1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của thức ăn có bổ sung hỗn hợp polysaccharide chiết xuất từ rong nâu (phaeophyta) đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của tôm sú (penaeus monodon)

12 264 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 241,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN *** TRƯƠNG THỊ NHI ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN CÓ BỔ SUNG HỖN HỢP POLYSACCHARIDE CHIẾT XUẤT TỪ RONG NÂU PHAEOPHYTA ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CỦA TÔM

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

***

TRƯƠNG THỊ NHI

ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN CÓ BỔ SUNG HỖN HỢP POLYSACCHARIDE CHIẾT XUẤT TỪ RONG NÂU

(PHAEOPHYTA) ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CỦA

TÔM SÚ (Penaeus monodon)

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

CHUYÊN NGÀNH NUÔI VÀ BẢO TỒN SINH VẬT BIỂN

Trang 2

ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN CÓ BỔ SUNG HỖN HỢP POLYSACCHARIDE CHIẾT XUẤT TỪ RONG NÂU (PHAEOPHYTA) ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỈ

LỆ SỐNG CỦA TÔM SÚ (Penaeus monodon)

Trương Thị Nhi, Huỳnh Trường Giang và Dương Thị Hoàng Oanh Email: nhi118245@student.ctu.edu.vn

ABSTRACT

This research was conducted to examine the effectiveness of polysaccharide extracted from Sargassum microcystum on tiger shrimp’s (Penaeus monodon) growth rate and survival rate within 60 days oral administration The experiment consist of 4 treaments with different polysaccharide levels supplemented comprising of 0% (control group), 0,5%, 1% and 2% treatments Every treament was triplicated Shrimp (P monodon) post larvae were cultured in 500L tanks with density of 100 shrimp/tank The results showed that, after 60 days, highest survival rate was found in shrimp fed 0,5% polysaccharide with a mean value of 96.67±2.89% while lowest one was found in shrimp fed 2% polysaccharide (mean of 52.0±6.24%) Survival rates were insignificant between 1% and control treatments (p>0.05) Highest SGR and DWG was found in shrimp fed diet containing 2% of polysaccharide with mean values of 7.25±0.61% day -1 and 0.008±0.0032 g day -1 , respectively, followed by 1% treatment However, differences in WG, DWG, SGR, feed consumption were insignificant among treatments (p>0.05) The results demonstrated that feeding of polysaccharide extracted from S microcystum could enhance significantly survival of shrimp over 60 days feeding.

Keywords: Penaeus monodon, polysaccharide, growth performance, survival rate, Sargassum microcystum

Title: Effect of polysaccharide extracted from brown seaweed Sargassum micorcystum

on growth performance an survival of tiger shimp (Penaeus monodon) under outdoor tank culture.

TÓM TẮT

Thí nghiệm được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng hỗn hợp polysaccharide

ly trích từ rong mơ Sargassum microcytum lên sự tăng trưởng và tỉ lệ sống của tôm sú (Penaeus monodon) Thí nghiệm có 4 nghiệm thức tương ứng các mức polysaccharide khác nhau bao gồm nghiệm thức 0%; 0,5%, 1% và 2% Mỗi nghiệm thức được lặp lại

3 lần, thí nghiệm tiến hành trong bể composite với mật độ 100 con/bể Thí nghiệm được tiến hành trong 60 ngày Sau 60 ngày thí nghiệm, nghiệm thức tôm được cho ăn thức ăn có bổ sung hỗn hợp polysaccharide ở hàm lượng 0,5% có tỉ lệ sống cao nhất trung bình 96,67±2,89%, thấp nhất là nghiệm thức 2% với tỉ lệ sống trung bình 52,0±6,24% Tỉ lệ sống của tôm giữa nghiệm thức 1% và đối chứng khác biệt không có

ý nghĩa thống kê (p> 0,05) Các chỉ số tăng trưởng SGR và DWG cao nhất ở nghiệm

1

Trang 3

thức 2% với trung bình lần lượt là 7,25±0,61%/ngày và 0,008±0,0032 g/ngày, kế đến

là nghiệm thức 1% Tuy nhiên, kết quả thống kê cho thấy, không tìm thấy sự khác biệt

có ý nghĩa về WG, SGR, DWG và hiệu quả sử dụng thức ăn khi tôm được cho ăn polysaccharide ở các hàm lượng khác nhau (p> 0,05) Kết quả nghiên cứu trên khẳng định rằng khi cho ăn thức ăn có bổ sung hỗn hợp polysaccharide ly trích từ rong mơ S microcystum giúp cải thiện tỉ lệ sống của tôm trong quá trình nuôi.

Từ khóa: Tôm sú Penaeus monodon, polysaccharide, tăng trưởng, tỉ lệ sống, Sargassum microcystum

1 GIỚI THIỆU

Tôm sú (P monodon) là đối tượng có giá trị kinh tế cao, được nuôi phổ biến ở nhiều

địa phương ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Nhiều nghiên cứu cho thấy trong ương nuôi tôm sú khi sử dụng thức ăn phù hợp, đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của tôm theo từng giai đoạn sẽ giúp tôm lớn nhanh, tỉ lệ sống cao và có sức đề kháng bệnh tốt hơn (Shiau, 2008; Lavens and Sorgeloos, 2000; Nguyễn Tiến Lực,

2011) Tuy nhiên, kết quả điều tra nuôi tôm sú ở ĐBSCL của Vu Nam Son et al

(2011) trong mô hình nuôi tôm sú thâm canh và bán thâm canh, thức ăn chiếm đến 60 - 70% tổng chi phí trong một vụ nuôi Do đó, chi phí thức ăn ngày càng tăng làm lợi nhuận người nuôi tôm giảm thấp Nhiều nghiên cứu cho thấy, các loài rong biển thuộc ngành rong nâu (Phaeophyta) có hoạt tính sinh học cao và là nguồn nguyên liệu chứa các dược liệu quý trong điều trị các bệnh như vi khuẩn, nấm, động vật nguyên sinh, vi

rút và thậm chí cả ung thư (Huỳnh Trường Giang và ctv., 2012) Trước đây có một vài

nghiên cứu về khả năng sử dụng rong biển nhằm mục đích kích thích tăng trưởng trên

tôm sú (Penaeus monodon) và kết quả đạt được rất khả quan (Penaflorida and Golez,

1996; Briggs and Funge-Smith, 1996) Tuy nhiên, những nghiên cứu này tập trung vào

một số loài rong đỏ như Gracilaria sp và Kappaphycus alvarezii, Gracilaria

heteroclada Ở ĐBSCL, rong bún (Enteromorpha sp.) cũng được thử nghiệm để thay

thế bột cá trong thành phần thức ăn của cá rô phi (Oreochromis niloticus) (Nguyễn

Mộng Vân, 2012) Trong nghiên cứu này, hỗn hợp polysaccharide ly trích từ rong mơ

Sargassum microcystum được bổ sung vào thức ăn nhằm kiểm tra khả năng cải thiện

tăng trưởng và tỉ lệ sống của tôm sú để từ đó có có những hướng đề xuất cho những nghiên cứu tiếp theo cũng như là việc sử dụng trong tương lai Với kiến thức của chúng tôi, đây là nghiên cứu đầu tiên về sử dụng hỗn hợp polysaccharide từ rong nâu lên sự tăng trưởng tôm sú ở ĐBSCL

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu nghiên cứu

Rong nâu S microcystum được thu tại vùng biển thuộc tỉnh Kiên Giang sẽ được làm sạch

và sấy khô ở 37oC, sau đó được nghiền bằng máy và rây qua lưới 125 µm Cân 10 gram (g) bột rong ly trích trong 300 mL nước cất ở 100oC trong 6 giờ, dung dịch được lọc qua lưới lọc 57 µm Tiếp theo, dung dịch được ly tâm với tốc độ 4000 vòng/phút trong 10 phút

và phần dung dịch sẽ loại bỏ nước ở 105oC Sản phẩm thu được là hỗn

Trang 4

hợp polysaccharide (Huỳnh Trường Giang và ctv., 2013) Tôm sú Post Larvae 15 ngày

tuổi được mua ở trại tôm giống thành phố Cần Thơ với chiều dài trung bình 12,4 mm±1,25; khối lượng trung bình 0,006 g±0,002 Chọn tôm giống bố trí có kích cỡ đồng đều, không bị dị hình, màu sáng và được kiểm tra sạch bệnh

2.2 Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm có 4 nghiệm thức bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên vào 4 bể composite 500L với mật độ 100 con/bể ở độ mặn 15‰ Bao gồm 4 nghiệm thức như sau:

Nghiệm thức 1: Đối chứng (không bổ sung hỗn hợp ly trích)

Nghiệm thức 2: Bổ sung hỗn hợp polysaccharide 0,5%

Nghiệm thức 3: Bổ sung hỗn hợp polysaccharide 1%

Nghiệm thức 4: Bổ sung hỗn hợp polysaccharide 2%

Mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần Tôm được cho ăn bằng thức ăn viên công nghiệp (Grobest, 40% CP) có bổ sung hỗn hợp ly trích polysaccharide với hàm lượng 0% ; 0,5% ; 1% và 2% (tính trên khối lượng thức ăn) Thức ăn được trộn theo phương pháp

của Balasubramanian et al., (2008): Hỗn hợp ly trích polysaccharide được hòa tan với

nước sau đó trộn vào thức ăn với tỉ lệ nhất định, để yên trong 15 phút nhằm làm cho hỗn hợp ngấm vào thức ăn, thức ăn được làm khô và bảo quản trong nhiệt độ phòng 15

phút trước khi cho tôm ăn (trích bởi Huỳnh Trường Giang và ctv., 2013) Thức ăn

được trộn hàng ngày Tôm sú được cho ăn 3 lần/ngày vào các thời điểm: 7 giờ; 14 giờ

và 21 giờ Theo dõi khả năng sử dụng thức ăn của tôm để điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp

2.3 Thu thập và xử lí số liệu

Các yếu tố môi trường:

Chỉ tiêu Chu kì thu mẫu Phương pháp phân tích

Nhiệt độ 2 lần/ 1 tuần Nhiệt kế

Độ Kiềm Hàng tuần Chuẩn độ acid

NO2

-Hàng tuần So màu Diazonium (APHA et al., 1999)

H2S Hàng tuần So màu Iodine (APHA et al., 1999)

NH3 Hàng tuần Phương pháp Phenate (APHA et al., 1999)

Trang 5

Các chỉ tiêu đánh giá tôm thí nghiệm: Khối lượng và chiều dài của tôm sú được cân,

đo trước khi bố trí và sau khi kết thúc thí nghiệm để xác định tốc độ tăng trưởng tuyệt đối và tương đối:

Tăng trưởng tuyệt đối (Daily DWG (g/ngày) = (Wf – Wi)/T

weight gain)

Tăng trưởng tương đối (Specific SGR (%/ngày) = (Ln Wf – Ln Wi)/T x 100

growth rate)

Tăng trọng (Weight gain) WG (g/con) = Wf - Wi

Tỷ lệ sống (Survival rate) SR (%) = (Ni – Nf) x 100

Lượng thức ăn tiêu tốn (Feed FC = (Lượng thức ăn sử dụng/cá thể tôm)/T

consumption)

Hệ số tiêu thụ thức ăn (Feed FCR = FC / tăng trọng

consumption rate)

Trong đó: Wi, Li là khối lượng và chiều dài tôm ban đầu (g), (mm)

Wf, Lf là khối lượng và chiều dài tôm tại thời điểm thu mẫu (g), (mm)

T là thời gian thực hiện thí nghiệm (ngày)

Ni là số cá thể thả ban đầu thí nghiệm

Nf là số cá thể tại thời điểm thu mẫu

Độ ẩm và hàm lượng protein trong cơ của tôm được thực hiện khi kết thúc thí nghiệm dựa theo tiêu chuẩn AOAC (2000)

Sử dụng phần mềm Excel để tính các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn Trung bình giữa các nghiệm thức được so sánh bằng ANOVA và phép thử DUNCAN ở mức ý

nghĩa 0,05 bằng chương trình SAS (SAS Institute, Cary, NC, Mỹ)

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Các yếu tố môi trường

Biến động nhiệt độ giữa các nghiệm thức trong suốt thời gian thí nghiệm là 26–29oC Nhìn chung biên độ dao động nhiệt độ giữa các bể không cao (chênh lệch không quá

3oC) vẫn nằm trong giới hạn cho phép sự phát triển bình thường của tôm 26–33oC (Boyd, 1990) Yếu tố pH khá cao và dao động từ 8,4 đến 8,9 (Bảng 1) Trong suốt quá trình thí nghiệm, do trong điều kiện sục khí liên tục nên hàm lượng oxy hòa tan luôn duy trì ở mức thích hợp cho sự phát triển của tôm, dao động trong khoảng từ 6,0-8,0 mg/L Độ kiềm cũng được duy trì ở mức rất thích hợp và dao động từ 80-140 mg

Trang 6

CaCO3/L Hàm lượng các yếu tố được cho là có khả năng gây bất lợi cho tôm như

N-NO2

-, N-NH3 và H2S qua khảo sát vẫn còn ở mức thấp và nằm trong khoảng an toàn cho tôm sú

Nhìn chung các yếu tố môi trường trong hệ thống thí nghiệm luôn nằm trong sự phát triển bình thường của tôm sú

Bảng 1: Giá trị trung bình của các yếu tố môi trường trong các nghiệm thức

NO2

(mg/L) 0,7±0,13a 0,5±0,34a 0,47±0,04a 0,37±0,2a

NH3 (mg/L) 0,035±0,004a 0,044±0,003a 0,044±0,001a 0,06±0,001a

H2S (mg/L) 0,011±0,004a 0,012±0,001a 0,015±0,004a 0,014±0,002a

Giá trị trong cùng một hàng có chữ cái khác nhau thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức p<0,05

3.2 Tăng trưởng và tỉ lệ sống của tôm thí nghiệm

3.2.1 Tỉ lệ sống của tôm thí nghiệm

Sau 60 ngày thí nghiệm, tỉ lệ sống của tôm ở các nghiệm thức khác biệt có ý nghĩa

thống kê (p<0,05) Tôm cho ăn thức ăn có bổ sung 0,5% hỗn hợp ly trích từ rong nâu

S microcytum có tỉ lệ sống cao nhất 96,67%±2,89 Trong khi đó khi cho ăn ở hàm

lượng cao nhất 2% tỉ lệ sống chỉ chỉ đạt 52%±6,24, thấp nhất trong các nghiệm thức Nghiệm thức đối chứng (0%) và nghiệm thức 1% có tỉ lệ sống lần lượt là 72%±10,58, 72,67%±17,04 (Hình 1) Vì vậy, hàm lượng polysacchride bổ sung vào thức ăn đã có ảnh hưởng rất lớn đến tỉ lệ sống của tôm Hiện nay, nghiên cứu về ảnh hưởng của hỗn

hợp ly trích từ rong mơ Sargassum lên sự tăng trưởng của tôm sú P monodon hầu như

không có thông tin Theo kết quả nghiên cứu của Briggs và Funge-Smith (1996) thì

khi sử dụng rong đỏ Gracilaria sp trên tôm sú P monodon thì tỉ lệ sống trung bình

dao động từ 47,5-56,0%

Hình 1 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ sống của tôm thí nghiệm sau 60 ngày (%)

Trang 7

3.2.2 Tăng trưởng của tôm thí nghiệm

Kết quả thí nghiệm cho thấy hỗn hợp polysaccharide có thể sử dụng trong thức ăn của tôm Tốc độ tăng trưởng có khuynh hướng tăng theo mức bổ sung và đạt cao nhất ở mức bổ sung 2% Và ở mức bổ sung 0,5% tốc độ tăng trưởng đạt thấp hơn so với nghiệm thức đối chứng Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng tương đối và tuyệt đối giữa các

nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) (Bảng 2 và Bảng 3)

Bảng 2: Tăng trưởng về khối lượng của tôm sú ở các nghiệm thức

Nghiệm

NT1 0,006±0,0a 0,34±0,05a 0,33±0,05a 0,006±0,0008a 6,70±0,26a NT2 0,006±0,0a 0,34±0,01a 0,33±0,01a 0,006±0,0002a 6,73±0,27a NT3 0,006±0,0a 0,39±0,02a 0,38±0,02a 0,006±0,0004a 6,94±0,09a

NT4 0,006±0,0a 0,49±0,19a 0,48±0,19a 0,008±0,0032a 7,25±0,61a

Giá trị trong cùng một hàng có chữ cái khác nhau thể hiển sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)

Bảng 3: Tăng trưởng chiều dài của tôm sú ở các nghiệm thức

Nghiệm

NT1 12,38±0,0a 34,33±1,58a 21,95±1,58a 0,366±0,026a 1,70±0,08a NT2 12,38±0,0a 34,50±0,75a 22,12±0,75a 0,369±0,013a 1,71±0,04a NT3 12,38±0,0a 36,30±0,75a 23,92±0,75a 0,399±0,013a 1,79±0,03a

NT4 12,38±0,0a 38,38±4,64a 25,99±4,64a 0,433±0,078a 1,88±0,20a

Giá trị trong cùng một hàng có chữ cái khác nhau thể hiển sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)

Chiều dài và khối lượng của tôm sau 60 ngày thí nghiệm giữa các nghiệm thức không

có sự chênh lệch lớn Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng (DWG) đạt 0,008 g/ngày, tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng là 7,25%/ngày ở nghiệm thức 2%

Ở nghiệm thức 0,5%, mặc dù có bổ sung hỗn hợp polysaccharide nhưng tốc độ tăng

trưởng đạt thấp nhất Kết quả này tương đồng với kết quả nghiên cứu của Briggs et al., (1996) khi sử dụng rong câu Gracilaria sp bổ sung vào thức ăn tôm sú với các mức

0%, 5%, 10%, 15%, 30% trên khối lượng thức ăn Tốc độ tăng trưởng tương đối cao nhất ở nghiệm thức 10% (8,03%/ngày) và thấp nhất ở nghiệm thức 30% (7,33%/ngày) Nguyên nhân là do hàm lượng tro cao, hàm lượng protein thấp, hoặc sự hiện diện của chất xơ hòa tan cao trong thức ăn thử nghiệm với mức bổ sung rong biển cao Hỗn hợp polysaccharide bổ sung vào thức ăn có ảnh hưởng đến tăng trưởng của tôm nhưng chỉ thích hợp với nồng độ nhất định Ở mỗi nồng độ hỗn hợp polysaccharide thể hiện hoạt tính chống oxy hóa khác nhau

Trang 8

Tôm thí nghiệm ở nghiệm thức 0% có lượng thức ăn tiêu thụ (FC=12,8 mg/tôm/ngày)

và tỉ lệ tiêu thụ thức ăn (FCR=2,28) khá cao Tuy nhiên tăng trọng của tôm không đạt kết quả cao so với các nghiệm thức có bổ sung hỗn hợp polysaccharide (Hình 1)

Hình 2: Tăng trọng (WG), lượng thức tiêu thụ (Feed Consumption-FC) và tỉ lệ tiêu thụ thức

ăn (Feed Consumption Rate-FCR) của các nghiệm thức Lượng tiêu thụ thức ăn (FC) và tỉ lệ tiêu thụ thức ăn (FCR) tỉ lệ thuận với mức độ bổ sung hỗn hợp polysaccharide Nghiệm thức 2% đạt kết quả cao nhất Tuy nhiên, tăng

trọng (WG) giữa các nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Kết quả nghiên cứu của Penaflorida và Golez (1996) khi bổ sung 10% G heteroclada chất

lượng thức ăn được cải thiện rõ rệt Phần trăm nước trong thức ăn ổn định đến 87,7%

và FCR giảm hơn 14%

3.3 Chất lượng tôm thí nghiệm

3.3.1 Tỉ lệ thịt, vỏ tôm thí nghiệm

Kết quả phân tích cho thấy, tỉ lệ tôm không đầu, tỉ lệ thịt, vỏ giữa nghiệm thức đối chứng và các nghiệm thức bổ sung có sự chênh lệch Nghiệm thức 4 (2%) thu được tỉ

lệ thịt cao nhất đạt 53,6% Giữa các nghiệm thức còn lại không có sự khác biệt rõ rệt chỉ dao động từ 41,1–43,5% (Bảng 4)

Bảng 4: Tỉ lệ vỏ và tỉ lệ cơ của tôm sú P monodon khi cho ăn hỗn hợp polyssacharide ở các

hàm lượng khác nhau (%)

Nghiệm thức Khối lượng tôm không Tỉ lệ vỏ Tỉ lệ cơ

đầu

Giá trị trong cùng một cột có chữ cái khác nhau thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)

Trang 9

Fucoidan, laminarin và alginate là những β-glucan chứa nhiều đường glucose, fucose

và manose được ly trích từ rong nâu Tôm không có hệ miễn dịch đặc hiệu, quá trình miễn dịch của tôm chủ yếu dựa vào hệ miễn dịch tự nhiên bao gồm hàng rào vật lý (lớp vỏ ki-tin), miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào Trong đó tế bào bạch cầu đóng vai trò rất quan trọng trong việc chống lại mầm bệnh β-glucan có khả năng kích thích

sự tổng hợp và phóng thích tế bào bạch cầu từ đó thúc đẩy quá trình phóng thích một

số enzyme miễn dịch cũng như là các peptid kháng khuẩn (AMPs) Đối với miễn dịch

tế bào, β-glucan kích thích quá trình melanin hóa và quá trình thực bào (trích bởi

Huỳnh Trường Giang và ctv., 2012) Vì vậy, hàm lượng thịt được tích lũy cao trong cơ

thể tôm

3.3.2 Chất lượng thịt tôm thí nghiệm

Độ ẩm của tôm thí nghiệm tăng dần theo hàm lượng bổ sung của hỗn hợp polysaccharide (66,5–72%) Độ ẩm của các nghiệm thức lần lượt là 66,5%, 66,7%, 70,9%, 72% với Nghiệm thức 1, Nghiệm thức 2, Nghiệm thức 3 và Nghiệm thức 4 tương ứng Với kích cỡ của tôm, tôm càng lớn thì nhu cầu trao đổi chất trong cơ thể càng cao để cung cấp cho quá trình sinh trưởng Tỉ lệ protein trong cơ (% CP) của tôm đạt 29,6–34,2% Ở mức bổ sung 1% (NT 3) tỉ lệ protein cao nhất đạt 34,2% (p< 0,05) Nghiệm thức 0% (NT 1) và 0,5% (NT 2) có tỉ lệ protein tương ứng lần lượt là 31,8%

và 32,2% Tuy nhiên, nghiệm thức 2% có tỉ lệ protein thấp nhất (29,6%) với mức bổ sung hỗn hợp polysaccharide cao nhất Có thể do hỗn hợp polysaccharide có hoạt tính sinh học cao khi bổ sung với mức 2% vượt quá khả năng hoạt động của tế bào làm cho

sự tích lũy hàm lượng protein trong cơ bị hạn chế Briggs et al., (1996) cũng đã chỉ ra

rằng, tỉ lệ protein của tôm đạt cao nhất (46,8%) với mức bổ sung thấp nhất 5%

Gracilaria sp Theo nghiên cứu của Augusto et al., (2014) khi bổ sung hỗn hợp

polysaccharide chiết xuất từ Enteromorpha intestinalis trên tôm sú ở mức bổ sung 1g

và 1.5g/kg có giá trị sản xuất protein cao đáng kể

4 KẾT LUẬN

Các chỉ số về tăng tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn, chất lượng của tôm khi cho

ăn hỗn hợp polysaccharide ở hàm lượng từ 0 đến 2% khác biệt không có ý nghĩa thống

kê (p>0,05) Trong khi đó, tỉ lệ sống của tôm đạt cao nhất (96,67%) với hàm lượng bổ

sung hỗn hợp polysaccharide là 0,5%, khác biệt có ý nghĩa đối thống kê so với các nghiệm thức bổ sung còn lại Từ kết quả trên có thể kết luận rằng hỗn hợp

polysaccharide ly trích từ rong nâu S.microcystum bổ sung vào thức ăn có thể cải thiện

tỉ lệ sống của tôm sú trong quá trình nuôi mặc dù về tăng trưởng ở giai đoạn PL15 đến

PL75 là chưa rõ ràng Tuy nhiên, nghiên cứu tiếp theo cần đánh giá khả năng ảnh hưởng của hỗn hợp polysaccharide trên tôm sú ở giai đoạn lớn hơn Tiếp tục nghiên cứu khả năng tăng cường miễn dịch và sức đề kháng của hỗn hợp polysaccharide ly

trích từ rong mơ S microcystum lên tôm sú vì kết quả nghiên cứu hiện tại cho thấy tỉ lệ

sống được cải thiện đáng kể (lên đến 96,67%) sau 60 ngày thí nghiệm

Trang 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO APHA, AWWA, WEF 1999 Standar methods for the examination of water and waste water, 19th edition Armerican Public Health Association 1015 Fifteenth Street, NW Washington, DC 2005

AOAC, 2000 Official Methods of Analysis Association of Official Chemists Arlington

Augusto, E S Jr and S P Ritche, 2014 Growth performance of black tiger shrimp

Penaeus monodon larvae fed diets supplemented with ulvan Animal Biology and

Animal husban dry International Journal of the Bioflux Society 6: 173-180

Boyd 1990 Water Quality in Ponds for Aquaculture Alabama Argicultural Experiment Station

Briggs, M.R.P and S.L., Funge – Smith, 1996 The protential of Gracilaria sp meal for

supplementation of diets for juvenile Penaeus monodon Fabricius Aquaculture

Research 27:345-354

Chang, C.F., Che, H.Y., Su, M.S., Liao, I.C., 2000 Immunomodulation by dietary

β-1,3-glucan in the brooders of the black tiger shrimp Penaeus monodon Fish Shellfish

Immunol 10: 505-514

Chang, C.F., Su, M.S., Chen, H.Y., Liao, I.C., 2003 Dietary β-1,3-glucan effectively

improves immunity and survival of Penaeus monodon challenged with white spot

syndrome virus Fish Shellfish Immunol 15:297-310

Choitigeat, W., S Tongsupa, K Supamataya and A Phongdara, 2004 Ecffect of Fucoidan on disease resistance of black tiger shrimp Aquaculture 233:23-30

Huỳnh Trường Giang, Vũ Ngọc Út và Trương Quốc Phú, 2012 Sử dụng chất chiết β-Glucan từ rong biển để tăng sức đề kháng của tôm biển: Tổng quan Kỷ yếu Hội nghị Khoa học thủy sẩn lần 4:103-113

Huỳnh Trường Giang, Dương Thị Hoàng Oanh, Vũ Ngọc Út và Trương Quốc Phú, 2013 Thành phần hóa học, hoạt tính chống oxy hóa của hỗn hợp polysaccharide ly trích từ

rong mơ Sargassum microcystum Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ 25:183

– 191

Lavens, P and Sorgeloos, P 2000 Experiences on importance of diet for shrimp postlarval quality, Aquaculture 191:169-176

Nguyễn Mộng Vân, 2012 Đánh gis khả năng thay thế thức ăn công nghiệp bằng rong bún

(Enteromorpha spp.) làm thức ăn cho cá rô phi (Oreochromis niloticus) Luận văn tốt

nghiệp đại học Đại học Cần Thơ

Nguyễn Thành Vẹn, 2008 Nghiên cứu tính chất hóa học môi trường của mô hình tôm sú kết hợp với lúa, màu trên vùng đất phèn nhiễm mặn ở xã Vĩnh Viễn, Huyện Long Mỹ

Ngày đăng: 25/11/2015, 17:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Giá trị trung bình của các yếu tố môi trường trong các nghiệm thức - ảnh hưởng của thức ăn có bổ sung hỗn hợp polysaccharide chiết xuất từ rong nâu (phaeophyta) đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của tôm sú (penaeus monodon)
Bảng 1 Giá trị trung bình của các yếu tố môi trường trong các nghiệm thức (Trang 6)
Hình 1. Biểu đồ thể hiện tỷ lệ sống của tôm thí nghiệm sau 60 ngày (%) - ảnh hưởng của thức ăn có bổ sung hỗn hợp polysaccharide chiết xuất từ rong nâu (phaeophyta) đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của tôm sú (penaeus monodon)
Hình 1. Biểu đồ thể hiện tỷ lệ sống của tôm thí nghiệm sau 60 ngày (%) (Trang 6)
Bảng 3:  Tăng trưởng chiều dài của tôm sú ở các nghiệm thức - ảnh hưởng của thức ăn có bổ sung hỗn hợp polysaccharide chiết xuất từ rong nâu (phaeophyta) đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của tôm sú (penaeus monodon)
Bảng 3 Tăng trưởng chiều dài của tôm sú ở các nghiệm thức (Trang 7)
Bảng 2: Tăng trưởng về khối lượng của tôm sú ở các nghiệm thức - ảnh hưởng của thức ăn có bổ sung hỗn hợp polysaccharide chiết xuất từ rong nâu (phaeophyta) đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của tôm sú (penaeus monodon)
Bảng 2 Tăng trưởng về khối lượng của tôm sú ở các nghiệm thức (Trang 7)
Hình 2: Tăng trọng (WG), lượng thức tiêu thụ (Feed Consumption-FC) và tỉ lệ tiêu thụ thức - ảnh hưởng của thức ăn có bổ sung hỗn hợp polysaccharide chiết xuất từ rong nâu (phaeophyta) đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của tôm sú (penaeus monodon)
Hình 2 Tăng trọng (WG), lượng thức tiêu thụ (Feed Consumption-FC) và tỉ lệ tiêu thụ thức (Trang 8)
Bảng 4: Tỉ lệ vỏ và tỉ lệ  cơ của tôm sú P. monodon khi cho ăn hỗn hợp polyssacharide ở các  hàm lượng khác nhau (%) - ảnh hưởng của thức ăn có bổ sung hỗn hợp polysaccharide chiết xuất từ rong nâu (phaeophyta) đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của tôm sú (penaeus monodon)
Bảng 4 Tỉ lệ vỏ và tỉ lệ cơ của tôm sú P. monodon khi cho ăn hỗn hợp polyssacharide ở các hàm lượng khác nhau (%) (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w