Dạng vận động thứ ba của ruột là nhu động, có tác dụng như một phương tiện cho sự di chuyển các chất trong ruột đi xuống phía dưới đường tiêu hóa.. Trong chất khô của dịch này có các aci
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN CHĂN NUÔI
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN CHĂN NUÔI
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN CHĂN NUÔI
BỔ SUNG CHẾ PHẨM VIME SENAREX VÀO NƯỚC UỐNG CHO GÀ NÒI LAI
Ts Nguyễn Minh Thông
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014 DUYỆT CỦA KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
2014
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
Trần Ngọc Đức
Trang 5Xin chân thành cảm ơn thầy TS Nguyễn Minh Thông đã hết lòng quan tâm, dạy bảo và hướng dẫn trong quá trình học tập cũng như hoàn thành đề tài Xin chân thành cảm ơn thầy TS Hồ Quảng Đồ cố vấn học tập lớp Chăn Nuôi – Thú Y khóa 37B đã tận tình động viên và định hướng cho tôi trong suốt quá trình học tập
Xin chân thành cảm ơn ThS Huỳnh Hữu Chí và ThS Huỳnh Minh Trí đã hết lòng hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn Giám đốc công ty TNHH MTV Chăn nuôi Vemedim Trần Ngọc Mong, các cô chú, anh chị công tác tại trại đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi tiến hành và hoàn thành tốt
đề tài thí nghiệm
Tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị Chăn Nuôi – Thú Y khóa 36 và các bạn lớp Chăn Nuôi – Thú Y khóa 37 đã chia sẽ kinh nghiệm, động viên và giúp đở tôi vượt qua khó khăn trong quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng, xin chúc tất cả mọi người luôn mạnh khỏe và thành công!
Xin chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, Ngày Tháng Năm 2014 Sinh viên thực hiện
Trần Ngọc Đức
Trang 6MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Danh sách bảng vi
Danh sách biểu đồ vii
Danh sách hình viii
Danh sách từ viết tắt ix
Tóm lược x
Chương 1: Đặt vấn đề 1
Chương 2: Cơ sở lý luận 2
2.1 Sơ lược về các giống gà thịt ở Việt Nam 2
2.1.1 Gà Nòi 2
2.1.2 Gà Tàu Vàng 2
2.1.3 Gà Ác 2
2.1.4 Gà Tam Hoàng 3
2.1.5 Gà Lương Phượng 3
2.2 Đặc điểm tiêu hóa của gà 4
2.2.1 Mỏ 4
2.2.2 Xoang miệng 4
2.2.3 Diều 5
2.2.4 Dạ dày tuyến 5
2.2.5 Dạ dày cơ 6
2.2.6 Ruột non 7
2.2.7 Ruột già 8
2.2.8 Lỗ huyệt 9
2.3 Nhu cầu dinh dưỡng của gia cầm 9
2.3.1 Nhu cầu năng lượng 9
2.3.2 Nhu cầu protein và acid amin 11
2.3.3 Nhu cầu của chất béo 14
Trang 72.3.4 Nhu cầu xơ 15
2.3.5 Nhu cầu khoáng 16
2.3.6 Nhu cầu vitamin 17
2.4 Tổng quan về một số acid hữu cơ được khảo sát 20
2.4.1 Acid citric 20
2.4.2 Acid lactic 20
2.4.3 Acid phosphoric 20
2.4.4 Acid malic 21
2.4.5 Acid tartaric 21
2.4.6 Muối 22
2.5 Vi khuẩn E coli 22
2.5.1 Tổng quan về vi khuẩn E coli 22
2.5.2 Cơ chế tác động của acid hữu cơ lên vi khuẩn 24
Chương 3: Phương tiện và phương pháp thí nghiệm 26
3.1 Thời gian và địa điểm 26
3.2 Phương tiện thí nghiệm 26
3.2.1 Đối tượng thí nghiệm 26
3.2.2 Chuồng trại 26
3.2.3 Thức ăn 29
3.2.4 Thú y 31
3.2.5 Dụng cụ thí nghiệm 31
3.3 Phương pháp thí nghiệm 31
3.3.1 Bố trí thí nghiệm 31
3.3.2 Quy trình chăm sóc hàng ngày 33
3.3.3 Phương pháp định lượng vi khuẩn E coli trong phân 33
3.3.4 Các chỉ tiêu theo dõi 38
Chương 4: Kết quả và thảo luận 39
4.1 Ghi nhận tổng quát 39
4.2 Những ảnh hưởng của Vime Senarex 40
Trang 84.2.1 Tiêu tốn thức ăn 40
4.2.2 Tăng trọng của gà thí nghiệm 42
4.2.3 Tỷ lệ hao hụt 47
4.2.4 Định lượng vi khuẩn E coli trong phân 47
4.3 Hiệu quả kinh tế 50
Chương 5: Kết luận và đề nghị 52
5.1 Kết luận 52
5.2 Đề nghị 52
Tài liệu tham khảo 53
Phụ lục 56
Trang 9DANH SÁCH BẢNG
2.2 Một số enzyme được tìm thấy trong ống tiêu hóa của gia cầm 8 2.3 Nhu cầu acid amin lý tưởng đối với gà thịt theo một số tác giả 13 2.4 Một số acid béo có trong thức ăn và mô động vật 15 2.5 Nhu cầu dinh dưỡng cho gà thả vườn nuôi lấy thịt 17 2.6 Nhu cầu các vitamin trong 1 kg thức ăn của gia cầm 19 3.1 Thành phần các nguyên liệu thức ăn của gà thí nghiệm 29
3.4 Hàm lượng các nguyên liệu của chế phẩm Vime Senaret 32 4.1 Nhiệt độ và ẩm độ của khu vực gà thí nghiệm 39
4.6 Định lượng vi khuẩn E coli qua các thời điểm 47
Trang 10DANH SÁCH BIỂU ĐỒ
4.3 Tăng trọng tuyệt đối của gà thí nghiệm 44
4.5 Số lượng E coli trung bình trong 1 g phân ở giai đoạn 15
ngày và 60 ngày thí nghiệm
48
Trang 12DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
NT1: Nghiệm thức thí nghiệm liệu trình sử dụng Vime Senarex liên
tục trong 8 tuần
NT2: Nghiệm thức 2 liệu trình sử dụng Vime Senarex cách tuần (Sử
dụng ở tuần 1, 3, 5, 7; tuần 2, 4, 6, 8 không sử dụng) ĐC: Nghiệm thức không sử dụng Vime Senarex (Đối chứng)
TTTĂ: Tiêu tốn thức ăn
TTTĂBQ: Tiêu tốn thức ăn bình quân
HSCHTĂ: Hệ số chuyển hóa thức ăn
Trang 132, 4, 6, 8 không sử dụng) và nghiệm thức 3 (ĐC) không sử dụng Vime Senarex
Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm tiêu tốn thức ăn, tăng trọng, hệ số chuyển hóa thức ăn và tỉ lệ hao hụt
Kết quả thí nghiệm
Tiêu tốn thức ăn toàn đợt thí nghiệm ở NT2 là cao nhất (4283 g/con) kế đến là nghiệm thức ĐC (4228 g/con) và thấp nhất ở NT1 (4143 g/con) Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)
Mức tăng trọng tích lũy trong thời gian thí nghiệm thấp nhất ở nghiệm thức ĐC (755,1 g/con), kế đến là NT2 (887,8 g/con) và cao nhất ở NT1 (910,2 g/con) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (P<0,05) Tăng trọng tuyệt đối cao nhất ở NT1 16,3 g/con/ngày kế đến là NT2 15,7 g/con/ngày và thấp nhất
là nghiệm thức ĐC với 13,5 g/con/ngày, đồng thời chúng khác biệt nhau có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
Hệ số chuyển hóa thức ăn cho kết quả là thấp nhất là ở NT1 (2,61), kế đến là NT2 (2,63) và cao nhất là ở ĐC (2,99) Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức có bổ sung acid hữu cơ với nghiệm thức đối chứng (P<0,05)
Tỷ lệ hao hụt gà thí nghiệm giữa các nghiệm thức là khác nhau nhưng khác biệt không quá lớn Tỷ lệ hao hụt cao nhất ở nghiệm thức ĐC là 6,67% ,
kế đến ở NT1 là 5,71% và thấp nhất ở NT2 là 5,24% Sự khác nhau về tỷ lệ hao hụt giữa các nghiệm thức khác biệt nhau không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)
Chênh lệch thu chi cao nhất ở NT1 là (11.661.223 đồng) và thấp nhất ở nghiệm thức ĐC (9.447.802 đồng), ở NT2 chênh lệch không quá lớn so với NT1 (11.225.817 đồng) Khi so sánh với đối chứng thì hiệu quả của việc sử dụng acid hữu cơ càng thấy rõ Ở NT1 là 123,4% và NT2 là 118,8% chênh lệch so với nghiệm thức đối chứng (100%)
Trang 14CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngành chăn nuôi gia cầm ở nước ta ngày càng phát triển với quy mô lớn nhờ việc vận dụng được nhiều những tiến bộ của khoa học vào thực tiễn sản xuất Xây dựng một môi trường chăn nuôi thích hợp có kiểm soát, cùng với việc phòng ngừa có hiệu quả các loại dịch bệnh nguy hiểm đã góp phần làm tăng nhanh quy mô của đàn gia cầm, tạo ra các sản phẩm an toàn và đạt chất lượng cao Sản phẩm tạo ra không chỉ đáp ứng cho nhu cầu sản xuất tiêu dùng trong nước mà còn xuất khẩu các hàng hóa sang các quốc gia khác trên thị trường thế giới (Bùi Xuân Mến, 2007)
Ngành chăn nuôi gia cầm ngày càng phát triển mạnh, kéo theo đó là không ít những rủi ro và nhiều dịch bệnh phát sinh Trong chăn nuôi kháng sinh được sử dụng phổ biến với mục đích phòng và trị bệnh cũng như kích thích tăng trưởng cho gia cầm Chúng thường được trộn vào thức ăn hay cho uống nhằm mục đích ức chế, loại bỏ sự hoạt động của những vi khuẩn gây bệnh đường tiêu hóa và hô hấp, giúp gia cầm khỏe mạnh và tăng trưởng tốt Tuy nhiên, sử dụng kháng sinh như một chất kích thích tăng trọng lại gây ra những tác dụng xấu như hiện tượng kháng kháng sinh của các loại vi khuẩn gây bệnh, gây khó khăn cho việc điều trị bệnh cũng như ảnh hưởng đến sức khỏe con người do sự tồn dư kháng sinh trong các sản phẩm tiêu dùng Hiện nay acid hữu cơ là một trong những biện pháp thay thế cho kháng sinh trước bối cảnh kháng sinh đang dần bị cấm sử dụng cho mục đích tăng trưởng trong chăn nuôi Các acid hữu cơ có tác dụng ức chế sự phát triển của vi khuẩn có hại, giúp cho sự phát triển của các vi sinh vật có lợi nhằm duy trì sự cân bằng
vi khuẩn đường ruột, tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh đồng thời hổ trợ sự tiêu hóa
và hấp thu các chất dinh dưỡng (Vũ Duy Giảng, 2009)
Vime Senarex là một chế phẩm chứa các acid hữu cơ như acid citric, acid lactic, acid phosphoric… Chúng được sử dụng với mục đích kích thích sự tiêu hóa tốt hơn đồng thời giảm tỉ lệ mắc một số bệnh ở gà Tuy nhiên những tác động của acid hữu cơ lên sức đề kháng, sự tiêu hóa đường ruột cũng như tăng trọng của gà thì chưa được nghiên cứu rộng rãi Gà thịt địa phương năng suất thường thấp, thời gian nuôi dưỡng dài Chúng dễ mẫn cảm với các bệnh
truyền nhiễm và tỷ lệ nuôi sống thấp Vì vậy đề tài “Bổ sung chế phẩm Vime Senarex vào nước uống cho gà Nòi lai nuôi thương phẩm” được thực hiện
với mục tiêu khảo sát những ảnh hưởng của các acid hữu cơ đến tốc độ sinh trưởng và năng suất của gà Nòi lai nuôi thịt
Trang 15CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Sơ lược về các giống gà thịt ở Việt Nam
2.1.1 Gà Nòi
Đây là giống gà được nuôi lâu đời ở các tỉnh Nam Bộ có màu sắc lông rất đa dạng như gà lông màu đen gọi là gà ô, gà lông màu đỏ gọi là gà điều, gà lông màu trắng gọi là gà nhạn, lông màu gạch gọi là gà khét, lông màu lem luốc như chim gọi là gà ó… Lúc trưởng thành gà trống nặng 2,8-3,2 kg, gà mái nặng 2,0-2,2 kg, năng suất trung bình 40-50 quả/năm, mỗi lứa đẻ 10-12 trứng ấp, da gà hồng hào thịt thơm ngon, giá bán cao gấp 2-3 lần gà công nghiệp Hiện nay giống gà này được người dân ở ĐBSCL rất ưa chuộng vì những ưu điểm trên, trong đàn gà người ta chọn ra những con gà trống tốt để bán gà đá giá rất cao có thể vài triệu đồng/gà trống (Nguyễn Mạnh Dũng và Huỳnh Hồng Hải, 2007)
2.1.2 Gà Tàu Vàng
Lê Minh Hoàng (2002) cho rằng giống gà Tàu Vàng xuất xứ từ Trung Quốc Giống gà này được đưa vào miền Nam rất lâu và được nuôi rộng rãi ở các tỉnh như Tiền Giang, Bình Dương, Tây Ninh, Long An…
Gà Tàu Vàng có tầm vóc lớn hơn gà Ta, đặc điểm của giống gà là dọc bàn chân có hàng lông nhỏ mọc phía ngoài chân và hướng xuống dưới Gà Tàu Vàng có màu lông phổ biến là màu vàng rơm, vàng đậm, có đốm đen ở
cổ, cánh và đuôi Phần lớn gà Tàu Vàng có mào đơn đỏ tươi, một số có màu kép Gà Tàu Vàng mọc lông chậm, ở gà trống 3 tháng tuổi bộ lông vẫn chưa hoàn thiện Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên vào 180 ngày tuổi, tỉ lệ đẻ là 26% bình quân sản lượng trứng 100 quả/mái/năm, trọng lượng trứng 50 g/quả, trứng có phôi là 80%, tỉ lệ ấp nở là 88%, gà sơ sinh có trọng lượng khoảng 60 g lúc trưởng thành gà mái nặng 2,1 kg, gà trống 3,0 kg (Đặng Vũ Bình, 2007) Đặc tính quan trọng nhất của gà Tàu Vàng là ở chất lượng thịt thơm ngon nên người tiêu dùng rất ưa chuộng và chấp nhận giá cao Tập quán nuôi và bán
gà mái dầu, gà trống thiến vẫn tồn tại ở các tỉnh Nam Bộ Gà Tàu Vàng mái dầu thưởng có giá cao gấp 2 lần gà Lương Phượng Gà Tàu Vàng là đặc sản của vùng đất Nam Bộ còn giữ được trong quá trình công nghiệp hóa (Đinh Công Tiến và Nguyễn Quốc Đạt, 2010)
2.1.3 Gà Ác
Gà có nguồn góc ở miền nam Việt Nam Tầm vóc nhỏ lông màu trắng tuyền, lông mọc cả ở ngón…mào gà trống thuộc mào cờ, đỏ nhạt và pha màu xanh đen Chân thường có năm ngón (ngũ trảo) Mỏ, chân, da, thịt và xương
Trang 16đều đen Khối lượng gà con mới nở khoảng 18-20 g/con Lúc trưởng thành gà trống nặng khoảng 700-750 g/con, gà mái nặng khoảng 550-600 g/con Gà bắt đầu đẻ trứng lúc 110-120 ngày tuổi, nếu để gà đẻ rồi tự ấp, một năm đẻ 90-
100 quả trứng Khối lượng trứng là là 30 g/quả Hàm lượng acid glutamic trong thịt gà Ác khá cao, thịt hơi tanh do hàm lượng sắt cao, được xem là gà thuốc, thịt ngon và hơi dai (Atlas giống vật nuôi ở Việt Nam, 2007)
Đào Đức Long (2004) cho rằng sản lượng trứng của gà Ác 80-90 quả/mái/năm, tỷ lệ trứng có phôi 90%, tỷ lệ nở trên tổng số trứng ấp tự nhiên 70-80% Tỷ lệ sống gà con 90%, khối lượng cơ thể lúc giết thịt được 50-60 ngày tuổi là 250-300 g, tiêu tốn thức ăn để tăng 1kg thể trọng đến lúc giết thịt
125 ngày tuổi bắt đầu đẻ trứng Sản lượng trứng đạt 135 quả/mái/năm Khối lượng con trống trưởng thành nặng 2,2-2,8 kg, con mái nặng 1,8-2 kg Gà Tam Hoàng được nhập vào nước ta theo nhiều nguồn, thường ít khi được thuần nhất và đạt tiêu chuẩn giống Do đó người nuôi phải hiểu biết và mua đúng giống thì nuôi mới đảm bảo Gà Tam Hoàng còn có tên khác là gà Thạch Kỳ,
882 Jangcun Gà Tam Hoàng thích hợp cho điều kiện chăn nuôi gia đình, chăn nuôi chăn thả, phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của người Việt Nam (Nguyễn Hữu Vũ và Nguyễn Đức Lưu, 2007)
2.1.5 Gà Lương Phượng
Gà Lương Phượng có nguồn gốc từ Trung Quốc, loại gà này có ngoại hình đẹp, lớp lông vũ màu vàng dày bóng mượt Gà Lương Phượng bề ngoài rất giống gà Ri, màu lông tuyền vàng đốm hoa hoặc đen đốm hoa Mào và phần đầu màu đỏ Da màu vàng, chất thịt mịn, vị đậm Gà trống có màu vàng hoặc tía sẫm, mào đơn, hông rộng, lưng thẳng, lông đuôi dựng đứng, đầu và cổ
gà gọn dẹp, chân thấp và nhỏ (Nguyễn Hữu Vũ và Nguyễn Đức Lưu 2007) Ngô Quốc Trịnh (2006) cho rằng, gà Lương Phượng mái đầu thanh, thể hình săn chắc, chân thấp nhỏ, màu đen chủ yếu đen đốm hoa Gà trống lưng
Trang 17lượng của trứng 55-56 g/quả Gà nuôi thịt 70 ngày tuổi con trống 1,87 kg, con mái 1,58 kg, nuôi sống 93%, thức ăn tiêu tốn 2,53 kg/kg tăng trọng
2.2 Đặc điểm tiêu hóa của gà
mò thức ăn (Nguyễn Khắc Thị, 2005)
Gia cầm mổ thức ăn bằng mỏ, hình dáng và độ lớn của mỏ ở các loài gia cầm rất khác nhau Gà thực hiện động tác mổ và nuốt thức ăn nhờ động tác nâng lên hạ xuống của đầu Gà thực hiện 180-240 động tác mổ trong một phút
và ở gà tây là 60 lần/phút Số lượng thức ăn mà gà ăn được trong một đơn vị thời gian phụ thuộc vào mức độ hấp dẫn của thức ăn, loài và tuổi gia cầm Khi đói gia cầm mổ nhanh và ăn nhiều Gia cầm tiếp nhận thức ăn lỏng và nước
bằng cách nâng đầu lên rất nhanh rồi ngửa cổ lên để nuốt (Nguyễn Thị Mai và ctv., 2009)
2.2.2 Xoang miệng
Trong xoang miệng có lưỡi và một hệ thống tuyến nước bọt rất phong phú và phức tạp hơn động vật có vú Về mặt giải phẩu có thể phân biệt thành 8 loại tuyến khác nhau bao gồm tuyến hàm trên, tuyến cạnh lỗ mũi, tuyến trên hầu, tuyến giữa miệng và hầu, tuyến sau xoang miệng, tuyến dưới lưỡi, tuyến trước thanh quản và tuyến khóe miệng Hệ thống tuyến nước bọt này phân tiết
ra một số lượng lớn nước bọt Ở gà trưởng thành trung bình khoảng 12 ml trong một ngày đêm (biến động từ 7 đến 25 ml tùy theo tính chất và lượng thức ăn ít hay nhiều) Hệ thống này khác với động vật có vú ở chỗ trong nước bọt không có enzyme tiêu hóa tinh bột và độ pH khoảng 6,75 Tác dụng chủ yếu của tuyến nước nước bọt là làm trơn để dễ nuốt thức ăn (Dương Thanh Liêm, 2003)
Nguyễn Khắc Thị (2005) cho rằng trong xoang miệng có những mẫu thị giác Ở gia cầm nhỏ có khoảng 12 mẫu, đến khi được hai tháng tuổi số mẫu vị giác tăng gấp đôi Gia cầm nuốt thức ăn nhờ lưỡi chuyển động nhanh, thức ăn xuống lưỡi được đẩy vào thực quản Mặt trong thực quản được phủ một lớp vỏ
Trang 18dày, trong đó có các tuyến nhày làm thức ăn di chuyển dễ dàng khi gia cầm ăn vào
2.2.3 Diều
Lã Thị Thu Minh (2000) cho rằng thức ăn theo thực quản xuống đoạn phình to của thực quản còn gọi là diều Ở gà diều được hình thành một cái túi rất phát triển nhưng ở thủy cầm diều hình thoi chỉ phình hơi rộng hơn thực quản chút ít nên gọi diều giả Diều không có tác dụng tiết dịch tiêu hóa mà chỉ
có tác dụng dự trữ, thấm ướt và làm mềm thức ăn Tuy nhiên, trong diều vẫn
có quá trình tiêu hóa nhờ men trong thức ăn thực vật và nhờ vào hệ vi sinh vật Các sản vật tiêu hóa không được hấp thu ở diều Thời gian thức ăn ở lại trong diều phụ thuộc vào số lượng, độ cứng và tính chất của thức ăn, ước chừng khoảng 3-4 giờ cũng có khi lên đến 16-18 giờ Tuy nhiên khi gia cầm ăn cũng
có một phần thức ăn không dừng lại ở diều mà đi thằng xuống dạ dày (thường
là khi trong diều của gia cầm không có thức ăn dự trữ)
Nguyễn Đức Hưng (2006) cho rằng sức chứa của diều từ 100-200 g Thức ăn được giữ ở diều với thời gian phụ thuộc vào loài gia cầm và các loại thức ăn Thức ăn cứng khoảng 10-15 giờ, thức ăn mềm và bột khoảng 3-4 giờ Thức ăn từ diều được chuyển dần xuống dạ dày tuyến Nếu chúng ta làm thí nghiệm cắt bỏ diều của gà thì thức ăn đi qua ống tiêu hóa nhanh hơn nhưng sự tiêu hóa lại giảm đi một cách đáng kể và gà đẻ bị sụt cân Sau một thời gian cơ
thể sẽ tạo ra lại một cái diều mới, bên trên chỗ diều cũ (Nguyễn Thị Mai và ctv., 2009)
2.2.4 Dạ dày tuyến
Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) cho rằng dạ dày tuyến của gà có cấu tạo
từ cơ trơn, là dạng ống ngắn, có vách dày nói với dạ dày cơ bằng eo nhỏ Khối lượng dạ dày tuyến tuyến từ 3,5-6 g Dạ dày tuyến có chứa acid HCl pepsin, men bào tử và musin Sự tiết dịch ở dạ dày tuyến là không ngừng, sau khi ăn càng được tăng cường Ở dạ dày tuyến sự thủy phân protein được thực hiện như sau:
Protein + nước + pepsin và HCl → albumozoa + pepton
Dạ dày tuyến nằm trước dạ dầy cơ, nó có dung tích rất nhỏ Thời gian thức ăn dừng lại ở đây cũng rất ngắn Ở đây có các tuyến tiết ra HCl và enzyme pepsin để bắt đầu tiêu hóa protein Trong dạ dày tuyến có nhiều mục nhỏ, mắt thường có thể nhìn thấy Đó là cửa đổ ra của ống tuyến dịch vị Mỗi đơn vị tuyến cũng có cấu tạo giống như tuyến dịch vị của động vật có vú Trong nang tuyến cũng có 2 loại tế bào là loại thật to tiết ra acid HCl và một
Trang 19loại nhỏ tiết ra men pepsinogen Thức ăn đi qua đây được thấm ướt bởi dịch vị
và tiếp tục được chuyển xuống dạ dày cơ để tiêu hóa tiếp Một khi dạ dày tuyến bị tổn thương như ở bệnh dịch tả, gumboro thì khả năng tiêu hóa protein cũng giảm (Dương Thanh Liêm, 2003)
2.2.5 Dạ dày cơ
Dạ dày cơ (còn được gọi là mề) có dạng hình đĩa, hơi bị bóp ở hai bên, nằm ở phía sau thùy trái của gan và lệch về khoang bụng trái Ở một số gia cầm ăn hạt (gà Tây, gà Thi), dạ dày cơ lớn hơn một cách đáng kể so với dạ dày của loài thủy cầm Lối vào và lối ra của dạ dày cơ rất gần nhau nên thức
ăn được giữ lại ở đây lâu hơn Dịch tiêu hóa không được tiết ra ở dạ dày cơ
(Nguyễn Thị Mai và ctv., 2009)
Lớp trong niêm mạc dạ dày cơ có nhiều tuyến nhỏ tiết ra chất keo dính phủ lên lớp biểu bì niêm mạc của dạ dày cơ tạo thành một lớp màng sừng dầy cứng gọi là mô sừng (cutin) Chúng có tác dụng bảo vệ niêm mạc thành dạ dày khỏi bị tổn thương khi nghiền nát thức ăn cứng như thóc hoặc sạn sỏi Màng sừng này luôn luôn bị bong ra do cọ xát khi hoạt động và cũng luôn được bổ sung do sản phẩm của tuyến tiết ra (Nguyến Đức Hưng, 2006)
Dạ dày cơ có dung tích lớn hơn dạ dày tuyến Trong niêm mạc dạ dày cơ
có lót bởi lớp tế bào sừng hóa rất cứng để chống lại sự va đập, xay xát khi mề nghiền thức ăn Phần dưới của lớp tế bào này là lớp tế bào tăng sinh để thay thế cho lớp tế bào bên trên bị bào mòn Trên bề mặt của lớp tế bào này có nhiều gai nhỏ nhô lên làm cho niêm mạc trở nên nhám Người ta gọi những gai nhỏ này là răng mề Dưới kính hiển vi mỗi “răng mề” có một tuyến nhờn rất nhỏ ở cạnh Qua khỏi lớp tế bào tăng sinh thì có mô cơ rất phát triển, màu
đỏ sậm Nhờ có hệ thống cơ này giúp cho mề co bóp rất mạnh, nghiền nát thức
ăn chuẩn bị cho tiêu hóa tiếp theo ở ruột Mề co bóp có chu kỳ, tùy theo tính chất thức ăn mà chu kỳ co bóp có thay đổi Để giúp cho việc nghiền thức ăn, loài chim thường ăn những hạt sỏi Nếu thiếu sỏi sẽ làm giảm khả năng tiêu hóa thức ăn hạt trên 10% Khi gà ăn nhiều sơ hoặc ăn lông thì sỏi giúp nghiền nát nhanh hơn, gà tiêu thụ thức ăn nhiều hơn (Dương Thanh Liêm, 2003) Bùi Xuân Mến (2007) cho rằng chức năng của mề là hoạt động cơ học trộn và nghiền thức ăn Vì gia cầm không có răng và nuốt luôn nguyên thức ăn nên mề được xem là cơ quan chủ yếu nghiền thức ăn Hạt sỏi có vai trò kích thích sự vận động trong mề cũng như cung cấp thêm diện tích bề mặt trong khi nghiền thức ăn Khi cho gia cầm ăn thức ăn hổn hợp ở dạng bột thì vai trò của hạt sỏi trong mề là không đáng kể
Trang 20Bảng 2.1: Kích thước hạt sỏi bổ sung cho gà
(Nguồn: Dương Thanh Liêm, 2003)
Trong dạ dày cơ, ngoài việc nghiền thức ăn cơ học còn xảy ra quá trình hoạt động của các men dưới tác dụng của acid HCl thì protein trở nên căng phồng và dễ bị phân giải (Dương Thanh Liêm, 2003)
2.2.6 Ruột non
Bùi Xuân Mến (2007) cho rằng ruột non được chia thành 3 phần là tá tràng, không tràng và hồi tràng Tá tràng bắt nguồn từ phần cuối ngoại biên của mề Thực tế cho thấy khó mà phân biệt giữa phần không tràng và hồi tràng của gia cầm Nhiều nhà nghiên cứu gọi chung hai phần này là phần ruột thấp hơn hay ruột dưới Chiều dài của ruột non thay đổi theo thói quen ăn vào của loài chim Toàn bộ bề mặt xoang của ruột non còn được mở rộng bởi hệ thống chồi nhô lên rất nhỏ được gọi là các lông nhung Mỗi lông nhung chứa một mạch bạch huyết được gọi là ống dẫn dịch dưỡng và một loạt các mạch mao dẫn Trên bề mặt của lông nhung có cấu tạo một số lớn các vi lông nhung (microvilli) để tăng thêm diện tích bề mặt giúp cho sự hấp thu Ruột non có dạng vận động có thể quan sát ở ruột non Dạng thứ nhất được gọi là vận động lắc Những sóng này chỉ đơn thuần là làm ruột non ngắn lại và kéo dài ra như
đã được xác định để gây ra một sự vận hành trộn Dạng thứ nhì của sự vận động ruột là sự co thắt phân đoạn Các cử động co thắt theo vòng ở các khoảng đều đặn, nó dãn ra theo chu kỳ ở ngay vùng trước đó co lại Dạng vận động này tăng thêm khả năng trộn kết hợp với sự vận động lắc nêu trên Dạng vận động thứ ba của ruột là nhu động, có tác dụng như một phương tiện cho sự di chuyển các chất trong ruột đi xuống phía dưới đường tiêu hóa
Quá trình cơ bản phân tích men từng bước các chất dinh dưỡng đều được tiến hành chủ yếu ở ruột non Dịch ruột gà lỏng, đục, kiềm tính, pH = 7,42 với
độ đặc 1,0076 và chứa các men proteolyse, aminolytic, lypolitic và enterokinaza Dịch tuyến tụy - pancreatic - lỏng, không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan hoặc hơi kiềm (pH = 6 ở gà, 7,2-7,5 ở gia cầm khác) Dịch này
có men tripsin, carboxi peptidaza, amilaza, mantaza và lipaza Trong chất khô của dịch này có các acid amin, lipit và các chất khoáng như CaCl2, NaCl, NaHCO3,… Tripsin được tiết ra ở dạng không hoạt hóa là tripsinogen và dưới tác động của men dịch ruột enterokinaza trở thành men đã hoạt hóa có tác dụng phân giải protein thức ăn thành các acid amin Men proteolise khác là
Trang 21carboxi peptidaza được tripsin hoạt hóa cũng có tính chất này Men amilaza và mantaza được mật hoạt hóa phân giải lipit ra glycerin và acid béo Gà 1 năm tuổi, lúc bình thường tuyến tụy tiết ra 0,4-0,8 ml/giờ, sau khi cho ăn 5-10 phút lượng tiết tăng gấp 3-4 lần, giữ cho đến giờ thứ ba rồi giảm dần Thành phần thức ăn có ảnh hưởng đến các quá trình tiết dịch men của tuyến tụy: giàu protein tăng hoạt tính proteolise lên 60%, giàu lipit tăng hoạt tính của lipolytic… Mật của gia cầm được tiết liên tục từ túi mật vào đường ruột, lỏng, màu xám hoặc xanh đậm, tính kiềm, pH = 7,3-8,5 Mật chứa acid mật (600-
2000 mg/%), các chất sắc tố (70 mg/%), cholesteron (115 mg/%), còn có gluxit, các acid béo và các lipit trung tính, musin, khoáng chất và các sản phẩm trao đổi chất có chứa nitơ, có men amilaza (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2002)
Bảng 2.2: Một số enzyme được tìm thấy trong ống tiêu hóa của gia cầm
Lactose
Dạ dày tuyến Dịch vị, HCl Pepsin Protein Peptone
Tuyến tụy Dịch tụy Amylase
Lypase Trypsine
Tinh bột Lipit Peptone
Glucose Glycerine, acid béo
Acid amin Ruột Dịch ruột Enterokinase
Disaccharase Nuclease
Trypsinogen Disaccharide Acid Nucleic
Trypsine Monosaccharide Ribose,
desoxyribose, purine, purimidin
Sắc tố mật
thành hạt nhỏ, hấp thụ trực tiếp
(Nguồn: Dương Thanh Liêm, 2009)
2.2.7 Ruột già
Nguyễn Khắc Thị (2005) cho rằng ruột già của gia cầm không phát triển,
nó được hình thành bởi đoạn trực tràng thô ngắn và hai manh tràng đổ vào đầu trực tràng Trong ruột già có hai quá trình lên men và thối rữa Sự lên men này mạnh ở manh tràng, thối rữa mạnh ở trực tràng Ở gia cầm, chất xơ được tiêu hóa là nhờ các vi sinh vật, nhưng ở mức độ thấp, khoảng từ 10-30% Chất xơ được tiêu hóa thành đường glucose và hấp thu vào máu qua màng manh tràng
Trang 22và ruột Manh tràng ngoài việc tiêu hóa chất xơ còn có quá trình tiêu hóa protein, lipit, gluxit và quá trình sinh tổng hợp protein nhóm B
Ruột già của gia cầm tương đối ngắn nên thức ăn lưu lại không quá một ngày đêm Đầu cuối của trực tràng đổ vào một xoang chung gọi là xoang tiết niệu - sinh dục (do bốn bộ phận thông với nhau tạo thành) Trực tràng thông với bộ phận lớn nhất gọi là bộ phận đường phân; tiếp theo về sau gọi là ngăn bài tiết chung, ống dẫn tinh và ống dẫn nước tiểu đổ chung vào đây; tiếp theo
là hậu môn; và bộ phận thứ tư là túi Fabricius (Nguyễn Đức Hưng, 2006)
2.2.8 Lỗ huyệt
Dương Thanh Liêm (2003) cho rằng lỗ huyệt có cấu tạo gần giống như cái túi Ở đây gồm có các cửa đổ vào như ruột già, hai ống dẫn niệu, đường sinh dục (tử cung ở gia cầm mái, ống dẫn tinh ở gia cầm trống)
Phân và nước tiểu nằm lại ở lỗ huyệt một thời gian, ở đây có quá trình tái hấp thu muối và nước rất mạnh Vì vậy làm cho phân gia cầm được khô đi Nước tiểu cũng bị cô động lại thành muối urat màu trắng ở đầu cục phân Nếu cho gia cầm ăn thừa chất đạm thì muối urat sinh ra nhiều làm cho phân có màu trắng nhiều, nếu cho ăn thiếu chất đạm thì phân có màu đen nhiều hơn (Rose, 1997)
2.3 Nhu cầu dinh dƣỡng của gia cầm
2.3.1 Nhu cầu năng lƣợng
Nguyễn Đức Hưng (2006) cho rằng năng lượng rất cần thiết cho sự sinh trưởng của mô tế bào, các hoạt động và duy trì thân nhiệt Vì thế, năng lượng được xem như là “ ngọn lửa của sự sống” Chất bột đường có vai trò cung cấp phần lớn năng lượng cần thiết cho mọi hoạt động sống duy trì thân nhiệt cho
cơ thể, tích lũy năng lượng dưới dạng glycogen trong gan, cơ và mỡ
Nhờ quá trình trao đổi mà năng lượng trong các quá trình dinh dưỡng được biến đổi thành các dạng năng lượng cần thiết cho hoạt động sống của cơ thể Việc thừa năng lượng sẽ gây tích lũy mỡ đối với các đàn gia cầm giống và kết quả là làm giảm khả năng sinh sản của chúng Năng lượng có ảnh hưởng quyết định đến việc tiêu thụ thức ăn hay nói cách khác lượng thức ăn gà ăn hàng ngày tương quan nghịch với hàm lượng năng lượng trong khẩu phần Gà
sẽ ăn nhiều khi khẩu phần có năng lượng thấp và ngược lại ăn ít hơn khi khẩu phần có năng lượng cao (John, 2000)
Robert (2008) cho rằng năng lượng được tạo ra khi thức ăn được tiêu hóa
ở ruột Năng lượng được phóng thích như nhiệt và được hấp thu vào trong cơ
Trang 23thể cho mục đích chuyển hóa Nó có thể được tạo ra từ protein, lipid và carbohydrate trong khẩu phần
Nhu cầu năng lượng cho gia cầm người ta thường dựa vào năng lượng trao đổi (ME) Giá trị năng lượng trong thức ăn của gia cầm được tính toán bằng hiệu giữa năng lượng thô của thức ăn và năng lượng loại thải qua phân
và nước tiểu Nhu cầu về năng lượng trao đổi của gia cầm được thể hiện bằng
số calo (Cal), kilocalo (kcal), megacalo (Mcal)…cho một con trong một ngày
đêm hay trong một kg thức ăn hỗn hợp (Nguyễn Thị Mai và ctv., 2009)
Năng lượng thô không được cơ thể gia cầm sử dụng vì qua quá trình tiêu hóa, hấp thu và trao đổi thì một phần năng lượng bị tiêu hao hoặc bị thải ra ngoài theo chất không tiêu hóa được trong nước tiểu và phân, năng lượng trong thức ăn được cơ thể hấp thu và sử dụng gọi là năng lượng trao đổi Nhu cầu năng lượng của gia cầm thay đổi tùy theo nhiệt độ môi trường, giống loài, giới tính và khả năng sản xuất của gia cầm (Nguyễn Đức Hưng, 2006)
Mức năng lượng trao đổi đối với gà thịt công nghiệp là 3100 kcal/kg thức ăn, đối với gà thả vườn giai đoạn từ 1-21 ngày tuổi thì mức năng lượng cần là 3000 kcal/kg, gia đoạn gà dò đến xuất chuồng là 2800 kcal/kg thức ăn (Dương Thanh Liêm, 2003) Lương Đức Phẩm (1982) cho rằng đối với gà trong 5 tuần đầu cần khoảng 2900 kcal/kg thức ăn Còn theo Đào Đức Long và Trần Long (1995) nhu cầu trao đổi của 4 tuần đầu là 2500 kcal/kg thức ăn và protein không được dưới 20% Riêng Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng (2004) cho rằng nhu cầu năng lượng cho gà con là 3000-3300 kcal/kg thức ăn, gà đẻ
3000 kcal, thường là 2700-2900 kcal/kg thức ăn, mùa nóng 2700-2750 kcal còn vào mùa rét 3000 kcal/kg thức ăn
Mối tương quan giữa năng lượng và protein
Thông thường protein không được xem là nguồn cung cấp năng lượng trong khẩu phần nhưng nó đóng góp đáng kể vào nhu cầu năng lượng của gia cầm Khi lượng lipid và carbohydrate cung cấp không đủ thì protein sẽ được
sử dụng như nguồn cung cấp năng lượng chính cho gia cầm (John, 2000) Việc tổng hợp protein trong cơ thể đòi hỏi số lượng lớn mức năng lượng, khi trị số cal trong khẩu phần thấp, protein sẽ cung cấp phần thiếu này và như vậy một phần protein được sử dụng không phải để sản xuất ra sản phẩm mà để cung cấp năng lượng không có lợi về kinh tế Cho nên mức độ xác định của protein cần phải được tương ứng với mức độ năng lượng tối ưu của khẩu phần
Sự tương ứng này được biểu thị bằng tỉ lệ năng lượng, protein Nó chỉ ra rằng
có bao nhiêu năng lượng được trao đổi xảy ra trên 1% protein Cách biểu thị chỉ số quan hệ giữa năng lượng và protein là cách tính tỷ lệ (C: Calo; P:
Trang 24Protein) Theo hệ thống quốc tế đo lường Châu Âu công thức được tính như sau:
Năng lượng/Protein = Số kcalo ME trong 1 kg thức ăn/số % protein trong thức ăn
Chỉ số năng lượng/protein thay đổi tùy theo giống và tuổi gà Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ năng lượng/protein như yếu tố cơ thể, yếu tố môi trường, phương thức chăn nuôi và yếu tố thức ăn
Mối quan hệ giữa năng lượng trao đổi và protein được biểu thị bằng hằng
số ME/%CP trong thức ăn Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (2001) cho rằng hằng số ME/CP cho thức ăn trong các lứa tuổi gà như 0-3 tuần tuổi (gà thịt) là 127-130 (kcal/ME/%CP); giai đoạn 4-6 tuần tuổi là 145-150 (kcal/ME/%CP)
và giai đoạn 7 tuần tuổi đến kết thúc là 160-165 (kcal/ME/%CP) Lã Thị Thu Minh (2000) cho rằng tỉ lệ năng lượng trao đổi và protein đối với gà thịt khoảng 90-110 (kcal/ME/%CP) là hợp lý
2.3.2 Nhu cầu protein và acid amin
2.3.2.1 Nhu cầu protein
Protein là chất hữu cơ quan trọng nhất không một dưỡng chất dinh dưỡng nào thay thế vai trò của nó trong tế bào sống, bởi vì khác với mỡ và bột đường, cấu tạo của hai chất này chỉ có Carbon (C), Oxi (O), Hydro (H), còn phân tử protein ngoài C, H, O còn có nitơ, lưu huỳnh và phosphorus Nhìn chung khả năng sử dụng protein trong thức ăn hoàn toàn phụ thuộc vào giống, tuổi và tính năng sản xuất, ở gà con protein có ý nghĩa hơn nhiều so với gà trưởng thành, Điều này cũng có ý nghĩa là đối với gà con thì yêu cầu về số lượng protein và chất lượng protein cao hơn gà trưởng thành (Lê Hồng Mận
và Bùi Đức Lũng, 1995)
Nhu cầu protein cho gà thịt bao gồm nhu cầu cho duy trì, tăng trưởng và tổng hợp lông Nguyễn Đức Hưng (2006) trích từ Singh (1988) thì nhu cầu protein tổng thể cho gà thịt được trình bày qua công thức sau
Pr(g) = 0,0016 * KLCT(g) + (0,18 * TT(g) + (0,07 * KLCT(g) * 0,82)/0,64)
Pr(g): nhu cầu protein cần thiết (g/con/ngày); KLCT (g): khối lượng cơ thể (g); TT: tăng trọng (g/ngày); 0,006: nhu cầu protein (g) cho duy trì 1 gam KLCT; 0,18: tỷ lệ protein trong thịt là 18%; 0,07: tỷ lệ lông gà so với KLCT là 7%; 0,82: tỷ lệ protein trong lông là 82%; 0,64: hiệu quả sử dụng protein của thịt gà
Trang 25Nhu cầu protein trong cơ thể là sự cân đối acid amin không thay thế Đối với gà con, gà dò, nhu cầu protein cho duy trì cơ thể và cho phát triển sinh trưởng của các bộ phận mô cơ Ở gà thịt mức sử dụng protein cho phát triển đến 64% (Lê Hồng Mận, 2001)
Nguyễn Thị Mai và ctv (2009) cho rằng nhu cầu protein của gia cầm
gồm hai phần là nhu cầu protein cho duy trì và nhu cầu protein cho sản xuất Nhu cầu protein cho gia cầm được tính bằng số gam protein cho mỗi con gia cầm trong một ngày đêm Tuy nhiên, gia cầm không thể nuốt trực tiếp số lượng protein theo nhu cầu tính được mà nó phụ thuộc vào lượng thức ăn mà gia cầm thu nhận hằng ngày Vì vậy nhu cầu protein thường được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm (%) protein thô
Nhu cầu protein thô đối với gà lông màu là 22-23% trong giai đoạn 1-35 ngày tuổi, 20-21% trong gia đoạn từ 35 ngày tuổi đến xuất bán Tuy nhiên để
có được chất lượng thịt tốt nhất, cần hạn chế sự tăng trọng bằng việc sử dụng thức ăn có năng lượng và protein thấp hơn Cụ thể từ 0-28 ngày tuổi là 21- 22%CP, từ 28-70 ngày tuổi là 17-18%CP, từ 70 ngày tuổi đến xuất bán là 16-17%CP (Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng, 2003)
Lã Thị Thu Minh (2000) cho rằng nhu cầu protein thô trong khẩu phần
gà con là 18-20%, gà lớn là 16-17% Mức CP trong khẩu phần đối với gà công nghiệp giai đoạn 0-3 tuần tuổi là 23%, giai đoạn 3-6 tuần tuổi là 20% , giai đoạn 6 tuần tuổi đến xuất chuồng là 18% Đối với gà Lương Phượng thả vườn, mức CP trong giai đoạn từ 1-21 ngày tuổi là 20%, giai đoạn từ 22-42 ngày tuổi
là 17% (Dương Thanh Liêm, 2003) Leeson and Summer (1997), nhu cầu CP trong khẩu phần gà thịt là 16-23%, tuy nhiên còn phải tùy thuộc vào mức năng lượng (ME) của khẩu phần Rose (1997) cho rằng nhu cầu CP trong khẩu phần của gà thịt từ 35 ngày tuổi đến xuất chuồng là 18-22%
Đào Đức Long và ctv (1980) cho rằng lượng protein trong khẩu phần
thức ăn thay đổi tùy theo gà con được nuôi theo những phương thức khác nhau như đối với gà thịt protein chiếm tỷ lệ 20-25%, năng lượng đảm bảo 2300 kcal/kg thức ăn (gà con từ 1-8 tuần tuổi), đối với gà trống cơ bản và sinh sản
từ 1-9 tuần tuổi protein chiếm 20-21%, năng lượng đảm bảo từ 1800-2300 kcal/kg Đối với gà sản xuất hướng trứng protein chiếm 18-20%, với gà sản xuất hướng thịt protein chiếm 20-25% và protein trong khẩu phần không được phép nhỏ hơn 16% Nếu thiếu protein gà sẽ chậm lớn, còi cọc, đẻ kém, sinh bệnh tật…cần cân đối protein theo nhu cầu gà con, gà thịt, gà đẻ Thức ăn giàu protein là bột cá, bột thịt, bột sữa, đỗ tương, khô lạc Thường bổ sung vào thức
ăn hai loại acid amin hay thiếu là lysine và methionine tổng hợp với tỉ lệ thấp
Trang 262.3.2.2 Nhu cầu acid amin
Protein được yêu cầu trong khẩu phần như là nguồn acid amin mà nó liên quan tới việc hình thành da, mô cơ, lông, trứng… Protein của cơ thể trong tình trạng chức năng với sự tổng hợp và thoái hóa xảy ra liên tục, hơn nữa sự cung cấp đầy đủ acid amin trong khẩu phần thì được quan tâm Khi cung cấp thiếu protein trong khẩu phần (đặc biệt là acid amin) sẽ làm giảm hoặc ngừng tăng trưởng và sản xuất gây trở ngại cho chức năng cần thiết của cơ thể (Robert, 2008)
Bảng 2.3: Nhu cầu acid amin lý tưởng đối với gà thịt theo một số tác giả
(1994)
Baker và Han (1994)
Lippens et al.,
(1997)
Gruber (1999)
Mack et al., (1999)
(Nguồn: Van Cauweberghe and Burnham, 2001)
Trong cơ thể gia cầm có 22 loại acid amin trong đó có 9 acid amin thiết yếu (Arginine, Histidine, Phenylalanine, Leucine, Isoleucine, Lysine, Threonine, Tryptophan và Valine) mà gia cầm không thể tự tổng hợp được cần
bổ sung trong khẩu phần, trong đó Methionine là acid amin giới hạn nhất (Robert, 2008)
Nguyễn Thị Mai và ctv (2009) cho rằng khi tính toán các nhu cầu acid
amin không thay thế, người ta thường chọn Lysine làm acid amin so sánh và đưa ra cân bằng lý tưởng acid amin cho gia cầm Cần chú ý là cân bằng lý tưởng acid amin trong khẩu phần của gia cầm tùy theo hướng và mục đích sản xuất Để tích lũy nhiều thịt nạc, gia cầm cần mức Lysine cao trong khẩu phần
Để nuôi gia cầm đẻ trứng năng suất cao, cần nhiều acid amin có chứa lưu huỳnh
Trang 27a) Lysine
Có vai trò quan trọng nhất cho sinh trưởng, sinh sản đẻ trứng Lysine cần cho tổng hợp nucleoproteid, hồng cầu, trao đổi azot, tạo sắc tố melanin ở da, lông Thiếu Lysine gà tăng trọng chậm, giảm hồng cầu, chuyển hóa calcium, phosphorus giảm gây còi xương, cơ thoái hóa… Lysine có nhiều trong bột cá (8,9%), men sinh vật (6,8%)… Nhu cầu lysine trong thức ăn của gà thịt là từ 1,1-1,2%, gà đẻ 0,75-0,85% (Lê Hồng Mận, 2002)
b) Methionine
Có vai trò quan trọng đến sinh trưởng, chức năng gan, thận, điều hòa chuyển hóa lipid, chống mỡ hóa gan… Thiếu methionine trong thức ăn gà mất tính thèm ăn, gà ăn ít làm cho thiếu máu, thoái hóa cơ, nhiễm mỡ gan… Methionine có nhiều trong bột cá, khô dầu hướng dương (2,4-3,2%) Nhu cầu methionine trong thức ăn của gà con 0-2 tuần tuổi là 0,38-0,4%; gà 3-7 tuần tuổi 0,35%; gà đẻ 0,38-0,4% (Lê Hồng Mận, 2002)
c) Tryptophan
Đây là acid amin cần cho sự phát triển của gia cầm non, duy trì sức sống cho gia cầm lớn Không những thế, nó có tác dụng điều hòa chức năng các tuyến nội tiết, tham gia tổng hợp hemoglobin của hồng cầu, tham gia cấu tạo tinh trùng và phôi Cơ thể thiếu Tryptophan sẽ có nguy cơ tuyến nội tiết bị phá hủy, giảm khối lượng… Khô dầu đậu và các loại hạt là loại thức ăn chứa nhiều tryptophan (Bùi Thanh Hà, 2005)
Nhóm acid amin thay thế được là những acid amin mà cơ thể gia cầm tự tổng hợp từ các sản phẩm trung gian trong quá trình trao đổi acid amin, acid béo và từ hợp chất chứa amino Nhóm có các loại là Alanin, Aspaginin, Cystin, Asparic, Glycine, Acid Glutamic, Hydroprolin, Serin, Prolin, Tyrozin, Citrulin, Cystein và Hydroxylizin (Lê Hồng Mận, 2002)
2.3.3 Nhu cầu của chất béo
Dương Thanh Liêm (2003) cho rằng chất béo là nguồn năng lượng cao cho gia cầm bởi vì năng lượng đốt cháy của chất béo trong cơ thể cao gấp 2,0-2,5 lần so với bột đường và protein
Bùi Xuân Mến (2007) cho rằng chất béo làm thành trên 40% lượng vật chất khô trong trứng, 17% trong gà thịt và 12% trong gà tây thịt Trong thức
ăn gia cầm lại chứa một lượng chất béo thấp hơn nhiều và hầu hết các thực liệu chỉ chứa từ 2 đến 5% chất béo Chất béo có thể là nguồn cung cấp năng lượng kinh tế trong khẩu phần của gia cầm và nó thường được bổ sung trong thức ăn của gà thịt và gà đẻ trứng hiện nay
Trang 28Bảng 2.4: Một số acid béo có trong thức ăn và mô động vật
Tên acid béo Số carbon:
Số nối đôi
Độ tan chảy, 0
C Ghi chú
Lauric 12:0 43,6 Nhiều trong tự nhiên như trong dầu
dừa Myris tic 14:0 53,8 -
Palmitic 16:0 62,9 Acid béo bão hòa phổ biến nhất
được tổng hợp bởi động vật
Arachidonic 20:4 -49,5 Thiết yêu, có thể được tổng hợp từ
acid linoleic
(Nguồn: Bùi Xuân Mến, 2007)
2.3.4 Nhu cầu xơ
Ngày nay với kỹ thuật phân tích phát triển, người ta chia chất xơ thô thành 3 mức độ khác nhau theo khả năng tiêu hóa giảm dần là NDF (Neutral Detergent Fiber), ADF (Acid Detergent Fiber) và ADL (Acid Detergent Lignin) Dù chất xơ ở dạng chất nào thì ở gia cầm tiêu hóa cũng rất khó khăn
vì ống tiêu hóa của chúng rất ngắn và hệ vi sinh vật để phân giải chất xơ kém phát triển Gà con hầu như không tiêu hóa được chất xơ vì bộ máy tiêu hóa chưa hoàn thiện Ở gà trưởng thành, manh tràng của chúng có sự hoạt động của vi sinh vật nên có thể tiêu hóa được một lượng ít chất xơ (khoảng từ 3-6%) Vì vậy về mặt giá trị dinh dưỡng coi như chúng không có giá trị Tuy nhiên về tác dụng khác của chất xơ trong thức ăn cũng nên chú ý Khi tăng chất xơ trong khẩu phần lên quá nhiều sẽ có tác dụng xấu làm giảm thấp sự tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng trong thức ăn mà quan trọng nhất là protein và chất bột đường Bênh cạnh đó, nó còn làm giảm giá trị năng lượng thức ăn, làm giảm tính ngon miệng của gia cầm và gà tiêu ra nhiều phân làm chuồng trại luôn luôn ẩm ướt (Dương Thanh Liêm, 2003)
Trang 292.3.5 Nhu cầu khoáng
2.3.5.1 Nhóm khoáng đa lƣợng
a) Calcium
Lê Hồng Mận (2002) cho rằng Ca trong cơ thể gia cầm chủ yếu dưới dạng phosphate calcium và carbonat calcium Calcium là thành phần chủ yếu của bộ xương Trong vỏ trứng 90% là carbonat calcium, calcium cần cho sự điều hòa tính thẩm thấu của màng tế bào, cho sự đông máu, cho sự hoạt động của hệ thần kinh, cho sự co bóp tim, tham gia cân bằng acid và bazơ của cơ thể Calcium được hấp thu từ thức ăn phần lớn đảm bảo cho hoạt động bình thường của sinh lý cơ thể, số dư dự trữ vào xương khoảng 20%, còn lại thải ra ngoài, calcium ở xương lúc cần cho sữa, cho tạo võ trứng được huy động một phần Thiếu calcium trong thức ăn gà bị co giật, chậm lớn, còi xương… Calcium có nhiều trong bột sò 35-38%, trong bột xương dicalciumphosphate 25-28%, bột cá 5-7%, calcium rất ít trong thức ăn thực vật 0,1-0,3% Gà chăn thả có thể tìm thức ăn khoáng ở sân vườn Tỷ lệ Ca/P ở gà con 2/1, ở gà đẻ 9/1 Nhu cầu Ca cho gà đối với gà con là 1,2%, gà dò 0,9-1%; gà đẻ 3,5-3,8%
b) Phosphorus
Lê Hồng Mận (2002) cho rằng phosphorus là thành phần cấu tạo xương,
có vai trò giữ cân bằng độ toan, kiềm trong máu và các tổ chức khác Phosphorus có chức năng trong trao đổi hydratcacbon, lipid, acid amin và trong hoạt động thần kinh Ở gà con P có tỷ lệ 0,4-0,6%, ở gà lớn 0,7-0,9% khối lượng cơ thể Thiếu P trong thức ăn làm giảm tính thèm ăn, gà ăn ít, gầy
và còi xương Phosphorus có tỷ lệ cao trong bột dicalciumphosphate 18%, bột xương 9-10%, bột cá 3,5-4% Phosphorus từ nguồn thức ăn động vật, dicanxiphosphat có tỷ lệ hấp thu cao 95-100%, từ nguồn thực vật hấp thu chỉ 30-35%, còn phosphophytin không hấp thu được Nhu cầu P cho gà con là 0,5%, gà đẻ 0,45-0,5% Tỷ lệ Ca/P thích hợp là 1,6/1 (Lã Thị Thu Minh, 2000)
2.3.5.2 Nhóm khoáng vi lƣợng
Có 7 nguyên tố được tiêu chuẩn hóa trong thức ăn của gia cầm, chế biến thành premix khoáng là sắt (Fe), đồng (Cu), mangan (Mn), cobalt (Co), selen (Se), kẽm (Zn), iod (I)
Sắt (Fe) có vai trò quan trọng trong cấu tạo cơ, da, lông, hồng cầu, tạo các acid amin chứa lưu huỳnh, các acid béo, vitamin… Thiếu sắt gây thiếu máu, chân, mỏ gà con nhợt nhạt Nhu cầu sắt cho gà các loại 88 mg/kg thức ăn (Lê Hồng Mận, 2002)
Trang 30Đồng (Cu) có vai trò làm tăng hấp thu sắt (Fe) cho tạo hemoglobin của hồng cầu trong máu Vì thế khi bổ sung sắt phải bổ sung đủ đồng vào khẩu phần Thiếu đồng làm giảm hấp thu sắt dẫn đến cả hai nguyên tố thiếu làm cho
gà chậm lớn, gây rối loạn về xương, nhu cầu đồng cho gà 11 mg/kg thức ăn (Lê Hồng Mận, 2002)
Cobalt (Co) có vai trò quan trọng trong tạo vitamin B12 vì thế Co kích thích tạo máu có vai trò trong trao đổi chất Thiếu Co gây thiếu vitamin B12 (Lê Hồng Mận, 2002)
Tóm lại sắt, đồng và coban là những yếu tố cần thiết cho cấu tạo Hemoglobin vì vậy các khoáng chất này cần được bổ sung vào khẩu phần của gia cầm Muối (NaCl) cải thiện khả năng tận dụng protein của gia cầm và nồng độ muối phổ biến trong khẩu phần của gia cầm khoảng 0,5% Khẩu phần cân đối Natri, Kali và Clo là yếu tố quyết định quan trọng của sự cân bằng acid - bazơ trong cơ thể gia cầm (Mongin, 1981)
Bảng 2.5: Nhu cầu dinh dưỡng cho gà thả vườn nuôi lấy thịt
(Nguồn: Trần Công Xuân và ctv, 2004)
2.3.6 Nhu cầu vitamin
Vitamin là hợp chất hữu cơ tham gia vào phản ứng sinh hóa với lượng rất nhỏ, đảm bảo cho quá trình phát triển bình thường của động vật (Vũ Duy Giảng, 1997)
Vitamin có 2 nhóm: nhóm hòa tan trong dầu mỡ là vitamin A, D, E, K Nhóm hòa tan trong nước là vitamin B1, B2, B3, B5, B6, B8, B9, B12, C
Trang 312.3.6.1 Vitamin A
Vitamin A có vai trò tham gia quá trình trao đổi chất protid, lipid, gluxit,
có ảnh hưởng tổng hợp protid, ảnh hưởng đến hệ thần kinh, tuyến nội tiết, kích thích sự phát triển của các tế bào non, tế bào sinh dục, ảnh hưởng đến sinh trưởng, sinh sản ở gà Nhu cầu vitamin A cho gà con, gà mái sinh sản 8000-
10000 UI/kg thức ăn (Lê Hồng Mận, 2002)
2.3.6.2 Vitamin E
Vitamin E có vai trò hoạt động sinh dục tăng sinh sản gia cầm, ảnh hưởng đến tổng hợp coenzyme, trao đổi acid nucleic và phosphoryl hóa, chống rối loạn đường, teo cơ Vai trò quan trọng nhất của vitamin E là chất chống oxy hóa sinh học, tăng hấp thu vitamin A qua ruột và bảo vệ chúng khỏi bị oxy hóa, có vai trò trong hệ thống miễn dịch Thiếu vitamin E gây teo buồng trứng, teo dịch hoàn Vitamin E có nhiều trong thức ăn thực vật dầu đậu, lạc, cám gạo, nhất là mầm thóc, ngô, giá đậu Nhu cầu vitamin E cho gà con là 15-
20 UI/kgTĂ, gà đẻ là 20-30 UI/kgTĂ (Lê Hồng Mận, 2002)
2.3.6.3 Vitamin K
Lê Hồng Mận (2002) cho rằng vitamin K được tổng hợp từ manh tràng
gà nhờ microflora, có vai trò làm đông máu (chống chảy máu) Tổng hợp protrompin, tham gia vào quá trình phosphoryl hóa và hô hấp mô bào Vitamin
K giúp cho gà chống bệnh cầu trùng phân có máu, gà đẻ tử cung bị chảy máu Vitamin K có nhiều trong cám gạo, cà rốt, rau cỏ… Nhu cầu vitamin K cho gà con dưới 7 tuần là 8,8 mg, gà từ 8-17 tuần là 2,2 mg, gà đẻ là 2,2 mg/kgTĂ
2.3.6.4 Vitamin D
Vitamin D có đến 10 loại, nhưng cho chăn nuôi thì vitamin D3 có hoạt tính cao nhất, có vai trò chủ đạo trong chuyển hóa calcium và phosphorus, làm tăng hấp thu ở ruột non dưới dạng vitamin D + Ca++
, tăng tích lũy ở xương và
võ trứng Ở gia cầm hoạt tính D3 cao hơn 30-50 lần Vitamin D3 còn cần cho tổng hợp protein Thiếu vitamin D3 gà bị còi xương, chậm lớn, đẻ ít Nuôi gà chuồng kín thiếu ánh sáng tự nhiên tác động của tia cực tím lên da tạo vitamin
D3 bị thiếu, cần bổ sung đầy đủ vào thức ăn, thường có trong premix khoáng Thức ăn men, bột cá, lòng đỏ trứng… nhiều vitamin D Nhu cầu vitamin D cho gà con là 200-2200 UI, gà đẻ là 1500 UI/kgTĂ (Lê Hồng Mận, 2002)
Trang 32kinh bị liệt (polyneuritis) ở gà con 0-2 tuần tuổi, rối loạn tiêu hóa, thần kinh cơ tim và hô hấp cũng bị rối loạn, cơ yếu, sinh bệnh cắn Các loại men, cám gạo, thóc có nhiều B1 Nhu cầu vitamin B1 cho gà con 2,2 mg, gà đẻ 1,8-2,0 mg/kg thức ăn (Lê Hồng Mận, 2002)
C có nhiều trong củ quả, mầm hạt ngũ cốc Nhu cầu vitamin C cho gà con là
500 mg, gà đẻ từ 30-60 mg/kg thức ăn Trời nóng bổ sung thêm 59-100 mg/kg thức ăn (Lê Hồng Mận, 2002)
Bảng 2.6: Nhu cầu các vitamin trong 1 kg thức ăn của gia cầm
Trang 332.4 Tổng quan về một số acid hữu cơ đƣợc khảo sát
2.4.1 Acid citric
Acid citric là một acid hữu cơ yếu Nó là một chất bảo quản tự nhiên và
cũng được sử dụng để bổ sung vị chua cho thực phẩm hay các loại nước ngọt, thường được tìm thấy trong các loại trái cây thuộc họ cam quýt Trong hóa sinh học, nó là tác nhân trung gian quan trọng trong chu trình acid citric và vì thế xuất hiện trong trao đổi chất của gần như mọi sinh vật Nó cũng được coi
là tác nhân làm sạch tốt về mặt môi trường và đóng vai trò của chất chống oxy hóa Nó là chất bảo quản thực phẩm tự nhiên và thường được thêm vào thức
ăn và đồ uống để làm vị chua Ở lĩnh vực hóa sinh thì acid citric đóng một vai trò trung gian vô cùng quan trọng trong quá trình trao đổi chất xảy ra trong các
Hình 2.2 Acid lactic
2.4.3 Acid phosphoric
Acid phosphoric được sử dụng rộng rãi như một chất trung gian hóa học Trong lĩnh vực hóa học acid photphoric được sử dụng để sản xuất các vật liệu như chất tẩy rửa, hóa chất xử lý nước, các loại men và bổ sung vào thức ăn gia
Trang 34súc Tuy nhiên acid photphoric được sử dụng chủ yếu trong lĩnh vực phân bón (Slack, 1986)
Hình 2.3 Acid phosphoric
2.4.4 Acid malic
Acid malic và các muối của nó (calcium, natri…) được sử dụng trong các phụ gia thực phẩm Nhiều nghiên cứu đã khẳng định việc sử dụng các acid malic và các muối của nó vào khẩu phần dinh dưỡng của động vật là an toàn cho người sử dụng Acid malic được sử dụng làm chất bảo quản trong thức ăn
và điều chỉnh nồng độ acid trong thức ăn cho chó và mèo và các hỗn hợp của muối của chúng được sử dụng như một bộ điều chỉnh độ chua trong thức ăn cho tất cả các loài động vật (Efsa journal, 2014)
Hình 2.4 Acid malic
2.4.5 Acid tartaric
Acid tartaric là một axit hữu cơ dạng tinh thể màu trắng Chúng được tìm thấy nhiều trong tự nhiên ở loài thực vật, đặc biệt là nho, chuối, và me, thường được kết hợp với bột nổi để hoạt động như một chất men trong công thức nấu
ăn, và là một trong các acid chính được tìm thấy trong rượu vang Nó được thêm vào thực phẩm khác để cung cấp cho một hương vị chua, và được sử dụng như là một chất chống oxy hóa Muối của acid tartaric được gọi là tartrates Nó là một dẫn xuất của acid succinic dihydroxyl
Hình 2.5 Acid tartaric
Trang 352.4.6 Muối
Ngoài các acid hữu cơ, trong chế phẩm Vime Senarex còn có một số muối
2.4.6.1 Caxium lactate
Canxium lactate là một loại muối của acid lactic, công thức phân tử là
C6H10CaO6, sản phẩm canxium lactate có màu màu trắng Canxium lactate được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp thực phẩm, dược phẩm và một số
ngành công nghiệp khác (Vũ Thị Thuận và ctv., 2012)
2.4.6.2 Potassium citrate
Potassium citrate là muối Kali của acid citric với công thức phân tử
C6H5K3O7 Chúng là một tinh thể màu trắng ở dạng bột và hơi hút ẩm Potassium citrate không mùi với một hương vị mặn và chứa 38,3% kali theo khối lượng Chúng được sử dụng như một phụ gia thực phẩm, potassium citrate được dùng để điều chỉnh độ chua Trong y học, nó có thể được sử dụng
để kiểm soát sỏi thận hoặc có nguồn gốc từ acid uric hoặc cystine (Wikipedia)
2.4.6.3 Sodium citrate
Sodium citrate là muối Natri của acid citric với công thức phân tử
C6H5Na3O7 Chúng là một muối kiềm yếu, không độc hại và có pH ổn định Được sử dụng rộng rãi trong y học và trong công nghiệp chất tẩy rửa (Wikipedia)
E coli thuộc họ Enterobacteriaceae, vi khuẩn Gram âm thường trực ở
trong ruột, chiếm 80% các vi khuẩn hiếu khí, một số chủng là vi khuẩn cộng sinh giúp tổng hợp vitamin K và cân bằng hệ vi sinh đường ruột nhưng hầu hết
là vi khuẩn gây bệnh đường ruột và các cơ quan khác (Lê Văn Tạo, 1997)
E coli thường xuất hiện sớm ở đường ruột người và động vật sơ sinh,
chúng thường ở phần sau của ruột, ít khi ở dạ dày và ruột non Trong nhiều
Trang 36trường hợp còn tìm thấy ở niêm mạc của nhiều bộ phận khác trong cơ thể
(Nguyễn Như Thanh và ctv., 1997)
2.5.1.2 Hình Thái
E coli là trực khuẩn Gram âm, có hình gậy ngắn, hai đầu tròn, không có
nha bào, kích thước 2-3 x 0,9μ Trong cơ thể có hình cầu trực khuẩn đứng
riêng lẻ đôi khi xếp thành chuỗi ngắn Phần lớn E coli di động do có lông
nhung bao xung quanh thân nên có khả năng di động, nhưng cũng có thể gặp một số chủng đột biến không có lông nhung và không có khả năng di động
(Barnes et al., 1994)
Chi Escherichia có 6 loài khác nhau, nhưng loài chủ yếu là E coli Vi
khuẩn này phát triên rất tốt trên môi trường thạch thường, ở 35-370C sau
12-18 giờ thành khuẩn lạc tròn, lồi không trong suốt, bóng láng Để phân lập thường nuôi cấy khởi đầu trên môi trường tuyển lựa như môi trường MacConkey, Endo, Istrati, Desoxycholate…(Phạm Hồng Sơn, 2002)
2.5.1.3 Đặc tính nuôi cấy
E coli phát triển dễ dàng trên các môi trường nôi cấy thông thường, một
số chủng có thể phát triển được ở môi trường nuôi cấy tổng hợp đơn giản nên người ta đã chọn chúng để nghiên cứu về sinh vật học
E coli là trực khuẩn hiếu khí hoặc yếm khí tùy tiện có thể sinh trưởng ở
nhiệt độ từ 5-400C, nhiệt độ thích hợp là 370C, pH thích hợp là 6,4-7,4, có thể
phát triển được ở pH từ 5,5-8 (Michael et al., 1984)
2.5.1.4 Tính gây bệnh
Các chủng độc lực của E coli có thể gây ra viêm dạ dày ruột, nhiễm
trùng đường tiểu và viêm màng não động vật non Trong trường hợp hiếm hơn, các chủng độc lực cũng gây hội chứng urê huyết, viêm phúc mạc, viêm
vú, nhiễm trùng huyết và viêm phổi Hầu hết các loài động vật đều mẫn cảm
với bệnh: các loài gia súc, gia cầm, bò sát đều có thể nhiễm vi khuẩn E coli
Chúng bị nhiễm bệnh bằng nhiều con đường khác nhau, nhưng chủ yếu là
đường tiêu hóa (Đào Trọng Đạt và ctv., 2001)
Vi khuẩn E coli gây bệnh trên gia cầm là nhóm APEC (Avivan pathogenic E coli) thuộc serotype O1, O2, O78 Gây bệnh ở đường ruột thường
là do kết hợp với yếu tố ngoại cảnh và nhân tố mở đường (Lê Hồng Mận, 1999)
Vi khuẩn E coli tồn tại với số lượng cao trong các mô bị viêm, và số
lượng vi khuẩn ở những vùng bị viêm tương quan với mức độ nghiêm trọng
Trang 37của viêm ruột Nếu vi khuẩn thoát khỏi đường ruột thông qua thủng và nhập vào bụng, chúng sẽ gây viêm phúc mạc và có thể gây tử vong nếu không điều trị kịp
Vi khuẩn E coli có sẵn trong ruột động vật nhưng chỉ tác động gây bệnh khi sức đề kháng của con vật bị giảm súc (Nguyễn Như Thanh và ctv., 1997)
2.5.2 Cơ chế tác động của acid hữu cơ lên vi khuẩn
2.5.2.1 Cơ chế ức chế vi khuẩn gây bệnh
Vũ Duy Giảng (2008) cho rằng trong đường ruột tồn tại các nhóm vi khuẩn có ích và vi khuẩn bệnh, số lượng các nhóm này được duy trì ở trạng thái cân bằng (eubiosis) Do những nguyên nhân nào đó, số lượng vi khuẩn bệnh tăng lên, trạng thái cân bằng bị phá vỡ (dysbiosis), con vật bị rối loạn tiêu hóa và mắc bệnh
Nhóm vi khuẩn có ích thường là những vi khuẩn lên men sinh acid lactic
như Lactobacillus, Bifidobacterium, Streptococcus… Nhóm vi khuẩn bệnh thường là E.coli, Samonella, Clostridium perfringens, Staphilococcus aureus…
Vi khuẩn có ích sống trong môi trường pH thấp hơn vi khuẩn bệnh Ví dụ: pH thích hợp cho nhóm vi khuẩn lên men sinh acid lactic là 2-3, còn pH
cho vi khuẩn bệnh như E.coli là ≥4; Samonella là ≥3,5; Cl perfringens là ≥6
Như vậy bổ sung acid hữu cơ để đưa pH dịch tiêu hóa xuống < 3,5 thì sẽ
ức chế những vi khuẩn bệnh và tạo điều kiện cho vi khuẩn có ích hoạt động
Hình 2.6 Vi khuẩn bệnh bị ức chế hoạt động ở pH thấp
(Nguồn INVE Nutri-AD, trích dẫn Vũ Duy Giảng, 2008)
2.5.2.2 Cơ chế tiêu diệt vi khuẩn bệnh
Vũ Duy Giảng (2008) cho rằng acid đi vào tế bào vi khuẩn, ở đây (pH = 7) acid phân ly cho ra H+ (RCOOH → RCOO- + H + ), pH bên trong tế bào
Trang 38giảm, vi khuẩn phải sử dụng cơ chế bơm ATPase để đẩy H+ ra khỏi tế bào, vi khuẩn bị mất năng lượng Mặt khác pH giảm thì cũng ức chế quá trình đường phân (glycolysis), tế bào vi khuẩn bị mất nguồn cung cấp năng lượng Khi phân ly trong tế bào, anion của acid không ra khỏi được tế bào, gây rối loạn thẩm thấu Những nguyên nhân này làm cho vi khuẩn bị chết
Hình 2.7 Cơ chế tiêu diệt vi khuẩn bệnh
(Nguồn INVE Nutri-AD, trích dẫn Vũ Duy Giảng, 2008)
Acid hữu cơ có thể đi vào hoặc đi ra khỏi tế bào vi khuẩn chỉ khi ở trạng thái không phân ly Sự phân ly của acid hữu cơ lại phụ thuộc vào hằng
số phân ly pK và pH của môitrường
+ pK càng cao thì độ phân ly càng lớn Ví dụ trong một môi trường có
pH như nhau thì acid acetic có độ phân ly cao hơn acid formic (pK của acid acetic là 4,76 và của acid formic là 3,75)
+ Acid hữu cơ phân ly ít trong môi trường có pH thấp và phân ly nhiều trong môi trường có pH cao Ống tiêu hóa của heo hay gà có pH khác nhau theo với các vị trí khác nhau Ở dạ dày, pH thường thấp (2,5-3,5), acid hữu cơ
ở đây không phân ly hoặc phân ly rât ít, nhưng ở ruột non pH thường cao 7,5), acid hữu cơ phân ly phân ly nhiều, thậm chí phân ly hoàn toàn Khi đã phân ly thì acid không đi vào được tế bào vi khuẩn và không còn có tác dụng diệt khuẩn nữa
(6-+ Hầu hết các acid hữu cơ như acid lactic, formic, fumaric, butyric… đều
có tác dụng diệt khuẩn ở dạ dày vì ở đây pH thấp, acid hữu cơ ít hoặc không bị phân ly Phần acid không phân ly sẽ đi vào tế bào vi khuẩn và thực hiện cơ chế diệt khuẩn như trình bày ở trên
RCOOH
Trang 39CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
3.1 Thời gian và địa điểm
Thí nghiệm được tiến hành từ ngày 10/3/2014 đến ngày 20/5/2014
Địa điểm thí nghiệm tại Trại chăn nuôi thực nghiệm của Công ty TNHH MTV chăn nuôi Vemedim, trại được xây dựng tại ấp Thới Hòa C, xã Thới Thạnh, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ
Trại được xây dựng trên vùng đất cao ráo, có đường giao thông thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển thức ăn và vận chuyển con giống Trại được xây dựng nhằm mục đích cung cấp các động vật thí nghiệm cho công ty thuốc thú y Vemedim Phía Bắc giáp với trại heo Miền Tây và đường lộ của Viện Lúa ĐBSCL, phía Đông và Nam giáp với con kinh rộng khoảng 10m Phía Tây giáp với đất canh tác nông nghiệp
3.2 Phương tiện thí nghiệm
3.2.1 Đối tượng thí nghiệm
Đối tượng thí nghiệm là đàn gà Nòi lai Lương Phượng giai đoạn bước vào tuần tuổi thứ 7 Gà thí nghiệm đang trong tình trạng khỏe mạnh, được tiêm phòng đầy đủ cũng như được chăm sóc nuôi dưỡng đúng quy trình kỹ thuật của trại
3.2.2 Chuồng trại
Gà thí nghiệm được nuôi trong trại kín với hệ thống các máy quạt điều hòa khí hậu trong chuồng nuôi Hướng chuồng là hướng Đông Bắc - Tây Nam nhằm tránh mưa tạt gió lùa và ánh nắng vào buổi chiều
3.2.2.1 Hệ thống các ô chuồng
Chuồng nuôi được thiết kế dạng lồng lưới sắt B40 với kích thước mỗi ô chuồng là 2,3x7x4 m (rộng, dài, cao), mái đôi lợp tole có lót thêm laphông bằng cao su dày Hệ thống làm mát được đặt ở đầu trại, nước được bơm lên hệ thống bằng máy bơm Cuối trại là hệ thống quạt hút (trong đó có 3 quạt tự động vận hành) để hút không khí nóng ra ngoài đồng thời điều hòa không khí trong chuồng
Đàn gà được nuôi trên nền xi măng bằng phẳng có chất độn chuồng bằng trấu Định kỳ 3 lần trong tuần (thứ 2, thứ 4 và thứ 7) sẽ tiến hành sát trùng khu vực quanh chuồng Mỗi ô chuồng được lắp đặt 3 máng ăn, 1 máng uống tự động và 1 bình nước dùng để pha thuốc thí nghiệm
Trang 40Độ cao của máng ăn cũng như các máng uống được treo theo chiều cao của gà Độ cao của máng sẽ được nâng lên khi gà lớn để tránh đổ thức ăn và nước uống Đồng thời, các máng ăn được thiết kế nắp đậy, để tránh gà nhảy lên đậu trên máng và đi phân vào, làm thức ăn bị bẩn gà sẽ không ăn, làm ảnh hưởng đến thí nghiệm
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ trại gà thí nghiệm