Hầu hết các loại thuốc BVTV thường là các chất hoá học có độc tínhcao nên mặt trái của thuốc BVTV là rất độc hại với sức khoẻ con người và là một đối tượng có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài
Rau xanh là nguồn thức ăn không thể thiếu trong bữa ăn của con người.Rau xanh cung cấp vitamin, chất xơ, muối khoáng cần thiết cho cơ thể.Trong tháp dinh dưỡng rau, củ, quả chiếm 30% trọng lượng thức ăn cần chomỗi ngày, chỉ sau thức ăn cung cấp tinh bột (gạo, khoai tây, ngô…)
Sản xuất rau là một ngành mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân.Năm 1997 tổng kim ngạch xuất khẩu rau, quả, hoa, cây cảnh đạt 59,88 triệuUSD (trong đó rau tươi 43,77 triệu), năm 2007 giá trị ước tính đạt xấp xỉ 400triệu USD [19]
Dân số tăng nhu cầu sử dụng rau xanh cũng tăng, diện tích trồng rautăng lên không đáng kể Hơn nữa Việt Nam là đất nước có khí hậu nhiệt đớinóng ẩm thuận lợi cho sự phát triển của rau trồng nhưng cũng rất thuận lợicho sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng Do đóviệc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) để tăng năng suất cây trồng,phòng trừ sâu hại, dịch bệnh bảo vệ mùa màng, giữ vững an ninh lương thựcquốc gia vẫn là một biện pháp quan trọng chủ yếu Cùng với phân bón hữu
cơ, phân bón hóa học thì thuốc BVTV là yếu tố rất quan trọng để đảm bảolương thực, thực phẩm cho con người [27]
Hầu hết các loại thuốc BVTV thường là các chất hoá học có độc tínhcao nên mặt trái của thuốc BVTV là rất độc hại với sức khoẻ con người và
là một đối tượng có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường sinh thái nếukhông được quản lý chặt chẽ và sử dụng đúng cách Dư lượng thuốc BVTVquá giới hạn cho phép trong nông sản, thực phẩm là mối đe dọa đối với sứckhoẻ con người Nhưng những người nông dân trồng rau vẫn thường xuyên
sử dụng thuốc BVTV quá tiêu chuẩn cho phép của nhà nước, sử dụng vớinồng độ cao, mật độ dùng thuốc dày, thu hoạch sớm Đó cũng là nguyên
Trang 2nhân gây ra nhiều ca ngộ độc thực phẩm, số người mắc bệnh ung thư trong
xã hội nhiều lên [25]
Sử dụng thuốc BVTV không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của conngười mà còn ảnh hưởng rất lớn đến môi trường tự nhiên Thuốc bảo vệ thựcvật tích lũy trong đất ảnh hưởng đến các loài động vật đất đặc biệt là nhómgiun đất vốn được coi là “bạn của nhà nông”
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu Supertox 25EC đến năng suất của một số loài rau xanh và giun đất (Oligochaeta) ở vùng rau chuyên canh xã Hồng Thái, Phú Xuyên, Hà Nội”.
Trang 3II Tổng quan tài liệu
2.1 Tình hình nghiên cứu về việc sử dụng hóa chất BVTV
2.1.1 Trên thế giới
Trên thế giới, nền sản xuất thuốc BVTV phát triển nhanh chóngnhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường Cuối những năm 80 của thế kỷtrước, doanh thu từ việc bán thuốc BVTV mới vượt 20 tỷ đô la hàng nămnhưng đến 15 năm sau con số này vượt 35 tỷ, trong đó một nửa là ở Châu
Âu và Bắc Mỹ, khoảng 25% ở Viễn Đông và khoảng 25% ở các nước cònlại (Stephenson, 2003) [32]
Những yêu cầu về mức độ an toàn và sự đánh giá chặt chẽ về ảnhhưởng của thuốc BVTV đến môi trường, người tiêu dùng khiến cho chiphí để sản xuất ra một loại thuốc mới là rất cao Theo IUPAC – KSBS(2003) chi phí trung bình hiện nay là 184 triệu đô la để cho ra một sảnphẩm mới, gấp 8 lần so với 20 năm trước đây bao gồm: phát minh, đăng
ký và sản xuất Để tạo ra một sản phẩm trung bình mất 9,1 năm, đây làkhoảng thời gian tương đối dài [30]
Tại Mỹ, Pimentel và Greiner (ở Đại học Cornell) đã tính được rằng:người nông dân cứ chi 6,5 tỷ đô la thì đã làm giảm giá trị thiệt hại do dịchhại gây ra cho cây trồng là 26 tỷ đô la tức là người nông dân thu được 4
đô la khi cứ chi ra 1 đô la cho thuốc BVTV Nhưng nếu tính đến nhữngchi phí đền bù mà thuốc BVTV phải trả khi làm ảnh hưởng đến sức khỏe
và môi trường thì thu nhập trên chỉ còn 1 đô la Ngoài những ảnh hưởngtrực tiếp của thuốc BVTV lên con người như ngộ độc thực phẩm… thì vớibản chất là các thuốc nhân tạo có độ độc cao và cần có hiệu lực lâu dàivới dịch hại, nên hầu hết thuốc BVTV đều có độc với con người và môitrường cũng như để lại tồn dư trong nông sản (Stephenson, 2003)(Wayland, 1991) [32], [33]
Trang 4Ngày nay việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật là một nhu cầu tất yếucủa con người Vai trò của thuốc BVTV đã được Stephenson khẳng định:Thuốc BVTV đã có vai trò chính trong việc tăng gấp 3 lần sản lượnglương thực trong 50 năm qua; Thuốc BVTV đã đem lại lợi ích cho conngười và môi trường bằng việc giảm đói nghèo, tiết kiệm lao động, nănglượng hóa thạch, đất đai, góp phần hạn chế sự xâm lấn của nông nghiệpvào đất không phù hợp Hiện nay, ở các nước đang phát triển, việc sửdụng thuốc BVTV tăng lên thực sự đã trở thành một sức ép lớn cho môitrường sinh thái Do vậy, chúng ta cần có những chương trình giáo dục vềviệc sử dụng thuốc BVTV nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nó đếnsức khỏe con người và môi trường [32].
Như vậy, có thể thấy rằng việc sử dụng thuốc BVTV trên thế giới đã có
từ rất lâu và tốc độ sử dụng ngày càng gia tăng Đặc biệt các nước đang pháttriển có mức độ sử dụng hóa chất BVTV cao hơn các nước phát triển
2.1.2 Tại Việt Nam
Trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam các loại thuốc BVTV đãđược sử dụng từ rất nhiều năm trước đây Từ thời kỳ đó, tình hình phátsinh, phát triển của sâu hại, dịch bệnh diễn biến chưa phức tạp nên sốlượng và chủng loại thuốc BVTV chưa nhiều Do thiếu thông tin và dochủng loại thuốc BVTV còn nghèo nàn nên người nông dân đã sử dụngnhiều loại thuốc BVTV có độc tính cao, tồn lưu lâu trong môi trường.Những thuốc BVTV thuộc nhóm clo hữu cơ: DDT, 666,… có độ độc cấptính tương đối thấp nhưng tồn lưu lâu trong cơ thể người, động vật vàmôi trường, gây độc mãn tính nên nhiều sản phẩm bị cấm hoặc hạn chế
sử dụng [25]
Những năm gần đây, do thâm canh tăng vụ, tăng diện tích, do thay đổi
cơ cấu giống cây trồng nên tình hình sâu bệnh diễn biến phức tạp hơn Số
Trang 5lượng và chủng loại thuốc BVTV sử dụng cũng tăng lên Đến trước năm
1985, khối lượng thuốc BVTV dùng hàng năm khoảng 6,5 – 9 ngàn tấn thànhphẩm quy đổi và lượng thuốc sử dụng bình quân khoảng 0,3 kg hoạt chất/hathì thời gian từ năm 1991 đến nay lượng thuốc sử dụng dao động từ 25- 38ngàn tấn [27]
Ở Việt Nam, lượng hóa chất BVTV dùng cho lúa chiếm 80,3% Cáccây trồng khác chỉ chiếm từ 5-11% Do đó, người nông dân trồng lúa ở cáctỉnh đồng bằng sử dụng nhiều hóa chất BVTV hơn (1,15-2,66 kg thànhphẩm/ha/năm) so với các tỉnh miền núi (0,23kg thành phẩm/ha/năm) Cơcấu hóa chất BVTV sử dụng cũng có biến động: thuốc trừ sâu giảm từ83,3% năm 1981 xuống 50,5% năm 1997 và chỉ còn 45,5% năm 1998 trongkhi thuốc trừ cỏ, trừ bệnh gia tăng cả về số lượng lẫn chủng loại Nguyênnhân của sự biến động này là do từ năm 1992 nền nông nghiệp Việt Nam
đã áp dụng rất có hiệu quả chương trình Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM).Nhiều hộ nông dân đã biết áp dụng các biện pháp kỹ thuật phòng trừ tổnghợp trong sản xuất và chỉ phun thuốc khi cần thiết theo sự chỉ đạo của cơquan BVTV Tại các địa phương có áp dụng chương trình Quản lý dịch hạitổng hợp (IPM) số lần phun thuốc đã giảm đi Kết quả này chứng minhrằng chương trình Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) là một trong các biệnpháp hữu hiệu nhằm tránh nguy cơ ô nhiễm môi trường do sử dụng thuốcBVTV Tại nhiều địa phương, số lần phun thuốc đã giảm 73%, trong đó sốlần phun thuốc trừ sâu đã giảm 80-90% [25]
Tình hình nhập khẩu thuốc BVTV vào nước ta qua các năm từ 1991 đến 2006 được thể hiện ở bảng sau:
Trang 6Bảng 1: Lượng hóa chất BVTV nhập khẩu vào Việt Nam
Nguồn: Nguyễn Hồng Sơn, Vũ Đình Tuấn – Cục BVTV, 2008 [24]
Hầu hết các loại thuốc BVTV sử dụng trong nông nghiệp Việt Nam đềunhập khẩu từ nước ngoài Khối lượng thuốc BVTV nhập khẩu tăng từ 13000-
15000 tấn/năm những năm đầu thập kỷ 90 lên 33000-38000 tấn những năm
2000 Đặc biệt các năm 2005 và 2006 do bùng phát dịch rầy nâu và vàng lùnxoắn lá tại các tỉnh Nam bộ nên lượng thuốc BVTV nhập khẩu đã tăng lên
51000 tấn (2005) và 71000 tấn (2006) Hiện tượng nhập lậu các loại thuốcBVTV (bao gồm cả thuốc cấm, thuốc ngoài danh mục, thuốc hạn chế sửdụng) đang là vấn đề chưa thể kiểm soát nổi Hàng năm vẫn có một khốilượng lớn thuốc BVTV nhập lậu vào nước ta Tình trạng các thuốc BVTV tồnđọng không sử dụng, nhập lậu bị thu giữ đang ngày càng tăng lên về số lượng
và chủng loại Hầu hết các loại thuốc BVTV tồn đọng này được lưu giữ trong
Trang 7các kho chứa tồi tàn hoặc bị chôn vùi dưới đất không đúng kỹ thuật nên nguy
cơ thẩm lậu và dò rỉ vào môi trường là rất đáng báo động Cùng với thuốcBVTV tồn đọng, các loại thuốc và bao bì, đồ đựng thuốc BVTV đang là nguy
cơ đe dọa sức khoẻ cộng đồng và gây ô nhiễm môi trường nếu không áp dụngngay các biện pháp giải quyết khẩn cấp [25]
Trước tình hình này Bộ Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn, CụcBVTV đã có nhiều văn bản quy định và hướng dẫn cách sử dụng thuốcBVTV an toàn có hiệu quả đặc biệt là trên rau và chè nhưng việc sử dụngthuốc BVTV còn bộc lộ nhiều bất cập chưa tương xứng với yêu cầu của nềnsản xuất nông nghiệp sạch Kết quả là làm ảnh hưởng đến chất lượng nôngsản tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Việc tăng liều lượng thuốc, tăng số lầnphun thuốc, dùng thuốc BVTV không theo hướng dẫn, lạm dụng thuốc BVTV
đã dẫn đến hậu quả là gây ra hiện tượng kháng thuốc, làm thuốc mất hiệu lực,
để lại tồn dư thuốc BVTV quá mức cho phép trong nông sản, thực phẩm Đócũng là nguyên nhân của tình trạng ngộ độc thực phẩm, làm giảm sức cạnhtranh của nông sản, hàng hoá trên thị trường thế giới
Ngoài ra, việc không tuân thủ thời gian cách ly sau khi phun thuốc, tìnhtrạng vứt bao bì thuốc BVTV bừa bãi sau sử dụng khá phổ biến Thói quenrửa bình bơm và dụng cụ pha chế thuốc BVTV không đúng nơi quy định gây
ô nhiễm nguồn nước, gây ngộ độc cho động vật thuỷ sinh cũng cần được cảnhbáo và khắc phục ngay
Do nhu cầu sử dụng thuốc BVTV tăng, các cơ sở kinh doanh, buôn bánmặt hàng thuốc BVTV cũng ngày càng gia tăng Mặc dù thuốc BVTV là mộtmặt hàng kinh doanh có điều kiện trang thiết bị đảm bảo nhưng không phải cơ
sở nào cũng có đầy đủ các điều kiện cần thiết như quy định Trừ các đại lý cấp 1còn lại phần lớn các cửa hàng kinh doanh hóa chất BVTV đều không có khochứa riêng biệt hoặc có kho chứa nhưng nằm quá gần khu dân cư Kết quả thanh
Trang 8tra 14570 lượt cửa hàng, đại lý kinh doanh thuốc BVTV năm 2006 cho thấy có14,8% vi phạm các quy định về kinh doanh thuốc BVTV Tính đến 31/12/2006,
cả nước có 60 nhà máy, cơ sở sản xuất gia công, sang chai, đóng gói hóa chấtBVTV và 22509 đại lý, cửa hàng kinh doanh bán hóa chất BVTV Hàng năm,thanh tra chuyên ngành bảo vệ và kiểm dịch thực vật đã tiến hành khoảng 500 -
600 đợt thanh tra việc thực hiện pháp luật BVTV và đã xử lý 3000 - 4000 trườnghợp vi phạm Năm 2000, tỷ lệ vi phạm trong sản xuất hóa chất BVTV là 25%,năm 2006, tỷ lệ này giảm xuống còn 15,9% Riêng 10 tháng đầu năm 2007,thanh tra chuyên ngành bảo vệ và kiểm dịch thực vật đã tiến hành 492 đợt thanhtra, kiểm tra với 10127 lượt cơ sở sản xuất, cửa hàng, đại lý kinh doanh hóa chấtBVTV, đã phát hiện 4 cơ sở sản xuất và 1457 cửa hàng đại lý có vi phạm (chiếm14,3%) Tính đến nay, số lượng hóa chất BVTV tồn đọng bị thu giữ cần phảitiêu hủy trong cả nước gần 171 tấn Tổng số tiền phạt thu nộp ngân sách trên 1,7
tỷ đồng Trong số các cơ sở gia công, sang chai, đóng gói thuốc BVTV vẫncòn nhiều cơ sở chưa quan tâm đúng mức đến việc cải tiến công nghệ còn sửdụng các dây chuyền công nghệ lạc hậu gây ô nhiễm Đặc biệt là hệ thống xử lýchất thải chưa đạt các tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường [25]
Trình độ của người kinh doanh hóa chất còn thấp so với yêu cầu Theokhảo sát, chỉ có 7,4% có trình độ đại học; 5,9% có trình độ trung cấp; số cònlại mới chỉ qua các lớp huấn luyện ngắn ngày, trong khi có tới 91% nông dântìm hiểu cách sử dụng hóa chất BVTV trực tiếp từ người bán thuốc [25]
Khi kiểm tra dư lượng thuốc BVTV trên 373 mẫu rau năm 2006, chothấy có 33 mẫu (chiếm 13,46%) vượt mức dư lượng cho phép Đây là nguyênnhân của tình trạng ngộ độc thực phẩm, làm giảm sức cạnh tranh của nôngsản, hàng hoá trên thị trường thế giới và cũng là nguy cơ tiềm ẩn đe dọa đếnsức khoẻ cộng đồng và gây ô nhiễm môi trường [25]
Bảng 2: Tình hình ngộ độc thực phẩm ở Việt Nam năm 2003, 2004
Trang 9Nguồn: Phan Trần Khánh, Cục ATVSTP, 2005 [26]
Những năm gần đây, trong nông nghiệp và nông thôn đã phát động
phong trào 4 đúng đối với hóa chất BVTV là: đúng chủng loại, đúng liều lượng, đúng lúc và đúng phương pháp Nhưng phong trào chưa đi vào diện
rộng và còn nhiều hạn chế
Theo kết quả kiểm tra tình hình sử dụng thuốc BVTV trên rau của 4600
hộ nông dân năm 2006 cho thấy có tới 59,8% số hộ vi phạm về quy trình sửdụng thuốc Số hộ không giữ đúng thời gian cách ly: 20,7%; sử dụng thuốccấm, thuốc ngoài danh mục: 10,31%; sử dụng thuốc hạn chế trên rau: 0,18%;
sử dụng thuốc không rõ nguồn gốc, xuất xứ: 0,73% Chi cục BVTV Hà Nộinăm 2006 thông báo, 100% nông dân vùng ngoại thành vẫn phun thuốc định kỳ
để tránh rủi ro, có tới 50% nông dân tự tiện tăng nồng độ lên gấp đôi Ở thànhphố Hồ Chí Minh, nông dân ngoại thành phải phun 20-30 lần/vụ thuốc BVTVđối với rau cải bắp, còn trên cây nho, nông dân ở Ninh Thuận phải phun thuốctới 80 lần/vụ Hầu hết những người trồng rau chỉ dùng thuốc trừ sâu mà khôngquan tâm đến thời gian cách ly để đảm bảo an toàn lao động và vệ sinh thựcphẩm Hiện tượng phun thuốc trừ sâu ngày hôm trước và vài ngày sau đã thuhoạch rau để bán diễn ra phổ biến Bên cạnh việc tăng lượng dùng và số lầnphun, nông dân thường trộn các loại thuốc khác nhau thành hỗn hợp Họ kỳ
Trang 10vọng rằng, có thể tạo ra loại thuốc mới có phổ tác động rộng trừ đồng thờinhiều loại sâu bệnh và nâng cao hiệu quả của thuốc Tuy nhiên, do thiếu kiếnthức về hỗn hợp thuốc nên các hỗn hợp tự pha chế thường không hợp lý, khôngnhững không có tác dụng hỗ trợ cho nhau mà đôi khi còn làm giảm tác dụng,gây lãng phí thuốc và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng [25].
2.2 Ảnh hưởng của hóa chất bảo vệ thực vật đến rau trồng
Sản xuất rau ở nước ta được tập trung ở 2 vùng chính:
Vùng rau tập trung, chuyên canh ven thành phố, thị xã và khu côngnghiệp chiếm 46% diện tích và xấp xỉ 45% sản lượng Sản xuất rau cung cấpcho thị trường nội địa là chính Chủng loại rau ở đây rất phong phú: 60-80loại trong vụ đông xuân, 20-30 loại trong vụ hè thu
Vùng rau hàng hoá, luân canh với cây lương thực tại các vùng đồngbằng lớn, chiếm 54% diện tích và 55% sản lượng Rau ở đây tập trung chochế biến, xuất khẩu và lưu thông trong nước… [19]
Theo thống kê, tại các vùng sản xuất rau trong cả nước, năm 2006lượng hóa chất BVTV nhập khẩu vào Việt Nam là 71345 tấn tăng 34756 tấn
so với năm 2001 (36589 tấn) Năng suất rau năm 2006 đạt mức cao nhất14,99 tấn, tăng 10,2% so với năm 2001 (13,14 tấn/ha), bằng 95% so với trungbình toàn thế giới (15,7 tấn/ha) [19] Như vậy, việc sử dụng thuốc BVTV đãgóp phần làm tăng năng suất rau trồng
Thuốc BVTV được coi như “Thần dược” nên người nông dân có
thói quen thường xuyên sử dụng Hiện tượng lạm dụng hóa chất BVTVnhư tăng số lần và nồng độ phun thuốc, không đảm bảo thời gian cách ly,phun không theo diễn biến của dịch hại Hiện tượng này đã trở thành hiệntượng phổ biến ở hầu hết các vùng sản xuất, đặc biệt trên các loại câytrồng dễ nhiễm nhiều sâu bệnh như rau, chè… Tình hình ngộ độc thực
Trang 11phẩm do các hóa chất độc, trong đó có hóa chất BVTV vẫn diễn ra phứctạp và có chiều hướng gia tăng.
Bảng 3: Dư lượng hóa chất BVTV trong một số loại rau
Loại rau Năm Tổng số
mẫu
Tỷ lệ mẫu Không có
dư lượng
Có dư lượng
Có dư lượng
>TCCP
Rau cải
2000200120032004
27926410236
41,254,149,036,1
54,541,738,255,6
4,34,212,88,3
Rau
muống
2000200120032004
27926415336
67,062,554,263,9
29,431,437,333,3
3,66,18,52,8Đậu đỏ
200120032004
13210236
29,628,455,5
51,544,130,6
18,927,513,9
Dưa chuột 2002
2004
6075
55,069,3
35,026,7
10,04,0
Nguồn: Trung tâm KDTV phía Bắc, 2005 [26]
Theo TS Marcus Theurig (2002), nếu không sử dụng hóa chất BVTVthì loài người cần đến 3 lần diện tích trồng cây như hiện nay Vì vậy, hóa chấtBVTV cùng với phân bón hóa học là những phát minh quan trọng nhằm đảmbảo an ninh lương thực cho loài người [24] Tuy nhiên, mặt trái của hóa chấtBVTV là rất độc hại cho sức khỏe con người và có nguy cơ gây ô nhiễm môitrường cao Ngoài ra, khi phun hóa chất BVTV thì có tới 50% lượng thuốc rơi
Trang 12vào đất và khi đó chúng sẽ bị biến đổi, phân tán theo nhiều con đường khácnhau gây ô nhiễm môi trường [27].
2.3 Ảnh hưởng của hóa chất bảo vệ thực vật đến giun đất (Oligochaeta)
ở đất trồng rau chuyên canh
Sinh vật sống trong đất rất phong phú và đa dạng Trong môi trườngnày có đại diện của rất nhiều ngành động vật sinh sống như: động vật đơnbào, giun tròn, giun đất, chân khớp…
Động vật đất góp phần quyết định độ phì nhiêu của đất Thông qua hoạtđộng sống của động vật đất mà các thành phần hữu cơ, vô cơ được phân hủy
và phối trộn làm tăng độ xốp, độ thoáng khí, tính thấm nước theo hướng cólợi cho cây trồng đồng thời giải phóng các chất dinh dưỡng cần thiết cho câytrồng sử dụng
Sự tham gia của động vật đất trong quá trình phân hủy xác hữu cơđộng, thực vật gồm rất nhiều nhóm, nhưng vai trò quan trọng đặc biệtphải kể đến giun đất (Oligochaeta) Cách đây hơn 100 năm, nhà tự nhiênhọc vĩ đại Darwin đã viết: “lưỡi cày là một trong những công cụ cổ xưanhất và có ý nghĩa nhất do con người chế tạo ra Nhưng đã lâu lắm trướckhi phát hiện ấy ra đời; giun đất đã và sẽ còn mãi mãi cày đất thườngxuyên” Khi những lưỡi cày này xới đất làm cho lớp đất bạc màu phía trênđược lộn xuống phía dưới, lớp đất màu mỡ phía dưới được đưa lên trên.Giun đất đã giúp cho con người đùn hàng tấn đất từ những lớp dướichuyển lên bề mặt một cách âm thầm lặng lẽ Theo tính toán của Darwin,sau 15 năm giun đất đã đùn lên một lớp đất dày chừng 6,25 cm, sau 21năm lớp đất đó dày chừng 10 – 12 cm [14]
Một số tác giả khác cho rằng khi có giun đất, chúng đào hang giúp chokhả năng ngấm nước vào sâu trong lòng đất tránh xói mòn, giữ được độ ẩmcho đất, làm đất tơi xốp, giúp vi khuẩn, nấm hoạt động tốt hơn (Lê Văn Triển,
Trang 132000) [21] Các nghiên cứu cho thấy nếu 1m2 mặt đất có 150 con giun thìhàng năm mỗi ha đất sẽ cung cấp 150 tấn phân giun, trong đó có 20 tấn đượcđùn lên mặt đất Trong ống tiêu hóa của giun các vụn hữu cơ được nghiền cơhọc, được phân hủy hóa học nhờ nhiều loại dịch và men tiêu hóa Trong phângiun có chứa lượng enzim khá lớn, trung bình lượng enzim trong 1 tạ phângiun bằng lượng enzim trong 5 tạ phân chuồng (Vũ Quang Mạnh, 2000) [15].Trong phân giun chứa lượng lớn photpho trao đổi, đạm amon, axit canxi(Thái Trần Bái, 2000) [3] Đây là nhóm động vật đất hoại sinh, thức ăn chínhcủa chúng là xác hữu cơ, qua quá trình tiêu hóa thải ra phân tơi xốp giàu N, P,
K dễ tiêu trở lại môi trường đất
Trên thế giới, giun đất được con người sử dụng vào nhiều mục đích:nuôi lấy đạm, xử lý rác thải có nguồn gốc từ hữu cơ, cải tạo đất cằn, làmthuốc, yếu tố chỉ thị môi trường… Tại Việt Nam, giun đất được sử dụnglàm nguồn đạm vỗ béo, gà, vịt… Sử dụng giun đất như yếu tố góp phầncải tạo đất
Cùng với tốc độ đô thị hóa và sự gia tăng dân số nhanh chóng, đấtđai canh tác bị thu hẹp dần và cằn cỗi theo thời gian Phân hữu cơ truyềnthống đã dần bị loại bỏ do bẩn, mùi hôi thối và mang nhiều vi khuẩn gâybệnh Phân bón hóa học trong quá trình sử dụng liên tục đã ảnh hưởng đến
độ phì nhiêu của đất và làm chai cứng đất Việc lạm dụng hóa chất bảo vệthực vật đã hủy diệt các loài thiên địch của ngành nông nghiệp mà bảnthân nó là tác nhân rất tốt góp phần tiêu diệt sâu bọ có hại, cải tạo đấttrồng nâng cao sản lượng
Có rất nhiều nghiên cứu về tác động của thuốc trừ sâu lên động vật đất.Trong số các sinh vật đất được nghiên cứu thì tùy từng nhóm mà có các phảnứng khác nhau với các loại thuốc trừ sâu khác nhau Chẳng hạn, thuốc diệtnấm không cho thấy có ảnh hưởng đến lớp hình nhện (Arachnida), kiến
Trang 14(Formicidae), giun tròn (Nematoda), mà có ảnh hưởng đến giun ít tơ(Lumbricidae) và giun trắng (Enchytraeidae) Thuốc diệt côn trùng lại có ảnhhưởng đến giun ít tơ, bọ nhảy (Collembola) và lớp hình nhện (Paul HenningKrogh, 1995) [31].
Trong môi trường bị tác động, cấu trúc loài ưu thế nhìn chung đượcđặc trưng bởi việc tăng đại diện các loài ưu thế (thường chỉ một hoặc hailoài) và sự giảm đồng thời của các đại diện loài còn lại Khi môi trường bịtác động mạnh hơn, một tỉ lệ đáng kể của các loài với số lượng cá thể nhỏ
bé bị biến mất Trong những quần xã như vậy, chỉ còn các loài chiếm ưuthế là các loài đóng vai trò chính còn các loài còn lại chỉ xuất hiện vài lầnhay một lần Loại cấu trúc này phản ánh sự suy thoái của môi trường đất(Elzbieta Chudzicka, 1994) [29]
Tính đa dạng và thành phần loài của các quần xã động vật đất giảm đihoặc tăng đột ngột không bình thường so với các quần xã ở môi trường đốichứng, nơi không sử dụng thuốc (Nguyễn Trí Tiến, 2000) [20]
Cấu trúc quần xã động vật đất có các thay đổi khác nhau, tùy theo khốilượng và nồng độ sử dụng của thuốc hóa học Khi sử dụng hóa chất với mộtnồng độ và tỷ lệ phù hợp thì tạo được động lực tích cực lên môi trường và hệđộng vật đất Ngược lại, nếu dùng hóa chất không hợp lý sẽ có tác động xấu,tiêu diệt nhiều nhóm loài nhạy cảm, thường chiếm số lượng cá thể ít nhưng lại
có vai trò quyết định đến đặc điểm đa dạng loài của quần xã Kết quả là việc
sử dụng hóa chất làm suy giảm độ đa dạng sinh học, gây xáo trộn cấu trúcquần xã của hệ động vật, dẫn đến sự mất cân bằng và ổn định của hệ sinh tháiđất (Vũ Quang Mạnh, 2003) [16]
Tuy nhiên, khi đã sử dụng thuốc hóa học cho dù với nồng độ và chu
kì nào đi nữa thì thuốc trừ sâu luôn làm thay đổi cấu trúc quần xã của hệđộng vật đất nói chung và cấu trúc ưu thế của nhóm động vật chân khớp ở
Trang 15đất nói riêng Việc phá vỡ và thay đổi cấu trúc này dẫn đến sự tăng vượttrội số lượng cá thể của một hay vài loài và nhóm động vật hạt nhân, màmật độ quần xã động vật đất được quy định bởi chính các loài này Nhưvậy, việc sử dụng đã tạo ra kiểu cấu trúc đột biến Đây là kiểu cấu trúc màtrong đó xuất hiện một vài nhóm, loài phát triển với số lượng ưu thế độtngột, không tự nhiên Trong nghiên cứu sinh thái học chỉ thị, việc xuấthiện sự ưu thế bất thường trong cấu trúc quần xã động vật được xem xétnhư là một chỉ số xác định mức độ thoái hóa của môi trường đất (NguyễnThị Thu Anh, 2009) [1]
Các nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc BVTV đến cây trồng vàđộng vật đất đã được tiến hành từ rất lâu và đều khẳng định rằng: thuốcBVTV làm tăng năng suất cây trồng để đảm bảo nhu cầu lương thực phẩmcủa con người nhưng chúng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường đất
và các nhóm động vật trong đất Đặc biệt là nhóm giun đất được coi nhưyếu tố chỉ thị môi trường (thành phần cơ giới, pH, thay đổi cảnh quan theohướng thuận hay nghịch do can thiệp của con người, chỉ thị nguồn gốc củamột vùng đất) [10]
Trang 16Hình 1: Rau muống
(Ipomoea aquatica F.)
III Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu Supertox 25EC đến năng suấtcủa một số loài rau và thành phần, mật độ, sinh khối của giun đất ở vùng rauchuyên canh xã Hồng Thái, Phú Xuyên, Hà Nội
3.2 Đối tượng nghiên cứu
3.2.1 Loài nghiên cứu
* Rau muống (Ipomoea aquatica F.).
Họ Khoai lang (Convolvulaceae)
Bộ Khoai lang (Convolvulales)
- Thành phần hoá học: Rau
muống có 92% nước;
0,2 % protein; 2,5 % gluxit;
1% xenluloza; 1,3% tro
Hàm lượng muối khoáng cao: can
xi, phospho, sắt Vitamin có carotene, vitamin C, vitamin B1, vitamin PP…
- Phân bố: Rau muống có nguồn gốc từ nhiệt đới châu Á, được trồngnhiều ở khu vực Nam và Đông Nam Á, nhiệt đới châu Phi…
- Đặc điểm: Đây là loài rau muống cạn được trồng trên luống đất,không cần nhiều nước thường có màu trắng xanh, nhỏ Cây thân cỏ, lá đơnnguyên Rau muống là cây ngắn ngày, sinh trưởng nhanh, cho năng suất caosống ở nhiệt độ cao và đủ ánh sáng Trên thị trường loài rau muống này dễtiêu thụ nên được người nông dân trồng rộng rãi hơn so với rau muống nước
- Công dụng: Theo y học hiện đại rau muống cung cấp nhiều chất xơ,
có vitamin C, vitamin A, là thức ăn cho mọi người Rau muống có tác dụngchữa khát nước, ù tai chóng mặt, đau dạ dày, nóng ruột, phân giải các chấtđộc trong thức ăn [28]
Trang 17Hình 2: Rau Cải thìa
(Brassica rapa chinensis L.)
Hình 3: Rau húng (Mentha aquatica
L var crispa)
* Rau Cải thìa
(Brassica rapa chinensis L.)
Họ Cải (Brassicaceae)
Bộ Màn màn (Capparales)
- Thành phần hóa học: Cải thìa
có nhiều vitamin A, B, C Lượng
vitamin C của nó đứng vào bậc nhất
trong các loại rau
- Phân bố: Trồng ở nhiều nơi
vào mùa lạnh
- Đặc điểm: Cải thìa có thể
cao 50-100 cm, thân tròn Rễ không phình thành củ Lá to màu xanh nhạt, cógân giữa trắng, lá trưởng thành có thể dài 40-50 cm, phiến lá hình bầu dục,nhẵn mọc theo tới gốc nhưng không tạo ra cánh Cụm hoa ngù ở ngọn,cuống hoa dài 3-5 cm, hoa vàng tươi, nhị (4 dài, 2 ngắn)
- Công dụng: Lá dùng làm rau ăn Hạt làm thuốc trị bệnh co thắt, chứngđau dây thần kinh và đau khớp Ở Trung Quốc hạt được dùng trị sốt cao, cogiật, mất tiếng [28]
* Rau húng
(Mentha aquatica L var crispa)
(húng lũi, húng dũi, húng bạc hà)
Họ Hoa môi: Lamiaceae
Bộ Hoa môi: Lamiales
- Thành phần hóa học: Cây
chứa 0,8% tinh dầu gồm các este
(như methyl aceat) 22,41% alcol
tự do (như menthol) 28,53% và
Trang 18ceton (như methone) 0,77% Menthofuran là thành phần chính (40%), còn cópiperitone, menthone và pulegone
- Đặc điểm: Cây thân thảo có gốc bò dưới đất và những chồi bò trênmặt đất Lá hình trái xoan mọc đối, đính vào các cạnh của cành Trong thân
và lá có tế bào tiết dầu thơm
- Công dụng:Rau húng có vị cay thơm, tính ấm, dùng làm gia vị, giúptiêu hóa, ăn không tiêu, chữa ho cảm, viêm họng, trắng lưỡi, đầy bụng đingoài và co giật ở trẻ em [28]
Chúng tôi chọn 3 loài rau: Rau muống (Ipomoea aquatica F.), rau Cải thìa (Brassica rapa chinensis L.), rau húng (Mentha aquatica L var crispa )
làm đối tượng nghiên cứu vì những loài rau này được người nông dân trồngquanh năm (do có hiệu quả kinh tế cao) nên thuận lợi cho việc nghiên cứu rautrồng chính vụ và trái vụ
* Giun đất: Các loài giun đất (Oligochaeta), phân ngành Có đai(Clitellata), ngành giun đốt (Annelida) sống trong đất vùng rau chuyên canh
xã Hồng Thái, Phú Xuyên, Hà Nội
Vai trò: Giun đất có vai trò quan trọng trong việc hình thành lớp đấttrồng, nhờ hoạt động đào xới, tạo phân giun Phân giun đất có tính chịu nướccao và là môi trường hoạt động tốt cho vi sinh vật, lại giàu ion Ca++ Do đógiun đất là đối tượng có thể dùng để cải tạo đất [4]
Trang 19Hình 4: Thuốc trừ sâu Supertox 25 EC
- Thuốc trừ sâu Supertox 25 EC
thuộc nhóm thuốc trừ sâu Pyrethroit (Cúc
tổng hợp), nhóm này dễ bay hơi, tương đối
mau phân hủy trong môi trường và cơ thể
người Khi thuốc tiếp xúc với dạ dày của
sâu, nó sẽ tác động lên thần kinh trung
ương, thần kinh ngoại biên [23] Trong cơ
thể thực vật thuốc BVTV này dễ bị phân
giải dưới tác dụng của ánh sáng và enzim
thành các sản phẩm cuối cùng ở dạng ion là
Cl-, H+, NO3, CO2, CO3… (Đào Văn Bảy,
2007) [5] Đây là những chất không có hại cho cây Khí CO2 được bài tiết quakhí khổng ở lá Các ion như CO2
3, Cl-, NO3- được cây sử dụng hoặc cũng có thể
bị bài tiết ở dạng hòa tan (Lê Văn Khoa, 1999) [13] Ngoài việc diệt sâu hại,thuốc còn có tác dụng kích thích cây trồng phát triển (Đào Văn Bảy, 2007) [5]
- Thuốc trừ sâu Supertox 25EC được người nông dân sử dụng phổ biếntrên rau muống, rau Cải thìa và rau húng Đây cũng là loại thuốc BVTV cótrong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam [24]
- Phạm vi nội dung nghiên cứu:
Nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc BVTV ở vùng rau chuyên canh xãHồng Thái, Phú Xuyên, Hà Nội
Trang 20Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu Supertox 25EC đến khảnăng sinh trưởng, năng suất, thời gian thu hoạch của rau muống, rau Cảithìa, rau húng
Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu Supertox 25EC đến thànhphần, mật độ và sinh khối của các loài giun đất (Oligochaeta) ở đất trồng rauchuyên canh
3.4 Luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
- Luận điểm cơ bản: Thuốc BVTV góp phần quan trọng vào việc tăngnăng suất cây trồng
- Đóng góp của luận văn: đưa ra con số thống kê về sinh trưởng, năngsuất của một số loài rau trồng và thành phần, sinh khối, mật độ của các loàigiun đất (Oligochaeta) Trên cơ sở đó, thấy được ảnh hưởng của thuốc BVTVđến năng suất rau trồng và các loài giun đất (Oligochaeta)
IV Phương pháp nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu ngoài thực địa
* Thu thập các tài liệu nghiên cứu về hệ động vật đất, các loại thuốcbảo vệ thực vật thường sử dụng trên rau
* Điều tra về tình hình sử dụng thuốc BVTV ở vùng rau chuyên canh
xã Hồng Thái, Phú Xuyên, Hà Nội: sử dụng phiếu điều tra
* Nghiên cứu ngoài ruộng rau:
- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Có 18 ô trồng rau:
Trang 21Rau Cải thìa: 4 g/ 5m2
Rau húng và rau muống giâm bằng cành, mật độ 100 cành/1m2
+ Từ khi gieo hạt (hoặc giâm cành) đến khi thu hoạch trung bình ngàytưới 2 lần
Trang 22Ô thí nghiệm: Sau khi hạt nảy mầm (hoặc nảy chồi) 5 ngày tiến hànhphun thuốc BVTV Sử dụng thuốc trừ sâu Supertox 25 EC (2,5%), phun đềulên cây trồng 5 ngày/ lần đối với vụ hè và 7 ngày/lần với vụ đông Pha 3,5 - 4
ml thuốc cho bình 3 lít nước phun cho 1 ô (5m2)
Ô đối chứng: Phun nước theo lịch phun thuốc BVTV của công thức thínghiệm Lượng nước bằng lượng dung dịch phun thuốc BVTV ở công thứcthí nghiệm (Ngô Thị Đào, 2007) [7]
4.2 Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm:
- Phương pháp tính tỉ lệ và thời gian mọc mầm
+ Thời gian mọc mầm (ngày): từ khi gieo đến khi 50% số cây mọc,đếm số cây mọc trên ô thí nghiệm vào các buổi sáng
+ Tỷ lệ mọc mầm (%): phần trăm số cây mọc trên tổng số hạt gieo
- Phương pháp tính chỉ tiêu sinh trưởng: sau khi hạt nảy mầm được 15ngày, 25 ngày, 35 ngày lấy mỗi ô 30 cây rau để đo mẫu vật:
+ Chiều cao cây: đo bằng thước cm từ gốc đến đầu mút lá cao nhấthoặc ngọn cao nhất
+ Đo chiều rộng lá: đo bằng thước cm, đo ở chỗ rộng nhất
+ Đo chiều dài lá: đo bằng thước cm từ gốc lá đến chóp lá
+ Số lá: đếm số lá trên cây rau
- Tính năng suất thực thu: Cân khối lượng rau của các ô thí nghiệm, đốichứng Sau đó tính năng suất trung bình của ô thí nghiệm, đối chứng Đơn vịtính là kg/ô
- Tính lợi nhuận sau sản xuất:
Lợi nhuận = tổng thu nhập – tổng chi phí
Tổng thu nhập của từng ô = năng suất của ô x giá thành 1 kg
Tổng chi phí = Chi phí vật tư (giống, phân bón, thuốc BVTV) + chi phínhân công + chi phí khác
Trang 234.3.Các phương pháp nghiên cứu với động vật đất
Giun đất (Oligochaeta)
- Thời gian nghiên cứu:
Thu mẫu trong 4 đợt:
+ Đợt 1: Ngày 15/10/2010 Trước khi làm đất trồng rau vụ đông
+ Đợt 2: Ngày 15/12/2010 Ngay sau khi thu hoạch rau vụ đông
+ Đợt 3: Ngày 1/05/2011 Trước khi làm đất trồng rau vụ hè
+ Đợt 4: Ngày 15/06/2011 Ngay sau khi thu hoạch rau vụ hè
- Sơ đồ thu mẫu: trong 1 ô thí nghiệm 5m2 có 3 hố đào giun
- Phương pháp thu mẫu
+ Phương pháp thu mẫu định lượng:
Ngay trước khi làm đất và sau khi thu hoạch rau ở mỗi ô thí nghiệm: Đào 3 hố nhỏ, mỗi hố nhỏ 50cm x 50 cm, thu theo từng tầng đất dày 10
10 cm
50 cm
50 cm
Trang 24Bảng 4: Số mẫu định lượng ở khu vực nghiên cứu
+ Phương pháp định hình và bảo quản mẫu vật:
Mẫu giun đất sau khi thu được rửa bằng nước sạch cho sạch đất và vụnhữu cơ bám ngoài
Làm giun chết trong dung dịch formalin 2%
Sau đó đưa mẫu vào dung dịch formalin 4% định hình trong trạng tháiduỗi và giữ lâu dài
Việc thu mẫu định lượng được tiến hành theo các phương pháp thu mẫuđộng vật đất của Ghiliarow M.S (1975) [17]
- Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm
+ Phương pháp định loại giun đất:
Mẫu sau khi định hình sẽ tiến hành định loại theo tài liệu chuyênngành: “Khóa định loại giun đất ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sôngCửu Long Việt Nam” (Thái Trần Bái, 1986) [2] Chúng tôi căn cứ vào cácđặc điểm hình thái và giải phẫu: Đai sinh dục, vị trí, số lượng nhú phụ, nhúđực, lỗ nhận tinh, số lượng tơ, manh tràng, màu sắc bên ngoài… Việc xácđịnh tên cho một loài cụ thể được tiến hành ở trong phòng thí nghiệm tổ độngvật, khoa Sinh học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội
+ Phương pháp tính số lượng và sinh khối:
Trang 25Tính số lượng cá thể (n): Đối với con nguyên vẹn tính cả con non vàcon trưởng thành Đối với con bị đứt chỉ tính phần đầu mới là một con, phầnđuôi không tính
Tính sinh khối (p): sinh khối được tính bằng trọng lượng giun đất saukhi định hình mẫu bằng foocmalin 4%, kể cả phần thức ăn trong ruột củagiun Cân bằng cân phân tích với độ chính xác đến 0,1 g
Tính phần trăm số cá thể thu được (kí hiệu: n%) Và phần trăm tổng sốsinh khối thu được (kí hiệu: p%)
Các số liệu được tính trên đơn vị tương ứng là 1m2
n = [(Ai + Ci)/N] x 4
p = [(PAi + PCi)/N x 4Trong đó:
Ai: Số con non i có trong N hố
Ci: Số con trưởng thành i có trong N hố
i : Loài
N: Số hố
n % (loài): (Tổng số cá thể của loài/ tổng số các cá thể thu được) x 100%
p % (loài): (Tổng số sinh khối của loài/ tổng số sinh khối thu được)
x 100%
4.4 Phương pháp thống kê xử lý số liệu:
- Sau khi thu thập các số liệu, đo đạc, tiến hành phân tích các số liệu đểtìm các giá trị đặc trưng cho các mẫu và nhóm mẫu
- Các số liệu thu được được xử lý theo phương pháp thống kê toán họccủa Phạm Văn Kiều, 2006 [12] Đồng thời kết quả được phân tích bằng phầnmềm Microsoft office Excel, 2007
+ Giá trị trung bình:
Trang 26x =
n
Xi
n i
n i
n
i ( n < 30)+ Sai số trung bình mẫu (m):
m = Sn n Trong đó: Xi: Giá trị mẫu khảo sát thứ i
n: Số mẫu quan sát
X : Giá trị trung bình
Sn, Sn*: Độ lệch chuẩnm: Sai số trung bình mẫu
Trang 27PHẦN NỘI DUNGCHƯƠNG 1 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC BVTV Ở VÙNG RAU CHUYÊN
CANH XÃ HỒNG THÁI, PHÚ XUYÊN, HÀ NỘI 1.1 Đặc điểm tự nhiên của xã Hồng Thái, Phú Xuyên, Hà Nội
* Vị trí địa lý:
Xã Hồng Thái cách trung tâm của huyện là thị trấn Phú Xuyên 7 km vàcách trung tâm Hà Nội khoảng 30 km Ranh giới xã Hồng Thái như sau:
Hình 5: Bản đồ địa chính xã Hồng Thái, Phú Xuyên, Hà Nội
- Phía Đông giáp sông Hồng
- Phía Tây giáp xã Nam Phú
- Phía Bắc giáp xã Thụy Phú, Đại Gia
- Phía Nam giáp xã Lật Phương
Trang 28* Địa hình:
Hồng Thái là một xã đồng bằng châu thổ sông Hồng, địa hình tươngđối bằng phẳng do đất phù sa sông Hồng bồi đắp lâu năm, chủ yếu diện tíchđất canh tác nông nghiệp
mm Lượng mưa cao nhất trong năm thường tập trung vào các tháng 7,8,9.Lượng mưa thấp nhất trong năm thường vào các tháng khô hanh nhưtháng 1,2 [22]
Khí hậu ở đây có sự thay đổi và khác biệt giữa 2 mùa trong năm:mùa hạ và mùa đông Mùa hạ từ tháng V đến tháng IX có đặc điểm là nóng
và mưa nhiều, gió thịnh hành hướng Đông Nam Nhiệt độ trung bình caonhất là tháng VII xấp xỉ 290C, mưa nhiều chiếm 85% lượng mưa cả năm.Mùa đông từ tháng XI đến tháng IV có đặc điểm là tương đối lạnh và ítmưa, gió thịnh hành hướng Đông Bắc Tháng có nhiệt độ trung bình thấpnhất là tháng I (160C), đồng thời cũng là tháng có lượng mưa trung bìnhthấp (16-18 mm) [22]
Giống như các khu vực khác của đồng bằng châu thổ sông Hồng, xãHồng Thái thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, mưa nhiều về mùa hè, hanh khôkéo dài về mùa đông Khí hậu này thuận lợi cho sự phát triển nền nôngnghiệp đa dạng Với tài nguyên đất đai tốt, một số diện tích chuyên để sảnxuất nông nghiệp phù hợp với nhiều loại rau ngắn ngày Tuy nhiên, nguồnnước phân bố không đều trong năm, mùa mưa thì ngập úng cục bộ còn
Trang 29mùa khô thì thiếu nước làm giảm khả năng sản xuất nông nghiệp Khí hậunóng ẩm lại thuận lợi cho sự phát triển của sâu bệnh hại cây trồng Cáchphòng chống các loại dịch hại được người dân sử dụng nhiều nhất ở khuvực này là dùng thuốc BVTV
1.2 Tình hình sử dụng thuốc BVTV ở vùng rau chuyên canh xã Hồng Thái, Phú Xuyên, Hà Nội
Trong sản xuất nông nghiệp, ngoài các yếu tố về đất, giống cây trồng
và phân bón Các hộ trồng rau vùng rau chuyên canh xã Hồng Thái, PhúXuyên, Hà Nội còn rất quan tâm đến thuốc BVTV vì sử dụng thuốc BVTV làcách phòng trừ dịch hại phổ biến và hiệu quả Chúng tôi đã điều tra trực tiếp
và phát phiếu cho các hộ nông dân vùng trồng rau xã Hồng Thái, Phú Xuyên,
Hà Nội để thu thập thông tin về tình hình sử dụng thuốc BVTV ở cả 2 vụ: vụ
hè và vụ đông Kết quả thu được như sau:
Bảng 5: Tình hình sử dụng thuốc BVTV của nông dân trồng rau xã Hồng
Thái, Phú Xuyên, Hà Nội
Trang 30thuốc cấm, thuốc ngoài danh mục cho phép Những loại thuốc mà ngườitrồng rau đã sử dụng có chứa hoạt chất endosulfan, methamidophos Trong
đó endosulfan là chất độc loại Ib, tồn dư rất lâu trong môi trường.Endosulfan (C9H6Cl6O3S) thương phẩm có màu nâu bạc, dạng tinh thể hoặcdạng các bông tuyết, có thể tồn tại dưới dạng chất lỏng màu hổ phách, cómùi gần giống nhựa thông Thuốc gây hại cho người và động vật do tácđộng mạnh lên hệ thần kinh Thuốc đã bị cấm sử dụng tại hơn 62 quốc giatrên thế giới Methamidophos (C2H8NO2PS) thương phẩm dạng tinh thể hơivàng, có phổ tác dụng rộng, diệt các loại sâu miệng nhai, bộ cánh cứng,rệp rất hiệu quả (Đào Văn Bảy, 2007)[5] Nhiều loại thuốc cấm, thuốcngoài danh mục được nhập lậu vào nước ta với giá rẻ, hiệu lực diệt sâumạnh và nhanh hơn so với các thuốc BVTV khác nên hấp dẫn người bánthuốc và người trồng rau sử dụng thuốc Các loại thuốc này thường lẫnnhiều tạp chất nguy hiểm cho con người và môi trường vì khi sử dụngchúng dư lượng thuốc còn tồn trong nông sản, trong đất gây ô nhiễm, thậmchí nếu sử dụng quá nhiều sẽ gây giảm hiệu quả phòng trừ dịch hại do sâuhại “quen nhờn” thuốc
Việc phối trộn 2-3 loại thuốc trong một bình phun trừ sâu bệnh hạicây trồng chiếm từ 87% - 90% Người trồng rau đã nghĩ rằng, khi trộn cácloại thuốc với nhau sẽ làm tăng độc tính của thuốc diệt sâu bệnh hạinhanh hơn, trị được nhiều sâu trong cùng thời gian Nhưng kết quả chothấy, chi phí mua thuốc trừ sâu cao mà hiệu quả lại không đáng kể Chịuđựng nhiều loại thuốc cùng một lúc càng dễ làm cho quần thể sâu bệnh cókhả năng chống chịu nhiều chủng loại thuốc và rất khó phòng trừ (Lê VănKhoa, 1999) [13]
Mặt khác, số người trồng rau tiến hành tăng nồng độ thuốc phun lên 2
-3 lần chiếm 25% số hộ trồng rau Việc sử dụng thuốc BVTV với liều lượng
Trang 31tăng lên gấp đôi, gấp ba là do tự ý của người trồng rau nhằm mục đích tiêudiệt dịch hại nhanh và thu năng suất cao Nhưng điều này cũng làm cho sâuhại nhanh nhờn thuốc, hiệu quả của thuốc BVTV ngày càng kém
Do tâm lý lo sợ sâu bệnh xuất hiện làm giảm năng suất rau trồng, giảmlợi nhuận thu được nên các hộ trồng rau đã phun thuốc trừ sâu khi sâu chưaxuất hiện và phun nhiều lần với khoảng cách ngày ngắn (3-5 ngày/ 1 lần) Đốivới các loại rau ngắn ngày như rau muống, rau cải, rau húng việc phun quánhiều lần cho 1 vụ rau, thời gian cách li ngắn sẽ gây độc hại cho người tiêudùng đặc biệt là các loài rau như rau húng được người tiêu dùng sử dụng làmrau ăn sống
Như vậy, việc sử dụng thuốc BVTV trong phòng trừ sâu bệnh hại củacác hộ trồng rau ở xã Hồng Thái còn rất nhiều vấn đề cần phải quan tâm: sửdụng thuốc BVTV cấm, thuốc BVTV ngoài danh mục, tăng nồng độ thuốcBVTV tùy tiện khi phun, phun quá nhiều lần một loại thuốc, thời gian cách lingắn Nguyên nhân gây ra các vấn đề này do:
+ Hộ trồng rau sản xuất nhỏ, người nông dân chưa có điều kiện tiếpnhận các thông tin kiến thức về sử dụng thuốc BVTV
+ Tổ chức khuyến nông chưa tuyên truyền phổ biến rộng rãi về cách sửdụng, tác hại của thuốc BVTV Hoặc nếu có tuyên truyền thì cũng chưa đưa
ra được các biện pháp đủ thuyết phục nông dân nên sử dụng “đúng chủng loại, đúng liều lượng, đúng lúc và đúng phương pháp”
+ Theo kết quả của phiếu điều tra thu được thì có đến 85% người trồngrau sử dụng thuốc BVTV theo chỉ dẫn của người bán thuốc Trong khi đó, tại
xã có 5 cửa hàng bán thuốc thì 3 cửa hàng người bán thuốc không có chuyênmôn theo quy định của nhà nước, 1 cửa hàng bán đồ gia dụng kèm theo bánthuốc BVTV Tại các cửa hàng bán thuốc không có kho lưu chứa thuốcBVTV mà để thuốc ngay tại nhà ở, người bán thuốc BVTV không sử dụng
Trang 32các phương tiện bảo hộ lao động (khẩu trang, găng tay ) Sự thiếu hiểu biết
về các kiến thức BVTV sẽ không những gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏengười bán thuốc, người sử dụng thuốc BVTV mà còn gây ô nhiễm thực phẩm,
ô nhiễm môi trường
Thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học có bán trên thị trường nhưngđược rất ít hộ trồng rau sử dụng do giá thành cao mà hiệu quả chậm hơnthuốc BVTV có nguồn gốc hóa học Trong thời gian nghiên cứu, chúng tôithấy có 6 loại thuốc trừ sâu sinh học mà các hộ trồng rau dùng (bảng 6).Khoảng 5% số hộ trồng rau sử dụng các thuốc trừ sâu sinh học nhanh phânhủy như thuốc vi sinh (Bacillus thuringiensis (BT), Nuclear polyhedrosisVirus (NPV),…), khoảng 3,5% số hộ trồng rau sử dụng 2 loại thuốc trừ sâusinh học mới là Catex 1.8EC & 3.6EC và LUT 5.5 WDG Trong đó Catex1.8EC & 3.6EC trị các loại sâu tơ, sâu xanh, bướm trắng hại rau cải, hành.Đặc biệt, đối với cây trồng (rau cải, bắp cải, rau diếp, hành tỏi, đậu ănquả…), Catex 1.8EC & 3.6EC bị phân huỷ dưới ánh sáng mặt trời, tạo racác chất khác vô hại Dư lượng của thuốc tồn lưu rất ít trong nông sản vàkhông gây độc cho cây trồng, thời gian cách li ngắn (3-5 ngày), hiệu quảdiệt sâu cao lại hạn chế được sự rửa trôi bởi nước mưa và nước tưới LUT5.5 WDG (hoạt chất Methylamine avermectin) có rất nhiều ưu điểm so vớinhững sản phẩm thuốc sinh học trước như: Phổ tác động rất rộng (có thểtrừ được nhiều loại sâu, bọ gây hại: sâu tơ, sâu xanh, sâu vẽ bà, sâu đụcquả, sâu đục thân, nhện đỏ, nhện gié, bọ trĩ, bọ xít xanh ), hiệu lực củathuốc kéo dài (do thuốc có khả năng diệt trừ được cả ba pha: pha trứng, phasâu non và pha trưởng thành), thời gian cách ly ngắn (2 ngày) do đó rất phùhợp cho sản xuất nông sản sạch [26] Hai loại thuốc này dù có rất nhiều ưuđiểm nhưng giá thành cao nên được ít hộ trồng rau sử dụng
Trang 33Qua kết quả của phiếu điều tra thu được ở các hộ trồng rau xã Hồng Thái,Phú Xuyên, Hà Nội chúng tôi xác định được một số chủng loại thuốc BVTV mànông dân ở khu vực này thường dùng trên rau: có 14 loại thuốc hóa học trong đó
có 2 loại thuốc có tên trong danh mục thuốc BVTV cấm sử dụng ở Việt Nam là:Endosulfan, Methamidophos; 6 loại thuốc trừ sâu sinh học được thể hiện quabảng sau:
Bảng 6: Chủng loại một số thuốc BVTV nông dân xã Hồng Thái,
Phú Xuyên, Hà Nội thường sử dụng trên rau
Bacillus thuringiensis (BT)Catex 1.8EC & 3.6EC LUT 5.5 WDG
NingnamycinNuclear polyhedrosis Virus ((NPV) Proclaim
(Các loại thuốc BVTV được sắp xếp theo trật tự bảng chữ cái, thuốc hóa học innghiêng là thuốc BVTV cấm sử dụng ở Việt Nam)
Việc sử dụng thuốc BVTV trong trồng rau là điều bắt buộc đối với các hộnông dân, góp phần quan trọng vào việc tăng năng suất cây trồng Theo TS.Marcus Theurig (2002), nếu không sử dụng hóa chất BVTV thì loài người cầnđến 3 lần diện tích trồng cây như hiện nay Vì vậy, hóa chất BVTV cùng với
Trang 34phân bón hóa học là những phát minh quan trọng nhằm đảm bảo an ninh lươngthực cho loài người [24] Mặc dầu người dân nào ở xã Hồng Thái cũng biết sửdụng không đúng hướng dẫn thuốc BVTV là có hại nhưng vì ý nghĩ chủ quancủa bản thân, lợi nhuận sản xuất nên vẫn thường dùng Vấn đề đặt ra là sử dụngthuốc BVTV như thế nào để có hiệu quả cao mà vẫn đảm bảo sức khỏe cho conngười, không gây ô nhiễm môi trường là điều mà không chỉ các hộ trồng rau,người bán thuốc, mà các nhà quản lí, nhà tổ chức nông nghiệp cũng cần quantâm hơn
Trang 35CHƯƠNG 2
ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC BVTV SUPERTOX 25EC ĐẾN SỰ
SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT CỦA CÁC LOÀI RAU VÀ THÀNH PHẦN,
MẬT ĐỘ, SINH KHỐI CỦA GIUN ĐẤT (OLIGOCHAETA)
2.1 Rau muống
Rau muống là rau trồng vụ hè, ưa khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều Rauthích hợp với cường độ chiếu sáng cao và thời gian chiếu sáng dài Nhiệt độthích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của rau là 25- 30oC Rau muống có
bộ rễ ăn nông trên tầng đất màu, thân và lá khá phát triển, nhưng lá mỏng dễ
bị sâu, bệnh phá hại (Nguyễn Văn Thắng, 1996)[18]
2.1.1 Ảnh hưởng của thuốc BVTV Supertox 25EC đến sự sinh trưởng, năng suất của rau muống
2.1.1.1 Vụ đông
Thí nghiệm được tiến hành từ ngày 15/10/2010 Đây là thời điểm giaomùa giữa rau vụ hè và rau vụ đông, lượng rau trên thị trường đang khan hiếmnên người nông dân vẫn trồng rau muống để thu lợi nhuận
Do điều kiện thời tiết trời se lạnh, trồng đúng vào thời điểm có gió mùaĐông Bắc nên quá trình sinh trưởng và phát triển của rau muống gặp nhiềukhó khăn
Ở các ô đối chứng thời gian nảy chồi là 5 ngày, tỉ lệ sống là 89,4% Ôthí nghiệm thời gian nảy chồi cũng là 5 ngày và tỉ lệ sống là 90% Như vậy,khi chưa sử dụng thuốc BVTV Supertox 25EC thì thời gian nảy chồi là nhưnhau và tỉ lệ sống của rau muống ở các ô thí nghiệm và đối chứng chênh lệchnhau không đáng kể
Chiều cao thân cây: Sự tăng trưởng chiều cao thân là yếu tố phản ánh khảnăng tích lũy chất khô của giống Thân là bộ phận trung gian để vận chuyển nước,muối khoáng từ rễ lên lá và các sản phẩm đồng hóa từ lá xuống rễ, quả và hạt Đối
Trang 36với rau muống thân dài, mảnh, màu nhạt hấp dẫn thị hiếu người tiêu dùng nên
chiều cao thân rau muống cũng là một chỉ tiêu được đưa ra để nghiên cứu
Nghiên cứu trên đối tượng là rau muống khi trồng trái vụ (vụ đông)
chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 7: Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu Surpertox 25EC đến chiều cao
trung bình thân cây rau muống vụ đông
đã có sự chênh lệch (ở cây đốichứng là 0,95 cm/ngày còn câythí nghiệm là 1,12 cm/ngày) Và sựchênh lệch này tiếp tục được thể hiện rõ rệt ở thời điểm sau 25 ngày mọc
chồi (cây đối chứng có tốc độ sinh trưởng thân là 0,66 cm/ngày còn cây thí
nghiệm chỉ tiêu đó là 0,83 cm/ngày) Vào thời điểm 35 ngày sau khi mọc
chồi chiều dài trung bình thân của cây được phun thuốc trừ sâu là 20cm
trong khi đó cây đối chứng chỉ đạt 16,8cm Đây cũng là thời gian mà chiều
dài thân cây rau muống đạt tiêu chuẩn để tiến hành thu hoạch ở ô thí
nghiệm Ở ô đối chứng chiều dài thân tuy ngắn hơn ô thí nghiệm nhưng
Biểu đồ 2: Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu Surpertox 25EC đến chiều cao trung bình
thân cây rau muống vụ đông
Biểu đồ 1: Ảnh hưởng của thuốc trừ
sâu Supertox 25EC đến chiều rộng
trung bình lá cây rau muống vụ đông
Trang 37cũng có thể thu hoạch mang ra thị trường tiêu dùng Thuốc trừ sâu Supertox25EC đã có tác dụng đến chiều cao thân cây rau muống ở ô thí nghiệm làmcho cây rau ở ô này cao hơn so với cây ở ô đối chứng Điều này cũng phùhợp với kết quả nghiên cứu của Đào Văn Bảy: Ngoài việc diệt sâu hại, thuốctrừ sâu còn có tác dụng kích thích cây trồng phát triển (Đào Văn Bảy, 2007)[5].
Do trồng trái vụ nên rau muống vụ đông hay bị sâu bệnh Ở các ô thínghiệm khi cây nảy chồi được 5 ngày thì tiến hành phun thuốc trừ sâu ngay
vì nếu để sâu xuất hiện với số lượng lớn sẽ nhanh chóng phá hoại lá raumuống Các ô đối chứng do không được phun thuốc trừ sâu nên từ ngày thứ
7 sau khi mọc trên lá rau xuất hiện nhiều sâu xanh và vết trống ở mặt lá dosâu ăn Thuốc trừ sâu Supertox 25EC sử dụng trong thí nghiệm là thuốc cótác dụng tiếp xúc và vị độc, gây choáng nhanh, mạnh Do thuốc tác độnglên hệ thần kinh trung ương, làm tắc nghẽn đường truyền xung động thầnkinh, phá vỡ kênh vận chuyển trên màng tế bào, ức chế hoạt động của cácenzim oxi hóa của sâu hại (Đào Văn Bảy, 2007) [5]
Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến số lá, chiều rộng lá, chiều dài lá: Đối với rau muống là loại rau ăn thân và lá thì không chỉ chiều cao thân
mà số lá, chiều rộng và chiều dài lá đều có vai trò quan trọng trong việc quyếtđịnh năng suất của cây trồng Kết quả nghiên cứu cho thấy ngoài sự thay đổichiều cao thân thì các chỉ tiêu khác như: số lá, chiều rộng lá và chiều dài lácũng có sự thay đổi Chúng tôi đã tiến hành đo đạc và thống kê trong bảng sau:
Bảng 8: Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu Supertox 25EC đến số lá, chiều
rộng lá, chiều dài lá cây rau muống vụ đông
Trang 38Cụ thể, ở ô thí nghiệm số lá tăng 14%, chiều rộng lá tăng 21,6%, chiều dài
lá tăng 2,4% so với ô đối chứng Sự chênh lệch này là do vào thời điểm sau khicây nảy chồi 10 ngày, nhiệt độ tăng lên làm các loài sâu hoạt động phá hại mạnh
hơn Sâu gây hại trên lá chủ yếu là sâu tơ (Plutella xylostella Linnaeus), thuộc họ
Ngài rau (Plutellidae), bộ Cánh vảy (Lepidoptera) [11] Khi sâu non mới nở ra,chúng đục những lỗ nhỏ ở dưới mặt lá chui đầu vào ăn nhu mô lá để chừa lạibiểu bì, đến cuối tuổi 2 trở đi sâu gặm thủng lá tạo thành nhiều lỗ lớn Kết quảlàm lá giảm diện tích, giảm khả năng quang hợp so với lá ở ô thí nghiệm Khi sửdụng thuốc trừ sâu Supertox 25EC để tiêu diệt các loài sâu hại ảnh hưởng xấuđến tốc độ sinh trưởng của cây trồng, làm cho ô thí nghiệm có chiều dài lá, chiềurộng lá, chiều cao tăng so với ô đối chứng
Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu Supertox 25EC đến năng suất của raumuống ở ô thí nghiệm và ô đối chứng:
Sau khi tính toán năng suất và hiệu quả kinh tế của các ô thí nghiệm sovới các ô đối chứng chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 9: So sánh năng suất và hiệu quả kinh tế của ô đối chứng và ô thí
nghiệm trên rau muống vụ đông
chứng
Ô thí nghiệm
Theo điều tra
Năng suất thực thu trung bình (kg/5m2) 5 6,5 7
Tổng thu nhập của từng ô (VND) 15000 35750 42000
Trang 39Lợi nhuận sau sản xuất (VND) - 5000 5750 6000Như vậy, năng suất của các ô thí nghiệm tăng 30% so với các ô đốichứng Thời tiết vụ đông lạnh, hanh khô không thuận lợi cho sự phát triển củasâu bệnh nhưng chúng xuất hiện cũng làm giảm năng suất đáng kể Giá thànhsản phẩm của rau muống ở ô đối chứng không cao (thấp hơn khoảng 2500/kg sovới ô thí nghiệm) do trên mặt lá rau có nhiều lỗ nhỏ sâu ăn ảnh hưởng đến thịhiếu của người tiêu dùng Không chỉ năng suất giảm mà giá thành cũng giảm ởcác ô đối chứng điều này cho thấy nếu không dùng thuốc bảo vệ thực vật vào vụđông thì người trồng rau muống trái vụ sẽ bị lỗ Theo kết quả của phiếu điều trathu được năng suất thực thu trung bình ở các hộ trồng rau cao hơn ô thí nghiệm
là 6,7% Nguyên nhân là do các hộ trồng rau sử dụng thuốc trừ sâu với nồng độthuốc cao hơn (gấp 2 lần) ngoài ra còn sử dụng thêm các loại thuốc trừ sâu khác.Tuy nhiên, năng suất thu hoạch của các hộ trồng rau cao hơn so với các ô thínghiệm nhưng chi phí sản xuất cũng cao hơn (chi phí mua nhiều loại thuốcBVTV) nên lợi nhuận thu được sau sản xuất tăng không đáng kể
Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu Supertox 25EC đến chiều cao thân câyrau muống:
Qua theo dõi chiều cao thân cây rau muống trong quá trình thí nghiệm,kết quả thu được như sau:
Trang 40Bảng 10: Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu Surpertox 25EC đến chiều cao
trung bình thân cây rau muống vụ hè
Qua bảng 10 và biểu đồ 3 cho thấy tốc độ tăng trưởng chiều cao thân từ
giai đoạn 15 đến 25 ngày là 0,385 cm/ngày ở ô thí nghiệm và 0,332 cm/ngày
ở ô đối chứng, từ 25 đến 35 ngày thì các con số này là 0,248 cm/ngày và 0,19
cm/ngày Sự chênh lệch về tốc độ tăng trưởng chiều cao giữa ô đối chứng và
ô thí nghiệm rất rõ ràng Nguyên nhân chính là do tại các ô thí nghiệm thuốc
trừ sâu không những tác động tiêu diệt các loài sâu hại mà còn có tác dụng
kích thích cây trồng phát triển [5]
Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu Supertox 25EC đến số lá, chiều rộng,
chiều dài lá cây rau muống vụ hè được thể hiện qua bảng sau:
0 2 4 6 8 10 12
15 ngày 25 ngày 35 bngayf
ngày sau mọc
ĐC TN
Biểu đồ 3: Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu Supertox 25EC đến chiều cao thân rau muống vụ hè
Biểu đồ 4: Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu Supertox 25EC đến chiều dài lá cây rau muống vụ hè