1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm men vi sinh subprobi vào khẩu phần lên sự sinh trưởng của heo sau cai sữa (2050 kg)

79 339 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 2,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với gia súc non, cụ thể là heo con sau cai sữa thì cơ quan tiêu hóa phát triển chưa hoàn chỉnh nên khả năng tiêu hóa thức ăn do con người cung cấp còn nhiều hạn chế, thức ăn không đư

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

TRỊNH TUYẾT MAI

ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG CHẾ PHẨM MEN VI SINH SUB-PROBI VÀO KHẨU PHẦN LÊN SỰ SINH TRƯỞNG

CỦA HEO SAU CAI SỮA (20-50 KG)

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CHĂN NUÔI - THÚ Y

2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

TRỊNH TUYẾT MAI

ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG CHẾ PHẨM MEN VI SINH SUB-PROBI VÀO KHẨU PHẦN LÊN SỰ SINH TRƯỞNG

CỦA HEO SAU CAI SỮA (20-50 KG)

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CHĂN NUÔI - THÚ Y

2014 CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PGs.Ts LÊ THỊ MẾN

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

TRỊNH TUYẾT MAI

ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG CHẾ PHẨM MEN VI SINH SUB-PROBI VÀO KHẨU PHẦN LÊN SỰ SINH TRƯỞNG

CỦA HEO SAU CAI SỮA (20-50 KG)

Cần Thơ, ngày tháng năm 2014

DUYỆT CỦA KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Trang 4

i

LỜI CẢM TẠ

Để hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến: Ban Lãnh đạo Công ty Vemedim đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Chân thành cảm ơn Công ty Chăn nuôi Vemedim đã hỗ trợ tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình

Cha, mẹ đã nuôi nấng, tạo điều kiện và động viên tôi trong suốt quá trình học tập Anh, chị em trong gia đình đã quan tâm, thương yêu và dìu dắt tôi vượt qua những khó khăn trong học tập và cuộc sống

Cô Lê Thị Mến đã tận tình hướng dẫn, lo lắng và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Cô Huỳnh Thị Thu Loan đã ân cần dạy bảo, tạo mọi điều kiện và động viên tôi trong suốt thời gian thực tập tại Phòng thí nghiệm Chăn nuôi chuyên khoa, khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng

Thầy Hồ Quảng Đồ là giáo viên cố vấn đã tận tình hướng dẫn, khuyên bảo tôi vượt qua những khó khăn trong học tập và cuộc sống trong suốt 4 năm đại học

Xin chân thành cảm ơn quý Thầy cô giảng dạy tại Trường đã truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm vô cùng quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập

Tập thể lớp Chăn nuôi - Thú y khóa 37 và khóa 38, đặc biệt là các bạn Trần Quang Khôi, Diệp Minh Tuấn và Nguyễn Thị Đài Trang đã luôn luôn quan tâm, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Trang 5

ii

TÓM LƯỢC

Thí nghiệm được tiến hành từ tháng 07/2014 đến tháng 11/2014 tại Công

ty Chăn nuôi Vemedim ở ấp Thới Hòa C, xã Thới Thạnh, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ Thí nghiệm được thực hiện trên 60 heo sau cai sữa, được

bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 nghiệm thức và 4 lần lặp lại

NT ĐC: Nghiệm thức không bổ sung chế phẩm

NT SUB-L: Nghiệm thức bổ sung chế phẩm Sub-Probi với cách cho ăn liên tục

NT SUB-C: Nghiệm thức bổ sung chế phẩm Sub-Probi với cách cho ăn cách tuần

Thức ăn sử dụng cho thí nghiệm là thức ăn hỗn hợp được phối hợp từ thực liệu rời như cám gạo, bắp vàng, bánh dầu đậu nành, bột cá, premix vitamin

Kết quả thí nghiệm được ghi nhận như sau:

Tăng trọng bình quân cuối kỳ (kg/con) ở NT SUB-L (59,33) là cao nhất

kế đến là NT SUB-C (59,07) và thấp nhất là ở NT ĐC (58,10) (P<0,01) Tăng trưởng tích lũy (kg/con) cao nhất ở NT SUB-L (38,63), kế đến là NT SUB-C (38,47) và thấp nhất là NT ĐC (37,57) (P<0,01) Tăng trưởng tuyệt đối (g/con/ngày) ở NT SUB-L (654,80) là cao nhất, kế đến là NT SUB-C (651,98)

và thấp nhất là NT ĐC (636,72) (P<0,01) Tăng trưởng tương đối (%) cao nhất ở NT SUB-L (96,54), kế đến là NT SUB-C (96,57) và thấp nhất là NT ĐC (95,54) (P<0,01)

HSCHTĂ thấp nhất ở NT SUB-L là 2,35; NT SUB-C là 2,40 và NT ĐC cao nhất (2,56) (P<0,01)

Tỷ lệ tiêu chảy ở NT SUB-L là 5% và SUB-C là 10% thấp hơn so với NT

Trang 6

iii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan dây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây

Tác giả luận văn

Trịnh Tuyết Mai

Trang 7

iv

MỤC LỤC

Tóm lược……… ii

Chương 1: Đặt vấn đề 1

Chương 2: Tổng quan tài liệu 2

2.1 Các giống heo ngoại được nuôi phổ biến ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) 2

2.1.1 Yorkshire 2

2.1.2 Landrace 3

2.1.3 Duroc 4

2.1.4 Heo Pietrain 5

2.2 Heo lai thương phẩm 6

2.2.1 Lai kinh tế đơn giản 6

2.2.2 Lai kinh tế phức tạp 6

2.3 Hệ vinh vật đường ruột và ảnh hưởng của hệ vi sinh vật đến sức khỏe vật nuôi 7

2.4 Các chất hỗ trợ dinh dưỡng, chất phụ gia trong thức ăn (Feed additives) 8

2.5 Probiotic 9

2.5.1 Khái niệm 9

2.5.2 Vai trò của probiotic 9

2.5.3 Cơ chế tác động của probiotic 10

2.5.4 Một số chủng vi sinh vật dùng phổ biến trong probiotic 12

2.5.5 Ứng dụng của probiotic trong chăn nuôi 14

2.5.6 Tình hình sử dụng probiotic tại Việt Nam 15

2.6 Đặc điểm một số loại thức ăn nguyên liệu thường dùng trong chăn nuôi 19 2.6.1 Thức ăn năng lượng 19

2.6.2 Thức ăn bổ sung protein 19

2.6.3 Thức ăn bổ sung khoáng 20

2.6.4 Đặc điểm về nhu cầu dinh dưỡng của heo ở giai đoạn 20-50 kg 21

2.7 Công tác thú y 21

2.7.1 Tiêm phòng 21

2.7.2 Vệ sinh thức ăn, nước uống 22

2.7.3 Vệ sinh chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi 22

Chương 3: Phương tiện và phương pháp thí nghiệm 23

3.1 Phương tiện thí nghiệm 23

3.1.1 Thời gian và địa điểm 23

3.1.2 Chuồng trại thí nghiệm 25

3.1.3 Đối tượng thí nghiệm 26

3.1.4 Dụng cụ thí nghiệm 26

3.1.5 Thức ăn dùng trong thí nghiệm 27

3.1.6 Nước uống dùng trong thí nghiệm 29

3.1.7 Chế phẩm vi sinh dùng trong thí nghiệm 29

3.2 Phương pháp thí nghiệm 30

3.2.1 Bố trí thí nghiệm 30

3.2.2 Các chỉ tiêu theo dõi 30

Trang 8

v

3.2.3 Phương pháp tiến hành thí nghiệm 32

3.3 Xử lý số liệu 34

Chương 4: Kết quả thảo luận 35

4.1 Ghi nhận tổng quát 35

4.2 Kết quả về tăng trưởng 36

4.2.1 Khối lượng heo thí nghiệm 36

4.2.2 Tăng trưởng tích lũy 37

4.2.3 Tăng trưởng tuyệt đối 38

4.2.4 Tăng trưởng tương đối 39

4.3 Mức ăn và dưỡng chất tiêu thụ hàng ngày của heo thí nghiệm 39

4.4 Tiêu tốn thức ăn và HSCHTĂ của heo thí nghiệm 40

4.5 Tỷ lệ tiêu chảy của heo thí nghiệm 41

4.6 Hiệu quả kinh tế 42

4.6.1 Chi phí thức ăn/kg tăng trọng của heo 42

4.6.2 Hiệu quả kinh tế toàn thí nghiệm 43

Chương 5: Kết luận và đề nghị 45

5.1 Kết luận 45

5.2 Đề nghị 45

Tài liệu tham khảo 46

Phụ chương 49

Trang 9

vi

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Heo Yorkshire 2

Hình 2.2: Heo Landrace 3

Hình 2.3: Heo Duroc 4

Hình 2.4: Heo Pietrain 5

Hình 2.5: Sơ đỒ lai 3 giỐng 7

Hình 2.6: Sơ đỒ lai 4 giỐng 7

Hình 2.7: Sơ đồ minh họa cơ chế tác động của probiotic lên hệ vi sinh vật 11

Hình 2.8: Vi khuẨn Pediococcus acidilactici 12

Hình 2.9: Vi khuẨn Bacillus subtilis 13

Hình 2.10: NẤm men Saccharomyces cerevisiae 14

Hình 2.11: ChẾ phẨm ProTMSwine 16

Hình 2.12: SẢn phẨm Vime-Bacilac 16

Hình 2.13: SẢn phẨm Vime-Subtyl 17

Hình 3.1: BẢn đỒ HuyỆn ThỚi Lai 23

Hình 3.3: Tổng thể của trại heo 25

Hình 3.4: Dãy chuỒng nuôi heo thí nghiỆm 26

Hình 3.5: Bồn chứa nước 29

Hình 3.6: Sơ đỒ bỐ trí thí nghiỆm 30

Hình 4.1: Heo nuôi cuỐi thí nghiỆm Ở các nghiỆm thỨc 35

Hình 4.2: BiỂu đỒ khỐi lưỢng heo cuỐi thí nghiỆm 37

Hình 4.3: BiỂu đỒ tăng trưỞng tích lũy cỦa heo thí nghiỆm 38

Hình 4.4: BiỂu đỒ tăng trưỞng tuyỆt đỐi cỦa heo thí nghiỆm 38

Hình 4.5: BiỂu đỒ tăng trưỞng tương đỐi cỦa heo thí nghiỆm 39

Hình 4.6: MỨc ăn trung bình hàng ngày cỦa heo Ở các nghiỆm thỨc 40

Trang 10

vii

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Kết quả bổ sung chế phẩm EM cải tiến phòng trị bệnh đường ruột

do vi khuẩn gây ra đối với heo con theo mẹ 18

Bảng 2.2: Kết quả bổ sung probiotic cho heo con sau cai sữa (thí nghiệm trên heo lai Duroc x (Yorkshire x Landrace) từ ngày tuổi 28 đến 56 ngày) 18

Bảng 2.3: Nhu cầu dinh dưỡng hằng ngày của heo thịt giai đoạn 20-50 kg 21

Bảng 3.1: Công thức khẩu phần của thức ăn dùng trong thí nghiệm (dành cho heo lứa có khối lượng từ 20-50 kg) 27

Bảng 3.2: Thành phần dinh dưỡng và năng lượng của khẩu phần cho heo lứa có khối lượng từ 20-50 kg 28

Bảng 3.3: Lịch tiêm phòng cho heo giai đoạn sau cai sữa-12 tuần tuổi 33

Bảng 3.4: Lịch tiêm phòng cho heo giai đoạn 12 tuần tuổi-hạ thịt 34

Bảng 4.1: Các chỉ tiêu về tăng trưởng của heo thí nghiệm 36

Bảng 4.2: Mức ăn (MĂ) và dưỡng chất tiêu thụ hàng ngày của heo thí nghiệm 39

Bảng 4.3: Tiêu tốn thức ăn và HSCHTĂ của heo thí nghiệm 40

Bảng 4.4: Tỷ lệ tiêu chảy của heo thí nghiệm 41

Bảng 4.5: Chi phí thức ăn/kg tăng trọng của heo thí nghiệm 42

Bảng 4.6: Hiệu quả kinh tế toàn thí nghiệm 43

Trang 11

1

Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

Dân số ngày càng tăng, nhu cầu lương thực, thực phẩm của con người cũng ngày một tăng cao đã thúc đẩy ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi heo nói riêng ngày một phát triển Không những tạo ra các sản phẩm phục vụ con người, ngành chăn nuôi heo còn giải quyết được phần nào tình trạng thất nghiệp của người dân đặc biệt là ở vùng nông thôn, tận dụng được nguồn lao động nhàn rỗi Tuy nhiên, hiệu quả từ việc chăn nuôi loại gia súc này ở một số nơi chưa cao do tỷ lệ hao hụt, bệnh tật trong quá trình nuôi, đặc biệt là giai đoạn heo con theo mẹ và sau cai sữa vì giai đoạn này heo con không được sưởi ấm, dinh dưỡng chuyển từ phụ thuộc sữa mẹ sang dinh dưỡng phụ thuộc hoàn toàn vào thức ăn nên bộ máy tiêu hóa chưa thích nghi được; do đó heo con rất dễ bị stress, mắc các bệnh về đường tiêu hóa gây thiệt hại lớn về kinh

tế Để khắc phục tình trạng trên thì trước đây người ta sử dụng thuốc hóa học, hóa chất, kháng sinh nhưng các biện pháp này lại không đáp ứng các quy định

về đảm bảo an toàn sinh học, an toàn thực phẩm và an toàn môi trường Trước thực trạng đó các nước thuộc khối liên minh Châu Âu cấm hoàn toàn việc sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi (Hector Cervanter, 2006) Thay vào

đó là ưu tiên sử dụng các chế phẩm sinh học (probiotic)

Vũ Duy Giảng (2012) cho rằng sử dụng probiotic trong chăn nuôi heo có tác dụng duy trì sự cân bằng hệ vi đường ruột, ngăn ngừa rối loạn tiêu hoá, tăng cường năng lực miễn dịch ruột, kích thích tăng trưởng, tăng hiệu quả chuyển hoá thức ăn nên các nghiên cứu về ảnh hưởng của probiotic trên heo luôn được quan tâm nghiên cứu thường xuyên

Vì những lí do trên, đề tài: “Ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm

men vi sinh Sub-Probi vào khẩu phần lên sự tăng trưởng của heo sau cai sữa (20-50 kg)” được thực hiện

Mục tiêu đề tài: Khảo sát hiệu quả của việc bổ sung chế phẩm Sub-Probi lên khả năng tăng trưởng, tỷ lệ tiêu chảy và hiệu quả sử dụng thức ăn của heo

ở giai đoạn 20-50 kg để từ đó có những khuyến cáo sử dụng chế phẩm này trong quy mô của trại và áp dụng rộng rãi trong các mô hình chăn nuôi, nhằm nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm mang lại hiệu quả kinh tế cao

Trang 12

2

Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Các giống heo ngoại được nuôi phổ biến ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)

2.1.1 Yorkshire

2.1.1.1 Nguồn gốc xuất xứ

Viện Chăn nuôi quốc gia và Phạm Sỹ Tiệp (2004) cho rằng heo Yorkshire xuất hiện vào thế kỉ 19 ở nước Anh và được công nhận giống năm

1851 Heo Yorkshire được nhập vào nước ta từ các nước khác nhau như Liên

Xô, Cuba, Nhật, Bỉ, Anh, Pháp, Mỹ… Giống heo Yorkshire hiện nay được nuôi hầu khắp các nước trên thế giới, bởi nó có khả năng thích nghi hơn so với các giống heo nhập nội khác

Heo Yorkshire được phân thành 3 nhóm: Đại bạch, trung bạch và tiểu bạch Hai nhóm trung bạch và tiểu bạch có năng suất kém và ngoại hình xấu nên không được ưa chuộng, còn đại bạch có năng suất cao, ngoại hình đẹp nên rất được ưa chuộng (Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân, 2000 và Võ Văn Ninh, 2001)

2.1.1.2 Ngoại hình

Theo Việt Chương và Nguyễn Việt Thái (2005) và Lê Thị Mến (2010) thì heo Yorkshire có vóc dáng cao to, dài đòn, lưng thẳng, bụng thon, bốn chân khỏe, đi trên ngón, cứng cáp Toàn thân heo lông màu trắng, trừ phần trán và gáy lông màu phớt vàng, đầu to, tai lớn và dựng đứng, mõm rộng và cuối mõm hơi cong lên (Hình 2.1)

Trang 13

so với nhóm giống heo ngoại nhập, heo Yorkshire cũng dễ nuôi, thích nghi tốt với các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng của nhà chăn nuôi ĐBSCL và miền Đông Nam Bộ (Võ Văn Ninh, 2001)

2.1.2 Landrace

2.1.2.1 Nguồn gốc

Heo có nguồn gốc từ Đan Mạch, một nước ở Bắc Âu, được nhà chăn nuôi khắp nơi ưa chuộng du nhập để làm giống nuôi thuần hoặc để lai tạo với heo bản xứ tạo dòng cho nạc (Võ Văn Ninh, 2001 và Trần Ngọc Phương và Lê Quang Minh, 2002)

2.1.2.2 Ngoại hình

Theo Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân (2000) và Lê Thị Mến (2010) thì đây là giống heo có sắc lông trắng (có thể có vài đốm lông đen hiện diện), tầm vóc lớn, đầu thon nhỏ, mõm dài nhỏ và thẳng; tai to dài che phủ hai mắt (các dòng Landrace cải tiến hiện nay thì tai tương đối nhỏ, hơi cụp, chỉ che phủ một phần con mắt); dài đòn, lưng thẳng, sườn tròn, bụng gọn, phần sau và đùi nở nang Bốn chân heo nhỏ, vì vậy cần chú ý khi tuyển chọn heo giống tránh chọn những heo yếu chân, đau chân khi sinh đẻ (Hình 2.2)

www.bib.ge

Hình 2.2: Heo Landrace

Trang 14

4

2.1.2.3 Mục tiêu sản xuất

Heo Landrace dùng để lai kinh tế với heo nội nâng tỷ lệ nạc ở con lai lên 45-48% Thường dùng đực giống Landrace trong các công thức lai (Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng, 2002)

2.1.2.4 Tính năng sản xuất

Heo nái, heo nọc sử dụng làm giống lúc 7-8 tháng tuổi, nặng trung bình khoảng 100-110 kg Lúc 2 năm tuổi, heo đực đạt 220-230 kg và heo nái nặng khoảng 180-200 kg Heo nái đẻ 10-11 con còn sống/lứa, nuôi con tốt Bầy heo con sinh ra đều đặn, mau lớn và sớm thành thục (động dục lúc 6 tháng tuổi) Heo Landrace nuôi thịt tăng trọng nhanh, 5-6 tháng tuổi đạt 100 kg, tỷ lệ thịt nạc chiếm 56-57%, chi phí thức ăn cho 1 kg tăng trọng là 2,9-3,5 kg và độ dày

mỡ lưng trung bình 20-25 mm (Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân, 2000)

2.1.3 Duroc

2.1.3.1 Nguồn gốc

Heo Duroc có màu lông hung đỏ toàn thân, xuất xứ từ Mỹ với cái tên Duroc-Jersey Heo được hình thành từ khoảng năm 1860 với sự tham gia của các giống heo nhập nội là heo đỏ Guinea, heo đỏ Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha Heo Duroc được nhập vào nước ta từ trước ngày đất nước thống nhất Năm

1976, heo Duroc được nuôi ở trường Đại học Nông nghiệp I Năm 1978, heo được nhập từ Cuba vào nuôi ở Viện Chăn nuôi (Nguyễn Thiện, 2008)

2.1.3.2 Ngoại hình

Theo Nguyễn Xuân Bình (2008) và Việt Chương và Nguyễn Việt Thái (2005) thì đây là giống heo có ngoại hình cân đối, ngắn đòn, bộ khung vững chắc, bốn chân khỏe mạnh, màu lông thay đổi từ nâu nhạt đến sậm, mõm thẳng và dài vừa, tai ngắn và hơi cụp ra phía trước (Hình 2.3)

www.bib.ge

Hình 2.3: Heo Duroc

Trang 15

5

2.1.3.3 Mục tiêu sản xuất

Heo đực giống Duroc được sử dụng là dòng đực cuối cùng trong công thức lai 3 giống ngoại Landrace, Yorkshire và Duroc Heo Duroc còn được dùng để phối với các giống heo khác tạo heo lai thương phẩm có 4 máu ngoại (Nguyễn Thanh Sơn và Nguyễn Quế Côi, 2006)

2.1.3.4 Tính năng sản xuất

Võ Văn Ninh (2001) cho rằng ở 6 tháng tuổi heo có thể đạt thể trọng từ

80 đến 85 kg, nọc nái trưởng thành từ 200 đến 250 kg Heo nái mỗi năm đẻ từ 1,8 đến 2 lứa Mỗi lứa trung bình khoảng 8 con Đây là giống heo có thành tích sinh sản kém hơn hai giống Yorkshire và Landrace Heo Duroc thường được nuôi thuần chủng ở một số trại lớn để làm quỹ gen lai 3 máu tạo con lai

có nhiều nạc Heo lai 3 máu Yorkshire x Landrace x Duroc thường được các nhà chăn nuôi Việt Nam ưa chuộng

2.1.4 Heo Pietrain

2.1.4.1 Nguồn gốc

Heo Pietrain xuất phát từ vùng Pietrain của Bỉ nên mang tên của vùng này, được Bỉ công nhận giống vào năm 1956 nhưng chưa phổ biến rộng rãi trên thế giới (Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân, 2000)

2.1.4.2 Ngoại hình

Theo Việt Chương và Nguyễn Việt Thái (2005) thì heo Pietrain có những đặc điểm như: Sắc lông nền màu trắng xám, có những đốm đen Đầu ngắn, trán rộng, tai ngắn nhưng rộng bản, chỉa ra phía trước Cổ ngắn, ngực nở, vai rộng, lưng thẳng, rộng ngang, hông rộng Đùi ngắn, nở nang, bụng thon, chân nhỏ, thấp nhưng cứng cáp (Hình 2.4)

galleryhip.com

Hình 2.4: Heo Pietrain

Trang 16

2.2 Heo lai thương phẩm

Còn gọi là heo lai kinh tế, đây là phương pháp cho giao phối giữa những con đực và con cái khác giống, hoặc khác dòng Con lai được nuôi để lấy thịt, trứng, sữa… không được sử dụng vào mục đích giống (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2004 và Đặng Vũ Bình, 2005)

Phạm Sỹ Tiệp (2004) cho rằng nuôi heo lai giữa các giống ngoại (lai 2 giống, lai 3 giống, lai 4 giống hay lai giữa 2 hoặc 3 hoặc 4 dòng heo với nhau) đều cho năng suất cao hơn so với nuôi thịt giống thuần chủng ở cùng một điều kiện nuôi dưỡng là nhờ ưu thế lai

2.2.1 Lai kinh tế đơn giản

Theo Văn Lệ Hằng (2006) thì đây là hình thức lai chỉ có 2 giống tham gia, thế hệ F1 đều dùng để nuôi thương phẩm không nuôi làm giống

2.2.2 Lai kinh tế phức tạp

Lai kinh tế 3 giống

Trong phép lai kinh tế 3 giống (Hình 2.5), do sử dụng mẹ lai (hoặc bố lai) nên con lai F1 C(AB) ngoài ưu thế lai cá thể còn có ưu thế lai của mẹ (hoặc bố) (Đặng Vũ Bình, 2005)

Trang 17

7

Hình 2.5: Sơ đồ lai 3 giống

Trường hợp heo lai kinh tế ngoại × ngoại 3 giống tham gia thì người chăn nuôi giữ lại và nuôi heo nái lai F1 (Landrace × Yorkshire) làm nền cho lai với đực giống Duroc để lấy con lai nuôi thịt Heo lai có 3 giống tham gia: Landrace, Yorkshire và Duroc, trong đó heo Duroc là đực giống kết thúc nên

tỷ lệ máu của các giống tham gia là Duroc-50%, Landrace-25% và 25% nuôi 5-6 tháng tuổi đạt 80-90 kg đạt tỷ lệ nạc cao nhất (57-58%) với tiêu tốn 2,5-2,8 kg thức ăn hỗn hợp cho 1 kg tăng trọng (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2004)

Yorkshire-Lai kinh tế 4 giống

Văn Lệ Hằng (2006) cho rằng trong lai kinh tế 4 giống, do cả bố và mẹ đều là con lai nên con lai F1 (CD)(AB) có được ưu thế lai cá thể, ưu thế lai của mẹ và ưu thế lai của bố (Hình 2.6)

Hình 2.6: Sơ đồ lai 4 giống

2.3 Hệ vinh vật đường ruột và ảnh hưởng của hệ vi sinh vật đến sức khỏe vật nuôi

Theo Vũ Duy Giảng (2012) thì trong đường ruột của heo có hàng trăm ngàn tỷ vi khuẩn, số lượng vi khuẩn lớn hơn 10 lần số lượng tế bào cơ thể

Trang 18

8

Vi khuẩn trong đường ruột đựợc xếp thành ba nhóm:

Nhóm 1 là nhóm vi khuẩn có ích chiếm tỷ lệ trên 90%, gồm phần lớn là

các giống vi khuẩn kỵ khí (Bifidobacteria, Lactobacilli, Bacteroides,

Eubacteria, Streptococci), sản sinh các acid hữu cơ, quan trọng nhất là acid

lactic

Nhóm 2 chiếm khoảng 1% và gồm chủ yếu là Enterococci và E.coli

Nhóm 3 chiếm tỷ lệ dưới 0,01% và gồm chủ yếu là những vi khuẩn gây

bệnh như Proteus, Staphylococci và Pseudomonas

Ở điều kiện sinh lý bình thường, ba nhóm vi khuẩn trên chung sống theo

tỷ lệ “hoà hoãn” là >90:1:0,01, thuật ngữ chuyên môn gọi tình trạng này

là “eubiosis” (tiếng Hy Lạp có nghĩa là sự chung sống có lợi giữa các vi khuẩn với nhau và với vật chủ) (Jans, 2005) Đối với gia súc non, cụ thể là heo con sau cai sữa thì cơ quan tiêu hóa phát triển chưa hoàn chỉnh nên khả năng tiêu hóa thức ăn do con người cung cấp còn nhiều hạn chế, thức ăn không được tiêu hóa hết trong đường tiêu hóa dễ bị ôi thiu tạo điều kiện cho vi sinh vật có

hại phát triển (Cù Thị Thúy Nga và ctv., 2013), hoặc do thức ăn không đảm

bảo vệ sinh, phương pháp cho ăn không hợp lí… đều có thể dẫn đến trạng thái cân bằng của hệ vi sinh vật ruột bị phá vỡ tạo nên trạng thái “dysbiosis” (trạng thái “chung sống có hại”) dẫn đến rối loạn tiêu hoá, suy giảm khả năng miễn dịch đường ruột, suy giảm sức kháng bệnh của cơ thể

2.4 Các chất hỗ trợ dinh dưỡng, chất phụ gia trong thức ăn (Feed additives)

Dương Thanh Liêm (2008) cho rằng các chất hỗ trợ dinh dưỡng (chất phụ gia trong thức ăn chăn nuôi) là những chất không nhất thiết phải có trong thức ăn Tuy nhiên, các chất hỗ trợ dinh dưỡng sẽ có tác dụng nâng cao năng suất tích lũy, hiệu quả sử dụng thức ăn của vật nuôi; tăng cường khả năng bảo

vệ thức ăn tránh sự oxit hóa, tránh nấm mốc hoặc vi khuẩn phát triển làm hư hại thức ăn, phòng ngừa bệnh tật cho gia súc gia cầm được tốt hơn khi người chăn nuôi bổ sung chúng vào thức ăn

Các chất hỗ trợ dinh dưỡng, chất phụ gia trong thức ăn bao gồm: kháng sinh, các acid hữu cơ, probiotic, prebiotic, các enzyme tiêu hóa, hormon… Tuy nhiên, hiện nay có một số chất như kháng sinh đã bị cấm sử dụng trong thức ăn chăn nuôi ở nhiều quốc gia do sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh, gây bất lợi cho vật nuôi, môi trường và đời sống con người (tồn dư kháng sinh trong sản phẩm động vật) Vì vậy, việc sử dụng các chế phẩm sinh học vừa mang lại hiệu quả kinh tế vừa an toàn cho con người, vật nuôi và môi

Trang 19

và động vật để giảm đến mức tổi thiểu sự phát tán của vi sinh vật đường ruột,

sự kháng lại liệu pháp sinh học và sự di căn của chứng viêm dạ dày ruột

Năm 1992, Havenaar đã mở rộng định nghĩa về probiotic: Probiotic được định nghĩa như là sự nuôi cấy riêng lẻ hay hỗn hợp các vi sinh vật sống mà có ảnh hưởng có lợi cho sinh vật chủ bằng cách cải thiện những đặc tính của vi sinh vật bản địa

Theo tổ chức y tế thế giới FAO/WHO thì probiotics là các vi sinh vật sống khi được đưa một lượng cần thiết vào cơ thể sẽ đem lại hiệu quả có lợi cho cơ thể (Wikipedia, 2014)

Probiotic là thức ăn bổ sung các vi sinh vật có ích còn sống, những sinh vật này có ảnh hưởng có lợi cho con vật chủ do cải thiện được trạng thái cân bằng của vi sinh trong đường ruột (Fuller, 1989 và Fefana, 2005)

Probiotic được hiểu một cách đơn giản là những vi sinh vật sống hữu dụng được đưa trực tiếp vào thức ăn Các vi sinh vật này vào đường tiêu hóa chúng không bị giết chết bởi môi trường đường ruột vật chủ, trái lại chúng có khả năng sinh sôi nảy nở và ức chế vi sinh vật có hại trong đường ruột để bảo

vệ tốt cho hệ tiêu hóa vật chủ (Dương Thanh Liêm, 2008)

Probiotic là những vi khuẩn sống, khi vào đường tiêu hoá của động vật, những vi khuẩn này có khả năng hạn chế tối đa ảnh hưởng có hại của các vi

khuẩn gây bệnh (Lê Đức Ngoan và ctv., 2004)

2.5.2 Vai trò của probiotic

Theo Trần Thị Dân (2004) và Dương Thanh Liêm (2008) thì probiotic được dùng để cạnh tranh và kháng lại sự định vị của vi khuẩn có hại ở đường tiêu hóa Những vi sinh vật này tiêu thụ O2 làm cho không còn O2 thừa để vi khuẩn có hại phát triển, sinh sản và chúng có tác dụng phòng trừ bệnh tiêu

Trang 20

Probiotic có tác dụng sản xuất các acid hữu cơ, enzyme tiêu hóa, tổng hợp các vitamin nhóm B và sản xuất một số kháng sinh có tác dụng diệt khuẩn gây bệnh như lactacin B Điều này được lý giải là do chế phẩm probiotic khi vào đường ruột làm ức chế vi sinh vật có hại, tạo điều kiện vi sinh vật có lợi ở đường ruột phát triển làm hạn chế bệnh tiêu chảy Probiotic làm giảm pH đường ruột, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tiêu hóa protein và đường lactose ở heo con, tăng quá trình hấp thu các chất dinh dưỡng (Cù Thị Thúy

Nga và ctv., 2013)

Probiotic ngăn chặn vi khuẩn gây bệnh sử dụng chất dinh dưỡng để sản sinh chất độc, chúng kích thích đường tiêu hoá sản sinh enzyme, nâng cao khả năng tiêu hoá thức ăn Probiotic có tác dụng kích thích đáp ứng miễn dịch, tăng khả năng chống bệnh của con vật Bổ sung probiotic trong thức ăn có tác

dụng làm con vật khoẻ mạnh, tăng khả năng tăng trưởng (Lê Đức Ngoan và

ctv., 2004)

Jans (2005) cho rằng hệ vi sinh vật đường tiêu hóa ở động vật nhai lại và động vật dạ dày đơn chỉ có thể ổn định bằng cách bổ sung liên tục probiotic vào thức ăn vì các vi sinh vật được sử dụng trong dinh dưỡng động vật ít định

cư ở ruột

2.5.3 Cơ chế tác động của probiotic

Các nghiên cứu mới nhất cho thấy vi khuẩn probiotic có chức năng kháng khuẩn, chức năng hàng rào; chức năng điều tiết phản ứng miễn dịch và cũng là tác nhân có tính chất chống dị ứng Các chức năng này không chỉ thông qua bản thân vi khuẩn mà còn thông qua DNA, chất tiết và thành phần của vách tế bào vi khuẩn probiotic (Michail, 2005)

Chức năng hàng rào thể hiện ở chỗ probiotic kích thích sự gắn kết chặt

chẽ với tế bào biểu mô ruột, giảm các chất tiết gây viêm của vi khuẩn gây bệnh, tăng sản sinh các phân tử bảo vệ tế bào như mucin và tăng sự sản sinh enzyme của diềm bàn chải ở biểu mô ruột

Trang 21

11

Chức năng điều tiết phản ứng miễn dịch thể hiện ở chỗ probiotic làm

giảm sản sinh các chất gây viêm, kích thích đáp ứng sinh kháng thể từ các tế bào trách nhiệm miễn dịch ở ruột để ngăn ngừa bệnh và ngăn ngừa dị ứng

Chức năng kháng khuẩn thực hiện theo các cơ chế:

- Làm thay đổi hệ vi sinh đường ruột, giảm vi khuẩn gây bệnh

- Sản sinh các chất kháng khuẩn như acid béo mạch ngắn, acid lactic, bacteriocin, hydrogen peroxide, pyroglutamate… có tác dụng ức chế sự tăng trưởng của cả vi khuẩn Gram âm và dương

- Tranh giành vị trí bám dính vào niêm ruột với vi khuẩn gây bệnh hoặc phong toả các thụ thể (receptor) của niêm mạc ruột, nhờ vậy ngăn chặn vi khuẩn gây bệnh xâm lấn vào bên trong tế bào

- Tranh giành chất dinh dưỡng với vi khuẩn gây bệnh Ví dụ, vi khuẩn

probiotic có thể tiêu thụ các đường đơn làm giảm tăng trưởng của Clostridium

difficile, một loài vi khuẩn tăng trưởng phụ thuộc vào loại đường này (Vũ Duy

Giảng, 2012)

Cơ chế tác động của probiotic được thể hiện qua Hình 2.7

Hình 2.7: Sơ đồ minh họa cơ chế tác động của probiotic lên hệ vi sinh vật

(1) Cạnh tranh các chất dinh dưỡng với các vi khuẩn gây bệnh

(2) Sự biến đổi sinh học, ví dụ đường thành các sản phẩm lên men với các đặc tính ức chế vi khuẩn có hại

(3) Sản sinh các chất khác như EPS, vitamin hoặc các loại vi khuẩn khác

(4) Đối kháng trực tiếp với các vi khuẩn có hại

(5) Ngăn chặn sự xâm nhập của vi khuẩn có hại

(6) Probiotic như một hàng rào bảo vệ

(7) Giảm viêm

(8) Tăng cường sự miễn dịch

IEC: tế bào biểu mô

DC: tế bào đuôi gai

T: T-tế bào

Trang 22

12

2.5.4 Một số chủng vi sinh vật dùng phổ biến trong probiotic

Vũ Duy Giảng (2012) cho rằng những vi sinh vật probiotic sử dụng trong

thức ăn chăn nuôi bao gồm vi khuẩn lactic, bào tử Bacillus và nấm men

2.5.4.1 Vi khuẩn lactic

Vi khuẩn này chiếm vị trí quan trọng trong nhóm vi khuẩn đường tiêu hoá của người và động vật, chúng có khả năng lên men một số carbohydrate sinh acid lactic Vi khuẩn lactic quan trọng trong probiotic thuộc

giống Lactobacillus, Pediococcus, Bifidobacterium và Enterococcus

Enterococcus faecium (trước đây gọi là Streptococcus faecium) là loài quan

trọng nhất được sử dụng trong dinh dưỡng động vật Các nhóm vi khuẩn này sản xuất acid lactic cùng với các chất có tính kháng khuẩn và tạo ra màng mucopolysaccharide có tác dụng bảo vệ biểu mô niêm mạc ruột

Vi khuẩn Pediococcus acidilactici

Theo Lindner (1887) thì Pediococcus acidilactici (Hình 2.6) thuộc bộ

Lactobacillales, họ Lactobacillaceae, giống Pediococcus, đây là vi khuẩn gram dương, yếm khí tùy ý, phát triển tốt trên MRS (deMann, Rogosa, Sharpe) thạch có pH tối ưu là 6,2; nhiệt độ 370C và 450C, đôi khi có khả năng tồn tại ở nhiệt độ cao, lên đến 650C

www.bionews-tx.com Hình 2.8: Vi khuẩn Pediococcus acidilactici

Pediococcus acidilactici được xem như là một men vi sinh tiêu hóa tiềm

năng, đầy hứa hẹn trong lĩnh vực chăn nuôi, có khả năng thích nghi và phát

triển tốt trong toàn bộ hệ thống đường ruột của động vật nuôi, tạo môi trường acid lactic trong đường ruột, từ đó tạo môi trường bất lợi làm ức chế sự phát triển của vi khuẩn có hại và tiêu diệt chúng

Pediococcus acidilactici kích thích hoạt động của các enzyme tiêu hoá,

do đó động vật sẽ hấp thu các dưỡng chất tốt hơn

Trang 23

13

Pediococcus acidilactici có một loạt các lợi ích tiềm năng vẫn còn đang

được nghiên cứu Mặc dù nó đang được sử dụng như bổ sung probiotic trong điều trị táo bón, tiêu chảy, làm giảm stress, tăng cường đáp ứng miễn dịch ở

các loài vật nuôi, ngoài ra Pediococcus acidilactici cũng được biết là ức chế sự phát triển của các tác nhân gây bệnh đường ruột như vi khuẩn

Shigella , Salmonella, Clostridium difficile và Escherichia coli

(menvisinh.org)

2.5.4.2 Bào tử Bacillus

Trong các sản phẩm probiotic, vi khuẩn Bacillus ở dạng bào tử, khi bào

tử đi vào đường tiêu hoá cùng với thức ăn, chúng nảy mầm trong đường tiêu hóa và phát triển như tế bào thực vật nhưng không sinh sôi nảy nở ở mức độ lớn hơn Sự chuyển hóa tăng lên đáng kể trong bào tử đang nảy mầm Các chất chuyển hoá trung gian trong quá trình nảy mầm phóng thích vào môi trường ruột và gây ảnh hưởng xấu cho sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh

Bào tử Bacillus cũng có khả năng kích thích hệ miễn dịch đường ruột Bào tử

probiotic phải được nảy mầm ở phần trên của ruột để thể hiện tất cả các hoạt tính của chúng (Jans, 2005)

Vi khuẩn Bacillus subtilis (Hình 2.9), còn được gọi là trực khuẩn cỏ khô

hoặc trực khuẩn cỏ, là một loại vi khuẩn Gram dương, catalase dương tính

Thuộc chi Bacillus, loài Bacillus subtilis là trực khuẩn hình que, có khả năng

tạo bào tử, có khả năng chịu đựng các điều kiện môi trường khắc nghiệt

www.indiamart.com

Hình 2.9: Vi khuẩn Bacillus subtilis

Mặc dù Bacillus subtilis thường được tìm thấy trong đất, tuy nhiên nhiều bằng chứng cho thấy Bacillus subtilis cũng tồn tại trong ruột người, động vật

Nghiên cứu gần đây so sánh số lượng bào tử được thực hiện bởi đất (~ 106 bào tử/g) so với mức được tìm thấy trong phân người (~ 104 bào tử/g)

Vi khuẩn Bacillus subtilis và các chất chiết xuất từ vi sinh vật này được

Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA), Cơ quan An toàn

Trang 24

14

thực phẩm châu Âu (EFSA) đánh giá là an toàn khi sử dụng bổ sung vào thực phẩm và mang lại lợi ích kinh tế cao (menvisinh.org)

2.5.4.3 Nấm men

Nấm men sử dụng trong dinh dưỡng động vật chủ yếu là các chủng

(dòng) của loài: Saccharomyces cerevisiae (Hình 2.8) Tế bào nấm men Saccharomyces cerevisiae có dạng hình cầu hay hình trứng, có kích thuớc

nhỏ, từ 5-6 đến 10-14 µm, sinh sản bằng cách tạo chồi và tạo bào tử (Wikipedia, 2014)

newswatch.nationalgeographic.com

Hình 2.10: Nấm men Saccharomyces cerevisiae

Một số chủng của Saccharomyces cerevisiae có vai trò probiotic thông

qua cơ chế sau đây:

- Trung hoà độc tố của vi khuẩn gây bệnh

- Kích thích sự phát triển của vi khuẩn lactic

- Bám dính vào vi khuẩn có tiêm mao do sự hiện diện của các thụ thể đường mannose và làm cho vi khuẩn gây bệnh bị bất hoạt, rồi bài thải ra ngoài theo phân

- Điều chỉnh hệ thống miễn dịch của cơ thể thông qua cơ chế kích thích đáp ứng của IgA đối với các tác nhân gây bệnh

- Củng cố tính toàn vẹn của tế bào niêm mạc ruột và tế bào ruột, làm tăng chiều cao vi lông nhung (villi) và độ sâu mào ruột (crypt), nâng cao khả năng tiêu hoá hấp thu thức ăn (Vũ Duy Giảng, 2012)

2.5.5 Ứng dụng của probiotic trong chăn nuôi

Bùi Thị Nguyên (2014) cho rằng việc sử dụng probiotic cho vật nuôi đang được đánh giá cao Probiotic giúp cải thiện sức khỏe của động vật, giúp tăng trọng, giảm tỷ lệ chết non và ngăn chặn tác nhân gây bệnh, tránh sự lạm

Trang 25

15

dụng kháng sinh trong ngành chăn nuôi Thực tế thì probiotic cần thiết được

bổ sung vào thức ăn chăn nuôi do những lý do sau:

- Tăng tỷ lệ tiêu hóa thức ăn, giảm bệnh tiêu chảy và những xáo trộn tiêu hóa khác

- Tăng sản lượng trứng, sữa và kích thích sự thèm ăn

- Tăng trọng nhanh

- Giảm mùi hôi chuồng nuôi

- Giảm bệnh đường ruột gây ra bởi các sinh vật như E.coli, Salmonella

và Clostridium

- Phòng bệnh sưng phù đầu cho heo

Trong sản xuất thức ăn chăn nuôi an toàn và hiện đại, việc bổ sung probiotic vào thức ăn chăn nuôi là việc làm cần thiết Probiotic có mặt trong các sản phẩm mà chúng ta đã biết như men tiêu hoá, men vi sinh

2.5.6 Tình hình sử dụng probiotic tại Việt Nam

2.5.6.1 Một số sản phẩm đã được sử dụng trong chăn nuôi

Chế phẩm probiotic Pro TM Swine dùng trong chăn nuôi heo

Các nhà khoa học thuộc Viện Chăn nuôi đã nghiên cứu sản xuất thành công chế phẩm probiotic đa chủng ProTMswine dùng trong chăn nuôi heo Chế phẩm ProTMSwine có thành phần chính gồm các vi sinh vật hữu ích

(Lactobacillus acidophyllus 108 Cfu/g, Lactobacillus fermentum 108 Cfu/g,

Bacillus subtilis 108 Cfu/g, Saccharomyces boulardii 108 Cfu/g), chất mang là cám gạo sấy vừa đủ và nước (đảm bảo độ ẩm tối đa 13%) Chế phẩm được sử dụng cho heo từ sau cai sữa đến khi xuất chuồng, có tác dụng giúp khôi phục,

ổn định cân bằng hệ vi sinh vật đường tiêu hóa, tăng sản xuất enzyme, tăng tỷ

lệ tiêu hóa thức ăn, giảm tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy, tăng sức đề kháng với bệnh đường ruột, tăng tốc độ tăng trưởng, giảm tiêu tốn thức ăn Chế phẩm probiotic ProTMSwine đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là tiến bộ kỹ thuật và đưa vào áp dụng từ tháng 02/2014 (Khoa học Công nghệ Việt Nam, 2014)

Trang 26

16

Hình 2.11: Chế phẩm ProTMSwine

Sản phẩm Vime-Bacilac

Là sản phẩm men vi sinh cao cấp của Công ty Vemedim (Hình 2.12) với

thành thành phần gồm các loại vi khuẩn: Bacillus subtilis, Lactobacillus spp,

Phòng chống tiêu chảy, viêm đại tràng còi cọc trên heo con

Giữ cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột, chống rối loạn tiêu hóa sau khi dùng kháng sinh

Kích thích thèm ăn, cải thiện chức năng tiêu hóa và hấp thụ thức ăn, giúp heo, gà, vịt, ngan tăng trưởng nhanh, mau lớn

Cách dùng: Cho ăn liên tục trong quá trình nuôi

Trang 27

Hình 2.13: Sản phẩm Vime-Subtyl

Công dụng:

Tăng lượng vi khuẩn có lợi đường ruột giúp:

- Phòng trị bệnh tiêu chảy, rối loạn tiêu hóa sau khi dùng kháng sinh

- Kích thích tiêu hóa, tăng hấp thu dưỡng chất giúp gia cầm mau lớn, đẻ nhiều

- Tăng cường sức đề kháng, chống stress, giảm tỷ lệ mắc bệnh

Cách dùng: Pha nước uống hoặc trộn với thức ăn theo tỷ lệ tùy theo độ

tuổi và loại vật nuôi

Bảo quản: Nơi khô mát, tránh ánh sáng chiếu trực tiếp

2.5.6.2 Một số nghiên cứu về hiệu quả sử dụng các chế phẩm

Một thí nghiệm được thực hiện trên 100 heo con theo mẹ mắc bệnh tiêu chảy phân trắng tại Trại Sóc Sơn Thí nghiệm được chia thành 2 lô (lô thí nghiệm và lô đối chứng), mỗi lô 50 heo Heo được nuôi với khẩu phần bổ sung chế phẩm EM cải tiến (liều 5 ml/con/ngày hòa vào thức ăn, nước uống đối với lô thí nghiệm và khẩu phần đối chứng (không bổ sung chế phẩm) đối với lô đối chứng đã thu được kết quả ở Bảng 2.2:

Trang 28

18

Bảng 2.1: Kết quả bổ sung chế phẩm EM cải tiến phòng trị bệnh đường ruột do vi khuẩn gây ra đối với heo con theo mẹ

Phân lô Kết quả thí nghiệm (tỷ lệ phầm trăm heo khỏi bệnh)

Sau 5 ngày Sau 10 ngày Sau 15 ngày Khi tách mẹ

Một thí nghiệm khác được thực hiện trên đàn heo lai (Duroc x (Yorkshire x Landrace) sau cai sữa với các khẩu phần bổ sung probiotic, bổ sung kháng sinh so với khẩu phần đối chứng (không bổ sung kháng sinh lẫn probiotic) cho kết quả ở Bảng 2.3

Bảng 2.2: Kết quả bổ sung probiotic cho heo con sau cai sữa (thí nghiệm trên heo lai

D x YL từ ngày tuổi 28 đến 56 ngày)

Đối chứng Kháng sinh* Probiotic**

12,5 12,5

25,0 0,0 Chi phí điều trị tiêu chảy

(đồng/heo/ngày)

75.306 (100) 49.642 (65,9) 41.155 (54,6)

(Đặng Minh Phước và ctv., 2010)

* Chế phẩm kháng sinh chứa 10% avilamycin, bổ sung vào thức ăn với liều 200 g/tấn

** Chế phẩm probiotic gồm Bacillus subtillis, Lactobacillus spp., S cerevisiae với số lượng

10 10 CFU/g cho mỗi loại, bổ sung vào thức ăn với liều 200-300g/tấn

Trang 29

2.6.1.2 Cám gạo

Cám gạo là phụ phẩm quan trọng nhất của thóc lúa, là nguồn thức ăn quan trọng trong chăn nuôi heo, cũng là nguồn nguyên liệu thường dùng để chế biến thức ăn tổng hợp (Hội Chăn nuôi Việt Nam, 2004) Lượng cám thu được bình quân là 10% khối lượng lúa Cám gạo bao gồm một số thành phần chính như vỏ cám, hạt phôi gạo, trấu và một ít tấm Chất lượng của cám thay đổi tùy thuộc vào hàm lượng trấu trong cám Nhiều trấu sẽ làm tăng hàm lượng chất xơ thô và silic, giảm nồng độ năng lượng của thức ăn, giảm tỷ lệ tiêu hóa Tùy theo lượng trấu còn ít hay nhiều mà cám được phân thành loại 1

hay loại 2 (Lê Đức Ngoan và ctv., 2004)

2.6.2 Thức ăn bổ sung protein

2.6.2.1 Bột cá

Bột cá là thức ăn động vật có chất lượng dinh dưỡng cao nhất, được chế biến từ cá tươi hoặc từ phế phẩm của công nghiệp chế biến từ cá hộp Trong protein bột cá có đầy đủ các acid amin không thay thế với hàm lượng cao: lisine 7,5%, metionine 3%, isoleucine 4,75% Bột cá chế biến từ đầu, vây, ruột hoặc từ cá ướp muối có giá trị dinh dưỡng thấp hơn bột cá chế biến từ cá nhạt nguyên con Protein trong bột cá sản xuất ở Việt Nam biến động từ 31-60%, canxi 5,5-8,7%, photpho 3,5-4,8% Các chất hữu cơ có trong bột cá được heo

và gia cầm tiêu hóa và hấp thu với tỷ lệ cao (85-90%) Do giá thành sản xuất bột cá cao, nên thường chỉ dùng với số lượng rất ít trong khẩu phần, chủ yếu dành cho gà công nghiệp, heo sinh sản và heo thịt có tỷ lệ nạc cao (Trần Ngọc Phương và Lê Quang Minh, 2002)

Trang 30

20

2.6.2.2 Bánh dầu nành

Theo Lê Đức Ngoan và ctv (2004) thì bánh dầu nành là phụ phẩm của

quá trình chế biến dầu từ hạt đậu nành Hàm lượng dầu còn lại khoảng 10g/kg Bánh dầu nành là một nguồn protein thực vật có giá trị dinh dưỡng tốt nhất trong các loại bánh dầu Thành phần acid amin gần giống với protein sữa và dùng để thay thế một phần protein động vật trong khẩu phần vật nuôi Trong bánh dầu nành chỉ tồn tại một lượng nhỏ khoáng và nhiều vitamin, trừ vit B12 Cũng giống như bột đậu nành, bánh dầu nành có hàm lượng protein cao, chiếm khoảng 42-45% theo vật chất khô Protein của bánh dầu nành cũng chứa hầu hết các acid amin thiết yếu, nhưng nghèo acid amin chứa lưu huỳnh như cystine và methionine Methionine là yếu tố hạn chế thứ nhất ở các khẩu phần có giá trị năng lượng cao Giá trị dinh dưỡng và các yếu tố hạn chế trong bánh dầu nành gần giống với hạt đậu nành

2.6.3 Thức ăn bổ sung khoáng

2.6.3.1 Muối ăn

Theo Nguyễn Thị Hồng Nhân (2010) thì 1 kg muối ăn thương phẩm trung bình có 380-390 g Na và 585-602 g Cl Ở nước ta khuyến cáo dùng muối cục nghiền, vì ngoài NaCl muối chưa tinh thể còn chứa một số khoáng đại lượng và vi lượng khác như K, Ca, Mg…

Muối ăn là nguồn chủ yếu cung cấp Na và Cl nhưng không nên trộn muối

ăn vào khẩu phần nếu dùng bột cá mặn (Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân,

b) Bột xương

Nguyễn Thị Hồng Nhân (2010) cho rằng bột xương được sản xuất từ phụ phẩm chế biến thịt, đặc biệt là ở các phần xương làm giò, chả, xúc xích Thành phẩm có màu hơi xám độ mịn lọt qua sàng 0,4 mm

Trong 1 kg bột xương với 6% độ ẩm chứa 326 g Ca và 152 g P, có giá trị năng lượng tương đương với 0,25 đơn vị thức ăn, nên được xem như là một thực liệu quý bổ sung Ca và P cho heo và gia cầm

Trang 31

21

2.6.4 Đặc điểm về nhu cầu dinh dưỡng của heo ở giai đoạn 20-50 kg

Võ Văn Ninh (2001) cho rằng đây là thời kì cơ thể phát triển khung xương, hệ cơ, hệ thần kinh, do đó con thú cần nhiều protein, khoáng chất, sinh

tố để phát triển bề dài (dài thân) và bề cao Thiếu dưỡng chất cần thiết trong giai đoạn này sẽ làm cho khung xương kém phát triển, hệ cơ vì thế cũng không phát triển, heo trở nên ngắn đòn, ít thịt vì bắp cơ nhỏ, sự tích lũy mỡ ở giai đoạn sau nhiều hơn Trái lại nếu dư thừa dưỡng chất sẽ làm tăng chi phí,

dư protein sẽ bị đào thải ở dạng urê, heo dễ bị viêm khớp, tích lũy mỡ sớm

Dư khoáng chất nhất là Ca-P gây hậu quả xấu cho sự cốt tạo xương, một số khoáng vi lượng dư thừa sẽ trở nên độc Nhu cầu dinh dưỡng hằng ngày của heo được thể hiện ở Bảng 2.1

Bảng 2.3 Nhu cầu dinh dưỡng hằng ngày của heo thịt giai đoạn 20-50 kg

Chỉ tiêu

Lượng DE trong khẩu phần (Kcal/kg)

Lượng ME trong khẩu phần (Kcal/kg)

DE ăn vào ước tính (Kcal/ngày)

ME ăn vào ước tính (Kcal/ngày)

Thức ăn ăn vào ước tính (g/ngày)

- Dịch tả heo với liều 1 ml tiêm dưới da cho heo con theo mẹ từ 20 ngày tuổi trở lên

- Heo đóng dấu VR2 cho heo từ 2 tháng tuổi trở lên với liều cho heo nhỏ 0,5 ml, heo lớn 1 ml tiêm dưới da

- Heo đóng dấu keo phèn cho heo từ 2 tháng tuổi trở lên với liều cho heo nhỏ 2 ml, heo lớn 3 ml tiêm dưới da

- Phó thương hàn cho heo con 20 ngày tuổi, nhắc lại sau 7-9 ngày tiêm dưới da

- Tụ huyết trùng với liều cho heo nhỏ 3 ml, heo lớn 5 ml tiêm dưới da Riêng heo nái chửa và heo con dưới 20 ngày tuổi các loại vaccine chỉ tiêm vào vùng có dịch xảy ra (ổ dịch)

Trang 32

22

2.7.2 Vệ sinh thức ăn, nước uống

Heo phàm ăn và ăn nhiều, nên việc lựa chọn thức ăn cần được chú ý Thức ăn bị chua có mùi hoặc bị nấm mốc… làm heo ăn dễ bị bệnh đường tiêu hóa, thậm chí còn bị ngộ độc nhất là đối với heo có chửa và heo con Vì vậy cần kiên quyết loại bỏ những loại thức ăn kém phẩm chất, thức ăn có mùi và thức ăn bị nghi có nấm mốc và độc tố (Trần Ngọc Phương và Lê Quang Minh, 2002) Ngoài ra kho chứa thức ăn phải thông thoáng; nhiệt độ, ẩm độ thích hợp Các thiết bị chứa thức ăn phải định kì sát trùng tẩy uế tránh tình trạng tích đọng thức ăn cũ hư mốc, giòi bọ phát triển Máy trộn thức ăn cũng phải vét sạch thức ăn cũ trước khi trộn những mẻ mới (Võ Văn Ninh, 2001)

2.7.3 Vệ sinh chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi

Nguyễn Thanh Sơn và Nguyễn Quế Côi (2005) cho rằng nên có khu vực nuôi và chuồng phù hợp với các loại heo và độ tuổi khác nhau Thường xuyên quét dọn, định kỳ tẩy uế, khử trùng chuồng nuôi, cọ rửa và tiêu độc máng ăn, máng uống và các dụng cụ chăn nuôi như cuốc, xẻng, ủng, quần áo bảo hộ, Sau mỗi đợt nuôi, phải vệ sinh chuồng trại và khử trùng tiêu độc, sau đó để trống chuồng khoảng 3-5 ngày trước khi nuôi lứa mới Phân, rác thải phải được thu gom thường xuyên và chuyển đến nơi tập trung riêng

Cần khai thông cống rãnh quanh chuồng cho thoát nước tốt, tránh ứ đọng tạo môi trường cho muỗi phát triển, nên phát quang tránh để cỏ lau um tùm làm nơi trú ẩn của rắn rết, bọ cạp…chúng tấn công và có thể gây chết cấp tính cho heo nuôi (Võ Văn Ninh, 2001)

Có rất nhiều loại thuốc sát trùng để sát trùng chuồng trại nhưng đến nay

có những chất cổ điển đã qua sử dụng nhiều năm nhưng vẫn chưa giảm sút tác dụng diệt khuẩn, rẻ tiền như: nước javel, sút (NaOH), vôi bột (CaO), nước sữa vôi (Ca(OH)2) 10-20%

Trang 33

23

Chương 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 3.1 Phương tiện thí nghiệm

3.1.1 Thời gian và địa điểm

Thí nghiệm được tiến hành từ 07/2014 đến 11/2014 tại Trại Chăn nuôi Công ty Vemedim thuộc ấp Thới Hòa C, xã Thới Thạnh, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ Khí hậu Cần Thơ mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, có tính chất cận xích đạo và thể hiện rõ ảnh hưởng của hệ thống hoàn lưu Tây Nam từ Ấn Ðộ Dương tới

Huyện Thới Lai (Hình 3.1) là huyện ngoại thành nằm về phía Tây của thành phố Cần Thơ Địa giới hành chính của huyện Thới Lai là phía Đông giáp huyện Phong Điền, quận Ô Môn; phía Tây giáp huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ và tỷnh Kiên Giang; phía Nam giáp huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, tỷnh Hậu Giang và tỷnh Kiên Giang; phía Bắc giáp huyện Cờ Đỏ, quận Ô Môn Huyện Thới Lai là vùng đất có nhiều tiềm năng, lợi thế về phát triển sản xuất nông nghiệp với 23.279,04 ha đất sản xuất hàng năm, trong đó tập trung nhiều nhất là trồng lúa là 20.345,16 ha

Hình 3.1: Bản đồ Huyện Thới Lai

Theo Phòng Thống kê huyện Thới Lai: Nhiệt độ trung bình năm của huyện Thới Lai là 270C, nhiệt độ cao nhất trung bình năm là 35,20C, nhiệt độ thấp nhất trung bình năm là 18,60C Tổng số giờ nắng trung bình năm đạt 2.551,3 giờ Ðộ ẩm trung bình năm khoảng 82% Lượng mưa bình quân hàng năm là 1.247,7 mm

Địa điểm thí nghiệm

Trang 34

24

Thủy văn: Mùa lũ kéo dài từ tháng 7 đến tháng 12, đỉnh điểm là vào tháng 9, tháng 10 Tại Cần Thơ, lưu lượng cực đại đạt mức 40.000 m3 Mùa cạn từ tháng 1 đến tháng 6, thấp nhất là vào tháng 3 và tháng 4 Lưu lượng nước trên sông tại Cần Thơ chỉ còn 2.000 m3 với mực nước biển

Công ty Chăn nuôi Vemedim cách quốc lộ 91 khoảng 1 km với diện tích

sử dụng là 33.139,3 m2 Trại chia thành 4 khu vực nuôi với các loại vật nuôi như đà điểu, bò, gà, heo… kho thức ăn, nhà để xe, nhà công nhân, kho dụng

cụ, bể nước, khu xử lý phân (Hình 3.2)

Hình 3.2: Sơ đồ quy hoạch Công ty chăn nuôi Vemedim

Trang 35

25

Mục tiêu sản xuất của trại:

Chăn nuôi các loại động vật phục vụ thử nghiệm sản phẩm theo yêu cầu Tạo được mô hình sản xuất có kỹ thuật cao, có thể áp dụng cho các tỷnh ĐBSCL giúp tăng thu nhập và làm giàu ổn định

Cung cấp giống vật nuôi chất lượng cao cho khu vực gồm: Giống heo, giống gà thịt địa phương chất lượng cao như gà ta, gà tàu vàng, gà nòi

Liên kết với các viện, trường, các công ty chăn nuôi gia súc gia cầm, thủy sản trong và ngoài tỷnh để sưu tập và phát triển các giống vật nuôi có triển vọng như dê, cừu, thỏ, cá sấu, đà điểu

Sản xuất và kinh doanh các loại giống gia súc, gia cầm, thủy sản

Sản xuất và kinh doanh các loại thức ăn gia súc, dụng cụ chăn nuôi và thuốc thú y

Chẩn đoán xét nghiệm bệnh gia súc, gia cầm, thủy sản

3.1.2 Chuồng trại thí nghiệm

3.1.2.1 Tổng quan về Trại heo hở

Trại chăn nuôi được xây dựng theo hướng Đông Bắc-Tây Nam với kiểu chuồng hở hoàn toàn hai mái đơn, lợp bằng tôn, nền xi măng Xung quanh trại

có thảm thực vật màu mỡ như trồng cỏ voi, cây ăn quả… (Hình 3.3) Theo Võ Văn Ninh (2001) thì trục dọc dãy chuồng chạy theo hướng Đông Bắc-Tây Nam sẽ tránh được gió lạnh Đông Bắc thổi vào chuồng, tránh được mưa và gió Tây Nam Hai đầu hồi (2 tường chắn đầu dãy) của chuồng sẽ hướng về Đông Bắc và Tây Nam sẽ ngăn cản các luồng gió, luồng mưa và các tia nắng gay gắt bất lợi

Hình 3.3: Tổng thể của trại heo

3.1.2.2 Chuồng nuôi heo thịt

Chuồng heo thịt được xây dựng với kích thước của mỗi ô chuồng là 2,5

m x 5,5 m Mỗi ô chuồng có một máng ăn cố định và một núm uống tự động

Trang 36

26

Lối đi ở giữa 2 dãy chuồng rộng 1,4 m nên thuận lợi cho việc vận chuyển thức

ăn, cho heo ăn… (Hình 3.4)

Hình 3.4: Dãy chuồng nuôi heo thí nghiệm

3.1.3 Đối tượng thí nghiệm

Đối tượng thí nghiệm là heo sau cai sữa thuộc giống heo lai ngoại Duroc

x (Yorkshire x Landrace) Tổng số heo tiến hành thí nghiệm là 60 con Heo có khối lượng bình quân đầu kỳ 20±1,5 kg

3.1.4 Dụng cụ thí nghiệm

3.1.4.1 Tại trại chăn nuôi

Dụng cụ được sử dụng trong thí nghiệm gồm có

- Cân điện tử 1000 kg dùng để cân heo thí nghiệm vào các thời điểm là đầu kỳ, giữa kỳ và cuối kỳ

- Cân đồng hồ 120 kg, độ chính xác 200 g để cân thức ăn

- Cân điện tử 2 kg để cân men vi sinh

- Máy ảnh, sổ ghi chép,…

3.1.4.2 Tại phòng thí nghiệm

Sử dụng các dụng cụ và hóa chất cần thiết dùng trong phân tích thành phần hóa học của thức ăn tại Phòng thí nghiệm Chăn nuôi chuyên khoa, Bộ môn Chăn nuôi Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng Đại học Cần Thơ Trang thiết bị gồm máy nghiền mẫu, tủ đông, tủ hút, tủ lạnh, lò nung, tủ sấy, bộ chưng cất đạm (Kjeldahl), bộ phân tích béo…

Dụng cụ gồm có bình định mức thể tích 50 ml, 100 ml, 250 ml, 1000 ml Bình tam giác 250 ml, bình kjeldahl 50 ml, beaker các loại có thể tích 50 ml,

100 ml, 200 ml, 500 ml, ống đong 5 ml, 10 ml, 25 ml, 50 ml và bình hút ẩm

Trang 37

27

Hóa chất gồm có cồn tuyệt đối, H2SO4 98%, H2O2, NaOH, acid Boric, HCl, chất xúc tác

3.1.5 Thức ăn dùng trong thí nghiệm

Thức ăn dùng trong thí nghiệm là thức ăn cơ sở (TĂCS) được phối hợp từ thực liệu rời như cám gạo, bắp vàng, bánh dầu đậu nành, bột cá, premix vitamin, dựa theo nhu cầu dinh dưỡng của NRC (1998) Áp dụng Phần mềm Ultramix để lập công thức thức ăn hỗn hợp (Bảng 3.1)

Bảng 3.1: Công thức khẩu phần của thức ăn dùng trong thí nghiệm (dành cho heo lứa

có khối lượng từ 20-50 kg)

Trang 39

29

Ngoài ra, mẫu thức ăn được sử dụng ở trại còn được phân tích tại phòng thí nghiệm bộ môn gồm các chỉ tiêu DM, CP, CF, EE và Ash

3.1.6 Nước uống dùng trong thí nghiệm

Nước dùng để cho heo uống, vệ sinh dụng cụ, chuồng trại và tắm heo hàng ngày được bơm từ hệ thống nước ngầm, sau đó đưa lên bồn chứa nước (Hình 3.6) và theo hệ thống ống dẫn để đưa vào chuồng sử dụng

Hình 3.5: Bồn chứa nước

3.1.7 Chế phẩm vi sinh dùng trong thí nghiệm

Chế phẩm Sub-Probi sử dụng trong thí nghiệm được sản xuất bởi Công

ty cổ phần sản xuất kinh doanh (CP SXKD) vật tư và thuốc thú y Vemedim (số 07 đường 30/4, quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ)

Thành phần: Pediococcus acidilactici (PA) (min-max) 109-1010 CFU,

Bacillus subtilis (BS) (min-max) 109-1010 CFU, chất mang vừa đủ 1 kg, độ ẩm (max) 9%, không có kháng sinh, dược liệu và hormon

Sản phẩm là một hỗn hợp dinh dưỡng đậm đặc chứa các dòng vi khuẩn

Pediococcus acidilactici, Bacillus subtilis là những vi sinh vật hữu ích có chức

năng sản sinh acid lactic, enzyme tiêu hóa giúp tăng cường khả năng tiêu hóa

và ức chế sự xâm nhập, phát triển của vi sinh vật có hại Cung cấp và hoàn chỉnh hệ vi sinh đường ruột, giảm hệ số chuyển hóa thức ăn, giảm tỷ lệ tiêu

chảy và còi cọc Đặc biệt chế phẩm Sub-Probi phòng bệnh E.coli trên heo và

cầu trùng trên gà (Công ty Vemedim)

Hướng dẫn sử dụng chế phẩm

Trộn vào thức ăn với liều 2g Sub-Probi/1kg thức ăn Có 2 cách cho ăn:

Ngày đăng: 25/11/2015, 17:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Heo Yorkshire - ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm men vi sinh subprobi vào khẩu phần lên sự sinh trưởng của heo sau cai sữa (2050 kg)
Hình 2.1 Heo Yorkshire (Trang 12)
Hình 2.4: Heo Pietrain - ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm men vi sinh subprobi vào khẩu phần lên sự sinh trưởng của heo sau cai sữa (2050 kg)
Hình 2.4 Heo Pietrain (Trang 15)
Hình 2.11: Chế phẩm Pro TM Swine - ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm men vi sinh subprobi vào khẩu phần lên sự sinh trưởng của heo sau cai sữa (2050 kg)
Hình 2.11 Chế phẩm Pro TM Swine (Trang 26)
Hình 3.2: Sơ đồ quy hoạch Công ty chăn nuôi Vemedim - ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm men vi sinh subprobi vào khẩu phần lên sự sinh trưởng của heo sau cai sữa (2050 kg)
Hình 3.2 Sơ đồ quy hoạch Công ty chăn nuôi Vemedim (Trang 34)
Hình 3.4: Dãy chuồng nuôi heo thí nghiệm - ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm men vi sinh subprobi vào khẩu phần lên sự sinh trưởng của heo sau cai sữa (2050 kg)
Hình 3.4 Dãy chuồng nuôi heo thí nghiệm (Trang 36)
Hình 3.5: Bồn chứa nước - ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm men vi sinh subprobi vào khẩu phần lên sự sinh trưởng của heo sau cai sữa (2050 kg)
Hình 3.5 Bồn chứa nước (Trang 39)
Hình 4.1: Heo nuôi cuối thí nghiệm ở các nghiệm thức - ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm men vi sinh subprobi vào khẩu phần lên sự sinh trưởng của heo sau cai sữa (2050 kg)
Hình 4.1 Heo nuôi cuối thí nghiệm ở các nghiệm thức (Trang 45)
Hình 4.2: Biểu đồ khối lượng heo cuối thí nghiệm - ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm men vi sinh subprobi vào khẩu phần lên sự sinh trưởng của heo sau cai sữa (2050 kg)
Hình 4.2 Biểu đồ khối lượng heo cuối thí nghiệm (Trang 47)
Bảng 1: Trọng lượng heo thí nghiệm (kg/con) - ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm men vi sinh subprobi vào khẩu phần lên sự sinh trưởng của heo sau cai sữa (2050 kg)
Bảng 1 Trọng lượng heo thí nghiệm (kg/con) (Trang 61)
Bảng 3: TTTL của heo thí nghiệm (kg/con) - ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm men vi sinh subprobi vào khẩu phần lên sự sinh trưởng của heo sau cai sữa (2050 kg)
Bảng 3 TTTL của heo thí nghiệm (kg/con) (Trang 63)
Bảng 9: TTTĂ và HSCHTĂ của heo thí nghiệm - ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm men vi sinh subprobi vào khẩu phần lên sự sinh trưởng của heo sau cai sữa (2050 kg)
Bảng 9 TTTĂ và HSCHTĂ của heo thí nghiệm (Trang 69)
Bảng 10: Tỷ lệ tiêu chảy của heo thí nghiệm (%) - ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm men vi sinh subprobi vào khẩu phần lên sự sinh trưởng của heo sau cai sữa (2050 kg)
Bảng 10 Tỷ lệ tiêu chảy của heo thí nghiệm (%) (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w