Trước tình hình đó, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện chuyển đổi mô hình phát triển gắn v
Trang 1VIỆN NGHIÊN CỨU THƯƠNG MẠI
Trang 2VIỆN NGHIÊN CỨU THƯƠNG MẠI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình độc lập của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong Luận án đều
là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng
Tác giả Luận án
Dương Duy Hưng
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Mục lục ii
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vẽ, đồ thị vii
MỞ ĐẦU ix
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU xiv
NỘI DUNG, KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 1
Chương 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ 1
1.1 Một số vấn đề cơ bản về cán cân thương mại và công nghiệp hoá, hiện đại hoá 1
1.1.1 Cán cân thương mại 1
1.1.2 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá 5
1.2 Những yếu tố cơ bản tác động, điều chỉnh cán cân thương mại 20
1.2.1 Chính sách thương mại quốc tế 20
1.2.2 Chính sách đầu tư 27
1.2.3 Tỷ giá 29
1.2.4 Một số yếu tố cơ bản khác 34
1.3 Kinh nghiệm điều chỉnh cán cân thương mại trong tiến trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá của một số nước và bài học rút ra cho Việt Nam 36
1.3.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc và một số nền kinh tế NIE's ở châu Á 36
1.3.2 Kinh nghiệm của Malaysia 37
1.3.3 Kinh nghiệm của Thái Lan 39
1.3.4 Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 41
Trang 5Chương 2 THỰC TRẠNG ĐIỀU CHỈNH CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI
HÓA CỦA VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 44
2.1 Tổng quan nền kinh tế Việt Nam trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá thời gian qua 44
2.1.1 Về tốc độ tăng trưởng 45
2.1.2 Về cơ cấu kinh tế 46
2.1.3 Về mô hình tăng trưởng 47
2.1.4 Về quá trình hội nhập quốc tế 51
2.1.5 Về độ mở của nền kinh tế 53
2.1.6 Về tốc độ thu hút đầu tư 54
2.1.7 Về quá trình hình thành các yếu tố của nền kinh tế thị trường 56
2.2 Thực trạng điều chỉnh cán cân thương mại của Việt Nam thời gian qua 57
2.2.1 Thực trạng cán cân thương mại của Việt Nam thời kỳ 2001 - 2010 58
2.2.2 Thực trạng các yếu tố tác động, điều chỉnh cán cân thương mại của Việt Nam thời kỳ 2001 - 2010 84
2.2.3 Thực trạng cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2012 và một số nhận định chủ yếu 105
2.3 Đánh giá chung về thực trạng điều chỉnh cán cân thương mại của Việt Nam thời gian qua 108
2.3.1 Mặt được 108
2.3.2 Mặt tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 110
Trang 6Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐIỀU TIẾT CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI
HÓA CỦA VIỆT NAM THỜI KỲ ĐẾN NĂM 2020 112
3.1 Các yếu tố trong nước và quốc tế chủ yếu tác động tới cán cân thương mại của Việt Nam thời gian tới 112
3.1.1 Các yếu tố từ môi trường quốc tế 112
3.1.2 Các yếu tố từ tình hình trong nước 116
3.2 Mục tiêu, quan điểm, định hướng điều chỉnh cán cân thương mại của Việt Nam thời kỳ đến năm 2020 118
3.2.1 Mục tiêu 118
3.2.2 Quan điểm 119
3.2.3 Định hướng 120
3.3 Một số giải pháp điều chỉnh cán cân thương mại của Việt Nam thời gian tới 122
3.3.1 Giải pháp về hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý và điều hành xuất nhập khẩu 122
3.3.2 Giải pháp về tài chính, tín dụng 127
3.3.3 Giải pháp về tạo thuận lợi hoá thương mại 129
3.3.4 Giải pháp về xúc tiến thương mại 130
3.3.5 Giải pháp về hội nhập quốc tế 133
3.3.6 Giải pháp về đầu tư và đầu tư trực tiếp nước ngoài 135
3.3.7 Giải pháp về tỷ giá và điều hành tỷ giá 141
3.3.8 Giải pháp về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho lĩnh vực ngoại thương 145
3.3.9 Giải pháp đối với một số mặt hàng và thị trường chiến lược 148
KẾT LUẬN 150
Danh mục công trình nghiên cứu của tác giả 153
Tài liệu tham khảo 154
Phụ lục 159
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
ITG : Hàng hoá đủ tiêu chuẩn tham gia thương mại quốc tế
NEER : Tỷ giá danh nghĩa đa phương
RCA : Chỉ số lợi thế so sanh hiện hữu trong xuất khẩu
SCM : Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng
SITC : Danh mục thống kê theo tiêu chuẩn ngoại thương
SPS : Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật
TBT : Rào cản kỹ thuật trong thương mại
TFP : Yếu tố năng suất nhân tố tổng hợp
TPP : Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Tổng hợp kết quả xuất nhập khẩu và tình hình cán cân thương mại
của Việt Nam thời kỳ 2001 - 2010 58
Bảng 2.2 Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam theo các khu vực
kinh tế thời kỳ 2001 - 2010 62
Bảng 2.3 Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt thời kỳ 2001 - 2010 65
Bảng 2.4 Cơ cấu và tốc độ tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của
Việt Nam thời kỳ 2001 - 2010 70
Bảng 2.5 Cơ cấu nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam phân theo mục đích
kiểm soát nhập khẩu giai đoạn 2007 - 2010 71
Bảng 2.6 Cơ cấu thị trường xuất khẩu, thị trường nhập khẩu hàng hoá của
Việt Nam thời kỳ 2001 - 2010 74
Bảng 2.7 Qui mô và tốc độ tăng trưởng của 10 thị trường có xuất siêu lớn
nhất và 10 thị trường có nhập siêu lớn nhất của Việt Nam thời kỳ
2001 - 2010 78
Bảng 2.8 Cường độ thương mại của hàng hoá xuất khẩu Việt Nam với một
số thị trường và khu vực thị trường chính giai đoạn 2004 - 2009 80
Bảng 2.9 Mức độ tương đồng xuất khẩu của hàng hoá xuất khẩu Việt Nam
với một số thị trường và khu vực thị trường chính giai đoạn 2004 -
2009 81
Bảng 2.10 Mức độ bổ trợ thương mại của hàng hoá xuất khẩu Việt Nam với
một số thị trường và khu vực thị trường chính giai đoạn 2004 -
2009 83
Bảng 2.11 Tổng hợp chỉ số bảo hộ hữu hiệu ERP và chỉ số bảo hộ danh nghĩa NRP
của các mặt hàng theo các cam kết hội nhập chủ yếu của Việt Nam 86
Bảng 2.12 Diễn biến tình trạng cán cân thương mại của Việt Nam theo các
khu vực kinh tế thời kỳ 2001 - 2010 94
Bảng 2.13 Cơ cấu vốn đầu tư FDI vào Việt Nam thời kỳ 2001 - 2010 96
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Trang
Hình 1.1 Hiệu ứng tuyến J trong phá giá tiền tệ 33
Đồ thị 2.1 Tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam và thế giới 1990 - 2010 46
Đồ thị 2.2 Cơ cấu kinh tế Việt Nam thời kỳ 2001 - 2010 47
Đồ thị 2.3 Đóng góp của yếu tố vốn, năng suất nhân tố tổng hợp và lao động vào tăng trưởng GDP giai đoạn 2001 - 2009 49
Đồ thị 2.4 Chỉ số ICOR của Việt Nam qua các giai đoạn 50
Đồ thị 2.5 Cơ cấu sử dụng tổng sản phẩm trong nước 51
Đồ thị 2.6 Tổng mức lưu chuyển kim ngạch xuất nhập khẩu so với GDP 53
Đồ thị 2.7 Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP của Việt Nam thời kỳ 2001 - 2010 55
Đồ thị 2.8 Tăng trưởng FDI thực hiện tại Việt Nam thời kỳ 1995 - 2010 56
Đồ thị 2.9 Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu và nhập siêu thời kỳ 2001 - 2010 60
Đồ thị 2.10 Cơ cấu và diễn biến xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam theo các khu vực kinh tế thời kỳ 2001 - 2010 63
Đồ thị 2.11 Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 2001 - 2010 64
Đồ thị 2.12 Tỷ trọng các mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch hơn 1 tỷ USD của Việt Nam năm 2010 66
Đồ thị 2.13 Cơ cấu hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam thời kỳ 2001 - 2010 71
Đồ thị 2.14 Cơ cấu và tốc độ tăng trưởng của thị trường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam thời kỳ 2001 - 2010 75
Đồ thị 2.15 Cơ cấu và tốc độ tăng trưởng của thị trường nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam thời kỳ 2001 - 2010 76
Trang 10Đồ thị 2.16 Cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam với 10 thị trường
lớn nhất năm 2010 77
Đồ thị 2.17 Cơ cấu và tốc độ tăng trưởng các thị trường xuất nhập khẩu lớn
nhất của Việt Nam thời kỳ 2001 - 2010 79
Đồ thị 2.18 Diễn biến FDI vào Việt Nam và tình hình cán cân thương mại
của Việt Nam theo các khu vực kinh tế thời kỳ 2001 - 2010 95
Đồ thị 2.19 Diễn biến tỷ giá danh nghĩa VNĐ/USD và tỷ lệ nhập siêu/xuất
khẩu của Việt Nam thời kỳ 2001 - 2010 100
Đồ thị 2.20 Diễn biến tỷ giá thực song phương VNĐ/USD và tỷ số xuất
khẩu/nhập khẩu của Việt Nam thời kỳ 2001 - 2010 101
Đồ thị 2.21 Diễn biến tỷ giá thực đa phương và tỷ số xuất khẩu/nhập khẩu
của Việt Nam thời kỳ 2001 - 2010 103
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Việt Nam đang trong quá trình tiếp tục đẩy mạnh thực hiện sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và đổi mới toàn diện kinh tế - xã hội của đất nước Với hơn
25 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã và đang tiếp tục được thử thách để từng
bước hoàn thiện và vững bước tiến lên theo định hướng chung đã được Đảng ta xác
định Theo đó, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp
theo hướng hiện đại Trong quá trình đó, nhiều vấn đề về phát triển kinh tế nói
chung cũng đang từng bước được xem xét, hoàn thiện để tiếp tục phát triển một
cách bền vững và mạnh mẽ hơn trong thời gian tới
Trong sự phát triển chung của nền kinh tế, cán cân thương mại vốn là một trong
những yếu tố kinh tế vĩ mô quan trọng, không chỉ bởi nó trực tiếp tham gia và đóng
góp vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước, mà còn bởi cán cân
thương mại có những tác động và liên hệ hết sức mật thiết với nhiều yếu tố kinh tế
vĩ mô khác Tình trạng của cán cân thương mại không chỉ thể hiện tương quan giữa
kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu mà qua đó còn phần nào thể hiện trạng thái của
nhiều yếu tố kinh tế vĩ mô quan trọng khác như cung cầu tiền tệ, tỷ giá hối đoái; khả
năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế của hàng hoá, dịch vụ; tình trạng nợ nước
ngoài và cán cân tài khoản vãng lai; khả năng tiết kiệm, đầu tư và thu nhập thực
tế , và cuối cùng là thể hiện trạng thái chung của nền kinh tế Chính vì vậy, cán cân
thương mại và sự tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế luôn có mối quan hệ qua
lại mật thiết với nhau thông qua những tác động cả trực tiếp và gián tiếp
Trong thời gian qua, đặc biệt trong hơn 10 năm trở lại đây, cán cân thương mại
của Việt Nam thường xuyên ở trong tình trạng thâm hụt, lại diễn biến phức tạp và
có chiều hướng gia tăng ở mức cao Điều này đã có tác động và ảnh hưởng tới nhiều
cân đối kinh tế vĩ mô khác của đất nước cũng như gây nên những lo ngại nhất định
từ phía Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước trong việc kiểm soát và điều
chỉnh cán cân thương mại để góp phần tích cực vào ổn định và phát triển kinh tế
theo hướng bền vững Có thể nói, một trong những lý do quan trọng khiến cho sự lo
Trang 12ngại này chưa được giải quyết chính bởi vì tới nay vẫn chưa có một câu trả lời thực
sự rõ ràng, mạnh mẽ và đáng tin cậy về tình trạng này được đưa ra
Trước tình hình đó, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam đang
trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện chuyển
đổi mô hình phát triển gắn với tái cấu trúc nền kinh tế, hội nhập quốc tế sâu rộng và
thực chất hơn các giai đoạn trước rất nhiều, bối cảnh và điều kiện phát triển kinh tế
đất nước trong thời gian tới có nhiều sự thay đổi rất cơ bản…, thì việc cần thiết phải
có những nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ và toàn diện về vấn đề nêu trên là
rất cấp bách để từ đó có những giải pháp, hướng đi phù hợp trong thời gian tới
Với nhận thức về tính cấp thiết của vấn đề nêu trên, tác giả đã quyết tâm lựa
chọn đề tài nghiên cứu "Cán cân thương mại Việt Nam trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" với hy vọng sẽ góp phần phân tích, làm rõ thực
trạng cán cân thương mại và việc điều chỉnh cán cân thương mại của Việt Nam thời
gian qua, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm điều chỉnh cán cân thương mại của Việt
Nam trong thời gian tới phù hợp và góp phần thực hiện được mục tiêu phát triển
kinh tế - xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
2 Mục đích nghiên cứu của Luận án
Mục đích chính của Luận án là đánh giá đúng thực trạng cán cân thương mại và
việc điều chỉnh cán cân thương mại của Việt Nam thời gian qua để từ đó đề xuất
được những giải pháp chủ yếu nhằm điều chỉnh cán cân thương mại của Việt Nam
bảo đảm góp phần tích cực hơn nữa vào sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá thời gian tới
Để đạt được mục đích chung nêu trên, Luận án sẽ hướng tới một số mục đích cụ
thể như sau:
- Hệ thống hoá và phát triển thêm những vấn đề lý luận cơ bản về cán cân
thương mại trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá
- Phân tích, làm rõ thực trạng, diễn biến cán cân thương mại và việc điều chỉnh
cán cân thương mại của Việt Nam thời gian qua; đánh giá thực chất mối quan hệ, sự
Trang 13tác động của các nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới cán cân thương mại của Việt Nam
thời gian qua
- Đề xuất được các giải pháp chủ yếu nhằm điều chỉnh cán cân thương mại của
Việt Nam một cách hiệu quả và phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của
Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá thời gian
tới
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là lý luận và thực tiễn về cán cân thương
mại và việc điều chỉnh cán cân thương mại trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa của quốc gia; các yếu tố cấu thành, các yếu tố tác động tới cán cân thương
mại và sự vận động của chúng
Phạm vi nghiên cứu của Luận án:
- Về nội dung, Luận án sẽ tập trung nghiên cứu những lý thuyết cơ bản của thế
giới về cán cân thương mại và về quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá;
những kinh nghiệm của các nước trong khu vực có tính chất, trình độ phát triển
hoặc mô hình phát triển kinh tế có sự tương đồng với Việt Nam như các nước NICs,
Trung Quốc, Hàn Quốc Thái Lan, Malaysia trong việc điều chỉnh cán cân thương
mại thời kỳ thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá Luận án sẽ nghiên cứu những
yếu tố tác động, điều chỉnh cán cân thương mại và các chủ thể tác động, đối tượng
chịu tác động trong việc điều chỉnh cán cân thương mại để từ đó đề xuất được các
giải pháp điều chỉnh cán cân thương mại của Việt Nam thời gian tới một cách cụ thể
và rõ ràng về các chủ thể và đối tượng thực hiện
- Về thời gian, Luận án sẽ tập trung xem xét, đánh giá thực trạng cán cân
thương mại và việc điều chỉnh cán cân thương mại trong giai đoạn 2001 - 2010 Đối
với một số nội dung cụ thể cần tới chuỗi số liệu dài hơn để tăng độ tin cậy của một
số đánh giá, phân tích xu hướng, Luận án sẽ có thể xem xét những dữ liệu cho giai
đoạn dài hơn từ năm 1990 hoặc 1995 tới nay Những khuyến nghị, đề xuất về giải
pháp điều chỉnh cán cân thương mại trong thời gian tới sẽ tập trung cho giai đoạn
2011 - 2020
Trang 144 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Tác giả hy vọng rằng, kết quả nghiên cứu của Luận án sẽ giúp các nhà nghiên
cứu, cán bộ giảng dạy chuyên môn có một cái nhìn mới mẻ hơn, đầy đủ hơn và toàn
diện hơn về cán cân thương mại, các yếu tố chủ yếu tác động tới cán cân thương
mại và việc tác động điều chỉnh cán cân thương mại, qua đó góp phần bổ sung nhận
thức và hoàn thiện hơn những vấn đề về lý luận cơ bản trong điều chỉnh cán cân
thương mại thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Bên cạnh đó, với việc bổ sung,
hoàn thiện hơn về cơ sở lý luận và thực tiễn, kết quả nghiên cứu của Luận án sẽ
giúp các nhà quản lý, hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô có cái nhìn toàn diện và
sâu sắc hơn trong việc xây dựng các chính sách nhằm điều tiết, tác động điều chỉnh
cán cân thương mại một cách hiệu quả hơn; đồng thời, giúp các các doanh nghiệp
hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư và các đơn vị hoạt động
trong các lĩnh vực kinh tế khác có liên quan trong cả nước có thêm căn cứ tin cậy để
hoạch định chiến lược sản xuất, kinh doanh và đầu tư ở Việt Nam trong thời gian
tới
5 Những đóng góp mới của Luận án
- Bổ sung, làm rõ một số nội dung cơ bản mang tính khoa học cần lưu ý khi
xem xét, nghiên cứu cán cân thương mại
- Khái quát, rút ra 4 nhận định về mối quan hệ giữa cán cân thương mại và công
nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng như yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối
với cán cân thương mại
- Lựa chọn, phân tích để làm rõ và nêu bật được thực trạng và đặc điểm của nền
kinh tế Việt Nam trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá thời gian
qua với 7 nhóm đặc điểm được đưa ra và được chứng minh
- Tổng hợp, hệ thống hoá và trình bày được một cách toàn diện, đầy đủ và nhiều
chiều về thực trạng cán cân thương mại của Việt Nam thời gian qua, trên cơ sở đó
đưa ra được 6 đánh giá, nhận định mang tính tổng kết về thực trạng cán cân thương
mại của Việt Nam thời gian qua
Trang 15- Lựa chọn, phân tích các yếu tố cơ bản có tác động, điều chỉnh cán cân thương
mại, từ đó đưa ra những đánh giá cụ thể, mới mẻ về thực chất mức độ tác động của
các yếu tố này tới tình trạng của cán cân thương mại Việt Nam thời gian qua và rút
ra 3 nhận định chung về những mặt được, 4 nhận định về những mặt còn tồn tại,
hạn chế và nguyên nhân trong điều chỉnh cán cân thương mại của Việt Nam thời
gian qua
- Đưa ra nhận định về bối cảnh quốc tế và rút ra 5 cơ hội, 5 thách thức cơ bản;
nhận định về tình hình trong nước và rút ra 4 thuận lợi, 5 khó khăn tác động tới cán
cân thương mại của Việt Nam thời gian tới
- Đề xuất được các mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể và 4 quan điểm, 5 định
hướng chủ yếu trong điều chỉnh cán cân thương mại của Việt Nam trong quá trình
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá thời gian tiếp theo
- Đề xuất 9 nhóm giải pháp với hơn 20 giải pháp lớn và nhiều giải pháp cụ thể
nhằm điều chỉnh cán cân thương mại của Việt Nam trong quá trình đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá thời kỳ đến năm 2020 Trong đó, đưa ra khuyến nghị về 3
nhóm giải pháp với 11 giải pháp cụ thể là những giải pháp mang tính quyết định,
cần tập trung thực hiện mạnh mẽ để xử lý được vấn đề nghiên cứu
6 Kết cấu của Luận án
Ngoài phần Mở đầu, Tổng quan về vấn đề nghiên cứu, Kết luận, Danh mục tài
liệu tham khảo và phần Phụ lục, nội dung chính của Luận án được trình bày theo 3
Chương như sau:
Chương 1 Một số lý luận về cán cân thương mại trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá
Chương 2 Thực trạng điều chỉnh cán cân thương mại trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam thời gian qua
Chương 3 Một số giải pháp điều chỉnh cán cân thương mại trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam thời kỳ đến năm 2020
Trang 16TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Ở trong nước, đến nay đã có một số bài phân tích, công trình nghiên cứu khoa
học có liên quan tới vấn đề xuất nhập khẩu, nhập siêu, cán cân thương mại… Trong
đó, các công trình nghiên cứu chủ yếu bao gồm:
- "Nhập siêu và các giải pháp kiềm chế nhập siêu" Đề tài nghiên cứu khoa học
cấp Bộ Nguyễn Thành Biên chủ trì 2008 Nghiên cứu này tập trung vào xem ét,
đánh giá vấn đề nhập siêu của Việt Nam trong giai đoạn 2001 - 2008 và đề xuất các
giải pháp chủ yếu nhằm xử lý vấn đề nhập siêu của Việt Nam cho giai đoạn ngắn hạn
2009 - 2010 Với mục tiêu như vậy, đề tài này chủ yếu tiếp cận, xử lý vấn đề theo
hướng tập trung xem xét kỹ từng mặt hàng, nhóm hàng và từng thị trường, khu vực
thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam
- "Mối quan hệ giữa tăng trưởng thương mại với tăng trưởng kinh tế" Đề tài
nghiên cứu khoa học cấp Bộ PSG.TS Phạm Tất Thắng chủ trì (thực hiện từ năm
2007) Đề tài này được thực hiện chủ yếu nhằm mục tiêu xác định rõ mối quan hệ
giữa tăng trưởng thương mại, trong đó bao gồm cả tăng trưởng xuất nhập khẩu và
tăng trưởng thương mại nội địa, với tăng trưởng kinh tế Do vậy, những xem xét
mang tính chuyên sâu về xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại trong mối quan
hệ tác động qua lại với các yếu tố kinh tế vĩ mô khác không phải là cách tiếp cận, xử
lý chính của Đề tài này
- "Nghiên cứu cán cân thương mại trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá ở Việt Nam" Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ PGS.TS Nguyễn Văn Lịch chủ
trì 2005 Đây là một trong những nghiên cứu có mục tiêu, đối tượng và phạm vi gần
nhất với đề tài Luận án Tuy nhiên, thời điểm nghiên cứu cũng như giới hạn, phạm vi
và cách tiếp cận xử lý vấn đề được đặt ra đã có sự thay đổi và khác biệt rất lớn so với
Luận án này Nhiều yếu tố, điều kiện cơ bản có tác động tới cán cân thương mại và
việc điều chỉnh cán cân thương mại của Việt Nam đã có sự thay đổi về tính chất
Trang 17- "Tỷ giá thực và tác động của nó đến cán cân thương mại" Tạp chí Nghiên cứu
kinh tế số 307 Nguyễn Văn Tiến 2003 Đây là bài nghiên cứu sâu về một yếu tố
quan trọng tác động tới cán cân thương mại, đó là tỷ giá thực Tuy nhiên, do vậy, bài
viết cũng chỉ dừng ở mức xem xét một yếu tố trong nhiều yếu tố có tác động tới cán
cân thương mại của Việt Nam Kết quả của bài nghiên cứu này có nhiều giá trị về mặt
lý luận hơn trong việc xem xét vấn đề nghiên cứu của Luận án
- "Khả năng chịu đựng thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai của Việt Nam"
Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương thực hiện, Nhà Xuất bản Lao động phát
hành năm 2002 Đây là nghiên cứu không xem xét trực tiếp tới vấn đề nghiên cứu của
Luận án là về cán cân thương mại Tuy nhiên, đây là nghiên cứu có nhiều nội dung
khá quan trọng đề cập tới những yếu tố có tác động tới cán cân thương mại Do vậy,
đây cũng là công trình nghiên cứu có nhiều ý nghĩa về mặt lý luận trong việc xem
xem vấn đề điều chỉnh cán cân thương mại của Việt Nam, cần được tham khảo trong
quá trình xây dựng Luận án
- "Kinh tế học vĩ mô" Robert J Gordon NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội
1994 (tiếng Việt) Nghiên cứu đã nhận định thâm hụt ngoại thương sẽ tích tụ số nợ
nước ngoài trên tư cách là tiền đi vay của người nước ngoài để chị được một số nhập
khẩu cao hơn số xuát khẩu Sau khi tích tụ số nợ nước ngoài, tổng số thâm hụt sẽ
không cần thiết để chấm dứt tình trạng tăng nợ nước ngoài phải đi liền với một thặng
dư ngoại thương Nghiên cứu cũng lý giải tại sao sự sụt giá mạnh mẽ của đồng đôla
Mỹ trong giai đoạn 1985 - 1988 lại không làm cho cán cân thương mại của Mỹ
chuyển từ thâm hụt sang thặng dư
- "Kinh tế học của sự phát triển" Molcolm Gillis NXB Giáo dục 1990 (tiếng
Việt) Nghiên cứu đã phân tích, đanh giá mối quan hệ giữa cơ cấu thanh toán đối
ngoại, cán cân thanh toán của các nước đang phát triển với việc lựa chọn thực hiện
các chiến lược thay thế nhập khẩu, chiến lược hướng về xuất khẩu, với việc điều
chỉnh tỷ giá,chính sách bảo hộ và thuế quan… Trong đó, các tác giả cũng đã phân
tích tình trạng nhập siêu của các nước đang phát triển trong thập kỷ 70-90 của thế kỷ
trước và đưa ra các phân tích, đánh giá về nguyên nhân của tình trạng này
Trang 18Như vậy, có thể thấy trong số những công trình nghiên cứu nêu trên, có những
công trình tập trung nghiên cứu về một hoặc một số khía cạnh của cán cân thương
mại hoặc một hoặc một số yếu tố tác động tới cán cân thương mại; cũng có những
nghiên cứu về vấn đề cán cân thương mại nhưng ở thời điểm đã quá xa so với hiện
tại, do vậy không cập nhật, đánh giá được nhiều yếu tố quan trọng về cán cân thương
mại hoặc có tác động tới cán cân thương mại vốn đã có sự thay đổi rất cơ bản trong
thời gian qua
Ở ngoài nước, có khá nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về vấn đề cán cân
thương mại một cách trực diện hoặc gián tiếp qua việc nghiên cứu tác động của
những yếu tố ảnh hưởng tới cán cân thương mại Trong đó, chủ yếu bao gồm:
- "The Internationalization of the Dollar and Trade Balance Adjustment"
Research Report Linda Goldberg and Federal Reserve Bank of NewYork Staff
2005 Nghiên cứu này đưa ra những đánh giá và phân tích cơ bản về ảnh hưởng của
hiện tượng quốc tế hoá đồng Đôla tới nền kinh tế thế giới nói chung và các phản ứng
điều chỉnh cán cân thương mại
- "What Accounts for China's Trade Balance Dynamics?" Yin Zhang and
Guanghua Wan 2004 Nghiên cứu này trên cơ sở phân tích thực trạng cấu trúc của
nền kinh tế Trung Quốc, các chính sách kinh tế vĩ mô được áp dụng, trong đó đặc biệt
là chính sách tỷ giá áp dụng thời gian qua đã đưa ra nhiều khuyến nghị đối với việc
điều chỉnh linh hoạt cán cân thương mại của Trung Quốc trong thời gian tới Đây là
những khuyến nghị tương đối có giá trị tham khảo đối với Việt Nam do Trung Quốc
cũng trong bối cảnh mới gia nhập WTO
- "Economic Growth, The Trade Balance and the Investment - Exchange Rate
Trade Off" Macro A.F.H Cavalcanti 2001 Nghiên cứu này đưa ra những phân tích
về tình trạng thâm hụt cán cân thương mại của một số quốc gia Mỹ latinh như Brazil,
Achentina và xem xét mối liên quan giữa tình trạng này với các chính sách về đầu
tư, tỷ giá và sự tăng trưởng của nền kinh tế
- "Trade Policy and Ecconomic Growth: A Skeptic's Guide to the Cross-National
Evidence" Francisco Rodríguez and Dani Rodrik University of Maryland and
Trang 19Harvard University 2000 Nghiên cứu này đưa ra những đánh giá chung về mối quan
hệ giữa chính sách thương mại và tăng trưởng kinh tế, từ đó đề xuất một số khuyến
nghị để xử lý mối quan hệ này
- "Economic Theories" Bo Sodersten NXB Macmillan 1980 Công trình đã
chuẩn hóa cán cân thương mại hay cán cân xuất nhập khẩu hàng hóa Đó là mối
tương quan giá trị các khoản nhập khẩu hàng hóa được tính theo giá CIF, tức là giá cả
hàng hóa (cost), chi phí bảo hiểm (insurance) và chi phí vận chuyển (freight) với giá
trị các khoản xuất khẩu được tính theo giá FOB , tức là chỉ tính theo giá mua được
khách hàng nước ngoài chấp nhận, không tính chi phí bảo hiểm và vận chuyển
- "Flexible Exchange Rates in the Short Run" Rudiger Dornbusch và Paul
Krugman 1976 Nghiên cứu đã đưa lý thuyết về hiện tượng đường cong J để mô tả
sự tiến hóa của cán cân thương mại dưới tác động của tỷ giá hối đoái Theo đó, những
độ co giãn thấp của cầu và cung ngoại tệ trong thời gian ngắn tạo ra hiện tượng
đường cong J Đó là sự giảm sút trong thời gian ngắn của xuất khẩu ròng tiếp theo
sau một sự mất gía của tỷ gía hối đoái và sau đó là sự cải thiện của xuất khẩu ròng
Theo lý thuyết này, tình hình cán cân thương mại sẽ xấu đi (nhập siêu tăng) trong thời
gian ngắn sau khi có sự mất giá trong tỷ giá hối đoái được gọi là đường cong J
Như vậy, có thể thấy mặc dù có khá nhiều nghiên cứu ngoài nước đã được thực
hiện để xem xét về vấn đề này theo hướng nghiên cứu về mối quan hệ giữa tình trạng
cán cân thương mại với tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là dựa trên phân tích đặc thù tính
chất của từng nền kinh tế nhưng ở Việt Nam hướng nghiên cứu này hầu như chưa
được thực hiện Điều này càng có ý nghĩa và đòi hỏi cấp thiết hơn khi nước ta bước
vào giai đoạn chuyển đổi mô hình phát triển, tái cấu trúc nền kinh tế và hội nhập
mạnh mẽ như hiện nay
2 Những vấn đề còn tồn tại trong các nghiên cứu có liên quan và mục tiêu
của đề tài nghiên cứu
Với những tổng hợp, đánh giá chung về các công trình nghiên cứu có liên quan
tới đề tài của Luận án như trình bày trên đây, có thể thấy 2 nhóm vấn đề còn hạn chế
Trang 20chưa được các nghiên cứu nêu trên giải quyết, mà Luận án này sẽ lấy đó làm mục tiêu
để nghiên cứu, giải quyết Đó là:
- Những nghiên cứu trước đây có bổi cảnh, điều kiện khác so với hiện nay, thậm
chí nhiều yếu tố cơ bản đã thay đổi về tính chất Mục tiêu của Luận án này là sẽ
nghiên cứu về cán cân thương mại và vấn đề điều chỉnh cán cân thương mại trong
một môi trường được cập nhật với những điều kiện, tính chất đã có những thay đổi so
với trước đây
- Những nghiên cứu trước đây về cơ bản chỉ xem xét, nghiên cứu một hoặc một
vài khía cạnh khá cụ thể của cán cân thương mại (như nghiên cứu mối quan hệ, tác
động qua lại với điều hành tỷ giá, bảo đảm cán cân tài khoản vãng lãi, giảm thiểu
nhập siêu ) mà chưa nghiên cứu cán cân thương mại và việc điều chỉnh cán cân
thương mại của Việt Nam một cách tổng thể nhằm góp phần thực hiện thành công
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Mục tiêu của Luận án này là nhằm giải quyết
những vấn đề nêu trên, đưa ra những nghiêu cứu một cách toàn diện và đầy đủ hơn về
cán cân thương mại và việc điều chỉnh cán cân thương mại của Việt Nam trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
3 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp luận chung trong nghiên cứu là phương pháp
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, từ cụ thể đến khái quát, kết hợp logic và lịch
sử Trên cơ sở đó, Luận án sử dụng các phương pháp cụ thể như: phân tích, chứng
minh, tổng hợp, thống kê, so sánh trong quá trình nghiên cứu Luận án cũng áp dụng
một số phương pháp thống kê, phân tích của quốc tế trong quá trình phân tích, đánh
giá các yếu tố tác động, điều chỉnh cán cân thương mại như phương pháp phân tích
tác động của tỷ giá, cắt giảm thuế quan tới cán cân thương mại, phương pháp phân
tích theo mô hình Marshall - Lerner về tác động hưởng của phá giá tiền tệ lên cán cân
thương mại
Trang 21NỘI DUNG, KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
1.1 Một số vấn đề cơ bản về cán cân thương mại và công nghiệp hoá, hiện đại
hoá
1.1.1 Cán cân thương mại
1.1.1.1 Khái niệm
Một cách chung nhất, cán cân thương mại được hiểu là cán cân đo lường độ chênh
lệch giữa giá trị xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá của một quốc gia hay một nền kinh
tế trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm
Một cách khác trực quan hơn, "Cán cân thương mại, hay còn gọi là cán cân hữu
hình, phản ánh chênh lệch giữa các khoản thu từ xuất khẩu và các chi cho nhập khẩu
hàng hoá, mà các hàng hoá này có thể quan sát được bằng mắt thường khi di chuyển
qua biên giới" Khái niệm này được đưa ra nhằm để hiểu rõ hơn về những bộ phận cấu
thành trong cán cân tài khoản vãng lai trong cán cân thanh toán, trong đó, ngược lại
với cán cân hữu hình như vừa nêu trên thì cán cân vô hình là cán cân đo lường sự
chênh lệch của dịch vụ, thu nhập và chuyển giao vãng lai một chiều không thể quan sát
được bằng mắt thường
Để thấy rõ hơn bản chất và "vị trí" của cán cân thương mại trong cán cân thanh
toán quốc tế của một quốc gia, hay rộng hơn là trong mối quan hệ với các biến số kinh
tế vĩ mô khác trong nền kinh tế, có thể quan sát qua mô phỏng một bảng cán cán thanh
toán quốc tế như dưới đây1:
Ký
Doanh số thu (+)
Doanh số chi (-)
Cán cân (ròng)
1 Nguồn: [12, tr.226]
Trang 22Ký
Doanh số thu (+)
Doanh số chi (-)
Cán cân (ròng)
- Thu từ xuất khẩu dịch vụ + 120
Bên cạnh những khái niệm nêu trên, còn một số khái niệm khác về cán cân thương
mại cũng thường gặp và đều mang một bản chất nội dung như nêu trên, cụ thể như:
Trang 23"Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán
quốc tế, ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong
một khoảng thời gian nhất định, cũng như mức chênh lệch giữa chúng"
"Cán cân thương mại là bảng kết toán về chênh lệch giữa giá trị về mặt tiền tệ của
nhập khẩu và xuất khẩu trong một nền kinh tế qua một giai đoạn thời gian nhất định"
"Cán cân thương mại của một quốc gia ghi chép các giao dịch về mặt giá trị các
giao dịch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá của quốc gia đó với phần còn lại của thế giới
và trong một khoảng thời gian nhất định, có thể là một quí hoặc một năm"
Trong Luận án này, khái niệm về cán cân thương mại sẽ được nghiên cứu, sử
dụng trong các phân tích, đánh giá được thực hiện dựa trên cơ sở khái niệm chung về
cán cân thương mại Theo đó, cán cân thương mại được hiểu là cán cân đo lường độ
chênh lệch giữa giá trị xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa của một quốc gia hay một nền
kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm
1.1.1.2 Các trạng thái của cán cân thương mại
Với khái niệm cán cân thương mại như trên có thể thấy, tuỳ thuộc vào độ chênh
lệnh giữa giá trị của xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá của một quốc gia hay một nền
kinh tế trong từng giai đoạn, chúng ta có các trạng thái khác nhau của cán cân thương
mại của quốc gia hay nền kinh tế đó, cụ thể gồm:
Cân bằng thương mại là trạng thái khi kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập
khẩu hàng hoá của một quốc gia hay một nền kinh tế bằng nhau trong thời kỳ
xem xét
Thặng dư thương mại là trạng thái khi kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của một
nước hay một nền kinh tế vượt quá kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của quốc gia
hay nền kinh tế đó trong thời kỳ xem xét
Thâm hụt thương mại là tình trạng khi kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của một
quốc gia hay một nền kinh tế vượt quá kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của quốc
gia hay nền kinh tế đó trong thời kỳ xem xét
Các trạng thái của cán cân thương mại rõ ràng có tác động qua lại với các biến số
kinh tế vĩ mô khác của nền kinh tế, và qua đó tác động cũng như phần nào thể hiện
tình trạng của nền kinh tế vĩ mô nói chung Nhìn chung, về mặt nguyên lý thì mỗi nền
Trang 24kinh tế đều hướng tới mục tiêu lâu dài là đạt được trạng thái cân bằng hoặc thặng dư
thương mại Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau thì trạng thái của cán
cân thương mại cũng biến động phù hợp với tính chất và trình độ của sự phát triển của
nền kinh tế trong giai đoạn đó Trong phần nội dung xem xét về các mô hình tiến hành
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung trên thế giới được trình bày tiếp theo đây sẽ
nêu chi tiết hơn về mối quan hệ này
1.1.1.3 Một số vấn đề cần lưu ý khi xem xét cán cân thương mại
- Vấn đề về đo lường "giá trị hàng hoá" trong cán cân thương mại:
Như đã nêu trên, cán cân thương mại sẽ phải đo lường sự chênh lệch giá trị giữa
xuất khẩu và nhập khẩu của cả hàng hoá - là những thứ hữu hình có thể nhìn thấy và
đo lường được khi chúng di chuyển qua biên giới Do vậy, ở đây khẳng định đối tượng
được xem xét trong cán cân thương mại là "hàng hoá", không bao gồm các loại dịch
vụ Trong Nghiên cứu này, việc xem xét cán cân thương mại sẽ được hiểu là xem xét
cán cân thương mại hàng hoá Các vấn đề có liên quan tới dịch vụ, nếu có, sẽ được
trình bày bổ sung trong các trường hợp cần thiết và sẽ được nêu cụ thể trong quá trình
nêu vấn đề
Bên cạnh đó, ở đây cũng lưu ý thêm một điểm khi tính toán giá trị của cán cân
thương mại là: Giá hàng hoá phải được tính toán trên cơ sở giá FOB (Free On Board),
nghĩa là giá trị hàng hoá chỉ tính đến cảng xuất, tức không bao gồm cước phí vận
chuyển và phí bảo hiểm - vì chi phí vận chuyển và bảo hiểm sẽ cần phải được tính toán
ở cán cân dịch vụ
- Vấn đề về phạm vi "quốc gia" hay "nền kinh tế":
Qua xem xét nội dung các khái niệm về Cán cân thương mại như nêu ở phần trên
cũng như cách sử dụng thuật ngữ này trên thực tế có thể thấy, việc sử dụng cụm từ
"quốc gia" và "nền kinh tế" trong khái niệm Cán cân thương mại là khá tự do và không
thống nhất Điều này xuất phát từ cách hiểu không đúng về nội dung các cụm từ này
Về bản chất, "quốc gia" là một khái niệm mang tính địa lý - chính trị - văn hoá -
lịch sử - dân cư, cho biết một vùng lãnh thổ có chủ quyền, có ranh giới lãnh thổ xác
định và có chế độ chính trị cụ thể Do vậy, trong nhiều trường hợp, cụm từ "quốc gia"
thường được sử dụng cùng với nghĩa của cụm từ "đất nước", "nước" Ví dụ như: Việt
Trang 25Nam, Thái Lan, Singapore là các quốc gia/nước trong khu vực Đông Nam Á Bên
cạnh đó, "nền kinh tế" là một khái niệm mang tính kinh tế - xã hội nhiều hơn, thường
gắn liền với những khu vực lãnh thổ nhất định, trong đó các khu vực lãnh thổ này có
thể là một quốc gia hoặc không phải là một quốc gia Ví dụ như: Nền kinh tế Việt
Nam, nền kinh tế Hoa Kỳ, nền kinh tế EU (chỉ một khu vực gồm nhiều quốc gia), nền
kinh tế Hồng Kông (chỉ một khu vực không phải là một quốc gia)…
Đối với Nghiên cứu này, việc xem xét cán cân thương mại sẽ được hiểu là xem xét
cán cân thương mại của các nền kinh tế Các trường hợp cụ thể khác sẽ được giải thích
và trình bày chi tiết trong các phần của Luận án
1.1.2 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1.1.2.1 Khái niệm công nghiệp hoá
Ngày nay, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã cho thấy tính tất yếu trong quá trình
phát triển kinh tế của các quốc gia Thực tiễn lịch sử phát triển của thế giới cho thấy
công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường để biến một nền kinh tế nông nghiệp lạc
hậu thành một nền kinh tế hiện đại, mà trong đó công nghiệp có vai trò đặc biệt quan
trọng Với cách tiếp cận khác nhau thì quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
cũng có những điểm không hoàn toàn giống nhau và do vậy sẽ dẫn đến những chính
sách và giải pháp thực thi cũng khác nhau
Các quan niệm về công nghiệp hoá:
Thực tế phát triển kinh tế trên thế giới cho thấy, công nghiệp hoá là khái niệm
mang tính lịch sử Nó gắn liền sự xuất hiện của công nghiệp với việc thay thế lao động
thủ công bằng lao động cơ khí hoá Khái niệm công nghiệp hoá xuất hiện từ cuộc cách
mạng kỹ thuật lần thứ nhất, khởi đầu ở nước Anh vào thế kỷ thứ XVIII Đến thế kỷ
thứ XIX, khái niệm này mới được làm rõ dần với quan niệm coi đó quá trình biến một
lĩnh vực sản xuất nào đó, hoạt động với sự trợ giúp đắc lực và sự đóng góp lớn của
hoạt động cơ khí Do công nghiệp phát triển nhanh chóng từ đơn giản đến phức tạp với
trình độ cơ khí hoá, tự động hoá ngày càng cao nên ý nghĩa của khái niệm công nghiệp
hoá cũng ngày càng mở rộng ra
Quan niệm đơn giản nhất cho rằng [13, tr 69]: "Công nghiệp hoá là đưa tính đặc
thù công nghiệp cho một hoạt động (của một vùng, một nước) với các nhà máy, các
Trang 26loại hình công nghiệp" Quan niệm này được hình thành trên cơ sở khái quát thời kỳ
đầu của quá trình công nghiệp hoá ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ Trong thời gian đầu
thực hiện công nghiệp hoá, các nước này chủ yếu tập trung vào phát triển các ngành
công nghiệp nên sự chuyển biến của các hoạt động kinh tế - xã hội khác về cơ bản chỉ
là hệ quả của quá trình phát triển công nghiệp Quan niệm giản đơn này về công
nghiệp hoá gần như đã đồng nhất quá trình công nghiệp hoá với quá trình phát triển
công nghiệp và chưa cho thấy được bản chất và mục tiêu của công nghiệp hoá Do
vậy, quan niệm này chỉ được sử dụng và biết tới trong một thời gian ngắn trong lịch
sử
Một quan niệm khác về công nghiệp hoá, được sử dụng phổ biến ở Liên Xô trước
đây cho rằng [13, tr.71]: "Công nghiệp hoá là quá trình xây dựng nền đại công nghiệp
cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp" Đó là sự phát triển các ngành công nghiệp
nặng mà cốt lõi là ngành chế tạo cơ khí, do đó tỷ trọng công nghiệp trong tổng sản
phẩm xã hội ngày càng lớn Quan niệm này xuất phát từ thực tiễn của Liên Xô khi
triển khai công nghiệp hoá, khi đó đã có một số tiền để ban đầu là công nghiệp đã phát
triển triển đến trình độ nhất định dưới chế độ tư bản trước đó Đồng thời, trong thời kỳ
đầu tiến hành công nghiệp hoá, Liên Xô bị chủ nghĩa đế quốc bao vây toàn diện nên sự
trợ giúp từ bên ngoài hầu như không có Trong bối cảnh ấy, để tồn tại và phát triển,
Liên Xô phải tiến hành công nghiệp hoá với nhịp độ nhanh, phải tập trung cao độ phát
triển công nghiệp nặng, phải hướng các ngành công nghiệp vào phục vụ nông nghiệp
nhằm bảo đảm các nhu cầu trong nước, đồng thời góp phần tăng nhanh tiềm lực quốc
phòng Quan niệm này, nhiều năm trước đây được coi là hợp lý và được áp dụng ở
một số nước xã hội chủ nghĩa và các nước đang phát triển nhằm xây dựng nền kinh tế
độc lập tự chủ Tuy nhiên, thực tế việc sao chép một cách máy móc mô hình công
nghiệp hoá của Liên Xô đã không đem lại kết quả như mong muốn ở những nước này
Tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) đã đưa ra khái niệm
sau đây về công nghiệp hoá vào năm 1963: "Công nghiệp hoá là một quá trình phát
triển kinh tế, trong quá trình này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc
dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật
hiện đại Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là có một bộ phận chế biến luôn thay đổi để
Trang 27sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, có khả năng bảo đảm cho toàn bộ
nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, bảo đảm đạt tới sự tiến bộ về kinh tế - xã hội"
Khái niệm này đã cho thấy công nghiệp hoá là quá trình bao trùm toàn bộ quá trình
phát triển kinh tế - xã hội nhằm đạt tới không chỉ sự tăng trưởng kinh tế mà còn cả sự
tiến bộ xã hội Đồng thời quá trình công nghiệp hoá trong điều kiện ngày nay cũng gắn
liền với quá trình hiện đại hoá nền kinh tế, trong mọi mặt hoạt động kinh tế - xã hội
Ở nước ta, khái niệm công nghiệp hoá đã được đề cập tại Văn kiện Hội nghị
Trung ương 7 khoá VII của Đảng như sau: "Công nghiệp hoá là quá trình chuyển đổi
căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã
hội từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng phổ biến sức lao động cùng
với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển
của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội
cao" Khái niệm này về cơ bản đã thể hiện được bản chất, phạm vi và vai trò đặc biệt
quan trọng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong phát triển kinh tế - xã hội; gắn liền
được hai phạm trù không thể tách rời là công nghiệp hoá và hiện đại hóa Nó cũng xác
định vai trò không thể thiếu của khoa học - công nghệ trong quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá
1.1.2.2 Công nghiệp hoá và hiện đại hoá
Về bản chất, công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá Trong lịch sử công
nghiệp hoá đã diễn ra hàng trăm năm ở các nước trên thế giới, công nghiệp hoá và hiện
đại hoá luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Vì hiện đại hoá để đạt tới trình độ kỹ
thuật hiện đại nhất là một yêu cầu cơ bản của quá trình công nghiệp hoá Thực tế cho
thấy, kỹ thuật hiện đại đến mấy đối với mỗi giai đoạn lịch sử đều có giới hạn nhất định
và luôn luôn thay đổi theo thời gian Chính vì vậy, hiện đại hoá không phải là một quá
trình độc lập mà là một hoạt động có tính liên tục của công nghiệp hoá gắn liền với sự
tiến bộ của khoa học kỹ thuật, hay là một quá trình kế tiếp để đạt được mục tiêu của
công nghiệp hoá Ngày nay, với những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới thì hiện đại hoá
gắn liền với tự động hoá, tin học hó và nền kinh tế tri thức Nói chung, hiện đại hoá
chính là chỉ phương tiện, điều kiện để đạt tới mục tiêu của quá trình công nghiệp hoá,
vì vậy nó không thể tách rời công nghiệp hoá
Trang 28Công nghiệp hoá, hiện đại hoá có thể coi là một phương thức có tính chất phổ biến
để thực hiện mục tiêu trong phát triển của hầu hết các quốc gia trên thế giới Mỗi nước
vì có hệ thống mục tiêu riêng của mình mà lựa chọn phương thức công nghiệp hoá phù
hợp Nhưng mục tiêu chung nhất của mọi quốc gia là nhằm tăng nhanh phát triển kinh
tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất mọi mặt của mọi tầng lớp dân cư thông qua việc
tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng hiện đại, huy động và sử dụng hiệu quả nhất
các nguồn lực của đất nước
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình tác động đến tất cả các ngành, các lĩnh
vực hoạt động của một nền kinh tế Trong một chỉnh thể kinh tế - xã hội của một quốc
gia, các ngành các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội có quan hệ mật thiết và tác động
qua lại với nhau Sự thay đổi ở ngành, lĩnh vực này sẽ dẫn tới sự thay đổi ở các ngành,
các lĩnh vực khác Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng gắn liền với quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân và cơ cấu lao động Trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá chuyển dịch cơ cấu làm cho vị trí của ba khu vực kinh tế: công
nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ có sự thay đổi Trong điều kiện hiện nay, công nghiệp
hoá, hiện đại hoá còn là quá trình mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế Ngày nay,
mở rộng phân công lao động quốc tế và xu thế toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra như
một tất yếu Mỗi quốc gia là một bộ phận của hệ thống kinh tế thế giới, chịu ảnh
hưởng của biến động kinh tế thế giới và có tác động ở mức độ khác nhau đến kinh tế
của các nước khác Vì vậy, việc xác định mục tiêu, phương thức công nghiệp hoá, hiện
đại hoá ở mỗi nước cần dựa trên cơ sở phân tích và dự báo những biến động kinh tế -
xã hội chung của khu vực và toàn cầu Việc xây dựng hệ thống kinh tế quốc gia mở và
tăng cường hợp tác kinh tế và phân công lao động quốc tế là xu hướng khách quan các
quốc gia trên thế giới hiện nay
1.1.2.3 Các mô hình tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xu hướng tác
động tới cán cân thương mại
Lịch sử công nghiệp hoá, hiện đại hoá - hay nói cách khác là lịch sử phát triển
kinh tế - diễn ra trên thế giới cho thấy có sự đa dạng về mô hình Trong đó, một số mô
hình điển hình bao gồm:
1.1.2.3.1 Mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu - chiến lược hướng nội
Trang 29- Nguyên nhân ra đời và sự phát triển của mô hình:
Mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu được ra đời và áp dụng phổ biến ở
các nước đang phát triển sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai [39, tr.95-99] Nó được
tiến hành trong bối cảnh quốc tế đặc biệt Hệ thống thuộc địa tan rã, các quốc gia đang
phát triển lần lượt giành được độc lập về chính trị, còn về kinh tế họ vẫn bị lệ thuộc
vào hệ thống kinh tế tư bản ở mức độ khác nhau Các nước này thường phải nhập khẩu
từ các nước tư bản phát triển hầu hết các mặt hàng công nghiệp, thậm chí cả lương
thực, nguyên nhiên liệu Họ cũng bị lệ thuộc cả về tài chính do phải vay nợ Các quốc
gia nghèo lúc đó cho rằng phải tiến hành một cuộc đấu tranh giành độc lập về kinh tế,
nghĩa là xây dựng cho mình một nền kinh tế độc lập tự chủ, có khả năng tự đảm bảo
lấy hầu hết các nhu cầu trong nước, ít lệ thuộc vào bên ngoài Bên cạnh đó, các nước
phương Tây tuy đã buộc phải trao trả quyền độc lập cho các nước đang phát triển,
nhưng họ chưa từ bỏ ý đồ thực dân đối với các nước đó, không chịu chuyển nhượng
công nghệ, không chịu mở cửa thị trường cho các nước đang phát triển và muốn kìm
hãm các nước đang phát triển trong vòng lạc hậu, phụ thuộc Trong bối cảnh quốc tế
đó, mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu đã ra đời như một tất yếu lịch sử Ở
các nước đang phát triển, chiến lược thay thế nhập khẩu được thử nghiệm đầu tiên ở
các nước Mỹ La tinh Một số nước châu Á như Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ và một số nước
khu vực Đông Nam Á cũng đã bắt đầu thực hiện chiến lược này trên con đường công
nghiệp hoá, hiện đại hoá của mình
- Nội dung và đặc điểm cơ bản của mô hình:
Thực chất mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu là mỗi nước cần phát triển
mạnh mẽ việc sản xuất trong nước để thay thế các hàng hoá vẫn phải nhập khẩu từ các
nước tư bản Sự phát triển như vậy sẽ mang lại tác dụng nhiều mặt: khai thác các
nguồn lực sẵn có để thoả mãn các nhu cầu cơ bản và cấp thiết trong nước, mở rộng thị
trường nội địa, phát triển sản xuất hàng hoá, tạo thêm việc làm, góp phần giải quyết
các vấn đề xã hội bức xúc và tiết kiệm ngoại tệ Xuất phát từ mục tiêu như vậy, nội
dung cơ bản của chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu nhìn chung lấy trọng
tâm là thị trường trong nước để phát triển sản xuất và lưu thông hàng hoá
Trang 30Thực chất, chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu về cơ bản không đồng
nghĩa với việc "bế quan toả cảng" hay "đóng cửa" nền kinh tế, mà các quan hệ kinh tế
đối ngoại vẫn được chú ý, đặc biệt là nhập khẩu các tư liệu sản xuất để sản xuất hàng
thay thế hàng nhập khẩu hay kêu gọi đầu tư nước ngoài vào các mục tiêu thay thế nhập
khẩu Do vậy, chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu đã được thực hiện thông
qua hàng loạt chính sách và biện pháp cơ bản nhằm bảo hộ sản xuất và thị trường
trong nước, khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp thay thế hàng nhập khẩu
Các nước đang phát triển đi từ điểm xuất phát thấp, nên phải nhập khẩu nhiều
hàng công nghiệp từ các quốc gia đã công nghiệp hoá cao, đặc biệt là máy móc thiết
bị Các nước đang phát triển chỉ là nơi cung cấp nông phẩm, tài nguyên và là thị
trường tiêu thụ hàng công nghiệp cho các nước phát triển Đây là quan hệ phụ thuộc
một chiều gây nhiều bất lợi cho các nước nghèo Để giảm sự lệ thuộc này, các nước
đang phát triển đã tìm cách xây dựng cho mình các ngành công nghiệp tự đáp ứng nhu
cầu trong nước, thay thế dần nhập khẩu Các nước phấn đấu dần dần hình thành một
cơ cấu ngành công nghiệp hoàn chỉnh (Ấn Độ, Inđônêxia…) hoặc là tương đối hoàn
chỉnh (Myanma, Malaysia…) Nhiều quốc gia đặt cho mình mục tiêu xây dựng những
ngành công nghiệp thiết yếu, có thể đảm bảo được những nhu cầu cơ bản của đất nước
như năng lượng, luyện kim, cơ khí, hoá chất… Các nước này xem những ngành công
nghiệp trên đây là cơ sở đảm bảo nên độc lập tự chủ nhằm trang bị cơ sở vật chất - kỹ
thuật cho nền kinh tế quốc dân và thoát khỏi sự lệ thuộc vào bên ngoài Do vậy, nhà
nước chủ trương khuyến khích các nhà sản xuất trong nước đầu tư và dần dần làm chủ
được kỹ thuật sản xuất Đồng thời còn khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài tham
gia vào sản xuất hoặc cung cấp công nghệ, vốn, kỹ năng quản lý Trong quá trình ấy,
những chính sách như cố định tỷ giá đồng nội tệ thường được giữ ở mức cao để
khuyến khích thay thế nhập khẩu; mức lãi suất thấp và bao cấp rộng rãi cho các doanh
nghiệp nhà nước; nhà nước kiểm soát giá cả và thương mại, đặc biệt là ngoại thương
chặt chẽ Nhìn chung, hầu hết các nước khi theo đuổi mô hình công nghiệp hoá thay
thế nhập khẩu đều chú trọng nhiều đến việc xây dựng hệ thống các doanh nghiệp nhà
nước Do vậy, trong thời kỳ công nghiệp hoá theo hướng thay thế nhập khẩu, khu vực
kinh tế quốc doanh đã phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước đang phát triển
Trang 31- Xu hướng tác động của mô hình tới cán cân thương mại:
Xuất phát từ đặc điểm của mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu và thực tễ
áp dụng mô hình này như đã trình bày ở trên cho thấy, việc thực hiện chiến lược thay
thế nhập khẩu đem lại sự mở mang nhất định các cơ sở sản xuất, giải quyết công ăn
việc làm; chính sách khuyến khích công nghiệp trong nước có tác dụng mở rộng và
tăng cường phát triển các doanh nghiệp cũng như đội ngũ doanh nhân dân tộc trong
công thương nghiệp Tuy vậy, nếu dừng lại quá lâu ở giai đoạn chiến lược thay thế
nhập khẩu sẽ vấp phải những trở ngại rất lớn Trong xu hướng quốc tế hoá và khu vực
hoá kinh tế ngày càng tăng lên dẫn đến sự liên hệ và tuỳ thuộc tất yếu giữa các quốc
gia trong quá trình sản xuất và trao đổi hàng hoá Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ
của cách mạng khoa học kỹ thuật đang trở thành yếu tố quyết định đến sự tăng trưởng
kinh tế và tự bản thân nó đã phá vỡ các mối quan hệ đóng cửa giữa các quốc gia Tâm
lý nóng vội chủ quan của một số nước đã dẫn đến thực tế là việc xây dựng và phát
triển những ngành công nghiệp qui mô lớn nhưng chu chuyển tư bản chậm, công suất
máy móc sử dụng lãng phí trong khi lợi thế so sánh để tăng xuất khẩu không được
khuyến khích Chính sách hướng nội trong điều kiện thị trường nội địa nhỏ hẹp, khả
năng tiêu dùng của đại bộ phận cư dân còn thấp, làm cho tăng trưởng chậm và thất
nghiệp tăng… Mặt khác, các chính sách trợ cấp, trợ giá tràn lan trong điều kiện dự trữ
ngân sách chưa đủ mạnh nên nhìn chung sẽ tạo ra nguy cơ làm cho cán cân thanh toán
và cán cân thương mại thường xuyên trong tình trạng mất cân bằng
1.1.2.3.2 Mô hình công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu - chiến lược hướng
ngoại
- Nguyên nhân ra đời và sự phát triển của mô hình:
Từ cuối thập kỷ 60, đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX, một số quốc gia đang phát triển
do nhận thức sớm về vai trò tác động của kinh tế thị trường đã nhanh chóng chuyển
đổi chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá Do vậy, chiến lược công nghiệp hoá
hướng về xuất khẩu đã được áp dụng khá phổ biến ở các nước đang phát triển [39,
tr.112-114] Theo đó, mục tiêu cơ bản của chiến lược là dựa vào đầu tư trực tiếp cũng
như sự hỗ trợ về vốn, kỹ thuật bên ngoài để tạo ra khả năng cạnh tranh và đẩy nhanh
xuất khẩu Nhân tố then chốt trong toàn bộ quá trình này là chính phủ tạo những điều
Trang 32kiện tốt nhất để hấp dẫn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, đồng thời tiến hành những cải
cách kinh tế trong nước tạo môi trường thuận lợi cho vốn đầu tư được sử dụng có hiệu
quả hơn
Cho đến nay chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu về cơ bản đã đem lại
nhiều thay đổi to lớn ở các nước tiến hành áp dụng Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh
rằng, chỉ riêng khuynh hướng ngoại không đủ để đem lại thành công lâu dài Nhưng
nếu hướng ngoại là xu hướng bao trùm trong mọi ngành kinh tế quốc dân thì nó đòi
hỏi một loạt những chính sách quản lý, điều tiết nền kinh tế vĩ mô toàn diện Hệ thống
những chính sách đúng đắn, kịp thời trên thực tế đã đem lại sự ổn định và tính linh
hoạt trong sản xuất Nền kinh tế ổn định và tăng trưởng cao là cơ sở cho các quốc gia
đang phát triển có thể ứng phó thành công với những biến động bên ngoài, giải quyết
kịp thời những vấn đề kinh tế - xã hội bên trong Kinh nghiệm cho thấy, nhìn chung
chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu có hiệu quả hơn so với chiến lược
thay thế nhập khẩu
- Nội dung và đặc điểm cơ bản của mô hình:
Trong chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, ảnh hưởng của tư bản
nước ngoài với kinh tế trong nước là đáng kể Các nước chủ nhà thực sự mở cửa tiếp
cận với các lực lượng thị trường tự do cạnh tranh quốc tế Chính tự do cạnh tranh là
yếu tố quan trọng để thúc đẩy sự phát triển Đây cũng là cơ hội thuận lợi cho các nước
tiếp nhận đầu tư thu hút được vốn, công nghệ và kinh nghiệm tổ chức, quản lý, kinh
doanh hiện đại nhằm tăng nhanh nhịp độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Để thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, các quốc gia không
phải chỉ thuần tuý là xây dựng các ngành công nghiệp xuất khẩu, mà nội dung quan
trọng hơn của nó là xây dựng cơ cấu công nghiệp mới theo hướng hiện đại hơn, có đủ
sức chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế và thúc đẩy xuất khẩu, dựa trên cơ sở kết hợp những
nhân tố thuận lợi bên ngoài với phát huy các lợi thế trong nước Ngoại thương đã trở
thành động lực quan trọng trong phát triển kinh tế tạo ra mối quan hệ chặt chẽ giữa thị
trường nội địa và bên ngoài nhằm tạo ra mô hình tăng trưởng rút ngắn Các chính sách
nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành xuất khẩu được thực hiện mạnh mẽ
thông qua một loạt các biện pháp điển hình như: Áp dụng hệ thống thuế và quan thuế
Trang 33ưu đãi với các nhà đầu tư nước ngoài; Khuyến khích áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ
thuật trong các công ty nước ngoài hoặc liên doanh với địa phương; Nới lỏng những
quy định về tỷ lệ đầu tư, hồi hương vốn và lợi nhuận, tái đầu tư của nhà đầu tư nước
ngoài; Thực hiện tự do hoá nhập khẩu đồng thời với cải cách tỷ giá; Thu hút công
nghiệp nước ngoài và phát triển khoa học - kỹ thuật phục vụ cho xuất khẩu; Thành lập
các khu vực kinh tế đặc biệt dưới nhiều tên gọi khác nhau như đặc khu kinh tế, khu
công nghiệp, khu chế xuất, khu mậu dịch tự do…
Trong quá trình thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hướng ngoại, việc giải
quyết tốt mối quan hệ giữa thị trường trong nước và thị trường ngoài nước có vai trò
rất lớn với sự phát triển kinh tế nói chung Vì chính sự phát triển các ngành xuất khẩu
lại mở rộng thêm thị trường cho các ngành sản xuất nội địa, tăng thêm việc làm, tăng
thêm thu nhập trong nước, tăng thêm nguồn ngoại tệ cho nhập khẩu công nghệ để hiện
đại hoá các ngành sản xuất trong nước phục vụ nội địa Do vậy, các nước chỉ mở rộng
nhập khẩu khi nhờ đó xuất khẩu được thực hiện tốt hơn Xu hướng chung của các
nước đang phát triển gần đây là tự do hoá mậu dịch được tiến hành từ từ và thận trọng
Một mặt, nhà nước cho phép tự do hoá nhập khẩu những mặt hàng phục vụ cho hoạt
động xuất khẩu, đồng thời hạn chế nhập khẩu đối với những mặt hàng phục vụ cho
nhu cầu tiêu dùng trong nước, đặc biệt là những hàng hoá xa xỉ Vì vậy, trong công
nghiệp hoá, hiện đại hoá thì thị trường nước ngoài và thị trường trong nước đều đóng
vai trò tích cực tạo ra sự tăng trưởng kinh tế Khi công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã đạt
đến một trình độ nhất định thì vai trò của thị trường nước ngoài ngày càng tăng lên Sự
kết hợp giữa thị trường trong nước và thị trường nước ngoài ngày càng tăng lên Sự kết
hợp giữa thị trường trong nước và thị trường ngoài nước phản ánh tính quy luật của
hầu hết các nước đang phát triển trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
- Xu hướng tác động của mô hình tới cán cân thương mại:
Do bản chất của mô hình là phát triển kinh tế trên cơ sở xây dựng và thúc đẩy một
cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hơn, có khả năng đẩy mạnh được xuất khẩu trên cơ
sở kết hợp được những nhân tố thuận lợi bên ngoài với phát huy những lợi thế trong
nước… nên về cơ bản các quốc gia áp dụng mô hình công nghiệp hướng về xuất khẩu
có khả năng bảo đảm cho cán cân thanh toán và cán cân thương mại ở trạng thái tích
Trang 34cực - hiểu theo nghĩa là có khả năng thặng dự hoặc cân bằng - nhiều hơn so với mô
hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu
Cũng như đã trình bày ở trên, ở mô hình công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu,
chính sự phát triển các ngành xuất khẩu lại mở rộng thêm thị trường cho các ngành sản
xuất nội địa, tăng thêm thu nhập trong nước, tăng thêm nguồn ngoại tệ cho nhập khẩu
công nghệ để hiện đại hoá các ngành sản xuất trong nước Do vậy, việc mở rộng nhập
khẩu của các quốc gia áp dụng mô hình này thường chỉ được thực hiện khi qua đó mà
xuất khẩu được thực hiện tốt hơn Bên cạnh đó, nhà nước về cơ bản sẽ điều tiết theo
hướng mở rộng nhập khẩu cho các mặt hàng phục vụ xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu
dối với những mặt hàng tiêu dùng xa xỉ… Do vậy, chính điều này cũng tạo ra khả
năng duy trì và cải thiện được tình trạng của cán cân thương mại ở mức tích cực hơn -
so với mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu
Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng do tương quan lực lượng kinh tế còn quá chênh
lệch giữa nền kinh tế các nước đang phát triển và các nước phát triển dẫn tới sự lệ
thuộc một chiều khá sâu sắc của các nước đang phát triển Vì vậy, điều không tránh
khỏi là những ảnh hưởng từ qui luật cạnh tranh và tình trạng độc quyền mà lợi thế
thường thuộc về các nước phát triển Bên cạnh đó, do sự lệ thuộc lớn vào thị trường
nước ngoài, nên những chấn động của thị trường quốc tế dẫn đến tình hình xuất nhập
khẩu ở các nước đang phát triển có khi trở nên tắc nghẽn hoặc không bình thường Vì
vậy, trong điều chỉnh kinh tế, việc thay đổi cơ cấu công nghiệp và nền sản xuất hàng
xuất khẩu thường không dễ dàng Việc thiên lệch một chiều chạy theo xuất khẩu mà
thiếu coi trọng thích đáng đến việc tạo ra những yếu tố tự chủ bên trong của nền sản
xuất xã hội cũng như của thị trường nội địa tất yếu sẽ dẫn đến mất cân đối nền kinh tế
do những chấn động bên ngoài Nền kinh tế trong nước cũng dễ bị tổn thương do tác
động tiêu cực của nền kinh tế thế giới Nhu cầu đầu tư phát triển xuất khẩu tăng lên
thường kéo theo tình trạng nợ nước ngoài gia tăng Khả năng trả nợ của các nước đang
phát triển nhìn chung rất khó khăn, thậm chí có nước không có khả năng thanh toán
nợ Do vậy, với các nước này, sự thiếu hụt cán cân thanh toán, cán cân thương mại lại
quay trở lại gây nhiều khó khăn cho nhập khẩu vật tư kỹ thuật, nguyên liệu để thực
hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 351.1.2.3.3 Mô hình công nghiệp hoá bền vững theo hướng hội nhập - chiến lược
hỗn hợp
- Nguyên nhân ra đời và sự phát triển của mô hình:
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, khu vực hoá diễn ra mạnh mẽ dưới ảnh hưởng của
cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại, nền kinh tế thế giới giống như một chỉnh
thể thống nhất nhưng lại chứa đựng nhiều mâu thuẫn Thực tế cho thấy, cạnh tranh
ngày càng gay gắt trên thị trường quốc tế đòi hỏi các nước đang phát triển phải điều
chỉnh chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá Xu hướng chung ngày nay lựa chọn
mô hình phát triển của các quốc gia là tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá bền
vững theo hướng hội nhập quốc tế [39, tr.121-125] Theo đó, chiến lược phát triển
kinh tế được thực hiện trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của từng quốc gia trên cơ sở
khai thác tối đa nguồn lực trong và ngoài nước để đạt tăng trưởng kinh tế cao; Gắn
tăng trưởng kinh tế với sự bền vững trong phát triển, vừa hướng mạnh ra thị trường thế
giới, vừa coi trọng thị trường trong nước; Công nghiệp hoá không chỉ hướng về xuất
khẩu mà còn theo hướng hội nhập khu vực và thế giới với việc tham gia sâu rộng vào
các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế…
- Nội dung và đặc điểm cơ bản của mô hình:
Nội dung cơ bản của chiến lược công nghiệp hoá bền vững theo hướng hội nhập là
kết hợp một cách hợp lý giữa hướng về xuất khẩu với thay thế nhập khẩu Xuất phát từ
sự tồn tại song song, xen kẽ của hai chiến lược thay thế nhập khẩu và hướng về xuất
khẩu ở nhiều nước đang phát triển hiện nay Vì vậy, xu hướng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá bền vững theo hướng hội nhập quốc tế đang mở ra khả năng và triển vọng của
các nước đang phát triển trong phát triển kinh tế kể cả trước mắt cũng như lâu dài Xu
hướng phát triển này vừa dựa vào các nguồn lực bên ngoài, đồng thời cũng kích thích
sự phát triển các nguồn lực bên trong nhằm nâng cao tiềm lực trong nước Trên cơ sở
đó tạo ra sức bật và khả năng phát triển vững chắc từ bên trong để giảm dần phụ thuộc
vào bên ngoài Điều đó sẽ giảm dần sự phụ thuộc một chiều, tăng dần sự phụ thuộc lẫn
nhau và tăng những khả năng bổ sung kinh tế cho các nước đang phát triển Chiến
lược công nghiệp hoá bền vững theo hướng hội nhập là thừa nhận tính tất yếu của
chiến lược hướng về xuất khẩu và hội nhập có thay thế nhập khẩu đóng vai trò bổ
Trang 36sung Đặc điểm chính của mô hình này là tăng trưởng nhanh, phát triển mạnh kinh tế
đối ngoại, cạnh tranh thành công trên thị trường quốc gia và quốc tế
Trong chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá bền vững theo hướng hội nhập
quốc tế thì sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra trong điều kiện khác trước vì hàng
hoá, vốn, dịch vụ, lao động, công nghệ, tiền tệ sẽ được chuyển dịch tự do hầu như
không có biên giới quốc gia Như vậy, các nước đang phát triển muốn có được những
ngành công nghiệp hiện đại thì nhà nước phải tạo ra được môi trường cần thiết để thu
hút được những ngành này từ bên ngoài Bên cạnh đó, thị trường của những ngành
công nghiệp này là thị trường toàn cầu, việc tính toán nhu cầu của thị trường trở nên
phức tạp Đó là những yếu tố liên quan tới việc xác định cơ cấu kinh tế trong công
nghiệp hoá, hiện đại hoá Do vậy, cơ cấu kinh tế theo hướng hội nhập sẽ bao gồm
những ngành hướng ra thị trường quốc tế và không nhất thiết bắt đầu từ những ngành
công nghiệp chế biến, sử dụng nhiều lao động mà có thể bắt đầu ngay từ những ngành
có hàm lượng vốn và công nghệ cao
Bên cạnh đó, để thực hiện chiến lược này, việc xây dựng hệ thống thể chế kinh tế
thị trường phù hợp với thông lệ quốc tế là điều kiện không thể tách rời Đồng thời phải
trú trọng phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá trong điều kiện
hội nhập, chủ động và tăng cường tham gia liên kết kinh tế khu vực và thế giới… Nhìn
chung, các nước đang phát triển trong giai đoạn đầu thực hiện công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đều bước đầu tiếp cận với kinh tế thị trường, một số nước mới thực hiện
chuyển đổi sang kinh tế thị trường Do vậy, nhiều chính sách về đầu tư, thương mại và
cơ chế thị trường còn ở mức độ sơ khai vừa yếu, vừa thiếu lại chưa đồng bộ Để hội
nhập có hiệu quả, việc tạo lập đồng bộ cơ chế thị trường và xây dựng hệ thống luật
pháp, thể chế theo thông lệ quốc tế là vấn đề cấp thiết Bên cạnh đó, hoạt động liên kết
kinh tế khu vực và tham gia các tổ chức thương mại quốc tế ngày càng có ảnh hưởng
sâu sắc đến sự phát triển của các nước đang phát triển Trong quá trình ấy, các nước
đang phát triển sẽ phải thực hiện tự do hoá thương mại và đầu tư theo lộ trình với mức
độ, hình thức và thời gian phù hợp với khả năng của từng nước
- Xu hướng tác động của mô hình tới cán cân thương mại:
Trang 37Thực tế cho thấy, chiến lược công nghiệp hoá bền vững theo hướng hội nhập nếu
được thực hiện một cách phù hợp sẽ khắc phục những lệch lạc và thái quá trong phát
triển, tạo lập cơ chế phát triển cân đối hơn, năng động hơn với việc mở rộng liên kết
quốc tế và khu vực mạnh hơn và qua đó cũng bảo đảm thiết lập và duy trì được cán
cân thanh toán và cán cân thương mại ở trạng thái tích cực, ổn định hơn
Tuy nhiên, khi thực hiện mô hình công nghiệp hoá bền vững theo hướng hội nhập,
nền kinh tế các nước đang phát triển còn ở điểm xuất phát thấp, việc hội nhập quốc tế
bên cạnh những thuận lợi, thì chiến lược hỗn hợp sẽ gặp phải những khó khăn mới
Trong quá trình tự do hoá thương mại và tự do hóa đầu tư, nền công nghiệp non trẻ
của các nước sẽ vấp phải sự cạnh tranh gay gắt hơn, cạnh tranh không không cân sắc
với các doanh nghiệp đã lớn mạnh từ bên ngoài Bên cạnh đó, còn kéo theo sự lệ thuộc
nhiều hơn về vốn, công nghệ và thị trường vào các nước đang phát triển Do đó, về cơ
bản trong giai đoạn đầu thực hiện mô hình công nghiệp hoá bền vững theo hướng hội
nhập, các quốc gia sẽ phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức thức hơn, cần
thực hiện nhiều cải cách, đổi mới một cách đồng bộ và toàn diện hơn… Và như vậy,
việc bảo đảm duy trì một cán cân thanh toán và cán cân thương mại có trạng thái tích
cực, hay nói cách khác là có trạng thái cân bằng và thặng dư, của các quốc gia đang
trong giai đoạn đầu thực hiện công nghiệp hoá theo mô hình này là không hề đơn giản
Việc lựa chọn mô hình công nghiệp hoá bền vững theo hướng hội nhập mặc dù
đang là xu thế chung nhưng rõ ràng là một quá trình phức tạp với nhiều thách thức
Đây là những vấn đề mà các nước cần nắm bắt để điều chỉnh, khắc phục để đạt được
mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước mình
1.1.3 Mối quan hệ và yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với cán
cân thương mại
Xuất phát từ bản chất của công nghiệp hoá, hiện đại hoá như đã trình bày ở trên,
có thể rút ra một số nhận xét cơ bản về mối quan hệ giữa công nghiệp hoá, hiện đại
hoá và cán cân thương mại như sau:
Thứ nhất, việc tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá có thể tạo ra sự thâm hụt
trong cán cân thương mại ở một số giai đoạn hay thời điểm nhất định nhưng việc tiến
hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá không đồng nghĩa với việc đi kèm với nó là tình
Trang 38trạng thâm hụt cán cân thương mại Đúng là việc thực hiện quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đòi hỏi phải huy động một cách mạnh mẽ các nguồn lực trong nước và
ngoài nước để chuyển đổi cơ cấu và phát triển kinh tế theo hướng hiện đại hơn Trong
quá trình đó, yêu cầu phải nhập khẩu một khối lượng lớn các nguyên liệu, vật liệu,
hàng hoá, công nghệ… hay thu hút nguồn vốn, lao động… từ bên ngoài là cần thiết và
do vậy sẽ dẫn tới khả năng thâm hụt cán cân thương mại Đây là hiện tượng kinh tế
bình thường có thể xảy ra trong một số giai đoạn hoặc thời điểm nhất định, đặc biệt là
trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tuy nhiên, một khi quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế trong nước đã đạt tới một mức
độ nhất định, khi trình độ và sức sản xuất trong nước được cải thiện, cơ cấu kinh tế
được điều chỉnh hợp lý hơn, sức cạnh tranh trong thương mại quốc tế cao hơn…, thì
hiện tượng này cũng sẽ được loại bỏ Đây là vấn đề rất cơ bản cần được nhận thức
đúng trong quá trình nghiên cứu, xem xét mối quan hệ giữa công nghiệp hoá, hiện đại
hoá và cán cân thương mại
Thứ hai, mỗi mô hình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đều có xu hướng tác động,
điều chỉnh cán cân thương mại theo những hướng cơ bản khác nhau Trong đó, mô
hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu thường dễ có xu hướng tạo nên tình trạng
thâm hụt cán cân thương mại, đặc biệt là trong dài hạn, khi quá trình hội nhập, phân
công lao động quốc tế diễn ra mạnh mẽ và khi các yếu tố bảo đảm cho khả năng sản
xuất ở trong nước để thay thế cho nhập khẩu không còn được bảo đảm Mô hình công
nghiệp hoá hướng về xuất khẩu trong ngắn hạn và trung hạn thường có xu hướng tạo
nên tình trạng thặng dư cán cân thương mại Tuy nhiên, khả năng tác động và bảo đảm
cho tình trạng này của cán cấn thương mại trong dài hạn khó có thể đạt được nếu như
không kết hợp tốt với các chiến lược phát triển sản xuất phục vụ nhu cầu trong nước
và giảm thiểu được sự lệ thuộc vào bên ngoài Mô hình công nghiệp hoá hỗn hợp
thường tạo ra tình trạng thâm hụt trong giai đoạn đầu và dần dần được cải thiện và duy
trì bền vững ở những giai đoạn tiếp theo
Thứ ba, không có một mô hình cố định để xác lập mối quan hệ giữa cán cân
thương mại và công nghiệp hoá, hiện đại hoá Mối quan hệ đó hoàn toàn phụ thuộc
vào khả năng và hiệu quả tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá của các quốc gia
Trang 39trong từng giai đoạn nhất định Mặc dù, như đã trình bày ở trên, mỗi mô hình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đều có xu hướng tác động tới cán cân thương mại theo những
hướng cơ bản khác nhau, nhưng điều đó không có nghĩa là với mỗi mô hình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá thì cán cân thương mại sẽ diễn biến hoàn toàn theo một chiều
hướng nhất định Việc một quốc gia thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo mô
hình thay thế nhập khẩu vẫn hoàn toàn có thể bảo đảm để cán cân thương mại trong
tình trạng cân bằng hoặc thặng dư nếu quốc gia đó kiểm soát và sử dụng có hiệu quả
các nguồn lực trong nước để sản xuất không những bảo đảm cho nhu cầu trong nước
mà còn để xuất khẩu Hay ngược lại, một quốc gia tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại
hoá theo mô hình hướng về xuất khẩu vẫn có thể phải chấp nhận tình trạng thâm hụt
cán cân thương mại trong những giai đoạn nhất định khi năng lực xuất khẩu chưa đủ
để bù đắp cho yêu cầu nhập khẩu những hàng hoá trong nước chưa sản xuất được…
Thứ tư, xuất phát từ những đặc điểm, tính chất của mình, quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa cũng đặt ra những yêu cầu riêng đối với cán cân thương mại, hay nói
cách khác là cán cân thương mại trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại
hóa của mỗi quốc gia cũng cần phải bảo đảm một số yêu cầu riêng Những yêu cầu
này có thể là khác nhau đối với các quốc gia khác nhau trong quá trình thực hiện sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của mình, song về cơ bản có thể nhận thấy một
số yêu cầu chung đó là: (i) Cán cân thương mại phải được điều chỉnh để bảo đảm thực
hiện tốt mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, theo đó chuyển dịch
tập trung nhiều hơn vào các ngành công nghiệp, các ngành sản xuất trong nước có lợi
thế, giảm dần tỷ trọng các ngành có hàm lượng chế biến, hàm lượng công nghệ thấp để
nâng cao giá trị gia tăng của hoạt động xuất nhập khẩu; (ii) Việc điều chỉnh cán cân
thương mại phải góp phần tích cực trong việc nâng cao năng lực sản xuất trong nước,
hiện đại hóa nền kinh tế Theo đó, phải bảo đảm chất lượng và hiệu quả trong nhập
khẩu, bảo đảm nhập khẩu được những máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại phục vụ
hiện đại hóa nền kinh tế trong nước, nâng cao năng lực, hiệu quả sản xuất trong nước
và từ đó có thể sản xuất và xuất khẩu được ngày càng nhiều những hàng hóa có lợi thế
trong thương mại quốc tế Cũng thông qua các biện pháp điều chỉnh cán cân thương
mại, phải góp phần định hướng, thúc đẩy hoạt động thương mại, đầu tư vào các lĩnh
Trang 40vực ưu tiên trong chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước trong từng
giai đoạn; (iii) Phải bảo đảm trong trung hạn và dài hạn, cán cân thương mại được cân
bằng và thặng dư để tạo nguồn lực cho nền kinh tế phục vụ tốt cho thực hiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.2 Những yếu tố cơ bản tác động, điều chỉnh cán cân thương mại
1.2.1 Chính sách thương mại quốc tế
Chính sách thương mại nói chung, hay chính sách thương mại quốc tế nói riêng
của một quốc gia chắc chắn là một trong những yếu tố quan trọng và trực tiếp nhất tác
động tới các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và do đó tác động, điều chỉnh tới cán cân
thương mại
Một cách chung nhất, có thể hiểu chính sách thương mại quốc tế là các nguyên
tắc, biện pháp, công cụ nhất định của một quốc gia để điều chỉnh hoạt động thương
mại quốc tế của quốc gia đó trong một thời gian nhất định nhằm đạt được mục tiêu
phát triển kinh tế xã hội nói chung của quốc gia đó [23, tr.141] Chính sách thương mại
quốc tế, do vậy, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế nói chung của
một quốc gia, thể hiện qua một số vai trò chủ yếu thường thấy là: Tạo điều kiện thuận
lợi cho các doanh nghiệp trong nước thâm nhập và mở rộng thị trường ra nước ngoài,
khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế trong nước; Bảo vệ thị trường nội địa,
tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước đứng vững và vươn lên trong hoạt động
kinh doanh ở một số giai đoạn phát triển nhất định; Là một bộ phận chủ yếu trong
chính sách đối ngoại của một quốc gia
Như vậy chính sách thương mại nói chung hay chính sách thương mại quốc tế nói
riêng bao hàm phạm vi rất rộng, nó có thể bao hàm rất nhiều biện pháp, công cụ để can
thiệp vào hoạt động thương mại quốc tế của một quốc gia Tuy nhiên, trong đó có một
số biện pháp, công cụ chủ yếu thường được sử dụng bao gồm: Thuế quan; Hạn ngạch
nhập khẩu; Hạn ngạch thuế quan; Giấy phép; Hạn chế xuất khẩu tự nguyện; Các rào
cản kỹ thuật; Trợ cấp xuất khẩu; Tín dụng xuất khẩu; Bán phá giá;…
1.2.1.1 Thuế quan
Thuế quan, hay thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, là tên gọi chung để gọi hai loại
thuế trong lĩnh vực thương mại quốc tế Trong đó: