1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của phân bón lên khả năng sinh trưởng và tính năng sản xuất của cây chùm ngây (moringa oleifera, lam) ở lứa 2 và lứa 3 tại thành phố cần thơ

62 205 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHẤP THUẬN CỦA HỘI ĐỒNG Luận văn với tựa đề: “Ảnh hưởng của phân bón lên khả năng sinh trưởng và tính năng sản xuất của cây chùm ngây Moringa oleifera, Lam ở lứa 2 và lứa 3 tại Thành ph

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN CHĂN NUÔI

NGUYỄN THỊ NHƯ

NGHIÊN CỨU

ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÊN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG

VÀ TÍNH NĂNG SẢN XUẤT CỦA CÂY

CHÙM NGÂY (Moringa oleifera, Lam) Ở LỨA

2 VÀ LỨA 3 TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CHĂN NUÔI THÚ Y

2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN CHĂN NUÔI

NGUYỄN THỊ NHƯ

NGHIÊN CỨU

ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÊN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG

VÀ TÍNH NĂNG SẢN XUẤT CỦA CÂY

CHÙM NGÂY (Moringa oleifera Lam) Ở LỨA 2

VÀ LỨA 3 TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CHĂN NUÔI THÚ Y

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN:

TS NGUYỄN VĂN HỚN

2014

Trang 3

CHẤP THUẬN CỦA HỘI ĐỒNG

Luận văn với tựa đề: “Ảnh hưởng của phân bón lên khả năng sinh trưởng

và tính năng sản xuất của cây chùm ngây (Moringa oleifera, Lam) ở lứa 2 và lứa

3 tại Thành phố Cần Thơ” được tiến hành tại khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ” do sinh viên Nguyễn Thị Như thực hiện theo hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Hớn Luận văn đã báo cáo và được hội đồng chấp nhận thông qua ngày

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Con xin gửi đến cha mẹ lòng biết ơn sâu sắc, người đã luôn đồng hành cùng con trong cuộc sống, luôn quan tâm, chăm sóc, ủng hộ và động viên con trong suốt thời gian học tập

Tôi xin chân thành cảm ơn Thầy cố vấn học tập Hồ Quảng Đồ, người đã luôn lo lắng quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Thầy Nguyễn Văn Hớn và Cô Nguyễn Thị Hồng Nhân đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, dạy bảo và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt đề tài

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể cán bộ giảng viên Trường Đại Học Cần Thơ nói chung, Khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng nói riêng, đặc biệt là tập thể quý thầy cô Bộ Môn Chăn Nuôi Những người đã truyền đạt cho tôi không chỉ về kiến thức chuyên môn mà còn về những kỹ năng sống Đó là hành trang quý báu để tôi vững bước vào đời

Chân Thành cảm ơn Thầy Mai Vũ Duy và các bạn lớp Chăn nuôi khóa 37

và 38 đã giúp tôi rất nhiều trong quá trình làm luận văn

Trang 5

TÓM LƯỢC

Đề tài: “Ảnh hưởng của phân bón lên khả năng sinh trưởng và tính năng sản

xuất của cây chùm ngây (Moringa oleifera, Lam) ở lứa 2 và lứa 3 tại Thành phố

Cần Thơ” được tiến hành tại khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại học Cần Thơ Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp hoàn toàn ngẫu nhiên với ba nghiệm thức và ba lần lặp lại ở 2 lứa cắt Mỗi lô thí nghiệm trồng có diện tích 50 m2, trồng cùng khoảng cách 50*50 cm

- Nghiệm thức VC: bón phân vô cơ N - P - K: 20 - 20 - 15 (200 kg/ha/năm)

- Nghiệm thức HC: bón phân hữu cơ (500 kg/ha/năm)

- Nghiệm thức VC*HC: bón hỗn hợp gồm phân vô cơ 100 kg/ha/năm và phân hữu cơ 250 kg/ha/năm (50% vô cơ + 50% hữu cơ)

Khi thu hoạch cây Chùm ngây lứa đầu, 3 tháng sau cắt toàn bộ, 30 ngày sau khi cắt tiến hành bón phân với các nghiệm thức như trên, rồi quan sát sự phát triển của cây sau khi bón phân Theo dõi tốc độ tăng trưởng, phát triển của cây, thông qua sự phát triển về chiều cao, khả năng tái sinh nhánh lá của cây sau bón phân Sau khi thu hoạch tiến hành lấy chỉ tiêu về năng suất chất xanh, chất khô,

CP, ADF, NDF, Ash

Kết quả sau khi theo dõi khả năng sinh trưởng và năng suất cây Chùm ngây trên 3 mức phân bón khác nhau qua 2 lần thu hoạch, cho thấy các nghiệm thức sử dụng phân bón khác nhau ở lứa 2 và lứa 3 ảnh hưởng đến cây Chùm ngây có ý nghĩa thống kê (P<0,05) Về tốc độ tăng trưởng cũng như tính năng sản xuất của cây Chùm ngây ở nghiệm thức VC chiều cao và năng suất chất xanh cao nhất (ở lứa 2 là 6,9371 tấn/ha, lứa 3 là 7,4250 tấn/ha), nghiệm thức VC*HC cho kết quả tương đương (lứa 2 là 6,7160 tấn/ha, lứa 3 là 7,1443 tấn/ha) và cho kết quả thấp nhất là nghiệm thức HC (lứa 2 là 6,0966 tấn/ha, lứa 3 là 6,3854 tấn/ha) Ngoài ra, năng suất thu hoạch ở cả 3 nghiệm thức đều cho năng suất chất xanh, chất khô ở lứa 3 cao hơn lứa 2

Sử dụng phân bón vô cơ hoặc hỗn hợp phân vô cơ và hữu cơ cho kết quả tốt nhất Tuy nhiên, khuyến cáo nên sử dụng hỗn hợp phân vô cơ và hữu cơ nhằm bảo vệ môi trường và tiết kiệm chi phí sản xuất

Từ khóa: cây Chùm ngây (Moringa oleifera), phân vô cơ, phân hữu cơ, hỗn

hợp vô cơ và hữu cơ, sinh trưởng, năng suất

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên Nguyễn Thị Như là sinh viên lớp Chăn Nuôi Thú Y, khóa 37 (2011 2015)

-Tôi xin cam đoan kết quả này là công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi Tất

cả các số liệu và kết quả thu được trong thí nghiệm của tôi là hoàn toàn chân thật

và chưa được dùng cho luận văn cùng cấp nào khác Nếu có gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Bộ môn, Khoa và Trường

Cần thơ, 12/11/2014 Tác giả Luận văn

Nguyễn Thị Như

Trang 7

MỤC LỤC

CHẤP THUẬN CỦA HỘI ĐỒNG i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM LƯỢC iii

LỜI CAM ĐOAN iv

DANH SÁCH BẢNG vii

DANH SÁCH HÌNH viii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ix

Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2

2.1 Sơ lược về cây chùm ngây 2

2.1.1 Hệ thống phân loại thực vật 2

2.1.2 Nguồn gốc và phân bố 3

2.1.3 Đặc điểm thực vật học 3

2.1.4 Thành phần hóa học của cây chùm ngây 5

2.1.5 Độc tố của cây chùm ngây 7

2.1.6 Công dụng của cây chùm ngây 8

2.1.7 Kỹ thuật canh tác 9

2.1.8 Kỹ thuật thu hoạch 11

2.2 Phân bón 12

2.2.1 Định nghĩa 12

2.2.2 Các loại phân bón 12

2.2.3 Vai trò của phân bón 15

2.2.4 Sự bón phân 16

2.2.5 Kỹ thuật bón phân 16

Chương 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 18

3.1 Điều kiện thí nghiệm 18

3.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 18

3.1.2 Điều kiện thí nghiệm 18

3.2 Phương tiện thí nghiệm 19

Trang 8

3.3 Phương pháp tiến hành thí nghiệm 19

3.3.1 Bố trí thí nghiệm 19

3.3.2 Chăm sóc 20

3.3.3 Thời gian và cách thức thu hoạch 20

3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và cách nhập số liệu 20

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 21

Chương 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 22

4.1 Khả năng sinh trưởng 22

4.1.1 Chiều cao và tốc độ tăng trưởng của cây chùm ngây 22

4.1.2 Sự phát triển nhánh lá 25

4.2 Khả năng thích nghi của cây chùm ngây trong thí nghiệm 27

4.2.1 Khả năng chống chịu sâu bệnh 27

4.2.2 Khả năng chịu ngập, hạn 27

4.2.3 Khả năng cạnh tranh cỏ dại 28

4.3 Năng suất của cây chùm ngây 28

4.3.1 Năng suất chất xanh 28

4.3.3 Thành phần hóa học của cây Chùm ngây 31

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 35

5.1 Kết luận 35

5.2 Đề nghị 35

TÀI LIỆU THAM KHẢO 36

PHỤ LỤC 39

Trang 9

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của cây chùm ngây 5

Bảng 2.2 Hàm lượng acid amin trong lá và trái cây chùm ngây 6

Bảng 2.3 Hàm lượng dinh dưỡng của lá chùm ngây với một số thực phẩm khác 7 Bảng 2.4 Thành phần hóa học của cây chùm ngây 7

Bảng 2.5 Thành phần một số loại phân chuồng 14

Bảng 2.6 Tỷ lệ chất dinh dưỡng trong phân gia cầm 14

Bảng 3.1 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp lấy dữ liệu 21

Bảng 4.1 Chiều cao cây chùm ngây ở các nghiệm thức thu hoạch trong lứa 2 22

Bảng 4.2 Chiều cao cây chùm ngây ở các nghiệm thức thu hoạch trong lứa 3 23

Bảng 4.3 Số nhánh cây chùm ngây thu hoạch ở các nghiệm thức trong lứa 2 25

Bảng 4.4 Số nhánh cây chùm ngây thu hoạch ở các nghiệm thức trong lứa 3 26

Bảng 4.5 Năng suất chất xanh cây chùm ngây ở các nghiệm thức trong lứa 2 28

Bảng 4.6 Năng suất chất xanh cây chùm ngây ở các nghiệm thức trong lứa 3 29

Bảng 4.7 Năng suất chất khô cây chùm ngây ở các nghiệm thức trong lứa 2 31

Bảng 4.8 Năng suất chất khô cây chùm ngây ở các nghiệm thức trong lứa 3 32

Bảng 4.9 Năng suất chất xanh, chất khô, protein của cây chùm ngây ở các nghiệm thức trong lứa 2 32

Bảng 4.10 Năng suất chất xanh, chất khô, protein của cây chùm ngây ở các nghiệm thức trong lứa 3 33

Trang 10

DANH SÁCH HÌNH

Hình 2.1 Cây chùm ngây 2

Hình 2.2 Lá của cây chùm ngây 4

Hình 2.3 Trái chùm ngây khô 4

Hình 2.4 Rễ của cây chùm ngây 4

Hình 2.5 Món ăn từ lá và trái chùm ngây 8

Hình 3.1 Phân vô cơ, hữu cơ sử dụng trong thí nghiệm 19

Hình 3.2 Thu hoạch cây chùm ngây 20

Hình 4.1 Đo chiều cao của cây chùm ngây 22

Hình 4.2 Chiều cao cây qua 2 lần thu hoạch 24

Hình 4.3 Sự tái sinh của cây chùm ngây sau 10 ngày cắt 25

Hình 4.4 Sự phát triển của bộ nhánh, lá chùm ngây 26

Hình 4.5 Tưới nước cho cây chùm ngây vào mùa khô 27

Hình 4.6 Năng suất chất xanh, chất khô và CP ở lứa 2và lứa 3 34

Trang 11

ĐBSCL: Đồng băng sông Cửu Long

EE: Béo thô

NSCX: Năng suất chất xanh

NSCK: Năng suất chất khô

NSCP: Năng suất protein

S: Lưu Huỳnh

P: phosphore

Zn: Kẽm

Trang 12

Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay sự phát triển mạnh mẽ của đàn gia súc nhai lại đã đặt ra một vấn

đề là phải chủ động tìm nguồn cây thức ăn mới với tính năng sản xuất và hàm lượng dinh dưỡng cao Để giải quyết vấn đề trên chúng ta đã không ngừng phát triển nhiều loại cây thức ăn mới có năng suất cao và góp phần vào việc tăng năng

suất cho đàn gia súc như cây Chùm ngây (Moringa oleifera, Lam) Cây Chùm

ngây hiện được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới bởi cây có tính thích nghi cao, tính năng sản xuất tốt, hàm lượng dinh dưỡng cao và có nhiều công dụng tốt cho con người và gia súc

Cây Chùm ngây là một trong những loại cây thức ăn mới, có thành phần dưỡng chất cao Gần đây cây Chùm ngây đã được sử dụng phổ biến trong việc bổ sung vào khẩu phần ăn của gia súc Tuy nhiên, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu tiến hành về kỹ thuật trồng Chùm ngây cũng như phương pháp nào để cho cây đạt năng suất cao và chất lượng tốt hơn Từ vấn đề trên, đề tài: “Ảnh hưởng của phân

bón lên khả năng sinh trưởng và tính năng sản xuất của cây Chùm ngây (Moringa oleifera, Lam) ở lứa 2 và lứa 3 tại Thành phố Cần Thơ” được thực hiện

Mục tiêu đề tài: Theo dõi khả năng sinh trưởng, tính năng sản xuất và thành phần dinh dưỡng của cây Chùm ngây dưới tác động của phân bón ở lứa 2 và lứa

3, nhằm đề ra mức phân bón phù hợp ở thời điểm sinh trưởng của cây để đạt được hiệu quả về năng suất cũng như chất lượng của cây Chùm ngây

Trang 13

Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Sơ lược về cây Chùm ngây

Cây Chùm ngây (Hình 2.1) có tên khoa học là Moringa oleifera, Lam, còn

gọi là “cây dùi trống” (mô tả hình dạng của trái) hoặc “cây cải ngựa” (mô tả bộ rễ), (Reyes, S.N, 2006) Ngoài ra, Chùm ngây còn có tác dụng như một loại dược liệu quí nên nhà phật còn gọi là cây độ sinh (tree of life) hay cây thần diệu (Miracle tree)

Trang 14

2.1.2 Nguồn gốc và phân bố

Theo các tài liệu nghiên cứu, cây Chùm ngây có lịch sử hơn 4000 năm, có nguồn gốc từ Ấn Độ, cây được mọc và trồng nhiều ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới như: những quốc gia như Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh và Afghanistan (Makkar and Becker, 1997; Mortan, 1991) Ngoài ra, cây Chùm ngây còn phân

bố khắp các khu vực: Tây Phi, Thái Bình Dương (Aregherore, 2002)

Ở Việt Nam, cây Chùm ngây được trồng ở các tỉnh như: Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) như: An

Giang, Cần Thơ, Kiên Giang Theo Lưu Hữu Mãnh et al (2005), Chùm ngây

được trồng thử nghiệm nông học cho thấy rằng cây có thể phát triển tốt ở vùng có nhiều đồi núi, những vùng đất bạc màu, nghèo chất dinh dưỡng như huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang

2.1.3 Đặc điểm thực vật học

Cây Chùm ngây có tính thích nghi rộng Có thể sống trong điều kiện từ nhiệt đới khô đến các vùng đất ẩm Chùm ngây là loại cây ưa sáng và nóng ẩm, chịu hạn tốt Để cây sinh trưởng phát triển bình thường yêu cầu nhiệt độ trung bình từ 18,7 - 28,50C và độ pH từ 4,5 - 8 tốt nhất là 6,5 Cây lớn nhanh ở các vùng có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới, cây ra hoa và cho trái liên tục Cây Chùm ngây có thể sống và phát triển tốt trên nhiều loại đất, từ đất đỏ Bazan ở Tây Nguyên đến đất sét pha cát hoặc đất cát vùng ven biển, chịu khô hạn Cây kém chịu lạnh hoặc sương mù Chùm ngây là loại cây lâu năm, thân gỗ mềm, rụng lá vào mùa đông lạnh Cây thanh mảnh, cành lá rủ, cây cao từ 5 - 12 m nếu không ngắt ngọn Rễ cây Chùm ngây (Hình 2.4) có hình trụ giống như củ cải trắng Cành và thân giòn, dễ gãy Lá (Hình 2.2) hình oval có đường kính từ 1 - 2 cm, lá kép mọc so le 3 lần kép, màu xanh mốc, nhẫn dài 30 - 60 cm với 6 - 9 lá chét nhỏ hình trứng Hoa thơm hơi giống hoa đậu, màu trắng sữa hay màu kem dài 2,5 cm Hoa có 5 cánh Trái Chùm ngây có hình dùi trống lúc còn non màu xanh lục, mềm và có màu vàng nhạt, cứng, khô khi già (Hình 2.3), dài từ 30 - 120 cm Trái trưởng thành có hình tam giác được bao bọc bởi một lớp vỏ mỏng có 3 cạnh, mỗi trái có khoảng 13 - 35 hạt Cây cho hoa và trái quanh năm Một năm cây ra hoa kết quả 2 lần Nếu thu hoạch lá thì ít ra hoa và tỷ lệ đậu quả thấp Cây có khả năng bật chồi lớn nếu liên tục cắt ngọn, đốn cành (Duke, 1983)

Trang 16

2.1.4 Thành phần hóa học của cây Chùm ngây

Thành phần dinh dƣỡng (Bảng 2.1, Bảng 2.2 và Bảng 2.3) và thành phần hóa học của cây Chùm ngây (Bảng 2.4) nhƣ sau:

Bảng 2.1: Thành phần dinh dƣỡng của cây Chùm ngây

Trang 17

Bảng 2.2: Hàm lượng Acid amin có trong lá và trái cây Chùm ngây

- Lá Chùm ngây có chứa chất gôm (nhựa) và 2 loài alcaloid là moringin và moringinin làm phấn khích tim và các glucosid có nhóm nitril như niazirin và niazirinin, có tác dụng hạ huyết áp Nước ép lá và rễ có tác dụng kháng khuẩn

mạnh đối với tụ cầu vàng Eschirichia coli và Bacilus subtilus

- Vỏ cây có chứa chất alcaloid là Benzylamin và B sitosterol làm phấn khích tim

- Phần vỏ rễ cây có chất Athonin diệt khuẩn mạnh, do đó được dùng làm thuốc trị lỡ miệng

- Hạt có chứa chất Isotiocianat, có tác dụng chống nhiều vi khuẩn, vi nấm, trong đó có vi khuẩn trái rạ, toi gà Ngoài ra, người ta còn dùng hạt Chùm ngây làm dầu ăn rất tốt cho sức khỏe

- Toàn cây có chứa chất Pterygospermin có tính kháng các vi khuẩn gram

âm, gram dương và các vi khuẩn ưa acid (Lưu Thị Hiệp)

Mặt khác, trong dầu hạt Chùm ngây còn chứa các acid béo như: 9,3% palmitic; 7,4% stearic; 8,6% behenic và 65,7% acid oleic trong số các acid béo

Trang 18

Ngoài ra, còn có acid myristic và lignoceric Bánh dầu được ly trích từ hạt Chùm ngây có chứa 58,9% protein thô, 0,4% CaO; 1,1% P2O5 và 0,8% K2O Bên cạnh

đó còn có Pterygospermin là hợp chất diệt khuẩn và diệt nấm (Duke, 1983)

Bảng 2.3: Hàm lượng dinh dưỡng của lá Chùm ngây so với một số thực phẩm phổ biến khác

Lưu Hữu Mãnh et al (2005) cho rằng thành phần hóa học trong cây Chùm

ngây không bị ảnh hưởng bởi khoảng cách trồng Cây Chùm ngây có hàm lượng Protein thô cao 25,92% Tuy nhiên, nếu thu hoạch vào mùa mưa thì DM thấp 16-19%

2.1.5 Độc tố của cây Chùm ngây

Bên cạnh những dưỡng chất tốt, cây Chùm ngây còn có các độc chất như Tannin 2,13%, Saponin 2,25%, ngoài ra còn chứa 0,58 mg Hydrogen cyanide (HCN) trong 100 g hạt (Anhwange, 2004) Nhưng theo Makkar (2001) mức 10 g HCN an toàn cho người Tuy nhiên, việc ăn Chùm ngây có chứa HCN lâu dài có thể tổn hại thần kinh trung ương, tuyến giáp Ngoài ra, còn có thể gặp các vấn đề

về thị giác hay bị điếc Theo Anhwange et al (2004), hiện tại chưa có nhiều tài

liệu nói về độc tố của cây Chùm ngây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và gia súc

Trang 19

2.1.6 Công dụng của cây Chùm ngây

2.1.6.1 Đối với con người

Cây Chùm ngây hiện được trồng ở 80 quốc gia trên thế giới, những quốc gia tiên tiến sử dụng rộng rãi và đa dạng cây Chùm ngây trong nhiều lĩnh vực như: Thực phẩm, nước giải khát, mỹ phẩm, dược phẩm Theo bác sĩ đông y Nguyễn Văn Nghị cho rằng các bộ phận của cây như: lá, rễ, hạt, vỏ cây, quả và hoa có những hoạt tính như kích thích hoạt động của tim và hệ tuần hoàn, hoạt tính chống ung bướu, hạ nhiệt, chống kinh phong, chống sưng viêm, trị ung loét, chống co giật, hạ cholesterol Riêng hạt Chùm ngây và hoa có tác dụng chữa các triệu chứng về gout, huyết áp, giảm stress, tăng cường sinh lực Tuy nhiên, phụ

nữ có thai không nên dùng rễ Chùm ngây, vì có khả năng gây sẩy thai (Phương Uyên, 2013)

Trang 20

của Chùm ngây thử trên thỏ, ghi nhận được kết quả như sau: cho thỏ ăn Chùm ngây 200 mg/kg hỗn hợp thức ăn mỗi ngày trong thời gian 20 ngày cho thấy tính cách tạo cholesterol cao, thử nghiệm kéo dài 120 ngày Kết quả cho thấy Chùm ngây có tác dụng hạ cholesterol, phospholipid, triglyceride, hạ tỷ số cholesterol/phospholipd trong máu so với thỏ trong nhóm đối chứng Ngoài ra, cây còn có thêm tác dụng làm tăng sự loại thải cholesterol qua phân (Komal mehta, 2003)

Ngoài ra, rễ cây Chùm ngây còn có tác dụng ngừa thai Nghiên cứu Đại học Jiwaji Gwalior (Ấn Độ) cho rằng các hoạt tính Estrogenic, kháng Estrogenic, ngừa thai của dịch chiết từ rễ cây Chùm ngây ghi nhận chuột đã bị cắt buồng trứng cho uống nước chiết, có sự gia tăng trọng lượng của tử cung (Sangeeta

Shukla et al, 1988)

Bryan Mendieta-Araica et al (2011) cho rằng sử dụng Chùm ngây làm thức

ăn cho bò sữa sẽ làm tăng hương vị thơm ngon của bò sữa

2.1.7 Kỹ thuật canh tác

Chùm ngây chủ yếu mọc tự nhiên Nhưng ở Ấn Độ cây được trồng bằng cành hay bằng hạt Cây thường trồng vào tháng 6 đến tháng 8, sau 6 tháng đến 2 năm thì cây bắt đầu cho trái (Duke, 1983)

Chùm ngây được trồng từ hạt hoặc nhánh Sau khi thu hái về phải rải đều ra trên tấm bạt, phơi ngoài nắng nhẹ, khi thấy trái đã có hiện tượng nứt thì đem phơi trong bóng mát Không phơi trực tiếp ra nắng vì hạt có dầu nên sẽ giảm tỷ lệ nẩy mầm, sau khi hạt đã bung ra hết khỏi trái thì sàng loại bỏ các tạp chất và các hạt chất lượng xấu như hạt lép, hạt nhỏ, hạt bị sâu đục, hạt có thể được bảo quản trong túi PE hàn kín ở nhiệt độ trung bình 100C, chỉ sử dụng trong năm thì tỷ lệ nẩy mầm cao trên 75% nếu để sang năm sau tỷ lệ nẩy mầm chỉ còn 20 - 30% Hạt

có thể gieo trực tiếp hay ươm trong bầu và đem ra trồng sau 2 - 3 tháng Nhánh được trồng là nhánh sơ cấp lấy từ thân, dài từ 1 - 1,5 m và sẽ ra rễ dễ dàng sau vài tháng trồng Cả hạt và nhánh đều cho cây con phát triển nhanh, sau một năm trồng cây thường cao 3 - 4 m Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên và phân bón mà cây cho trái sớm hay muộn Cây Chùm ngây có thể cho từ 100 - 200 trái một năm

Bạch Tuấn Kiệt (2007) đã nghiên cứu 4 phương pháp trồng cây Chùm ngây: Gieo hạt trực tiếp: Hạt giống được gieo vào buổi chiều, nắm hạt trong tay rồi gieo vào các hộc đã đào sẵn (có kích thước 5*7*10 cm), cho phân bò đã hoai

Trang 21

vào và đắp lên một lớp đất mịn Tưới nước giữ ẩm để cho hạt nảy mầm (tưới nước mỗi ngày một lần vào buổi sáng, đến thời điểm 35 ngày thì không tưới nước nữa)

Ươm hạt trong bầu: cho phân bò đã hoai vào túi nylon (kích thước 7*12 cm), sau đó cho hạt Chùm ngây vào và để dưới tán những cây xoài lớn, tưới nước giữ ẩm cho hạt nẩy mầm đến thời điểm 25 ngày thì đem ra trồng Tưới nước giữ

ẩm cho hạt nẩy mầm (tưới nước mỗi ngày một lần vào buổi sáng, đến thời điểm

35 ngày thì không tưới nước nữa)

Giâm cành trực tiếp: đào hộc (kích thước 7*10*10 cm) sau đó cho hom Chùm ngây có kích thước 20 - 25 cm (2 mắt) vào Tiếp theo cho phân bò đã hoai vào và đắp lên một lớp đất mịn Tưới nước giữ ẩm cho cây nảy chồi (tưới nước mỗi ngày một lần vào buổi sáng, đến thời điểm 35 ngày thì không tưới nước nữa)

Kỹ thuật giâm cành trong bầu: cho phân bò đã hoai mục vào bọc nylon (kích thước 12*20 cm) sau đó cho hom Chùm ngây vào và để dưới tán cây xoài lớn, tưới nước giữ ẩm giúp cho cây hom nẩy chồi (tưới nước mỗi ngày một lần vào buổi sáng, đến thời điểm 35 ngày thì không tưới nước nữa), sau đó 25 ngày thì đem ra trồng

Tất cả các phương pháp trên đều trồng với khoảng cách là 40*40 cm

Từ kết quả nghiên cứu trồng cây Chùm ngây bằng các phương pháp trên, Bạch Tuấn Kiệt (2007) đã kết luận phương pháp trồng bằng hạt cho tỷ lệ sống thật cao hơn các phương pháp trồng bằng hom và giữa hai hình thức trồng bằng hạt thì trồng trực tiếp cho tỷ lệ sống thật cao hơn trồng trong bầu, tỷ lệ sống thật của phương pháp gieo hạt trực tiếp cao nhất là 59,64%, tiếp theo là phương pháp ươm hạt trong bầu là 53,24%, trong khi đó phương pháp giâm cành trong bầu và giâm cành trực tiếp lần lượt là 49,07% và 46,86% Hình thức trồng bằng hạt trực tiếp cho tốc độ tăng trưởng cao nhất là 1,14 cm/ngày, ở ngày thứ 75 cây cao 85,21 cm trong khi trồng bằng cách giâm cành trong hạt chỉ cao 63,11 cm Về năng suất chất xanh đối với phương pháp trồng bằng hạt trực tiếp cho năng suất cao nhất là 13,06 tấn/ha/lứa và thấp nhất là trồng bằng cách giâm cành trong bầu 10,10 tấn/ha Lý giải về điều này tác giả cho biết có thể là do trong giai đoạn trồng ra đất, các hom Chùm ngây trồng trong bầu rễ còn non, chưa hấp thu đủ các dưỡng chất để nuôi cây nên cây bị “stress” chết một phần, số cây còn lại cần một thời gian mới thích nghi và sống được ở khu đất mới Vì vậy, tốc độ tăng trưởng chậm lại và năng suất giảm

Trang 22

2.1.8 Kỹ thuật thu hoạch

Thu hoạch bằng cách cắt tán lá ở 40 ngày tuổi, protein thô đạt từ 19,3 - 26,4% và năng suất vật chất khô có thể đạt 4,2 - 8,3 tấn/ha ở giai đoạn này

(Makkar and Becker, 1997; Foild and et all, 1999; Aregheore, 2002) Việc cắt tỉa

thường xuyên tạo cho cây nhiều nhánh, làm tăng năng suất hạt và lá Bón phân cho cây Chùm ngây vào mùa mưa làm tăng năng suất lên gấp 3 lần Reyes S.N (2006) cho rằng cần nghiên cứu bổ sung dinh dưỡng (phân hóa học, phân vô cơ)

và chú ý đến việc tưới tiêu tác động đến sản xuất sinh khối và thành phần dinh dưỡng của cây Chùm ngây

Bạch Tuấn Kiệt (2007) cho rằng thời điểm thu hoạch cho năng suất cao nhất

là 75 ngày đạt 55,81 tấn/ha/3 lần cắt, năng suất protein đạt 2,7 tấn/ha và hàm lượng CP là 31,62%

Các nghiên cứu trồng cây Chùm ngây

Đề tài nghiên cứu thời gian thu hoạch và mật độ trồng lên năng suất, giá trị dinh dưỡng và sự tiêu hóa của cây Chùm ngây ở Nicaraguay (Reyes S.N, 2006) Cho rằng: thu hoạch Chùm ngây ở 75 ngày thì cho năng suất vật chất khô DM cao nhất 24,7 tấn/ha ở năm thứ nhất so với năm thứ hai là 10,4 tấn/ha Với mật độ trồng 750.000 cây/ha năm thứ nhất thì cho năng suất chất khô cao nhất, tuy nhiên

ở năm thứ hai với mật độ trồng 500.000 cây/ha thì cho năng suất cao nhất Năm thứ nhất DM, Ash (tro), NDF cao nhất và tỷ lệ tiêu hóa invitro thấp nhất ở thời điểm thu hoạch 75 ngày Năm thứ hai DM, Ash, NDF và tỷ lệ tiêu hóa invitro thu hoạch ở các thời điểm khác nhau không có ý nghĩa thống kê Kết luận khuyến cáo nên trồng Chùm ngây ở mật độ 50 - 70 cây/m2 và thu hoạch ở 75 ngày thì cho kết quả cao nhất

Lưu Hữu Mãnh et al (2005) đáng giá về tốc độ tăng trưởng và năng suất

chất khô của cây Chùm ngây cho rằng: khoảng cách trồng khác nhau (40*20, 40*30, 40*40 cm) không ảnh hưởng đến chiều cao và năng suất chất khô Có thể được thu hoạch 7/lần năm và năng suất chất khô đạt 43 - 52 tấn/ha

Bạch Tuấn Kiệt (2007) khi nghiên cứu về “Ảnh hưởng của các phương cách

trồng và thời gian thu hoạch lứa đầu đến năng suất của cây Chùm ngây (Moringa oleifera, Lam)” cho thấy rằng: các phương pháp trồng khác nhau thì ảnh hưởng

có ý nghĩa thống kê về tốc độ tăng trưởng và năng suất chất khô Trồng theo cách gieo hạt trực tiếp cho tốc độ tăng trưởng cao nhất 1,14 cm/ngày, năng suất chất khô 5,37 tấn/ha/2 lứa cắt; cao hơn so với ươm hạt trong bầu 3,94 tấn/ha/2 lứa cắt,

Trang 23

giâm cành trực tiếp 2,89 tấn/ha/2 lần cắt và giâm cành trong bầu 2,30 tấn/ha/2 lứa cắt Năng suất chất khô và hàm lượng protein thô khi thu hoạch ở các thời điểm khác nhau có ý nghĩa thống kê Thu hoạch ở 75 ngày sau khi trồng cho kết quả tốt nhất năng suất chất xanh 55,81 tấn/ha/3 lứa cắt và hàm lượng protein thô 31,62%, cao hơn khi thu hoạch ở 60 ngày năng suất chất khô 16,60 tấn/ha, hàm lượng protein thô 27,49% thu hoạch ở 90 ngày năng suất chất khô 46,65 tấn/ha, hàm lượng protein thô 28,03% Phương pháp trồng trực tiếp có tốc độ tăng trưởng nhanh, và thu hoạch lứa đầu ở 75 ngày cho năng suất chất khô 55,81 tấn/ha và hàm lượng protein 31,62% cao hơn ở các thời điểm khác Theo kết quả nghiên cứu của Bạch Tuấn Kiệt (2007) thì tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ của cây Chùm ngây cao từ 74,16 - 75,30% nếu ủ 24 giờ và trên 80% nếu ủ 48 giờ sẽ đáp ứng nhu cầu

thức ăn cho gia súc

2.2 Phân bón

2.2.1 Định nghĩa

Phân bón là sản phẩm có chức năng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng hoặc có tác dụng cải tạo đất, trong thành phần chứa một hoặc nhiều yếu tố dinh dưỡng vô cơ, đa lượng, trung lượng, vi lượng, đất hiếm, hữu cơ, acid amin, acid humic, acid fulvic, vi sinh vật có ích, có một hoặc nhiều: chất giữ ẩm, chất hỗ trợ tăng hiệu quả sử dụng phân bón, chất điều hòa sinh trưởng thực vật, chất phụ gia, yếu tố hạn chế sử dụng (Cẩm Hà, 2012)

2.2.2 Các loại phân bón

Phân loại theo thành phần dinh dưỡng có:

2.2.2.1 Phân vô cơ

Với phân vô cơ, tùy nhà sản xuất hay nhu cầu thị trường mà phân hóa học được sản xuất là phân đơn (chỉ chứa một loại dưỡng chất) hoặc phân hỗn hợp (chứa nhiều loại dưỡng chất) Các dưỡng chất chứa trong phân hóa học là những dưỡng chất dễ hấp thu, khi bón vào đất cây trồng có thể hấp thu ngay Hàm lượng dưỡng chất trong phân vô cơ khá cao nên khi sử dụng cần chú ý liều lượng, nếu

thừa rất dễ gây hại cho cây, nhất là phân đạm (Ngô Ngọc Hưng và ctv, 2004)

Mặt khác phân hóa học tương đối nhẹ, dễ chuyên chở, dễ tan nên dùng để bón thúc sẽ có hiệu quả cao

Đạm: là nguyên tố cần thiết cho sự phân bào và phát triển của cây Đạm làm tăng diện tích và khối lượng nguyên sinh chất trong cây Urea là loại phân đạm ở

Trang 24

thể vô cơ cung cấp nguồn dinh dưỡng, dưỡng chất tốt nhất cho nhiều loại cây và không làm bỏng cây Cây trồng thiếu đạm phát triển kém và có màu vàng do diệp lục tố giảm, lá già vàng khô và rụng sớm Thừa đạm thì thân lá phát triển sum xuê, xanh đậm, lá to chống chịu kém, dễ đổ ngã, lượng nitrate và protein cao (Võ Thị Gương, 2004)

Lân: ít di chuyển trong đất và ít bị rữa trôi Lân giúp rễ phát triển, đẻ nhánh nhiều, góp phần tăng năng suất, phosphore (P) đóng vai trò trong việc tạo năng lượng biến dưỡng trong cây, thành phần của màng tế bào Bón phân lân giúp cây trồng sử dụng phân đạm tốt hơn Nếu thiếu lân, hệ thống rễ phát triển kém, lá màu xanh đậm, trên lá xuất hiện màu tím hồng (Võ Thị Gương, 2004) Phân bón cho mọi loại đất và mọi loại cây từ đất chua, đất ít chua và đất trung bình

Kali: kali chính là tác nhân trong sự thẩm thấu, trung hòa điện tích trong cây Ngoài ra, sự hiện diện của kali giúp các enzym trong tiến trình sinh lý hoạt động mạnh mẽ hơn (Võ Thị Gương, 2004)

Theo Ngô Ngọc Hưng và ctv (2004), Hà Thị Thanh Bình và ctv (2002),

phân hóa học là một lợi thế để điều khiển năng suất nhưng do tính cụ thể và tính chính xác nên mọi sự thay đổi về liều lượng và cách bón sẽ thể hiện ra bằng sự thay đổi rõ rệt về năng suất Cùng một lượng phân bón hóa học chia ra bón nhiều cách khác nhau về thời gian thì năng suất có sự thay đổi nhưng cùng một lượng phân bón chuồng chia ra cách bón khác nhau thì không đáng kể

2.2.2.2 Phân hữu cơ

Phân hữu cơ là tên gọi chung cho các loại phân được sản xuất từ các vật liệu hữu cơ như các dư thừa thực vật, phân chuồng, phân rác và phân xanh

Phân hữu cơ có tính phân giải chậm, không kịp cung cấp dưỡng chất cho cây trồng nên thường dùng để bón lót Phân chuồng là một trong những loại phân được sử dụng khá rộng rãi Bón phân chuồng sẽ làm tăng độ xốp của đất, cải tạo chế độ nước và không khí của đất, tăng thêm dưỡng chất đa - vi lượng, về lâu dài

sẽ tăng tỷ lệ mùn, tích lũy nhiều lân, kali tổng số Tạo tiền đề cho đất có độ phì nhiêu cao hơn Bón với lượng lớn phân chuồng không gây hại lớn, lượng dưỡng chất dư thừa cây không sử dụng hết có thể dùng tiếp cho vụ sau Tuy nhiên, phân chuồng có tỷ lệ dưỡng chất thấp, nên cần có khối lượng lớn, gây cồng kềnh, dưỡng chất phân chuồng lại không ổn định, tác dụng chậm hơn so với phân hóa

học (Lê Văn Căn, 1982; Hà Thị Thanh Bình và ctv, 2002)

Trang 25

Bảng 2.5: Thành phần một số loại phân chuồng (%)

Các chất

Các loại phân chuồng (có độn rơm rạ)

Lê Văn Căn, 1983

Bảng 2.6: Tỷ lệ chất dinh dưỡng trong phân gia cầm

Lê Văn Căn, 1983

Ngoài ra, than bùn là loại phân hữu cơ được sử dụng khá phổ biến Than bùn được tạo từ xác thực vật Xác thực vật được tích tụ lại, vùi lấp trong đất và chịu tác động của điều kiện ngập nước trong nhiều năm, với điều kiện phân hủy yếm khí của xác thực vật sẽ chuyển thành than bùn Than bùn có hàm lượng vô

cơ là 18 - 24%, phần còn lại là hữu cơ, loại phân bón này dùng để tăng chất hữu

cơ cho đất có khả năng giữ nước, kích thích tăng trưởng cây và hàm lượng dưỡng

Trang 26

chất thay đổi tùy thuộc thành phần thực vật, quá trình phân hủy chất vô cơ (Ngô

Ngọc Hưng và ctv, 2004)

2.2.2.3 Phân vi sinh vật

Phân vi sinh vật là loại phân bón trong thành phần có chứa một hoặc nhiều loại vi sinh vật sống có ích bao gồm: nhóm vi sinh vật cố định đạm, phân giải lân, phân giải xenlulo, vi sinh vật đối kháng, vi sinh vật tăng khả năng quang hợp và các vi sinh vật có ích khác có mật độ và hoạt tính đạt quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia

2.2.3 Vai trò của phân bón

2.2.3.1 Đối với cây trồng

Theo Nguyễn Đăng Nghĩa (2014), cho rằng phân bón cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng sinh trưởng phát triển Nếu chỉ lấy từ đất thì cây trồng hoàn toàn không đủ dinh dưỡng mà phải lấy thêm phần lớn từ phân bón Phân bón chính là thức ăn nuôi sống cây trồng Điều tra tổng kết ở khắp nơi trên thế giới đều cho thấy trong số các biện pháp kỹ thuật trồng trọt, bón phân luôn là biện pháp có ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất cây trồng

Theo tổ chức FAO, trong thập niên 70 - 80 của thế kỷ XX, trên phạm vi trên toàn thế giới trung bình phân bón quyết định 50% tổng số sản lượng nông sản tăng thêm Ở nước ta, cho đến năm 1990, trung bình phân bón làm tăng 35% tổng sản lượng, bón 1 tấn chất dinh dưỡng nguyên chất thu được 13 tấn hạt ngũ cốc Bón phân cân đối và hợp lý còn làm tăng chất lượng nông sản, cụ thể làm tăng hàm lượng chất khoáng, protein, đường và vitamin cho sản phẩm Tuy nhiên, nếu thiếu chất dinh dưỡng, hoặc bón quá nhiều và không cân đối cũng có thể làm giảm năng suất và chất lượng nông sản (Nguyễn Đăng Nghĩa, 2014)

2.2.3.2 Đối với đất và môi trường

Bón phân làm tăng độ phì nhiêu cho đất, đất tốt hơn, cân đối hơn, đặc biệt phân hữu cơ và vôi là biện pháp cải tạo đất rất hữu hiệu Ở những đất có độ phì nhiêu tự nhiên ban đầu thấp, tức là đất xấu thì việc bón phân càng có tác dụng rõ Việc sử dụng các chất phế thải của công nghiệp để làm phân bón góp phần hạn chế các tác nhân gây ô nhiễm môi trường Tuy vậy bón phân không hợp lý, không đúng kỹ thuật có thể làm cho đất xấu đi hoặc gây ô nhiễm môi trường, phân hữu

cơ có thể tạo ra nhiều các chất CH4, CO2, NH3, NO3, phân vô cơ tạo ra nhiều đạm

ở thể khí làm đất trở nên độc với cây trồng và ô nhiễm không khí, nguồn nước (Nguyễn Đăng Nghĩa, 2014)

Trang 27

2.2.3.3 Đối với hệ thống biện pháp kỹ thuật trồng trọt

Theo Nguyễn Đăng Nghĩa (2014) thì sử dụng phân bón có liên quan đến hiệu lực của các biện pháp kỹ thuật khác Ví dụ: sử dụng giống mới cần kết hợp với bón phân hợp lý và đầy đủ Ngược lại, các biện pháp kỹ thuật khác cũng ảnh hưởng đến hiệu lực của phân bón Ví dụ: chế độ nước không thích hợp hoặc kỹ thuật làm đất kém có thể làm giảm 10 - 20% hiệu lực phân bón

2.2.3.4 Đối với thu nhập của người sản xuất

Do làm tăng năng suất và chất lượng nông sản nên sử dụng phân bón hợp lý làm tăng thu nhập cho người trồng trọt (Nguyễn Đăng Nghĩa, 2014)

- Phân bón phải bù đắp cho đất những nguyên tố cây đã lấy đi từ đất

- Bón phân phải đúng thời gian, đúng liều lượng và đúng cách

- Không được sử dụng đơn thuần một loại phân mà phải kết hợp nhiều loại phân bón với nhau

- Không sử dụng hoàn toàn phân khoáng mà phải chú ý bù đắp chất hữu cơ cho đất

2.2.5 Kỹ thuật bón phân

Trong nhiều loại đất, dưỡng chất mất đi do cây trồng hấp thu, rữa trôi và mất đi ở dạng khí thường rất lớn so với dưỡng chất được phóng thích từ sự phong hóa và khoáng hóa Do đó đưa đến sự không cân đối về dưỡng chất, ngoại trừ dưỡng chất được cung cấp từ phân bón, một cách tổng quát, ở những vùng thâm canh cao, năng suất cây trồng thì nhu cầu cung cấp dưỡng chất ngày càng tăng để duy trì độ phì nhiêu của đất

Một trong những khía cạnh quan trọng là biết lúc nào là cần thiết bón phân, điều này tùy thuộc trước tiên vào lượng dưỡng chất dễ tiêu được cung cấp vào đất Kali (K) và Phosphore (P) khó rữa trôi ở đất có cấu trúc trung bình và cấu trúc nặng nên thường được cung cấp trước khi trồng Phân Nitơ (N) được cây vùi trong đất, N dễ tiêu Ở vùng rễ sâu được sử dụng lâu dài hơn, N rất dễ rữa trôi nên

Trang 28

được chia nhiều lần bón trong giai đoạn sinh trưởng, nhất là đối với hệ thống cây trồng dày đặc (đất được canh tác liên tục) Năng suất cây trồng đạt cao, lượng phân cung cấp lớn Lần cung cấp Nitơ sau cùng vào giai đoạn trước trổ hoa quan trọng vì giúp tăng hạt chắc và tăng lượng protein trong hạt

Phần lớn phân bón được cung cấp vào đất bằng kỹ thuật bón rãi rác hay nói khác hơn là bón đồng đều trong đất Đối với đất nghèo dưỡng chất hoặc dưỡng chất bị cố định cao như đối với P và K, bón theo hàng hoặc bón theo dãy đạt hiệu quả cao hơn bón rãi Thí dụ đối với phân P khi bón rãi, sự tiếp xúc giữa P và hạt sét cao hơn do độ gia tăng sự cố định P và giảm độ hữu dụng Nếu bón phân theo dãy, phần ở gần hạt rễ cây trồng phát triển hấp thu P dễ dàng hơn Theo Tomar và soper (1981) bón urea theo dãy ở độ sâu 0,1 m hiệu quả sử dụng phân N rất cao

so với bón rãi Đối với đất thiếu K bón phân theo hàng cũng rất hiệu quả Lá và các phần của thân đều có khả năng hấp thu dưỡng chất ở dạng khí (CO2, O2, SO2) thông qua khí khổng Tuy nhiên, sự hấp thu dưỡng chất trong dung dịch bị giới hạn vì mặt ngoài tế bào lá bị phủ bởi một lớp cutin Lớp cutin chỉ có thể cho thấm qua một phần nước và dưỡng chất hòa tan Dưỡng chất được hấp thu qua hình thức này có thể đáp ứng một phần nhu cầu dinh dưỡng của cây Dung dịch dưỡng chất được giữ trên lá càng lâu, hiệu quả sử dụng càng tăng Tuy nhiên, khi nhiệt

độ tăng cao, nước ở mặt lá bốc hơi, nước tích tụ lại dễ dàng gây cháy lá Do đó sử dụng dung dịch có nồng độ thấp khoảng 2,5% và phun vào những ngày có nhiều mây, ít nắng hoạc phun vào chiều tối tránh ảnh hưởng trên Bón phân bằng cách phun lên lá rất hiệu quả vì tránh được sự kiềm giữ dưỡng chất của đất Nhưng lá chỉ hấp thu lượng dưỡng chất tương đối nhỏ so với nhu cầu dưỡng chất của cây trồng nhất là đối với các nguyên tố đa lượng cây trồng cần lượng lớn Các nguyên

tố vi lượng như Fe, Zn, Cu, Mn thường được cố định trong đất nên lượng hữu dụng rất thấp Do đó, trong trường hợp thiếu các nguyên tố này, phun dung dịch lên lá ở dạng muối vô cơ hoặc dạng chelate rất hiệu quả Vì cây trồng chỉ cần các nguyên tố vi lượng một lượng nhỏ nên phun lên lá một hoặc hai lần sẽ đáp ứng được nhu cầu của cây Phun phân lên lá thường được sử dụng cho các loại cây ăn trái có bộ rễ phát triển rất sâu, cung cấp phân bón ở đất mặt cây chỉ hấp thu một lượng nhỏ Vì thế phun trên lá có hiệu quả cao hơn hoặc bón phân theo rãnh đào sâu dựa theo sự phát triển của tán lá, bộ rễ, sẽ hấp thu dưỡng chất tốt (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999)

Trang 29

Chương 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

3.1 Điều kiện thí nghiệm

3.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm

Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 7/2014 đến tháng 11/2014 tại khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng, trường Đại Học Cần Thơ

3.1.2 Điều kiện thí nghiệm

vụ (Mạnh Trán, 2013)

Thí nghiệm được thực hiện vào mùa mưa, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của cây chùm ngây cũng như ảnh hưởng về năng suất chất xanh, chất khô và năng suất CP của cây chùm ngây

Trang 30

- Phân hữu cơ: N 2,5%, P2O5 3%, K2O 1%, chất hữu cơ 23%, Acid humic 2,5%, CaO 0,05%, Fe 0,001%, Zn 0,001%

- Hỗn hợp phân vô cơ và phân hữu cơ (50% vô cơ+50% hữu cơ)

Hình 3.1: Phân hữu cơ, vô cơ sử dụng trong thí nghiệm

3.2 Phương tiện thí nghiệm

Dụng cụ thí nghiệm gồm: Dao, cuốc, xẻng, thùng tưới nước, găng tay lao động, sổ ghi chép

Các thành phần hóa học được phân tích ở phòng thí nghiệm, thuộc bộ môn Chăn nuôi - khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng Dụng

Dụng cụ phân tích trong phòng thí nghiệm: tủ sấy, tủ nung, bộ chưng cất đạm, cốc thủy tinh, bình tam giác, bình kejhdal

3.3 Phương pháp tiến hành thí nghiệm

3.3.1 Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp hoàn toàn ngẫu nhiên với ba nghiệm thức và ba lần lặp lại ở 2 lứa Mỗi lô thí nghiệm trồng có diện tích 50 m2, trồng cùng khoảng cách 50*50 cm

- Nghiệm thức VC: bón phân vô cơ N - P - K: 20 - 20 - 15 (200 kg/ha/năm)

- Nghiệm thức HC: bón phân hữu cơ (500 kg/ha/năm)

- Nghiệm thức VC*HC: bón hỗn hợp gồm phân vô cơ 100 (kg/ha/năm) và phân hữu cơ 250 ( kg/ha/năm) (50% vô cơ + 50% hữu cơ)

Trang 31

3.3.3 Thời gian và cách thức thu hoạch

Khi đến thời điểm thu hoạch 60 ngày (sau 30 ngày bón phân), thì tiến hành thu hoạch bằng cách cắt ngang nhánh của cây, rồi đem cân để tính năng suất chất xanh, năng suất của phần ăn được và phần không ăn được Sau đó đem phần ăn được đi phân tích các chỉ tiêu về hàm lượng dinh dưỡng của cây

Hình 3.2: Thu hoạch cây Chùm ngây

3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và cách nhập số liệu

Tiến hành theo dõi và thu thập số liệu của các chỉ tiêu về đặc tính sinh trưởng như: chiều cao cây, số nhánh lá Quan sát khả năng thích nghi của cây Chùm ngây tại nơi thí nghiệm Sau 30 ngày bón phân thì thu hoạch tính năng suất, sau đó phân tích thành phần hóa học của cây

Ngày đăng: 25/11/2015, 17:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Cây Chùm ngây - ảnh hưởng của phân bón lên khả năng sinh trưởng và tính năng sản xuất của cây chùm ngây (moringa oleifera, lam) ở lứa 2 và lứa 3 tại thành phố cần thơ
Hình 2.1 Cây Chùm ngây (Trang 13)
Hình 2.3: Trái Chùm ngây khô - ảnh hưởng của phân bón lên khả năng sinh trưởng và tính năng sản xuất của cây chùm ngây (moringa oleifera, lam) ở lứa 2 và lứa 3 tại thành phố cần thơ
Hình 2.3 Trái Chùm ngây khô (Trang 15)
Bảng 2.1: Thành phần dinh dƣỡng của cây Chùm ngây - ảnh hưởng của phân bón lên khả năng sinh trưởng và tính năng sản xuất của cây chùm ngây (moringa oleifera, lam) ở lứa 2 và lứa 3 tại thành phố cần thơ
Bảng 2.1 Thành phần dinh dƣỡng của cây Chùm ngây (Trang 16)
Bảng 2.2: Hàm lƣợng Acid amin có trong lá và trái cây Chùm ngây - ảnh hưởng của phân bón lên khả năng sinh trưởng và tính năng sản xuất của cây chùm ngây (moringa oleifera, lam) ở lứa 2 và lứa 3 tại thành phố cần thơ
Bảng 2.2 Hàm lƣợng Acid amin có trong lá và trái cây Chùm ngây (Trang 17)
Bảng 2.5: Thành phần một số loại phân chuồng (%) - ảnh hưởng của phân bón lên khả năng sinh trưởng và tính năng sản xuất của cây chùm ngây (moringa oleifera, lam) ở lứa 2 và lứa 3 tại thành phố cần thơ
Bảng 2.5 Thành phần một số loại phân chuồng (%) (Trang 25)
Hình 3.1: Phân hữu cơ, vô cơ sử dụng trong thí nghiệm - ảnh hưởng của phân bón lên khả năng sinh trưởng và tính năng sản xuất của cây chùm ngây (moringa oleifera, lam) ở lứa 2 và lứa 3 tại thành phố cần thơ
Hình 3.1 Phân hữu cơ, vô cơ sử dụng trong thí nghiệm (Trang 30)
Hình 3.2: Thu hoạch cây Chùm ngây - ảnh hưởng của phân bón lên khả năng sinh trưởng và tính năng sản xuất của cây chùm ngây (moringa oleifera, lam) ở lứa 2 và lứa 3 tại thành phố cần thơ
Hình 3.2 Thu hoạch cây Chùm ngây (Trang 31)
Hình 4.1: Đo chiều cao của cây Chùm ngây - ảnh hưởng của phân bón lên khả năng sinh trưởng và tính năng sản xuất của cây chùm ngây (moringa oleifera, lam) ở lứa 2 và lứa 3 tại thành phố cần thơ
Hình 4.1 Đo chiều cao của cây Chùm ngây (Trang 33)
Hình 4.2: Chiều cao cây Chùm ngây qua 2 lứa - ảnh hưởng của phân bón lên khả năng sinh trưởng và tính năng sản xuất của cây chùm ngây (moringa oleifera, lam) ở lứa 2 và lứa 3 tại thành phố cần thơ
Hình 4.2 Chiều cao cây Chùm ngây qua 2 lứa (Trang 35)
Hình 4.4: Sự phát triển của bộ nhánh lá Chùm ngây - ảnh hưởng của phân bón lên khả năng sinh trưởng và tính năng sản xuất của cây chùm ngây (moringa oleifera, lam) ở lứa 2 và lứa 3 tại thành phố cần thơ
Hình 4.4 Sự phát triển của bộ nhánh lá Chùm ngây (Trang 37)
Bảng 4.4: Số nhánh cây Chùm ngây ở các nghiệm thức vào các thời điểm trong lứa 3  Thời gian - ảnh hưởng của phân bón lên khả năng sinh trưởng và tính năng sản xuất của cây chùm ngây (moringa oleifera, lam) ở lứa 2 và lứa 3 tại thành phố cần thơ
Bảng 4.4 Số nhánh cây Chùm ngây ở các nghiệm thức vào các thời điểm trong lứa 3 Thời gian (Trang 37)
Hình 4.5: Tưới nước cho cây vào mùa khô - ảnh hưởng của phân bón lên khả năng sinh trưởng và tính năng sản xuất của cây chùm ngây (moringa oleifera, lam) ở lứa 2 và lứa 3 tại thành phố cần thơ
Hình 4.5 Tưới nước cho cây vào mùa khô (Trang 38)
Bảng 4.7: Thành phần hóa học của cây Chùm ngây của các nghiệm thức trong lứa 2   Chỉ tiêu (%) - ảnh hưởng của phân bón lên khả năng sinh trưởng và tính năng sản xuất của cây chùm ngây (moringa oleifera, lam) ở lứa 2 và lứa 3 tại thành phố cần thơ
Bảng 4.7 Thành phần hóa học của cây Chùm ngây của các nghiệm thức trong lứa 2 Chỉ tiêu (%) (Trang 42)
Bảng 4.8: Thành phần hóa học của cây Chùm ngây ở các nghiệm thức trong  lứa thứ 3  Chỉ tiêu (%) - ảnh hưởng của phân bón lên khả năng sinh trưởng và tính năng sản xuất của cây chùm ngây (moringa oleifera, lam) ở lứa 2 và lứa 3 tại thành phố cần thơ
Bảng 4.8 Thành phần hóa học của cây Chùm ngây ở các nghiệm thức trong lứa thứ 3 Chỉ tiêu (%) (Trang 43)
Hình 4.6: Năng suất chất xanh, chất khô và CP ở lứa 2 và lứa 3 - ảnh hưởng của phân bón lên khả năng sinh trưởng và tính năng sản xuất của cây chùm ngây (moringa oleifera, lam) ở lứa 2 và lứa 3 tại thành phố cần thơ
Hình 4.6 Năng suất chất xanh, chất khô và CP ở lứa 2 và lứa 3 (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w