1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phát triển nghề nuôi ong mật ở hộ nông dân huyện nho quan, tỉnh ninh bình

112 522 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 19,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giá trị kinh tế do việc ong thụ phấn mang lại cho sản xuất nông nghiệp còn lớn hơn hàng chục lần so với giá trị của tất cả các sản phẩm của đàn ong Carane, 1990 Việt Nam nằm trong khu vự

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

PHẠM THỊ HỒNG GIANG

PHÁT TRIỂN NGHỀ NUÔI ONG MẬT Ở HỘ NÔNG DÂN

HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

-

PHẠM THỊ HỒNG GIANG

PHÁT TRIỂN NGHỀ NUÔI ONG MẬT Ở HỘ NÔNG DÂN

HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH

Chuyên ngành: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Mã số: 60.62.01.15

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN THỊ MINH HIỀN

Hà Nội, năm 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa hề được bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

TÁC GIẢ

Phạm Thị Hồng Giang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn Thạc sĩ “Phát triển nghề nuôi ong mật ở hộ

nông dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình”, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự dạy bảo, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, các

tổ chức, cá nhân trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo PGS-TS Nguyễn Thị Minh Hiền - người đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân huyện Nho Quan, phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Nho Quan đã hỗ trợ tôi trong quá trình tìm hiểu, thu thập, phân tích số liệu, hoàn thành luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Bộ môn Phát triển nông thôn đã tận tình giúp đỡ tôi trong học tập cũng như nghiên cứu để hoàn thành đề tài này

Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2014

Tác giả luận văn

Phạm Thị Hồng Giang

Trang 5

2.1.3 Nội dung của phát triển nghề nuôi ong mật ở hộ 14 2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nghề nuôi ong mật ở hộ 14

2.2.3 Các nghiên cứu có liên quan đến phát triển nuôi ong 25 2.2.4 Một số nhận xét rút ra từ nghiên cứu tổng quan 27 PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

Trang 6

3.2 Phương pháp nghiên cứu 36

4.1 Thực trạng phát triển nghề nuôi ong mật ở hộ nông dân huyện

4.1.1 Khái quát sự phát triển nghề nuôi ong mật ở huyện Nho Quan 40 4.1.2 Thông tin chung về hộ và nguồn lực của hộ nuôi ong mật huyện

4.1.3 Sự phát triển về số lượng và cơ cấu đàn ong của hộ 48

4.1.5 Sử dụng đầu vào và tiêu thụ sản phẩm ở hộ nuôi ong 56

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nghề nuôi ong mật ở hộ 71 4.2.1 Quy mô và tập quán và trình độ của hộ nuôi ong 71

4.2.6 Phân tích SWTO trong phát triển nghề nuôi ong của hộ 75 4.3 Định hướng và các giải pháp phát triển nghề nuôi ong mật 77

Trang 7

4.5 Số hộ, số đàn và sản lượng mật ong của toàn huyện Nho Quan 49

4.10 Cơ cấu kết quả sản xuất nghề nuôi ong của hộ điều tra 65

4.12 So sánh kết quả và hiệu quả của nghề nuôi ong và sản xuất

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 10

PHẦN I MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Nuôi ong mật là một nghề nông nghiệp đặc biệt có giá trị kinh tế cao bởi những lợi ích mà ngành nuôi ong mang lại là rất lớn Nuôi ong không những tạo ra sinh kế bền vững, là nguồn thu nhập quan trọng cho người nông dân,

mà còn tạo ra việc làm cho nhiều người ở nhiều lứa tuổi khác nhau Khác với những ngành chăn nuôi khác (chăn nuôi lợn, gia cầm) cần vốn đầu tư lớn về chuồng trại, thức ăn, chi phí thú y , thì ngành chăn nuôi ong lại không cần vốn đầu tư nhiều, có thể tận dụng được các nguyên vật liệu rẻ tiền, sẵn có để làm thùng nuôi; không tốn thức ăn vì thức ăn chủ yếu của ong là mật hoa và phấn hoa của các loại cây trồng tự nhiên do ong tự bay đi lấy về Các sản phẩm từ con ong đem lại giá trị dinh dưỡng cao cho con người như mật ong, phấn hoa, sữa ong chuá, sáp ong, keo ong ngoài ra các sản phẩm này còn dùng để làm thuốc, chế mỹ phẩm và là nguyên liệu trong nhiều ngành công nghiệp khác Bên cạnh đó, nuôi ong còn tạo ra sự đa dạng và phong phú của các loại cây trồng; bảo vệ môi trường sinh thái bởi ong tham gia tích cực trong việc thụ phấn chéo cho cây trồng, làm tăng năng suất và sản lượng cây trồng Giá trị kinh tế do việc ong thụ phấn mang lại cho sản xuất nông nghiệp còn lớn hơn hàng chục lần so với giá trị của tất cả các sản phẩm của đàn ong (Carane, 1990)

Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, khí hậu nóng ẩm, thảm thực vật phong phú đa dạng cùng với thời tiết ấm áp là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nghề nuôi ong mật Ở nước ta nghề nuôi ong mật đã trở thành một ngành sản xuất hàng hóa mang lại nhiều lợi ích cả về mặt kinh tế, xã hội

và môi trường Nho Quan là một huyện miền núi phía tây bắc của tỉnh Ninh Bình, là huyện có nhiều khó khăn trong sản xuất nông nghiệp nhưng lại có

Trang 11

tiềm năng sinh thái để phát triển nghề nuôi ong mật Phát triển nghề nuôi ong mật tại Nho Quan là một biện pháp tích cực để khai thác hiệu quả những tiềm năng về trữ lượng cây nguồn phấn, cây nguồn mật, cũng như những điều kiện thuận lợi về thiên nhiên, khí hậu và nguồn lao động hiện có của tỉnh Qua đó thu được nhiều loại sản phẩm quý có giá trị kinh tế cao để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu, đồng thời tạo ra được nhiều việc làm, giúp cho người dân tăng thêm thu nhập để cải thiện đời sống Tuy nhiên, quá trình phát triển nuôi ong và tiêu thụ sản phẩm từ ong mật ở huyện Nho Quan vẫn đang đối diện với một số khó khăn, thách thức: Qui mô nuôi nhỏ lẻ, phân tán, tự phát; Việc phát triển chưa gắn với thị trường, tiêu thụ sản phẩm từ ong mật diễn ra tại các gia đình (bán tại chỗ) Vì vậy, hiệu quả kinh tế của người sản xuất thấp Do đó, việc nghiên cứu phát triển, đánh giá hiệu quả kinh tế, phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển nuôi ong mật là rất cần thiết Chính vì

vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Phát triển nghề nuôi ong mật ở

hộ nông dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng, tiềm năng và các nhân tố tác động đến phát triển nuôi ong mật của huyện nho quan tỉnh Ninh Bình Từ đó đưa ra một số giải pháp phát triển nghề nuôi ong cho hộ nông dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình

Trang 12

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển ngành nuôi ong mật của hộ

nông dân huyện Nho Quan trong những năm tới

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề kinh tế, quản lý về việc phát triển nghề nuôi ong mât của huyện Nho Quan

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu về:

- Thực trạng nuôi ong mật của hộ nông dân huyện Nho Quan

- Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nghề nuôi ong của hộ nông dân

- Định hướng và các giải pháp nhằm phát triển nghề nuôi ong mật của

hộ nông dân huyện Nho Quan

Về không gian: Đề tài được triển khai nghiên cứu trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, các nội dung chuyên sâu được khảo sát tại các hộ nông dân điển hình ở 03 xã đại diện

Về thời gian: các dữ liệu về thực trạng phát triển nghề nuôi ong của hộ nông dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình được thu thập từ năm 2011-2013

Các giải pháp phát triển nghề nuôi ong mật của hộ nông dân huyện có thể áp dụng từ năm 2014-2019

Trang 13

PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

2.1.1.1 Khái niệm về phát triển

Ngày nay có nhiều quan niệm khác nhau về sự phát triển: phát triển là quá trình làm tăng thêm năng lực của con người hoặc môi trường để đáp ứng nhu cầu của con người hoặc nâng cao chất lượng cuộc sống con người Sản phẩm của sự phát triển là con người được khỏe mạnh, được chăm sóc sức khỏe tốt, có nhà ở và tiện nghi sinh hoạt, được tham gia vào hoạt động sản xuất theo chuyên môn đào tạo và được hưởng thụ các thành quả của quá trình phát triển Như vậy phát triển không chỉ bao hàm việc khai thác và chế biến các nguồn tài nguyên, xây dựng cơ sở hạ tầng, mua và bán sản phẩm mà còn bao gồm các hoạt động không kém phần quan trọng như chăm sóc sức khỏe,

an ninh xã hội, đặc biệt là an ninh con người, bảo tồn thiên nhiên, phát triển

là một tổ hợp các hoạt động, một số mục tiêu xã hội, một số mục tiêu kinh tế, dựa trên tài nguyên thiên nhiên, vật chất, tí tuệ nhằm phát huy hết khả năng của con người, được hưởng cuộc sống tốt đẹp hơn

Tuy có nhiều quan niệm về sự phát triển, nhưng tựu trung lại các ý kiến đều cho rằng: phạm trù của sự phát triển là phạm trù vật chất, phạm trù tinh thần, phạm trù về hệ thống giá trị của con người Mục tiêu chung của phát triển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và quyền

tự do công dân của mọi người dân

2.1.1.2 Khái niệm tăng trưởng và phát triển kinh tế

Tăng trưởng kinh tế được coi là tiền đề cần thiết cho sự phát triển Tăng trưởng kinh tế được quan niệm là sự tăng thêm (hay gia tăng) về quy mô sản lượng nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Do vậy, để biểu thị sự tăng

Trang 14

trưởng kinh tế, người ta dùng mức tăng thêm của tổng sản lượng nền kinh tế tính toàn bộ hay tính bình quân theo đầu người của thời kỳ sau so với thời kỳ trước Đó là mức phần trăm (%) hay tuyệt đối hàng năm, hay bình quân trong một giai đoạn

Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề

về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia Theo cách hiểu như vây, phát triển là một quá trình lâu dài và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết đinh Nội dung phát triển kinh tế được khái quát theo ba tiêu thức:

Một là: sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình quân trên một đầu người Đây là tiêu thức thể hiện quá trình biến đổi về lượng của của nền kinh tế, là điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất của một quốc gia và thực hiện mục tiêu khác của phát triển

Hai là: sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế Đây là tiêu thức phản ánh sự biến đổi về chất của nền kinh tế một quốc gia Để phân biệt các giai đoạn phát triển kinh tế hãy so sánh trình độ phát triển giữa các nước với nhau, người ta thường dựa vào dấu hiệu về dạng cơ cấu ngành kinh tế mà quốc gia đạt được

Ba là: sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội Mục tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế trong các quốc gia không phải là tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà là việc xóa đói giảm nghèo, suy dinh dưỡng, tăng tuổi thọ bình quân, nâng cao trình độ dân trí, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, khoa học, kỹ thuật Hoàn thiện các tiêu chí trên là sự thay đổi về chất xã hội của quá trìn phát triển

* Phát triển kinh tế theo chiều rộng: phát triển kinh tế bằng cách tăng số

lượng lao động, khai thác thêm các nguồn tài nguyên thiên nhiên,tăng thêm tài sản cố định và tài sản lưu động trên cơ sở kỹ thuật như trước Trong điều kiện một nước kinh tế chậm phát triển, những tiềm năng kinh tế chưa được

Trang 15

khai thác và sử dụng hết, nhất là người lao động chưa có việc làm thì phát triển kinh tế theo chiều rộng là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng, nhưng đồng thời phải phát triển kinh tế theo chiều sâu Tuy nhiên, phát triển kinh tế theo chiều rộng có những giới hạn, mang lại hiệu quả kinh tế thấp Vì vậy, phương hướng phát triển lâu dài là phát triển kinh tế theo chiều sâu

* Phát triển kinh tế theo chiều sâu: Phát triển kinh tế chủ yếu nhờ đổi mới

thiết bị, áp dụng khoa học kỹ thuật, nâng cao trình độ, cải tiến tổ chức sản xuất và phân công lao động, sử dụng hợp ly các nguồn tài nguyên thiên nhiên hiện có Trong điều kiện hiện nay những nhân tố phát triển theo chiều rộng đang cạn dần, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới ngaỳ càng phát triển mạnh với những tiến bộ mới về công nghệ, tin học, khoa học kỹ thuật, công nghệ sinh học đã thúc đẩy các nước coi trọng chuyển sang phát triển kinh tế theo chiều sâu được biểu hiện ở các chỉ tiêu: tăng hiệu quả kinh tế, tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, giảm hàm lượng vật tư và tăng hàm lượng chất xám, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng hiệu suất của đồng vốn, tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân theo đầu người

Ở Việt Nam và một số nước chậm phát triển, do điều kiện khách quan có tính chất đặc thù, kinh tế chậm phát triển, nên phát triển kinh tế theo chiều rộng vẫn còn đóng vai trò quan trọng Nhưng để mau chóng khắc phục sự lạc hậu, đuổi kịp tốc độ phát triển của các nước trên thế giới, trước hết là các nước trong khu vực, phát triển theo chiều sâu phải được coi trọng và kết hợp chặt chẽ với phát triển theo chiều rộng trong phạm vi cần thiết và điều kiện cho phép

*Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển kinh tế

Có nhiều nhân tố khác nhau liên quan đến quá trình phát triển kinh tế, việc nghiên cứu cần thiết phải phân thành hai nhóm với tính chất và nội dung tác động khác nhau đó là nhân tố kinh tế và nhân tố phi kinh

Trang 16

- Nhân tố kinh tế

Đây là nhân tố có tác động trực tiếp đến các biến số đầu vào và đầu ra của nền kinh tế Có thể biểu hiện mối quan hệ đó bằng hàm số sau:

Y = F (Xi) Trong đó: Y: Giá trị đầu ra

Xi : Là giá trị các biến số đầu vào Trong nền kinh tế thị trường, giá trị đầu ra của nền kinh tế phụ thuộc vào sức mua và khả năng thanh toán của nền kinh tế, tức là tổng cầu, còn giá trị các biến số đầu vào có liên quan trực tiếp đến tổng cung, tức là các yếu tố nguồn lực tác động trực tiếp

Hàm sản xuất trên nói lên sản lượng tối đa có thể sản xuất được tuỳ thuộc vào các đầu vào trong điều kiện trình độ kỹ thuật và công nghệ nhất định Mỗi một yếu tố (biến số) có vai trò nhất định trong việc tạo ra sự gia tăng sản lượng, do trình độ phát triển kinh tế mỗi nơi, mỗi lúc quyết địn

- Các nhân tố phi kinh tế

Khác với các nhân tố kinh tế, các nhân tố chính trị, xã hội, thể chế hay còn gọi là các nhân tố phi kinh tế có tính chất và nội dung tác động khác ảnh hưởng của chúng là gián tiếp và không thể lượng hoá cụ thể được mức độ tác động của nó đến TTKT do vậy không thể tiến hành tính toán, đối chiếu cụ thể được, nó có phạm vi ảnh hưởng rộng và phức tạp trong xã hội, không thể đánh giá một cách riêng rẽ mà mang tính tổng hợp, đan xen, tất cả lồng vào nhau, tạo nên tính chất đồng thuận hay không đồng thuận trong quá trình tăng trưởng và PTKT đất nước Chính vì vậy mà người ta không thể phân biệt và đánh giá phạm vi, mức độ tác động của từng nhân tố đến nền kinh tế

Có rất nhiều nhân tố phi kinh tế tác động đến tăng trưởng và phát triển như: Thể chế chính trị – xã hội, cơ cấu gia đình, dân tộc, tôn giáo trong xã hội, các đặc điểm tự nhiên khí hậu, địa vị của các thành viên trong cộng đồng

và khả năng tham gia của họ vào quản lý phát triển đất nước

Trang 17

Như vậy để tạo ra sự tăng trưởng và phát triển sản xuất chúng ta không những chỉ chú ý đến các yếu tố vật chất của sản xuất mà cần quan tâm đến các thể chế, chính sách, cách tổ chức của người nông dân (hay còn gọi là các yếu

tố phi kinh tế)

2.1.1.3 Khái niệm về sản xuất

Sản xuất là hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người Sản xuất xã hội bao gồm: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người Ba quá trình đó gắn bó chặt chẽ với nhau, trong đó sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội

Sản xuất là quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội Trong sản xuất con người phải đấu tranh với thiên nhiên, tác động lên những vật chất làm thay đổi những vật chất sẵn có nhằm tạo ra lương thực, thực phẩm và những của cải vật chất khác phục vụ cuộc sống

Sản xuất là quá trình phối hợp và điều hòa các yếu tố đầu vào (tài nguyên hoặc các yếu tố sản xuất để tạo ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ (đầu ra) Nếu giả thiết sản xuất sẽ diễn biến một cách có hệ thống với trình độ

sử dụng đầu vào hợp lý, người ta mô tả mối quan hệ giưa đầu vào và đầu ra bằng một hàm sản xuất:

Q = f(X1, X2,…, Xn) Trong đó Q biểu thị số lượng một loại sản phẩm nhất định, X1, X2,…., Xn là lượng của một yếu tố đầu vào nào đó được sử dụng trong quá trình sản xuất

Chúng ta cần chú ý mối quan hệ giữa yếu tố và sản phẩm

+ Sản phẩm cận biên (MP) của yếu tố đầu vào thay đổi Đây là sự biến đổi lượng đầu ra do tăng thêm chút ít yếu tố đầu vào thay đổi được biểu thị bằng đơn vị riêng của nó Khi sản phẩm cận biên bằng 0 thì tổng sản phẩm là lớn nhất

+ Sản phẩm bình quân (AP) của yếu tố đầu vào thay đổi Đem chia

Trang 18

tổng sản phẩm cho số lượng yếu tố đầu vào thay đổi ta sẽ có AP Khi một yếu tố đầu vào được sử dụng ngày một nhiều hơn, mà các yếu tố đầu vào khác không thay đổi thì mức tăng tổng sản phẩm ngày càng nhỏ đi

2.1.1.4 Khái niệm về hộ nông dân

theo Ellis năm 1988, thì hộ nông dân là hộ có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình vào sản xuất, luôn nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi sự tham gia từng phần vào thị trường với mức độ hoàn hảo không cao

*) Kinh tế hộ nông dân: là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản

xuất xã hội, trong đó các nguồn lực như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất, có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tùy thuộc vào chủ hộ, được nhà nước hỗ trợ và tạo điều kiện để phát triển Do vậy hộ không thuê lao động và không có khái niệm về tiền lương và không tính được lợi nhuận, địa tô và lợi tức Nông hộ chỉ có thu nhập chung của tất cả các hoạt động kinh tế Đó là sản lượng thu được hàng năm của hộ trừ đi chi phí mà hộ bỏ ra để phục vụ sản xuất (Đỗ Văn Viện, Đặng Văn Tiến –2000)

*) Đặc điểm kinh tế hộ nông dân

- Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu với quá trình quản lý và

sử dụng các yếu tố sản xuất

- Lao động quản lý và lao động trực tiếp có sự gắn bó chặt chẽ

- Kinh tế hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh rất cao

- Có sự gắn bó chặt chẽ giữa quá trình sản xuất với lợi ích của người lao động

- Kinh tế hộ là đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ nhưng hiệu quả

- Kinh tế hộ sử dụng sức lao động và nguồn vốn của chủ hộ là chủ yếu

Trang 19

*) Các yếu tố ảnh hưởng tới kinh tế hộ nông dân

- Đất đai, lao động, vốn

- Kiến thức và kỹ năng của người sử dụng nguồn lực

- Cơ sở hạ tầng của sản xuất

- Biện pháp kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào sản xuất

- Thời tiết, khí hậu

- Chính sách của chính phủ

- Cơ cấu thị trường

2.1.2 Vai trò và đặc điểm của nghề nuôi ong mật

2.1.2.1 Vai trò và ý nghĩa nuôi ong mật

Hầu hết các sản phẩm từ ong mật là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và làm nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp khác:

+ Mật ong là sản phẩm chính thu được từ ong mật, là sản phẩm dinh dưỡng, giàu năng lượng, dễ tiêu hóa Thành phần chủ yếu gồm: đường gluco

và fructo, các chất đạm, enzin, vitamin, các axit hữu cơ, các nguyên tố khoáng

Mật ong gồm 3 loại: mật ong đơn hoa, mật ong đa hoa, mật ong dịch lá Mật ong đơn hoa: mật ong hoa nhãn, mật ong hoa vải, mật ong hoa bạch đàn, mật ong hoa táo, mật ong hoa chôm chôm, mật ong hoa bạc hà, mật ong hoa cỏ lào, mật ong hoa sú vẹt

Mật ong đa hoa: mật ong vải nhãn; mật ong chôm chôm – cà phê; mật ong hoa rừng

Mật dịch lá: mật ong cao su, mật ong hỗn hợp

+ Phấn hoa rất giàu protein, vitamin, các axit amin, các nguyên tố khoáng có giá trị dinh dưỡng cao và chữa bệnh

+ Keo ong là nguyên liệu không thể thay thế để sản xuất một số loại sơn dầu

+ Nọc ong chứa axít HCL, H3PO4, Foocmic và 15 loại axít amim

Trang 20

+ Sữa ong chúa có giá trị dinh dưỡnng cao nhất bồi bổ sức khỏe, chữa bệnh

+ Sáp ong được sử dụng trực tiếp cho ngành nuôi ong để làm các mũ chúa, tầng chân, sử dụng cho ngành công nghiệp như dược phẩm, mỹ phẩm

Phát triển nghề nuôi ong góp phần tạo thêm việc làm cho lao động trong địa phương, tăng thu nhập cho hộ nông dân

Phát triển nghề nuôi ong góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn

Phát triển nghề nuôi ong với vấn đề môi trường sinh thái

Phát triển nghề nuôi ong làm tăng năng suất, phẩm chất cây trồng thông qua việc thụ phấn

2.1.2.2 Đặc điểm kinh tế của nghề nuôi ong mật

Nghề nuôi ong mật không tốn nhiều diện tích, vốn đầu tư ban đầu thấp không tốn nhiều nhân lực Khai thác lợi thế từ thiên nhiên nên không phải đầu

tư vào thức ăn thường xuyên mà vẫn mang lại năng suất, sản lượng cao Vì vậy, mỗi hộ già đình đều có thể phát triển nghề nuôi ong mật để tăng thu nhập Thức ăn chính của ong là mật và phấn hoa tự nhiên.điều kiện sinh thái Việt Nam rất phong phú đa dạng Do vậy rất thuận lợi cho nghề nuôi ong mật

Nuôi ong mật cho thu hoạch rất nhiều đợt trong năm, nếu vào vụ hoa thì có thể thu hoạch sau 6- 7 ngày/ lần, mỗi lần trung bình một thùng ong nội (4 cầu) cho sản lượng từ 3- 4 lít mật, một thùng ong ngoại (9-10 cầu) cho sản lượng từ 5- 7 lít mật, 5-10g phấn hoa

Ong mật cho ra nhiều sản phẩm quý đa dạng như mật ong, phấn hoa, sáp ong, ong giống, nọc ong, sữa ong chúa Trong đó, mật ong là sản phẩm chính của nghề nuôi ong, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của nghề nuôi ong (trên 70%)

Ong mật là loài côn trùng trong tự nhiên, sức sản xuất lớn Thời gian sống của ong mật khoảng 2 tháng, sinh sản của ong mật là rất lớn Một đàn

Trang 21

ong 4 cầu (vài nghìn con) trong một năm có thể nhân ra thành 12 cầu ong (3 đàn) Do vậy nông hộ có thể tự nhân giống để phát triển đàn ong của mình và bán cho các hộ khác Số lượng ong mật và cơ cấu loại ong (ong đực, ong thợ)

có trong đàn phụ thuộc vào sức sinh sản của ong chúa, mùa vụ trong năm

Cơ sở vật chất kỹ thuật để nuôi ong mật rất đơn giản Nông hộ có thể tận dụng các dụng cụ sẵn có của gia đình để làm thùng nuôi ong, chân thùng ong, khung cầu đầu tư ban đầu cho nuôi ong mật không lớn như các ngành chăn nuôi khác phải tốn nhiều chi phí cho đầu tư chuồng trại (như chăn nuôi lợn) đầu tư nuôi ong mật thì chỉ cần đầu tư 1.000.000 đồng/thùng (nếu quy

Quá trình thu hoạch các sản phẩm từ ong mật tương đối đơn giản khi xem xét đàn ong đủ điều kiện cần thiết là có thể khai thác Tuy nhiên để tăng chất lượng hơn nữa người nuôi ong phải nắm được kiến thức cơ bản nhất của nghề nuôi ong, bao gồm cả kỹ thuật chia đàn ong, thu hoạch mật và tạo chúa

và biết cách luân chuyển đàn ong đến nói có cây nguồn mật dồi dào

Các dụng cụ nuôi ong: Thùng nuôi ong, thùng quay mật, dao cắt mật (dao hai lưỡi bẻ cong), khay hớt nắp (chậu, thau, khay, xô), bộ gắn tầng chân( gồm ghế gỗ, thước chắn, bộ hàn tiêu chuẩn (ấm và dùi), dụng cụ tạo chúa (cầu

Trang 22

nuôi chúa,kim di trùng, khuôn chúa, thùng giao phối, cầu cách ly chúa), dụng

cụ giới thiệu chúa (lồng chúa, chụp chúa) dụng cụ nấu sáp, dụng cụ quản lý ong( lưới che mặt, máng cho ong ăn, nón bắt ong bốc bay, bình hun khói) tầng chân

Nghề nuôi ong mật không cần lao động trình độ cao: lao động trong nghề nuôi ong không yêu cầu quá cao về trình độ mà cần có nhiều kinh nghiệm, biết kỹ thuật nuôi, chăm sóc cần cù, tỷ mỉ và biết thời điểm thu hoạch cho phù hợp là có thể nuôi ong với hiệu quả kinh tế cao

Năng suất, chất lượng của sản phẩm từ ong mật tuỳ thuộc vào nguồn hoa, lá cây, kỹ thuật chăm sóc và thu hoạch, công tác bảo quản, chế biến sau thu hoạch, công tác phòng và chữa bệnh ong kịp thời, di chuyển ong đúng thời điểm, vị trí đặt tổ, đõ ong

- Đặc điểm tiêu thụ

+ Sản phẩm từ ong mật là sản phẩm của thiên nhiên, có thể tiêu dùng trực tiếp không nhất thiết phải chế biến Do đó, có thể bán trực tiếp cho người tiêu dùng, có thể bán làm nguyên liệu cho các cơ sở sản xuất các sản phẩm khác như mỹ phẩm (làm mỹ phẩm chăm sóc sắc đẹp), thuốc chữa bệnh

- Kênh tiêu thụ:

+ Sản phẩm để tiêu dùng phần lớn là trao đổi trực tiếp giữa người nuôi ong và người sử dụng Do đặc thù của sản phẩm, giá cả và tính phổ biến, chủ yếu tiêu thụ qua kênh trực tiếp từ người sản xuất đến người tiêu dùng

+ Sản phẩm được các trung gian hay các công ty ong thu mua sau đó bán cho người tiêu dùng hoặc xuất khẩu sang thị trường thế giới Hiện nay, ở một số vùng sản xuất với số lượng lớn (sản xuất hàng hoá) như Tây Nguyên, các tỉnh phía Nam thường bán cho các trung gian thu gom Các trung gian này thu mua mật sau đó về đóng thành các chai thuỷ tinh bán cho người tiêu dùng và xuất khẩu sang một số nước như Mỹ, Nhật,

Trang 23

2.1.3 Nội dung của phát triển nghề nuôi ong mật ở hộ

Phát triển nghề nuôi ong mật được hiểu là:

- Quá trình tăng lên về quy mô đàn ong: tăng số hộ nuôi ong, tăng

số thùng ong, tăng số cầu ong trong một đàn, tăng số lượng ong thợ trong một đàn,

- Tăng năng suất, sản lượng sản phẩm từ ong mật

- Quá trình thay đổi cơ cấu loại ong mật : giống ong, quy mô nuôi (HTX, trang trại, ),

- Quá trình nâng cao hiệu quả nghề nuôi ong: người tiêu dùng ngày càng có xu thế đòi hỏi các sản phẩm có chất lượng cao, sạch Do đó, phải tạo

ra các sản phẩm có chất lượng tốt nhất, muốn làm được điều này thì công tác chăm sóc, phòng ngừa dịch bệnh, chế biến sau thu hoạch là thực sự quan trọng và cần thiết

Quá trình trên góp phần phát triển nghề nuôi ong mật, tăng hiệu quả kinh tế và hiệu quả kỹ thuật

2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nghề nuôi ong mật ở hộ

a) Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên, sâu bệnh và thù địch của ong mật

- Điều kiện khí hậu, thời tiết: khí hậu, thời tiết, thủy văn Vì nguồn thức

ăn chủ yếu của ong mật là nguồn từ hoa, lá cây do đó khi thời tiết không thuận lợi sẽ ảnh hưởng đến sự tiết mật của của cây, ảnh hưởng đến sự thu mật của đàn ong

- Dịch hại và sâu bệnh: là yếu tố làm tổn hại lớn đến số lượng ong trong đàn, ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất của mật ong Do đặc điểm sinh học của ong mật là sống theo đàn, có sự phân công công việc rất cụ thể theo bản năng Khi đàn ong có một số cá thể bị bệnh sẽ ảnh hưởng đến cả đàn, các bệnh thường gặp ở ong mật như bệnh thối ấu trùng, bệnh ấu trùng túi, bệnh ấu trùng tuổi lớn, bệnh nhiễm trùng bại huyết, bệnh ỉa chảy Nosema, bệnh ngộ độc hóa học, các bệnh ký sinh trùng của ong Do đó, trong quá trình nuôi

Trang 24

cần phải thường xuyên chăm sóc và phòng ngừa cho ong, bảo đảm cho đàn ong không bị nhiễm bệnh

- Các thù địch hại ong: ong mật là côn trùng tự nhiên do đó ong mật là nguồn thức ăn của một số loại thù địch khác như sâu ăn sáp, kiến, ong bò vẽ, chuồn chuồn, ngài đầu lâu, ruồi ký sinh, chim Do đó, trong chăn nuôi ong cần phải có các biện pháp phòng ngừa để đảm bảo duy trì và phát triển số lượng ong mật trong đàn - duy trì và tăng năng suất mật ong [5, tr69]

b) Nhóm nhân tố về tổ chức và kỹ thuật

* Yếu tố về tổ chức quản lý ong:

- Do điều kiện thời tiết, khí hậu Miền bắc có sự phân biệt rõ ràng giữa các mùa, mỗi mùa mang một đặc trưng riêng nên trong phát triển nuôi ong cần phải chú trọng công tác quản lý theo mùa vụ nhằm tăng số lượng đàn, năng suất, sản lượng

+ Đối với vụ xuân - hè:

Đặc điểm thời tiết và nguồn hoa xuân hè: vụ xuân hè tương ứng với thời kỳ sau tết âm lịch, nguồn hoa rất phong phú Vùng đồng bằng trung du có vải chua, vải thiều, nhãn (vụ xuân), đay, bạch đàn, liễu, sú vẹt (vụ hè) Các tỉnh miền núi có hoa muộn hơn và tháng 2 vẫn ít hoa, sau đó có 2 vụ hoa rừng: vụ 1 vào tháng 3-4, vụ 2 vào tháng 5-6 (chủ yếu là sài đất) Ngoài vụ xuân – hè còn có nhiều cây nguồn mật phụ quan trọng như cam, quýt, bạch đàn trắng, cà phê, cao su, keo lá tràm Khí hậu, thời tiết tương đối thuận lợi cho việc nhân đàn, tạo chúa tốt nhằm phát triển đàn ong

Khôi phục đàn ong đầu vụ: vụ đông trời rét ong đẻ kém, thế đàn sa sút, nhiều năm rét đậm kéo dài đàn ong chỉ có vài cầu, tuy vậy người nuôi ong dựa vào nguồn hoa đầu vụ xuân để củng cố đàn ong bằng việc chuyển đàn ong đến vùng có mật và phấn hoa điều chỉnh, thêm cầu mới, kích thích ong chúa đẻ nhiều để tăng số lượng ong trong đàn và nhân đàn

Thay chúa: đối với vụ này người nuôi ong thường thay ong chúa mới

Trang 25

để điều khiển đàn ong và đẻ nhiều Chúa mới có thể đẻ gần 1000 trứng một ngày một đêm Từ lúc chúa nở đến khi chúa đẻ thời gian khoảng 8-10 ngày

Tỷ lệ giao phối thành công 80-90%

Xây cầu mới: vụ xuân - hè ong xây tầng chân rất nhanh và ong chúa rất thích đẻ vào cầu mới, người nuôi ong cần xây tầng chân ở tất cả các đàn ong, rút các cầu cũ bị hỏng ra khỏi thùng Xây cầu mới tốt nhất vào đầu vụ khi hoa

nở 20-30% để tăng số lượng ong trong đàn

Phòng chống chia đàn tự nhiên: vụ xuân-hè chia đàn mạnh, trước khi ong chia đàn tự nhiên ong thường đi làm rất kém và thường có hiện tượng rối loạn đàn trong thùng Do đó, cần thay chúa, thu hoạch mật và cắt bớt phần nhộng ong đực

+ Đối với vụ hè - thu:

Đặc điểm thời tiết và nguồn hoa hè thu: do điều kiện khí hậu không thuận lợi (nắng nóng, mưa kéo dài, bão lụt ), các thù địch hại ong (chuồn chuồn, ong bò vẽ, ong bù lỗ ) phát triển do đó gây thiệt hại rất lớn đến số lượng ong trong đàn

Điều chỉnh đàn ong: cần tiến hành sau vụ mật vẹt, bạch đàn Cần điều chỉnh đàn ong, sát nhập đàn để tập trung ong Cho ong ăn thêm đường kính hoặc chuyển đàn ong đến vùng có nguồn hoa phong phú nhằm duy trì và phát triển đàn ong

Chống nóng, che mưa: mưa nắng làm cho ong tiêu hao nhiều thức ăn cần đặt ong ở nơi thoáng mát che phên cỏ, cỏ tranh để chống nắng, mưa

Đề phòng ong rừng: thu bớt cửa tổ ra vào của đàn ong, trát kín các kẻ

hở của thùng để mùi mật không bốc ra ngoài hạn chế thù địch của ong mật

+ Đối với vụ thu - đông:

Đặc điểm vụ thu đông: nguồn hoa rừng phong phú tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển đàn ong Nguồn mật chủ yếu của vụ này là táo (tháng 9-10), cỏ lào (tháng 12), bạc hà, cỏ chân chim

Trang 26

Khôi phục đàn ong sau khi vượt hè: người nuôi ong rút bớt cầu để kích thích ong đẻ nhiều nhằm phát triển đàn ong trong tổ

Tạo chúa, chia đàn và xây tầng: tháng 9 đến tháng 11 cần tạo chúa và chia đàn nhằm tăng quy mô nuôi Thời gian chia đàn cứ 5 ngày một đợt vừa tạo chúa chia đàn vừa xây tầng

Chống hanh khô, chống rét cho đàn ong: cần có các biện pháp chống hanh khô và chống rét cho đàn ong nhằm đảm bảo ong khoẻ, an toàn

+ Đối với vụ đông - xuân:

Đặc điểm của vụ đông - xuân: đây là thời kỳ rét kéo dài, nguồn thức ăn cho ong rất khan hiếm Vì vậy, ảnh hưởng rất lớn đến số lượng ong trên đàn làm sản lượng mật giảm sút mạnh Nếu có mật ở điều kiện 9-100C ong vẫn đi thu mật bình thường

Chăm sóc và nuôi dưỡng ong: bằng việc cho ong ăn thêm đường kính nhằm duy trì ong trong đàn, chống rét và phòng trừ dịch bệnh

- Hình thức tổ chức chăn nuôi: điều đáng quan tâm là công tác tổ chức chăn nuôi được tiến hành thức phương thức nào? Trang trại hay nông hộ nhỏ lẻ? Hình thức tổ chức chăn nuôi ong là phải làm sao tạo chủ động cao, tạo ra sản lượng hàng hóa lớn cho thị trường

- Di chuyển đàn ong đến những vùng tránh rét, có nhiều thức ăn cho ong, tạo điều kiện phát triển đàn ong và cho sản lượng mật lớn

* Yếu tố kỹ thuật

- Giống ong: trong phát triển sản xuất giống ong là yếu tố rất quan trọng để không ngừng tăng năng suất và sản lượng Để bảo đảm đàn ong duy trì và phát triển thì ong chúa là quan trọng nhất trong đàn, nó sẽ quyết định đến số lượng ong trong đàn và quyết định đến sản lượng mật

- Thức ăn: thức ăn chính của ong là mật hoa và phấn hoa, ở những nơi

có nhiều cây nguồn mật, nguồn phấn thì sản lượng mật được sản xuất ra là lớn

và ngược lại

Trang 27

- Vệ sinh phòng bệnh cho ong: ong sống rất sạch sẽ, thích thoáng mát, không ưa mùi hôi, thối, ẩm thấp vì vậy nếu không thỏa mãn những điều kiện trên thì sẽ là điều kiện làm phát sinh và lây lan dịch bệnh, dẫn đến số lượng ong giảm

- Trình độ tay nghề và kinh nghiệm của người nuôi ong: nuôi ong đạt hiệu quả kinh tế cao phần lớn là dựa vào kinh nghiệm lâu năm của người nuôi ong Số năm kinh nghiệm càng nhiều thì việc phát triển về quy mô càng lớn

và ngược lại

- Kỹ thuật trong thu hoạch mật ong: chất lượng mật ong, số lượng ấu trùng trong đàn chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi kỹ thuật thu hoạch mật Việc thu hoạch mật phải bảo đảm mật phải chín (tối thiểu 70% lỗ tổ mật được vít nắp), số lượng hoa nở trên cây vào khoảng 20-25%, nơi quay mật phải sạch

sẽ, kín không để ong, ruồi nhặng bay vào, thời điểm quay mật tốt nhất là vào buổi sáng để mật ong được đặc hơn, không lẫn mật hoa mới trong ngày Quay mật phải đúng kỹ thuật, nếu không sẽ làm cho ấu trùng trong lỗ tổ văng ra ngoài dẫn đến làm giảm số lượng ong trong tương lai, ảnh hưởng đến phát triển nghề nuôi ong

- Điều kiện đầu tư chi phí cho nuôi ong mật: chi phí nuôi ong lớn nhất tập trung vào giống ong (chiếm 80-90%), các chi phí khác (10-20%) rải rác trong năm

c) Nhóm nhân tố về điều kiện kinh tế - xã hội

- Dân số: tạo ra nhu cầu lớn cho sản phẩm từ ong mật đồng thời cung cấp lao động cho phát triển nghề nuôi ong Đây là một trong những nhân tố kích thích để cho nghề nuôi ong phát triển, tăng sản mức tiêu thụ trên thị trường và cải tiến phương thức tiêu thụ để đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của thị trường

- Nguồn nguyên liệu: nguồn thức ăn sẵn có (nguồn cây hoa, đường kính) tạo điều kiện cho nuôi ong phát triển, đặc biệt là những vùng trung du, miền núi có tiềm năng sinh thái lớn

Trang 28

- Thị trường tiêu thụ: thị trường chịu ảnh hưởng bởi quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu như các thị trường khác Nó là sự kết hợp chặt chẽ giữa hai khâu sản xuất và tiêu thụ Nếu thị trường chấp nhận thì quy mô sản xuất sẽ được duy trì và phát triển mở rộng

- Hệ thống chính sách của các cấp chính quyền: việc quy hoạch tổng thể vùng để khai thác lợi thế tiềm năng, có các chính sách khuyến khích, hỗ trợ trong

chăn nuôi là điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển theo hướng hàng hoá

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Kinh nghiệm nuôi ong trên thế giới

*) Phương pháp phát triển nuôi ong liên kết nhiều thành phàn tham gia ở quận FOGERA từ việc tham gia đề án IPMS

Ethiopia là nước sản xuất mật hàng đầu châu phi là một trong 10 nước sản xuất mật lớn nhất trên thế giới Mặc dù điều kiện sinh thái phù hợp với nghề nuôi ong và có số lượng đàn ong nhiều, sản lượng mật và năng suất vẫn còn thấp Năng suất trung bình/đàn/năm chỉ là 6 - 7 kg Một trong những yếu

tố làm cho năng suất thấp là dùng thùng cổ truyền và thiếu những kỹ thật quản lý ong thích hợp Với mục đích tăng cường khả năng sản xuất mật cả số lượng và chất lượng Người Fogera đã tham gia dự đề án: tăng năng suất thương mại và thành công (IPMS) đã giới thiệu một phương pháp phát triển chuỗi giá trị định hướng theo thị trường Những người tham gia dự án đã huấn luyện người nuôi ong cách chia đàn, làm thùng và quản lý ong theo mùa Thêm vào đó đề án tạo điều kiện thiết lập cửa hàng cung cấp vật tư cho người nuôi ong và tư vấn những người sản xuất thùng ong (thợ mộc) về việc thiết kế các thùng ong có khung cầu di động và thùng có thanh xà thích hợp Tỷ lệ nuôi ong cái tiến đã tăng lên liên tục sau khi tập huấn kỹ năng và sản xuất thùng ong cái tiến Số lương thùng ong cải tiến đực áp dụng tại quận này gia tăng từ 200 năm 2006 đến 882 năm 2009, nhờ 02 lớp tập huấn và sự hỗ trợ kinh phí và kỹ thuật từ đề án IPMS Nhờ chuyển giao kỹ thuật nuôi ong, năng

Trang 29

suất mật trung bình hàng năm tăng lên từ 7 đến 13 kg/ thùng khi chuyển từ thùng cổ truyền sang thùng có khung cầu di động Ngoài sản lượng, chất lượng mật cũng được cải tiến Từ dự án này nhận ra rằng giới thiệu kỹ thật nuôi ong cải tiến đi đôi với thực hành và kết hợp với tăng cường tham gia của nhiều thành phần liên kết sẽ thúc đẩy phát triển ngành ong

*) Kinh nghiệm chọn giống ong ở Cuba

Ong mật đã có ở Cuba cách đây gần 250 năm Chúng đã lan gia khắp quốc gia và phải chống chọi với nhiều kẻ thù khác nhau: hơn 20 loài kiến, 62 loài ếch nhái, cua, chim và động vật động vật có vú Các kẻ thù này ăn ong,

ăn mật hoặc bánh tổ Lúc ban đầu, khí hậu và kẻ thù trong môi trường mơi là những yếu tố chọn lọc tự nhiên đầu tiên Sau đó có nhiều yếu tố khác

Từ năm 1980, người ta chọn lọc những đàn ong kháng bệnh do vi khuẩn và có năng suất cao Yếu tố chọn lọc quan trọng nhất là năng suất mật cao Sau Quy định Directive 96/23 của châu Âu, chiến lược chọn cần thay đổi Dư lượng thuốc là vấn đề và cần loại bỏ nguồn gốc của nó

Năm 1996 ve varroa xuất hiện ở Cuba nó làm ảnh hưởng lớn đến nuôi ong Đầu tiên ong hoang dã gần như biến mất trong vòng 2 năm nhưng sau đó phục hồi Người nuôi ong làm lại giống ong từ ong hoang dã và những đàn ong sống sót và vì vậy ngành nuôi ong thương mại hồi sinh Chiến lược tổng quát chống lại ve kí sinh là chọn giống ong đề kháng, chứ không phải dùng hóa chất, không bỏ quên lịch sử tiến hóa 100 triệu năm của ong So sánh với

sự hiện diện của con người trên trái đất, con ong đã trải nghiệm di truyền lớn hơn con người rất nhiều

Ong có hệ thống miễn dịch, chúng tạo ra kháng sinh tự nhiên rất lâu rồi trước khi con người tạo ra kháng sinh

Phòng trị tổng hợp là sự lựa chọn

Việc dùng hóa chất càng làm cho con ong phụ thuộc vào hóa chất Những gen không đề kháng tồn tại được và làm những gen bị đề kháng bị che mất đi

Trang 30

Con ong không phải là gia súc, không phải là động vật có vú Chúng là côn trùng, chúng có khả năng thích nghi cực kỳ với lịch sử tiến hóa hàng triệu thế kỷ

Kinh nghiệm nuôi ong và nhà khoa học ở Cuba chỉ ra rằng chống ve varora và chống bệnh ong bằng sức mạnh sinh học

Dùng thuốc thì mật ong còn bị nhiễm dư lượng, không còn là mật ong

tự nhiên Ngày nay, chúng ta cần sản xuất mật ong tự nhiên

Chiến lược tổng quát là tạo chúa từ những đàn sống sót để chống lại bệnh Những đàn ong bị nhiễm ve trên 7% được quét sạch ve bằng bayvarol

và sau đó được thay chúa được tạo ra từ những đàn sống sót Bằng cách này hóa chất không chiếm lĩnh được ở Cuba Chọn lọc trong 4 năm làm co các đàn ong ở Cuba hoàn toàn không dùng thuốc

Các đàn ong chọn lọc phải có tập tính dọn vệ sinh cao, loại bỏ tất cả ấu trùng và nhộng chết trong 24 giờ

Tất cả các yếu tố chọn lọc: người nuôi ong, khí hậu, kẻ thừ và varroa tạo ra con ong lai Cuba ngày nay có khả năng sản xuất 100kg mật/đàn/năm

Ở Cuba chiến lược chọn giống từ những đàn ong còn sống sót sau dịch bệnh Varroa là đúng và ngày nay là thế mạnh quan trọng của ngành ong Cuba

2.2.2 Kinh nghiệm phát triển nuôi ong của Việt Nam

*) Kinh nghiệm nuôi ong của người Mông

Từ chỗ khai thác tự nhiên, bắt gặp tổ ong mật trong những cuộc đi rừng, sau quá trình quan sát thói quen sinh sống của bầy ong, người Mông đã tìm ra cách nuôi ong tại nhà Việc tìm được đàn ong mật với người Mông cũng không đến mức quá khó, nhưng để đưa được đàn ong tự nhiên về nhà nuôi lại tốn khá nhiều công sức Đầu tiên, họ lên rừng tìm một đoạn thân cây phù hợp để làm đõ (làm tổ cho ong) Đõ ong là một thân cây rỗng ruột, dày khoảng 2 - 3cm, đường kính từ 25 - 30cm, dài chừng 80 – 120cm, nếu không tìm được thân cây rỗng phù hợp thì có thể chặt cây về, tự đẽo thành hình

Trang 31

ống Anh Ngô Mạnh Cường – Chủ nhiệm Hợp tác xã nuôi ong bạc hà Tuấn Dũng (anh Cường cũng đang là Phó Chủ tịch UBND thị trấn Mèo Vạc, huyện Mèo Vạc, Hà Giang) là người từ bé sống với bà con người Mông, nên đã học hỏi được những kinh nghiệm nuôi ong lấy mật của đồng bào Anh cho biết: Ong mật là loài côn trùng sống có tính tổ chức cao, mỗi cá thể đều có nhiệm

vụ riêng, trong mỗi đàn ong mật, ngoài ong chúa và ong thợ còn có ong soi Đến mùa sinh sản, khi đàn ong phát triển hùng hậu, ong soi có nhiệm vụ đi tìm những hốc cây, hốc đá kín gió để tách đàn, lập tổ Đến mùa ong tách đàn, người Mông sẽ đem những đõ ong chuẩn bị được đến đặt ở nơi thường xuất hiện ong soi để bẫy ong Thời gian đi bẫy ong vào khoảng tháng 2 – 3, là mùa ong sẽ tách đàn Nếu nhà ở gần vùng có hoa, thông thường người Mông treo

đõ ong ở đầu hồi trên gác, hướng quay ra ngoài, hoặc đặt gần bờ rào Nơi đặt

đõ ong phải là nơi cao ráo, tránh khói bếp và các loài côn trùng vào phá tổ ong như kiến Người Mông thu hoạch mật ong khai thác mật ong từ tháng 10

- 12, thời gian khai thác mật phụ thuộc vào từng vùng có hoa nở sớm hay muộn, nhưng chính vụ vẫn là tháng 11 Khi khai thác mật ong, người Mông không khai thác hết ngay mà để lại chừng 1/3 số lượng bánh tầng để ong vẫn còn tổ, vẫn còn thức ăn dự trữ Sau lần khai thác đầu tiên, thông thường một đàn ong khỏe mạnh, mất chừng 10 ngày để xây bánh tầng mới và chừng 20 ngày để bánh tầng có mật Ngoài cách bẫy ong tự nhiên như trên, người Mông còn phát triển thêm nhiều phương pháp bắt ong khác Nếu trên đường đi mà gặp một đàn ong đang di chuyển, họ sẽ nhặt những nắm đất đá vụn ném vào bầy ong Sau một hồi như vậy, đàn ong mệt, sẽ tự sà xuống đất Người ta chỉ việc bới tìm ong chúa đem về thả vào đõ, là đàn ong tự khắc bay về theo Sau khi ong đã quen với tổ mới, người ta mới tiến hành di chuyển đõ ong đến nơi thuận tiện để ong lấy mật

*) Nuôi ong ở Núa Ngam, Điện Biên

Những năm gần đây, phong trào nuôi ong lấy mật ở xã vùng cao Núa

Trang 32

Ngam, huyện Ðiện Biên (Ðiện Biên) có bước phát triển mạnh mẽ góp phần tạo thu nhập ổn định, nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc trên địa bàn, đồng thời trực tiếp góp phần tăng tỷ lệ che phủ rừng, bảo vệ môi trường

tự nhiên của địa phương

Là xã vùng ngoài của huyện Ðiện Biên với năm dân tộc anh em cùng sinh sống: Thái, Lào, Mông, Khơ Mú và Kinh, xã Núa Ngam có diện tích đất đồi rừng và vườn cây ăn quả khá lớn Chủ động khai thác điều kiện thuận lợi

đó, nhiều hộ nông dân trong xã đã mạnh dạn đầu tư phát triển nghề nuôi ong lấy mật Từ chỗ lúc đầu chỉ một vài hộ dân chăn nuôi tự phát nhỏ lẻ, sản phẩm chỉ để phục vụ nhu cầu của gia đình, đến nay Núa Ngam đã có hàng chục hộ tham gia nuôi ong mật, trong đó nhiều hộ nuôi với quy mô lớn từ 200 đến 300 đàn

Ðánh giá hiệu quả của mô hình nuôi ong lấy mật của nhân dân trong

xã, Chủ tịch UBND xã Núa Ngam Nguyễn Văn Ðóa cho biết, toàn xã hiện có hơn 3.880 ha rừng trồng cùng hàng trăm ha vườn đồi, mô hình nuôi ong đã tạo cơ sở để địa phương khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên rừng đồng thời tăng thu nhập cho người dân trong xã Hiện nay, toàn xã Núa Ngam đã có hơn 2.000 đàn ong mật Ðảng bộ, chính quyền xã đã có định hướng nhân rộng

mô hình nuôi ong lấy mật bởi so với các nghề nông khác thì nghề nuôi ong trên địa bàn đang cho thu nhập trội hơn hẳn

Theo ông Lương Ðức Thắng ở bản Pá Ngam 2, người có nhiều năm kinh nghiệm nuôi ong ở Núa Ngam thì việc nuôi ong lấy mật không đòi hỏi đầu tư nhiều về thời gian, công sức và diện tích đất mà hiệu quả kinh tế thu được lại khá cao Trong một năm, người nuôi ong chỉ mất nửa năm đầu tư thức ăn vào thời điểm cây cối không có hoa hoặc ít hoa; thời gian còn lại, ong

sẽ tự tìm thức ăn từ thiên nhiên và làm mật Nếu chăm sóc đúng kỹ thuật, mỗi năm, người nuôi ong có thể được thu mật thành ba vụ trong khoảng thời gian

từ cuối tháng 12 đến hết tháng 5 Ở những khu vực có nhiều thức ăn tự nhiên

Trang 33

như Núa Ngam, trung bình mỗi đàn ong cho thu hoạch khoảng 50 kg mật/năm Với giá mật ong hiện nay là 60.000 đồng/kg thì việc một hộ gia đình có thu nhập từ 70 đến 80 triệu đồng sau khi đã trừ chi phí các loại không phải là quá khó Hiện hằng năm, gia đình ông Thắng đều thu nhập hơn 100 triệu đồng từ 120 đàn ong nuôi trong vườn nhà

Bên cạnh hiệu quả kinh tế, nghề nuôi ong lấy mật ở xã vùng cao Núa Ngam hiện nay còn đang góp phần bảo đảm ổn định sinh thái, bảo vệ môi trường thiên nhiên Một trong những yêu cầu thiết yếu đặt ra với các hộ nuôi ong đó là phải thường xuyên bảo đảm nguồn thức ăn tự nhiên cho đàn ong Vì vậy, cùng với việc phát triển hệ thống vườn cây ăn quả, các hộ nông dân trên địa bàn xã đã quan tâm bảo vệ, chăm sóc và phát triển diện tích rừng trồng để

bổ sung nguồn thức ăn tự nhiên cho đàn ong Trên cơ sở nguồn vốn hỗ trợ của các dự án trồng rừng, phí trồng rừng của Nhà nước và nhằm tạo điều kiện để phát triển nghề nuôi ong bền vững, Núa Ngam đã không ngừng tăng diện tích rừng trồng với các loại cây chủ yếu là keo tai tượng, keo lai góp phần giúp tăng tỷ lệ che phủ rừng của xã Theo đó, đến năm 2014, tỷ lệ che phủ rừng ở Núa Ngam đã đạt hơn 42% so với 40,5% năm 2011

Nhận thấy lợi ích từ việc nuôi ong, để nghề nuôi ong phát triển bền vững nhiều hộ gia đình ở Núa Ngam đã mạnh dạn đầu tư phát triển đàn ong,

qua đó nhân rộng mô hình nuôi ong trong toàn xã Nếu như những năm trước, chỉ được một số ít hộ ở các bản Phú Ngam, Pá Ngam 2 tham gia nuôi ong thì đến nay đã được nhân rộng trên nhiều bản khác trong xã như các bản Hợp

Thành, Tân Ngam, Na Sang 2

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân nên đến nay hoạt động nuôi ong ở Núa Ngam cơ bản vẫn chỉ dừng lại ở tự phát, quy mô chủ yếu là nhỏ lẻ Thực

tế cho thấy, nghề nuôi ong cũng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi các loại dịch bệnh và thời tiết Trong khi đó, các hộ nuôi ong ở Núa Ngam hiện nay chủ yếu dựa vào những kinh nghiệm tự tích lũy được qua quá trình nuôi, việc bồi

Trang 34

dưỡng kiến thức kỹ thuật về nuôi ong mật của ngành nông nghiệp tuy có nhưng chưa thường xuyên và hiệu quả chưa cao

Mong mỏi chung của những người nuôi ong ở Núa Ngam là sớm được tham gia các lớp bồi dưỡng về kỹ thuật nuôi ong; kỹ thuật phòng và điều trị các bệnh thường gặp ở đàn ong Nên chăng, các cơ quan chức năng mà trực tiếp là Trạm khuyến nông - khuyến ngư huyện Ðiện Biên cần có kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng và nhân rộng những kinh nghiệm về nuôi ong lấy mật trên địa bàn gắn với những tiến bộ kỹ thuật để người dân thật sự yên tâm phát triển đàn ong Ðồng thời, rút kinh nghiệm việc phát triển ồ ạt một số sản phẩm nông nghiệp trong thời gian qua, để tránh nguy cơ "cung vượt quá cầu", chính quyền địa phương nên chủ động nghiên cứu "đầu ra" cũng như xây dựng thương hiệu cho sản phẩm mật ong Núa Ngam, có như vậy thì nghề nuôi ong lấy mật mới thật sự là hướng thoát nghèo bền vững của đồng bào các dân tộc nơi đây

Nuôi ong mật thời gian qua đã và đang là một trong những hình thức phát triển kinh tế theo hướng chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, nâng cao hiệu quả kinh tế ở Núa Ngam Bên cạnh sự mạnh dạn đầu tư của người dân, sự quan tâm, tạo điều kiện của chính quyền và cơ quan chức năng địa phương sẽ là cơ sở để các mô hình nuôi ong được tiếp tục nhân rộng, góp phần cải thiện đời sống nhân dân, thúc đẩy công tác xóa đói, giảm nghèo ở xã vùng cao Núa Ngam

2.2.3 Các nghiên cứu có liên quan đến phát triển nuôi ong

Trong thời gian vừa qua, đặc biệt trong những năm gần đây một số tổ chức, cá nhân đã có những đề tài nghiên cứu về ong mật trong đó tập trung

nghiên cứu các lĩnh vực chủ yếu là:

Dự án: “Phát triển nuôi ong nội cho người dân tộc thiểu số và nông dân nghèo ở các vùng nông thôn miền Bắc Việt Nam” Của Trung tâm nghiên cứu

và phát tiển Ong Mục tiêu chung của dự án là thông qua việc ứng dụng các lĩnh vực ký thuật, kinh tế và sinh thái nghề nuôi ong hỗ trợ xây dựng năng lực

Trang 35

và phát triển bền vững để tăng cơ hội thu nhập cho người dân tộc thiểu số và nông dân nghèo ở các vùng nông thôn

Dự án: “ Phát triển nuôi ong và khuyến nông nông thôn ở Việt Nam” trường Đại học Guelph, Canada

Dự án: “Ứng dụng tiến bộ Khoa học và công nghệ, để xây dựng và phát triển nghề nuôi ong theo hướng sản xuất hàng hóa tại tỉnh Thái Bình” thuộc trương trình “ Hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn miền núi giai đoạn 2011 -2015”mục tiêu xây dựng các mô hình chuyển giao, ứng dụng công nghệ nuôi ong, khai thác, sơ chế và bảo quản các sản phẩm ong mật sẽ thúc đẩy nghề nuôi ong trở thành một ngành sản xuất hàng hóa có khả năng cạnh tranh cao, mang lại nhiều lợi ích về mặt kinh tế và xã hội Hình thành và phát triển một nghề

ổn định, có thu nhập cao cho người dân trên địa bàn tỉnh Thái Bình Góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân ở các vùng sâu, vùng xa của tỉnh

Dự án “Xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, phát triển nghề nuôi ong mật Bình Phước theo hướng sản xuất hàng hoá” Mã

số: NTMN.DA.TW 01– 2007 Dự án do TW quản lý Chủ nhiệm nhóm chuyển giao KHCN: TS Lê Minh Hoàng

Dự án “Xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ trong nuôi ong mật và

sơ chế sản phẩm theo hướng sản xuất hàng hóa tại tỉnh Đăk Nông” – 2013 Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn An Ninh

Ở huyện Nho Quan nghề nuôi ong lấy mật đã có từ lâu đời và có vai trò rất quan trọng đối với việc phát triển sản xuất ở nông hộ, giúp cho nông hộ tăng thu nhập cải thiện đời sống, xoá đói giảm nghèo Tuy nhiên, việc phát triển vẫn mang tính truyền thống, chưa có một nghiên cứu nào đánh giá thực trạng của việc phát triển nghề nuôi ong trên địa bàn để có những khuyến nghị kịp thời trong việc định hướng phát triển và tiêu thụ các sản phẩm từ ong mật thúc đẩy

Trang 36

nghề nuôi ong phát triển Do vậy, việc tiến hành nghiên cứu theo hướng này nhằm phát triển nghề nuôi ong mật tại các nông hộ, cải thiện thu nhập cho hộ nông dân là thực sự cần thiết và là điểm mới trong nghiên cứu

2.2.4 Một số nhận xét rút ra từ nghiên cứu tổng quan

Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nghề nuôi ong mật như đã đề cập ở trên, có thể thấy rằng:

- Phát triển nghề nuôi ong có vị trí quan trọng trong sản xuất và đời sống của nông hộ Ong mật là loại côn trùng trong tự nhiên, sức sinh sản lớn, thức ăn chủ yếu có sẵn trong tự nhiên (hoa, lá ) Do vậy, phát triển nghề nuôi ong mât đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế hộ, nhất là các hộ nghèo và các vùng có tiềm năng về sinh thái

- Phát triển nghề nuôi ong mật còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong

đó quan trọng nhất là trình độ kỹ thuật, giống ong, đặc điểm sinh thái của vùng và thị trường tiêu thụ sản phẩm

- Phát triển nghề nuôi ong mật bảo đảm phát triển môi trường bền vững, khai thác triệt để tiềm năng sẵn có của vùng, tăng thu nhập cho hộ giúp

hộ xoá đói giảm nghèo

- Do những điều kiện về tự nhiên, kinh tế, dân trí và trình độ kỹ thuật khác nhau, hiện nay trên thế giới có những quốc gia phát triển sản xuất sản phẩm từ ong mật (mật ong) với sản lượng lớn đóng góp không nhỏ vào phát triển kinh tế đất nước

- Cùng với sự phát triển của các ngành sản xuất khác, trong những năm gần đây nghề nuôi ong mật ở Việt Nam đang ngày càng phát triển Số hộ tham gia nuôi ong mật nhanh Phương thức nuôi không chuyên thành các hộ nuôi chuyên

- Trong những năm qua đã có một số nghiên cứu về phát triển nghề nuôi ong mật Giúp nghề nuôi ong mật phát triển, cải thiện đời sống, đa dạng hoá ngành nghề, khai thác triệt để tiềm năng sẵn có của vùng

Trang 37

PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Nho Quan là một huyện miền núi, nằm phía Bắc của tỉnh Ninh Bình gồm 26 xã và một thị trấn phía bắc giáp với huyện Yên Thủy và Lạc Thủy tỉnh Hòa Bình, phía đông giáp các huyện Gia Viễn, Hoa Lư, phía nam giáp thị

xã Tam Điệp, phía tây giáp huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa Nho Quan

có dòng sông Bôi nối với sông Hoàng Long ra sông Đáy Ngoài ra còn

có sông Lạng, sông Rịa và sông Bến Đang Huyện có 3 quốc lộ: 12B, quốc lộ

45, quốc lộ 38B, đại lộ Tràng An và các tỉnh lộ 438, 477, 492 chạy qua thuận lợi trong giao lưu hàng hóa, phát triển các loại hình du lịch và các ngành nghề khai thác tiềm năng sinh thái

Diện tích tự nhiên của huyện là 458,6km2, dân số 149.322 người (2012), bao gồm hai dân tộc chính là Kinh và Mường, người Kinh chiếm gần

90% và người Mường trên 10%, mật độ dân số 326 người/km2

Vị trí của huyện là một thế mạnh, tạo cho huyện có những điều kiện thuận lợi để phát triển một nền sản xuất hàng hóa, khai thác tiềm năng sinh thái, mở rộng giao lưu kinh tế để đưa kinh tế huyện phát triển

3.1.1.2 Thời tiết khí hậu

Khí hậu, thời tiết Nho Quan chịu ảnh hưởng khá lớn khí hậu và thời tiết vùng rừng núi Thanh Hoá và Hoà Bình Đó là khí hậu của cảnh quan rừng nhiệt đới: mùa hè, mùa thu có mưa; mùa đông lạnh và khô Mùa hè nóng và mưa nhiều từ tháng 6 đến tháng 9, mùa đông lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Trong mùa đông đầu mùa thường hanh khô, cuối mùa ẩm ướt mưa

Trang 38

phùn kéo dài Chính điều kiện khí hậu như vậy rất phù hợp với các cây nhiệt đới, cây ăn quả, cây rừng phát triển nở hoa là điền kiện tiềm năng cho nghề nuôi ong mật.Song cũng mang tính chất khí hậu tiểu vùng, mùa đông hay xuất hiện sương muối đây là một khó khăn trong phát triển nuôi ong do lạnh ong đi làm ít hơn hộ phải cho ong ăn đường để duy trì đàn ong, lượng mật thu được

ít, rủi do cao

Nhìn chung điều kiện khí hậu thời tiết của Nho Quan thuận lợi cho phát triển trồng trọt và chăn nuôi, thích hợp cho các loại cây ăn quả, cây rừng sinh trưởng, là tiền đề cho phát triển nghề nuôi ong mật khai thác tiềm năng, lợi thế của vùng, tận dụng nguồn lao động nhàn rỗi (đặc biệt là những lao động trung niên) ở nông thôn Tuy nhiên, điều kiện khí hậu của vùng cũng có những diễn biến phức tạp như thiên tai, bão, lụt gây ảnh hưởng bất lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung và phát triển nôi ong nói riêng Do vậy, việc tăng cường công tác dự tính, dự báo, xem xét cơ cấu cây trồng để hạn chế những rủi ro có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của huyện

3.1.1.3 Đặc điểm địa hình

Nho Quan là huyện miền núi của tỉnh, địa hình và cảnh trí được thiên nhiên ưu đãi Đất đai hình thành 3 vùng rõ rệt: Vùng rừng núi, vùng bán sơn địa và vùng đồng chiêm trũng Nho Quan còn là nơi có nhiều tài nguyên, khoáng sản, đó là hệ thống núi đá vôi hơn 11.000 ha, có mỏ than trữ lượng khá lớn, có suối nước khoáng… đất đai, núi rừng phong phú, là điều kiện thuận lợi để Nho Quan phát triển toàn diện

3.1.1.4 Hệ thống thủy văn

Mưa là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho hoạt động sản xuất và đời

sống trên địa bàn huyện Nho Quan Lượng mưa trung bình hàng năm trên địa bàn huyện từ 1.600 - 1.800 mm, có năm trên 2.500 mm, gây lũ lớn trên các

Trang 39

sông và gây ngập úng trong vùng nội đồng Đặc biệt lại là điểm hợp lưu của sông Bôi, sông Na và sông Lạng Vì vậy, cần chú ý đến tình trạng đê điều Nho Quan còn là một huyện có nhiều hồ nước tự nhiên và nhân tạo nhất

ở Ninh Bình gồm: Hồ Đập Trời nằm tách biệt hoàn toàn khỏi khỏi khu dân

cư, được xây dựng thành trang trại với đồi cây công nghiệp, cây lương thực

và khu trại Hồ Đồng Liều thuộc xã Quỳnh Lưu Hồ Đá Lải thuộc xã Phú Long, có trữ lượng 2,5 triệu mét khối nước Trên diện tích 400m 2 mặt nước nuôi cá lồng tại hồ Đá Lải mỗi năm cho sản lượng 15-18 tấn cá thịt Hồ Đồng Chương là hồ nước nằm giữa đồi thông, nơi đây đã được xây dựng thành khu

du lịch nghỉ dưỡng Hồ Thường Sung nằm gần khu du lịch nghỉ dưỡng Cúc Phương Villa Hồ Yên Quang gồm 4 hồ nước được ngăn bởi các con đập.Hồ Thác Lá là một hồ thiên nhiên dài thuộc thác nước thôn Đầm Bông Hồ Trổ Lưới nằm ở thôn Vệ Đình xã Thạch Bình Hồ Đầm Đống thuộc xóm Ngọc xã Thạch Bình

3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội

3.1.2.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất

Đất đai là điều kiện quan trọng, tham gia vào mọi hoạt động của con người Do đó việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên này đòi hỏi phải hợp lý và hiệu quả Mỗi một địa phương có những điều kiện thuận lợi khác nhau về địa hình, địa chất và phương hướng phát triển kinh tế xã hội Là một huyện miền núi huyện Nho Quan cũng có những định hướng phát triển và lợi thế so sánh riêng Số liệu và tình hình sử dụng đất đai của huyện Nho Quan

được thể hiện qua bảng 3.1

Trang 40

Bảng 3.1: Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của huyện qua 3 năm (2011-2013)

1.2 Đất trồng cây lâu năm 2504,70 15,79 3007,60 18,07 3066,25 18,53 114,43 102,54 108,48

1.3.Đất cỏ dùng vào chăn nuôi 546,90 3,45 234,72 1,41 80,84 0,49 40,90 34,75 37,825

Đất có khả năng nông nghiệp 1141,90 24,22 1015,40 30,68 995,03 31,44 1,26 102,48 51,87

Đất có khả năng lâm nghiệp 3572,90 75,78 2294,50 69,32 2170,16 68,56 0,91 98,90 49,91

VI.Đất phi nông nghiệp khác 1745,60 3,80 1045,35 2,28 653,71 1,43 59,88 62,72 61,3

Nguồn: Chi cục thống kê huyện Nho Quan, 2013

Ngày đăng: 25/11/2015, 23:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Phùng Hữu Chính, Phạm Thị Huyền (2005), Kỹ thuật nuôi ong nội địa cho người bắt đầu nuôi ong, NXB Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi ong nội địa cho người bắt "đầu nuôi ong
Tác giả: Phùng Hữu Chính, Phạm Thị Huyền
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2005
5. Chu Thị Thơm, Phan Thị Lài, Nguyễn Văn Tó (2005), Thực hành nuôi ong, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành nuôi ong
Tác giả: Chu Thị Thơm, Phan Thị Lài, Nguyễn Văn Tó
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2005
7. Phùng Hữu Chính, Phạm Thị Huyền (2005), Kỹ thuật nuôi ong nội địa cho người bắt đầu nuôi ong, NXB Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi ong nội địa "cho người bắt đầu nuôi ong
Tác giả: Phùng Hữu Chính, Phạm Thị Huyền
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2005
13. Ngô Đắc Thắng (2003), Con ong và kỹ thuật nuôi ong nội địa, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con ong và kỹ thuật nuôi ong nội địa
Tác giả: Ngô Đắc Thắng
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2003
14. Phan Đức Nghiệm (2006), 100 câu hỏi đáp nuôi ong lấy mật, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: 100 câu hỏi đáp nuôi ong lấy mật
Tác giả: Phan Đức Nghiệm
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2006
15. MOLISA - Dự án hỗ trợ phát triển nghề nuôi ong lấy mật (2004), Hội thảo hỗ trợ phát triển nghề nuôi ong lấy mật ở tỉnh Quảng Bình, Bộ LĐTB &XH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo hỗ trợ phát "triển nghề nuôi ong lấy mật ở tỉnh Quảng Bình
Tác giả: MOLISA - Dự án hỗ trợ phát triển nghề nuôi ong lấy mật
Năm: 2004
16. Eva Crane-Obe, Doc (1996), Con ong và nghề nuôi ong - Cơ sở khoa học, thực tiễn và những nguồn tài nguyên thế giới (Trần Công Tá dịch), NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con ong và nghề nuôi ong - Cơ sở khoa học, thực tiễn và "những nguồn tài nguyên thế giới
Tác giả: Eva Crane-Obe, Doc
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
17. Lê Quang Trường (2000), Thực trạng và những giải pháp chủ yếu để thúc đẩy xuất khẩu mật ong của công ty ong Trung ương, Luận văn tốt nghiệp đại học, trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và những giải pháp chủ yếu để thúc "đẩy xuất "khẩu mật ong của công ty ong Trung ương
Tác giả: Lê Quang Trường
Năm: 2000
1. Đỗ Kim Chung, Phạm Vân Đình (1997), Giáo trình kinh tế nông nghiệp. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Khác
2. Nguyễn Quang Dong (2007), Kinh tế lượng, Nhà xuất bản thống kê Khác
3. Phạm Thị Mỹ Dung (1996), Phân tích kinh tế nông nghiệp, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội Khác
6. Tạp chí khoa học Kỹ thật ngành ong, 2012, 2013 Khác
8. Báo cáo tình hình kinh tế xã hội huyện Nho Quan, 2013 Khác
9. Chi cục thống kê huyện Nho Quan, Niên giám thống kê huyện Nho Quan(2013) Khác
10. Chi cục thống kê huyện Nho Quan, Báo cáo diện tích sử dụng đất 2011, 2012, 2013 Khác
11. UBND huyện Nho Quan, báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế- xa hội năm 2013, phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 2014 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của huyện qua 3 năm (2011-2013) - phát triển nghề nuôi ong mật ở hộ nông dân huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Bảng 3.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của huyện qua 3 năm (2011-2013) (Trang 40)
Bảng 3.2: Diện tích và cơ cấu cây trồng chủ yếu của huyện qua 3 năm - phát triển nghề nuôi ong mật ở hộ nông dân huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Bảng 3.2 Diện tích và cơ cấu cây trồng chủ yếu của huyện qua 3 năm (Trang 42)
Bảng 3.3 : Cơ sở hạ tầng của huyện Nho Quan - phát triển nghề nuôi ong mật ở hộ nông dân huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Bảng 3.3 Cơ sở hạ tầng của huyện Nho Quan (Trang 44)
Bảng câu hỏi được xây dựng nhằm thu thập các thông tin về đặc điểm của - phát triển nghề nuôi ong mật ở hộ nông dân huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Bảng c âu hỏi được xây dựng nhằm thu thập các thông tin về đặc điểm của (Trang 47)
Bảng 4.1: Số lượng hộ nuôi ong mật tại các xã và thị trấn của huyện qua 3 năm (2011-2013) - phát triển nghề nuôi ong mật ở hộ nông dân huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Bảng 4.1 Số lượng hộ nuôi ong mật tại các xã và thị trấn của huyện qua 3 năm (2011-2013) (Trang 50)
Bảng 4.3: Đặc điểm của chủ hộ nuôi ong  huyện Nho Quan - phát triển nghề nuôi ong mật ở hộ nông dân huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Bảng 4.3 Đặc điểm của chủ hộ nuôi ong huyện Nho Quan (Trang 54)
Bảng 4.5: Số hộ, số đàn và sản lượng mật ong của toàn huyện Nho Quan - phát triển nghề nuôi ong mật ở hộ nông dân huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Bảng 4.5 Số hộ, số đàn và sản lượng mật ong của toàn huyện Nho Quan (Trang 58)
Bảng 4.6: Phân nhóm hộ theo quy mô đàn (2011-2013) - phát triển nghề nuôi ong mật ở hộ nông dân huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Bảng 4.6 Phân nhóm hộ theo quy mô đàn (2011-2013) (Trang 59)
Hình 4.1: Hình thức nuôi ong mật ở hộ - phát triển nghề nuôi ong mật ở hộ nông dân huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Hình 4.1 Hình thức nuôi ong mật ở hộ (Trang 60)
Hình 4.2: Tỷ lệ di chuyên ong ở hộ - phát triển nghề nuôi ong mật ở hộ nông dân huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Hình 4.2 Tỷ lệ di chuyên ong ở hộ (Trang 61)
Bảng 4.7: Tình hình đầu tư trong nuôi ong của hộ, 2013 - phát triển nghề nuôi ong mật ở hộ nông dân huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Bảng 4.7 Tình hình đầu tư trong nuôi ong của hộ, 2013 (Trang 67)
Sơ đồ 4.1: Tình hình phân phối sản phẩm của hộ - phát triển nghề nuôi ong mật ở hộ nông dân huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Sơ đồ 4.1 Tình hình phân phối sản phẩm của hộ (Trang 70)
Bảng 4.9: Chi phí sản xuất của các hộ nuôi ong, 2013 - phát triển nghề nuôi ong mật ở hộ nông dân huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Bảng 4.9 Chi phí sản xuất của các hộ nuôi ong, 2013 (Trang 72)
Bảng 4.12: So sánh kết quả và hiệu quả của nghề nuôi ong - phát triển nghề nuôi ong mật ở hộ nông dân huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Bảng 4.12 So sánh kết quả và hiệu quả của nghề nuôi ong (Trang 77)
Hình thức  Số đợt  Cơ quan thực hiện  Thành viên gđ tham gia - phát triển nghề nuôi ong mật ở hộ nông dân huyện nho quan, tỉnh ninh bình
Hình th ức Số đợt Cơ quan thực hiện Thành viên gđ tham gia (Trang 108)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w