã được cảm ơn
và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 201
Học viên
Quách Thị Điểm
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Ban quản lý Đào tạo, Khoa Thú y đã quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới 02 thầy hướng dẫn khoa học
TS Nguyễn Hữu Cường, PGS.TS Nguyễn Văn Thanh, những người đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và xây dựng luận văn
Tôi xin được cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ môn Ngoại – Sản, khoa Thú
y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, đội ngũ cán bộ thú y, nhân viên các Công ty, Trang trại chăn nuôi tại các địa phương: thành phố Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Dương đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài tại cơ sở
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè, những người luôn tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu cũng như hoàn thành luận văn
Tác giả luận văn
Quách Thị Điểm
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục đồ thị viii
Danh mục hình ảnh ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa của đề tài 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Khái quát hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa (MMA) 4
1.1.1 Viêm tử cung 5
1.1.2 Viêm vú (mastitis) 9
1.1.3 Mất sữa (Agalactia) 14
1.2 Những nghiên cứu về hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa (MMA) 17
1.2.1 Trên thế giới 17
1.2.2 Tại Việt Nam 20
1.3 Ảnh hưởng của hội chứng MMA 22
1.3.1 Khả năng sinh sản của lợn nái 22
1.3.2 Sinh trưởng và phát triển của lợn con 23
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
Trang 52.2 Địa điểm nghiên cứu 24
2.3 Nội dung nghiên cứu 24
2.3.1 Xác định một số biểu hiện lâm sàng của lợn nái mắc MMA 24
2.3.2 Thực trạng tình hình mắc hội chứng MMA trên đàn lợn nái sau sinh 24
2.3.3 Theo dõi một số chỉ tiêu sinh lý máu và các thành phần hóa học trong sữa của lợn nái mắc MMA 24
2.3.4 Ảnh hưởng hội chứng MMA đến năng suất sinh sản của lợn nái: 24
2.4 Phương pháp nghiên cứu 25
2.4.1 Xác định một số biểu hiện lâm sàng 25
2.4.2 Sử dụng phương pháp điều tra hồi cứu để nắm được tình hình dịch tễ của lợn mắc hội chứng tại các trang trại được điều tra 25
2.4.3 Phương pháp lấy mẫu 26
2.4.4 Phương pháp xác định các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái 26
2.4.5 Các phương pháp dùng trong xét nghiệm một số chỉ tiêu sinh lý máu: 27
2.4.6 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu chất béo, protein, đường, vật chất khô, pH của sữa 27
2.4.7 Phương pháp theo dõi ảnh hưởng của hội chứngMMA đến năng suất sinh sản 28
2.4.8 Xử lý số liệu 28
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Xác định một số biểu hiện lâm sàng của lợn nái mắc hội chứng MMA 31
3.2 Thực trạng tình hình mắc hội chứng MMA trên đàn lợn nái sau sinh tại các trang trại được điều tra 35
3.3 Ảnh hưởng của lứa đẻ đến tỷ lệ mắc hội chứng MMA 37
3.4 Ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ mắc MMA 39
3.5 Kết quả theo dõi sự biến đổi một số chỉ tiêu sinh lý máu của lợn nái mắc hội chứng MMA 43
Trang 63.5.1 Kết quả kiểm tra huyết cầu và huyết sắc tố của lợn mắc hội
chứng MMA 43
3.5.2 Kết quả kiểm tra bạch cầu và công thức bạch cầu của lợn nái mắc hội chứng MMA 45
3.6 Kết quả khảo sát sự biến đổi một số chỉ tiêu chất lượng, thành phần của sữa lợn mắc hội chứng MMA 47
3.7 Ảnh hưởng của hội chứng MMA đến năng suất sinh sản của lợn nái 49
3.7.1 Kết quả theo dõi tỷ lệ lợn con mắc bệnh tiêu chảy của nhóm lợn nái bình thường và nhóm lợn nái mắc hội chứng MMA 49
3.7.2 Kết quả theo dõi tỷ lệ động dục lại và tỷ lệ đậu thai của nhóm lợn nái bình thường và nhóm nái mắc hội chứng MMA 53
3.7.3 Kết quả tổng hợp sự ảnh hưởng của hội chứng MMA đến năng suất sinh sản của lợn nái 56
KẾT LUẬN 60
1 Kết luận 60
2 Đề nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PGF2α Prostaglandin F2α
PPDS / PDS Postpartum dysgalactia sindrome
MMA Metritis, Mastitis, Agalactia
(Hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa)
VSV Vi sinh vật
Trang 8DANH MỤC BẢNG
3.1 Kết quả theo dõi một số biểu hiện lâm sàng ở lợn mắc hội
3.2 Tỷ lệ lợn nái mắc hội chứng MMA tại các địa phương 35
3.4 Tỷ lệ lợn nái mắc hội chứng MMA qua các mùa trong năm 40 3.5 Kết quả kiểm tra một số chỉ tiêu huyết học của lợn mắc hội chứng
3.6 Số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu ở lợn nái mắc hội chứng
3.7 Một số chỉ tiêu chất lượng, thành phần của sữa lợn 48 3.8 Tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn con sinh ra từ lợn nái bình thường và lợn
3.9 Tỷ lệ động dục lại và tỷ lệ đậu thai của nhóm lợn nái bình thường
3.10 Ảnh hưởng hội chứng MMA đến năng suất sinh sản của lợn nái 57
Trang 9
DANH MỤC ĐỒ THỊ
3.1 Tỷ lệ một số biểu hiện lâm sàng ở lợn mắc hội chứng MMA 32
3.3 Tỷ lệ lợn nái mắc hội chứng theo mùa trong năm 41 3.4 Tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn con sinh ra từ lợn nái bình thường và lợn
3.5 Tỷ lệ động dục lại của nhóm lợn nái bình thường và nhóm nái mắc
3.6 Tỷ lệ đậu thai sau 1 chu kỳ của nhóm lợn nái bình thường và nhóm
Trang 10DANH MỤC HÌNH ẢNH
1.2 Tiết diện núm vú và phân loại khả năng hoạt động của núm vú lợn cái 10
3.5 Lợn nái viêm tử cung, mất sữa trong hội chứng MMA 42 3.6 Lợn mẹ viêm tử cung, mất sữa, lợn con tiêu chảy 52 3.7 Vệ sinh đảm bảo, lợn mẹ khỏe, lợn con phát triển đồng đều 53
Trang 11
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi lợn là ngành cung cấp thịt chủ yếu không chỉ ở nước Việt mà
cả ở nhiều nước trên thế giới Một đặc điểm quan trọng mang tính ưu việt của chăn nuôi lợn là thời gian nuôi ngắn, sức tăng trưởng nhanh và chu kỳ tái sản xuất ngắn
Chăn nuôi lợn đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của Việt Nam nói chung và các tỉnh phía Bắc nói riêng, thịt lợn cũng đã trở thành hàng hoá tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, góp phần tăng thu nhập cho nông dân Trong chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020, ngành chăn nuôi sẽ được tổ chức lại theo hướng gắn với thị trường, bảo đảm an toàn dịch bệnh, vệ sinh thú y và cải thiện điều kiện an sinh xã hội, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và vệ sinh
an toàn thực phẩm Chăn nuôi sẽ cơ bản chuyển sang hướng sản xuất hàng hóa, trang trại, công nghiệp Để đạt được mục tiêu đó, việc nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái ngoại nuôi theo mô hình trang trại luôn là mối quan tâm, là mục tiêu hàng đầu của các nhà chăn nuôi và các nhà khoa học
Cùng với sự gia tăng các loại bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên đàn lợn như: Bệnh lở mồm long móng, bệnh tai xanh,… thì các bệnh về đường sinh sản cũng gia tăng làm ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của lợn nái Theo các nhà chăn nuôi, một trong những nguyên nhân làm hạn chế khả năng sinh sản của lợn nái ở nước ta hiện nay là Hội chứng viêm tử cung (metritis), viêm vú (mastitis), mất sữa (agalactia) được viết tắt là MMA.Thuật ngữ được dùng nhiều ở các nước châu Âu (Martin et al, 1967; Waldmann, 2001), được đặc trưng bởi việc giảm tiết sữa 12 - 48 giờ sau đẻ, viêm tử cung, viêm vú ở lợn mẹ và lợn con chết đói, còi cọc, dễ nhiễm bệnh
Ngày nay, hội chứng MMA cũng được gọi là hội chứng rối loạn tiết sữa sau
đẻ (Post-Partum Dysgalactia Syndrome – PPDS/PDS), hoặc là hội chứng giảm
Trang 12sữa sau đẻ (Post-patrum Hypogalactia Syndrome - PHS) Lợn nái có tỉ lệ mắc bệnh cao, tỉ lệ chết khoảng 2% nhưng lợn con có thể chết đến 80%, gây tổn thất lớn về kinh tế (Aruna Shrestha, 2012)
Hội chứng MMA gây tổn thất kinh tế cho chăn nuôi khoảng 15.000 Euro/ 1.000 nái/ năm, trong một nghiên cứu đánh giá thiệt hại do ảnh hưởng của hội chứng MMA tại Đức (Frank During and Gabriele Friton, 2003) Hội chứng không những ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, khả năng sinh sản, sức sản xuất của lợn nái mà còn ảnh hưởng đến chất lượng lợn con Mặc dù đã được biết đến
từ lâu nhưng chỉ khi một số công bố tỷ lệ mắc hội chứng từ 30 đến 35% ở một số đàn lợn nái sinh sản sau sinh thì mới có nhiều nghiên cứu chi tiết về tổn thương
vú (Jensen et al, 2006), về mối tương quan giữa viêm nhiễm đường sinh dục với hội chứng MMA (Busse, 2006; Hulten et al, 2006,), về xác định các yếu tố nguy
cơ mắc hội chứng (Perestrelo et al, 1994) và thử nghiệm điều trị (Gevaert et al, 2006) Cùng với những đặc điểm lợn nái kém ăn, mệt mỏi, sốt, sưng vú, viêm tử cung sau đẻ từ 12 đến 48 giờ, hội chứng còn gây giảm tiết sữa và đặc biệt làm thay đổi thành phần của sữa qua đó làm tăng tỷ lệ chết ở lợn sơ sinh tới 80% (Aruna Shrestha, 2012)
Để hạn chế tác hại của hội chứng góp phần nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái và bổ sung thêm tư liệu khoa học cho việc hoàn thiện chương trình phòng chống, hạn chế dịch bệnh trên đàn lợn ở khu vực và trên toàn quốc Chúng
tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sự biến đổi một số chỉ tiêu lâm sàng, sinh lý máu
và thành phần sữa ở lợn nái mắc hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa (MMA)”
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định được thực trạng mắc hội chứng MMA trên đàn lợn nái ngoại nuôi tập trung tại các trang trại ở 04 tỉnh gồm: Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên
và thành phố Hà Nội
Trang 13Xác định được một số chỉ tiêu lâm sàng, phi lâm sàng của lợn mắc hội chứng MMA
Xác định được sự ảnh hưởng của hội chứng MMA đến năng suất sinh sản của đàn lợn nái
3 Ý nghĩa của đề tài
Là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về hội chứng trên đàn lợn nái nuôi tại một số trang trại của một số tỉnh đồng bằng sông Hồng, góp phần nâng cao năng suất sinh sản và hiệu quả chăn nuôi
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái quát hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa (MMA)
MMA là một hội chứng phức tạp của lợn nái, thường xảy ra trong vòng 12 – 48 giờ sau khi sinh (Aruna Shrestha, 2012); gây tổn thất kinh tế trong chăn nuôi lợn sinh sản trên thế giới (Bertschinger, 1986) được gọi bằng nhiều tên khác nhau trên thế giới: Trong khi hội chứng là tên thường được dùng ở các nước châu Âu (Martin et al, 1967) thì hội chứng rối loạn tiết sữa sau đẻ (postpartum dysgalactia syndrome – PPDS / PDS) được dùng ở các nước nói tiếng Anh (Klopfenstein et al, 2006) Tuy nhiên dù ở tên gọi nào cũng phản ánh căn nguyên gây nên những bệnh lý của bệnh và được biểu hiện các triệu chứng đặc trưng: Kém ăn hoặc bỏ ăn, lười uống nước, bồn chồn, sốt >39,50C, sưng tuyến vú, viêm
tử cung, tiết nhiều dịch viêm và giảm tiết sữa từ 24 đến 48 giờ sau đẻ, lợn con chết đói tỷ lệ cao (Steffen Hoy, 2004; Aruna Shrestha, 2012) Bệnh do vi khuẩn gây ra và là nguyên nhân làm tăng tỷ lệ chết và kém tăng trọng ở lợn con (BPEX, 2011)
Theo Heber et al (2010), bệnh ở lợn nái sau đẻ được gọi là hội chứng khi xuất hiện một trong những triệu chứng hoặc bao gồm các triệu chứng như sau : Viêm tử cung, viêm vú, pH âm đạo >8,0, bỏ ăn hoặc ăn ít và thân nhiệt >39,40 C,
tỷ lệ lợn nái mắc bệnh trong đàn lên tới 35-40%
Theo Đặng Đắc Thiệu (1978); Lê Minh Chí và Nguyễn Như Pho (1985); Berstchinger and Pohlenz (1980); Ross (1981); Smith (1985); Mercy (1990); Radostits and Blood (1997), những biểu hiện lâm sàng ở lợn nái sau sinh 12 - 72 giờ bao gồm hiện tượng sốt (Persson et al, 1989 ), tử cung tiết nhiều dịch viêm (viêm tử cung); vú sưng cứng, nóng và đỏ lên (viêm vú); sữa giảm hay mất sữa (kém hay mất sữa) được gọi là hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa (Gardner et al., 1990) Trên từng cá thể, có thể bệnh xuất hiện với từng triệu
Trang 15chứng riêng biệt hoặc kết hợp 2 - 3 triệu chứng cùng lúc, trong đó chứng viêm tử cung thường xuất hiện với tần số cao (Lê Minh Chí và Nguyễn Như Pho, 1985) Theo Taylor (1995), hội chứng phải là sự kết hợp cả 3 chứng viêm tử cung, viêm
vú và mất sữa trên cùng một cá thể lợn nái (Nguyễn Như Pho, 2002) Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ hội chứng theo quan điểm của các tác giả Đặng Đắc Thiệu (1978); Lê Minh Chí và Nguyễn Như Pho (1985); Berstchinger and Pohlenz (1980) để diễn tả những cá thể bị viêm tử cung kèm theo mất sữa hoặc viêm tử cung kèm viêm vú được xem là mắc hội chứng trên lợn nái sau khi sinh Trường hợp cả ba triệu chứng xuất hiện trên cùng một cá thể được gọi là thể điển hình của hội chứng MMA
1.1.1 Viêm tử cung
Đặc điểm: Là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản
sau khi đẻ, quá trình viêm phá hủy các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng của thành tử cung gây rối loạn sinh sản, từ đó gây ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh sản, thậm chí làm cho gia súc cái mất khả năng sinh sản
Nguyên nhân gây viêm tử cung
Khi lợn đẻ VSV trong âm đạo xâm nhập vào tử cung Viêm tử cung
Hình 1.1 Cơ chế phát sinh chứng viêm tử cung
(Nguồn: Aruna Shrestha, 2012)
Theo Sobko and GaDenKo (1978), nguyên nhân của bệnh viêm tử cung là
do tử cung bị tổn thương, do hiện tượng sát nhau Bệnh phát triển là do nuôi dưỡng không đủ chất, do đưa vào đường sinh dục những chất kích thích đẻ, chúng phá hủy hoặc làm kết tủa chất nhày ở bộ máy sinh dục
Theo Đào Trọng Đạt và cs (2000), hội chứng MMA ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:
- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh
Trang 16không được vô trùng khi phối giống có thể đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm
- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật, hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác bị mắc bệnh viêm tử cung, viêm
âm đạo truyền sang cho lợn khỏe
- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc
tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát
- Do công tác vệ sinh trước, trong và sau khi đẻ không đảm bảo, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật xâm nhập vào gây viêm
- Do nấm xâm nhập
Hậu quả của bệnh viêm tử cung
Theo Madec and Neva (1995), hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lần động dục tiếp theo có thể giải thích cho nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ, từ đó làm giảm năng suất sinh sản
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002); Trần Thị Dân (2004), khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn đến một số hậu quả sau:
- Sẩy thai: Lớp cơ trơn thành tử cung có đặc tính co thắt Khi gia súc cái mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi thai mới bám chặt vào thành tử cung
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều Prostaglandin F2α (PGF2α) gây phân hủy thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng, làm chết tế bào, gây co mạch hoặc thoái hóa các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đến thể vàng
Thể vàng bị phá hủy dẫn đến giảm tiết Progesterone vào máu, hàm lượng Progesterone trong máu giảm, làm tăng trương lực cơ tử cung do đó gia súc chửa rất dễ sẩy thai
- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai phát triển kém hoặc thai chết lưu: Lớp nội mạc tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để nuôi dưỡng phôi
Trang 17thai Khi lớp nội mạc bị viêm, lượng Progesteron giảm nên khả năng tăng sinh
và tiết dịch của niêm mạc tử cung giảm, do đó bào thai nhận được ít, thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu
- Giảm sức đề kháng và khả năng sinh trưởng của lợn con theo mẹ: Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có mặt vi khuẩn
E coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết kích tố tạo sữa Prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc
- Ảnh hưởng đến khả năng động dục trở lại: Nếu tử cung bị viêm mạn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể vàng vẫn tồn tại; thể vàng tiếp tục tiết Progesterone Progesterone ức chế thùy trước tuyến yên tiết FSH, do đó ức chế
sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại và không thể rụng trứng
Theo Madec and Neva (1995), tỷ lệ phối giống không đạt tăng cao ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa
đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ
Chẩn đoán viêm tử cung ở lợn nái
Để chẩn đoán người ta dựa vào những triệu chứng điển hình cục bộ ở cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân Việc chẩn đoán phân biệt các thể viêm tử cung có một ý nghĩa quan trọng trong việc đưa ra phác đồ điều trị thích hợp với từng thể viêm nhằm làm tăng tỷ lệ khỏi bệnh, rút ngắn thời gian điều trị đồng thời đảm bảo khả năng sinh sản của lợn mẹ
Điều trị viêm tử cung: có nhiều phương pháp điều trị bệnh viêm tử cung,
Nguyễn Văn Thanh (2003) đã nêu ra 4 phác đồ điều trị:
- Phác đồ 1: thụt rửa tử cung bằng dung dịch Rivanol 0,1% hay thuốc tím 0,1% ngày 1 lần, sau khi thụt rửa, kích thích cho dung dịch thụt rửa đẩy ra ngoài, dùng Neomycin 12 mg/kg thể trọng thụt vào tử cung ngày 1 lần, liệu trình điều trị 3
- 5 ngày
Trang 18- Phác đồ 2: dùng PGF2α hay các dẫn xuất của nó như Etrumat, Oestrophan, Prosolvin, tiêm dưới da 2ml (25 mg) tiêm 1 lần sau đó thụt vào tử cung 200 ml dung dịch Lugol, thụt ngày 1 lần, liệu trình điều trị 3 - 5 ngày
- Phác đồ 3: Oxytocin 6 ml tiêm dưới da, Lugol 200ml, Neomycin 12 mg/kg thể trọng thụt tử cung, Ampicilline 3 - 5g tiêm bắp hay tĩnh mạch tai ngày
1 lần, liệu trình điều trị 3 - 5 ngày
- Phác đồ 4: Dùng PGF2α (hay các dẫn xuất) tiêm dưới da 2ml (25mg) tiêm 1 lần, Lugol 200ml, Neomycin 12 mg/kg thể trọng thụt vào tử cung, Ampicilline 3
- 5g tiêm bắp hay tĩnh mạch tai ngày 1 lần, liệu trình điều trị 3 - 5 ngày
Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) cho biết hiệu quả điều trị bệnh viêm tử cung bằng phác đồ như sau:
- Thụt rửa tử cung bằng các dung dịch thuốc sát trùng như: Biocid - 30 (1%), Lugol 5%, Han - iodine 5%,
- Tiêm một trong các loại kháng sinh sau: gentamicin, oxytetracyclin, penicillin,…
- Tiêm oxytocin để đẩy các niêm dịch và dịch viêm ra ngoài
- Dùng thuốc trợ sức, trợ lực như: ADE Bcomplex, Calci - B12, Calci – fort,…
Tác giả Đoàn Thị Kim Dung và cs (2002) đã dùng một số bài thuốc nam trong việc điều trị bệnh viêm tử cung cho những kết quả tốt
Trang 19Bài 2: Nếu tử cung, âm đạo bị viêm nặng, có mùi hôi thối, dịch viêm nhiều có thể dùng 50g tỏi ta bóc vỏ, rửa sạch, giã nhuyễn cho vào 500 ml nước, đun sôi để nguội, khuấy đều, lọc lấy nước bơm vào tử cung 1 lần/ngày, dùng liên tục từ 3 đến 5 ngày
Bài 3: Vỏ rễ cây dâm bụt rửa sạch tráng qua nước muối loãng, cho thêm nước và đun sôi sau đó chắt lấy nước để rửa tử cung, âm đạo cho lợn Sau khi rửa tiến hành lau khô, mỗi ngày rửa 2 lần
Phòng bệnh
- Chăm sóc nuôi dưỡng: Bổ sung đầy đủ và cân đối thành phần dinh dưỡng trong khẩu phần ăn của lợn, đặc biệt là trong giai đoạn lợn nái mang thai, tránh tình trạng lợn quá béo hoặc quá gầy; cung cấp đủ nước sạch cho lợn
- Vệ sinh: Thường xuyên dọn vệ sinh chuồng nuôi lợn nái, phân lợn thải
ra phải được thu gom hàng ngày, không để phân lưu trên nền chuồng quá lâu Chuồng đẻ phải được vệ sinh sạch sẽ, khi lợn đẻ có máu hoặc dịch ối trên nền chuồng phải lau sạch Khi lợn đẻ xong cần phải thu gom nhau thai, vệ sinh sàn chuồng Trường hợp lợn đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ trợ sản, phải tuyệt đối tuân thủ các bước vệ sinh
- Dùng thuốc: Khi lợn đẻ có dấu hiệu chậm ra con, tiêm một mũi oxytocin; khi lợn đẻ xong tiêm một mũi Vime - cloprostenol (PGF2α) với liều 5 ml/con; Tiêm các loại thuốc trợ lực, tăng cường sức đề kháng như: Vitamin C, Bcomplex, Canxi, B12,… Tiêm phòng đầy đủ các loại vacxin phòng bệnh cho lợn theo quy định
- Phối giống: Đảm bảo phối giống đúng kỹ thuật, vô trùng
1.1.2 Viêm vú (mastitis)
Tuyến vú có hình chùm nho phức tạp và có nguồn gốc từ da Tuyến
vú gồm:
- Núm vú: ở lợn có nhiều đôi vú từ vùng ngực đến vùng bẹn (thường có từ
5 đến 8 đôi), mỗi núm vú có 2 tuyến sữa Đầu núm vú có 2 - 3 ống dẫn thông với
Trang 20các ống dẫn sữa lớn Đầu núm vú là thụ quan ngoài quan trọng góp phần điều hoà phản xạ tiết sữa
- Bao tuyến: Do những tế bào biểu mô phân tiết tạo thành, là nơi sản sinh
ra sữa Các bao tuyến giống như những túi nhỏ và những ống dẫn nhỏ trực tiếp thông với xoang bao tuyến
- Ống dẫn sữa: Các ống dẫn sữa đầu tiên là các ống dẫn nhỏ, sau đó tập trung thành các ống dẫn trung bình, ống dẫn lớn Ở lợn không có bể sữa
Cấu trúc bên trong và phân loại khả năng hoạt động của núm vú lợn cái được trình bày tại hình 1.2
Ở lợn nái, số lượng ống dẫn sữa trong núm vú phân bố không đều nhau
Cụ thể: 43% lợn nái trong núm vú có 2 ống dẫn, 43% lợn nái có núm vú với 1 và
2 ống dẫn, 11,5% có 2 và 3 ống dẫn, 2,5% có cả 1, 2 và 3 ống dẫn
Bao tuyến và các ống dẫn sữa nhỏ có các tế bào biểu mô bao bọc tầng bên ngoài Những tế bào biểu mô đó co bóp để cho sữa ở trong xoang bao tuyến thải ra Ống dẫn sữa và bể sữa có các sợi cơ trơn bao bọc ở xung quanh, các sợi
cơ này co bóp để giúp cho quá trình thải sữa
Hình 1.2 Tiết diện núm vú và phân loại khả năng hoạt động
của núm vú lợn cái
(Nguồn: ThePigSite.com)
Trang 21Các mô liên kết, mô mỡ bao quanh toàn bộ tuyến vú, đồng thời các mô này đi sâu vào bên trong tạo thành các thuỳ nông, thuỳ sâu, chia tuyến vú thành nhiều thuỳ nhỏ Trong các thuỳ có nhiều sợi đàn hồi và khi sữa tích lại trong tuyến vú thì toàn bộ bầu vú căng ra
Trong các bao tuyến có hệ thống mạch quản dày đặc Trong đó hệ tĩnh mạch của tuyến vú phát triển hơn hệ động mạch của tuyến vú nhiều lần Hệ thống mạch quản của tuyến vú có chức năng mang chất dinh dưỡng và oxy đến cung cấp cho bao tuyến và là nguyên liệu để hình thành nên sữa
Theo Anna Rząsa et al (www.eaap.org), những núm vú có 1 ống dẫn cho
ít sữa hơn núm vú có 3 ống dẫn và ở lợn nái đẻ lứa đầu, tỉ lệ núm vú 1 ống dẫn nhiều hơn so với lợn đã đẻ nhiều lứa
Đặc điểm: Viêm vú là bệnh thường xảy ra đối với lợn nái, với biểu hiện
một hoặc nhiều núm vú sưng, nóng, có khi thành u, cục làm lợn đau đớn, bệnh
có thể gây chết lợn nái và lợn con do thiếu sữa
Viêm vú
Hình 1.3 Cơ chế phát sinh chứng viêm vú
(Nguồn: Aruna Shrestha, 2012)
Theo Nguyễn Như Pho (2002), nguyên nhân gây viêm vú thông thường nhất là trầy xước vú do sàn, nền chuồng nhám, vi trùng xâm nhập vào tuyến sữa
Trang 22Hai loại vi trùng chính gây bệnh là Staphylococcus aureus và Streptococcus agalactiae Các nguyên nhân khác gây viêm như số con quá ít không bú hết
lượng sữa sản xuất, kế phát từ viêm tử cung nặng, hoặc do kĩ thuật cạn sữa không hợp lý trong trường hợp cai sữa sớm
Do vệ sinh không đảm bảo, chuồng trại quá nóng hoặc quá lạnh
Do lợn mẹ sát nhau, lợn con khi đẻ ra không được bấm răng nanh ngay Khẩu phần ăn của lợn nái trong quá trình mang thai và nuôi con không hợp
lý hoặc lợn mẹ ăn quá nhiều thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao làm lượng sữa tiết ra quá nhiều ứ đọng lại trong vú tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập phát triển mạnh mẽ về số lượng và độc lực
Do stress: Nái mang thai sắp đến ngày sinh thường hay bị stress Stress làm giảm sức khỏe, sức đề kháng của lợn nái chống lại các vi khuẩn gây bệnh, tạo cơ hội cho chúng phát triển gây viêm
Với nguyên nhân chấn thương cơ học hoặc lợn con bú không hết sữa, bệnh viêm vú chỉ xuất hiện trên một vài vú Trường hợp kế phát viêm tử cung hoặc cạn sữa không hợp lý, nhiều vú hoặc có khi toàn bộ bầu vú bị viêm
Nguyên nhân gây viêm một hay nhiều vú ở lợn do nhiều loại vi khuẩn hoặc có thể do kế phát từ bệnh khác, xảy ra lác đác ở từng cá thể hoặc cả đàn Bệnh thường xuất hiện tập trung từ khi lợn đẻ đến 12 giờ sau đó, vi khuẩn xâm nhập vào một hay nhiều bầu vú thông qua núm vú do trầy xước (do răng của lợn
con hay nền chuồng cứng) Nhóm vi khuẩn gây viêm vú gồm: Coliform,
Klebsiella, Staphylococcus, Streptococcus, Miscellaneous
Triệu chứng
Biểu hiện rõ tại vú viêm với các đặc điểm: vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa nếu vắt mạnh, sữa chảy ra có nhiều lợn cợn lẫn máu; sau 1 - 2 ngày thấy có mủ, lợn mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốt cao 40 - 41,50C Tùy số lượng vú bị viêm mà lợn nái có biểu hiện khác nhau Nếu do nhiễm trùng trực tiếp vào bầu vú, thì đa số trường hợp chỉ một vài bầu vú bị
Trang 23viêm Lợn nái lười cho con bú, lợn con thiếu sữa liên tục đòi bú, kêu rít, đồng thời do bú sữa bị viêm, lợn con bị tiêu chảy toàn đàn Trường hợp viêm tử cung
có mủ dẫn đến nhiễm trùng máu, thì toàn bộ các bầu vú đều bị viêm Đây là thể bệnh điển hình của hội chứng MMA Trường hợp này cần ghép bầy con và loại thải lợn mẹ (McIntosh, 1996)
Đối với thể cấp tính lợn nái có biểu hiện biếng ăn sau đẻ, mắt đỏ, da tai và một hoặc toàn bộ núm vú nhợt nhạt, ở giai đoạn đầu có thể sờ thấy núm vú sưng, thân nhiệt lên tới 40 - 420 C, nái thường nằm sấp không cho con bú, sữa được vắt
ra bị vón cục, nhiều nước và đôi khi có máu, lợn con bị chết đói do không được
bú Đối với thể mạn tính, xuất hiện các u, cục ở vú nhiều nhất ở các vú phía sau, thể viêm này thường xảy ra ở những nái được nuôi ở chuồng nhỏ có nền đất hoặc được lót bằng rơm rạ,…núm vú dễ bị trầy xước và nhiễm khuẩn
Theo Christensen et al (2007) , khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là
Staphylococcus aureus và Arcanobacterium pyogenes.Trong đó vi khuẩn
Staphylococcus và Streptococcus chỉ gây viêm từng tuyến vú, Klebsiella spp gây viêm vú cấp tính và nhóm vi khuẩn E coli với nhiều type khác nhau đã được phân lập ở hầu hết các trường hợp viêm vú, độc tố của E coli sinh ra là nguyên
nhân gây viêm vú, mất sữa
Phương pháp chẩn đoán viêm vú bằng cách xác định độ tăng của men catalase và peroxidase:
Đây là hai loại enzyme oxy hóa quan trọng trong tế bào, khi các tế bào
Trang 24nang tuyến vú bị phá hủy, trong sữa có máu, mủ và hai loại enzyme này tăng theo tỉ lệ thuận Tùy mức độ tăng enzyme peroxidase và catalase nhiều hay ít, có thể kết luận viêm vú nặng hay nhẹ Khi có mặt H2O2, enzyme catalase và peroxidase sẽ oxy hóa nó và giải phóng ra oxy theo cơ chế phản ứng sau:
H2O2 H2O + ½ O2
Do giải phóng oxy, trong sữa có những bọt khí nổi lên dễ nhận ra Ngoài
ra người ta có thể dùng các chất chỉ thị màu để phát hiện có oxy hay không Các chất hay sử dụng là Pyramidone, Benzidine, Phenolphtalein Các chất chỉ thị màu này dễ bị đổi màu khi bị oxy hóa, cụ thể:
- Pyramidone từ mầu trắng chuyển thành mầu tím
- Benzidin từ mầu đen thành mầu xanh
- Phenonftalein từ mầu trắng chuyển thành mầu hồng
Phòng bệnh trị:
Phòng bệnh: Vệ sinh, sát trùng chuồng đẻ, đảm bảo đủ diện tích (4
m2/nái) và nền chuồng khô ráo, bằng phẳng, cắt răng nanh cho lợn con trong vòng 24 giờ sau đẻ; cung cấp đủ nước uống sạch
Trị bệnh: Có thể dùng một số thuốc kháng sinh như: Penicilline,
Streptomycine, Tremothoprime sulfat, Amoxycillin, Enrofloxacin và Ceftiofur, kết hợp các thuốc kháng viêm và tiêm 0,5ml Oxytoxin để kích thích tiết sữa
1.1.3 Mất sữa (Agalactia)
Trong thời kỳ chửa, các hormone prolactin tăng tiết và tác động tăng sinh tuyến vú, kết quả tuyến vú phát triển và tăng thể tích theo thời gian phát triển của bào thai Sau 3 tuần chửa bầu vú bắt đầu căng lên, các tuyến vú phát triển mạnh cho đến trước lúc đẻ 3 tuần, hormone prolactin tăng tiết cùng với sự tác động của nhau thai thông qua hormone progesterone Sữa bắt đầu được sản sinh ở trong các tuyến sữa Quá trình này được tạo ra ở các tuyến sữa, quá trình sinh tổng hợp
Catalase Peroxidase
Trang 25protein sữa (cezein), đường sữa (galactoza), mỡ sữa và các thành phần sinh dưỡng khác từ máu Sự hình thành sữa này được ưu tiên trong cơ thể của lợn mẹ Quá trình hình thành này tùy thuộc hoàn toàn vào lượng máu đi qua bầu vú, chính vì vậy ở những núm vú nào có hệ thống động tĩnh mạch lớn thì núm vú đó
có sản lượng sữa cao
Sau khi sữa được hình thành và tích trữ ở các túi sữa, khi xuất hiện các triệu chứng sắp đẻ, hormone oxytoxin được tiết ra và tác động lên tuyến sữa để thải sữa ra theo các ống đầu núm vú Sau khi đẻ, lợn con tìm vú mẹ và khi lợn con bú tạo cảm giác truyền về thần kinh trung ương đến vùng dưới đồi kích thích tuyến yên tiết oxytocine Oxytocine kích thích hệ cơ trơn đầu vú co bóp đẩy sữa
ra ngoài (Nguyễn Quang Linh, 2005)
Lượng sữa được tiết ra trong vòng 24 giờ sau đẻ gọi là sữa đầu (Rooke and Bland, 2002), lượng sữa đầu có sự khác nhau ở từng cá thể Trong một nghiên cứu được tiến hành bởi Devillers et al (2007) trên đàn lợn nái giống Landrace và Đại bạch đã xác định được lượng sữa đầu trong vòng 24 giờ sau đẻ trung bình 3,67 ± 0,14kg Sữa đầu có thành phần khác với sữa thường: Trong sữa đầu có 13,7% prealbumin; 11,48% albumin; 12,7% α-globulin; 11,29% β-globulin và 45,29% γ-globulin Đây chính là các kháng thể có chức năng miễn dịch cho lợn con nếu lợn con sau khi sinh ra được bú ngay sữa đầu
Sự tiết sữa không đều theo lứa đẻ: Sản lượng sữa tăng dần từ lứa 1 đến lứa 5 sau đó giảm dần
Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng và chất lượng của sữa gồm: Tình trạng sức khỏe, tình trạng dinh dưỡng, chăm sóc quản lý và yếu tố di truyền (Eliasson and Isberg, 2011)
Triệu chứng: Đối với nái: Bỏ ăn hoặc ăn ít; sốt nhẹ, bầu vú không phát
triển hoặc teo đi hoặc bị phù nề; không có sữa; lợn con chết đói do không có sữa Đối với lợn con: Kêu rít, gầy sút, da khô
Nguyên nhân: Hiện tượng mất sữa thường gặp ở lợn nái sau khi đẻ với
Trang 26những biểu hiện đặc trưng là núm vú bị teo dần và cứng lại, lợn con bị đói sữa kêu rít, liên tục đòi bú, thể trạng gầy sút, da khô, lợn mẹ không có sữa nằm sấp xuống để giấu bầu vú không cho con bú Chứng mất sữa thường do các nguyên nhân sau:
Lợn mẹ sót nhau, nhau còn sót trong tử cung, từ đó luôn tiết ra folliculin ngăn trở sự phân tiết prolactin làm cho tuyến vú không sinh sữa
Chứng mất sữa thường đi kèm trong các bệnh gây sốt cao như: Viêm tử cung có mủ, các trường hợp sốt do nguyên nhân khác như bệnh truyền nhiễm, viêm phổi, viêm vú,… cũng gây mất sữa hoàn toàn
Do lợn mẹ bị sụt giảm canxi huyết
Do đẻ khó làm quá trình sinh đẻ kéo dài tiêu hao nhiều năng lượng mà năng lượng ấy lại được lấy từ chất bột đường, chất bột đường không được chuyển hoá thành đạm, từ đạm thành sữa; do khẩu phần ăn thiếu chất bột đường nên khi chất bột đường bị cạn thì tuyến vú căng nhưng không có sữa
Thiếu vitamin C để đồng hoá chất bột đường thành đạm, gây viêm vú
Bệnh sốt sữa, bại liệt sau khi đẻ (Penny, 1970)
Nái béo do ăn quá nhiều trong giai đoạn mang thai, mỡ tích nhiều trong tuyến vú, chèn ép làm tuyến vú phát triển yếu, cho ăn nhiều trong giai đoạn mang thai dẫn đến sự chán ăn (bỏ ăn) sau khi đẻ
Trang 27Stress khi đẻ ↑Cortisol Suy giảm miễn dịch
↓ Oxytocin Viêm vú Vi khuẩn Ecoli xâm nhập vào tuyến vú
Viêm tử cung ↓ PGF 2α Nội độc tố Sốt
↓ Prolactin tiết ra từ tuyến yên
Mất sữa Hình 1.4 Cơ chế phát sinh chứng mất sữa
(Nguồn: Aruna Shrestha, 2012)
Điều trị: Các trường hợp mất sữa thường rất khó điều trị, biện pháp tốt
nhất là cai sữa đàn con sớm hoặc ghép bầy tách lợn nái Chỉ trong trường hợp kém sữa mới sử dụng các biện pháp kích thích lợn nái ăn, cung cấp đủ nước uống, truyền nước, tiêm Oxytocin Vì vậy nếu nái bị viêm tử cung hoặc sót nhau phải điều trị ngay, vì đó là những nguyên nhân gây mất sữa sau khi đẻ
1.2 Những nghiên cứu về hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa (MMA)
1.2.1 Trên thế giới
Theo Maes et al (2010), thuật ngữ Metritis, Mastitis, Agalactia (MMA.) được dùng rất thường xuyên trong các bài báo khoa học trước đây, ngày nay được xem như một loại PDS (hội chứng rối loạn tiết sữa sau đẻ ở lợn nái), có tỷ
lệ lưu hành 6,9% trong tổng số 16.450 lợn nái đẻ trong hơn 01 năm tại 31 đàn ở Illinois (Bäckström et al, 1984); trong 27.656 lợn nái đẻ của một nghiên cứu được tiến hành tại bang Missouri có tới 13% nái bị mắc MMA; tỷ lệ mắc theo đàn ở Thụy Điển biến động từ 5,5% ở đàn quy mô nhỏ và tới 10,3% ở đàn quy
mô lớn Ông cũng cho biết, một nghiên cứu mới đây ở 110 đàn lợn tại Bỉ cho
Trang 28thấy 34% số đàn có liên quan đến hội chứng MMA
Theo Aruna Shestha (2012), hội chứng MMA gây chết khoảng 2% nái nhưng tỷ lệ chết ở lợn con lên tới 80% do đói, ỉa chảy
Martineau et al (1992) đã miêu tả các triệu chứng lâm sàng ở lợn nái và lợn con như sau: Với lợn nái: Triệu chứng cục bộ như viêm vú, rối loạn tiết sữa, dịch rỉ viêm âm đạo; triệu chứng toàn thân gồm: sốt, ủ rũ, bỏ ăn hoặc ăn ít Với lợn con <1tuần tuổi: Tăng tỷ lệ chết, ỉa chảy, phát triển không đồng đều trong đàn;
Với lợn con >1tuần tuổi: Tăng trọng thấp, tăng tỷ lệ không đồng đều trong đàn
Với toàn đàn: Giảm số con/nái/năm
Steffen Hoy (2004), miêu tả triệu chứng đặc trưng đầu tiên là sốt >39,3 0 C kèm theo các triệu chứng lâm sàng khác: Giảm ăn, uống ít nước, vú sưng đỏ, nhiều dịch tiết âm đạo Khi so sánh giữa lợn nái mắc hội chứng MMA với lợn nái khỏe thì lợn mắc có tỷ lệ chậm động dục lại sau cai sữa (≥8 ngày) cao hơn (tương ứng 1,1% và 0,3%), tỷ lệ không thụ thai cao hơn (tương ứng 21,7% và 16,1%), tỷ lệ sẩy thai cao gấp 2 lần và tỷ lệ lợn con chết cao gấp 4 lần
Triệu chứng lâm sàng của lợn mắc hội chứng MMA gồm: Táo bón, sốt (thân nhiệt tăng từ 1 đến 1,50C), ăn ít hoặc bỏ ăn (1 đến 2 ngày) là những dấu hiệu đầu tiên dễ nhận biết cùng với hiện tượng bồn chồn, không cho con bú Rất
ít lợn nái xuất hiện tất cả các triệu chứng cùng lúc Một số trường hợp xuất hiện hiện tượng giảm tiết sữa, giảm tăng trọng ở lợn con (BPEX, 2011)
Theo Martin et al (1990), hội chứng xảy ra trong lúc lợn đẻ hoặc vài ngày sau khi đẻ với các biểu hiện: Thở nhanh, mệt mỏi, giảm ăn hoặc bỏ ăn, ít uống nước, sốt, nằm một chỗ, một phần hoặc toàn bộ vú bị sưng, sờ vào thấy ấm, tỷ lệ mắc trung bình 13,1 %; sự có mặt của mủ trong chất tiết âm đạo khi đẻ không khẳng định được lợn bị viêm tử cung vì theo tác giả, có tới hơn 60% lợn có triệu chứng lâm sàng bình thường có dịch tiết âm đạo, khi mổ khám lợn nái bị mất
Trang 29sữa, sự có mặt của chứng viêm tử cung là rất ít
Để kiểm soát tốt hội chứng MMA, phải dùng kháng sinh chống nhiễm khuẩn và sản phẩm kích thích tiết sữa đồng thời dùng thêm oxytocin, điều trị nên được phát hiện và tiến hành sớm khi nhiệt độ cơ thể nái >39,50C 12 - 18 giờ sau đẻ; để phòng bệnh chuồng trại phải được vệ sinh sạch sẽ, tăng cường vận động cho nái trước khi đẻ, tránh để nái quá béo, đảm bảo đủ nước uống trong suốt thời gian chửa và nuôi con 15 - 30 lít nước/nái/ngày
Tại Bồ Đào Nha, khi nghiên cứu những vấn đề ảnh hưởng đến năng suất của lợn nái sau đẻ tại 20 trại chăn nuôi tập trung (800 - 1000 nái /trại) trong 7 năm (1985 - 1992), người ta nhận thấy nguy cơ tấn công của các trại này là hội chứng MMA Qua theo dõi 347 nái, người ta chứng minh được khi giảm tỷ lệ lưu hành bệnh trong đàn sẽ tăng số lợn sơ sinh, tăng số lợn cai sữa trên nái và giảm tỷ lệ nái chết (Perestrelo et al, 1994)
Ognean et al (2010), khi nghiên cứu về huyết học, sinh hóa và tế bào sữa được thực hiện trên các mẫu máu và mẫu sữa của 55 lợn nái mắc MMA cho biết:
Tỷ khối huyết cầu trung bình 35,74% nằm trong giới hạn sinh lý, số lượng hồng cầu trung bình 5,78, protein tổng số nằm trong giới hạn sinh lý 7,0-9,8 g/dl, glucoza huyết 81,9 mg/dl có xu hướng giảm hơn mức sinh lý (95,9-70,2mg/dl) Một nghiên cứu khác (Lallemand Animal Nutrition, 2012) cho biết, có tương quan dương giữa nội độc tố trong sữa đầu với các triệu chứng lâm sàng của MMA (do đó, nội độc tố từ mẹ truyền sang con) Khi cho lợn mẹ mắc
MMA ăn Levucell® SB (S cerevisiae boulardii CNCM-I 1079) với hàm lượng
2×109 CFU/kg thức ăn, đã cho kết quả tốt để điều trị MMA
Kemper and Imke Gerjets (2009) thông báo vi khuẩn phân lập được trong
mẫu sữa lợn mắc là: E.coli 38,9%, Staphylococcus aureus 14,8%, Enterococus spp 33,3%, Klebsiella spp 3,7%, nhưng không có sai khác thống kê về hàm
lượng vi khuẩn phân lập được từ mẫu sữa lợn mắc MMA và lợn khỏe và tác giả
cũng gợi ý một tỷ lệ lớn vi khuẩn E.coli trong sữa bị nhiễm từ phân
Trang 301.2.2 Tại Việt Nam
Theo Nguyễn Như Pho (2002) tỷ lệ mắc hội chứng MMA hiện nay là 40
- 60% tại các trại chăn nuôi lợn quy mô lớn, trong đó chủ yếu là viêm tử cung Theo Lê Minh Chí Và Nguyễn Như Pho (1985), tại TP Hồ Chí Minh, có khoảng 33 - 62% lợn nái mắc sau khi sinh, trong đó chủ yếu là viêm tử cung và
các vi khuẩn sau đây gây nhiễm trùng tử cung và tuyến vú: E.coli, Staphylococcus aureus, Streptococcus spp, Klebsialla spp, Proteus mirabilis, Pseudomonas Đây là những vi trùng cơ hội thường có trong chuồng trại, khi lợn
sinh đẻ, tử cung, âm đạo xây xát, có nhiều sản dịch, sẽ xâm nhập và tấn công hệ thống niêm mạc sinh dục, gây nhiễm trùng
Theo Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010): Lợn nái ngoại nuôi theo mô hình trang trại tại các tỉnh phía Bắc Việt Nam, tỷ lệ mắc hội chứng khá cao dao động từ 47,39% đến 53,33% Trong đó lợn nái mắc thể điển hình là 6,45% Trong nghiên cứu này các tác giả cũng đã nghiên cứu ảnh hưởng của hội chứng đến năng suất sinh sản của lợn nái và thử nghiệm các phác đồ điều trị hội chứng MMA
Theo Nguyễn Quang Linh (2005), lợn con có răng nanh nhọn làm xây xát bầu vú mẹ, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập vào bầu vú, dẫn đến viêm vú Trong khẩu phần ăn có lượng đạm quá cao làm sản sinh nhiều sữa, lợn con bú không hết ứ lại trong vú là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển Có khi lợn mẹ chỉ cho con bú một hàng vú, do chuồng quá lạnh, nóng, cũng đều là nguyên nhân gây viêm vú Bệnh viêm vú thường xảy ra sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 7 - 10 ngày, có trường hợp đến một tháng
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2011), dụng cụ thụ tinh nhân tạo quá cứng sẽ gây xây xát và tạo ra các ổ viêm trong âm đạo, tử cung Tinh dịch bị nhiễm khuẩn, lợn đực giống bị viêm niệu quản và dương vật nên khi nhảy trực tiếp hoặc khai thác tinh nhân tạo sẽ truyền lây mầm bệnh cho lợn nái Rối loạn sinh sản do nhiều nguyên nhân gây nên Ngoài các nguyên nhân cơ học, hóa học, sinh
Trang 31học thông thường như vận động, hormone, dinh dưỡng, ký sinh trùng, phải kể đến các nguyên nhân do vi rút và vi khuẩn
Theo Nguyễn Văn Thanh (2003), sau khi sinh, lợn mẹ bị mất sức nhiều do mất nước, mất máu và ăn kém Trong những lứa đẻ đầu lợn nái thường bị rách
âm đạo nên bị viêm nhẹ gây sốt nóng, làm giảm sữa Ở những lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng tay thì hầu như 100% bị viêm tử cung
Theo Nguyễn Như Pho (2002), bệnh viêm vú do nhiều nguyên nhân nhưng đa số là do vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh Các loại vi khuẩn đều có thể gây viêm vú nhưng chủ yếu vẫn là liên cầu khuẩn 86%; tụ cầu khuẩn 5,4%; trực
cầu khuẩn sinh mủ 2,7%; E Coli 1,2%; các vi khuẩn khác 4,7%
Theo Nguyễn Văn Thanh (2003), đàn lợn nái ngoại nuôi tại một số trang trại ở đồng bằng Sông Hồng có tỷ lệ mắc hội chứng MMA trung bình 50,20% Theo đó, khi khảo sát 237 lợn nái ngoại bị viêm tử cung thấy tỷ lệ này ở những nái đẻ lứa đầu và nái đẻ qua nhiều lứa, từ lứa thứ 8 trở đi, cao hơn các lứa khác Nguyên nhân theo tác giả ở những nái đẻ lứa đầu xoang chậu còn hẹp nên dễ dẫn đến đẻ khó phải can thiệp bằng tay và các dụng cụ trợ sản dẫn tới làm xây sát niêm mạc tử cung gây viêm tử cung Những nái đẻ lứa thứ 8, 9 trương lực cơ tử cung giảm dẫn tới sự co bóp của tử cung yếu, không đủ cường độ để đẩy hết các sản phẩm trung gian sau khi đẻ ra ngoài, sự hồi phục cổ tử cung chậm, cổ tử cung đóng muộn tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm Tác giả còn cho biết khi lợn nái bị viêm tử cung thì thân nhiệt và tần số hô hấp tăng, đặc biệt là
sự xuất hiện của dịch đường sinh đục Dịch này có màu trắng, hồng hay nâu đỏ lẫn nhiều lợn cợn, mùi tanh
Kết quả nghiên cứu mối tương quan giữa tỷ lệ mắc viêm tử cung ở lợn mẹ
và hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên và Hà Nội cho thấy: Đàn lợn con được sinh ra từ những nái mắc hội chứng MMA bị mắc bệnh tiêu chảy với tỷ lệ khá cao, trung bình 53,34% (51,11 - 55,56%) Trong khi
đó đàn lợn con được sinh ra từ những nái mẹ bình thường tỷ lệ lợn con mắc bệnh
Trang 32tiêu chảy thấp hơn nhiều 26,67% (24,44 - 28,89%) Nguyên nhân là do khi lợn nái mẹ bị viêm tử cung làm cho thành phần sữa thay đổi đột ngột Thêm vào đó,
do hệ thống tiêu hóa của lợn con chưa phát triển hoàn hảo dẫn đến rối loạn tiêu hóa gây tiêu chảy (Nguyễn Văn Thanh, 2003)
Theo Nguyễn Văn Thanh (2003), khi tiêm PGF2α kết hợp với lugol 0,1% thụt rửa tử cung ngày 1 lần cho hiệu quả rất cao, rút ngắn thời gian điều trị cũng như thời gian động dục lại của lợn nái Tác giả cho biết, PGF2α tạo ra những cơn co bóp nhẹ giống những cơn co bóp sinh lý ở tử cung, giúp đẩy các chất bẩn và dịch rỉ viêm ra ngoài, nhanh chóng hồi phục cơ tử cung, phá vỡ thể vàng giúp gia súc động dục trở lại Kết hợp với Iodine trong Lugol có tác dụng sát trùng, đồng thời qua niêm mạc tử cung Iodine được hấp thu giúp cơ tử cung hồi phục nhanh chóng, buồng trứng hoạt động, noãn bao phát triển, làm xuất hiện lại chu kỳ động dục
1.3 Ảnh hưởng của hội chứng MMA
1.3.1 Khả năng sinh sản của lợn nái
Hội chứng MMA có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái, không chỉ tác động tức thời đến lợn nái mà còn làm giảm khả năng sinh sản của lợn nái ở các lứa đẻ tiếp theo Cụ thể:
- Bệnh có thể làm tổn thương các cơ quan sinh sản, làm lợn nái chậm hoặc không động dục, giảm khả năng đậu thai, dễ sẩy thai, đẻ non hoặc thai bị dị hình Bệnh nặng có thể làm cho lợn nái mất khả năng sinh sản
- Gây rối loạn hệ nội tiết, các chất kích tố ở lợn mẹ tiết ra không bình thường, buồng trứng phát triển không đều, trứng không rụng hoặc rụng ít Do vậy lợn nái sẽ chậm hoặc không động dục, phối nhiều lần không đậu thai hoặc
có đậu nhưng số con ít Từ đó làm giảm số lứa đẻ/năm, giảm số con/lứa đẻ,
- Khi bộ máy sinh dục bị bệnh, sẽ gây khó khăn cho quá trình thụ thai, làm biến đổi chức năng sinh sản của gia súc, tăng tỷ lệ vô sinh, tăng chi phí nuôi dưỡng đàn nái, từ đó giảm hiệu quả chăn nuôi trên một đầu nái
- Làm giảm thời gian sử dụng con nái, gia tăng số lợn nái bị loại thải sớm, giảm số lượng đầu nái
Trang 331.3.2 Sinh trưởng và phát triển của lợn con
Hội chứng MMA xảy ra trên lợn nái và thường trong giai đoạn đang nuôi con Do vậy hội chứng này còn tác động rất lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của lợn con ngay cả trong giai đoạn theo mẹ và sau khi cai sữa
Lợn con theo mẹ, nhất là từ mới sinh đến 21 ngày tuổi, chịu tác động rất lớn từ nguồn sữa mẹ Bất kỳ sự thay đổi nào về số lượng và chất lượng của sữa
mẹ đều tác động trực tiếp đến sinh trưởng và phát triển của lợn con Những tác động này sẽ làm cho các cơ quan trong cơ thể lợn con bị ảnh hưởng, nhất là các
cơ quan của hệ tiêu hoá vì sức đề kháng của lợn con thấp, dẫn đến khi cai sữa thì sinh trưởng, phát triển của chúng cũng bị giảm sút, khả năng mắc bệnh cao
- Khi lợn mẹ mắc hội chứng MMA, lượng sữa giảm sút, lợn con không đủ sữa bú, còi cọc, lớn không đều, tăng tỷ lệ tiêu tốn thức ăn trên lứa Lợn con chậm lớn còn làm kéo dài thời gian cai sữa
- Thành phần sữa từ lợn mẹ mắc hội chứng MMA cũng có thay đổi Lợn con bú sữa này sẽ bị rối loạn tiêu hoá, tiêu chảy phân trắng Theo Nguyễn Như Pho (2002), tình trạng tiêu chảy của lợn con tăng cao trên lợn nái bị mắc hội chứng MMA
Theo Nguyễn Văn Thanh (2003), đàn lợn con được sinh ra từ những nái mắc bệnh viêm tử cung, sẽ mắc bệnh tiêu chảy với tỷ lệ khá cao Đó là do khi lợn mẹ bị viêm tử cung, thành phần sữa thay đổi đột ngột Thêm vào đó, do hệ thống tiêu hóa của lợn con chưa phát triển hoàn hảo dẫn đến rối loạn tiêu hóa gây tiêu chảy
- Những lợn con của nái bị hội chứng MMA có sức đề kháng thấp, dễ mắc một số bệnh như còi xương, xương dị dạng, tỷ lệ lợn con mắc các bệnh khác trong đàn tăng cao Ngoài ra sau khi cai sữa các lợn con này cũng ăn ít, chậm lớn, dễ bị tiêu chảy và mắc các bệnh khác
Như vậy hội chứng MMA có tác động rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái cũng như đến khả năng sinh trưởng, phát triển của đàn lợn con, làm tăng chi phí giá thành chăn nuôi, giảm hiệu quả kinh tế đối với người chăn nuôi lợn
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đàn lợn nái sinh sản nuôi tập trung tại một số trang trại của một số tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng
- Đàn lợn con được sinh ra từ các nái được nghiên cứu
2.2 Địa điểm nghiên cứu
- Một số trại chăn nuôi lợn giống tập trung tại các tỉnh: Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên và Hà Nội
- Phòng Thí nghiệm trọng điểm Công nghệ Sinh học Thú y, Học Viện Nông nghiệp Việt Nam
- Phòng Thí nghiệm khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng Thủy sản, Học Viện Nông nghiệp Việt Nam
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Xác định một số biểu hiện lâm sàng của lợn nái mắc MMA
2.3.2 Thực trạng tình hình mắc hội chứng MMA trên đàn lợn nái sau sinh
+ Xác định tỷ lệ lợn nái mắc hội chứng MMA tại một số địa phương thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng
+ Ảnh hưởng của lứa đẻ đến tỷ lệ mắc hội chứng MMA
+ Ảnh hưởng mùa vụ đến tỷ lệ mắc hội chứng MMA
2.3.3 Theo dõi một số chỉ tiêu sinh lý máu và các thành phần hóa học trong sữa của lợn nái mắc MMA
+ Sự thay đổi một số chỉ tiêu sinh lý máu của lợn nái mắc hội chứng MMA + Sự biến đổi một số chỉ tiêu chất lượng, thành phần hóa học trong sữa của lợn nái mắc hội chứng MMA
2.3.4 Ảnh hưởng hội chứng MMA đến năng suất sinh sản của lợn nái:
Thời gian động dục lại, tỷ lệ động dục lại, số lợn con sơ sinh/ổ; số lợn con sinh ra còn sống/24h; số lợn con cai sữa; trọng lượng lợn con cai sữa
Trang 352.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Xác định một số biểu hiện lâm sàng
+ Dựa vào triệu chứng lâm sàng:
- Đo thân nhiệt: Thân nhiệt được đo bằng nhiệt kế điện tử của hãng Omron model MC - 240, đo qua trực tràng vào sáng và chiều
- Quan sát trạng thái bầu vú: Vú viêm căng cứng, đỏ, ấm, đau khi sờ nắn
- Lượng sữa: Sữa ít hoặc mất sữa, biểu hiện ở lợn mẹ là nằm úp bụng xuống sàn, tránh cho con bú, đàn con kêu rít do đói; lợn mẹ ăn ít hoặc bỏ ăn,… + Chẩn đoán viêm tử cung: Chúng tôi sử dụng theo phương pháp của Trần Tiến Dũng, Nguyễn Văn Thanh (2002): Các chỉ tiêu chấn đoán viêm tử cung dựa vào tính chất dịch viêm, quan sát: Màu, mùi Dịch viêm tử cung có màu trắng xám, trắng sữa hoặc màu hồng, nâu đỏ; mùi tanh, tanh thối hoặc thối khắm; + Chẩn đoán viêm vú: Theo Hồ Văn Nam và cs (1997); Trần Tiến Dũng
và cs (2002), kiểm tra viêm vú lợn bằng phản ứng nước oxy già (H2O2) với men catalaza và peroxydaza cách tiến hành như sau:
Sát trùng bầu vú lợn bằng cồn 700C, vắt bỏ vài tia sữa đầu, sau đó lấy 1ml sữa cho vào khay thử, nhỏ vài giọt nước oxy già, trộn đều rồi quan sát, dựa vào mức độ sủi bọt của sữa và vào chất chỉ thị màu phenolphtalein ta có kết luận: Âm tính (không viêm vú) nếu sữa không sủi bọt và chất chỉ thị màu không đổi màu; dương tính (viêm vú) nếu sữa có sủi bọt và chất chỉ thị màu chuyển từ màu trắng sang màu hồng
2.4.2 Sử dụng phương pháp điều tra hồi cứu để nắm được tình hình dịch tễ của lợn mắc hội chứng tại các trang trại được điều tra
- Xây dựng phiếu điều tra: Xác định số lợn nghi mắc bệnh tại thời điểm điều tra
- Căn cứ hồ sơ lợn nái tại trại nghiên cứu
- Theo dõi trực tiếp và phỏng vấn kỹ sư chăn nuôi, bác sỹ thú y và người chăn nuôi
Trang 362.4.3 Phương pháp lấy mẫu
Đối với mẫu máu dùng cho xét nghiệm các chỉ tiêu sinh lý: Cố định lợn bằng cách tròng mõm, lấy 5 ml máu từ vĩnh tĩnh mạch cổ bằng xy lanh vô trùng rồi cho vào ống nghiệm có chứa chất chống đông, đậy nắp, ghi nhãn mác, bảo quản lạnh, vận chuyển đến phòng thí nghiệm
Đối với mẫu máu dùng cho xét nghiệm các chỉ tiêu sinh hóa: Máu lấy vào buổi sáng trước khi cho lợn ăn, lấy 5 ml máu từ tĩnh mạch cổ bằng xy lanh
vô trùng, kéo xy lanh ra để tạo khoảng trống và đặt nghiêng 450 cho máu đông rồi chắt huyết thanh vào ống nghiệm, đậy nắp, ghi nhãn mác, bảo quản ở 2
- 80C, vận chuyển đến phòng thí nghiệm
Đối với mẫu sữa: sữa được vắt bằng tay hoặc dụng cụ vắt sữa từ các núm
vú của lợn ngay sau đẻ sau khi được vô trùng bằng cồn 700C, các dòng sữa đầu tiên được bỏ đi, lấy 5ml của những dòng sữa tiếp theo vào ống nghiệm, đậy nắp, ghi nhãn mác Mẫu được bảo quản ở nhiệt độ 40C trước khi chuyển đến phòng thí nghiệm trong vòng 48 giờ
2.4.4 Phương pháp xác định các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái
- Thời gian động dục sau cai sữa: là thời gian con mẹ thôi cho bú đến khi động dục trở lại
- Tỷ lệ động dục lại (%) = Số nái động dục trở lại x 100
Số nái theo dõi
- Tỷ lệ đậu thai sau một chu kỳ(%) = Số nái đậu thai sau một chu kỳ x 100
Số nái động dục trở lại
- Số lợn con sinh ra: tổng số lợn con sinh ra của số nái khảo sát
- Bình quân số lợn con sinh ra còn sống sau 24h/ổ = (tổng số lợn con sinh ra - số lợn con chết trước 24h)/số nái khảo sát
- Số lợn con cai sữa: tổng số lợn con còn sống khi cai sữa của tổng số nái khảo sát
- Bình quân số lợn con cai sữa/ổ =
Số lượng lợn con cai sữa
Số nái theo dõi
Trang 372.4.5 Các phương pháp dùng trong xét nghiệm một số chỉ tiêu sinh lý máu:
Xét nghiệm các chỉ tiêu sinh lý máu bằng máy phân tích 18 chỉ tiêu tại phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ sinh học Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2.4.6 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu chất béo, protein, đường, vật chất khô, pH của sữa
Thành phần hóa học của sữa như: Chất béo, protein, đường lactose, tổng vật chất khô được phân tích bằng máy phân tích nhanh MilkoScan FT 120 Đây
là thiết bị chuyên dùng để phân tích sữa với thời gian phân tích là 30 giây Máy được cung cấp bởi hãng Foss Electric của Mỹ
Máy MilkoScan FT 120 được sử dụng kèm với máy vi tính Hoạt động của máy được điều khiển bằng phần mềm vi tính, cho kết quả phân tích hiển thị
ra màn hình dưới dạng cột
Nguyên tắc hoạt động máy MilkoScan FT 120
Máy MilkoScan FT 120 phân tích thành phần hóa học của mẫu sữa dựa vào dụng cụ đo giao thoa phổ hồng ngoại FTIR (Fourier Transform Infrared Spectrocopy) FTIR quét trên một dãy phổ hồng ngoại đầy đủ cho những chất hóa học cần phân tích Thu thập tất cả dữ liệu từ dãy quang phổ này cùng phân tích một lúc bằng bộ phận hồng ngoại (IR analysis) Sự phân tích này dựa trên sự
so sánh dãy phổ hồng ngoại thu được với dãy phổ hồng ngoại chuẩn mà người sử dụng đã định sẵn Trình tự phân tích như sau:
Nguồn tia laser phát ra kích hoạt nguồn hồng ngoại phát ra tia hồng ngoại Tia hồng ngoại này đi qua bộ phận tách tia (beam splitter) tạo thành hai tia sáng
đi tới hai gương phẳng Tới gương, hai tia sáng sẽ phản xạ lại và đi tới cốc chứa mẫu Hai tia sáng được mẫu sữa hấp thu và phát thành hai luồng sáng đặc trưng cho mẫu, hai luồng sáng này sẽ giao thoa với nhau tạo thành phổ giao thoa hồng ngoại Phổ được ghi bằng dụng cụ đo giao thoa (enterferometer) Nhờ nguyên lý toán học Fourier (thực hiện được 10 phép tính/1giây), phổ giao thoa được
Trang 38chuyển thành 1 dãy phổ đầy đủ đặc trưng cho mẫu cần phân tích dưới dạng hình sin có tần số và biên độ xác định Dãy phổ này sẽ được so sánh với dãy phổ chuẩn tại bộ phận phân tích hồng ngoại (IR analysis) mà người sử dụng đã hiệu chỉnh sẵn Từ kết quả này sẽ đưa ra kết quả thành phần hóa học của mẫu sữa cần phân tích
Đo pH sữa
Dùng pH kế cầm tay (Pocket pH Meter), cách đo như sau:
- Lấy khoảng 5ml sữa vào ống nghiệm sạch, để mẫu ở nhiệt độ phòng
- Cho đầu đo của dụng cụ đo pH vào ống nghiệm có sữa
- Để 1 phút trong ống đựng sữa
- Đọc kết quả: Độ pH chính là số đo hiển thị trên màn hình của dụng cụ
2.4.7 Phương pháp theo dõi ảnh hưởng của hội chứngMMA đến năng suất sinh sản
Thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp chia nhóm: Nhóm 1 gồm nái mắc bệnh, nhóm 2 gồm nái không mắc bệnh trong cùng điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý, các chỉ tiêu theo dõi bao gồm: Thời gian động dục lại sau cai sữa, tỷ lệ đậu thai sau 1 chu kỳ, số lợn con sinh ra, bình quân số lợn còn sống sau 24 giờ/ổ, bình quân số lợn cai sữa/ổ, trọng lượng lợn con cai sữa
2.4.8 Xử lý số liệu
Số liệu được thu thập và xử lý thống kê sinh vật học của Nguyễn Văn Thiện (2002) và bằng chương trình phần mềm Microsolf Excel, phân tích bằng phần mềm Minitab 16
So sánh phân tích số liệu và kiểm định bằng χ2