1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của các giống lúa khác nhau lên biến động của một số nhóm vi khuẩn có lợi trong ruộng lúa luân canh với nuôi tôm tại kiên giang

13 476 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 824,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ẢNH HƯỞNG CỦA GIỐNG LÚA KHÁC NHAU LÊN BIẾN ĐỘNG CỦA MỘT SỐ NHÓM VI KHUẨN CÓ LỢI TRONG RUỘNG LÚA LUÂN CANH VỚI NUÔI TÔM TẠI KIÊN GIANG Bùi Lê Hồng Nhung và Phạm Thị Tuyết Ngân Khoa Thủ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

BÙI LÊ HỒNG NHUNG

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC GIỐNG LÚA KHÁC NHAU LÊN BIẾN ĐỘNG CỦA MỘT SỐ NHÓM VI KHUẨN CÓ LỢI TRONG RUỘNG LÚA LUÂN CANH VỚI NUÔI TÔM

TẠI KIÊN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH NUÔI & BẢO TỒN SINH VẬT BIỂN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

Ts PHẠM THỊ TUYẾT NGÂN

Trang 2

ẢNH HƯỞNG CỦA GIỐNG LÚA KHÁC NHAU LÊN BIẾN ĐỘNG CỦA MỘT SỐ NHÓM VI KHUẨN CÓ LỢI TRONG RUỘNG LÚA LUÂN CANH

VỚI NUÔI TÔM TẠI KIÊN GIANG

Bùi Lê Hồng Nhung và Phạm Thị Tuyết Ngân

Khoa Thủy sản - Đại học Cần Thơ Email: nhung118246@student.ctu.edu.vn

ABSTRACT

This study was performed to analyze and evaluate the variability of the number of beneficial bacteria (bacteria that total, Bacillus sp, Nitrosomonas and Nitrobacter)

in rotation with rice fields in Kien Giang shrimp The experiment consists of six sampling period (2 crops, 4 shrimps) was conducted on the two rice Colony counting method was performed to determine the total bacteria and Bacillus; density nitrification bacteria was determined by MPN method Experimental results show that the density of bacteria in the mud was always higher than the density of bacteria in the water 1 Log unid Density of bacteria in water (total bacteria, Bacillus sp, Nitrosomonas and Nitrobacter) was highest in experiments, respectively 7,88×10 5 (CFU/mL), 6,78×10 4 (CFU/mL), 9,4×10 1 (MPN/mL), 5,9×10 1 (MPN/mL) and control fields respectively 4,82×10 5 (CFU/mL), 2,6×10 4 (CFU/mL), 7×10 1 (MPN/mL), 4,4×10 1 (MPN/mL) Bacterial density in the same mud, the highest in field experiments, respectively 5,66×10 6 (CFU/g), 8,85×10 5 (CFU/g), 1,08×10 3

(MPN/g), 6,95×10 2 (MPN/g) and control fields respectively 1,61×10 6

(CFU/g), 2,31×10 5 (CFU/g), 6,95×10 2 (MPN/g), 4,35×10 2 (MPN/g) The density of bacteria in field experiments are higher than the density of bacteria in the control The density of bacteria in creasy from the beginning to the end of the experiment and reach highest at the last

Keywords: Total Bacteria, Bacillus, Nitrosomonas, Nitrobacter

Title: The variation of some benifical bacterias in rotational rice fields with shrimp

farming in Kien Giang province

TÓM TẮT

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích và đánh giá biến động của một

số nhóm vi khuẩn (vi khuẩn tổng, Bacillus sp, Nitrosomonas và Nitrobacter) trong ruộng lúa luân canh với tôm nuôi tại Kiên Giang Thí nghiệm gồm 6 đợt thu mẫu (2 đợt lúa, 4 đợt tôm) được tiến hành trên hai giống lúa Phương pháp đếm khuẩn lạc được thực hiện để xác định mật độ vi khuẩn tổng và vi khuẩn Bacillus; mật độ nhóm vi khuẩn nitrate hóa được xác định bằng hệ thống MPN Kết quả thí nghiệm cho thấy: Mật độ vi khuẩn trong bùn luôn cao hơn mật độ vi

Trang 3

khuẩn trong nước một đơn vị Log Mật độ vi khuẩn trong nước (vi khuẩn tổng, Bacillus sp, Nitrosomonas và Nitrobacter) cao nhất ở ruộng thí nghiệm lần lượt

là 7,88×10 5 (CFU/mL), 6,78×10 4 (CFU/mL), 9,4×10 1 (MPN/mL), 5,9×10 1

(MPN/mL) và ruộng đối chứng lần lượt là 4,82×10 5 (CFU/mL), 2,6×10 4

(CFU/mL), 7×10 1 (MPN/mL), 4,4×10 1 (MPN/mL) Mật độ vi khuẩn trong bùn cũng tương tự, cao nhất ở ruộng thí nghiệm lần lượt là 5,66×10 6 (CFU/g), 8,85×10 5 (CFU/g), 1,08×10 3 (MPN/g), 6,95×10 2 (MPN/g) và ruộng đối chứng lần lượt là 1,61×10 6 (CFU/g), 2,31×10 5 (CFU/g), 6,95×10 2 (MPN/g), 4,35×10 2 (MPN/g) Mật độ vi khuẩn ở ruộng thí nghiệm luôn cao hơn mật độ vi khuẩn ở ruộng đối chứng Càng về cuối vụ nuôi mật độ vi khuẩn càng tăng, luôn cao nhất

ở đợt cuối cùng

Từ khóa: vi khuẩn tổng, Bacillus, Nitrosomonas, Nitrobacter

1 GIỚI THIỆU

Hiện nay, mô hình canh tác tôm-lúa phát triển mạnh ở các tỉnh ven biển khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bởi tính hiệu quả và sự bền vững của chúng

So với mô hình sản xuất chuyên canh lúa hay tôm, mô hình tôm-lúa giảm rất nhiều chi phí cho nông dân Tôm nuôi trong ruộng lúa tăng trọng nhanh nhờ nguồn thức

ăn dồi dào, sạch bệnh Đối với cây lúa trồng sau vụ nuôi tôm, cũng rất tốt bởi đất được bổ sung độ phì nhiêu, màu mỡ Ngoài ra, lúa được canh tác vào mùa mưa giúp tạo môi trường ao nuôi vào mùa khô, làm gián đoạn sự phát triển hoặc trú ẩn của mầm bệnh trên tôm

Trong đó, vi khuẩn hữu ích đóng vai trò quan trọng trong mô hình này: chúng phân hủy chất hữu cơ, cải thiện chất lượng nước, chuyển hóa các khí độc như NH3,

NO2… sang các dạng không độc Trong nuôi trồng thủy sản hiện nay, những vi khuẩn hữu ích tiềm năng được phân lập trực tiếp từ môi trường nuôi có kết quả tốt

(Burford et al., 1998 trích Nguyễn Thanh Tâm, 2009) Hầu hết những loài Bacillus

tham gia vào quá trình amôn hóa protein, giữ vai trò quan trọng trong việc chuyển nitơ từ dạng khó hấp thu sang dạng muối amôn dễ được thực vật thủy sinh hấp thu và giúp làm sạch các thủy vực (Phạm Thị Tuyết Ngân, 2006) Vi khuẩn nitrat hóa đóng vai trò quan trọng trong tự nhiên, trong đất thoáng khí chúng dễ dàng oxy hóa và giải phóng NH4+ trong sự khoáng hóa các hợp chất chứa nitơ

Nitrosomonas giải phóng NH3 dư thừa thông qua quá trình chuyển đổi NH3 thành

nitrit Nitrobacter oxy hóa nitrit thành nitrat sử dụng năng lượng cho hoạt động sống

(Lương Đức Phẩm, 2011)

Từ kết quả nghiên cứu ở Cà Mau của Nguyễn Trung Nghĩa (2012), cho thấy vi khuẩn có lợi đã góp phần đem lại hiệu quả cao cho mô hình tôm-lúa khi sử dụng giống lúa lai Vì vậy, đề tài “ Ảnh hưởng của giống lúa lai khác nhau lên biến động của một số nhóm vi khuẩn có lợi trong trong ruộng lúa luân canh với tôm nuôi tại Kiên Giang” được thực hiện nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng về biến động của yếu tố vi khuẩn hữu ích lên mô hình ruộng lúa luân canh với tôm nuôi tại Kiên Giang khi sử dụng giống lúa lai

Trang 4

2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thí nghiệm được thực hiện tại huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm và chu kì thu mẫu

2.1.1 Bố trí thí nghiệm

Diện tích thực hiện thí nghiệm là 13,5 công, được chia làm 2 nghiệm thức: Ruộng thí nghiệm (7 công) và ruộng đối chứng (6,5 công) Thí nghiệm được thực hiện trên ruộng thí nghiệm và ruộng đối chứng đều giống nhau về qui trình canh tác lúa (không sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu), qui trình nuôi tôm sú (tôm sử dụng nguồn thức ăn có sẵn trong ruộng lúa, không sử dụng thức ăn nhân tạo) Điểm khác biệt duy nhất là ở phần giống lúa canh tác (giống lúa lai cho ruộng thí nghiệm và giống lúa bụi đỏ cho ruộng đối chứng)

2.1.2 Chu kì thu mẫu:

Bảng 1: Chu kì thu mẫu ở các vụ lúa và vụ tôm

Trước xạ

1 tuần

Trước thu hoạch 1 tuần

Trước thả tôm 1 tuần

Sau thả tôm

1 tháng

Sau thả tôm

2 tháng

Trước thu hoạch 1 tuần

2.2 Phương pháp thu mẫu và chỉ tiêu theo dõi

Bảng 2 Phương pháp thu mẫu và chỉ tiêu theo dõi

Thu bằng ống falcon tiệt

trùng

Thu bằng ống nhựa PVC

Dụng cụ và cách

thu

Cách mặt nước khoảng 2030

cm

Sau đó trữ lạnh ở 4°C và tiến hành phân tích trong vòng 2 giờ

Thu ở 3 vị trí: đầu, giữa và cuối ruộng theo một đường chéo, mỗi vị trí thu khoảng

100 g bùn

Trước khi phân tích, 3 mẫu này sẽ được trộn lẫn với nhau thành 1 mẫu đại diện

Chỉ tiêu theo dõi Các nhóm vi khuẩn trong nước và bùn đáy: vi khuẩn tổng,

Bacillus sp, Nitrosomonas, Nitrobacter

2.3 Phương pháp xác định mật độ vi khuẩn

2.3.1 Phương pháp xác định mật độ vi khuẩn tổng cộng bằng phương pháp đếm

khuẩn lạc (Baumann et al , 1980 trích dẫn Phạm Thị Tuyết Ngân,2012)

Phương pháp pha loãng mẫu: (Đặng Thị Hoàng Oanh và ctv., 2004)

Trang 5

Các ống nghiệm chứa 9 mL nước muối sinh lý (0,85%) đã tiệt trùng được chuẩn bị

để pha loãng mẫu Môi trường Nutrient Agar (NA) thêm 1,5% NaCl được sử dụng

để xác định mật độ vi khuẩn tổng

Tại phòng thí nghiệm, mẫu bùn được lấy ra khỏi tủ mát (3-4°C) và để ở nhiệt độ phòng (25-28°C) Dụng cụ chứa mẫu được mở nắp trong tủ cấy tiệt trùng, 1g mẫu bùn từ mỗi vị trí thu mẫu của cùng một ao được chuyển sang các ống nghiệm chứa

9 ml nước muối sinh lý (0,85%) đã tiệt trùng ở 121°C trong 20 phút Dung dịch là hỗn hợp bùn từ các vị trí thu được trộn đều bằng máy trộn (Vortex) khoảng 1 phút Sau đó từ mỗi mẫu này lấy 3 mL dạng dung dịch mùn tại phần giữa của ống nghiệm chuyển sang một ống nghiệm rỗng đã được tiệt trùng rồi trộn với nhau thành 1 mẫu

9 mL đại diện cho ao đó, được độ pha loãng 10-1 Lắc đều mẫu 10-1 trong 1 phút rồi

để yên cho lắng 30 giây và chuyển 1 mL dung dịch ở phần giữa ống nghiệm sang ống nghiệm khác chứa 9 mL nước muối sinh lý được độ pha loãng 10-2 Tiếp tục pha loãng theo cách này đến khi đạt được độ pha loãng thích hợp, bắt đầu từ độ pha loãng 10-2 chỉ lắc trong 30 giây và để lắng 15 giây Trong nghiên cứu này mẫu bùn

đã được pha loãng đến 10-3

Phương pháp phân tích mẫu trên môi trường thạch:

Sau khi các mẫu đã được pha loãng, 100µL dung dịch vi khuẩn được cho vào đĩa chứa môi trường NA (thêm 1,5% NaCl), tán đều đến khi mẫu khô Ba độ pha loãng khác nhau của mỗi mẫu bùn được chọn để cấy lên các đĩa môi trường này, mỗi độ pha loãng lặp lại 3 lần Các đĩa môi trường đã cấy vi khuẩn được ủ ở 28°C trong 24

- 48 giờ Sau khi ủ, kiểm tra số khuẩn lạc phát triển trên bề mặt thạch của môi trường để xác định mật độ vi khuẩn tổng có trong bùn Các đĩa môi trường của cả 3

độ pha loãng được chọn cần có số khuẩn lạc dao động trong khoảng 20 đến 200 khuẩn lạc để đảm bảo độ tin cậy của phương pháp Mật độ vi khuẩn tổng cộng được tính bằng đơn vị hình thành khuẩn lạc/g bùn Xác định số lượng khuẩn lạc trong mỗi đĩa môi trường và tính số lượng trung bình cùng độ lệch chuẩn Số lượng vi khuẩn được tính bằng công thức:

Đơn vị hình thành khuẩn lạc (CFU/g bùn) = số khuẩn lạc trung bình × độ pha loãng

× 10

Phương pháp pha loãng và phương pháp phân tích mẫu nước tương tự như mẫu bùn

Số lượng vi khuẩn được tính bằng công thức:

Đơn vị hình thành khuẩn lạc (CFU/mL nước) = số khuẩn lạc trung bình × độ pha loãng × 10

2.3.2 Phương pháp xác định mật độ vi khuẩn Bacillus sp (dựa theo phương pháp

của Nguyễn Lân Dũng, 1983; Harwood và Archibald, 1990 trích dẫn Phạm Thị

Tuyết Ngân, 2012)

Chuẩn bị môi trường thạch chuyên biệt cho xác định mật độ vi khuẩn Bacillus

Trang 6

Phương pháp pha loãng mẫu bùn và được thực hiện giống như mục 2.3.1 đã trình bày trong phần trên Tiếp theo ba độ pha loãng thích hợp cho mỗi mẫu bùn được chọn và xếp vào cùng một giá có sẵn nhiệt kế được đặt vào một ống nghiệm chứa nước khác để xác định nhiệt độ cần thiết cho thí nghiệm, tất cả cho vào nước nóng ở

80 C Khi nhiệt kế đạt 80 C tính đến thời gian 10 phút và các ống nghiệm được lấy ra Sau đó, 100 µL dung dịch mùn được cho vào các đĩa chứa môi trường thạch

đã chuẩn bị sẵn, trãi đều đến khi mẫu khô, mỗi độ pha loãng lặp lại 3 lần Mẫu sau khi trãi được ủ ở 28°C trong 24 – 48 giờ Mật độ vi khuẩn được xác định như các trình bày ở trên

Phương pháp xác định mật độ Bacillus trong nước tương tự như mẫu bùn

2.3.3 Phương pháp xác định mật độ vi khuẩn Nitrosomonas và Nitrobacter

(Ehrlich, 1975 trích dẫn Phạm Thị Tuyết Ngân, 2012)

Hệ thống MPN (Most probable number): hệ thống 9 ống

Phương pháp chuẩn bị mẫu bùn để xác định mật độ vi khuần Nitrosomonas và

Nitrobacter

Chuẩn bị môi trường phân lập và thuốc thử

Môi trường ammonium-calcium-carbonate cho phương pháp MPN của nhóm vi khuẩn oxi hóa ammonium được chuẩn bị Lấy 5 mL môi trường này được cho vào ống nghiệm để nuôi vi khuẩn, tiệt trùng ở 121°C trong 20 phút

Môi trường nitrite-calcium-carbonate cho MPN phương pháp MPN của nhóm vi khuẩn oxi hóa nitrite được chuẩn bị Lấy 5 mL môi trường đã được tiệt trùng cho vào ống nghiệm để nuôi vi khuẩn

Thuốc thử Griess – Ilosway, hỗn hợp kẽm-đồng-manganese dioxide được chuẩn bị

Phương pháp pha loãng và phân tích mẫu

Phương pháp pha loãng mẫu bùn và được thực hiện giống như mục 2.3.1 đã trình bày trong phần trên

Chín ống nghiệm chứa 5 mL môi trường ammonium-calcium-carbonate để xác định

mật độ Nitrosomonas và 9 ống nghiệm chứa 5 mL môi trường nitrite-calciumcarbonate để xác định mật độ Nitrobacter cho mẫu bùn tại mỗi ao được

chuẩn bị, 1 mL dung dịch mùn ở 3 độ pha loãng thích hợp được cho vào ống nghiệm chứa môi trường trên, mỗi độ pha loãng lặp lại 3 lần Đồng thời, 3 ống nghiệm chỉ chứa môi trường nuôi, không cho dung dịch vi khuẩn, cũng được chuẩn

bị để làm đối chứng âm Tất cả ống nghiệm này được ủ ở 28°C trong 21 ngày Sau khi ủ, sự hiện diện của NO2- ở các ống nghiệm chứa dung dịch mùn và các ống đối chứng âm được kiểm tra bằng thuốc thử Griess – Ilosway Trộn lẫn các phần đều nhau của thuốc thử theo tỷ lệ 1:1:1 và quan sát sự đổi màu trong 5 phút

Trang 7

Xác định dương tính đối với nhóm Nitrosomonas: tất cả các ống nghiệm chứa dung

dịch mùn của môi trường ammonium-calcium-carbonate xuất hiện màu hồng trong

vòng 5 phút , chứng tỏ có sự hiện diện của nhóm Nitrosomonas

Xác định dương tính đối với nhóm Nitrobacter: tất cả các ống nghiệm chứa dung

dịch mùn của môi trường nitrite-calcium-carbonate không xuất hiện màu trong vòng

5 phút , chứng tỏ có sự hiện diện của nhóm Nitrobacter

Xác định số lượng ống nghiệm chứa dung dịch mùn cho phản ứng dương tính: kiểm

tra 3 độ pha loãng, kết quả từ 3 lần lặp lại của mỗi độ pha loãng được sử dụng để xác định chỉ số MPN Cách chọn 3 độ pha loãng để xác định chỉ số MPN như sau:

độ pha loãng đầu tiên là độ pha loãng cao nhất mà cả 3 lần lặp lại đều cho kết quả dương tính sau khi nhỏ thuốc thử, 2 độ pha loãng tiếp theo có nồng độ thấp hơn Sau khi kiểm tra, ghi nhận kết quả âm tính và dương tính từ các ống nghiệm Tra cứu

bảng MPN tiêu chuẩn để xác định mật độ số có thể có của nhóm Nitrosomonas và

Nitrobacter trong 1 g mẫu bùn Đơn vị tính của 2 nhóm Nitrosomonas và Nitrobacter là MPN/g

Phương pháp chuẩn bị mẫu nước để xác định mật độ vi khuần Nitrosomonas

và Nitrobacter được tiến hành tương tự như trên Đơn vị tính của 2 nhóm

Nitrosomonas và Nitrobacter là MPN/mL

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Mật độ vi khuẩn tổng

Mật độ vi khuẩn tổng ở ruộng lúa đối chứng và ruộng thí nghiệm trong vụ lúa và vụ tôm đều có khuynh hướng biến động như nhau là tăng liên tục và ổn định qua các đợt tiếp theo Ở ruộng lúa đối chứng mật độ vi khuẩn cao nhất và thấp nhất lần lượt

là 4,82×105 CFU/mL (đợt 6) và 1,18×103 CFU/mL (đợt 1) Ở ruộng thí nghiệm có mật độ cao nhất là 7,88×105 CFU/mL (đợt 6) và thấp nhất là 1,65×103 CFU/mL (đợt 1) (Hình 1) Do ở vụ tôm, trong nước có nhiều dinh dưỡng hơn nên đã kích thích được sự phát triển của nhóm vi khuẩn dị dưỡng Mật độ tổng vi khuẩn trong bùn có xu hướng biến động tương tự trong nước Ở ruộng thí nghiệm, mật độ cao nhất ở đợt thu cuối (5,66×106 CFU/g), thấp nhất ở đợt thu đầu tiên (1,53×104

CFU/g); ở ruộng đối chứng mật độ cao nhất là 1,61×106 CFU/g (đợt 6) và thấp nhất

là 1,33×104 CFU/g (đợt 1) (Hình 2) Mật độ vi khuẩn trong bùn cao hơn mật độ vi khuẩn trong nước rất nhiều do trong bùn vi khuẩn có điều kiện phát triển tốt hơn trong nước Bên cạnh đó, mật độ vi khuẩn ở ruộng thí nghiệm cao hơn ở ruộng đối chứng ở tất cả các đợt, mật độ vi khuẩn ở vụ lúa luôn thấp hơn vụ tôm một đơn vị Log Do sự tác động vượt trội của giống lúa lai so với giống lúa của địa phương nên

ở ruộng thí nghiệm vi sinh phát triển tốt hơn ở ruộng đối chứng Theo Anderson (1993) trong nước sạch thì mật độ tổng vi khuẩn nhỏ hơn 103 CFU/mL, nếu mật độ tổng vi khuẩn vượt 107 sẽ có hại cho tôm cá nuôi và môi trường nuôi trở nên bẩn Kết quả thí nghiệm cho thấy, giá trị cao nhất của mật độ vi khuẩn tổng đạt giá trị

106 CFU/mL, môi trường nước ao nuôi vẫn nằm trong giới hạn cho phép (Phạm Thị

Tuyết Ngân và ctv, 2008)

Trang 8

Theo Boyd và Tucker (1998), trong tổng số vi khuẩn có mặt trong môi trường nước,

có một số vi khuẩn liên quan đến sức sản xuất sơ cấp, phân hủy chất hữu cơ, cải thiện chất lượng nước trong ao, ngoài ra vi khuẩn còn giữ vai trò quan trọng trong việc chuyển hoá các chất độc như ammonia và các hợp chất nitơ (Phạm Thị Tuyết

Ngân và ctv, 2008) Bên cạnh đó, yếu tố môi trường cũng góp phần tạo điều kiện

cho vi khuẩn phát triển Nhiệt độ dao động từ 23,4 °C đến 33,1 °C, không có sự chênh lệch quá lớn Nếu nhiệt độ quá cao hay quá thấp cũng sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của vi khuẩn Do trong ao nuôi có sự điều chỉnh pH nên không có sự biến động lớn giữa các đợt thu mẫu (pH dao động từ 6,5-8,3)và tất cả đều trong giới hạn thích hợp cho sự phát triển của vi khuẩn

3.2 Mật độ Bacillus

Mật độ vi khuẩn Bacillus chiếm tỉ lệ cao trong mật độ tổng vi khuẩn nên có xu hướng biến động giống như mật độ vi khuẩn tổng; mật độ Bacillus được thể hiện

qua Hình 3 và 4 Trong môi trường nước: mật độ vi khuẩn ở ruộng thí nghiệm cao nhất là 6,78×104 CFU/mL (đợt 6) và thấp nhất là 1,21×103 CFU/mL (đợt 1); ở ruộng đối chứng mật độ cao nhất là 2,6×104 CFU/mL (đợt 6) và thấp nhất là 9,7×102 CFU/mL (đợt 1) Điều này cho thấy môi trường nước ở ruộng thí nghiệm thuận lợi cho sự phát triển của vi sinh hơn so với ruộng đối chứng Trong bùn, mật

độ Bacillus cũng có khuynh hướng biến động tương tự, ở ruộng thí nghiệm mật độ

cao nhất là 8,85×105 CFU/g (đợt 6) và thấp nhất 1,68×103 CFU/g (đơt 1); ở ruộng đối chứng, cao nhất ở đợt 6 (2,31×105 CFU/g) và thấp nhất ở đợt đầu đầu tiên (1,42×103 CFU/g) Vào cuối đợt 2, ao được cải tạo trước khi thả tôm nên mật độ vi khuẩn đã bị suy giảm (chủ yếu là do lượng dinh dưỡng đã giảm xuống) Mật độ

Bacillus ở ruộng lúa lai luôn cao hơn ở ruộng đối chứng cả trong nước lẫn trong

bùn, do Bacillus phát triển ổn định trong thời gian canh tác và tác động vượt trội của

giống lúa lai so với giống lúa đại phương Bên cạnh đó, trong bùn có độ ẩm thích hợp, chất dinh dưỡng nhiều nên mật độ vi khuẩn trong bùn sẽ cao hơn Mật độ vi khuẩn trong bùn cao hơn trong nước 1 đơn vị Log

Trang 9

Mặt khác, theo nghiêm cứu của Xiang Hong et al (1980) thì nhóm vi khuẩn có lợi

này có thể ngăn chặn sự phát triển của nhóm vi khuẩn gây bệnh hoặc sản sinh ra các chất ức chế sự phát triển của các nhóm vi khuẩn gây bệnh, cung cấp chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của vật nuôi, cung cấp một số enzyme cần thiết làm nâng cao khả năng tiêu hóa của vật nuôi (Nguyễn Thị Ngọc Huyền, 2012) Một

số nhóm vi khuẩn Bacillus sp (B Subtilis, B Megaterium, ) dùng để làm sạch môi

trường nhờ khả năng sinh các enzyme (proteaza, amylaza, ) phân hủy hợp chất hữu

cơ và kiểm soát sự phát triển quá mức của vi sinh vật gây bệnh do cơ chế cạnh tranh dinh dưỡng, giữ môi trường luôn ở trạng thái cân bằng sinh học (Tăng Thị Chính và Đặng Thị Kim, 2006)

3.3 Mật độ vi khuẩn Nitrosomonas:

Xu hướng phát triển của vi khuẩn Nitrosomonas biến động tương tự như Bacillus Mật độ Nitrosomonas tăng từ đợt 1 đến đợt 2, sang đợt 3 mật đô vi khuẩn giảm

thấp, sau đó tiếp tục tăng dần về cuối vụ nuôi (4 đợt cuối) Ở ruộng thí nghiệm mật

độ cao nhất và thấp nhất lần lượt là 9,4×101 MPN/mL (đợt 6) và 2,4×101 MPN/mL (đợt 1); ở ruộng đối chứng mật độ cao nhất và thấp nhất lần lượt là 7×101 MPN/mL (đợt 6) và 1,6×101 MPN/mL (đợt 1) Trong bùn cũng tương tự như trong nước, ở ruộng thí nghiệm mật độ cao nhất vẫn là đợt thu cuối với mật độ 1,08×103 MPN/g

và thấp ở đợt thu đầu tiên 2,8×102 MPN/g; ở ruộng đối chứng cao nhất là 6,95×102

MPN/g và thấp nhất là 2×102 MPN/g (Hình 5 và 6) Kết quả cho thấy mật độ vi

khuẩn Nitrosomonas tăng dần về cuối vụ do môi trường nước trong vụ tôm lượng

vật chất hữu cơ tích tụ ngày càng nhiều nên có nhiều dinh dưỡng hơn Theo Phạm

Thị Tuyết Ngân (2012), trong tôm nuôi, nếu bổ sung vi khuẩn Bacillus sẽ kích thích nhóm vi khuẩn nitrate hóa (Nitrosomonas và Nitrobacter) phát triển tự nhiên do

Bacillus đã phân hủy các vật chất hữu cơ sang vô cơ hòa tan làm nguồn dinh dưỡng

cho Nitrosomonas và Nitrobacter Khi vi khuẩn Nitrosomonas và Nitrobacter tăng

sẽ chuyển hóa dạng đạm NH3 độc hại sang NO3- không độc hại, làm giảm ô nhiễm môi trường nước nuôi, thuận lợi cho tôm tăng trưởng tốt hơn Hàm lượng TAN ở ao

TN cao nhất vào đầu vụ lúa 0,780 mg/L và có xu hướng giảm dần qua các đợt thu

Trang 10

mẫu Hàm lượng NO2- của ruộng thí nghiệm và ruộng đối chứng rất thấp và dần ổn định về cuối vụ (0,005-0,106 mg/L) Hàm lượng NO3- dao động từ 0-0,133mg/L

điều này chứng tỏ Nitrobacter đã phát huy vai trò chuyển hóa NO2- thành NO3- Mặt khác, giống lúa lai có bộ lúa khỏe, có thể sinh ra nhiều oxy hòa tan (DO), cao nhất

là đợt thu mẫu cuối (4 mg/L) nên thuận lợi cho nhóm vi khuẩn Nitrosomonas và

Nitrobacter phát triển.

3.4 Mật độ vi khuẩn Nitrobacter:

Mật độ Nitrobacter cũng biến động tương tự mật độ vi khuẩn Nitrosomonas Trong

nước, mật độ vi khuẩn của ruộng thí nghiệm cao nhất ở đợt thu cuối (5,9×101

MPN/mL) và thấp nhất ở đợt thu đầu tiên (1.6×101 MPN/mL); ở ruộng đối chứng, mật độ cao nhất và thấp nhất lần lượt là 4,4×101 MPN/mL (đợt 6) và 1,2×101

MPN/mL (đợt 1) Mật độ vi khuẩn trong bùn cũng tương tự như trong nước: ở ruộng thí nghiệm, mật độ cao nhất và thấp nhất lần lượt là 9,4×102 MPN/g (đợt 6)

và 2×102 MPN/g (đợt 1); ruộng đối chứng với mật độ cao nhất là 4,35×102 MPN/g (đợt 6) và thấp nhất là 1,55×102 MPN/g (đợt 1) Bên cạnh nguồn dinh dưỡng từ môi trường thì bộ rễ của giống lúa lai cũng góp phần tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển tốt hơn Do vậy, ruộng lúa lai luôn có mật độ vi khuẩn cao hơn ở ruộng đối chứng (Hình 7 và 8)

Ngày đăng: 25/11/2015, 17:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Chu kì thu mẫu ở các vụ lúa và vụ tôm - ảnh hưởng của các giống lúa khác nhau lên biến động của một số nhóm vi khuẩn có lợi trong ruộng lúa luân canh với nuôi tôm tại kiên giang
Bảng 1 Chu kì thu mẫu ở các vụ lúa và vụ tôm (Trang 4)
BẢNG SỐ LIỆU - ảnh hưởng của các giống lúa khác nhau lên biến động của một số nhóm vi khuẩn có lợi trong ruộng lúa luân canh với nuôi tôm tại kiên giang
BẢNG SỐ LIỆU (Trang 13)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w