Bên cạnh đó, chăn nuôi gà đã vận dụng được nhiều tiến bộ khoa học vào thực tiễn sản xuất là tạo ra những dòng gà chuyên thịt và trứng cao sản, có chất lượng cao như Hisex Brown, Loghorn,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN THỊ LAN THANH
ẢNH HƯỞNG BỔ SUNG CHẾ PHẨM SELEVIT - E TRONG KHẨU PHẨN LÊN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG TRỨNG GÀ HISEX BROWN TỪ 35 - 40 TUẦN TUỔI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CHĂN NUÔI - THÚ Y
2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN THỊ LAN THANH
ẢNH HƯỞNG BỔ SUNG CHẾ PHẨM SELEVIT - E TRONG KHẨU PHẨN LÊN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG TRỨNG GÀ HISEX BROWN TỪ 35 - 40 TUẦN TUỔI
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN THỊ LAN THANH
ẢNH HƯỞNG BỔ SUNG CHẾ PHẨM
SELEVIT - E TRONG KHẨU PHẨN LÊN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG TRỨNG GÀ HISEX BROWN TỪ 35 - 40 TUẦN TUỔI
Cần Thơ, ngày.…tháng….năm 2014 Cần Thơ, ngày.…tháng….năm 2014
TS Nguyễn Thị Thủy
Cần Thơ, ngày… …tháng….….năm 2014
DUYỆT KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Lan Thanh
Trang 5LỜI CẢM TẠ
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng đến ba mẹ tôi, người đã sinh thành, nuôi dưỡng tôi khôn lớn và dành trọn lòng yêu thương cũng như trao cho tôi nhiều niềm tin trong cuộc sống
Tôi xin chân thành biết ơn quý Thầy Cô trường Đại học Cần Thơ cũng như quý thầy cô Bộ môn Chăn Nuôi - Thú Y đã hết lòng dạy bảo, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình học tập
Xin chân thành cám ơn đến cô Nguyễn Thị Thủy đã hết lòng hướng dẫn, dạy bảo, luôn tận tình động viên, giải quyết mọi thắc mắc và giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn này
Tôi xin cảm ơn anh chủ trại Nguyễn Hoài An cùng các anh chị công nhân trong trại đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tiến hành thí nghiệm tại trại gà đẻ của anh An
Xin cám ơn tập thể lớp Chăn nuôi - Thú Y K37 đã sát cánh bên tôi, vui buồn cùng tôi
Cuối cùng, tôi xin kính chúc tất cả quý thầy cô và mọi người thật nhiều sức khỏe và thành công!
Tôi xin chân thành cám ơn!
Cần Thơ, ngày……tháng… năm 2014 Sinh viên thực tập
Nguyễn Thị Lan Thanh
Trang 6MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm tạ ii
Mục lục iii
Danh sách chữ viết tắt v
Danh mục bảng vii
Danh mục hình - biểu đồ viii
Tóm tắt viiii
Chương 1: Đặt vấn đề 1
Chương 2: Lược khảo tài liệu 2
2.1 Giới thiệu sơ lược về giống gà Hisex Brown 2
2.2 Nhu cầu dinh dưỡng gà đẻ 5
2.2.1 Nhu cầu năng lượng 5
2.2.2 Nhu cầu chất béo 9
2.2.3 Nhu cầu protein 10
2.2.4 Nhu cầu các vitamin và khoáng 12
2.3 Vai trò vitamin E và Selenium trong dinh dưỡng gà đẻ 13
2.3.1 Vitamin E 13
2.3.2 Vai trò của Selenium 14
2.4 Quy luật đẻ trứng của gia cầm 14
2.5 Các yếu tố ảnh hưởng sức sản xuất trứng của gia cầm 16
2.5.1 Di truyền giống 16
2.5.2 Tuổi của gà 16
2.5.3 Dinh dưỡng 16
2.5.4 Chăm sóc và điều kiện ngoại cảnh 17
2.6 Các chỉ tiêu đánh giá năng suất chất lượng trứng của gà đẻ thương phẩm .18
2.6.1 Sản lượng trứng 18
2.6.2 Khối lượng trứng 19
2.6.3 Hình dạng trứng 19
Trang 72.6.4 Chất lượng vỏ trứng 20
2.6.5 Chỉ số lòng trắng 21
2.6.6 Chỉ số lòng đỏ 21
Chương 3: Phương tiện và phương pháp thí nghiệm 22
3.1 Phương tiện thí nghiệm 22
3.1.1 Địa điểm và thời gian thực hiện thí nghiệm 22
3.1.2 Động vật thí nghiệm 22
3.1.3 Chuồng trại thí nghiệm 22
3.1.4 Thức ăn thí nghiệm 25
3.1.5 Thuốc thú y dùng trong thí nghiệm 27
3.2 Phương pháp thí nghiệm 27
3.2.1 Bố trí thí nghiệm 27
3.2.2 Qui trình nuôi dưỡng chăm sóc 28
3.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi 28
3.3 Phương pháp xử lí số liệu 30
Chương 4: Kết quả và thảo luận 31
4.1 Nhận xét chung về đàn gà thí nghiệm 31
4.2 Ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm Selevit - E lên tiêu tốn thức ăn và tỷ lệ đẻ của gà thí nghiệm 31
4.3 Ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm Selevit - E lên dưỡng chất ăn vào .35
4.4 Ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm Selevit - E lên chất lượng trứng.36 4.5 Hiệu quả kinh tế 38
Chương 5: Kết luận và đề nghị 40
5.1 Kết luận 40
5.2 Đề nghị 40
Tài liệu tham khảo……… ……… 41 Phụ chương
Trang 8Phosphor Natri Clo Kali Kẽm Mangan Magie Iot Selen Năng lượng trao đổi Khẩu phần cơ sở Thức ăn
Tiêu tốn thức ăn
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Nhu cầu dinh dưỡng của giống gà chuyên trứng Hisex Brown 3
Bảng 2.2: Tỷ lệ đẻ và trọng lượng trứng chuẩn từ 30 - 45 tuần tuổi gà Hisex Brown 4
Bảng 2.3: Khối lượng chuẩn cơ thể và thời gian chiếu sáng của gà Hisex Brown 5
Bảng 2.4: Mức năng lượng cần thiết trong khẩu phần theo tỷ lệ đẻ của gia cầm 8
Bảng 2.5: Tỷ lệ tiêu hóa của chất béo 10
Bảng 2.6: Bổ sung các vitamin vào khẩu phần ăn cho gà đẻ trứng thương phẩm 12
Bảng 2.7: Ảnh hưởng của tuổi gia cầm đến sản lượng trứng (%) 16
Bảng 3.1: Thành phần dinh dưỡng của chế phẩm Selevit - E 25
Bảng 3.2: Thành phần dinh dưỡng của khẩu phần cơ sở 26
Bảng 3.3: Thuốc thú y dùng cho gà Hisex Brown sử dụng ở trại 27
Bảng 3.4: Cách bố trí thí nghiệm 28
Bảng 4.1: Ảnh hưởng các khẩu phần thí nghiệm lên tỷ lệ đẻ và tiêu tốn thức ăn 31
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của bổ sung Selevit - E trong khẩu phần lên CP và ME ăn vào 35
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của khẩu phần thí nghiệm lên chất lượng trứng 36
Bảng 4.4: Hiệu quả kinh tế 38
Trang 10DANH MỤC HÌNH – BIỂU ĐỒ
Hình 2.1 Gà mái đẻ trứng thương phẩm Hisex Brown 2
Hình 3.1 Dãy chuồng nuôi thí nghiệm 22
Hình 3.2 Cửa ra vào trại gà thí nghiệm 23
Hình 3.3 Cảnh quan xung quanh trại 23
Hình 3.4: Hệ thống máng ăn, máng hứng trứng và núm uống cho gà 24
Hình 3.5: Hệ thống quạt thông gió 24
Hình 3.6: Hệ thống làm mát 25
Hình 3.7 Thức ăn hỗn hợp 7606 26
Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ đẻ của gà thí nhiệm qua các tuần 32
Biểu đồ 4.2 Tiêu tốn thức ăn của các nghiệm thức 33
Biểu đồ 4.3 Tỷ lệ đẻ và khối lượng trứng của các nghiệm thức 34
Trang 11TÓM TẮT
Thí nghiệm: “Ảnh hưởng bổ sung chế phẩm Selevit - E trong khẩu phần
lên năng suất sinh sản gà Hisex Brown từ 35 - 40 tuần tuổi” Thí nghiệm được
tiến hành với 120 con gà được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 3
nghiệm thức và 10 lần lặp lại
Các nghiệm thức bao gồm:
Nghiệm thức 1 (E0): Khẩu phần cơ sở không bổ sung chế phẩm
Selevit – E
Nghiệm thức 2 (E2): KPCS + 2 g/kg thức ăn Selevit – E
Nghiệm thức 3 (E4): KPCS + 4 g/kg thức ăn Selevit – E
Các chỉ tiêu theo dõi gồm: Tỷ lệ đẻ, tiêu tốn thức ăn, khối lượng trứng,
độ dày vỏ, màu sắc lòng đỏ, chỉ số hình dáng, chỉ số lòng trắng, chỉ số lòng
đỏ, đơn vị Haugh và hiệu quả kinh tế
Sau thời gian 6 tuần thí nghiệm thu được một số kết quả như sau:
Tỷ lệ đẻ: Các mức độ bổ sung chế phẩm Selevit - E cho thấy tỷ lệ đẻ
giữa các nghiệm thức có sự khác nhau tuy nhiên không có ý nghĩa về mặt
thống kê, trong đó E4 là cao nhất (94,40%), kế tiếp là E2 (91,65%) và cuối
chênh lệch nhau nhưng không có ý nghĩa thống kê
Khối lượng trứng: Ở nghiệm thức E4 có khuynh hướng cao hơn (62,46
g) so với E2 (61,19 g) và nghiệm thức E0 (60,27 g)
Chỉ số lòng đỏ: Các nghiệm thức đều đạt chuẩn, ở 2 nghiệm thức E2 và
E4 (0,43) là cao hơn so với E0 (0,41) và sự khác biệt này không có ý nghĩa
Trang 12Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăn nuôi là một trong những ngành đóng vai trò quan trọng đối với nền nông nghiệp nước ta Trong thời gian gần đây thì chăn nuôi gia cầm đang phát triển mạnh, đặc biệt là nuôi gà đẻ trứng công nghiệp, các loài gia cầm có chu
kỳ sản xuất ngắn, sinh sản mạnh Các sản phẩm từ gia cầm như thịt và trứng là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, dễ chế biến, thơm ngon và dễ tiêu hóa nên so với các loại thực phẩm khác (trâu, bò, lợn) thì gia cầm được ưa chuộng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới
Bên cạnh đó, chăn nuôi gà đã vận dụng được nhiều tiến bộ khoa học vào thực tiễn sản xuất là tạo ra những dòng gà chuyên thịt và trứng cao sản, có chất lượng cao như Hisex Brown, Loghorn, Isa Brown,… Để chăn nuôi gà thành công thì ngoài tạo ra những giống gia cầm cho năng suất cao còn phải tạo ra nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng, phù hợp với đặc tính sinh học và mục đích sản xuất của giống gà đó
Đối với giống gà đẻ chuyên trứng thì để đáp ứng nhu cầu sản xuất trứng, ngoài việc cung cấp protein, chất béo, chất khoáng,… Bên cạnh đó thì nguồn vitamin là rất cần thiết không thể thiếu trong khẩu phần ăn cho gà Theo Hội
chăn nuôi Việt Nam (2002) thì việc bổ sung vitamin E cho gia cầm là rất cần
thiết cho hoạt động sinh dục, ngăn cản quá trình oxy hóa, kích thích sự tạo thành các hoocmon thùy trước tuyến yên, tăng cường sự hấp thu vitamin A và
D, giúp ổn định thành mạch và màng tế bào của tuyến sinh dục Nếu khẩu phần ăn thiếu vitamin E, gà sẽ giảm tỷ lệ đẻ, buồng trứng gà mái bị teo làm giảm tỷ lệ thụ tinh, trứng đã thụ tinh có phôi phát triển kém hoặc chết nên tỷ lệ
ấp nở thấp, gà sơ sinh đầu cổ gật ngữa Ngoài ra, Puthpongiriporn (2001) đã
báo cáo rằng việc bổ sung vitamin E trong khẩu phần của gà mái có thể làm giảm bớt một số suy giảm chất lượng trứng gà khi chúng tiếp xúc nhiệt độ cao
Vì vậy, việc bổ sung các premix vitamin E là rất cần thiết đối với chăn nuôi gà Trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại sản phẩm bổ sung vitamin
từ các công ty nhưng Selevit - E là chế phẩm có hàm lượng vitamin E khá cao
Do đó, chúng tôi bước đầu tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng bổ sung
chế phẩm Selevit - E trong khẩu phần lên năng suất sinh sản của gà đẻ Hisex Brown 35 - 40 tuần tuổi” Mục tiêu chính của đề tài này là đánh giá
ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm Selevit - E ở các mức khác nhau lên tỷ
lệ đẻ, tiêu tốn thức ăn, chất lượng trứng cũng như hiệu quả kinh tế
Trang 13Chương 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Giới thiệu sơ lược về giống gà Hisex Brown
Hisex Brown là giống gà được nhập vào Việt Nam năm 1997, được Công ty Emivest nhập về nuôi và nhân giống năm 2007
Theo Nguyễn Thị Mai và ctv (2009), đây là giống gà chuyên trứng màu
nâu có nguồn gốc từ hãng Euribreed - Hà Lan (Hình 2.1)
Gà giống bố mẹ có tỉ lệ nuôi sống cao 96 - 98% lúc 17 tuần tuổi Mái lúc đầu đẻ nặng khoảng 1,7 kg/con Năng suất trứng 290 quả/năm Trứng nặng khoảng 60 - 65 g/quả Bình quân 1 kg trứng tiêu tốn 2,36 kg thức ăn, 1 quả cần tiêu thụ 149 g Gà loại thải lúc 78 tuần tuổi đạt 2,15 kg (Bùi Xuân Mến, 2008)
Nguồn: www.actualidadavipecuaria.com
Hình 2.1: Gà mái đẻ trứng thương phẩm Hisex Brown
Gà mái đẻ thương phẩm đạt tỉ lệ đẻ đạt 5% ở 20 tuần tuổi, đỉnh cao tỉ lệ
đẻ khoảng 90% Thời gian đạt tỉ lệ đẻ cao trên 90% kéo dài khoảng 10 tuần Khối lượng trứng trong tuần đẻ đầu là 46 g và tăng dần cho đến khi kết thúc là
67 g Sản lượng trứng đến 78 tuần tuổi là 307 quả/mái Tỉ lệ chết trong thời kì
đẻ trứng là 5,8% Khối lượng gà mái khi kết thúc đẻ khoảng 2,15 kg/con Lượng thức ăn tiêu thụ đến hết 78 tuần tuổi là 47 kg/con Theo Handrix genetics company (2006), gà bắt đầu chuyển giao nuôi trên lồng trễ nhất là tuần thứ 17, cung cấp cho 24 giờ chiếu sáng trong 3 ngày đầu tiên
Trang 14Bảng 2.1: Nhu cầu dinh dưỡng của giống gà chuyên trứng Hisex Brown
Giai đoạn (tuần) Thành phần
dinh dưỡng Đơn
5 3,5 6,5 1,5
0,54 0,92
1,2 0,23 0,78
1 0,5 0,16 0,22
20 297
5 3,5 6,5 1,5
0,54 0,92
1,2 0,23 0,78
1 0,5 0,16 0,22
15,5
2750
6
6 1,25
0,34 0,61
0,75 0,14 0,49
0,9 0,45 0,15 0,22
16,5
2750
6
6 1,25
0,38 0,68
0,8 0,15 0,52
2,2 0,42 0,15 0,22
16,7
2775
5
8 2,2
0,41 0,75
0,8 0,17 0,56
3,7 0,42 0,15 0,22
16,2
2750 5,5 8,5 1,6
0,39 0,69
0,75 0,16 0,53
4 0,4 0,15 0,2
15,3 272
5 5,5 8,5 1,25
0,36 0,63
0,7 0,15 0,5
4,2 0,38 0,15 0,18-0,20
Nguồn: Công ty TNHH Emivest Việt Nam, 2011
Trang 15Bảng 2.2: Tỷ lệ đẻ và trọng lượng trứng chuẩn từ 30 - 45 tuần tuổi gà Hisex Brown
60,4 60,6 60,9 61,2 61,5 61,8 62,0 62,2 62,4 62,6 62,7 62,7 63,1 63,2 63,3 63,4
Nguồn: Công ty TNHH Emivest Việt Nam, 2011
Trang 16Bảng 2.3: Khối lượng chuẩn cơ thể và thời gian chiếu sáng của gà Hisex Brown
Thời gian chiếu sáng (giờ) Tuần tuổi Khối lượng chuẩn cơ thể gà
15 15,5
15 15,5
Nguồn: Công ty TNHH Emivest Việt Nam, 2010
2.2 Nhu cầu dinh dưỡng gà đẻ
2.2.1 Nhu cầu năng lượng
Năng lượng là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá trị dinh dưỡng của thức ăn Năng lượng tỏa nhiệt tùy thuộc vào môi trường nuôi dưỡng, thành phần dinh dưỡng của khẩu phần và trạng thái, chức năng sinh lý
của cơ thể (Vũ Duy Giảng và ctv 1997)
Trang 17Năng lượng cần thiết cho các hoạt động sống của cơ thể: Tiêu hóa, tuần hoàn, hô hấp, sinh sản, bài tiết trao đổi chất Nguồn cung cấp năng lượng cho
cơ thể gia cầm chủ yếu là tinh bột, dầu, protein trong thức ăn Mục đích của việc sử dụng thức ăn để sản xuất năng lượng cung cấp cho các hoạt động cơ thể Theo Lưu Hữu Mãnh (1999) nhu cầu để sản xuất một quả trứng tiêu chuẩn nặng 57 g là 122 Kcal
Nhu cầu năng lượng của gia cầm thay đổi theo nhiệt độ môi trường, giống loài, giới tính và khả năng sản xuất của gia cầm (Nguyễn Đức Hưng,
2.2.1.1 Nhu cầu năng lượng cho duy trì
Theo Bùi Xuân Mến (2008), nuôi gia cầm cho mục đích sản xuất, trước hết phải nuôi dưỡng để duy trì sự sống, mặc dù chúng có sản xuất hay không Một lượng đáng kể thức ăn tiêu tốn của gia cầm là để sử dụng cho duy trì sự sống Nhu cầu năng lượng để duy trì của gia cầm bao gồm sự trao đổi cơ bản của hoạt động bình thường Trao đổi cơ bản là sự tiêu phí năng lượng tối thiểu hoặc sự sinh nhiệt trong những điều kiện khi ảnh hưởng của thức ăn, nhiệt độ môi trường và hoạt động chủ động bị loại ra
Sự sinh nhiệt cơ bản thay đổi theo độ lớn của vật nuôi, nhìn chung thì độ lớn vật nuôi tăng thì sự sinh nhiệt cơ bản trên một đơn vị thể trọng giảm Sự sinh nhiệt cơ bản của gà con mới nở vào khoảng 5,5 calo trên một gam thể trọng trong một giờ, nhưng trái lại đối với gà mái trưởng thành thì chỉ bằng phân nữa số lượng này
Năng lượng yêu cầu cho hoạt động cơ thể thay đổi đáng kể, thường được ước tính bằng khoảng 50% của sự trao đổi cơ bản Điều này có thể ảnh hưởng bởi những điều kiện chuồng trại cũng giống như gia cầm được nuôi Sử dụng chuồng lồng làm giới hạn các hoạt động sẽ dẫn đến tiêu phí năng lượng thấp hơn, cỡ khoảng 30% của trao đổi cơ bản so với nuôi nền
Mặc dù thực tế những động vật lớn hơn yêu cầu nặng lượng duy trì thấp hơn trên một đơn vị thể trọng, nhưng tổng năng lượng cho những động vật lớn hơn lại cao hơn nhiều so với vật nhỏ hơn Từ quan điểm thực tiễn cho thấy, một gà mái sản xuất trứng có độ lớn cơ thể nhỏ nhất, đẻ trứng lớn và sức sống
Trang 18cao sẽ có khả năng chuyển đổi thức ăn thành sản phẩm hiệu quả nhất, vì tiêu phí năng lượng duy trì thấp Chăn nuôi gà tây thịt đạt đến độ bán trong một thời gian ngắn nhất sẽ đạt hiểu quả nhất về biến đổi thức ăn thành sản phẩm, vì nếu kéo dài thời gian nuôi sẽ phải chi phí duy trì lớn hơn
Hầu hết gà đang đẻ trứng và gà thịt đang sinh trưởng điều được cho ăn tự
do theo yêu cầu sản xuất Lượng thức ăn gia cầm tiêu thụ có liên quan trước hết đến nhu cầu năng lượng của gia cầm thời gian đoạn này Khi các chất dinh dưỡng khác có đủ lượng trong thức ăn thì khả năng tiêu thụ thức ăn được xác định trước tiên dựa trên mức năng lượng của khẩu phần Mức tiêu thụ năng lượng của gia cầm hằng ngày có thể đó bằng Kcal năng lượng trao đổi thì chắc chắn sẽ ổn định hơn là tổng lượng thức ăn tiêu thụ, nếu trong khẩu phần có chứa các mức năng lượng khác nhau (Bùi Xuân Mến, 2008)
Theo Dương Thanh Liêm và ctv (2002) thì gà mái trọng lượng 2 kg có
năng lượng trao đổi chất cơ bản là 0,6 MJ/ngày Nếu nhu cầu này bằng 80% thì nhu cầu năng lượng cho duy trì là:
0,6 : 0,8 = 0,75 MJ/ngày
2.2.1.2 Nhu cầu năng lượng cho sinh trưởng
Theo Bùi Xuân Mến (2008) thì trong hầu hết các trường hợp, nhu cầu
năng lượng không được trình bày một cách chính xác như các nhu cầu về acid amin, vitamin và khoáng, tốc độ tăng trưởng tốt có thể đạt được với một biên
độ rộng của các mức năng lượng Bởi vì gia cầm có khả năng điều chỉnh lượng thức ăn ăn vào để duy trì một mức tiêu thụ năng lượng khá ổn định Nhìn chung tốc độ tăng trưởng tối đa sẽ không đạt được với khẩu phần khởi động cho gà và gà tây con có mức năng lượng dưới 2640 Kcal ME/kg Gà thịt thường được cho ăn mức năng lượng cao hơn gà hậu bị thay thế Trong sản xuất gà thịt, tốc độ tăng trọng tối đa là yêu cầu cần thiết để gà đạt trọng lượng bán trong thời gian ngắn nhất, nhưng với những gà hậu bị thay thế thì tốc độ tăng trưởng nhanh lại ít quan trọng hơn Thực tế sản xuất cho thấy, khẩu phần khởi động cho gà con làm gà hậu bị thấy thế có từ 2750 - 2970 Kcal/kg, ngược lại khẩu phần khởi động của gà thịt lại chứa mức năng lượng cao hơn, trong phạm vi từ 3080 - 3410 Kcal/kg
2.2.1.3 Nhu cầu năng lượng cho sản xuất
Năng lượng thuần cho một mái đang có tỷ lệ đẻ cao gồm năng lượng tiêu phí cho duy trì và năng lượng dự trữ trong trứng Nếu tốc độ cơ bản trao đổi (lũy thừa của 0,75 của trọng lượng sống), hoạt động duy trì coi như bằng 50% của trao đổi cơ bản và một trứng lớn chứa 90 Kcal Một gà mái nặng 1,8 kg,
Trang 19trong môi trường thích hợp đẻ một trứng một ngày cần khoảng 250 Kcal năng lượng trong mỗi ngày Hiệu quả sử dụng năng lượng trao đổi cho mục đích sản xuất này là 75%, do đó năng lượng trao đổi cần ăn vào khoảng 330 Kcal
ME Như vậy, lượng thức ăn cần thiết để đáp ứng cần thiết cho gà đẻ là 110 g Những giả định này sẽ tạo cơ sở cho ước lượng tiêu thụ thức ăn của gia cầm
Gà mái còn có khả năng thay đổi mức tiêu thụ thức ăn theo mức năng lượng trong khẩu phần Tuy nhiên mức năng lượng tối thiểu trong khẩu phần của gà đang đẻ không thể dưới mức 2640 Kcal ME/kg Khi gà mái phải chịu đựng trong môi trường lạnh thì mức năng lượng không thể thấp hơn 2750 Kcal ME/kg thường thì mức năng lượng trong khẩu phần sẽ tùy thuộc vào mức độ
của giá thức ăn trong thực tế sản xuất (Bùi Xuân Mến, 2008)
Lượng ăn vào cũng như nhu cầu năng lượng cho duy trì chịu ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường và độ mọc lông của gà Ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường lớn khi gà không mọc lông đầy đủ Nhu cầu này giảm 1 - 2% cho mỗi
1oC năng lên ở nhiệt độ từ 10 - 30oC Hay một gà trọng lượng 2 kg thích ứng ở nhiệt độ 25oC cần thêm 0,018 MJ/ngày cho mỗi độ dưới 25oC
Theo Dương Thanh Liêm và ctv (2002) đặc trưng gia cầm là không có
vùng nhiệt độ trung hòa rõ rệt Khi nhiệt độ môi trường cao lên hay giảm thấp thì chúng ăn thức ăn ít hay nhiều lên Nếu dựa vào trao đổi chất cơ bản (hay nhiệt lượng tỏa ra do phân giải lúc đói) thì nhu cầu cho duy trì phải cao hơn 20% nhu cầu trao đổi chất cơ bản
Trong thực tế khi được cho thức ăn tự do, gà tự tăng đối năng lượng ME
ăn vào với nhu cầu của chúng Thường hàm lượng ME trong thức ăn gà đẻ từ
10 - 20 MJ/kg (11,5 - 13,5 MJ/kg chất khô) Nếu tăng hay giảm 1% hàm lượng năng lượng trong thức ăn (lớn hơn 12 MJ hay dưới 10 MJ) gây nên sự tăng hay giảm tương ứng lượng thức ăn khoảng 0,5% Nếu gà ăn khẩu phần chứa ít hơn 12 ml/kg thức ăn có thể làm tăng tích lũy mỡ, làm mau hư gà mái nhưng không làm tăng số lượng trứng đẻ (mặc dù trọng lượng trứng có thể tăng)
Bảng 2.4: Mức năng lượng cần thiết trong khẩu phần theo tỷ lệ đẻ của gia cầm
Trang 202.2.2 Nhu cầu chất béo
Chất béo cần thiết cho sự sống của động vật và thực vật trong nhiều mặt Chúng thường được biết đến như năng lượng từ thức ăn Trong thức ăn hỗn hợp cho gà, thành phần chất béo không nhiều nhưng không thể thiếu Hầu hết các lipid thực vật đều có chưa acid béo bão hòa và cá acid béo chưa bảo hòa Trong các acid béo chứa bão hòa như acid linoleic, acid lenolenic và acid
arachinoic, đây là những acid béo thiết yếu cho cơ thể gà (Võ Bá Thọ, 1996)
Lipid cần thiết cho sự hình thành trứng Trong lòng đỏ trứng gà có chứa 31% lipid trung tính, 9% photphatid và 1,7% cholesterol (Melekhin and Gridin, 1997)
Chất béo làm thành trên 40% lượng vật chất khô trong trứng, 17% trong
gà thịt và 12% trong gà Tây thịt Trong thức ăn gia cầm lại chứa một lượng chất béo thấp hơn nhiều và hầu hết các thực liệu chỉ chứa từ 2 - 5% chất béo Chất béo có thể là nguồn cung cấp năng lượng kinh tế trong khẩu phần của gia cầm và nó thường được bổ sung trong thức ăn của gà thịt và gà đẻ trứng hiện nay
Chất béo có tác dụng bôi trơn khi gà nuốt thức ăn, cung cấp các acid béo thiết yếu, cần thiết cho cơ thể như acid linoleic, acid linolenic, acid arachidonic,… Linoleic acid rất cần thiết cho sự sinh trưởng và mọc lông của gia cầm, nếu thiếu thì chúng sẽ bị còi cọc, rụng lông, lỡ da, gan bị tích dầu, khả năng chống đỡ đường tiêu hóa giảm, chất lượng trứng kém Từ acid linoleic, cơ thể có thể chuyển thành acid arachidonic với sự có mặt của vitmin B6 Từ chất béo, cơ thể chúng có thể chuyển hóa thành chất khác và cùng
tham gia tạo nên sản phẩm thịt trứng của gia cầm (Dương Thanh Liêm và ctv., 2002)
Trang 21Tác dụng tham gia vào quá trình tạo mỡ và là dung môi hòa tan các loại vitamin: A, D, E, K, có thể chuyển thành năng lượng khi cần thiết Đối với gia cầm chất béo cần thiết cho việc hấp thụ carotene
Trong thức ăn hỗn hợp cho gà, thành phần chất béo không nhiều nhưng không thể thiếu Hầu hết các lipid thực vật đều có chứa các tỷ lệ khác nhau hai loại chất béo, là acid béo bão hòa và acid béo chưa bão hòa Trong các acid béo chưa bão hòa như acid linoleic, acid linolenic, acid arachidonic, đây là những acid béo thiết yếu cho cơ thể gà Các tổ hợp gà trứng đang nuôi tại Việt
Nam thường dùng 1 - 1,6% acid linoleic được dùng tối đa (Võ Bá Thọ, 1996)
Gà đẻ cần được bổ sung chất béo khẩu phần và hầu hết các chất béo trong lòng đỏ trứng được hình thành trong gan bằng cách sử dụng axid béo thu được từ khẩu phần hay tổng hợp theo cơ chế de novo Cung cấp khẩu phần giảm về số lượng nhưng đầy đủ acid béo cần thiết để tổng hợp acid béo ở gan
sẽ làm tăng khối lượng lòng đỏ của trứng (Whitehead, 1981; March and MacMillan, 1990)
Sức sản xuất càng lớn thì khả năng chuyển hóa ME vào sản phẩm càng cao, để tối ưu hóa năng suất trứng cho gà đẻ, ngày nay người ta thường cung cấp đầy đủ năng lượng cho gà bằng cách bổ sung khẩu phần các loại dầu hay
mỡ có nguồn gốc động vật hay thực vật Phần lớn cho thấy chất béo bổ sung không ảnh hưởng nhiều đến năng suất trứng mà ảnh hưởng hưởng đến lượng thức ăn ăn vào và cải thiện khả năng chuyển hóa thức ăn Tùy loại chất béo bổ sung mà khả năng tiêu hóa hay chuyển hóa chất béo của vật nuôi cũng khác nhau (Dương Thanh Liêm, 2003)
Bảng 2.5: Tỷ lệ tiêu hóa của chất béo
Các lọai chất
béo
Tỷ lệ tiêu hóa (%)
Kcal ME/kg
TĂ Dầu đậu nành
Nguồn: Kakul et al 1998
Với mức độ chất béo thích hợp thì chất lượng hay số lượng các loại sản phẩm mà gia cầm tạo ra, các chỉ tiêu sinh hóa máu cũng không bị ảnh hưởng bất lợi từ các nguồn cung cấp chất béo này Do đó quá trình này sẽ diễn ra
Trang 22theo chiều hướng này vừa có lợi và an toàn cho vật nuôi cũng như người tiêu thụ các loại sản phẩm này vừa góp phần hạ giá thành chăn nuôi
Dương Thanh Liêm (2003), biện pháp chủ yếu làm tăng sự hấp thụ chất béo là làm cho nó được nhũ hóa bởi các chất nhũ hóa Nghiên cứu trước đây cho biết lợi ích của các phospholipids là cải thiện năng suất và thể trạng cho
gà đẻ khi khẩu phần nuôi dưỡng có chứa lecithin thô hoặc lecithin khử dầu từ đậu nành
2.2.3 Nhu cầu protein
Protein là cơ sở của sự sống, chúng thực hiện vai trò tạo hình và cấu tạo nên tế bào, hormone, kháng thể Protein là nguồn năng lượng duy trì trạng thái cân bằng acid bazo điều hòa và trao đổi chất trong cơ thể (Melekhin and Grindin, 1997)
Sự tổng hợp protein trong tổ chức tế bào, ngoài ảnh hưởng của acid amin, còn bị giới hạn bởi cũng cấp năng lượng Khẩu phần đầy đủ năng lượng
sẽ làm giảm năng suất tổng hợp protein, từ đó giảm giá trị sinh học của protein Vậy muốn tổng hợp được protein với năng suất cao cần phải cung cấp đầy đủ không chỉ acid amin mà cả năng lượng, dư thừa 1 trong 2 yếu tố đều không tốt Trong cơ thể động vật nói chung và gia cầm nói riêng, không thể tổng hợp protein từ gluxid và lipid mà bắt buộc phải lấy protein từ thức ăn đưa vào hằng ngày một cách đều dặn với một số lượng đầy đủ và theo một tỷ lệ thích hợp so với các chất dinh dưỡng khác
Theo Dương Thanh Liêm (2003) thì protein là nguyên liệu chính cấu tạo nên sản phẩm thịt và trứng gia cầm để cung cấp thực phẩm giàu protein cho người Trong trứng gia cầm có khoảng 13 - 20% protein Trong cơ thể gia cầm, protein chỉ được tổng hợp khi trong thức ăn có chứa chúng với số lượng
và chất lượng cần thiết Quá trình tiêu hóa protein cũng chính là sự phân giải thành các acid amin dưới tác dụng của enzyme cho cơ thể sử dụng để tạo ra protein của bản thân cơ thể và cho sản phẩm (Lương Đức Phẩm, 1982)
Giá trị sinh học của protein có trong thức ăn được đánh giá bằng sự hiện diện các acid amin mà cơ thể không tự tổng hợp được hoặc tổng hợp được nhưng không đáp ứng đủ yêu cầu của cơ thể Đối với gia cầm, các acid amin giới hạn là lysine, methionine, trytophan và threonine (Melekhin and Grindin, 1997) Khi thiết lập khẩu phẩn cho gia cầm, cần cung cấp đầy đủ tất cả các acid amin thiết yếu và đủ nitơ tổng số để gia cầm có thể tổng hợp các acid amin khác khi cần thiết Nếu thiếu protein thì gà sẽ chậm lớn, còi cọc, mức sản xuất trứng thấp, mọc lông kém và tạo ra tỷ lệ mỡ cao trong thân thịt nếu so với gia cầm được nuôi dưỡng đầy đủ (Bùi Xuân Mến, 2008)
Trang 23Nếu cung cấp thừa protein trong thức ăn sẽ lãng phí làm tăng giá thành
sản phẩm Mặt khác, protein thừa không tiêu hóa gây lên men thối ở ruột già
và dẫn đến tình trạng tiêu chảy Đồng thời sự dư thừa acid amin quá mạnh thải
ra ure và acid uric có hại cho gan thận Sự dư thừa protein làm cho nồng độ
acid amin trong máu tăng, giảm tính thèm ăn của gia cầm, không cải thiện
tăng trọng mà còn làm giảm khối lượng cơ thể và sự ngộ độc protein sẽ xảy ra
khi khẩu phần có chứa 30% protein (Dương Thanh Liêm, 2003)
Trong giai đoạn đẻ trứng cần cung cấp đầy đủ protein cho gà để giữ cho
cơ thể luôn luôn có sự trao đổi chất cao đồng thời đảm bảo cho hoạt động nội
tiết bình thường (tuyến yên, tuyến giáp trạng, tuyến ở buồng trứng,…) vì
những tuyến này ảnh hưởng rất lớn đến sức sản xuất của gia cầm
(Dương Thanh Liêm và ctv., 2002)
2.2.4 Nhu cầu các vitamin và khoáng
Theo Đào Đức Long (2004) thì vai trò của vitamin trong dinh dưỡng gia
cầm cũng rất quan trọng Chúng tham gia vào quá trình trao đổi chất của cơ
thể, đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của gia cầm Vitamin được chia
làm 2 nhóm: Vitamin tan trong dầu (A, D, E và K) và vitamin tan trong nước
(B, PP, C và H)
Trong khẩu phần nếu đủ các chất dinh dưỡng chính như: Năng lượng,
protein, khoáng chất, lipid nhưng thiếu vitamin thì các chất dinh dưỡng ấy
không thể hiện đầy đủ các hoạt tính sinh học của chúng Vì vậy, có đủ các
vitamin là rất cần thiết
Bảng 2.6: Bổ sung các vitamin vào khẩu phần ăn cho gà đẻ trứng thương phẩm
Các vitamin/kg thức ăn Theo Scott, 1987 Mỹ, 1992 ACE, 1988
15400
3300 27,5 2,2 2,2 9,0 13,2 44,0 5,5 0,22 1,00
10000
2200
25 2,0 0,5 4,0 5,0 10,0
-
-
-
Trang 24Nguồn: Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận, 1999
Theo Vũ Duy Giảng (1997) thì vitamin trong cơ thể là chất xúc tác nên chỉ cần lượng vitamin rất ít mà các chuyển hóa trong cơ thể cũng đạt tốc độ phản ứng nhanh và hiệu quả sử dụng cao
Theo Võ Bá Thọ (1996), vitamin đóng vai trò rất quan trọng mà không
cơ thể sống nào thiếu nó được Trong các loài gia cầm, gà công nghiệp rất nhạy cảm với sự thiếu vitamin Đặc biệt đối với các giống gà có năng suất cao, chỉ cần thiếu một ít vitamin cũng làm ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng và giảm sức sản xuất của chúng
Khoáng chất là một phần vô cơ của thức ăn hoặc các mô Chúng được chia thành 2 loại dựa trên số lượng cần thiết trong khẩu phần Nhu cầu đa lượng hay vi lượng thường được xem như là một tỉ lệ phần trăm của khẩu phần (NRC, 1994) Nhu cầu về khoáng chất thường được thực hiện bởi nồng
độ hiện diện trong thành phần thức ăn thông thường Do đó, thức ăn chăn nuôi trồng ở một số địa lý có thể thiếu các khoáng chất cụ thể Vì vậy, khẩu phần
ăn của gia cầm cần được bổ sung để đảm bảo đủ lượng khoáng chất Các mối tương tác xảy ra giữa các khoáng chất như đồng và molypden, selen và thủy ngân, canxi và thủy ngân (Mertz, 1986), khi nồng độ quá mức của một trong những khoáng chất có thể dẫn đến giảm tính hữu dụng của yếu tố khác Người thiết lập khẩu phần ăn cho gia cầm phải nhận thức được những tương tác này
và hình thức hóa học (sự kết hợp caption - anion) của các nguồn khoáng chất
(Allway, 1986) Các muối khoáng được sử dụng như chất bổ sung trong thức
ăn không chứa các hợp chất tinh khiết nhưng có thể chứa khoáng chất khác
Theo Vũ Duy Giảng (1997), chất khoáng quan trọng cho gà đẻ là Ca, P
Gà mái có tốc độ chuyển hóa Ca rất cao, khẩu phần không đủ Ca sẽ làm giảm sản lượng trứng, vỏ trứng mỏng, dễ vỡ, trứng nhỏ, tỷ lệ nở kém Nhu cầu Ca cung cấp cho gà mái đẻ gấp 2 - 3 lần so với gà mái không đẻ, do phần Ca cần
sử dụng để tạo vỏ trứng Nhu cầu Ca tối thiểu khoảng 3 g/ngày hoặc 3 - 4%/kg thức ăn Nhu cầu P cung cấp cho gà mái đẻ cũng cần cao hơn, tối thiểu khoảng 0,5 - 0,6 g/kg thức ăn Khi cung cấp Ca và P cần đảm bảo tỷ lệ thích hợp là 2/1 - 3/1 Ngoài Ca, P cũng cần cung cấp đủ Na, Cl, K, Fe, Cu, Zn, Mn, Mg, I,
Se và Co cho gà mái đẻ
2.3 Vai trò vitamin E và Selenium trong dinh dưỡng gà đẻ
2.3.1 Vitamin E
Trang 25Evans and Emerson (1936) đã tìm ra vitamin E trong lúa mì, được gọi là
Tocopherol (Toco = đẻ con, phero = mang, ol = rượu) Có 8 dạng vitamin E
trong tự nhiên đang hoạt động, trong đó có 4 vitamin bão hòa , , và
- Tocopherol là dạng hoạt động sinh học mạnh nhất và phổ biến nhất
Đơn vị tính là IU = hoạt động của 1 mg axetat - tocopherol tổng hợp
Nguồn cung cấp: Vitamin E phân bố rộng rãi trong thức ăn, cỏ tươi và cỏ
non là nguồn rất giàu vitamin E Giá đỗ và mầm của hạt ngũ cốc (lúa) chứa rất
nhiều vitamin E Lá chứa gấp 20 - 30 lần so với cọng Hạt ngũ cốc cũng là
nguồn chứa vitamin E nhưng thành phần hóa học thay đổi theo giống Ví dụ,
hạt lúa mì chứa chủ yếu là - tocopherol, ngô còn có thêm - tocopherol Ở
động vật, vitamin E có trong mỡ bò, mỡ cá (hàm lượng thấp)
Vai trò chủ yếu của vitamin E là:
- Kích thích phần đầu tuyến yên tạo ra các hoocmon sinh sản để điều tiết
hoạt động các tuyến dưới thuộc hệ sinh sản và tăng năng suất vật nuôi
- Loại bỏ quá trình hình thành chất độc trong cơ thể và đào thải chúng ra
khỏi cơ thể
- Giúp lòng đỏ trứng có màu vàng đỏ tươi, cân bằng tích lũy vitamin A
trong trứng và gan gia cầm
- Là một chất chống oxy hóa thức ăn, ngăn chặn sự hình thành các
peroxyd và bảo vệ các axid béo chưa no (acid linoleic, acid linolenic, acid
arachidonic)
- Ngăn ngừa có hiệu quả bệnh gà điên (Encephalomalacia) (Công ty
Nhân Lộc - Roveto, 2014)
2.3.2 Vai trò của Selenium
Selenium là chất vi dinh dưỡng thiết yếu cho động vật với chức năng khử
các chất oxy hóa như các glutathion peroxidaza và một vài dạng nhất định của
thioredoxin reductaza, ngăn ngừa kích thích về mặt hóa học cho các tác nhân
gây ung thư, gia tăng hoạt động miễn dich (Công ty TNHH Phermavet, 2012)
Selenium là chất khoáng thiết yếu cần thiết cho sự tăng trưởng bình
thường ở gia cầm Nồng độ selenium theo đề nghị trong thực đơn của gà mái
đang đẻ là từ 0,05 - 0,08 ppm tương quan thức ăn hằng ngày (NRC, 1994)
Việc bổ sung Se trong thức ăn có thể ảnh hưởng trên một số thông số chất
lượng trứng, độ tươi của trứng (Arpasova, 2009) Theo Scott Slemmons
(1957) cho rằng việc bổ sung Selen (Se) vào thức ăn cho gia cầm là biện pháp
đầu tiên để làm giảm nguy cơ lây lan đại dịch cúm gia cầm (CGC) bùng phát
Trang 26từ Đông Nam Á Các nhà khoa học cho rằng nó có khả năng làm giảm mức độ biến thể của virus H5N1 Ngoài ra, việc bổ sung Se trong thức ăn gia cầm không chỉ cải thiện sức khỏe, năng suất mà còn là cách tự nhiên cho việc sản xuất ra sản phẩm thiết thực như trứng được nâng cao chất lượng với selenium
(Gjorgovska, 2011)
2.4 Quy luật đẻ trứng của gia cầm
Gà đẻ trứng thương phẩm thường loại thải sau 1 năm đẻ (500 - 550 ngày tuổi), từ khi đẻ quả trứng đầu tiên gia cầm mái trải qua các biến đổi về sinh lý, sinh hóa có liên quan đến sức đẻ trứng, khối lượng trứng, khối lượng cơ thể và
hiệu quả sử dụng thức ăn (Nguyễn Đức Hưng, 2006)
Ở gia cầm tơ hay gà mái đẻ trứng năm đầu thì quy luật đẻ trứng thường tuân theo 3 pha:
+ Pha 1: Từ khi đẻ quả trứng đầu tiên đến hết 3 tháng đẻ trứng Trong pha này sản lượng trứng đẻ tăng từ ngày đẻ đầu tiên đến khoảng 2 - 3 tháng
đẻ Đồng thời với tăng sản lượng trứng và khối lượng trứng thì khối lượng cơ thể gà mái tăng lên Pha đầu tiên sự đẻ trứng thường kết thúc lúc 32 tuần tuổi + Pha 2: Sau khi sản lượng trứng đạt đỉnh cao thì pha 2 của sự đẻ trứng bắt đầu Lúc này, sản lượng trứng giảm từ từ nhưng khối lượng trứng và khối lượng cơ thể gà mái không giảm, giai đoạn cuối gà mái có dấu hiệu tích lũy
mỡ Pha 2 kéo dài khoản 62 tuần tuổi khi sức đẻ trứng giảm xuống còn 65% so với tổng số gà mái đẻ trong ngày
+ Pha 3: Tiếp theo pha 2 cho đến khi gà mái có biểu hiện thay lông Trong pha này, sản lượng trứng giảm đến khi ngừng đẻ hẳn Khối lượng trứng giảm nhẹ hoặc ổn định nhưng chi phí thức ăn để sản xuất trứng tăng
Ngoài ra, theo Dương Thanh Liêm (2003) cho rằng gà đẻ trứng qua 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn bắt đầu đẻ: Tỷ lệ đẻ tăng dần lên, sao gần 2 tháng nó đạt đỉnh cao của năng suất và duy trì ở đó một thời gian rồi giảm dần năng suất Nuôi dưỡng một cách khoa học là khi gà máy đẻ tăng dần thì ta cũng cho ăn tăng dần, tương tự khi gà máy đẻ giảm dần thì ta cũng cho ăn giảm theo Ở các nước chăn nuôi gà công nghiệp tiên tiến người ta chia giai đoạn sản xuất trứng của gà mái chia làm 2 thời kỳ:
+ Kỳ đầu: Giai đoạn bắt đầu đẻ, năng suất trứng tăng dần cho đến đỉnh cao và duy trì ở đó một thời gian (thường từ 20 - 40 tuần)
Trang 27+ Kỳ cuối: Giai đoạn từ năng suất đẻ trứng cao giảm dần xuống thấp (thường thì 40 - 80 tuần)
Thời gian phân bố ở 2 giai đoạn đầu kỳ đẻ và hậu kỳ đẻ có thể thay đổi theo các giống khác nhau, điều kiện nuôi dưỡng cũng khác nhau và công tác loại thải ở cuối kỳ khác nhau
Đối với gà mái đẻ thì việc xác định nhu cầu dinh dưỡng là một công việc rất phức tạp bởi vì không để cho gà mái đẻ ăn thiếu, hoặc thừa được mà cần thiết phải cho ăn vừa đủ Cho ăn cỡ nào là vừa đủ thì lại phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: Tuổi gà mái, mức ăn được của gà, phương thức nuôi gà mái
2.5.2 Tuổi của gà
Tuổi gia cầm cũng có liên quan đến năng suất trứng Sản lượng trứng của
gà giảm dần theo tuổi, thường thì sản lượng năm thứ 2 giảm 15 - 20% so với năm thứ nhất Một số loài gia cầm như vịt và ngỗng thì sản lượng trứng năm thứ 2 cao hơn năm thứ 1 Riêng ngỗng thì sản lượng trứng cao nhất ở năm thứ
3 (Bùi Hữu Đoàn và ctv., 2009)
Tuổi thành thục sinh dục liên quan đến sức đẻ trứng của gia cầm Thành thục sớm là 1 tính trạng mong muốn Tuy nhiên, cần phải chú ý đến khối lượng cơ thể Tuổi bắt đầu đẻ và kích thước cơ thể có tương quan nghịch Chọn lọc theo hướng tăng khối lượng quả trứng sẽ làm tăng khối lượng cơ thể
gà và tăng tuổi thành thục sinh dục Tuổi thành thục sinh dục xác định qua tuổi
đẻ quả trứng đầu tiên Tuổi thành thục sinh dục của 1 nhóm hoặc 1 đàn gia cầm được xác định theo tuổi đạt tỷ lệ đẻ trứng là 5% (Nguyễn Thị Mai và ctv., 2009)
Bảng 2.7: Ảnh hưởng của tuổi gia cầm đến sản lượng trứng (%)
Năm đẻ
Gà
Vịt
Ngỗng
Trang 28amin, cân bằng các chất khoáng và vitamin (Bùi Hữu Đoàn và ctv., 2009)
T
Tùy lượng thức ăn thu nhận hằng ngày của gia cầm mà phối hợp khẩu
phần cho thích hợp Nếu khẩu phần không đảm bảo nhu cầu về protein thì sẽ làm ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất trứng Năng suất trứng giảm xuống và khối lượng trứng cũng nhỏ hơn bình thường Mức protein thiếu nghiêm trọng
sẽ ảnh hưởng đến chất lượng trứng và tỷ lệ nở sẽ giảm Khẩu phần không đáp ứng đủ nhu cầu vitamin và khoáng thì không những giảm năng suất trứng mà còn ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả ấp nở Tỉ lệ trứng không có phôi sẽ tăng cao hơn Khẩu phần thừa năng lượng làm gia cầm tích lũy nhiều mỡ trong cơ thể cũng ảnh hưởng tới quá trình tạo trứng thông qua hoạt động hormone sinh dục không bình thường
Thức ăn chất lượng kém sẽ không thể cho năng suất cao, thậm chí còn gây bệnh cho gia cầm Các loại thức ăn bảo quản không tốt, bị nhiễm nấm mốc, lẫn các loại kim loại nặng và bảo vệ thực vật, thậm chí các loại thức ăn hỗn hợp đảm bảo đầy đủ và cân bằng các chất dinh dưỡng nhưng bảo quản không tốt cũng sẽ không phá hủy được tác dụng trong chăn nuôi gia cầm (Bùi
Hữu Đoàn và ctv., 2009)
2.5.4 Chăm sóc và điều kiện ngoại cảnh
Các điều kiện ngoại cảnh như thời tiết, khí hậu (cụ thể như nhiệt độ, độ
ẩm, ánh sáng, ) của chuồng nuôi đều ảnh hưởng đến sức đẻ trứng của gia cầm Trong các yếu tố này thì nhiệt độ là yếu tố quan trọng nhất, ở gà nhiệt độ thích hợp cho quá trình đẻ trứng từ 18 - 24oC; tuy nhiên nhiệt độ thích hợp nhất là 20oC Nhiệt độ quá thấp hay quá cao đều không có lợi cho gia cầm và
làm giảm sức đẻ trứng (Nguyễn Thị Mai và ctv., 2009)
Trang 29Khi nhiệt độ cơ thể dưới 20oC, gia cầm phải huy động thêm năng lượng
để duy trì thân nhiệt cơ thể Vì vậy mà hiệu quả sử dụng thức ăn giảm xuống, tiêu tốn thức ăn để sản xuất 10 quả trứng sẽ cao hơn ở 20oC Ngược lại, khi nhiệt độ vượt trên 20oC thì gia cầm bắt đầu có hiện tượng cần thải nhiệt, lượng thức ăn thu nhận sẽ có xu hướng giảm Tác động bất lợi đến năng suất trứng rõ rệt hơn khi nhiệt độ vượt quá 20oC Khi nhiệt độ môi trường cao, để giúp cho quá trình thải nhiệt, gia cầm phải tăng cường hô hấp Sự mất nhiều CO2 làm tăng khả năng nhiễm kiềm trong máu Điều này làm cho quá trình trao đổi chất của gia cầm không bình thường, ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng sinh sản của gia cầm Chính vì thế khi nhiệt độ môi trường tăng cao không những làm giảm năng suất trứng còn ảnh hưởng đến chất lượng trứng Vỏ trứng mỏng hơn bình thường nếu dinh dưỡng không hợp lí trong điều kiện nóng ẩm còn
làm nhiều trứng đẻ ra không có vỏ (Bùi Hữu Đoàn và ctv., 2009)
Liên quan chặt chẽ đến nhiệt độ là độ ẩm Không khí trong chuồng nuôi thường xuyên bão hòa hơi nước, do đó muốn đẩy mạnh lượng hơi nước thừa
ra bên ngoài cần có hệ thống thông khí Độ ẩm không khí trong chuồng nuôi tốt nhất là 65 - 70%, về mùa đông độ ẩm không nên vượt quá 80% Sự thông thoáng tốt không chỉ đảm bảo độ ẩm thích hợp trong chuồng nuôi mà còn đẩy khí độc trong chuồng nuôi ra ngoài, đảm bảo một môi trường sống phù hợp
với gia cầm (Bùi Hữu Đoàn và ctv., 2009)
Ngoài nhiệt độ và độ ẩm thì chế độ chiếu sáng (thời gian và cường độ chiếu sáng) có ảnh hưởng rõ rệt đến sức đẻ trứng của gia cầm Chế độ chiếu sáng trong thời kì hậu bị không những ảnh hưởng đến tuổi thành thục sinh dục của gia cầm mà còn ảnh hưởng đến khả năng đẻ trứng Đối với gia cầm đẻ trứng, yêu cầu thời gian chiếu sáng mỗi ngày từ 14 - 17 giờ, nếu thời gian chiếu sáng ngắn hơn thì phải dùng thêm đèn chiếu sáng Cường độ chiếu sáng thích hợp nếu nuôi chuồng kín từ 5 - 10 lux/m2 chuồng nền, nếu nuôi chuồng thông thoáng tự nhiên là 20 - 40 lux/m2 nền chuồng (Bùi Hữu Đoàn và ctv.,
2009)
Ở nước ta gia cầm đẻ trứng còn chịu nhiều chi phối của nhiều yếu tố tự nhiên mà trực tiếp ảnh hưởng đến sức đẻ trứng là gió mùa đông bắc về mùa đông và gió lào về mùa hè Hơn nữa, ở nước ta vẫn nuôi theo kiểu chuồng thông thoáng tự nhiên nên vấn đề chống nóng và chống rét vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là vấn đề chống nóng trong mùa hè Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho đàn gia cầm mà nước ta nhập từ nước ngoài về
chưa đạt năng suất cao (Nguyễn Thị Mai và ctv., 2009)
Trang 302.6 Các chỉ tiêu đánh giá năng suất chất lượng trứng của gà đẻ thương phẩm
Nguyễn Đức Hưng (2006) đã đưa ra cách xác định một số chỉ tiêu đánh
giá năng suất chất lượng trứng như sau:
2.6.1 Sản lượng trứng
Sản lượng trứng là số trứng đẻ ra từ một gia cầm mái trong một khoảng thời gian nhất định - thường là 1 năm đẻ trứng (sản lượng trứng/năm/gia cầm mái) Sản lượng trứng được xác định theo cá thể (các cơ sở giống bắt buộc phải theo dõi cá thể) hoặc theo nhóm Sản lượng trứng cá thể phải theo dõi thông qua đánh giá gia cầm và sử dụng ổ đẻ tự động (ổ sập) Sản lượng trứng theo nhóm chính là sản lượng trứng trung bình bằng tổng số trứng thu được trong thời gian nhất định chia cho số lượng gia cầm mái bình quân trong thời gian đó Hiện tồn tại nhiều cách tính sản lượng trứng khác nhau đó là tính trên
số mái đầu kỳ, tính trên số mái cuối kỳ hay tính trên số mái bình quân có mặt Mỗi cách tính đưa ra những sai số nhất định so với sản lượng trứng thực tế của gia cầm mái Sản lượng trứng/năm cũng có nhiều cách xác định khác nhau
Năm đẻ trứng sinh học tính từ khi gia cầm mái đẻ quả trứng đầu tiên đến ngày đó của năm tiếp theo Một số nước tính sản lượng trứng cho đến khi gia cầm mái đạt 500 ngày tuổi Vì vậy, trước khi phân tích và so sánh thì cần xem cách tính cụ thể như thế nào, trong trường hợp cụ thể mà số liệu được đưa ra
2.6.2 Khối lượng trứng
Khối lượng trứng của gia cầm mái được xác định bằng khối lượng trứng trung bình/năm (g/quả) hoặc khối lượng trứng sản xuất từ 1 gia cầm mái/năm (kg trứng) Khối lượng trứng thường được xác định ở các thời điểm: Khối lượng quả trứng đẻ đầu tiên, khối lượng quả trứng đẻ lúc 32 tuần tuổi, khối lượng quả trứng lúc 52 tuần tuổi
Lúc 32 tuần tuổi là lúc sức sản xuất của gia cầm biểu hiện cao nhất, lúc 52 tuần tuổi là lúc gia cầm hoàn toàn trưởng thành Để tính khối lượng trứng trung bình/năm, người ta tính khối lượng trứng trung bình của 10 tháng
đẻ trứng Ở mỗi tháng đẻ, cân 3 quả trứng rồi lấy khối lượng trung bình Ba quả trứng được cân từ 1 gia cầm mái hoặc khối lượng trứng trung bình toàn đàn gia cầm mái vào 3 ngày liên tiếp trong tháng, hoặc 3 ngày với khoảng cách cố định và cân bằng kỹ thuật có độ chính xác 0,1 g Khối lượng trứng trung bình của gà là 55 - 65 g
Theo Nguyễn Thị Mai và ctv (2009) khối lượng quả trứng không những
là 1 trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sản lượng trứng Sản lượng
Trang 31trứng khác nhau thì tổng khối lượng trứng rất khác nhau, do đó ảnh hưởng đến thu nhập, sản lượng và giá cả Vì vậy khối lượng trứng là chỉ tiêu đánh giá sản lượng trứng tuyệt đối của gia cầm Ví dụ: Nếu gà đẻ một năm 200 quả trứng
và khối lượng trung bình 50 g/quả thì sản lượng trứng tuyệt đối là 10 kg Nhưng nếu khối lượng trứng trung bình là 60 g thì sản lượng trứng tuyệt dối là
12 kg Như vậy giống thứ 2 sản lượng trứng tuyệt đối tăng 20%
Khối lượng trứng phù thuộc vào yếu tố như loài giống, hướng sản xuất,
cá thể, chế độ dinh dưỡng, tuổi gà mái, khối lượng gà mái,…
2.6.3 Hình dạng trứng
Hình dạng trứng có ý nghĩa quan trọng trong việc ấp trứng cũng như trong vận chuyển bảo quản trứng thương phẩm Hình dạng trứng được đánh giá qua chỉ số hình dáng trứng Chỉ số hình dáng trứng là tỷ lệ giữa đường kính lớn D (chiều dài) và đường kính nhỏ d (chiều rộng) của trứng Trứng gà
có chỉ số hình dáng 73 - 74 là thích hợp, có tỷ lệ dập vỏ thấp nhất trong quá trình bảo quản, vận chuyển và cho tỷ lệ ấp nở cao
Sự cân đối của quả trứng: Sử dụng chỉ số hình dạng của quả trứng là
1,28 - 1,31 (Phùng Đức Tiến và ctv., 2006) Hình dạng của quả trứng được
tính bằng công thức 2.2 như sau:
I = (d/D) x 100
Trong đó: I là số hình dạng của trứng; D là đường kính lớn (khoảng cách giữa đầu lớn và đầu nhỏ); d là đường kính nhỏ (đường xích đạo của quả trứng)
Hình dạng quả trứng của các loài, giống gia cầm khác nhau thì khác nhau và phụ thuộc vào đặc điểm di truyền Nó phụ thuộc vào cấu tạo của ống nhận trứng và đặc điểm co bóp của nó trong quá trình tạo trứng Chỉ số hình dáng được tính bằng công thức D/d hoặc d/D (trong đó: D là đường kính lớn và d là đường kính nhỏ của trứng) Nếu tính theo công thức D/d thì chỉ số này trung bình ở trứng là 1,32 và dao động từ 1,13 - 1,67; ở trứng vịt trung bình là 1,30 dao động từ 1,20 - 1,58 Trong lựa chọn trứng ấp thì những trứng
có chỉ số hình dạng xung quanh vị trí số trung bình của dòng, giống là tốt nhất Trứng có chỉ số hình dạng càng xa số trung bình thì tỷ lệ nở càng kém hơn Trong ấp trứng cần phải loại bỏ những trứng có hình dạng không bình thường hay còn gọi là trứng dị hình như: Trứng vỏ mềm, trứng giả, trứng 2 lòng đỏ,
trứng biến dạng (Nguyễn Thị Mai và ctv., 2009)
2.6.4 Chất lượng vỏ trứng