Để nâng cao năng suất và chất lượng trứng, ngoài con giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, chuồng trại… thì khẩu phần thức ăn cũng đóng vai trò quan trọng.. Bên cạnh protein, acid amin t
Trang 1KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRONG KHẨU PHẦN LÊN NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA GÀ ĐẺ
CÔNG NGHIỆP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN CHĂN NUÔI
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN CHĂN NUÔI
NGUYỄN THỊ HỒNG NHI
KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRONG KHẨU PHẦN LÊN NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA GÀ ĐẺ CÔNG
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN CHĂN NUÔI
NGUYỄN THỊ HỒNG NHI
KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRONG KHẨU PHẦN LÊN NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA GÀ ĐẺ CÔNG
Trang 4PHẦN KÝ DUYỆT
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014
DUYỆT CỦA KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS NGUYỄN THỊ THỦY
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014
DUYỆT CỦA BỘ MÔN
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất
cứ công trình nghiên cứu nào trước đây
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Nhi
Trang 6LỜI CẢM TẠ
Con xin tỏ lòng biết ơn đến cha mẹ, người đã sinh thành, nuôi dạy con khôn lớn, dành trọn tình cảm, niềm tin và lo cho con ăn học đến ngày hôm nay
Em xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô Trường Đại học Cần Thơ đã tận tâm hướng dẫn, truyền dạy những kiến thức và kinh nghiệm quý báo để em bước vào đời
Em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Thủy đã hết lòng quan tâm, dạy bảo và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn anh Huỳnh Minh Trí phòng nghiên cứu sản phẩm Gia súc Gia cầm Trung tâm RD, anh Trần Ngọc Mong giám đốc Trung Tâm Khoa Học Kỹ Thuật Công Nghệ Công ty TNHH MTV Chăn Nuôi Vemedim, ấp Thới Hòa C, xã Thới Thanh, huyện Thới Lai, TP Cần Thơ đã chỉ bảo trong suốt quá trình thí nghiệm Chân thành cảm ơn cô chú, anh chị trong trại đã tận tình giúp đỡ
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lớp Chăn nuôi – Thú y K37A đã sát cánh bên tôi, chia sẻ khó khăn vui buồn cùng tôi
Cuối cùng, xin chúc mọi người nhiều sức khỏe và thành công!
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày…… tháng… năm 2014 Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Hồng Nhi
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM TẠ ii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii
TÓM LƯỢC viiii
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2
2.1 SƠ LƯỢC VỀ GIỐNG GÀ HISEX BROWN 2
2.1.1 Nguồn gốc 2
2.1.2 Đặc điểm và ngoại hình 2
2.2 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA GÀ MÁI ĐẺ 5
2.2.1 Nhu cầu năng lượng 5
2.2.2 Nhu cầu protein 7
2.2.3 Nhu cầu vitamin và muối khoáng 8
2.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG 9
2.3.1 Di truyền 10
2.3.2 Tuổi và dinh dưỡng 10
2.3.3 Các yếu tố môi trường 11
2.4 KHÁNG SINH VÀ CÁC ỨNG DỤNG CỦA CHÚNG 15
2.4.1 Nhóm kháng sinh sử dụng trong thí nghiệm 16
2.4.2 Nhóm vitamin sử dụng trong thí nghiệm 20
2.4.3 Tác dụng của kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi 22
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 24
3.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM 24
3.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 24
Trang 83.1.2 Động vật thí nghiệm 24
3.1.3 Chuồng trại thí nghiệm 24
3.1.4 Thức ăn thí nghiệm 25
3.1.5 Dụng cụ thí nghiệm 27
3.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 27
3.2.1 Bố trí thí nghiệm 27
3.2.2 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng 28
3.2.3 Phương pháp lấy mẫu 29
3.2.4 Quy trình phòng bệnh ở trại 29
3.2.5 Các chỉ tiêu theo dõi 30
3.2.6 Hiệu quả kinh tế 31
3.2.7 Xử lý số liệu 31
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 NHẬN XÉT CHUNG VỀ ĐÀN GÀ THÍ NGHIỆM 32
4.2 KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM 32
4.2.1 Ảnh hưởng của kháng sinh trong khẩu phần thí nghiệm lên tỷ lệ đẻ và khối lượng trứng 32
4.2.2 Ảnh hưởng của kháng sinh thí nghiệm lên tiêu tốn thức ăn 35
4.2.3 Ảnh hưởng của kháng sinh thí nghiệm lên phân loại trứng 37
4.2.4 Ảnh hưởng của kháng sinh thí nghiệm đến tỷ lệ chết của gà 40
4.3 HIỆU QUẢ KINH TẾ 40
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42
5.1 KẾT LUẬN 42
5.2 ĐỀ NGHỊ 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
Trang 9DANH MỤC BẢNG
2.1 Nhu cầu dinh dƣỡng gà đẻ Hisex Brown 3 2.2 Tỷ lệ đẻ và trọng lƣợng trứng chuẩn của gà Hisex Brown 4 2.3 Lƣợng thức ăn ăn vào, trọng lƣợng chuẩn và thời gian
chiếu sáng đối với gà Hisex Brown 5 3.1 Thực liệu của khẩu phần cơ sở 26 3.2 Thành phần hóa học của khẩu phần cơ sở 26 3.3 Quy trình sử dụng kháng sinh thí nghiệm 26
Trang 12Các chỉ tiêu theo dõi: Tỷ lệ đẻ, khối lượng trứng, tiêu tốn thức ăn, tỷ lệ trứng loại 1, loại 2 và các chỉ tiêu về chất lượng trứng
Kết quả thí nghiệm:
Tỷ lệ đẻ của gà mái sau khi sử dụng thuốc ở nghiệm thức NP (90,75%) có khuynh hướng tốt hơn ở 2 nghiệm thức còn lại F100 (88.63%) và ĐC (87,35%), tuy sự khác nhau là không có ý nghĩa thống kê (P = 0,29) Khối lượng trứng của các nghiệm thức gần như tương đương nhau và ở mức từ 59 - 60g/trứng Về TTTĂ g/con/ngày giữa các nghiệm thức gần giống nhau (P = 0,69) Nghiệm thức
NP và ĐC có TTTĂ/con/ngày là 107,8 g và nghiệm thức F100 là 107,6 g Các chỉ tiêu về chất lượng trứng như màu lòng đỏ, chỉ số hình dáng, tỷ lệ lòng đỏ, lòng trắng và tỷ lệ vỏ đều không có sự khác biệt về mặt thống kê sHiệu quả kinh tế: Lợi nhuận cao nhất ở nghiệm thức ĐC (10.951.896 đồng), kế đến là nghiệm thức NP (10.298.496 đồng) và thấp nhất ở nghiệm thức F100 (9.835.602 đồng) Nhìn chung khi tác động 2 loại kháng sinh trên gần như không ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ đẻ, khối lượng trứng và chất lượng trứng của gà, chỉ cho lợi nhuận thấp hơn đối chứng
Trang 13CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngành chăn nuôi gia cầm ở nước ta hiện nay ngày càng phát triển, trong
đó chăn nuôi gà chiếm giữ một vị trí quan trọng, vì thịt và trứng là nguồn thực
phẩm lớn và giàu dinh dưỡng Theo Nguyễn Thi Mai et al (2009) thì trứng là
loại sản phẩm thỏa mãn nhu cầu nhiều mặt về giá trị dinh dưỡng Ngoài protein, lipid và các chất khoáng khác trong trứng còn có nhiều loại vitamin như: A, D, E, K và các vitamin nhóm B Để nâng cao năng suất và chất lượng trứng, ngoài con giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, chuồng trại… thì khẩu phần thức ăn cũng đóng vai trò quan trọng
Bên cạnh protein, acid amin thiết yếu, năng lượng, chất béo thì chất cộng thêm như men, acid hữu cơ, kháng sinh cũng rất cần thiết trong khẩu phần của
gà đẻ trứng thương phẩm Kháng sinh được dùng như chất kích thích sinh trưởng, điều trị bệnh và phòng bệnh cho đàn gia cầm Theo Bùi Xuân Mến (2008), những hợp chất kích thích tăng trưởng quan trọng nhất được sử dụng
là kháng sinh, chất kháng sinh được sử dụng rộng rãi trong y khoa của người cũng như trong điều trị những bệnh nào đó của động vật có thể được trộn vào thức ăn của gia cầm Tại hoa kỳ, kháng sinh được sử dụng trộn trong thức ăn gia cầm và trong y khoa như bacitracin, chlortetracycline, oxytetracycline, crythromycin, lincomycin, novobiocin và penicillin Trộn kháng sinh trong khẩu phần gia cầm có tác dụng cải thiện tăng trọng và hiệu quả chuyển hóa thức ăn của gà và gà tây sinh trưởng Kháng sinh có thể liên quan đến sự kiểm soát những vi khuẩn gây bệnh yếu ớt không được phát hiện cư trú trong đường tiêu hóa Vì lý do này mà ảnh hưởng của kháng sinh thường có liên quan như một tác dụng đến mức độ của bệnh
Từ những lợi ích của kháng sinh nói trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Khảo sát ảnh hưởng của sử dụng kháng sinh trong khẩu phần lên năng suất sinh sản của gà đẻ công nghiệp” với mục tiêu:
Khảo sát ảnh hưởng của việc sử dụng kháng sinh đến năng suất, tiêu tốn thức ăn, chất lượng trứng và hiệu quả kinh tế của đàn gà đẻ thương phẩm giống Hisex Browm 32 - 36 tuần tuổi
Trang 14CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 SƠ LƯỢC VỀ GIỐNG GÀ HISEX BROWN
2.1.1 Nguồn gốc
Gà Hisex Brown được nhập vào Việt Nam năm 1995 nguồn gốc ở Hà Lan, là giống gà lông nâu, trứng có vỏ màu nâu, tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng là 1,5 - 1,6 kg thức ăn, là giống gà chuyên trứng tiên tiến trên thế giới cho năng suất 280 - 300 trứng/ năm Tiêu tốn thức ăn để sản xuất 10 quả trứng khoảng 1,5 - 1,6 kg thức ăn, trọng lượng trứng nặng bình quân 50 - 60 g
(Nguyễn Duy Hoan et al., 1999)
2.1.2 Đặc điểm và ngoại hình
Nguyễn Thị Mai et al (2009) cho rằng đây là giống gà chuyên trứng màu
nâu có nguồn gốc từ hãng Euribreed - Hà Lan
10 quả trứng là 1,49 kg Khối lượng cơ thể vào cuối thời kỳ đẻ là 2150 g/mái
Gà mái đẻ thương phẩm đạt tỷ lệ đẻ 5% ở 20 tuần tuổi, đỉnh cao tỷ lệ đẻ khoảng 92% Thời gian đạt tỷ lệ đẻ cao trên 90% kéo dài khoảng 10 tuần Trọng lượng trứng trong tuần đẻ đầu là 46 g và tăng dần cho đến khi kết thúc
Hình 2.1: Gà Hisex Brown
Trang 15là 67 g Sản lƣợng trứng đến 78 tuần tuổi là 307 quả/mái Tỷ lệ chết trong thời
kỳ đẻ trứng là 5,8% Khối lƣợng gà mái khi kết thúc đẻ khoảng 2,15 kg/con
Lƣợng thức ăn tiêu thụ đến hết 78 tuần tuổi là 47 kg/con (Nguyễn Thị Mai et
al., 2009)
Bảng 2.1: Nhu cầu dinh dƣỡng gà đẻ Hisex Brown
TPDD ĐV 0 - 3 3 - 9 9 - 17 17 - 19 19 - 45 45 - 70 Giai đoạn (tuần) 70 - kết thúc
(Nguồn: Công ty TNHH Emivest Việt Nam, 2010)
Chú thích: TPDD: thành phần dinh dưỡng; ĐV: đơn vị
Tỷ lệ đẻ và trọng lƣợng trứng chuẩn của gà Hisex Brown đƣợc trình bày qua Bảng 2.2
Bảng 2.2: Tỷ lệ đẻ và trọng lƣợng trứng chuẩn của gà Hisex Brown
Tuần tuổi Tỷ lệ đẻ Trọng lƣợng Tuần tuổi Tỷ lệ đẻ Trọng lƣợng
Trang 16(Nguồn: Công ty TNHH Emivest Việt Nam, 2010)
Lƣợng thức ăn ăn vào, trọng lƣợng chuẩn và thời gian chiếu sáng đối với
gà Hisex Brown đƣợc trình bày qua Bảng 2.3
Bảng 2.3: Lƣợng thức ăn ăn vào, trọng lƣợng chuẩn và thời gian chiếu sáng đối với gà Hisex Brown
Tuần tuổi Lƣợng thức ăn Trọng lƣợng Thời gian chiếu sáng
Trang 17ăn vào (g/ngày) chuẩn (g) Chuồng kín Chuồng hở
(Nguồn: Công ty TNHH Emivest Việt Nam, 2010)
2.2 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA GÀ MÁI ĐẺ
2.2.1 Nhu cầu năng lượng
2.2.1.1 Nhu cầu duy trì
Bùi Xuân Mến (2008) cho rằng nuôi gia cầm cho mục đích sản xuất, trước hết phải nuôi dưỡng để duy trì sự sống, mặc dù chúng có sản xuất hay không Một lượng đáng kể thức ăn tiêu tốn của gia cầm là sử dụng để duy trì
sự sống Nhu cầu năng lượng để duy trì của gia cầm bao gồm sự trao đổi cơ bản và hoạt động bình thường Trao đổi cơ bản là sự tiêu phí năng lượng tối thiểu hoặc sinh nhiệt trong những điều kiện khi ảnh hưởng của thức ăn, nhiệt
độ môi trường và hoạt động chủ động bị loại ra Sự sinh nhiệt cơ bản thay đổi theo độ lớn của vật nuôi, nhìn chung thì độ lớn của vật nuôi tăng thì sự sinh nhiệt cơ bản trên một đơn vị thể trọng giảm Sự sinh nhiệt cơ bản cả gà con mới nở vào khoảng 5,5 kcal/g thể trọng trong một giờ, nhưng trái lại đối với
gà mái trưởng thành thì chỉ cần phân nửa số năng lượng này
Năng lượng yêu cầu cho hoạt động có thể thay đổi đáng kể, thường được ước tính bằng khoảng 50% của sự trao đổi cơ bản Điều này có thể bị ảnh hưởng bởi những điều kiện chuồng trại cũng như giống gia cầm được nuôi Sử dụng chuồng lồng làm giới hạn các hoạt động sẽ dẫn đến sự tiêu phí năng lượng thấp hơn, cỡ khoảng 30% của sự trao đổi cơ so với nuôi nền
Mặc dù thực tế những động vật lớn hơn yêu cầu năng lượng duy trì thấp hơn trên một đơn vị thể trọng, nhưng tổng năng lượng cần cho những động vật lớn hơn lại cao hơn nhiều so với động vật nhỏ hơn Từ quan điểm thực tiễn cho thấy, một gà mái sản xuất trứng có độ lớn cơ thể nhỏ nhất, đẻ trứng lớn và
Trang 18sức sống cao sẽ có khả năng chuyển đổi thức ăn thành sản phẩm đạt hiệu quả nhất, vì tiêu phí năng lượng duy trì thấp Chăn nuôi gà hoặc gà tây thịt đạt đến
độ bán trong một thời gian ngắn nhất sẽ đạt hiệu quả nhất về biến đổi thức ăn thành sản phẩm, vì nếu kéo dài thời gian nuôi sẽ phải chi phí duy trì lớn hơn Hầu hết gà đang đẻ trứng và gà thịt đang sinh trưởng đều được cho ăn tự
do theo yêu cầu sản xuất lượng thức ăn gia cầm tiêu thụ có liên quan trước hết đến nhu cầu năng lượng của gia cầm trong thời gian này Khi các chất dinh dưỡng khác có đủ lượng trong thức ăn thì khả năng tiêu thụ thức ăn được xác định trước tiên dựa trên mức năng lượng của khẩu phần Mức tiêu thụ năng lượng của gia cầm hàng ngày có thể đo bằng kilocalo năng lượng trao đổi thì chắc chắn sẽ ổn định hơn là tổng lượng thức ăn tiêu thụ, nếu trong khẩu phần
có chứa các mức năng lượng khác
2.2.1.2 Nhu cầu sinh trưởng
Trong hầu hết các trường hợp nhu cầu năng lượng không được trình bày một cách chính xác như các nhu cầu về acid amin, vitamin và khoáng Tốc độ tăng trưởng tốt có thể đạt được với một biên độ rộng của các mức năng lượng, bởi vì gia cầm có khả năng điều chỉnh lượng thức ăn ăn vào để duy trì một mức tiêu thụ năng lượng khá ổn định Nhìn chung tốc độ tăng trưởng tối đa sẽ không đạt được với khẩu phần khởi động cho gà và gà tây con với mức năng lượng dưới 2640 kcal ME/kg Gà thịt thường được cho ăn mức năng lượng cao hơn hậu bị thay thế Trong sản xuất gà thịt, tốc độ tăng trọng tối đa là yêu cầu cần thiết để gà thịt đạt trọng lượng bán trong thời gian ngắn nhất, nhưng với
gà hậu bị thay thế thì tốc độ tăng trưởng nhanh lại ít quan trọng hơn Thực tế sản xuất cho thấy, khẩu phần khởi động cho gà con làm hậu bị thay thế có từ
2750 - 2970 kcal/kg TĂ, ngược lại khẩu phần khởi động của gà thịt lại chứa mức năng lượng cao hơn, trong phạm vi từ 3080 - 3410 kcal/kg TĂ (Bùi Xuân Mến, 2008)
2.2.1.3 Nhu cầu sản xuất trứng
Bùi Xuân Mến (2008) nói rằng năng lượng thuần cần cho một gà mái đang có tỷ lệ đẻ cao gồm năng lượng tiêu phí cho duy trì và năng lượng dự trữ trong trứng Gà mái có khả năng thay đổi mức tiêu thụ thức ăn theo mức năng lượng trong khẩu phần Mức năng lượng tối thiểu trong khẩu phần cho gà đẻ không thể dưới mức 2460 Kcal ME/kg Khi gà mái phải chịu đựng trong môi trường lạnh thì mức năng lượng không thể thấp hơn 2750 Kcal ME/kg Thường thì mức năng lượng thực trong khẩu phần sẽ tùy thuộc nhiều vào mức
độ của giá thức ăn trong thực tế sản xuất
Trang 19Dương Thanh Liêm (2003) cho rằng đặc trưng của gia cầm là không có vùng nhiệt độ trung hòa rõ rệt Khi nhiệt độ môi trường tăng lên hay giảm thấp thì chúng ăn thức ăn ít hay nhiều lên Nếu dựa vào trao đổi chất cơ bản (hay nhiệt lượng tỏa ra do phân giải lúc đói) với công thức tính của Brody thì nhu cầu duy trì phải cao hơn 20% nhu cầu trao đổi chất cơ bản
Trong thực tế khi được cho ăn tự do, gà tự cân đối năng lượng ME ăn vào với nhu cấu của chúng Thường hàm lượng ME trong thức ăn gà đẻ từ 10 -
20 MJ/kg (11,5 - 13,5 MJ/kg chất khô) Nếu tăng hay giảm 1% hàm lượng năng lượng trong thức ăn (lớn hơn 12 MJ hay dưới 10 MJ) gây nên sự tăng hay giảm tương ứng lượng ăn khoảng 0,5% Nếu gà ăn khẩu phần chứa ít hơn
10 MJ/kg sẽ dẫn đến giảm sản xuất trứng, khẩu phần chứa nhiều hơn 12 MJ/kg thức ăn có thể làm tăng tích lũy mỡ, làm mau hư gà mái nhưng không làm tăng số lượng trứng đẻ (mặc dù trọng lượng trứng có thể tăng) (Dương Thanh Liêm, 2003)
2.2.2 Nhu cầu protein
Bùi Xuân Mến (2008) cho biết rằng protein cần thiết cho duy trì tương đối thấp, vì thế yêu cầu về protein trước hết tùy thuộc vào lượng cần thiết cho mục đích của sản xuất Để đáp ứng nhu cầu protein thì các acid amin thiết yếu phải cung cấp đủ lượng và tổng lượng nitơ trong khẩu phần phải đủ cao và ở dạng thích hợp để cho phép tổng hợp lượng acid amin không thiết yếu Một khi lượng protein tối thiểu được yêu cầu cung cấp cho sản xuất trứng tối đa thì protein cần cộng thêm do bị oxy hóa thành năng lượng cũng phải tính đến Protein cũng không được dự trữ trong cơ thể theo số lượng có thể đánh giá được Thực tế sản xuất, protein luôn là thành phần thức ăn đắt nhất của một khẩu phần, sẽ không có kinh tế nếu nuôi động vật quá mức protein Vì lý do này mà mức protein trong khẩu phần cho động vật nuôi luôn phải giữ gần với mức nhu cầu tối thiểu hơn là các chất dinh dương khác
2.2.2.1 Nhu sinh trưởng
Bùi Xuân Mến (2008) cho biết rằng nhu cầu protein và acid amin của gia cầm non đang sinh trưởng là đặc biệt quan trọng Phần lớn vật chất khô tăng lên với sự sinh trưởng là protein Sự thiếu hụt của hoặc protein tổng số hoặc là một acid amin thiết yếu nào đó đều làm giảm tốc độ tăng trưởng Sự tổng hợp protein yêu cầu tất cả các acid amin cần thiết làm thành protein cần phải có mặt trong cơ thể gần như cùng một lúc Khi thiếu một acid amin thiết yếu thì không có sự tổng hợp protein Các acid amin không được sử dụng cho tổng hợp protein sẽ chuyển đổi thành carbohydrate hoặc mỡ, đồng thời nó có thể dễ dàng bị oxy hóa cho nhu cầu năng lượng trực tiếp hay dự trữ dưới dạng mô
Trang 20mỡ Thân thịt của những vật nuôi cho ăn khẩu phần thiếu protein hoặc các acid amin thường chứa nhiều mỡ hơn những vật nuôi được ăn khẩu phần đủ và cân đối protein Điều cân nhắc quan trọng nhất trong việc biểu diễn nhu cầu các acid amin là lượng thức ăn tiêu thụ Một lượng ổn định protein tổng số và acid amin thiết yếu trong thức ăn được yêu cầu để giúp cho tốc độ tăng trưởng mô
cơ thể có thành phần không thay đổi Tuy nhiên khi nhu cầu protein được biểu thị theo phần trăm trong khẩu phần thì mức protein ăn vào thực sự sẽ tùy thuộc vào lượng tiêu thụ thức ăn Mức năng lượng trong khẩu phần có thể là sự xem xét quan trọng nhất trong việc đánh giá lượng thức ăn ăn vào Vì lý do này mà các nhu cầu được biểu diễn như phần trăm của khẩu phần luôn có liên quan đến mức năng lượng của khẩu phần đó
2.2.2.2 Nhu cầu đẻ trứng
Với mỗi quả trứng được đẻ, một gà mái phải sinh sản ra khoảng 6,7 g protein Lượng protein tương đương với lượng protein tích lũy hàng ngày của một gà thịt đang sinh trưởng có mức tăng trọng 37 g/ngày Mặc dù gà mái không đẻ thường xuyên hàng ngày nhưng protein cho duy trì cũng phải đươc xem xét và nhu cầu protein hàng ngày cho những gà mái đang đẻ cao cũng đầy
đủ như cho gà thịt đang sinh trưởng nhanh
Trong thời kỳ đầu của sản xuất trứng, gà mái còn đang tăng trọng nên chúng cần tích lũy protein cho cơ thể và cho sản xuất trứng Sau đó nhu cầu protein của tăng trọng giảm xuống nhưng độ lớn của trứng lại tăng lên Để có thể tạo ra được những trứng lớn và đạt tỷ lệ đẻ tối đa, một gà mái một ngày cần phải tiên thụ 17 g protein (cân đối các acid amin)
Trong bất cứ nghiên cứu nào về nhu cầu protein của gà mái đang đẻ phải đương nhiên thừa nhận một sự cân đối hợp lý các acid amin trong protein của khẩu phần Thiếu hụt một acid amin thiết yếu sẽ làm giảm khả năng sản xuất trứng, giảm độ lớn của trứng và giảm mức protein tổng số Việc xác định nhu cầu các acid amin cho gà mái đẻ chủ yếu dựa vào thành phần các acid amin của protein trrong trứng Tỷ lệ của các acid amin thiết yếu trong protein của khẩu phần phải đi gần với tỷ lệ các acid amin được tạo thành trong trứng (Bùi Xuân Mến, 2008)
2.2.3 Nhu cầu vitamin và muối khoáng
Ngày nay, hầu hết nhu cầu của gia cầm về vitamin và muối khoáng đã được biết chính xác, đặc biệt đối với các vitamin và khoáng chất biết chắc chắn là bị thiếu trong khẩu phần sản xuất Ngoại trừ một số ít vitamin hoặc khoáng không biết chắc chắn là thiếu dưới những điều kiện sản xuất, các mức
Trang 21trong khẩu phần được khuyến cáo là cung cấp lượng đủ để cho phép gia cầm sản xuất hiệu quả
Không như protein, các yếu tố vitamin và khoáng vi lượng luôn được cung cấp vượt qua mức nhu cầu tối thiểu trong khẩu phần Vì vậy nhu cầu vitamin và khoáng vi lượng thường không được chỉ dẫn theo tỷ lệ thức ăn tiêu thụ hoặc mức năng lượng có trong thức ăn, từ đó số lượng đủ luôn trên nhu cầu tối thiểu được tính trong khẩu phần của gia cầm
Chất dinh dưỡng cần thiết chủ yếu trong khẩu phần của gia cầm mái đẻ
là Ca Cho mỗi trứng lớn gà mái đẻ ra cần 2 g Ca để thành lập vỏ trứng Một
gà mái đẻ 250 trứng một năm cần tích lũy 500 g Ca, chủ yếu ở dạng carbonate canxi (tương đương với 1300 g) Canxi không được sử dụng hiệu quả đối với
gà mái đẻ, có thể chỉ khoảng 50 - 60 % lượng Ca ăn vào được giữ lại và chuyển vào trứng Như vậy, để đảm bảo sản xuất ra vỏ trứng theo yêu cầu thì
gà mái này cần tiêu thụ 2600 g carbonat canxi trong một năm đẻ Đây là lượng khoáng vượt quá cả thể trọng của gà mái Qua sự đánh giá này cho thấy tầm quan trọng của trao đổi Ca phải diễn ra liên tục trong một gà mái đang đẻ và quá trình trao đổi này cũng lớn hơn bất kỳ loài vật nào khác
Nhu cầu Ca đối với gà mái đang đẻ khó xác định được chính xác, bởi vì duy trì ở một tỷ lệ đẻ cao thì mức Ca trong thức ăn lại thấp hơn yêu cầu để tạo
ra một vỏ trứng vừa ý Thị trường hiện đại và những điều kiện quản lý trứng yêu cầu vỏ trứng bền không bị nứt bể dễ dàng trong buôn bán Khi gà mái đi vào thời kỳ cuối của năm đẻ thường cho những trứng có vỏ mỏng và chất lượng kém hơn trong thời kỳ đẻ đầu Thời tiết nóng cũng làm gà đẻ trứng mỏng hơn Chất lượng vỏ trứng cũng bị ảnh hưởng bởi bệnh đường hô hấp, vì
có thể bệnh này đã làm ảnh hưởng đến ống dẫn trứng nên gà đẻ ra trứng có vỏ trứng không bình thường Thực tế không phải các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng vỏ nêu ở trên có thể được sửa chữa bằng cách cho thêm Ca vào thức ăn
Sự tiêu thụ thức ăn cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nhu cầu Ca khi được tính toán như phần trăm trong khẩu phần Đối với những gà mái trong thời kỳ đẻ đầu, muốn cho gà sử dụng tốt Ca thức ăn để tạo ra vỏ trứng vừa ý thì mức Ca trong khẩu phần chỉ ở dưới mức 3% Nhưng ở điều kiện khác nhau, ví dụ như thức ăn cho gà mái già trong thời tiết nóng thì mức Ca trong thức ăn gà đẻ phải tăng lên đến mức 4% để cố gắng cải thiện chất lượng
vỏ trứng (Bùi Xuân Mến, 2008)
2.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG
Trang 22Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng trứng của gia cầm đó là các yếu tố di truyền (tuổi thành thục về tính, cường độ đẻ trứng, thói quen ấp trứng, sự thay lông…), tuổi, dinh dưỡng và các yếu tố môi trường (nhiệt độ,
tố ảnh hưởng đến tuổi thành thục sinh dục của gia cầm: loài giống, dòng, hướng sản xuất, mùa vụ nở, thời gian chiếu sáng, chế độ dinh dưỡng, chăn sóc quản lý
Sự thay lông
Gà thay lông sớm thời gian thay lông kéo dài sức đẻ thấp, gà thay lông muộn và thay lông nhanh sức đẻ phục hồi nhanh và cao Thay đổi điều kiện nuôi dưỡng, stress nhiệt độ cao, thấp, bị bệnh tật đều xảy ra thay lông trước hạn định Thay lông định kỳ của gà trưởng thành diễn ra nhiều lần trong đời
gà và thường vào mùa vụ cố định trong năm thường cuối hè sang thu, có lúc
cả mùa đông Gà đẻ cao thường thay lông 8 - 11 tuần và bát đầu thay lông vào tháng 10 - 11 Gà đẻ thấp thay lông vào tháng 7 - 8 và kéo dài thời gian hay lông lâu hơn (Lê Hồng Mận, 2003)
2.3.2 Tuổi và dinh dưỡng
Tuổi
Trang 23Tuổi gia cầm cũng có liên quan đến năng suất trứng Sản lượng trứng của gia cầm giảm dần theo tuổi, thường thì sản lượng năm thứ 2 giảm 15 - 20% so
với năm thứ nhất (Bùi Hữu Đoàn, 2009) Jacob et al (2009) cho rằng gà có
thể sống nhiều năm và tiếp tục đẻ trứng trong những năm này Tuy nhiên, sau hai hay ba năm nhiều gà mái giảm đáng kể năng suất Điều này có sự khác biệt giữa những giống gia cầm khác nhau Tuổi đẻ tốt nhất nằm trong khoảng từ 50
- 60 tuần tuổi, sau giai đoạn sức sản xuất trứng đạt cực điểm là giai đoạn thay lông Đến tuổi đẻ kém và gà mái già sẽ thay lông, năng suất sẽ giảm
Dinh dưỡng
Cơ sở để xây dựng khẩu phần ăn cho gia cầm đẻ phải căn cứ vào khẩu
phần ăn của tất cả các giai đoạn chăn nuôi trước đó Lượng thức ăn trong giai đoạn nuôi dưỡng không chỉ ảnh hưởng đến khối lượng cơ thể, tỷ lệ hao hụt trong giai đoạn nuôi dưỡng mà còn ảnh hưởng đến tuổi đẻ quả trứng đầu tiên cũng như sản lượng trứng, khối lượng trứng, chất lượng trứng, khối lượng cơ thể và tỷ lệ hao hụt trong giai đoạn gia cầm đẻ Làm thế nào để có một khẩu phần ăn thích hợp đáp ứng đủ các yêu cầu trên đã được đặt ra cho các nhà chăn nuôi
Thức ăn và dinh dưỡng có mối quan hệ chặt chẽ với khả năng đẻ trứng Muốn gia cầm có sản lượng trứng cao, chất lượng trứng tốt thì phải đảm bảo một khẩu phần ăn đầy đủ và cân bằng các chất dinh dưỡng theo nhu cầu Quan trọng nhất là cân bằng giữa năng lượng và protein, cân bằng các axit amin, cân bằng các chất khoáng và vitamin Tùy thuộc vào lượng thức ăn thu nhận hàng ngày của mỗi đàn gia cầm mà phối hợp khẩu phần cho thích hợp Nếu khẩu phần không đảm bảo nhu cầu về protein sẽ làm ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất trứng Năng suất trứng giảm xuống và khối lượng trứng cũng nhỏ hơn bình thường Mức protein thiếu nghiêm trọng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng trứng và
tỷ lệ nở sẽ giảm thấp Khẩu phần không đảm bảo về nhu cầu vitamin và khoáng không những làm giảm năng suất trứng mà còn ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả ấp nở (Lê Thị Quyến, 2013)
2.3.3 Các yếu tố môi trường
Nhiệt độ
Nhiệt độ của chuồng nuôi là điều kiện tiểu khí hậu quan trọng nhất Ảnh hưởng lớn đến năng suất của đàn gà Nhiệt độ nóng hay lạnh điều liên quan trực tiếp đến cơ thể gà và khả năng hấp thu dưỡng chất (Võ Bá Thọ, 1996) Nhiệt độ môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sống của cơ thể sinh vật Nếu sự thay đổi ít, diễn biến từ từ thường không gây tác hại mà có khi còn có tác dụng như một kích thích có lợi Trường hợp nhiệt độ biến đổi
Trang 24đột ngột, biên độ dao động lớn, vượt xa giới hạn bình thường sẽ gây tác hại trực tiếp và gián tiếp đến gà Ở gà lớn, khi nhiệt độ môi trường nóng sẽ có biểu hiện rối loạn chức năng sinh lý, ăn ít hoặc bỏ ăn, uống nước nhiều,… Ảnh hưởng đến tăng trọng, giảm đẻ, chất lượng trứng kém, có thể gây chết hàng loạt (Võ Bá Thọ, 1996)
Gà thích nghi rất tốt với môi trường lạnh, gà trưởng thành có thể sống trong nhiệt độ thấp đến mức -140C trong vòng 1 giờ, lông được dựng thẳng lên
để bảo vệ duy trì thân nhiệt hoặc rùng mình để phản ứng với lạnh làm tăng tốc
độ trao đổi của cơ thể để sinh thêm nhiệt (Bùi Xuân Mến, 2008)
Ở gà sinh sản, nhiệt độ chuồng nuôi tốt nhất là 18 - 200C, không quá
250C Nếu nhiệt độ nuôi dưới 150C hoặc cao hơn 300C ảnh hưởng đến sức đẻ trứng và khối lượng trứng, tỷ lệ gà chết tăng lên (Nguyễn Đức Hưng, 2006) Những giống gà nhập nội nhẹ cân như Lerghorn, Hisex Brown,… chịu lạnh kém hơn những giống gà nội nặng cân hướng thịt Khả năng chịu nóng còn phụ thuộc vào giới tính, con trống chịu nhiệt độ cao tốt hơn con mái Gà chưa đẻ chịu nhiệt độ tốt hơn gà đang đẻ trứng Nhiệt độ cao trên 300C khối lượng trứng giảm, vỏ trứng mỏng (Đào Đức Long, 2004)
Sự chênh lệch nhiệt độ môi trường ảnh hưởng rất lớn đến năng suất gà
Sự chênh lệch nhiệt độ kết hợp với khối lượng gà ban đầu có ảnh hưởng trực tiếp đến sức tăng trọng, mức ăn vào và hệ số chuyển hóa thức ăn ở gà qua các giai đoạn Cụ thể: khối lượng gà xuất chuồng giảm 20,5 - 25,3%, tiêu tốn thức
ăn toàn kỳ giảm 21,84 - 24,91% và hệ số chuyển hóa thức ăn tăng 1,14 - 11,37% (Nguyễn Thị Thanh Giang, 2010)
Vũ Đình Vượng et al (2007) cho rằng động vật có thể tỏa nhiệt trên
khắp bề mặt của cơ thể ra ngoài môi trường tự nhiên Nếu có thêm gió đối lưu hoặc khi gia súc chạy, vận động, sự tỏa nhiệt sẽ tăng lên Ngoài ra, thông qua quá trình hô hấp, ăn uống, tiêu hóa, bài tiết, hoạt động giao phối, tiết sữa, cơ thể gia súc cũng bị tiêu hao nhiệt lượng đáng kể
Đỗ Ngọc Hòe et al (2005) cho rằng nhiệt độ không khí nhất định, cơ thể
sản sinh nhiệt lượng nhỏ nhất (trao đổi vật chất thấp nhất), tỏa nhiệt ít nhất (tiêu hao nhiệt lượng ít nhất) nhưng vẫn giữ được sự thăng bằng nhiệt (S = 0) Phạm vi nhiệt độ không khí như vậy gọi là khu nhiệt điều hòa Trong khu nhiệt điều hòa, động vật cảm thấy dễ chịu, khỏe mạnh, sự sinh trưởng, phát triển, nhịp điệu sống và khả năng sản xuất đều đạt ở mức cao nhất
Nói chung, động vật có thể sống trong nhiệt độ thích hợp nhất ở gia súc trưởng thành chỉ trong khoảng 21 - 260C Trong nhiệt độ cực đoan động vật phải tăng cường hoạt động sinh lý và hành vi bảo vệ để sinh tồn Vượt ra
Trang 25ngoài phạm vi giới hạn nóng (>600C) và lạnh (600C), động vật sẽ bị tiêu diệt (Lê Viết Ly, 1995)
Độ ẩm không khí trong chuồng nuôi
Khả năng chứa nước của không khí phụ thuộc vào nhiệt độ Nhiệt độ càng cao không khí càng hút ẩm và ngược lại Không khí trong chuồng nuôi thường bão hòa hơi nước do gà thải ra ngoài trong khi thở, nước bóc hơi từ phân, từ bề mặt của thiết bị cung cấp nước, từ mặt nước rơi vãi và hơi nước từ ngoài vào do thông khí kém Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thải hơi nước đặc biệt là nhiệt độ của không khí, sức đẻ trứng, thành phần thức ăn, phương pháp thu dọn phân, sự cách ly của tường và nền chuồng,… do đó cần có hệ thống không khí Độ ẩm tốt nhất trong chuồng nuôi từ 65 - 70%, độ ẩm không khí cao ảnh hưởng đến sự cân bằng nhiệt, gián tiếp ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gà Độ ẩm thấp có hại cho gà vì bụi sinh gà nhiều làm hỏng màng nhầy, không khí khô làm da khô gây ngứa, đây là một trong những nguyên nhân gây mổ nhau, ăn lông Ẩm độ chuồng thích hợp để nuôi gà sinh sản là 60
- 70% (Nguyễn Đức Hưng, 2006)
Độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho các loài vi khuẩn phát triển, lớp độn chuồng dễ bị nấm mốc gây mủn nát, các thiết bị dụng cụ chăn nuôi dễ hỏng hoặc phải lau chùi, cọ rửa nhiều, các bệnh dễ lây lan hơn Sự kết hợp của ẩm
độ và nhiệt độ cao làm giảm sức đề kháng của gà, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho hệ vi sinh vật trong chuồng nuôi phát triển, đặc biệt là sự phát
triển của E.coli, kèm theo triệu chứng hô hấp Nhiệt độ và ẩm độ cao hơn so
với điều kiện chuẩn có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến tỷ lệ tiêu chảy (tỷ lệ tiêu chảy cao từ 32,5 - 37,8%), tỷ lệ hô hấp (22,4 - 40%) và tỷ lệ chết (4,45 - 7,84%) ở gà (Nguyễn Thị Thanh Giang, 2010)
Ẩm độ tương đối của không khí chuồng nuôi hoàn toàn phụ thuộc vào kỹ thuật nuôi, mật độ nuôi, phương pháp cho uống và thể thức lưu không khí của chuồng nuôi Khi ẩm độ cao gà có biểu hiện khó thở, ngạt, dễ bị các bệnh đường hô hấp
Ẩm độ cao gây tác hại gián tiếp tạo điều kiện thuận cho sự tồn tại, phát triển của các loại mầm bệnh như vi khuẩn, ký sinh trùng, nấm móc (Võ Bá Thọ, 1996)
Ẩm độ thấp từ 40 - 50% sẽ gây hại cho gà Chuồng nuôi dễ bị bụi gây bẩn không khí, gà dễ bị bệnh hô hấp Vào mùa khô hanh của nước ta có những ngày kèm theo lạnh nên sự bóc hơi từ phổi tăng nhanh dễ gây cho cơ thể bị mất nhiệt và lạnh (Đào Đức Long, 2004)
Trang 26Khi ẩm độ khô thì nhu cầu uống nước của gà tăng lên đồng thời nhu cầu
về thức ăn giảm xuống, gà dễ bị mất nước, da khô, chuồng bụi,… Giữa nhiệt
độ và ẩm độ tương đối có mối tương quan nghịch với nhau Bình thường ẩm
độ tốt nhất đối với gà là 65 - 75% (Dương Thanh Liêm, 2003)
Thời gian chiếu sáng
Ánh sáng là yếu tố môi trường quan trọng tác động mạnh mẽ đến quá trình sinh lý, nó không thể thiếu cho chức năng thị giác và nhận biết của gia cầm Ánh sáng cho biết gia cầm thành lập các hoạt động đồng bộ hóa thiết yếu như điều chỉnh nhiệt độ cơ thể và các bước chuyển hóa khác nhau tạo điều kiện cho sự thu nhận thức ăn và tiêu hóa Ánh sáng ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng, phát triển và phát dục của chúng Thông qua hệ thống nội tiết, ánh sáng kích thích sự phát triển của buồng trứng, kích thích sự rụng trứng các bao noãn
Thời gian chiếu sáng phải phù hợp với từng giống gà, từng lứa tuổi và được chú trọng đặc biệt là vào thời kỳ đẻ, vì nó ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng của trứng Trong giai đoạn đẻ trứng, thời gian chiếu sáng thích hợp cho các giống gà là 16 giờ/ngày đêm, với công suất 4 W/m2 và cường độ là 20 lux Có nhiều cách tăng cường độ chiếu sáng ở cuối giai đoạn hậu bị Cách chiếu sang phổ biến là tăng từ từ trong 2 tuần, mỗi ngày 30 phút hoặc có thể tăng đột ngột từ 8 giờ/ngày lên 24 giờ/ngày để tạo kích thích mạnh trong 2 ngày, sau đó giảm xuống 14 giờ, rồi tăng từ từ 30 phút mỗi ngày cho tới khi đủ 16 giờ/ngày đêm (Võ Bá Thọ, 1996)
Độ dài chiếu sáng đối với gà con rất quan trọng, cần đảm bảo đủ 24 giờ trong tuần tuổi đầu tiên Nếu rút ngắn thời gian chiếu sáng sẽ làm giảm nhu cầu về thức ăn, tăng trọng chậm nhưng hiệu quả sử dụng thức ăn cao (Võ Bá Thọ, 1996) Độ dài ánh sáng nuôi gà thương phẩm trong giai đoạn 0 - 18 tuần tuổi thì ngắn và cần giảm cường độ ánh sáng Đối với gà 18 - 26 tuần tuổi tăng cường độ chiếu sáng ban đầu lên 24 giờ và giảm dần đến 16 giờ (Đào Đức Long, 2004)
Màu sắc của ánh sáng đối với khả năng sản xuất của gà có ý nghĩa thứ yếu nhưng người ta đã thấy rằng màu đỏ có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn màu vàng, xanh lục, xanh lam, da cam và trắng Tất cả chúng tác động lên gà hậu
bị và gà đẻ làm tăng khả năng phát dục và kích thích gà đẻ nhiều trứng Thường được dùng chiếu sáng, thúc đẩy sinh dục, làm trứng chín sớm hơn là
gà không được chiếu sáng và có ảnh hưởng tốt đến khă năng đẻ trứng
Thông thoáng
Trang 27Độ thông thoáng có nghĩa là hàm lượng dưỡng khí trong chuồng nuôi Chuồng trại được thông thoáng tốt đồng nghĩa với lượng dưỡng khí ngang bằng với hàm lượng dưỡng khí trong không khí khoảng 21% oxygen
Khi gà hô hấp lấy đi dưỡng khí và thải ra khí làm cho dưỡng khí trong chuồng nuôi giảm dần Người ta tính toán một gà mái nặng 2 kg, trong 24 giờ,
nó yêu cầu 1000 lít không khí có hàm lượng oxygen là 21% Như vậy một ngăn chuồng nhót 100 gà mái đẻ có diện tích 20 - 23 m2 thì cần một lượng không khí mới trao đổi là 100 m3 (Dương Thanh Liêm, 2003)
Trong quá trình lên men phân hủy phân và chất độn chuồng sinh ra một
số khí như ammoniac, metan, hydrosilfit và một số khí độc có hại Trong đó khí ammoniac là đáng lưu ý, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của công nhân lao động cũng như trên đàn gà Cơ quan khứu giác của gà rất nhạy cảm với khí
NH3 Biểu hiện triệu chứng chủ yếu là hắc hơi, sổ mũi, chảy nước mắt Nếu kéo dài có thể bị tổn thương niêm mạc tiếp xúc, giảm tính ngon miệng và giảm sức sản xuất Nồng độ dễ tăng cao khi điều kiện vệ sinh trong chuồng kém, thông thoáng kém, ẩm độ chuồng ẩm ướt
Cần tạo độ thông thoáng cho gà Vì nếu gà sống trong điều kiện thông thoáng kém dưới 0,9 m3/giờ/kg thể trọng đàn gà có nguy cơ mắc bệnh hô hấp
và bệnh Newcastle cao hơn mức bình thường Nếu gà sống trong điều kiện có trao đổi không khí tốt trên 5 m3/giờ/kg thể trọng của đàn gà thì khả năng mắc bệnh rất thấp (Lã Thị Thu Minh, 1997)
Mật độ nuôi
Đây là yếu tố góp phần ảnh hưởng đến sự thông thoáng Mật độ nuôi phụ thuộc vào các yếu tố như: giống, phương thức chăn nuôi, điều kiện khí hậu, trình độ trang thiết bị trong chuồng nuôi Mật độ nuôi ảnh hưởng đến độ bụi, không khí của chuồng nuôi Hàm lượng vi sinh vật tổng số trong đó có các loại vi sinh vật gây bệnh tiêu chảy như E.coli, Salmonella và hàm lượng các khí độc như NH3, H2S, CO2 trong chất độn chuồng ở mật độ nuôi gà thấp có ít hơn so với nuôi ở mật độ cao Hàm lượng vi sinh vật trong chất độn chuồng vào mùa hè cao hơn mùa đông (Nguyễn Hữu Cường và Bùi Đức Lũng, 2004)
2.4 KHÁNG SINH VÀ CÁC ỨNG DỤNG CỦA CHÚNG
Trang 282.4.1 Nhóm kháng sinh sử dụng trong thí nghiệm
2.4.1.1 Nhóm Quinolon
Huỳnh Kim Diệu (2012) cho biết rằng các quinolon được sử dụng trong thú y điều tác động trên vi khuẩn gram âm (bao gồm Enterobacteriaceae) hiệu quả hơn trên vi khuẩn gram dương và điều tác động hiệu quả trên Mycoplasma
và Rickettsia Trong chăn nuôi các kháng sinh thuộc nhóm quinolon được sử dụng khá phổ biến trong điều trị bệnh đường ruột, đường hô hấp, nhiễm trùng đường tiết niệu, sinh dục, nhiễm trùng toàn thân như: Enoxacin, norfloxacin, fleroxacin
Các loại kháng sinh thuộc nhóm này là: Enoxacin, norfloxacin, fleroxacin, ciprofloxacin, ofloxacin
Trang 29Công thức hóa học: C17H18FN3O3
Tên hóa học: 3-carboxylic acid
1-cyclopropyl-6-fluoro-4-oxo-7-piperazin-1-yl-quinoline-Ciprofloxacin là thuốc kháng sinh bán tổng hợp, có phổ kháng khuẩn rộng, thuộc nhóm fluoroquinolon, còn được gọi là các chất ức chế DNA girase Do ức chế enzyme DNA girase nên thuốc ngăn sự sao chép của chromosom khiến cho vi khuẩn không sinh sản được nhanh chóng
Ciprofloxain có tác dụng tốt với các vi khuẩn kháng lại kháng sinh thuộc các nhóm khác: aminoglycosid, cephalosporin, tetracycline, peniciline và được coi là một trong những thuốc có tác dụng mạnh nhất trong nhóm fluoroquinolon Đây là một fluoroquinolon thế hệ thứ hai kháng khuẩn
Các vi khuẩn gây bệnh đường ruột như: Salmonella, Shigella, Yersina và Vibrio cholerae thường nhạy cảm cao
Do cơ chế tác dụng đặc biệt của thuốc nên ciprofloxacin không có tác dụng chéo với các thuốc kháng sinh khác như: aminoglycosid, cephalosporin, tetracyline, peniciline (Dược thư, 2002)
Norfloxacin
Hình 2.3: Công thức hóa học Ciprofloxacin
Hình 2.4: Công thức hóa học Norfloxacin
Trang 30Norfloxacin cũng thường có tác dụng ngay khi vi khuẩn đã kháng với acid nalidixic Sự đề kháng đối với norfloxacin truyền qua plasmid chưa được xác định (Dược thư, 2002)
Ofloxacin
Công thức hóa học: C18H20FN3O4
Tên hóa học: oxo-4-oxa-1-azatricyclo[7.3.1.05,13]trideca-5(13),6,8,11-tetraene-11-carboxylic acid
(RS)-7-fluoro-2-methyl-6-(4-methylpiperazin-1-yl)-10-Ofloxacin là kháng sinh nhóm fluoroquinolon (RS)-7-fluoro-2-methyl-6-(4-methylpiperazin-1-yl)-10-Ofloxacin có phổ kháng khuẩn rộng bao gồm: Enterobacteriaceae, Pseudomonas aeruginosa, Haemophilus influenzae, Neisseria spp, Staphylococcus, Streptococcus pneumoniae và một vài vi khuẩn Gram dương khác
Hình 2.5: Công thức hóa học Ofloxacin
Trang 31Ofloxacin có tác dụng mạnh hơn ciprofloxacin đối với Chlamydia trachomatis, Ureaplasma urealyticum, Mycoplasma pneumoniae Nó cũng có tác dụng đối với Mycobacterium leprae và cả Mycobacterium spp
Ofloxacin có tác dụng diệt khuẩn, cơ chế tác dụng chưa được biết đầy
đủ Giống như các thuốc quiolon kháng khuẩn khác, ofloxacin ức chế DNA gyrase là enzyme cần thiết trong quá trình nhân đôi, phiên mã và tu sửa DNA của vi khuẩn (Dược thư, 2002)
Công thức hóa học: C12H14Cl2FNO4S
Tên hóa học: methanesulfonylphenyl) propan-2-yl]acetamide
2,2-dichloro-N-[(1R,2S)-3-fluoro-1-hydroxy-1-(4-Florfenicol tác dụng mạnh hơn chloramphenico (in vitro) và thiamphenicol, không độc tính như chloramphenicol, kháng được sự vô hoạt của vi khuẩn cả trên những vi khuẩn đã kháng chloramphenicol (đặc biệt vi khuẩn gây bệnh đường ruột) Được khuyến cáo sử dụng cho gia súc cung cấp thực phẩm cho con người, thay thế những kháng sinh phổ rộng mà có độc tính
và tồn dư trong sản phẩm động vật như nhóm cyclines sulfonamides (Huỳnh Kim Diệu, 2012)
Một số nghiên cứu cho thấy chloramphenicol gây rối loạn tủy xương với triệu chứng suy tủy không phục hồi (thiếu máu bất sản) do ái lực của kháng sinh này trên ribosome của các tế bào đang biệt hóa (tủy xương) và tỷ lệ tử vong trên người là 1/25.000 - 1/60.000 trường hợp Chloramphenicol không
Hình 2.6: Công thức hóa học Florfenicol