1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước ở tỉnh quảng trị

112 583 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước về phát triển đất nước, đặc biệt được sự hỗ trợ của nguồn vốn NSNN, các tổ chức quốc tế và nguồn huy động từ nội bộ nền kinh tế của tỉnh

Trang 1

BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING



TRẦN DUY LINH

HOÀN THỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ

NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở TỈNH QUẢNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng

Mã số: 60.34.02.01

TP.HCM - 2015

Trang 2

BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING



TRẦN DUY LINH

HOÀN THỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ

NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở TỈNH QUẢNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng

Mã số: 60.34.02.01

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS ĐÀO DUY HUÂN

TP.HCM - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, tất cả các nguồn số liệu được sử dụng trong phạm vi nội dung nghiên cứu của đề tài là trung thực và chưa từng được dùng để bảo vệ một học vị khoa học nào Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đã được cám ơn đầy đủ

Tác giả luận văn

Trần Duy Linh

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Tôi xin chân thành bày tỏ lòng cám ơn sâu sắc đến tất cả các cá nhân, đơn

vị đã giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này

Lời cám ơn đầu tiên tôi xin gửi đến Thầy PGS.TS Đào Duy Huân, người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tận tình tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu để

hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ban lãnh đạo cơ quan Kho bạc Nhà nước Quảng Trị, các bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi trong suốt thời gian học tập lớp cao học

Cuối cùng, tôi xin được cám ơn đến gia đình, những người bạn thân và bạn

bè đã động viên, chia sẻ cùng tôi những khó khăn, tạo điều kiện cho tôi học tập nghiên cứu và hoàn thành luận văn này./

Trang 5

1.1.2.1 Ngân sách nhà nước29T 9 29T

1.1.2.2 Vốn đầu tư XDCB từ NSNN29T 9 29T

1.1.3 Vai trò của vốn đầu tư XDCB từ NSNN29T 11 29T

1.2 Cơ sở lý luận quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN29T 13 29T

1.2.1 Khái niệm quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN29T 13 29T

1.2.2 Mục đích, yêu cầu, phương thức quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN29T 15 29T

1.2.2.1 Mục đích29T 15 29T

1.2.2.2 Yêu cầu quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN29T 15 29T

1.2.2.3 Phương thức quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN29T 171.2.2.4 Một số chỉ tiêu đánh giá trình độ quản lý vốn đầu tư XDCB 18 29T

1.3 Các yếu tố tác động đến quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN29T 19 29T

1.4 Kinh nghiệm trong và ngoài nước về quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN29T 25 29T

1.4.1 Kinh nghiệm quản lý vốn đầu tư XDCB trong nước29T 25 29T

1.4.2 Kinh nghiệm quản lý vốn đầu tư XDCB ở nước ngoài29T 27

Trang 6

1.4.3 Vấn đề rút ra có thể nghiên cứu đối với công tác quản lý vốn đầu tư XDCB

từ NSNN tại tỉnh Quảng Trị29T 28 29T

2.1.2 Thực trạng đầu tư XDCB từ NSNN tại tỉnh Quảng Trị29T 33 29T

2.1.2.1 Về tổng vốn đầu tư XDCB29T 33 29T

2.1.2.2 Về vốn đầu tư XDCB từ NSNN theo ngành29T 35 29T

2.1.2.3 Về phân cấp quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN29T 37 29T

2.1.2.4 Về vốn đầu tư XDCB từ NSNN theo nguồn vốn29T 38 29T

2.1.3 Đánh giá tình hình đầu tư XDCB từ NSNN tại tỉnh Quảng Trị29T 40 29T

2.1.3.1 Kết quả đạt được trong đầu tư của ngành Công nghiệp, Thương mại29T 40 29T

2.1.3.2 Kết quả đạt được trong đầu tư của ngành Nông, Lâm nghiệp, Thuỷ lợi29T 40 29T

2.1.3.3 Kết quả đầu tư đạt được của ngành Giao thông vận tải29T 41 29T

2.1.3.4 Kết quả đầu tư đạt được của ngành Y tế29T 41 29T

2.1.3.5 Kết quả đầu tư đạt được của ngành Giáo dục đào tạo29T 42 29T

2.1.3.6 Kết quả cụ thể đầu tư đạt được trong lĩnh vực Văn hoá, Thông tin, Thể thao, Du lịch29T 42 29T

2.1.3.7 Kết quả đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn29T 42 29T

2.1.3.8 Đánh giá hiệu quả vốn đầu tư (ICOR)29T 43 29T

2.1.3.9 Những hạn chế, khó khăn29T 44 29T

2.2 Đánh giá các khâu về quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN29T 45 29T

2.2.1 Về cơ chế, chính sách quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN29T 45 29T

2.2.2 Đánh giá trong khâu thẩm định, phê duyệt quyết định đầu tư và phân bổ kế hoạch vốn29T 49 29T

2.2.3 Đánh giá khâu cấp phát vốn đầu tư XDCB từ NSNN29T 51 29T

2.2.4 Đánh giá khâu quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN29T 53 29T

2.2.5 Đánh giá công tác thanh tra, kiểm tra vốn đầu tư XDCB từ NSNN29T 55

Trang 7

2.2.6 Đánh giá công tác tổ chức cán bộ trong khâu quản lý vốn đầu tư XDCB

từ NSNN29T 57 29T

2.3 Đánh giá chung29T 61 29T

2.3.1 Những điểm mạnh29T 61 29T

2.3.2 Một số hạn chế29T 63 29T

2.3.3 Nguyên nhân29T 6529T

3.1.2 Mục tiêu đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN đến năm 2015 tầm nhìn

202029T 70 29T

3.1.3 Những hạn chế trong quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN giai đoạn 2009

đến 201329T 76 29T

3.2 Định hướng hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN29T 76 29T

3.3 Đề xuất các giải pháp29T 77 29T

3.3.1 Hoàn thiện công tác quản lý quy hoạch đầu tư, huy động vốn và phân bổ kế hoạch vốn29T 77 29T

3.3.1.1 Về lập quy hoạch, xây dựng kế hoạch đầu tư29T 77 29T

3.3.1.2 Các giải pháp nhằm huy động vốn đầu tư29T 78 29T

3.3.1.3 Hòan thiện công tác Kế hoạch vốn29T 80 29T

3.3.2 Hoàn thiện quản lý quá trình đầu tư và quản lý dự án đầu tư từ NSNN29T 81 29T

3.3.3 Hoàn thiện quá trình cấp phát vốn theo tiến độ đầu tư xây dựng cơ bản cho các dự án29T 82 29T

3.3.3.1 Hoàn thiện công tác đền bù giải phóng mặt bằng29T 82 29T

3.3.3.2 Cải tiến qui trình cấp phát vốn đẩy nhanh công tác giải ngân vốn xây

dựng cơ bản hoàn thành29T 84 29T

3.3.4 Hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao trách nhiệm của các cơ quan quản

lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN 85

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TT VIẾT TẮT NGHĨA

5 CNH-HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

Trang 10

Bảng 2.6: Cơ cấu vốn đầu tư XDCB từ NSNN của tỉnh Quảng Trị trong 5 năm

2009 - 2013 theo phân cấp quản lý 37

Bảng 2.7: Cơ cấu vốn đầu tư thực hiện theo nguồn vốn 38 Bảng 2.8: Hệ số ICOR của tỉnh Quảng Trị 43

Trang 11

M Ở ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình phát triển nền kinh tế xã hội, công việc đầu tư phát triển cơ sở

hạ tầng là một trong những vấn đề then chốt nhất Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước về phát triển đất nước, đặc biệt được sự hỗ trợ của nguồn vốn NSNN, các tổ chức quốc tế và nguồn huy động từ nội bộ nền kinh tế của tỉnh Quảng Trị, công tác đầu tư XDCB ở tỉnh Quảng Trị thời gian qua đã có nhiều khởi sắc, góp phần làm cho diện mạo của đô thị ngày một đổi mới Bên cạnh những kết quả đạt được của việc sử dụng vốn NSNN cho đầu tư XDCB, còn có những tồn tại và hạn chế như: đầu tư manh mún, dàn trải dẫn đến kém hiệu quả và làm thất thoát nguồn vốn của Nhà nước Việc quản lý yếu kém trong đầu tư và sử dụng vốn NSNN, cũng không ngoài nhận định tại chỉ thị 1792/CT-TTg của Thủ tường Chính phủ ngày 15/10/2011 về tăng

cường quản lý đầu tư từ vốn NSNN và vốn trái phiếu Chính phủ: “do phân cấp quá

rộng lại thiếu các biện pháp quản lý đồng bộ dẫn tới tình trạng phê duyệt quá nhiều dự

án vượt khả năng cân đối vốn NSNN và vốn trái phiếu Chính phủ, thời gian thi công kéo dài, kế hoạch đầu tư bị cắt khúc ra từng năm, hiệu quả đầu tư kém, gây phân tán

và lãng phí nguồn lực của Nhà nước Trong khi đó, thời gian tới vốn NSNN rất hạn hẹp, vốn trái phiếu Chính phủ không thể phát hành tăng thêm so với năm 2011 để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, giảm dần bội chi NSNN, bảo đảm an ninh tài chính quốc gia, dư nợ công ở mức cho phép”

Bên cạnh đó, Quảng Trị là một tỉnh có nền kinh tế với xuất phát điểm thấp, việc huy động nguồn vốn đầu tư từ nội bộ nền kinh tế của tỉnh còn hạn chế, chủ yếu dựa vào nguồn hỗ trợ của ngân sách Trung ương và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nói chung và đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách nói riêng càng mang tính cấp thiết

Từ những cơ sở trên đặt ra yêu cầu, công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN, đây là vấn đề hết sức phức tạp và khó khăn không thể giải quyết triệt để cùng một lúc Để góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và nâng cao hiệu quả việc quản lý

nguồn vốn NSNN cho đầu tư XDCB, tác giả đã chọn đề tài "Hoàn thiện công tác

quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước ở tỉnh Quảng Trị" để

làm đề tài luận văn cao học chuyên ngành Tài chính Ngân hàng

2 Tình hình nghiên cứu và liên quan đến đề tài

Trang 12

- Về vốn đầu tư và quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN có nhiều văn bản pháp luật, các văn bản nhà nước đưa ra những qui định về chế độ quản lý vốn đầu tư XDCB Các công trình khoa học khác cũng đề cập đến những vấn đề lý luận chung về quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN như:

- Tác giả Trần Đình Ty (2005), Đổi mới cơ chế quản lý đầu tư từ nguồn vốn NSNN, Nhà xuất bản lao động, Hà Nội

Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc khái quát lý thuyết quản lý đầu tư từ nguồn vốn NSNN và các bước để đổi mới cơ chế quản lý đầu tư từ nguồn vốn NSNN.Thực chất đây chỉ là tài liệu chuyên khảo

- Trường đại học kinh tế quốc dân (2008), Giáo trình quản lý dự án đầu tư, Nhà xuất bản lao động, Hà Nội

Nghiên cứu chủ này do tập thể các nhà khoa học của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân biên soạn với nội dung chủ yếu tập trung vào việc khái quát lý thuyết quản lý

dự án đầu tư trong đó tập trung vào qui trình thẩm định và quản lý dự án đầu tư Vì vậy, đây chỉ là giáo trình

- Luận văn thạc sĩ kinh tế “Tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ

ngân sách tỉnh Hải Dương”, tác giả Đoàn Quang Sơn (2010) Tác giả đã đề cập đến thực trạng quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản tỉnh Hải Dương, trên cơ sở đó đã đề xuất các giải pháp đổi mới công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ ngân sách tỉnh Hải Dương

- Luận văn thạc sĩ kinh tế “Nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Kho bạc Nhà nước Bắc Kạn”, tác giả Nguyễn Quang Huy (2010) Tác đã đề cập đến thực trạng công tác kiểm soát chi đầu tư XDCB ở tỉnh Bắc Kạn Tác giả đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao công tác kiểm soát chi qua KBNN Bắc Kạn

- Luận văn thạc sĩ kinh tế “Nâng cao hiệu quả kiểm soát chi đầu tư xây dựng

cơ bản qua Kho bạc Nhà nước Quảng Trị”, tác giả Võ Phi Dũng (10/2012) Tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng kiểm soát chi đầu tư XDCB của tỉnh Quảng Trị Từ đó

đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình kiểm soát chi đầu tư XDCB từ NSNN của tỉnh Quảng Trị

Các công trình trên đã đề cập đến các vấn đề lý luận chung về quản lý vốn đầu

Trang 13

tư XDCB, qui trình thủ tục kiểm soát chi vốn đầu tư XDCB qua KBNN, đề ra một số giải pháp quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN nói chung Song việc nghiên cứu một cách toàn diện hệ thống và cụ thể quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN tại tỉnh Quảng Trị chưa một công trình tài liệu nào đề cập đến Vì vậy luận văn có thể được coi là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN tại Quảng Trị không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu tổng quát nghiên cứu

Phân tích, đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN ở tỉnh Quảng Trị

3.2 Mục tiêu cụ thể nghiên cứu

Khái quát những yếu tố phản ánh đến công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN ở tỉnh Quảng Trị

Phân tích, đánh giá những thành công, hạn chế trong công tác quản lý vốn đầu

tư XDCB từ NSNN tỉnh Quảng Trị, giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2013

Đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN tỉnh Quảng Trị hiện nay

4 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu nêu trên câu hỏi được đặt ra trong quá trình nghiên cứu của đề tài là:

Một là, những nhân tố nào ảnh hưởng đến công tác quản lý nguồn vốn đầu tư XDCB từ NSNN tỉnh Quảng Trị?

Hai là, những điểm mạnh, điểm yếu trong quản lý nguồn vốn đầu tư XDCB từ NSNN tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn 2009-2013 là gì?

Ba là, giải pháp nào giúp cho công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN được hoàn thiện hơn, có hiệu quả hơn?

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN ở tỉnh Quảng Trị

Trang 14

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các dự án nói chung sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN phạm vi tỉnh Quảng Trị

- Thời gian khảo sát thực tế, lấy dữ liệu giai đoạn từ năm 2009 đến 2013

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê mô tả:

Phương pháp thống kê mô tả thông qua thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp Dữ liệu thứ cấp được thu thập trực tiếp từ Báo cáo tài chính đã được kiểm toán, nguồn vốn đầu tư từ NSNN từ năm 2009 đến năm 2013

Quá trình viết sử dụng phương pháp thống kê mô tả để tổng hợp các phương pháp đo lường, mô tả và trình bày số liệu được ứng dụng vào lĩnh vực kinh tế

Bảng thống kê là hình thức trình bày số liệu thống kê và thu thập thông tin đã thu thập làm cơ sở để phân tích và kết luận, cũng là bảng trình bày nghiên cứu, nhờ đó

mà các nhà quản trị có thể nhận xét tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Thông qua các đại lượng thống kê như: số trung bình, trung vị, tỷ lệ phương sai,

tần xuất, dựa trên số liệu và thông tin được thu thập trong điều kiện không chắc chắn,

để đo lường mức độ tập trung và phân tích dữ liệu liên quan đến nội dung thống kê

- Phương pháp chuyên gia:

Thu thập, xử lý nhanh những đánh giá của các chuyên gia về những điểm mạnh

- hạn chế trong quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN ở tỉnh Quảng Trị giai đoạn năm 2009-2013 và giải pháp để hoàn thiện

Việc lựa chọn chuyên gia thông qua phương pháp định mức (thỏa mãn các điều

kiện về trình độ, kinh nghiệm công tác, cấp bằng, chuyên môn đào tạo) Các chuyên gia được phỏng vấn gồm: Lãnh đạo tỉnh, những cán bộ quản lý Nhà nước về đầu tư XDCB

từ NSNN ở tỉnh Quảng Trị và các chuyên gia có trình độ chuyên sâu thuộc lĩnh vực

quản lý vốn

- Phương pháp diễn dịch – qui nạp:

Sử dụng phương pháp diễn dịch – qui nạp là đi từ khái quát lý thuyết chung về quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN đến trường hợp cụ thể tỉnh Quảng Trị Mặt khác sử dụng phương pháp này để đi từ phân tích việc quản lý vốn XDCB từ NSNN của tỉnh

Quảng Trị từ năm 2009 đến 2013, để từ đó khái quát những thành công và hạn chế Nhờ

Trang 15

sử dụng các phương pháp trên, nên sẽ thực hiện được các mục tiêu đưa ra trong nghiên cứu đề tài

7 Đóng góp khoa học của luận văn

Về lý luận:

Góp phần nhỏ hoàn thiện thêm luận cứ khoa học về vốn đầu tư XDCB và quản

lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN cấp tỉnh như: các yếu tố tác động đến quản lý vốn đầu

tư đặc biệt là hệ thống hóa những nội dung chủ yếu quản lý vốn đầu tư XDCB từ

8 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kiến nghị và kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN

Chương 2: Đánh giá thực trạng quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN tỉnh Quảng Trị thời kỳ 2009-2013

Chương 3: Đề xuất giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN tại tỉnh Quảng Trị

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ THUYÊT VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ

XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1 Tổng quan về vốn đầu tư XDCB từ NSNN

1.1.1 Khái quát về đầu tư và đầu tư XDCB từ NSNN

Có rất nhiều quan niệm về đầu tư, nhưng hiểu một cách chung nhất: đầu tư là quá trình bỏ vốn ở thời điểm hiện tại nhằm mục đích thu được hiệu quả lớn hơn trong tương lai Vốn dùng vào quá trình đầu tư trong một lĩnh vực nào đó bao gồm cả tiền, nguồn lực, công nghệ …được gọi là vốn đầu tư

Trên lĩnh vực kinh tế, đầu tư là hoạt động mang mục đích kiếm lời Tính sinh lời là bản chất đặc trưng cơ bản chủ yếu của hoạt động đầu tư

Như vậy, bất kỳ hoạt động bỏ vốn nào nhằm mục đích thu hiệu quả cao hơn như: mua công trái, trái phiếu, cổ phiếu hay gửi tiết kiệm hoặc xây dựng hạ tầng kinh

tế xã hội, kinh doanh thương mại, dịch vụ đều được gọi là hoạt động đầu tư

Đầu tư XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung, đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các TSCĐ cho nền kinh tế quốc dân thông qua các hình thức xâu dựng mới, xây dựng mở rộng, xây dựng lại, hiện đại hoá hay khôi phục các TSCĐ

Hoạt động đầu tư XDCB là hoạt động xây dựng để tạo ra các TSCĐ được gọi

là đầu tư XDCB

XDCB là các hoạt động cụ thể như khảo sát, thiết kế, xây dựng… nhằm tạo ra các TSCĐ có một năng lực sản xuất và phục vụ nhất định XDCB là một khâu trong hoạt động đầu tư XDCB; nó là quá trình xây dựng cơ sở vật chất của nền kinh tế và năng lực sản xuất của doanh nghiệp Song đây là hoạt động khá phức tạp, thường được thực hiện thông qua các dự án đầu tư, sản phẩm của nó là công trình xây dựng, theo Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014:

“Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án

Trang 17

được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng

Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất,

có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác.”

Theo khái niệm đó hoạt động đầu tư XDCB có nét đặc trưng sau:

Thứ nhất, đầu tư, đặc biệt là đầu tư XDCB là hoạt động có tính chất lâu dài,

thời gian thi công kéo dài, thường cần một lượng vốn lớn và chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: tự nhiên, kinh tế, xã hội… nên độ rủi ro lớn Khi đầu tư cần phải tính toán quy hoạch, dự phòng sự thay đổi trong quá trình thực hiện dự án đầu tư Mặt khác muốn khuyến khích đầu tư cần quan tâm đến lợi ích nhà đầu tư, phải tạo cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư như chính sách thuế, chính sách cho vay ưu đãi, chính sách thanh quyết toán vốn đầu tư sao cho tạo điều kiện thuận lợi thanh quyết toán vốn kịp thời và hạn chế rủi ro cho nhà đầu tư

Thứ hai, khi xem xét thẩm định dự án đầu tư, đặc biệt là đầu tư XDCB cần

phải được nhìn nhận trên cả góc độ hiệu quả kinh tế, chính trị và hiệu quả xã hội, đánh giá hiệu quả lâu dài và trước mắt để lựa chọn phương án tối ưu

Thứ ba, sản phẩm đầu tư XDCB có tính đơn chiếc, chi phí đầu tư thực tế mỗi

công trình khác nhau ngay cả khi hai công trình giống nhau nhưng được xây dựng ở hai địa điểm khác nhau thì chi phí thực tế cũng khác nhau Đây là đặc trưng mà các nhà quản lý vốn đầu tư XDCB cần quan tâm

Thứ tư, sản phẩm đầu tư XDCB còn là hàng hóa đặc biệt, khi chưa sản xuất đã

xác định kẻ mua người bán, người mua ở đây là Chủ đầu tư, người bán là các Nhà thầu; sản phẩm được mua bán thông qua hợp đồng được hai bên thỏa thuận về giá cả, chất lượng, khối lượng… một hoặc rất nhiều lần, quá trình hình thành sản phẩm được chủ

sở hữu vốn là Chủ đầu tư, cấp trên Chủ đầu tư và sự tham gia của các tổ chức kinh tế

xã hội đại diện cho Nhà nước tham gia quản lý

Thứ năm, sau khi hoàn thành đầu tư XDCB, công trình được tạo thành gắn

Trang 18

liền với đất đai nơi mà nó được tạo dựng nên mang tính cố định và chịu ảnh hưởng rất lớn bởi điều kiện tự nhiên như khí hậu, địa hình, cơ sở hạ tầng nơi diễn ra quá trình đầu

tư XDCB Trong quá trình quản lý cần phải tính đến đặc điểm này để làm hạn chế các nhân tố ảnh hưởng xấu đến quá trình và kết quả đầu tư

Về phương thức đầu tư, có 2 hình thức: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp

Đầu tư trực tiếp là hình thức mà người có vốn trực tiếp tham gia quản lý thực

hiện đầu tư, người bỏ vốn và người sử dụng vốn là một chủ thể Vì vậy người đầu tư chủ động quyết định mục tiêu cụ thể và chịu trách nhiệm trước quyết định của mình

Đầu tư trực tiếp có thể phân thành: đầu tư chuyển dịch và đầu tư phát triển

Đầu tư chuyển dịch là hoạt động dịch chuyển vốn từ nguồn này sang nguồn

khác, là sự dịch chuyển giá trị giữa các nhà đầu tư như mua bán cổ phiếu, trái phiếu nhằm tăng tỷ trọng vốn để nắm quyền chi phối và quản trị hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc chuyển dịch sở hữu các cổ phần trong doanh nghiệp sẽ không làm thay đổi vốn doanh nghiệp nhưng lại tạo ra năng lực quản lý và năng lực sản xuất kinh doanh, tạo ra sản phẩm có chất lượng cao

Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư mà chủ sở hữu vốn đầu tư gắn liền với

hoạt động kinh tế của quá trình đầu tư Nó nâng cao năng lực sản xuất Đây chính là hình thức đầu tư tái sản xuất mở rộng tạo việc làm mới và sản phẩm mới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Hình thức đầu tư này quan trọng và chủ yếu nhất

Đầu tư gián tiếp là hoạt động đầu tư mà người bỏ vốn tách biệt khỏi người sử

dụng và quản lý vốn như đầu tư tài chính, gửi tiết kiệm, mua trái phiếu, cổ phiếu Họ không trực tiếp tham gia điều hành quản lý quá trình thực hiện vận hành các kết quả đầu tư mà chỉ cần biết vốn họ được sử dụng ở đâu, sử dụng như thế nào và hiệu quả của đầu tư ra sao Ở hình thức này nhà đầu tư thường gặp rủi ro, mà rủi ro đó nằm ngay trong quá trình đầu tư và là người đầu tư gián tiếp nên họ không cảm nhận được và cảm thấy yên tâm khi quyết định đầu tư

Việc phân loại đầu tư có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý, mỗi hình thức đầu tư đều có vị trí đặc điểm khác nhau đòi hỏi cách quản lý khác nhau Xét trên quan điểm tổng thể nền kinh tế đầu tư gián tiếp hoặc đầu tư chuyển dịch không tự nó vận động và tồn tại lâu dài nếu không có đầu tư phát triển, ngược lại đầu tư phát triển

có thể đạt qui mô lớn nếu có sự đóng góp tích cực của loại hình đầu tư khác Người

Trang 19

quản lý cần biết khai thác sử dụng các hình thức đầu tư một cách hợp lý để đạt được mục tiêu tăng trưởng phát triển kinh tế hợp lý trong từng giai đoạn phát triển của đất nước

Các nguồn lực được sử dụng cho hoạt động đầu tư được gọi là vốn đầu tư

Tất cả hoạt động đầu tư nào cũng cần vốn, vốn này biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, căn cứ vào tính chất có thể phân chúng thành: Vốn đầu tư tiền tệ bao gồm tiền tệ trong nước và ngoại tệ được sử dụng vào mục đích đầu tư; Vốn đầu tư vật quí như: vàng bạc đá quí; Vốn đầu tư hữu hình là loại vốn không những thể hiện là tiền

mà nó thể hiện dưới dạng tiềm năng và lợi thế về vốn tài chính, vốn nhân lực, vốn tài nguyên thiên nhiên …;Vốn vô hình là loại vốn không thể hiện bằng tiền, tài sản mà thể hiện qua công nghệ, uy tín thương hiệu

Nguồn vốn đầu tư XDCB hiện nay bao gồm hai kênh: vốn đầu tư XDCB từ NSNN và vốn đầu tư XDCB ngoài NSNN (vốn tín dụng đầu tư phát triển, vốn vay của các Ngân hàng thương mại, vốn đầu tư từ các doanh nghiệp, từ nguồn tiết kiệm của các tầng lớp dân cư, vốn đầu tư của các doanh nghiệp dân doanh và vốn đầu tư từ trực tiếp nước ngoài FDI…) Trong các nguồn vốn để phục vụ cho đầu tư XDCB thì nguồn vốn

từ NSNN là quan trọng nhất Vì nó chiếm tỷ trọng lớn và được Nhà nước quản lý chặt chẽ theo luật định

Như vậy, nguồn vốn đầu tư XDCB từ NSNN là vốn của Nhà nước được cân đối trong dự toán ngân sách hằng năm để cấp phát và cho vay ưu đãi về đầu tư XDCB nhằm xây dựng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội cho nền kinh tế quốc dân

Hoạt động đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN khác với đầu tư XDCB từ các nguồn vốn khác ngoài ngân sách ở chổ tính chất quyền sở hữu và quyền sử dụng (các

Trang 20

nguồn lực thuộc quyền sở hữu và chi phối toàn diện bởi Nhà nước) đây là đặc trưng dẫn đến mục đích sử dụng nguồn vốn, phương pháp quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN khác với các nguồn vốn đầu tư khác ngoài ngân sách Đặc điểm này chi phối toàn

bộ hệ thống cơ chế chính sách QLVĐT hướng đến phân cấp gắn với trách nhiệm, kiểm tra đôn đốc, giám sát

Căn cứ vào phạm vi, tính chất, hình thức, vốn đầu tư XDCB từ NSNN được hình thành từ các nguồn sau: Nguồn thu trong nước như thuế, phí lệ phí…các khoản thu khác được đưa vào thu NSNN; Nguồn vốn từ nước ngoài như vốn ODA, vốn các

tổ chức phi chính phủ

Theo mức độ kế hoạch hóa, vốn đầu tư XDCB từ NSNN được phân thành: Vốn đầu tư XDCB tập trung; Vốn đầu tư XDCB từ nguồn thu để lại; Vốn xây dựng theo chương trình mục tiêu quốc gia; Vốn đầu tư XDCB được để lại tại đơn vị để tăng cường cơ sở vật chất

Theo Luật ngân sách, quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN được thực hiện thể hiện qua sự phân cấp quản lý bao gồm: Vốn đầu tư XDCB do Trung ương quản lý và vốn đầu tư XDCB do địa phương quản lý Vốn đầu tư XDCB do Trung ương quản lý là nguồn vốn NSTW được cấp có thẩm quyền phân bổ cho các chương trình dự án đầu tư thuộc các Bộ, Ngành Trung ương theo kế hoạch đầu tư XDCB hằng năm và bắt buộc các chương trình dự án đầu tư này phải có trong qui hoạch và kế hoạch được Quốc hội phê chuẩn Vốn đầu tư XDCB được phân cấp cho địa phương quản lý là vốn đầu tư được cân đối từ tổng chi NSĐP dành cho đầu tư phát triển ngoài ra nguồn vốn này có thể còn được bổ sung từ NSTW thông qua trợ cấp cân đối ngân sách từ nguồn vốn tập trung XDCB của NSTW và vốn đầu tư XDCB được để lại theo nghị quyết của Quốc hội

Các dự án, công trình XDCB từ nguồn vốn NSNN đôi khi không có hoặc ít có khả năng thu hồi vốn Tuy nhiên hiệu quả mà nó mang lại có thể là hiệu quả kinh tế và lợi ích xã hội và nếu như không có công trình đầu tư đó thì nền kinh tế không thể phát triển được Trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, NSNN tập trung đầu tư vào các dự án sau:

- Dự án kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội không có khả năng thu hồi vốn thuộc các lĩnh vực: Giao thông, giáo dục đào tạo, y tế; Các công trình văn hóa xã hội, phúc lợi công cộng, thể dục thể thao; Các dự án bảo vệ môi trường sinh thái, vùng lãnh thổ;

Trang 21

Nghiên cứu cải tạo giống mới, nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật mới

- Dự án quốc phòng an ninh không có khả năng thu hồi vốn

- Hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần thiết theo qui định của pháp luật

- Các dự án quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH, vùng lãnh thổ, qui hoạch phát triển ngành, quy hoạch tổng thể phát triển đô thị và nông thôn, quy hoạch chi tiết

1.1.3 Vai trò của vốn đầu tư XDCB từ NSNN

Từ những vấn đề nêu trên cho thấy vốn đầu tư XDCB từ NSNN là điều kiện tiền đề cho một nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững và nó đóng vai trò rất quan trọng như sau:

Thứ nhất, cân đối nền kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường, do cạnh tranh vì mục tiêu lợi nhuận, nên một số ngành kinh tế sẽ phát triển mất cân đối như các ngành mang tính phúc lợi xã hội phục

vụ nhu cầu đời sống nhân dân khả năng thu hồi vốn thấp hoặc ít lợi nhuận thì ít được đầu tư vào; trong trường hợp đó vốn đầu tư từ NSNN đã góp phần quan trọng cân đối điều chỉnh cơ cấu ngành, vùng, lãnh thổ, tạo nên sự cân đối đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Nhờ nguồn vốn đầu tư XDCB từ NSNN mà vai trò chủ đạo của kinh

tế Nhà nước được thực hiện Qua đó, Nhà nước có thể triển khai các dự án trọng điểm nhằm điều chỉnh, cân đối, phát triển kinh tế vĩ mô theo định hướng XHCN

Thứ hai, thực hiện chính sách xã hội

Ngày nay, xã hội nào cũng có mặt trái đó là sự phân hóa giàu nghèo đã làm mức sống và điều kiện sinh hoạt của các tầng lớp dân cư khác nhau Để giảm bớt sự chênh lệch đó tạo sự công bằng xã hội, Nhà nước cần có chính sách xã hội; vốn đầu tư XDCB từ NSNN để xây dựng các công trình phúc lợi là công cụ quan trọng nhất, hiệu quả nhất và chủ động nhất để thực hiện các chính sách đó Thông qua nguồn vốn đầu tư

Trang 22

Nhà nước ta đã thực hiện các chương trình phát triển nông thôn, chương trình trình tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo… tạo điều kiện phát triển kinh tế các vùng sâu vùng xa

Thứ ba, thu hút mọi nguồn vốn đầu tư khác

Nhờ nguồn vốn đầu tư từ NSNN cơ sở hạ tầng phát triển đã tạo điều kiện tiền đề giúp

các thành phần kinh tế phát triển, còn đối với các nguồn vốn đầu tư nước ngoài thì vốn đầu tư XDCB từ NSNN được coi là “vốn mồi” thu hút vốn đầu tư vào phát triển tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội, góp phần giải ngân các nguồn vốn ODA, FDI …

Thứ tư, định hướng phát triển nền kinh tế, ổn định chính trị

Để định hướng phát triển nền kinh tế, vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước

phải được thực hiện, qua nguồn vốn đầu tư từ NSNN có thể triển khai các dự án, công trình trọng điểm nhằm điều chỉnh, cân đối, phát triển kinh tế vĩ mô theo định hướng XHCN

Vốn đầu tư XDCB từ NSNN tập trung cho các lĩnh vực công cộng như các công trình phúc lợi xã hội, các ngành y tế, giáo dục, an ninh quốc phòng và các ngành lĩnh vực có thể không đem lại lợi ích kinh tế hoặc rất khó thu hồi vốn cho nhà đầu tư Do vậy, các nhà đầu tư khác ít hoặc không muốn đầu tư trong khi nhu cầu xã hội về chăm sóc sức khỏe, giáo dục và đào tạo, đảm bảo an ninh ổn định chính trị thì rất cấp thiết Chính vốn đầu tư XDCB từ NSNN đáp ứng các nhu cầu đó

Ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão thông quá trình đầu tư xây dựng và chuyển giao đã tạo điều kiện để nắm bắt tiếp thu công nghệ mới, nâng cao trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới hiện đại mang tầm quốc gia và thế giới đòi hỏi nguồn vốn lớn mới có thể thực hiện mà đôi khi các thành phần kinh tế khác, hoặc tư nhân không đủ sức chỉ có vốn đầu tư từ NSNN mới đáp ứng được

Vốn đầu tư XDCB tạo ra cơ sở vật chất năng lực sản xuất mới, góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế, tạo việc làm mới cho người lao động giảm gánh nặng thất nghiệp cho xã hội, ổn định, an sinh và nâng cao điều kiện sống cho nhân dân Vì vậy, thông qua vốn đầu tư XDCB từ NSNN tạo điều kiện ổn định chính trị, đảm bảo các nhu cầu và điều kiện không ngừng nâng cao hiệu quả bộ máy Nhà nước, phát huy vai trò bộ máy Nhà nước trong quản lý mọi lĩnh vực

T hứ năm, vai trò kiểm tra của NSNN: đồng vốn từ NSNN trong đầu tư XDCB

được kiểm tra kiểm soát chặt Thông qua NSNN kiểm tra quá trình phát triển kinh tế

Trang 23

quốc dân, kiểm tra các ngành, các đơn vị sản xuất kinh doanh nhằm thúc đẩy khai thác tiềm năng kinh tế, kiểm tra bảo vệ tài sản quốc gia, tài sản Nhà nước, chống thất thoát, chống lãng phí, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, đảm bảo trật tự kỷ cương trong hoạt động tài chính

Tóm lại, đầu tư XDCB từ NSNN rất quan trọng có ý nghĩa to lớn là động lực,

là chìa khóa của sự tăng trưởng, phát triển kinh tế, ổn định chính trị, đảm bảo an sinh

xã hội

1.2 Cơ sở lý luận quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN

1.2.1 Khái niệm quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN

Quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN là quá trình tác động điều chỉnh đến vốn đầu tư XDCB từ NSNN cho hoạt động đầu tư nhằm làm cho vốn đầu tư đó được sử dụng hiệu quả chống thất thoát lãng phí

Từ khái niệm trên rút ra các cơ quan có liên quan đến QLNN về vốn đầu tư:

- Nhà nước là cơ quan sở hữu nguồn vốn NSNN đồng thời là cơ quan cấp vốn Như vậy Nhà nước là chủ thể quản lý cấp vốn và Nhà nước thực hiện quản lý thông qua các đơn vị:

+ Chủ đầu tư là cơ quan được Nhà nước cấp vốn đầu tư thực hiện quản lý dự

án, là cơ quan thụ hưởng vốn (có thể là cơ quan khai thác sử dụng dự án)

+ KBNN là cơ quan trực tiếp quản lý luồng tiền đi ra từ NSNN

- Đối tượng quản lý là vốn đầu tư cho các dự án

- Các khách thể tham gia vào hoạt động quản lý là những cơ quan liên quan đến quản lý đầu tư bao gồm, các Nhà thầu là đơn vị trực tiếp thi công thực hiện dự án

Đơn vị thi công

KBNN

Trang 24

Ở sơ đồ trên Nhà nước là chủ sở hữu vốn đồng thời là cơ quan cấp phát vốn KBNN là cơ quan trực tiếp quản lý luồng tiền đi ra từ NSNN và thanh toán vốn trực tiếp cho đơn vị thi công, Nhà thầu Chủ đầu tư là cơ quan thụ hưởng vốn, tổ chức thực hiện và quản lý vốn đầu tư xây dựng đảm bảo đúng qui trình, đúng tiến độ, chất lượng theo quy định Đơn vị thi công là Nhà thầu và cơ quan thực hiện đầu tư

Do đặc điểm vai trò vốn từ NSNN cho nên quá trình vận động vốn thực hiện đầu tư theo Nhà nước mà cụ thể là cơ quan Kế hoạch và Đầu tư thông báo vốn, Cơ quan Tài chính thẩm định nguồn để cấp phát cho Chủ đầu tư trên cơ sở kế hoạch vốn được cấp thẩm quyền phê duyệt Chủ đầu tư nhận vốn để thực hiện dự án Nguồn vốn

đó được vận động thông qua sự quản lý của cơ quan quản lý Nhà nước đó là KBNN KBNN thực hiện giải ngân cho Nhà thầu theo tiến độ dự án

Như vậy trong quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN phải theo dự án nhưng đồng thời có sự phân định giữa quản lý kế hoạch vốn với quản lý cấp phát vốn và kết hợp một cách hài hòa theo tiến độ đầu tư thực hiện dự án, hạn chế được thất thoát lãng phí

Về lý luận và thực tế vốn đầu tư XDCB từ NSNN được cấp theo dự án đầu tư

Vì vậy quản lý vốn đầu tư thực hiện đồng thời với quản lý dự án và nó đóng vai trò quyết định chi phối về chất lượng thực hiện các dự án đầu tư Điều đó cho thấy quản lý vốn đầu tư là một tất yếu có vai trò đặc biệt sau đây:

- Đối với Nhà nước: trong những năm qua Nhà nước ta đã đầu tư một lượng vốn lớn để thực hiện chiến lược phát triển KT-XH Thực tiễn cho thấy hiện nay đầu tư XDCB từ NSNN chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng chi ngân sách Vì vậy vấn đề quản

lý vốn đầu tư XDCB luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta quan tâm để làm sao có thể ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục các sai phạm trong quá trình quản lý như: tham ô, lãng phí, đầu tư dàn trải thiếu tập trung, hiệu quả sử dụng vốn không cao Mặt khác nguồn vốn đầu tư từ NSNN là nguồn vốn được hình thành từ lợi tức, thuế, những khoản đóng góp của nhân dân, những khoản đi vay trong và ngoài nước mà sau này con cháu, thế hệ tương lai của chúng ta phải trả Vì vậy tăng cường QLNN về vốn đầu

tư XDCB đóng vai trò quan trọng nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư XDCB

là đòi hỏi bức xúc nhất hiện nay

- Đối với Chủ đầu tư: với vai trò là người thụ hưởng vốn, là người chịu trách nhiệm toàn diện trước người quyết định đầu tư và pháp luật; Chủ đầu tư tiến hành tổ

Trang 25

chức quản lý vốn thông qua tổ chức đấu thầu, giám sát, nghiệm thu xác định khối lượng đầu tư XDCB hoàn thành, nghiệm thu công trình đảm bảo đúng thiết kế được phê duyệt, đúng qui định về xây dựng đảm bảo chất lượng công trình, phối hợp với đơn

vị thi công xác định khối lượng xây dựng hoàn thành và số vốn đầu tư cần thanh toán cho bên nhà thầu xây dựng

- Đối với Nhà thầu: với vai trò là người trực tiếp thi công, phối hợp với Chủ đầu tư để thực hiện toàn bộ công việc trong dự án đầu tư theo hợp đồng đã ký kết với

Chủ đầu tư Khi nguồn vốn đầu tư XDCB từ NSNN được quản lý tốt sẽ là điều kiện cơ bản quan trọng, giúp Nhà thầu được cung ứng vốn kịp thời, đúng định mức chế độ, đúng tiến độ thi công, đảm bảo chất lượng công trình, chống thất thoát lãng phí do công trình chậm vốn

Từ vai trò đó, cho thấy đầu tư và quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN là một vấn đề lớn rất nhạy cảm, nếu không được quản lý vốn chặt chẽ sẽ gây ra những thiệt hại lớn cho nền kinh tế gây bức xúc Vì vậy, tăng cường quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN là vấn đề hết sức cấp thiết trong giai đoạn hiện nay

1.2.2 Mục đích, yêu cầu, phương thức quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN

1.2.2.1 Mục đích

Vốn đầu tư XDCB từ NSNN có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Nguồn vốn này là tài sản của nhân dân mà Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu Do vậy việc quản lý vốn đầu tư phải đạt được mục đích sử dụng nguồn vốn trọng tâm, trọng điểm, tiết kiệm

và có hiệu quả

1.2.2.2 Yêu cầu quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN

Để đạt mục đích trên, quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN phải đạt được các yêu cầu sau:

Thứ nhất, phải đảm bảo tính công khai dân chủ

Công khai vừa là yêu cầu nhưng cũng là nguyên tắc được quán triệt trong tất cả các khâu của cơ chế quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN Công khai được thể hiện:

+ Công khai các công trình, dự án được thụ hưởng vốn NSNN Tất nhiên không kể các dự án liên quan đến an ninh quốc gia

+ Công khai để đảm bảo dân chủ, thực hiện cơ chế “dân biết, dân bàn, dân

Trang 26

làm, dân kiểm tra”

Có hai phương thức công khai:

Một là, công khai trước: sáng kiến, đề xuất dự án được công khai cho dân biết

trước, thăm dò ý dân trước khi cơ quan Nhà nước quyết định Phương thức này đảm bảo mọi người dân được làm chủ, được quyền tham gia với Nhà nước trong việc quyết định sử dụng vốn NSNN

tư được cơ quan quản lý Nhà nước thẩm quyền phê duyệt và quyết định sau đó công khai cho dân biết Thông qua đó người dân biết vốn NSNN nước chi vào đâu, làm gì, thời gian thực hiện Qua đó người dân tham gia vào quá trình kiểm tra thực hiện dự án

Mỗi phương thức công khai có ưu điểm và hạn chế nhất định Việc lựa chọn áp dụng hình thức công khai phù hợp, phụ thuộc vào yếu tố tầm quan trọng dự án, trình độ dân trí, ảnh hưởng của dự án đến phát triển kinh tế xã hội, đời sống của nhân dân

Thứ hai, phù hợp với quá trình đổi mới của đất nước và yêu cầu phát triển

kinh tế thị trường

Thứ ba, trong quản lý vốn phải đảm bảo nâng cao hiệu quả nguồn vốn:

- Vốn đầu tư XDCB từ NSNN phải sử dụng một cách hợp lý, vốn được đầu tư cho các dự án, các chương trình được ghi vào kế hoạch vốn hằng năm, cần xem xét trên các khía cạnh sau đây:

+ Phải đúng qui mô công trình, lượng vốn phải được đảm bảo đủ cung cấp cho công trình có chất lượng

+ Phải phát huy hết hiệu quả đồng vốn từ ngân sách phải được sử dụng cho các công trình, dự án mang tính khả thi cao đạt được các mục tiêu đầu tư

+ Để chống lãng phí cần chi theo kết quả đầu ra đồng thời có giữ lại một phần

+ Thực hành tiết kiệm trong quản lý vốn đầu tư từ khâu lập dự án, đến khâu cấp phát, quản lý làm sao chống tiêu cực, tham ô, lãng phí ở mọi khâu của quá trình đầu tư

- Đồng vốn đầu tư phải được sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng

Trang 27

1.2.2.3 Phương thức quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN

Phương thức nhưng trong quản lý vốn đầu tư XDCB chủ yếu là phương pháp mệnh lệnh hành chính Nhà nước thông qua quyền lực chính trị quy định mức chi, mức cấp phát vốn …

Nhà nước dùng các công cụ trong quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN như sau:

+ Hệ thống văn bản pháp luật, đây là công cụ tạo hành lang pháp lý để các cơ quan QLNN thực thi công vụ; mọi hoạt động bộ máy Nhà nước của cơ quan quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN từ Trung ương đến địa phương đều dựa trên hệ thống văn bản pháp luật như Luật Đầu tư, Luật xây dựng, Luật Đấu thầu, Luật Ngân sách,

và hệ thống văn bản dưới luật như nghị định, thông tư, quyết định, chỉ thị, các chế độ chính sách tài chính, giá cả, tín dụng bao gồm các quy phạm mệnh lệnh hành chính bắt buộc, quy định các nguyên tắc cơ bản về quản lý vốn đầu tư, quy trình, cơ chế cấp phát vốn, các thủ tục hành chính, trách nhiệm hành chính, những biện pháp đảm bảo pháp chế XHCN và kỷ luật Nhà nước

+ Công cụ thanh tra và kiểm tra trong lĩnh vực quản lý vốn đầu tư từ NSNN:

Luật NSNN cũng như các văn bản pháp quy có liên quan đến đầu tư từ NSNN đã quy định rất chặt chẽ quy trình cơ chế quản lý từ khâu lập dự án, lập kế hoạch, xét duyệt, thẩm định kế hoạch, dự án đến khâu cấp phát quản lý Song quá trình đó được thực hiện như thế nào đòi hỏi Nhà nước cần công cụ để đôn đốc, kiểm tra, giám sát để đánh giá hoạt động đầu tư từ nguồn vốn NSNN Đây là công cụ hữu hiệu góp phần thúc đẩy trật tự kỷ cương đầu tư, làm lành mạnh hóa quan hệ tài chính đảm bảo thi hành đúng đắn nghiêm túc các quy định Nhà nước trong đầu tư, sử dụng vốn NSNN hợp lý có hiệu quả Thông qua công cụ kiểm tra Nhà nước có thể phát hiện sai sót trong quản lý

có giải pháp khắc phục kịp thời chống tiêu cực lãng phí, tham nhũng

1.2.2.4 Một số chỉ tiêu đánh giá trình độ quản lý vốn đầu tư XDCB

Th ứ nhất, sử dụng vốn đầu tư đúng mục đích là tiêu chí định hướng đánh giá

trình độ quản lý vốn đầu tư XDCB

Theo tiêu chí này, khi đánh giá việc sử dụng vốn đúng mục đích có thể sử dụng các chỉ tiêu định tính và định lượng sau đây:

Trang 28

- Vốn đầu tư thực hiện theo kế hoạch: chỉ tiêu này là tỷ lệ % giữa lượng vốn đầu

tư thực hiện so với mức vốn kế hoạch đã bố trí

- Mức độ thực hiện mục tiêu kế hoạch hiện vật và giá trị: chỉ tiêu này là tỷ lệ %

so sánh giữa mức kế hoạch đạt được của từng mục tiêu so với mục tiêu kế hoạch

- Mức độ thực hiện mục tiêu (hiện vật và giá trị) theo nhiệm vụ chính trị, kinh

tế, xã hội của Đảng và Nhà nước Chỉ tiêu này căn cứ vào mục tiêu phấn đấu qui định trong các nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ Cũng như hai chỉ tiêu trên, chỉ tiêu này được xác định bằng tỷ lệ % giữa chỉ tiêu thực hiện so với chỉ tiêu quy định trong các nghị quyết

- Đánh giá hoạt động đầu tư theo định hướng Đây là chỉ tiêu định tính phản ánh việc thực hiện chủ trương đầu tư, hoặc định hướng đầu tư của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế lãnh thổ, cơ cấu quản lý ) Chỉ tiêu này được thể hiện bằng tỷ trọng % của từng thành phần riêng biệt trong tổng số các thành phần của toàn hệ thống của nền kinh tế

Những chỉ tiêu đánh giá đầu tư đúng mục đích, cũng là những chỉ tiêu đánh giá đầu tư có kết quả và hiệu quả, phản ánh việc sử dụng và quản lý vốn đầu tư trong quá trình hoạt động đầu tư ở mọi khâu, mọi nơi đều an toàn, sử dụng đúng nội dung, đúng địa chỉ Như vậy, quản lý vốn trong hoạt động đầu tư Xây dụng cơ bản được đảm bảo

Thứ hai, hệ số huy động tài sản cố định (TSCĐ)

Hệ số huy động TSCĐ là tỷ lệ % so sánh giữa giá trị TSCĐ được hình thành từ vốn đầu tư trong năm so với tổng mức vốn đầu tư trong năm:

Chỉ tiêu này còn gọi là: Hệ số huy động vốn đầu tư trong năm Về bản chất, khi xác định hệ số này phải so sánh giữa TSCĐ hình thành trong năm từ tổng mức vốn đầu

tư trong năm để đầu tư tạo ra tài sản đó Do đặc điểm sản phẩm xây dựng có quy mô lớn, thời gian xây dựng dài nên trong thực tế có độ trễ về thời gian thực hiện đầu tư kể

từ khi bỏ vốn, đầu tư đến khi hoàn thành, đưa dự án, công trình vào khai thác, sử dụng

Vì vậy chỉ tiêu này không phản ánh đúng hiệu quả đầu tư của năm bỏ vốn, mà là phản ánh hiệu quả đầu tư của vài năm trước đó Do đó, khi sử dụng chỉ tiêu này để phân tích , đánh giá hiệu quả phải sử dụng theo cả dãy thời gian Do đỗ trễ và tính liên tục của đầu tư qua các năm, hệ số huy động vốn đầu tư (TSCĐ) từng năm trong cả dãy hệ số liên tục của các năm được coi là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư của năm đó

Trang 29

Chỉ tiêu hệ số huy động TSCĐ (%) hàng năm là chỉ tiêu tương đối phản ánh mức độ quản lý và sử dụng vốn đầu tư được tập trung hay phân tán? Hệ số huy động TSCĐ cao phản ánh mức độ đầu tư được tập trung cao, thực hiện đầu tư dứt điểm, bám sát tiến độ xây dựng dự án, rút ngắn thời gian xây dựng, giảm chi phí quản lý trong thi công

Thứ ba, chỉ tiêu cơ cấu thành phần của vốn đầu tư

Tổng mức vốn đầu tư gồm có 3 thành phần: xây lắp, thiết bị, và chi phí khác Chỉ tiêu cơ cấu thành phần vốn đầu tư là tỷ trọng (%) từng thành phần vốn đầu tư (vốn xây lắp, vốn thiết bị, chi phí khác) trong tổng mức vốn đầu tư

Sử dụng chỉ tiêu này để phân tích mức độ an toàn trong quản lý vốn đầu tư XDCB, xem xét tỷ trọng từng thành phần vốn đầu tư thực hiện (tỷ trọng xây lắp, tỷ trọng thiết bị, tỷ trọng chi phí khác) trong tổng vốn đầu tư Qua đó phân tích xu hướng

sử dụng vốn đầu tư của từng thành phần theo hướng tích cực hay tiêu cực để tìm nguyên nhân và giải pháp khắc phục Theo xu hướng tích cực thì tỷ trọng thiết bị trong tổng vốn đầu tư ngày càng tăng, tỷ trọng vốn xây lắp, chi phí khác ngày càng giảm Đó

là xu thế có tính quy luật vì sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ Tuy nhiên, trong thực tế còn có sự đột biến của các chính sách kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước cũng làm ảnh hưởng đến sự thay đổi về cơ cấu thành phần vốn đầu tư cần được xem xét khi phân tích, đánh giá

Thứ tư, chỉ tiêu đánh giá về hiệu quả kinh tế xã hội

+ Tác động cải tạo môi trường

+ Nâng cao trình độ kỹ thuật của sản xuất, trình độ nghề nghiệp của người lao động

+ Những tác động về xã hội, chính trị, kinh tế, suất đầu tư, tổng lợi nhuận, thời gian thu hồi vốn đầu tư, tỷ suất lợi nhuận, điểm hoà vốn và nhiều chỉ tiêu bổ sung khác tuỳ theo mục tiêu, yêu cầu của sự đánh giá

1.3 Các yếu tố tác động đến quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN

Trang 30

Có nhiều yếu tố tác động đến quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN, bao gồm từ

chủ trương, chiến lược đầu tư; các chủ thể quản lý đầu tư; cơ chế, chính sách quản lý vốn đầu tư; hệ thống kiểm tra, kiểm soát vốn đầu tư Cụ thể như sau:

Thứ nhất, công tác quy hoạch và kế hoạch đầu tư đề ra

Công tác quy hoạch và kế hoạch hoá hoạt động đầu tư (gọi tắt là kế hoạch hoá đầu tư) vừa là nội dung vừa là công cụ quản lý hoạt động đầu tư Để nâng cao hiệu quả

sử dụng vốn đầu tư XDCB thì công tác quy hoạch kế hoạch đầu tư phải xuất phát từ nhu cầu của phát triển kinh tế Mục đích đầu tư cuối cùng của hoạt động đầu tư XDCB

là tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở kỹ thuật cho nền sản xuất xã hội Do đó nhu cầu của nền kinh tế là xuất phát điểm cho việc lập quy hoạch và công tác kế hoạch hoá và phải dựa vào định hướng lâu dài của Nhà nước, phù hợp với quy định của pháp luật Kế hoạch đầu tư phải dựa trên khả năng huy động của nguồn lực trong và ngoài nước đảm bảo tính vững chắc và có mục tiêu rõ rệt Công tác quy hoạch

và kế hoạch phải đảm bảo tính khoa học, tính đồng bộ và tính liên tục Có như vậy thì hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB mới được nâng cao, ngược lại công tác quy hoạch, công tác kế hoạch tính khoa học không cao, không xuất phát từ nhu cầu phát triển kinh

tế, không có mục đích rõ rệt, không có tính bền vững thì dễ gây nên lãng phí thất thoát vốn đầu tư XDCB

Quy hoạch đầu tư: Yêu cầu quan trọng nhất đối với quy hoạch đầu tư là phải bám sát các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, hiện nay yêu cầu này không đạt được có thể do những nguyên nhân sau:

và thông báo một cách đầy đủ cho các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương Điều này khiến quy hoạch đầu tư ở các cấp không gắn chặt với chiến lược phát triển chung

Chủ quan: là do thiếu các phân tích và dự báo về thị trường khiến cho công tác

quy hoạch không có tầm nhìn xa, không theo kịp những thay đổi của các yếu tố khách quan, mang tính chủ quan Bên cạnh đó, việc lồng ghép các quy hoạch trên vùng, lãnh thổ không gắn kết với quy hoạch chung của cả nước cũng có thể dẫn đến tình trạng đầu

tư dàn trải, khiến cho nguồn lực bị phân tán, dự án chậm hoàn thành

Thứ hai, cơ chế, chính sách liên quan đến quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN

Đây là một trong những nhân tố tác động trực tiếp đến huy động và sử dụng vốn đầu tư

Trang 31

XDCB, tác động trực tiếp đến hiệu quả của vốn đầu tư XDCB Các thể chế, chính sách này được bao hàm trong các văn bản pháp luật như: như Luật NSNN, Luật Đầu tư,

Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai, các Luật thuế v.v Ngoài ra, cơ chế, chính sách còn được thể hiện trong các văn bản dưới luật về quản lý

vốn XDCB, các chính sách đầu tư và các quy chế, quy trình, thông tư về quản lý đầu tư và quản lý vốn đầu tư

Cơ chế quản lý vốn đầu tư XDCB NSNN là một bộ phận hợp thành của cơ chế

quản lý kinh tế, tài chính nói chung Đây là hệ thống các quy định về nguyên tắc, quy

phạm, quy chuẩn, giải pháp, phương tiện để làm chế tài quản lý nhằm thực hiện có hiệu

quả các mục tiêu đề ra, cơ chế đúng đắn, sát thực tế, ổn định và điều hành tốt là điều kiện tiên quyết quyết định thắng lợi mục tiêu đề ra Ngược lại, nó sẽ cản trở và kìm hãm, gây

tổn thất nguồn lực và khó khăn trong thực hiện các mục tiêu, các kế hoạch phát triển của Nhà nước

Cơ chế đúng đắn phải được xây dựng trên những nguyên tắc cơ bản như:

- Phải có tư tưởng quan điểm xuất phát từ mục tiêu chiến lược được cụ thể hóa thành lộ trình, bước đi vững chắc;

- Phải tổng kết rút kinh nghiệm cập nhật thực tiễn, phải tham khảo thông lệ quốc tế;

- Minh bạch, rõ ràng, nhất quán, dễ thực hiện, công khai hóa và tương đối ổn định;

- Bám sát trình tự đầu tư và xây dựng từ huy động, quy hoạch, chuẩn bị đầu tư,

thực hiện và kết thúc bàn giao sử dụng bảo đảm đồng bộ, liên hoàn

Thứ ba, kỷ luật tài chính

Thực tế, kỷ luật tài chính bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan Tuy nhiên, hiện nay, kỷ luật tài chính không được đảm bảo phần lớn là do yếu tố chủ quan, bao gồm:

+ Áp dụng sai hệ thống định mức, đơn giá: Đây là yếu tố quan trọng và là căn cứ

tính toán về mặt kinh tế tài chính của dự án Nếu xác định sai định mức đơn giá thì cái sai

đó sẽ được nhân lên nhiều lần trong các dự án, mặt khác cũng như các sai lầm của thiết kế, khi đã được phê duyệt, đó là những sai lầm lãng phí hợp pháp và rất khó sữa chữa

Nguyên tắc chủ yếu và yêu cầu quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình là tổng

mức đầu tư, dự toán xây dựng công trình phải được tính đúng, tính đủ và phù hợp với độ

Trang 32

dài thời gian xây dựng công trình Tổng mức đầu tư là chi phí tối đa mà chủ đầu tư được phép sử dụng để đầu tư xây dựng công trình

Trong thực tế, có nhiều dự án không đảm bảo yêu cầu về quy tắc chung nêu trên

do nhiều nguyên nhân Có những dự án, chi phí xây dựng vượt tổng mức từ vài chục

phần trăm đến vài lần Đến nay việc quản lý chi phí xây dựng ở Việt Nam hầu như chưa bảo đảm được nguyên tắc khống chế bằng tổng mức chủ yếu do các nguyên nhân: trượt giá nguyên vật liệu xây dựng; chủ chủ đầu tư thiếu thông tin xác đáng về suất đầu tư, định mức kinh tế - kỹ thuật (lạc hậu, thiếu); các xảo thuật của các nhà thầu tìm cách

thắng thầu với giá thấp và tìm cách duyệt bổ sung; do phương pháp định giá chưa dựa trên cơ sở giá trị trường làm ngưỡng giá; nhiều định mức, đơn giá hiện đã lạc hậu, thiếu căn cứ khoa học, không đồng bộ, không sát thực tế

+ Các chi phí phát sinh sẽ dẫn tới chi đầu tư vượt dự toán ngân sách Chi phí phát sinh: Đó là chi phí vượt mức dự toán Chi phí phát sinh thường xảy ra đối với các

dự án xây dựng kết cấu hạ tầng, công nghệ Chi phí phát sinh có nhiều nguyên nhân, dưới đây là một số nguyên nhân chính: Việc lập dự toán đã không dự tính được đầy đủ các chi phí, có thể do năng lực của người lập dự toán hoặc do không có đủ cơ sở dữ liệu cho việc tính toán Chi phí đầu vào gia tăng, có thể do nhà cung cấp tăng giá bán hoặc do tình hình lạm phát, mất giá đồng tiền Thiết kế dự án bị thay đổi Có những công việc mới phát sinh không được lường trước trong dự toán

+ Sự thiếu minh bạch;

Kỷ luật tài chính vẫn là một nguyên tắc hàng đầu, cần được nêu cao Có nghĩa là phải tuân thủ pháp luật từ việc chấp hành các cơ chế chính sách, tiêu chuẩn, định mức, cũng như chấp hành nguyên tắc hạch toán Làm được điều này không ai khác chính là

hệ thống tài chính của chúng ta, những người làm công tác quản lý, kế toán phải hết sức quan tâm đến chính sách, chế độ tài chính của Nhà nước

Thứ tư, các chủ thể và phân cấp quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN Sản phẩm

XDCB được hình thành thông qua nhiều khâu tác nghiệp tương ứng với nhiều chủ thể

chiếm hữu và sử dụng vốn nên hiệu quả của đồng vốn vị nhiều chủ thể chi phối Đặc điểm nhiều chủ thể chiếm hữu và sử dụng vốn đầu tư XDCB của NSNN nói lên tính

phức tạp của quản lý và sử dụng vốn Chủ thể quản lý ở đây bao gồm cả chủ thể quản lý

vĩ mô và chủ thể quản lý vi mô (từng dự án) Chủ thể quản lý vĩ mô bao gồm các cơ quan

chức năng của Nhà nước theo từng phương diện hoạt động của dự án Chủ thể quản lý vi

Trang 33

mô bao gồm chủ đầu tư, chủ dự án, các nhà thầu Đối với các dự án nhà nước, “người có

thẩm quyền quyết định đầu tư” xuất hiện với 2 tư cách: tư cách quản lý vĩ mô dự án và tư cách chủ đầu tư – quản lý vi mô dự án Với các tư cách này “người có thẩm quyền quyết định đầu tư” quyết định nhiều vấn đề mà chủ đầu tư trong các dự án khác (không sử

dụng NSNN) quyết định Với tư cách chủ đầu tư, họ phải ra nhiều quyết định để hiệu

quả tài chính dự án là lớn nhất Với tư cách nhà nước, họ phải ra quyết định để hiệu

quả kinh tế quốc dân là cao nhất Nhiệm vụ khó khăn của “người có thẩm quyền quyết định đầu tư” là kết hợp hiệu quả này Tuy nhiên, chủ đầu tư (thay mặt nhà nước) sẽ là

người mua hàng của các chủ thầu, doanh nghiệp xây dựng, tư vấn (chủ thể thứ 3) Các doanh nghiệp này lại phải hoạt động trên quy luật thị trường, vừa bị khống chế bởi

lợi nhuận… để tồn tại, vừa bị khống chế chất lượng sản phẩm xây dựng, hàng hóa, dịch

vụ theo yêu cầu của chủ đầu tư trên cơ sở của thiết kế, dự án và các điều khoản hợp đồng

Trong quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư XDCB của NSNN cần xác định rõ trách nhiệm của “chủ đầu tư” và “người có thẩm quyền quyết định đầu tư”, sự thành công hay thất bại của một dự án nhà nước là thành tích và trách nhiệm của hai cơ quan này Trong việc phân định quyền hạn và trách nhiệm giữa chủ đầu tư và “người có

thẩm quyền quyết định đầu tư” người ta thường đi theo hướng: những quyết định quan trọng thuộc về “người có thẩm quyền quyết định đầu tư” đồng thời mở rộng quyền hạn và trách nhiệm của chủ đầu tư Theo hướng này việc phân cấp các dự án đầu tư cũng căn cứ vào đặc điểm, tính chất, quy mô của từng dự án để phân cấp quyết định đầu tư cho hệ thông các ngành các cấp bảo đảm nguyên tắc chủ động, sáng tạo cho cơ sở, vừa bảo đảm cho hệ thống bộ máy hoạt động đồng đều, đúng chức năng và mang lại hiệu quả cao

Thứ năm, hệ thống kiểm tra, giám sát quản lý sử dụng vốn đầu tư XDCB từ

NSNN Hệ thống kiểm tra giám sát có vai trò và tác dụng tích cực trong quản lý sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN Đây là một chức năng quan trọng của quản lý nhà

nước, là một nội dung của công tác quản lý Đồng thời là phương pháp bảo đảm việc tuân

thủ theo pháp luật của các chủ thể và các bên liên quan Tác động cơ bản là phòng ngừa,

ngăn chặn và xử lý các vi phạm pháp luật Qua các cuộc thanh tra khả năng cũng sẽ phát hiện những sai sót, kẻ hở của cơ chế chính sách góp phần hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách

Hệ thống này chủ yếu các nội dung kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát Kiểm tra là xem xét đánh giá, chủ thể rộng, mục đích là uốn nắn, chấn chỉnh đối tượng có thứ

Trang 34

bậc Thanh tra là xem xét việc làm tại chỗ của cơ quan, địa phương nhân danh quyền lực nhà nước Nhằm phòng ngừa, phát hiện ngăn chặn và xử lý các vi phạm pháp luật Kiểm toán là đánh giá nhận xét tính đúng đắn trung thực của báo cáo tài chính, quyết toán, đánh giá tuân thủ pháp luật, hiệu quả hiệu lực trong quản lý sử dụng tài chính Giám sát

là theo dõi một hoạt động và buộc đối tượng phải làm theo một tiêu chuẩn, nguyên tắc nhất định

Xây dựng cơ bản là một lĩnh vực phức tạp về mặt kỹ thuật Về mặt quản lý vốn đầu tư XDCB nguồn NSNN có nhiều lợi ích đan xen, ràng buộc, được coi là mảnh đất

nhiều tiêu cực, nhiều tổ chức nhiều người (kể cả những người đã nghỉ hưu) đều hay can thiệp vào công việc này với nhiều hình thức phi hành chính như thư tay, điện thoại làm cho nguồn lực dễ bị chi phối, bẻ ghi, lãng phí, thất thoát, xem thường các quy định pháp

luật, cơ chế chính sách, phát sinh nhiều cách lách luật và vận dụng cục bộ gây phương hại đến lợi ích nhà nước Đây là một lĩnh vực rất cần có vai trò của kiểm tra giám sát mới có

thể quản lý, sử dụng vốn tốt Trong các kênh của thông tin để nắm bắt đối tượng quản lý:

kiểm tra, báo cáo, thanh tra, khiếu nại tố cáo, giám sát xã hội thì kênh thanh tra kiểm tra

có độ tin cậy cao nhất (báo cáo tin cậy thấp, khiếu nại tố cáo và giám sát xã hội: độ phân tán cao…), dễ phát hiện tiêu cực (nhất là kiểm tra đột xuất) Tuy nhiên, muốn nâng cao

kết quả công tác này phải hết sức coi trọng nguyên tắc: khách quan chính xác, trung thực; công khai minh bạch và phải tuân theo pháp luật

Thứ sáu, nhân tố thất thoát, lãng phí, tham nhũng

Có thể kể ra một số nguyên nhân dẫn đến thất thoát, lãng phí, tham nhũng trong quản lý vốn đầu tư từ NSNN, đó là:

+ Trình độ năng lực yếu kém của chủ dự án và ban quản lý dự án;

+ Chủ đầu tư, từ chủ đầu tư cao nhất là Nhà nước đến các bộ, ngành và chính quyền các cấp, thiếu trách nhiệm thể hiện qua công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát thực hiện không đầy đủ và chưa nghiêm túc, lề lối làm việc trong nhiều dự án thiếu khoa học;

+ Cơ chế phân công, phân cấp, phối hợp chồng chéo, trách nhiệm không được quy định rõ ràng, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát sinh tình trạng cục bộ, bản vị và khép kín Chính sách tài chính thiếu ổn định, chính sách đền bù giải phóng mặt bằng, tái định cư không thống nhất và thiếu nhất quán;

Trang 35

+ Hệ thống văn bản pháp luật từ quy hoạch, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản đến đấu thầu, giải phóng mặt bằng, nghiệm thu, quyết toán thiếu đầy đủ, nội dung không phù hợp với thực tế, thiếu cụ thể, không đồng bộ, hay thay đổi và thiếu chế tài nghiêm minh

+ Tham nhũng: Tham nhũng làm giảm hiệu quả quản lý vốn đầu tư từ NSNN trên hai phương diện Làm giảm hiệu quả phân bổ trong quản lý vốn đầu tư từ NSNN, chuyển nguồn lực từ các khu vực có lợi sang những khu vực không có lợi qua đó làm giảm hiệu quả vốn đầu tư từ NSNN và tổng vốn đầu tư cả nước Gây tăng chi phí đầu tư: Tham nhũng thường gắn với các khoản hối lộ Khi các khoản hối lộ được tính vào chi phí đầu tư nó sẽ làm tăng tăng giá thành đầu ra

Thứ bảy, yếu tố dàn trải, dự án kéo dài:

Việc bố trí vốn đầu tư XDCB chưa có trọng tâm trọng điểm, còn phân tán, dàn trải, mang tính “chia đều”, qui mô đầu tư chưa sát với khả năng đáp ứng của nguồn vốn nên nhiều dự án phải kéo dài thời gian thực hiện

Dự án bị kéo dài có thể ở khâu xây dựng hoặc khâu thực hiện, hoặc cả hai Các nguyên nhân dẫn đến việc kéo dài dự án, được xếp theo thứ tự quan trọng giảm dần như sau: Nhà thầu thiếu sự đốc thúc, giám sát chặt chẽ ngay tại công trình; Phải thay đổi thiết kế dự án; Thiết kế dự án đưa ra một thời hạn thiếu thực tế; Cấp phát vốn không theo kế hoạch; Nguồn nguyên liệu đầu vào bị thiếu; Sơ suất trong thi công; Trao đổi thông tin giữa các bên liên quan không thông suốt; Công việc mới phát sinh; Thiếu lao động có tay nghề; Thời tiết xấu

1.4 Kinh nghiệm trong và ngoài nước về quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN 1.4.1 Kinh nghiệm quản lý vốn đầu tư XDCB trong nước

Đà Nẵng là một địa phương được biết đến về thành tích cải cách thủ tục hành chính, nâng cao năng lực quản lý trên tất cả các lĩnh vực Nổi bật hơn cả là thành tích trong công tác quản lý vốn đầu tư XDCB

Qua tiếp cận, công tác quản lý vốn đầu tư XDCB ở Đà Nẵng có những nét nổi trội mà các tỉnh thành phố khác cần học tập rút kinh nghiệm, đó là:

- Trên cơ sở văn bản pháp luật có liên quan đến quản lý vốn đầu tư XDCB UBND thành phố Đà Nẵng đã cụ thể hóa để thực hiện; tiến hành phân công phân cấp quản lý hợp lý Điểm nổi bật là UBND TP Đà Nẵng đã hướng dẫn chi tiết về trình tự các

Trang 36

bước triển khai về đầu tư XDCB: từ xin chủ trương đầu tư, chọn địa điểm đầu tư, lập quy hoạch phê duyệt tổng thể mặt bằng; lập dự án đầu tư; thẩm định phê duyệt dự án, lập thiết kế, lập tổng dự toán; bố trí đăng ký vốn đầu tư, đền bù giải phóng mặt bằng; tổ chức đấu thầu hoặc chỉ định thầu; tổ chức thi công, quản lý chất lượng trong thi công; cấp phát thanh toán vốn đầu tư; nghiệm thu đưa công trình vào sử dụng đến thanh quyết toán và bảo hành công trình Gắn với các bước theo trình tự thủ tục, hồ sơ được các chủ thể quản

lý thụ lý một cách có trách nhiệm theo thẩm quyền quản lý của mình Quá trình quản lý, vận hành vốn đầu tư được cụ thể hóa theo quy trình quản lý và giải quyết công việc nhanh gọn chính xác của bộ máy Nhà nước đã tạo một bước đột phá của Đà Nẵng trong khâu cải cách hành chính và nâng cao năng lực bộ máy Nhà nước

- Đền bù giải phóng mặt bằng là khâu khó khăn và phức tạp nhất trong quá trình thực hiện dự án đầu tư XDCB Trong thực tế ở một số địa phương, tình trạng chậm tiến độ, gây ách tắc thất thoát thường diễn ra ở khâu này Riêng Đà Nẵng, công

tác đền bù và giải phóng mặt bằng là một điểm sáng trong cả nước mà các địa phương khác cần tham khảo học tập kinh nghiệm như sau:

Thứ nhất, UBND tỉnh ban hành các quy định về đền bù thiệt hại khi Nhà nước

thu hồi đất Quy định nêu rõ cụ thể, chi tiết về đối tượng, phạm vi, nguyên tắc phương pháp, phân loại tài sản và đơn giá đền bù Điểm đặc biệt của quy định là đền bù đối với đất thu hồi chỉnh trang đô thị được đền bù theo nguyên tắc “Nhà nước và nhân dân cùng làm” Nhà nước chính quyền địa phương đã chú trọng tăng cường công tác tuyên truyền, gắn với việc thực hiện dân chủ cơ sở họ làm cho người dân hiểu rằng việc thu hồi đất để chỉnh trang đô thị để làm tăng giá trị, điều kiện sống, môi trường của khu vực đó và người dân là người được hưởng nguồn lợi trực tiếp từ đầu tư của Nhà nước;

họ cần hy sinh đóng góp một phần nguồn lực của mình

Thứ hai, thực hiện cơ chế dân chủ cơ sở, kết hợp với chính sách khen thưởng

đối với các đối tượng thực hiện giải phóng mặt bằng vượt tiến độ và cưỡng chế kịp thời các đối tượng cố ý chống đối không thực hiện giải phóng mặt bằng khi các điều kiện đền bù theo pháp luật được đáp ứng Thành phố đã chỉ đạo UBND các cấp hàng năm

ký chương trình công tác phối hợp với UBMTTQ cùng cấp để kiểm tra công tác tuyên truyền và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, nhằm hỗ trợ công tác đền bù, giải phóng mặt bằng nói riêng và giám sát cộng đồng về vốn đầu tư XDCB từ NSNN nói chung

Thứ ba, nhân tố con người quyết định mọi thành công trong quản lý, đặc biệt

Trang 37

là vai trò trách nhiệm cá nhân lãnh đạo chủ chốt hết sức quan trọng và có tính chất quyết định đã tác động đến niềm tin của nhân dân đối với sự quan tâm của Nhà nước Mặt khác gia tăng áp lực về trách nhiệm của bộ máy quản lý Nhà nước, bắt buộc công chức viên chức không ngừng trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, bản lĩnh nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu công việc

Thành phố Đà Nẵng ngày nay đã thực sự đổi mới, đô thị được chỉnh trang, hệ thống giao thông phát triển; có thể nói Đà Nẵng bật lên phát triển mạnh mẽ Mà động lực chủ yếu của sự phát triển là nhân tố con người đặc biệt là vai trò cá nhân lãnh đạo chủ chốt về tinh thần gương mẫu “Giám nghĩ, giám làm và giám chịu trách nhiệm” đây

là điểm đúc kết bài học kinh nghiệm quản lý Nhà nước

Qua thực tế quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN tại Đà Nẵng có thể rút ra những vấn đề có thể nghiên cứu đối với công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN tại tỉnh Quảng Trị

1.4.2 Kinh nghiệm quản lý vốn đầu tư XDCB ở nước ngoài

Canada là nước nằm ở vùng Bắc Mỹ, từ những năm 60 nước này đã tiến hành đầu tư CNH-HĐH Cho đến nay đầu tư từ nguồn vốn NSNN đã đem lại sự phát triển kinh tế và đạt được thành tựu đáng kể: từ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, hiện đại hóa ngành vận chuyển quốc tế, đào tạo lực lượng lao động, nâng cấp hệ thống viễn thông

Ở Canada, nguồn vốn đầu tư XDCB từ NSNN được thực hiện theo kế hoạch và thường xây dựng kế hoạch trong 3 năm

Cơ chế quản lý cấp phát như sau: Bộ Tài chính phối hợp với các Bộ Ngành khác cùng xác định chỉ tiêu đầu tư Trên cơ sở các Bộ đề xuất các dự án và vốn đầu tư trình lên Bộ Tài chính và Chính phủ đồng thời giải trình ý kiến của mình trước Bộ Tài chính, sau đó Bộ Tài chính kết hợp với Chính phủ tính toán chi đầu tư cho toàn quốc và phân bổ vốn cho các Bộ, Ngành

Trong trường hợp đầu tư từ mục tiêu chính trị thì Chính phủ đứng ra tổ chức nghiên cứu tính toán để đảm bảo yêu cầu toàn diện

Các dự án đầu tư từ NSNN do Hội đồng Bộ trưởng quyết định có tham khảo kinh nghiệm của Bộ Tài chính Hội đồng Bộ trưởng giao cho Bộ Tài chính và Hội đồng Ngân khố phân tích xem xét đưa ra kiến nghị mà căn cứ vào đó Hội đồng Bộ trưởng mới quyết định cấp cho các Bộ, Ngành vốn từ NSNN trong đó có chi cho đầu tư phát

Trang 38

triển

Cơ chế quản lý cấp phát vốn đầu tư từ ngân sách: Ở Canada Nhà nước được tổ chức theo chế độ liên bang; vì vậy quản lý vốn NSNN mỗi địa phương khác nhau cũng phụ thuộc vào điều kiện KT-XH của địa phương đó

Việc xác định dự án đầu tư được thực hiện như sau: các khoản đầu tư cho dự

án lớn được Chính phủ tính toán quyết định Chính phủ can thiệp giúp tài trợ để địa phương thực hiện dự án Đối với các địa phương lớn thì Bộ Tài chính, Hội đồng Ngân khố và Chính phủ phê duyệt và quyết định dự án Đối với các địa phương nhỏ, Bộ Tài

chính sẽ phối hợp với địa phương, giúp địa phương tính toán dự án, chi phí đầu tư

Hằng năm, kế hoạch ngân sách được xây dựng bao gồm chi thường xuyên và chi cho đầu tư phát triển

Kỳ kế hoạch thường là 3 năm, 5 năm, trong đó có nêu các dự án đầu tư và được công khai cho mọi người dân biết sau đó trình lên Hội đồng tỉnh xem xét, phê duyệt Canada đã quản lý vốn đầu tư từ NSNN theo nguyên tắc công khai trước để lấy

ý kiến của dân để dự thảo ngân sách đảm bảo quyền giám sát của dân và mang tính dân chủ cao

Đối với các dự án đầu tư từ nguồn vốn đi vay, chính quyền địa phương phải chịu sự kiểm soát từ hai phía đó là công dân và từ các Bộ công việc chính quyền địa phương Chính quyền chỉ được phép đi vay khi có sự đồng ý thỏa thuận từ 2 phía Cơ chế này đã hạn chế và ngăn chặn được tình trạng lạm phát và tham nhũng

1.4.3 Vấn đề rút ra có thể nghiên cứu đối với công tác quản lý vốn đầu tư XDCB

từ NSNN tại tỉnh Quảng Trị

Qua thực tế quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN tại TP Đà Nẵng là tỉnh trong nước tiêu biểu trong công tác quản lý vốn Đầu tư XDCB từ NSNN và Canada là đất nước phát triển; có thể rút ra các vấn đề nhằm mục đích nghiên cứu đối với công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN như sau:

- Nhà nước chú trọng cho đầu tư phát triển, đối với đầu tư phát triển vừa và nhỏ Nhà nước khuyến khích huy động mọi thành phần kinh tế bỏ vốn tham gia đầu tư Nhà nước chỉ tham gia vào dự án công trình lớn và đầu tư vào dịch vụ công cộng, có chính sách ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, miền núi, sử dụng đa dạng các hình thức đầu tư: Hợp đồng BOT (Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao); Hợp đồng

Trang 39

BTO (Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh); Hợp đồng BT (Xây dựng - Chuyển giao); Hợp đồng BOO (Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh); Hợp đồng BTL (Xây dựng - Chuyển giao - Thuê dịch vụ); Hợp đồng BLT (Xây dựng - Thuê dịch vụ - Chuyển giao); Hợp đồng O&M (Kinh doanh - Quản lý)

- Phân cấp quản lý đầu tư gắn với qui mô đầu tư, hạn chế đầu tư tràn lan quy

mô quá lớn vượt quá khả năng cân đối vốn đầu tư Hạn chế tình trạng bao cấp vốn đầu

tư cho doanh nhiệp

- Thực hiện cơ chế dân chủ cơ sở, tăng cường quyền giám sát của nhân dân về vốn đầu tư Công khai hóa các quy trình thủ tục cấp phát thanh toán vốn đầu tư, cải cách hành chính nâng cao năng lực quản lý của bộ máy chính quyền địa phương

- Đầu tư phải đảm bảo tính đồng bộ, có kế hoạch và có tầm chiến lược lâu dài,

có quy hoạch tổng thể

- Công tác đền bù giải phóng mặt bằng phải có đơn giá đền bù đúng mức, thỏa đáng giải quyết được mối quan hệ lợi ích Nhà nước và nhân dân theo quan điểm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”

- Đổi mới quản lý theo hướng đề cao pháp luật, tính minh bạch và trách nhiệm của người quyết định đầu tư Nâng cao vai trò tiên phong của cán bộ chủ chốt với tinh thần

“giám nghĩ, giám làm, giám chịu trách nhiệm” và sẵn sàng đối thoại trực tiếp với dân

Do điều kiện tìm hiểu có hạn, tác giả chỉ nghiên cứu trình bày quản lý vốn đầu

tư XDCB từ NSNN ở Đà Nẵng (kinh nghiệm trong nước), Canada (kinh nghiệm nước ngoài) là thành công nhất trong quản lý vốn đầu tư Qua đó rút ra các bài học kinh nghiệm quý báu có ý nghĩa quan trọng, bổ sung thêm kinh nghiệm quản lý đầu tư XDCB

từ NSNN ở Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Trị nói riêng

Trang 40

Tóm tắt chương 1

Chương 1 tập trung đề cập đến một số nội dung khoa học sau

Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận về đầu tư và vốn NSNN cho đầu tư XDCB

theo đó làm rõ khái niệm về đầu tư, vốn đầu tư đặc điểm quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN

Thứ hai, hệ thống hóa có bổ sung và chỉnh sửa nâng cao cơ sở lý luận về quản

lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN Ở đây đã luận giải một số vấn đề lý luận liên quan đến quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN, đặc biệt đã tổng kết những nội dung chủ yếu của hoạt động quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN

Thứ ba, tổng kết kinh nghiệm nước ngoài và tỉnh bạn trong nước về quản lý vốn

đầu tư XDCB từ NSNN, qua đó rút ra những vấn đề có thể nghiên cứu trong quá trình hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN tại Quảng Trị

Trên đây là cơ sở lý luận để phân tích thực trạng và đề ra hệ thống giải pháp ở các chương 2 và chương 3

Ngày đăng: 25/11/2015, 18:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thế Quảng Trị tựa lưng vào dãy Trường sơn hùng vĩ và mặt hướng ra biển  Đông bao la có diện tích tự nhiên  4.744,32km P 2 PR ,  R dân số trên 634 nghìn người ( số liệu  năm 2011) P P - hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước ở tỉnh quảng trị
Hình th ế Quảng Trị tựa lưng vào dãy Trường sơn hùng vĩ và mặt hướng ra biển Đông bao la có diện tích tự nhiên 4.744,32km P 2 PR , R dân số trên 634 nghìn người ( số liệu năm 2011) P P (Trang 41)
Bảng  2.3:  Vốn đầu tư của tỉnh Quảng Trị  trong 5  năm  2009 - 2013 - hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước ở tỉnh quảng trị
ng 2.3: Vốn đầu tư của tỉnh Quảng Trị trong 5 năm 2009 - 2013 (Trang 44)
Bảng 2.4: Cơ cấu vốn đầu tư XDCB từ NSNN Quảng Trị trong 5 năm 2009  -  2013 - hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước ở tỉnh quảng trị
Bảng 2.4 Cơ cấu vốn đầu tư XDCB từ NSNN Quảng Trị trong 5 năm 2009 - 2013 (Trang 45)
Bảng 2. 5:  Vốn Đầu tư XDCB từ NSNN theo ngành lĩnh vực tại tỉnh Quảng Trị trong 5 - hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước ở tỉnh quảng trị
Bảng 2. 5: Vốn Đầu tư XDCB từ NSNN theo ngành lĩnh vực tại tỉnh Quảng Trị trong 5 (Trang 46)
Bảng 2. 6  Cơ cấu vốn đầu tư XDCB từ NSNN của tỉnh Quảng Trị trong 5 năm 2009  - - hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước ở tỉnh quảng trị
Bảng 2. 6 Cơ cấu vốn đầu tư XDCB từ NSNN của tỉnh Quảng Trị trong 5 năm 2009 - (Trang 47)
Bảng 2.8 :  Hệ số ICOR của tỉnh Quảng Trị - hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước ở tỉnh quảng trị
Bảng 2.8 Hệ số ICOR của tỉnh Quảng Trị (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w