Nhận thấy được sự quan trọng của nguyên tố vi lượng này chúng tôi tiến hành đề tài “ Ảnh hưởng của việc bổ sung kẽm trong khẩu phần lên năng suất và chất lượng trứng của Gà Hisex Brown
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
PHAN TRẦN HOÀNG PHÚC
ẢNH HƯỞNG BỔ SUNG KẼM TRONG KHẨU PHẦN LÊN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG CỦA GÀ HISEX BROWN GIAI ĐOẠN TỪ 19 – 26 TUẦN TUỔI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CHĂN NUÔI – THÚ Y
2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
PHAN TRẦN HOÀNG PHÚC
ẢNH HƯỞNG BỔ SUNG KẼM TRONG KHẨU PHẦN LÊN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG CỦA GÀ HISEX BROWN GIAI ĐOẠN TỪ 19 – 26 TUẦN TUỔI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CHĂN NUÔI – THÚ Y
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PGs.Ts NGUYỄN NHỰT XUÂN DUNG
2014
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CHĂN NUÔI – THÚ Y
ẢNH HƯỞNG BỔ SUNG KẼM TRONG KHẨU PHẦN LÊN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG CỦA GÀ HISEX BROWN GIAI ĐOẠN TỪ 19 – 26 TUẦN TUỔI
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
PGs.Ts Nguyễn Nhựt Xuân Dung
Ths Lê Thanh Phương
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014 DUYỆT CỦA KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
DUYỆT BỘ MÔN
Trang 4TÓM LƯỢC
Thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của bổ sung kẽm (Zn) lên năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ Hisex Brown giai đoạn 19 – 26 tuần tuổi nuôi chuồng kín ở Vũng Tàu được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên có năm nghiệm thức với mười hai lần lặp lại và chia làm ba giai đoạn: giai đoạn 19 –
20 tuần tuổi, giai đoạn 21 – 23 tuần tuổi và giai đoạn 24 – 26 tuần tuổi thực hiện trên 240 gà mái đẻ Hisex Brown Các nghiệm thức lần lượt là khẩu phần đối chứng (KPĐC), KPĐC + 50ppm Zn (NT1), KPĐC + 75ppm Zn (NT2), KPĐC + 100ppm Zn (NT3), KPĐC + 125ppm Zn (NT4) Một đơn vị thí nghiệm là một ô chuồng như vậy sẽ có 60 đơn vị thí nghiệm Các mức độ bổ sung kẽm không ảnh hưởng lên tỷ lệ đẻ của gà (P=0,57), biến động từ 22,77% đến 29,65% tở giai đoạn 19 – 20 tuần tuổi Khối lượng trứng của gà cũng không có sự khác biệt giữa các NT thí nghiệm (P=0,24), biến động từ 43,39 g (NTĐC) đến 48,23g (NT2) Tương tự, thức ăn thí nghiệm không ảnh hưởng lên khối lượng trứng (g/gà/ngày), biến động từ 10,54 g (NT1) đến 13,59 g (NT4) (P=0,71) Gà được cho ăn cùng một số lượng thức ăn là 100 g/ngày, do đó TTTA (g/trứng) cũng không khác biệt giữa các NT (P=0,61) Hiệu quả thức ăn (HQTA) giữa các NT thí nghiệm tương đương nhau (P=0,92) Đến giai đoạn
21 – 23 tuần tuổi các mức độ bổ sung kẽm cũng không ảnh hưởng lên tỷ lệ đẻ của gà (P=0,38), biến động từ 75,69% đến 83,14% Khối lượng trứng của gà cũng không có sự khác biệt giữa các NT thí nghiệm (P=0,48), biến động từ 51,42 g (NT4) đến 53,88g (NTDC) Tương tự, thức ăn thí nghiệm không ảnh hưởng lên khối lượng trứng (g/gà/ngày), biến động từ 39,69 g (NT2) đến 43,52 g (NTDC) (P=0,4) Ở giai đoạn 21 – 23 tuần tuổi, tiêu tốn thức ăn (g/trứng) biến động từ 122,59g đến 135,64g, thấp nhất là NT4 (122.59g), kế đến là khẩu phần KPĐC (125,37g), khẩu phần NT1 (125,77g), khẩu phần NT23 (131,50g) và cao nhất là khẩu phần NT2 (135,64g) Các mức độ bổ sung kẽm ảnh hưởng có ý nghĩa đến hệ số chuyển hóa thức ăn (HSCHTA) giai đoạn 24 – 26 tuần tuổi,trong đó khẩu phần NT3 có HSCHTA cao nhất (2,16), khẩu phần NT1 có NT2 có cùng HSCHTA (2,00) và thấp nhất là KPĐC (1,98)
Về các chỉ tiêu chất lượng trứng, các mức độ bổ sung đồng ảnh hưởng có ý nghĩa đến chỉ số lòng đỏ, đơn vị Haugh và độ dày vỏ (p<0,01) Bổ sung kẽm
đã làm cải tiến độ dày vỏ trứng từ 0,40 (NTDC) đến 0,42 (NT4), nên sử dụng khẩu phần bổ sung 125ppm Zn để gà cho trứng có độ dày vỏ tốt
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Số liệu và kết quả trong suốt quá trình tiến hành luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả luận văn
Phan Trần Hoàng Phúc
Trang 6LỜI CẢM TẠ
Tôi xin chân thành cảm ơn ông bà cha mẹ đã chăm sóc và nuôi dưỡng tôi thành người có ích cho xã hội
Xin chân thành cám ơn
Cô Nguyễn Nhựt Xuân Dung đã giúp đỡ, động viên, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Ban giám hiệu trường Đại Học Cần Thơ đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa học tại trường
Quý thầy cô bộ môn chăn nuôi, qúy thầy cô giảng dạy ở trường Đại Học Cần Thơ đã trang bị cho tôi một hành trang kiến thức trong suốt những năm học tại trường
Trại Nguyễn Thị Xuân Trung đã tạo cơ hội cho tôi thực hiện đề tài
Anh Phương, anh Út và các anh chị em công nhân tại trại đã quan tâm cho tôi trong khoảng thời gian làm luận văn
Cám ơn tập thể các bạn lớp chăn nuôi K37 đã giúp đỡ và luôn bên cạnh tôi trong suốt thời gian học tại Cần Thơ
Ngày … tháng … năm … Sinh viên
Trang 7MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2
2.1 Vai trò của chất khoáng trong dinh dưỡng gia cầm 2
2.2 Một số đặc điểm về giống Hisex Brown 3
2.2.1 Nguồn gốc 3
2.2.2 Đặc điểm và ngoại hình 3
2.2.3 Chăm sóc nuôi dưỡng 6
2.3 Nhu cầu dinh dưỡng của gà mái đẻ 7
2.3.1 Nhu cầu năng lượng duy trì 7
2.3.2 Nhu cầu năng lượng sản xuất trứng 8
2.3.3 Nhu cầu dinh dưỡng duy trì 9
2.3.4 Nhu cầu dinh dưỡng sinh trưởng 9
2.3.5 Nhu cầu dinh dưỡng đẻ trứng 10
2.4 Các chỉ tiêu về năng suất và chất lượng trứng 10
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 13
3.1 Phương tiện thí nghiệm 13
3.1.1 Địa điểm và thời gian thí nghiệm 13
3.1.2 Chuồng trại 13
3.1.3 Động vật thí nghiệm 13
3.1.4 Thức ăn thí nghiệm và các khẩu phần thí nghiệm 16
3.1.5 Dụng cụ thí nghiệm 17
3.2 Phương pháp thí nghiệm 17
3.2.1 Bố trí thí nghiệm 17
3.2.2 Chăm sóc nuôi dưỡng 17
3.2.3 Phương pháp lấy mẫu trứng 18
3.2.4 Qui trình phòng bệnh 18
3.3 Các chỉ tiêu theo dõi 18
3.3.1 Tỷ lệ đẻ 18
3.3.2 Khối lượng trứng 18
3.3.3 Tiêu tốn thức ăn (g/gà/ngày) 18
3.4 Chỉ tiêu về chất lượng trứng 18
3.5 Hiệu quả kinh tế 20
3.6 Xử lý số liệu 21
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 22
4.1 Nhận xét tổng quát 22
4.2 Giai đoạn từ 19 - 20 tuần tuổi 22
Trang 84.3 Giai đoạn từ 21 - 23 tuần tuổi 24
4.4 Giai đoạn từ 24 - 26 tuần tuổi 26
4.5 Ảnh hưởng của khẩu phần thí nghiệm lên chất lượng trứng 28
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 30
5.1 Kết luận 30
5.2 Đề nghị 30
Trang 9DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1 Nhu cầu dinh dưỡng của gà đẻ Hisex Brown 4
Bảng 2.2 Mức tăng trọng và tiêu tốn thức ăn của gà đẻ Hisex Brown 5
Bảng 2.3 Lịch phòng bệnh cho gà 7
Bảng 3.1 Bảng các tỷ lệ tiêu chuẩn của gà Hisex Brown 14
Bảng 3.2 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của khẩu phần đối chứng (KPĐC) 16
Bảng 3.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 17
Bảng 3.4 Hiệu quả kinh tế của các khẩu phần thức ăn thí nghiệm 20
Bảng 4.1 Ảnh hưởng bổ sung kẽm lên năng suất sinh sản của gà giai đoạn 19-20 tuần tuổi 23
Bảng 4.2 Ảnh hưởng bổ sung kẽm lên năng suất sinh sản của gà giai đoạn 21-23 tuần tuổi 25
Bảng 4.3 Ảnh hưởng bổ sung kẽm lên năng suất sinh sản của gà giai đoạn 24-26 tuần tuổi 27
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của các mức độ bổ sung kẽm trong khẩu phần lên chất lượng trứng 29
Trang 10DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1: Gà đẻ Hisex Brown 3
Hình 3.1 Máng uống và máng ăn 13
Hình 3.2 Gà nuôi thí nghiệm 13
Hình 4.5 trọng lượng trứng giai đoạn 21 – 23 tuần tuổi 25
Hình 4.6 Tiêu tốn thức ăn của gà giai đoạn 21 – 23 tuần tuổi 26
Hình 4.7 Tỷ lệ đẻ của gà Hisex Brown giai đoạn 24 – 26 tuần tuổi 27
Hình 4.8 Trọng lượng trứng giai đoạn 24 – 26 tuần tuổi 27
Hình 4.9 Tiêu tốn thức ăn của gà giai đoạn 24 – 26 tuần tuổi 28
Trang 12CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
Ngành chăn nuôi gia cầm ở nước ta hiện nay ngày càng phát triển, trong đó chăn nuôi gà chiếm giữ một vị trí hết sức quan trọng, thịt và trứng gà là nguồn thực phẩm rất lớn và giàu dinh dưỡng Theo Nguyễn Thị Mai (2009) thì trứng
là loại sản phẩm thỏa mãn nhu cầu nhiều mặt về giá trị dinh dưỡng Ngoài protein, lipid và các chất khoáng khác nhau trong trứng còn có nhiều loại vitamin như: A, D, E, K và các vitamin nhóm B Để nâng cao năng suất và chất lượng trứng, ngoài con giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, chuồng trại… thì khẩu phần thức ăn cũng đóng vai trò quan trọng
Kẽm (Zn) là một thành phần quan trọng của nhiều enzyme chứa kim loại trong
cơ thể động vật bao gồm synthetase và transferase DNA và RNA, các enzyme tiêu hóa và được liên kết với hocmôn insulin Vì vậy chất này đóng vai trò quan trọng trong trao đổi chất của protein, cacbohydrat và lipid Kẽm có vai tro quan trong phát triển xương, duy trì sức sinh sản Trong sản xuất thức ăn khi bổ sung kẽm cần chọn các hợp chất kẽm trong sulfate, carbonate, chloride
vì nó dễ hấp thu
Ở Việt nam kẽm (Zn) là một nguyên tố vi lượng dễ thiếu trong thức ăn Vì là nước nhiệt đới có lượng mưa nhiều, có diện tích đất bị chua phèn lớn nên kẽm rất dễ bị rửa trôi gât thiếu hụt cho cây trồng từ đó không đủ đáp ứng cho nhu cầu gia súc gia cầm (Dương Thanh Liêm, 2003) Kẽm được tìm thấy trong tất
cả các mô trong cơ thể động vật (Mc Donald et al., 1994) Trong cơ thể kẽm tập trung ở dưới da, lông và sữa (Nguyễn Huy Hoàng, 1995) Trong trứng, kẽm có nhiều trong lòng đỏ hơn so với lòng trắng (Richards, 1997)
Nhận thấy được sự quan trọng của nguyên tố vi lượng này chúng tôi tiến hành
đề tài “ Ảnh hưởng của việc bổ sung kẽm trong khẩu phần lên năng suất
và chất lượng trứng của Gà Hisex Brown giai đoạn 19 – 26 tuần tuổi”
Mục tiêu của đề tài là đánh giá ảnh hưởng của các mức độ bổ sung kẽm trong khẩu phần gà mái đẻ lên tỷ lệ đẻ, khổi lượng trứng và chất lượng trứng
Trang 13
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Vai trò của chất khoáng trong dinh dưỡng gia cầm
Chất khoáng trong thức ăn mặc dù chiếm tỷ lệ không lớn như protein, lipid và glucid Mặc dù chất khoáng không có giá trị năng lượng nhưng nó có vai trò rất quan trọng trong quá trình sinh trưởng, sinh sản và sản xuất (Dương Thanh Liêm, 1999)
Khối lượng cơ thể gia cầm có trên duới 3% là chất khoáng, hiện nay người ta phát hiện được 14 nguyên tố khoáng cần thiết cho gia cầm, kể cả chức năng sinh lý trong cơ thể của mỗi nguyên tố Các nguyên tố này tham gia cấu tạo nên toàn bộ bộ xương và cấu tạo tế bào dưới dạng muối của chúng (Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận, 1999)
Khoáng chất tham gia cấu tạo mọi bộ phận trong cơ thể, thánh ohần chủ yếu là xương Khoáng đa lượng gồm Ca, P, muối (NaCl) Na và P có tỷ lệ cân đối trong khẩu phần thức ăn Khoáng vi lượng gồm các chất đồng (Cu), sắt (Fe), kẽm (Zn), coban (Co), mangan (Mn), Iod (I) có tỷ lệ rất ít trong thức ăn, nhưng không thể thiếu được (Lê Hồng Mận, 2003)
Khoáng chất là một phần vô cơ của thức ăn hoặc các mô Chúng được chia làm hai loại, dựa trên số lượng cần thiết trong khẩu phần Nhu cầu đa lượng hay vi lượng về chất khoáng thường được xem là một tỷ lệ phần trăm của khẩu phần, trong khi nhu cầu đối với gia cầm non được quy định như ng/kg hay phần triệu của khấu phần (NRC, 1994)
Người ta phát hiện trong cơ thể động vật có tới trên dưới 70 nguyên tố của bảng hệ thống tuần hoàn
Ca, P giữ vai trò khoáng dinh dưỡng quan trọng, trước hết nó là thành phần cấu trúc của xương, răng P là thành phần của acid nucleic, phospholipids tham gia vào những phản ứng phosphoryl hóa và những phản ứng chuyển hóa năng lượng Ca, P có vai trò quan trọng trong kích thích thần kinh, hai nguyên
tố này có tác dụng ức chế sự hưng phấn cho nên thiếu chúng sẽ xuất hiện qua trình hưng phấn, nếu nghiêm trọng sẽ xuất hiện co giật, liệt Do những vai trò như vậy nên khi thiếu Ca, P sẽ có những biểu hiện xấu đến khả năng sinh sản, tốc độ sinh trưởng, khả năng sản xuất của vật nuôi (Vũ Duy Giảng et at, 1997) Đối với gia cầm, sự thiếu khoáng vi lượng sẽ gây ra những bệnh đo thiếu khoáng đặc thù Sắt là thành phần của hemoglobin, một chất chuyên chở Oxy trong máu và cũng là thành phần của các hợp chất liên quan có trong cơ và trongg các hệ enzyme Thiếu sắt trong cơ thể gây ra chứng thiếu máu Thiếu kẽm sẽ gây ra chứng phình khớp chân, xương bị co ngắn và lông kém phát
Trang 14triển Thiếu mangan sẽ dẫn đến bệnh trẹo gân khớp chân (pcrois) và ở những mái giống sẽ cho trứng có tỷ lệ nỡ thấp và phôi bị biến dạng Thiếu khoáng selenium sẽ dẫn đến tạng bị rỉ dịch, tụy tạng bị thoái hóa ở gà con và cũng gây ra sự loạn dưỡng ở cơ thể và co tim ở gà tây (Bùi Xuân Mến, 2008)
2.2 Một số đặc điểm về giống Hisex Brown
2.2.1 Nguồn gốc
Gà hậu bị Hisex Brown được nhập vào Việt Nam 1997, có nguồn gốc ở Hà Lan được công ty Emivest nhập giống gà bố mẹ về nuôi nhân giống Gà Hisex Brown bố mẹ được Công ty nuôi để sản xuất gà hậu bị đẻ lấy trứng thương phẩm Gà con sản xuất ra dùng để thả nuôi ở các trang trại nuôi gia công cho công ty và một số để bán ra thị trường Đây là giống gà chuyên trứng tiên tiến trên thế giới cho năng suất cao 280 – 300 trứng/năm (Nguyễn Duy Hoan et al.,1999)
2.2.2 Đặc điểm và ngoại hình
Gà đẻ hậu bị Hisex Brown là giống gà đẻ trứng cao sản (có di truyền chéo với cha mẹ) (Hình 2.1) Tầm vóc nhỏ, bộ lông màu nâu dày, ép sát vào thân Mào, tích tai phát triển lớn Chân nhỏ, cao, không có lông Cơ thể có kết cấu vững chắc, dạng hình thoi hay hình chữ nhật dài Sinh tr ởng chậm nhưng thành thục về tính sớm (20 - 21 tuần tuổi) Hoạt động sinh dục mạnh, tỷ lệ thụ tinh
và tỷ lệ ấp nở cao, không có khả năng ấp bóng, thuộc loại thần kinh linh hoạt (Nguyễn Duy Hoan et al.,1999)
Hình 2.1: Gà đẻ Hisex Brown
Trung bình một gà mái đẻ 250 trứng/năm, chi phí thức ăn 1.5-1.6 kg/10 trứng, khối lượng trứng to 55-65 g/quả Tỷ lệ nuôi sống cao, đến 17 tuần tuổi 96-98% (Lê Hồng Mận, 1999)
Trang 15Bảng 2.1 Nhu cầu dinh dưỡng của gà đẻ Hisex Brown
Giai đoạn (tuần) Thành phần
Cysteine, % 0,92 0,92 0,61 0,68 0,75 0,69 0,63
Tryptophan, % 0,23 0,23 0,14 0,15 0,17 0,16 0,15 Threonine, % 0,78 0,78 0,49 0,52 0,56 0,53 0,5
Phosphor hữu
Sodium, % 0,16 0,16 0,15 0,15 0,15 0,15 0,15 Chloride, % 0,22 0,22 0,22 0,22 0,22 0,20 0,19
(Công ty TNHH Emivest Việt Nam, 2011)
Trang 16Bảng 2.2 Mức tăng trọng và tiêu tốn thức ăn của gà đẻ Hisex Brown
Trọng lượng cơ thể (gam/tuần) Tuần tuổi Ngày tuổi
Lượng thức ăn vào (gam/ngày) Nhỏ nhất Lớn nhất
Trang 172.2.3 Chăm sóc nuôi dưỡng
Chuẩn bị trước khi nhập gà
Vệ sinh chuồng hoặc lồng nuôi, khử trùng bằng Foocmôn 2% hoặc Crêzin 3% Sau khi khử trùng chuồng được 24 giờ thì rải lớp đệm lót bằng trấu hoặc phoi bào đã khử trùng - phơi khô, rải dầy 8 - 10 cm
Kiểm tra các dụng cụ, máng ăn, máng uống, rèm che, quây úm gà con, chụp sưởi (hoặc lò sưởi) , thức ăn
100 con Gà dò : 4 - 6 con /m2, gà đẻ : 3 - 3,5 con /m2
Sau khi thả gà vào chuồng (hoặc lồng) 30 phút mới đổ thức ăn vào máng ăn
Nuôi gà đẻ
Sau khi chọn lúc 140 ngày tuổi, thả gà trống vào nuôi chung theo tỷ lệ 1 rống/9 – 10 mái
Mật độ nuôi 3 - 4 con/1m2 nền chuồng
Chuồng phải bố trí ổ đẻ: 5 - 6 mái/1 ổ đẻ
Trong chuồng phải có sào đậu
Chú ý chống nóng cho gà vào mùa hè, đảm bảo đủ nước uống
Thức ăn chuyển sang thức ăn gà đẻ Tuỳ theo năng suất đẻ của đàn mà định lượng thức ăn, trung bình 140 - 160 gam/con/ngày
Trang 1835 Tẩy giun sán bằng Piperazin, Menbenvet, Levavet
(Trung tâm khuyến nông, 2009)
2.3 Nhu cầu dinh dưỡng của gà mái đẻ
2.3.1 Nhu cầu năng lượng duy trì
Theo Bùi Xuân Mến (2007) thì nuôi gia cầm cho mục đích sản xuất, trước hết phải nuôi dưỡng để duy trì sự sống, mặc dù chúng có sản xuất hay không Một lượng đáng kể thức ăn tiêu tốn của gia cầm là sử dụng cho duy trì sự sống Nhu cầu năng lượng để duy trì của gia cầm bao gồm sự trao đổi cơ bản và hoạt động bình thường Trao đổi cơ bản là sự tiêu phí năng lượng tối thiểu hoặc sự sinh nhiệt trong những điều kiện khi ảnh hưởng của thức ăn, nhiệt độ môi trường và hoạt động chủ động bị loại ra Sự sinh nhiệt cơ bản thay đổi theo độ lớn của vật nuôi, nhìn chung thì độ lớn của vật nuôi tăng thì sự sinh nhiệt cơ bản trên một đơn vị thể trọng giảm Sự sinh nhiệt cơ bản của gà con mới nở vào khoảng 5,5 calo trên một gam thể trọng trong một giờ, nhưng trái lại đối với gà mái trưởng thành chỉ cần phân nữa số lượng này
Năng lượng yêu cầu cho hoạt động có thể thay đổi đáng kể, thường được ước tính bằng khoảng 50% của sự trao đổi cơ bản Điều này có thể bị ảnh hưởng bởi những điều kiện chuồng trại cũng như giống gia cầm được nuôi Sử dụng chuồng lồng làm giới hạn các hoạt động sẽ dẫn đến sự tiêu phí năng lượng thấp hơn, cỡ khoảng 30% của sự trao đổi cơ bản so với nuôi nền Mặc dù thực
tế những động vật lớn hơn yêu cầu năng lượng duy trì thấp hơn trên một đơn
Trang 19vị thể trọng, nhưng tổng năng lượng cần cho những động vật lớn hơn lại cao hơn nhiều so với vật nhỏ hơn
Từ quan điểm thực tiễn cho thấy, một gà mái sản xuất trứng có độ lớn cơ thể nhỏ nhất, đẻ trứng lớn và sức sống cao sẽ có khả năng chuyển đổi thức ăn thành sản phẩm đạt hiệu quả nhất, vì tiêu phí năng lượng duy trì thấp Chăn nuôi gà hoặc gà tây thịt đạt đến độ bán trong một thời gian ngắn nhất sẽ đạt hiệu quả nhất về biến đổi thức ăn thành sản phẩm, vì nếu kéo dài thời gian nuôi sẽ phải chi phí duy trì lớn hơn Hầu hết gà đang đẻ trứng và gà thịt đang sinh trưởng đều được cho ăn tự do theo yêu cầu sản xuất Lượng thức ăn gia cầm tiêu thụ có liên quan trước hết đến nhu cầu năng lương của gia cầm trong thời gian này Khi các chất dinh dưỡng khác có đủ lượng trong thức ăn thì khả năng tiêu thụ thức ăn được xác định trước tiên dựa trên mức năng lượng của khẩu phần Mức tiêu thụ năng lượng của gia cầm hàng ngày có thể đo bằng kilocalo năng lượng trao đổi thì chắc chắn sẽ ổn định hơn là tổng lượng thức
ăn tiêu thụ, nếu trong khẩu phần có chứa các mức năng lượng khác nhau
2.3.2 Nhu cầu năng lượng sản xuất trứng
Theo Bùi Xuân Mến (2007) năng lượng thuần cần cho một mái đang có tỷ lệ
đẻ cao gồm năng lượng tiêu phí cho duy trì và năng lượng dự trữ trong trứng
Gà mái có khả năng thay đổi mức tiêu thụ thức ăn theo mức năng lượng trong khẩu phần.Khi gà mái phải chịu đựng trong môi trường lạnh thì mức năng lượng không thể thấp hơn 2750 Kcal ME/kg Thường thì mức năng lượng thực trong khẩu phần sẽ tùy thuộc nhiều vào mức độ của giá thức ăn trong thực tế sản xuất
Theo Dương Thanh Liêm (2003) đặc trưng của gia cầm là không có vùng nhiệt độ trung hòa rõ rệt Khi nhiệt độ môi trường tăng lên hay giảm thấp thì chúng ăn thức ăn ít hay nhiều lên Nếu dựa vào trao đổi chất cơ bản (hay nhiệt lượng tỏa ra do phân giải lúc đói) với công thức tính của Brody thì nhu cầu cho duy trì phải cao hơn 20% nhu cầu trao đổi chất cơ bản
Trong thực tế khi được cho ăn tự do, gà tự cân đối năng lượng ME ăn vào với nhu cầu của chúng Thường hàm lượng ME trong thức ăn gà đẻ từ 10 – 12 MJ/kg (11,5 – 13,5 MJ/kg chất khô) Nếu tăng hay giảm 1% hàm lượng năng lượng trong thức ăn (lớn hơn 12 MJ hay dưới 10 MJ) gây nên sự tăng hay giảm tương ứng lượng ăn khoảng 0,5% Nếu gà ăn khẩu phần chứa ít hơn 10 MJ/kg sẽ dẫn đến giảm sản xuất trứng, khẩu phần chứa nhiều hơn 12 MJ/kg thức ăn có thể làm tăng tích lũy mỡ, làm mau hư gà mái nhưng không làm tăng số lượng trứng đẻ (mặc dù trọng lượng trứng có thể tăng)
Trang 202.3.3 Nhu cầu dinh dưỡng duy trì
Theo Bùi Xuân Mến (2007) protein cần thiết cho duy trì tương đối thấp, vì thế yêu cầu về protein trước hết tùy thuộc vào lượng cần thiết cho mục đích của sản xuất Để đáp ứng nhu cầu protein thì các acid amin thiết yếu phải cung cấp
đủ lượng và tổng lượng nitơ trong khầu phần phải đủ cao và ở dạng thích hợp
để cho phép tổng lượng acid amin không thiết yếu
Một khi lượng protein tối thiểu được yêu cầu cung cấp cho sản xuất trứng tối
đa thì protein cần cộng thêm do bị oxy hóa thành năng lượng cũng phải tính đến Protein cũng không được dự trữ trong cơ thể theo số lượng có thể đánh giá được Thực tế sản xuất, protein luôn là thành phần thức ăn đắt nhất của một khẩu phần, sẽ không có kinh tế nếu nuôi động vật quá mức protein Vì lý
do này mà mức protein trong khẩu phần cho động vật nuôi luôn phải giữ gần với mức nhu cầu tối thiểu hơn là các chất dinh dưỡng khác
2.3.4 Nhu cầu dinh dưỡng sinh trưởng
Nhu cầu protein và acid amin của gia cầm non đang sinh trưởng là đặc biệt quan trọng Phần lớn nhất vật chất khô tăng lên với sự sinh trưởng là protein
Sự thiếu hụt của hoặc protein tổng số hoặc là một acid amin thiết yếu nào đó đều làm giảm tốc độ tăng trưởng Sự tổng hợp protein yêu cầu tất cả các acid amin cần thiết làm thành protein cần phải có mặt trong cơ thể gần như cùng một lúc Khi thiếu một acid amin thiết yếu thì không có sự tổng hợp protenin Những protein không hoàn chỉnh sẽ không bao giờ được tạo thành Các acid amin không được sử dụng cho tổng hợp protein sẽ chuyển đổi thành carbohydrate hoặc mỡ, đồng thời nó có thể dễ dàng bị oxy hóa cho nhu cầu năng lượng trực tiếp hay được dự trữ dưới dạng mô mỡ Thân thịt của những vật nuôi cho ăn khẩu phần thiếu protein hoặc các acid amin thường chứa nhiều
mỡ hơn những vật được ăn khẩu phần đủ và cân đối protein
Điều cân nhắc quan trọng nhất trong việc biểu diễn nhu cầu các acid amin là lượng thức ăn tiêu thụ Một lượng ổn định protein tổng số và acid amin thiết yếu trong thức ăn được yêu cầu để giúp cho tốc độ tăng trưởng mô cơ thể có thành phần không thay đổi Tuy nhiên khi nhu cầu protein được biểu thị theo phần trăm trong khẩu phần thì mức protein ăn vào thực sự sẽ tùy thuộc vào sự tiêu thụ thức ăn Mức năng lượng trong khẩu phần có thể là sự xem xét quan trọng nhất trong việc đánh giá lượng thức ăn ăn vào Vì lý do này mà các nhu cầu được biểu diễn như phần trăm của khẩu phần luôn có liên quan đến mức năng lượng của khẩu phần đó
Trang 212.3.5 Nhu cầu dinh dưỡng đẻ trứng
Với mỗi quả trứng được đẻ, một gà mái phải sản sinh ra khoảng 6,7 g protein Lượng protein tương đương với lượng protein tích lũy hàng ngày của một gà thịt đang sinh trưởng có mức tăng trọng 37g/ngày Mặc dù gà mái không đẻ thường xuyên hàng ngày nhưng protein cho duy trì cũng phải được xem xét và nhu cầu protein hàng ngày cho những mái đang đẻ cao cũng đầy đủ như cho
gà thịt đang sinh trưởng nhanh Trong thời kỳ đầu của sản xuất trứng, gà mái đang còn tăng trọng nên chúng cần tích lũy protein cho cơ thể và cho sản xuất trứng Sau đó nhu cầu protein của tăng trọng giảm xuống nhưng độ lớn của trứng lại tăng lên Để có thể tạo ra được những trứng lớn và đạt tỷ lệ đẻ tối đa, một gà mái một ngày cần phải tiêu thụ 17g protein (cân đối các acid amin) Trong bất cứ nghiên cứu nào về nhu cầu protein của gà mái đang đẻ phải đương nhiên thừa nhận một sự cân đối hợp lý các acid amin trong protein của khẩu phần Thiếu hụt một acid amin thiết yếu sẽ làm sút giảm khả năng sản xuất trứng, giảm độ lớn của trứng và giảm mức protein tổng số Việc xác định nhu cầu các acid amin riêng rẽ cho gà mái có khó khăn hơn là cho gà thịt Vì thế những ước lượng nhu cầu acid amin cho gà mái đẻ chủ yếu dựa vào thành phần các acid amin của protein trong trứng Tỷ lệ của các acid amin thiết yếu trong protein của khẩu phần phải đi gần với tỷ lệ các acid amin được tạo thành trong trứng
2.4 Các chỉ tiêu về năng suất và chất lượng trứng
Khi nuôi gà đẻ thuộc giống chuyên trứng thì việc quan tâm đến tỷ lệ đẻ không chưa đủ, bên cạnh đó ta cũng cần quan tâm đến chất lượng trứng Để đánh giá chất lượng trứng người ta thường dùng các chỉ tiêu bên ngoài như màu sắc vỏ trứng Chỉ số bên trong đó là tỷ lệ các thành phần cấu tạo trứng, chỉ số lòng đỏ trứng, độ đậm của lòng đỏ, đơn vị Haugh
Khối lượng trứng không những là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng trứng mà còn là một đánh giá chỉ tiêu sản lượng trứng Sản lượng trứng giống nhau nhưng khối lượng trứng khác nhau thì tổng khối lượng trứng rất khác nhau, do đó ảnh hưởng đến thu nhập, sản lượng và giá cả Khối lượng trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loài giống, hướng sản xuất,
cá thể, chế độ dinh dưỡng, tuổi gà mái, khối lượng gà mái (Nguyễn Thị Mai et
al, 2009)
Hình dáng trứng được đánh giá qua chỉ số hình dáng (CSHD) CSHD trứng là
tỷ lệ giữa đường kính lớn D (chiều dài) và đường kính nhỏ d (chiều rộng) của trứng
Trang 22Đo đường kính lớn (D) và đường kính nhỏ (d) của trứng bằng thước kẹp CSHD của trứng liên quan mật thiết đến tỷ lệ ấp nở Trứng bình thường có tỷ
lệ ấp nở cao, trứng quá dài hoặc quá tròn có tỷ lệ ấp nở thấp Trứng có CSHD
71 – 76 % là trứng chuẩn tốt (Bùi Hữu Đoàn, 2009)
Độ dày vỏ trứng có ý nghĩa quan trọng cả về kỹ thuật và kinh tế Nó liên quan đến tỷ lệ dập vỡ trong quá trình thao tác đóng gói, ấp trứng, vận chuyển và ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nỡ Độ dày vỏ trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng quan trọng nhất là hàm lượng Ca, P và vitamin D trong khẩu phần Hệ số di truyền về độ dày vỏ trứng ở mức thấp 0,15 – 0,3 Độ dày vỏ của trứng gà phải lớn hơn 0,32 mm và độ bền trung bình từ 3 – 5 kg/cm2 (Nguyễn Đức Hưng, 2006)
Màu sắc vỏ trứng được quyết định bởi yếu tố di truyền mạnh hơn là dinh duỡng Ngược lại độ đậm nhạt của lòng đỏ là do sắc tố trong thức ăn quyết định Để thay đổi màu của vỏ trứng phải thông qua việc tạo ra các tổ hợp gen mới, còn để thay đổi màu của lòng đỏ trứng chỉ cần thay đổi thành phần khẩu phần ăn Xu hướng chung hiện nay tạo ra gia cầm lai đẻ trứng có màu (nâu, hồng, nâu sẫm…) thay cho trứng vỏ trắng Vỏ trứng màu thường gắn với bộ lông màu và thường di truyền liên kết với giới tính Màu sắc trứng tương đương với giống, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng là màu nâu (Nguyễn Đức Hùng, 2006)
Chỉ số lòng đỏ trứng: là tỷ số giữa chiều cao lòng đỏ và đường kính trung bình của lòng đỏ Chỉ số lòng đỏ trứng biểu hiện trang thái và chất lượng của lòng
đỏ, chỉ số này càng cao trứng càng tốt, trứng gia cầm tươi chỉ số này là 0,4 – 0,5 Chỉ số nay thay đổi phụ thuộc vào đặc điểm loài, giống, cá thể, nó giảm dần theo thời gian bảo quản trứng (Nguyễn Thị Mai et al, 2009)
Chỉ số lòng trắng trứng: là mối quan hệ giữa chiều cao lòng trắng đặc và trung bình giữa đường kính lớn và đường kính nhỏ của lòng trắng đặc Chỉ số này ở trứng tươi là 0,08 – 0,09 Chỉ số này càng cao thì phẩm chất trứng càng tốt Chỉ số này khác nhau tùy theo loài, giống và cá thể (Nguyễn Thị Mai et al, 2009)
Đơn vị Haugh (Chỉ số Haugh – Haugh Unit) Chỉ số này càng cao thì phẩm chất càng tốt Thực nghiệm cho biết, những quả trứng chênh lệch nhau dới 8 đơn vị Haugh thì có chất lượng trứng tương đương nhau (Nguyễn Thị Mai et
al, 2009)
Trang 23Theo Lã Thị Thu Minh (1995) trứng đạt yêu cầu cần phải đảm bảo các chỉ tiêu sau
Một số yếu tố ảnh hưởng đến năng suất chất lượng quả trứng
Sản xuất trứng có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như tiêu thụ thức ăn (chất lượng và số lượng), uống nước, cường độ và thời gian của ánh sáng nhận được, nhiễm ký sinh trùng, bệnh tật, quản lý và yếu tố môi trường (Jacob et
Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (2004) đối với gà đẻ trứng sẽ có khả năng chịu được khí hậu lạnh 150C nóng đến 400C Tuy vậy, vào thời kỳ đẻ trứng, nếu nhiệt độ môi trường dưới 150C hoặc trên 300C ảnh hưởng lớn đến mức đẻ trứng và khối lượng trứng, tăng tỷ lệ hao hụt
Ngoài ra theo Nguyễn Xuân Bình (2000) còn có nhiều nguyên nhân làm giảm
tỷ lệ đẻ: khẩu phần thức ăn thiếu đạm, thiếu Ca, P , Vitamin D, stress nhiệt,