1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khảo sát đa dạng cá tự nhiên bên ngoài trung tâm nông nghiệp mùa xuân

73 313 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề Việt Nam là quốc gia nằm trong vùng nhiệt đới, có diện tích nước ngọt bề mặt lớn, được đánh giá là một quốc gia có nguồn lợi thủy sản nước ngọt phong

Trang 1

KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG & TNTN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

KHẢO SÁT ĐA DẠNG CÁ TỰ NHIÊN BÊN NGOÀI TRUNG TÂM NÔNG NGHIỆP MÙA XUÂN

Sinh viên thực hiện

THÁI SUA 3113838

Cán bộ hướng dẫn

LÊ VĂN DŨ

Cần Thơ, tháng 12/2014

Trang 2

KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG & TNTN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

KHẢO SÁT ĐA DẠNG CÁ TỰ NHIÊN BÊN NGOÀI TRUNG TÂM NÔNG NGHIỆP MÙA XUÂN

Sinh viên thực hiện

THÁI SUA 3113838

Cán bộ hướng dẫn

LÊ VĂN DŨ

Cần Thơ, tháng 12/2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành tốt luận văn này tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Lê Văn Dũ đã tận tình hướng dẫn, quan tâm và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến quý thầy, cô, anh, chị trong Bộ môn Quản lý Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên, Khoa MT & TNTN trường Đại học Cần Thơ

đã quan tâm, truyền đạt kiến thức quý báu và tạo điều kiện để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp

Chân thành cảm ơn cô Bùi Thị Bích Liên – cố vấn học tập lớp Quản Lý Môi Trường K37 đã quan tâm, dìu dắt và giúp đỡ chúng tôi trong suốt khóa học

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, những người thân và tất cả các bạn bè đã động viên, chia sẻ, hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập trên giảng đường đại học và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Một lần nữa, xin cảm ơn tất cả mọi người đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua Kính chúc quý thầy cô và các bạn lời chúc sức khỏe và thành công

Xin chân thành cảm ơn!

Cần Thơ, ngày tháng năm 2014

Sinh viên thực hiện

Thái Sua

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH iv

DANH MỤC BIỂU BẢNG v

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Nội dung nghiên cứu 2

CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3

2.1 Tổng quan nguồn lợi thủy sản Việt Nam 3

2.2 Tổng quan nguồn lợi thủy sản ĐBSCL 3

2.3 Tổng quan về tỉnh Hậu Giang 5

2.3.1 Vị trí địa lý 5

2.3.2 Điều kiện tự nhiên 6

2.4 Sơ lược về địa bàn thu mẫu 10

2.4.1 Vị trí địa lý huyện Phụng Hiệp 10

2.4.2 Kinh tế huyện Phụng Hiệp 10

2.4.3 Trung tâm nông nghiệp Mùa Xuân 12

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

3.1 Trình tự nghiên cứu 14

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 14

3.3 Đối tượng nghiên cứu 14

3.4 Phương tiện 14

3.5 Phương pháp nghiên cứu 14

3.5.1 Thu thập số liệu thứ cấp 14

3.5.2 Thu thập số liệu sơ cấp 14

3.5.3 Phương pháp xác định thành phần loài 15

3.5.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 15

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16

Trang 5

4.1 Thông tin cơ bản về kết quả phỏng vấn 16

4.1.1 Độ tuổi và giới tính của các người dân được phỏng vấn 16

4.1.2 Trình độ học vấn 18

4.1.3 Thu nhập chính 19

4.1.4 Thông tin kiểu sử dụng đất 20

4.1.5 Tỷ lệ sử dụng ngư cụ và nơi đánh bắt của những hộ dân được phỏng vấn

21

4.2 Thành phần loài cá bên ngoài Trung tâm Nông nghiệp Mùa Xuân 23

4.2.1 Thành phần loài cá theo bộ 23

4.2.2 Thành phần loài cá theo họ 24

4.3 Thành phần loài cá phân bố theo kiểu sử dụng đất 25

4.4 Thành phần loài cá phân bố theo thủy vực 26

4.5 Kết quả khảo sát về ngư cụ cấm đánh bắt 28

4.6 Kết quả khảo sát một số nguyên nhân làm suy giảm nguồn lợi thủy sản 29

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 30

5.1 Kết luận 30

5.2 Kiến nghị 31

TÀI LIỆU THAM KHẢO 32

PHỤ LỤC 33

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Bản đồ địa giới hành chính tỉnh Hậu Giang 5

Hình 2.2: Hiện trạng sử dụng đất năm 2012 của TTNNMX 12

Hình 4.1: Vị trí các hộ gia đình đƣợc phỏng vấn 17

Hình 4.2: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) thu nhập chính của các hộ dân 20

Hình 4.3: Biểu đồ thể hiện thông tin kiểu sử dụng đất của các hộ dân 21

Hình 4.4: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) sử dụng ngƣ cụ của các hộ dân 22

Hình 4.5: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) số loài cá giữa các bộ 24

Hình 4.6: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) số loài giữa các họ 25

Hình 4.7: Biểu đồ thể hiện số loài cá giữa các kiểu sử dụng đất 26

Hình 4.8: Biểu đồ thể hiện số loài cá giữa các thủy vực 27

Hình 4.9: Thông tin về các loại ngƣ cụ cấm 29

Hình 4.10: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) nguyên nhân suy giảm nguồn lợi thủy sản 30

Trang 7

DANH MỤC BIỂU BẢNG

Bảng 4.1: Thông tin về độ tuổi và giới tính của các hộ dân 18

Bảng 4.2: Trình độ văn hóa của người dân được phỏng vấn 19

Bảng 4.3: Các loại thủy vực 23

Bảng 4.4: So sánh số lượng loài cá phỏng vấn theo kiểu sử dụng đất 26

Bảng 4.5: So sánh số lượng loài cá phỏng vấn theo thủy vực 28

Trang 9

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề

Việt Nam là quốc gia nằm trong vùng nhiệt đới, có diện tích nước ngọt bề mặt lớn, được đánh giá là một quốc gia có nguồn lợi thủy sản nước ngọt phong phú và đa dạng, có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển nuôi trồng thủy sản so với các nước trong khu vực Theo Bộ Thủy Sản (1996), ở Việt Nam đã thống kê được cá nước ngọt Việt Nam gồm 544 loài cá, thuộc 228 giống, 57 họ và 18 bộ Riêng họ cá chép có 276 loài và phân loài thuộc 100 giống và 4 họ, 1 phân họ được coi là đặc hữu Việt Nam Số lượng loài cá ở các cửa song dao động từ 70 đến hơn 230 loài, với tổng cộng hơn 580 loài thuộc 109 họ và 27 bộ Có thể thấy tiềm năng nguồn lợi thủy sinh nội địa rất

phong phú và đa dạng

Đồng bằng Sông Cửu Long là vùng đất ngập nước với sản lượng nông sản đa dạng và trù phú, là nơi cư trú và phát triển của hàng triệu sinh vật như cá tôm, các loài

bò sát lưỡng cư và đặc biệt là các loài chim cò Thế nhưng trong tương lai thành phần

và số lượng các quần thể sinh vật tự nhiên sẽ giảm mạnh khi môi trường tự nhiên của chúng bị thu hẹp Đặc biệt là các loài chim cò vốn có môi trường sống tự nhiên rất hạn chế Để bảo vệ các loài sinh vật hoang dã nói chung và quần thể chim, cò nói riêng thì việc thực hiện bảo tồn đa dạng sinh học, khôi phục lại các loài sinh vật bản địa, đồng thời kết hợp phát triển hạ tầng xanh là những giải pháp bền vững

Nằm ở trung tâm ĐBSCL, vườn chim trung tâm nông nghiệp Mùa xuân (TTNNMX) thuộc sinh cảnh hệ sinh thái phục hồi tự nhiên với tổng diện tích là 1.434,89 ha, trong đó diện tích có rừng khoảng 431,20 ha, và diện tích rừng nơi có chim về làm tổ và kiếm ăn khoảng 30 – 70 ha Tuy diện tích rừng của Vườn chim này không lớn so với diện tích của Đồng bằng Sông Cửu Long nhưng nó rất có ý nghĩa vì

nó góp phần duy trì sự ổn định của môi trường thiên nhiên, đặc biệt là góp phần giảm nhẹ những tác động của biến đổi khí hậu như điều hòa nguồn nước, lọc nước, chắn gió,

ổn định độ ẩm,… Ngoài ra đây là một trong số ít những khu rừng của Hậu Giang có chim về làm tổ sinh sản

Theo kết quả khảo sát của Chi cục Kiểm lâm và chuyên gia Viện sinh học nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh tại khu vực Vườn Chim trong Trung tâm nông nghiệp Mùa Xuân (Phụng Hiệp, Hậu Giang), tính từ tháng 8/2011 đến nay, hơn 30 loài đã về sinh sống trú ngụ với tổng đàn khoảng 3.500 đến 4.000 cá thể; trong đó, có ba loài quý

hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam là chim cổ rắn (Anhingar melanogaster), cò nhạn (Ardea oscitans) và giang sen (Tantalus leucocephalus) Những loài chim làm tổ với

số lượng lớn là Vạc (Nycticorax nycticorax), Cồng Cộc nhỏ (Phalacrocorax niger)

Tuy nhiên, để có cơ sở khoa học vững chắc cho việc qui hoạch và định hướng phát triển bền vững cho vườn chim thuộc Nông trường Mùa Xuân, rất cần có chương trình khảo sát, đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học và giám sát sự thay đổi quần thể các

Trang 10

loài chim đang sinh sống ở đây về thành phần loài cũng như số lượng cá thể

Ngoài quần thể chim, việc khảo sát đa dạng cá theo hiện trạng sử dụng đất cũng cần được thực hiên song song vì cá là nguồn cung cấp thức ăn chính cho chim, cò trong vườn chim TTNNMX, có mối liên hệ cùng tồn tại với sự phát triển của quần thể các loài chim Theo Trung tâm quốc gia Giống thủy sản nước ngọt Nam bộ, ĐBSCL

có khoảng 250 loài cá nước ngọt thuộc 43 họ, 130 giống Có khoảng 50 loài có giá trị kinh tế cao, trong đó có khoảng 20 loài cá quý hiếm Thành phần loài và trữ lượng cá

là một phần trong hệ sinh thái tự nhiên, có vai trò quan trọng trong cân bằng hệ sinh thái Tuy nhiên, cá hay các loài động vật thủy sinh kích thước lớn rất dễ bị tổn hại vì là đối tượng săn bắt của con người, thậm chí các hoạt động canh tác nông nghiệp cũng vậy, như sử dụng hóa chất canh tác gây ô nhiễm nguồn nước Vì vậy, việc khảo sát đa dạng cá tự nhiên dựa trên kiểu sử dụng đất bên ngoài TTNNMX cần được thực hiện nhằm cung cấp thông tin xây dựng bảng số liệu, đánh giá hiện trạng loài cá tự nhiên từ

đó có những giải pháp hiệu quả để quản lí, bảo tồn quần thể chim trong vườn chim TTNNMX, giúp phát triển du lịch sinh thái

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Khảo sát đa dạng loài, thành phần loài cá tự nhiên bên ngoài Trung tâm Nông nghiệp Mùa Xuân, làm cơ sở đánh giá vai trò của cá tự nhiên là nguồn thức ăn chính của chim cò

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Xác định loài, thành phần loài cá tự nhiên bên ngoài Trung tâm Nông nghiệp Mùa Xuân

- Xác định sự phân bố các loài cá trên tất cả các thủy vực và kiểu sử dụng đất

- Khảo sát nhận thức của người dân địa phương về các loại ngư cụ cấm và ngư cụ thường sử dụng

1.3 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra, khảo sát hiện trạng các loài cá tự nhiên bên ngoài TTNNMX

- Tìm hiểu nguyên nhân suy giảm cá tự nhiên

- Phân tích, tổng hợp và đánh giá hiện trạng các loài cá tự nhiên theo kiểu sử dụng đất và thủy vực chính trên địa bàn tỉnh Hậu Giang

Trang 11

CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan nguồn lợi thủy sản Việt Nam

Việt Nam là quốc gia nằm trong vùng nhiệt đới, có diện tích nước ngọt bề mặt lớn, được đánh giá là một quốc gia có nguồn lợi thủy sản nước ngọt phong phú và đa dạng, có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển nuôi trồng thủy sản so với các nước trong khu vực Theo Bộ Thủy Sản (1996), ở Việt Nam đã thống kê được cá nước ngọt Việt Nam gồm 544 loài cá, thuộc 228 giống, 57 họ và 18 bộ Riêng họ cá chép có 276 loài và phân loài thuộc 100 giống và 4 họ, 1 phân họ được coi là đặc hữu Việt Nam Số lượng loài cá ở các cửa song dao động từ 70 đến hơn 230 loài, với tổng cộng hơn 580 loài thuộc 109 họ và 27 bộ Có thể thấy tiềm năng nguồn lợi thủy sinh nội địa rất phong phú và đa dạng Mỗi năm, sản lượng khai thác thủy sản nội địa đạt trung bình từ

150 – 200 tấn, góp phần quan trọng vào việc đáp ứng nhu cầu tiêu thụ lương thực, thực phẩm của người dân, đặc biệt từ các địa phương không có biển Hiện nay, sản lượng khai thác thủy sản nước ngọt có phần giảm đi so với các năm trước, trên các song, hồ lớn sản lượng khai thác giảm mạnh, một số đối tượng cá truyền thống như cá Bơn, Lẹp, Chài, Chép và các loài cá đồng khác như cá Trê, cá Chạch…dang có chiều hướng suy giảm mạnh Sản lượng khai thác nội địa giai đoạn 2001 – 2009 giảm 20%, từ 243 nghìn tấn (2001) xuống còn 191 nghìn tấn (2009) Có sự thay đổi sản lượng do nguồn lợi suy giảm và môi trường thủy sinh thay đổi

Thủy sản là nguồn tài nguyên có thể tái tạo và có giá trị kinh tế rất lớn Việt Nam là quốc gia có một vùng biển rộng, bờ biển dài, vừa có núi, sông, hồ, đồng bằng châu thổ, đa dạng về kiểu loại đất ngập nước đã tạo ra cho đất nước ta tính đa dạng về tiềm năng để phát triển nuôi trồng thủy sản ở khắp mọi miền đất nước cả về nước ngọt

và nước mặn

Nước ta có những thủy vực tự nhiên rất rộng lớn thuộc hệ thống sông ngòi và các kênh rạch, hệ thống hồ chứa tự nhiên, hệ thống ao đầm nhỏ và ruộng trũng Tuy nhiên, cho tới nay mới chỉ có 80% diện tích các ao, hồ nhỏ đã phát triển, còn các mặt nước lớn như các dòng sông, vùng ngập nước, ruộng trũng chưa được sử dụng nhiều

Vì vậy, tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản trong các thủy vực nước ngọt còn rất lớn

Với diện tích có khả năng nuôi thủy sản trong cả nước là 1,7 triệu ha, trong đó

ao cá có diện tích là 120.000 ha, hồ chứa, mặt nước lớn 340.000 ha và ruộng lúa có khả năng nuôi thủy sản là 580.000 ha , hiện nay nuôi thủy sản nước ngọt đã đóng góp một phần quan trọng trong ngành thủy sản (Bộ Thủy sản, 1999)

2.2 Tổng quan nguồn lợi thủy sản ĐBSCL

Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng đất màu mỡ ở phía Tây Nam Việt Nam, do phù sa sông Cửu Long bồi đắp, còn gọi là miền Tây Nam Bộ, hay gọi tắt

là miền Tây Diện tích khoảng 40.640,7 km2, chiếm khoảng 12,3% diện tích cả nước

Trang 12

Dân số năm 2007 là 17.524.000 người, chiếm khoảng 20,6% dân số cả nước Vùng bao gồm 13 đơn vị hành chính trực thuộc trung ương là: tỉnh Long An, tỉnh Tiền Giang, tỉnh Đồng Tháp, tỉnh Vĩnh Long, tỉnh Trà Vinh, tỉnh Hậu Giang, tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Bến Tre, tỉnh An Giang, tỉnh Kiên Giang, tỉnh Bạc Liêu, tỉnh Cà Mau và thành phố Cần Thơ Đây là vị trí thuận lợi trong việc phát triển kinh tế biển, khai thác

và nuôi trồng thủy sản phục vụ cho nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trong nước và xuất

khẩu

Đồng bằng có diện tích đất tự nhiên xấp xỉ 4 triệu ha, trong đó có trên 3,8 triệu

ha đất nông nghiệp Đây là vùng trọng điểm sản xuất lương thực, thực phẩm lớn nhất

cả nước Giá trị sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp của toàn vùng hằng năm chiếm khoảng 40% tổng giá trị sản xuất ĐBSCL còn là vùng nuôi trồng thủy sản lớn nhất của cả nước, sản lượng thủy sản của vùng chiếm khoảng 50%, diện tích nuôi trồng thủy sản chiếm khoảng 60% sản lượng nuôi trồng chiếm khoảng 60% và giá trị xuất khẩu thủy sản chiếm đến 51% của cả nước (Dương Nhựt Long, 2004)

Nguồn lợi thủy sản ĐBSCL mang tính chất nhiệt đới rõ rệt, thể hiện ở chổ rất

đa dạng về thành phần loài và phong phú về sản lượng Theo nghiên cứu mới đây giũa Khoa Thủy Sản, Đại Học Cần Thơ và tổ chức bảo vệ tài nguyên môi trường của Nhật (Nagao) cho thấy có hơn 183 loài loài cá đã được tìm thấy, trong đó họ cá Bống

(Gobidae) 54 loài chiếm 19%, họ cá Chép (Cyprinidae) 46 loài chiếm 16% Chúng

phân bố ở nhiều loài hình thủy vực khác nhau như kênh rạch, ao, đầm, ruộng lúa, vùng ngập lũ…Do đó, ngư cụ khai thác cá nước ngọt ở đây cũng rất đa dạng Theo ủy ban sông Mekong, khu vực hạ lưu sông Mekong có khoảng 120 loài cá kinh tế, trong đó chỉ có khoảng 10 – 20 loài ảnh hưởng quyết định đến sản lượng khai thác

Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), nguồn lợi thủy sản ở ĐBSCL có 13 bộ và 39 họ và 173 loài cá Nghiên cứu đã xác định được 12 loài cá

thuộc bộ cá Trích (Clupeiformes), 2 loài thuộc bộ cá Thát Lát (Osteoglossiformes), 50 loài thuộc họ cá Chép (Cypriniformes), 41 loài thuộc họ cá Trơn (Siluriformes), 2 loài thuộc bộ cá Sóc (Cyprinodontiformes), 6 loài thuộc bộ cá Lìm Kìm (Benoliformes), 1 loài thuộc bộ cá Ngựa (Gasterosteifromes), 3 loài thuộc bộ cá Đối (Muligiformes), 2 loài thuộc bộ Lươn (Sunbranchiformes), 43 loài thuộc bộ cá Vực (Perciformes), 4 loài thuộc bộ cá Lưởi Mèo (Pleuronectiformes), 6 loài thuộc bộ cá Nóc (Tetraodontiformes) và 1 loài thuộc bộ cá hàm Ếch

Nguồn lợi thủy sản ở ĐBSCL có nhiều loài đặc hữu, có giá trị kinh tế cao gần

như tuyệt chủng hoặc khó phát hiện như cá Tra Dầu (Pangasionodon gigas), cá Hô (Catlocarpio siamensis), cá Chài Sóc (Probarbus jullieni)…Ngược lại, cũng xuất hiện

một số loài cá khác mới di nhập, khá phong phú ngoài tự nhiên và có thể ảnh hưởng đến các loài bản địa như cá Chim Trắng, cá Lau Kiếng…(Trần Đắc Định, 2010)

Trang 13

2.3 Tổng quan về tỉnh Hậu Giang

Hình 2.1: Bản đồ địa giới hành chính tỉnh Hậu Giang

Hậu Giang là một tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long Hậu Giang là tỉnh ở trung tâm châu thổ sông MeKong, thành phố Vị Thanh trung tâm hành chính của tỉnh cách thành phố Hồ Chí Minh 240 km về phía tây nam, cách thành phố Cần Thơ 60 km theo Quốc lộ 61 và chỉ cách 40 km theo đường nối Vị Thanh – thành phố Cần Thơ Hậu Giang là tỉnh thuộc khu vực nội địa của Đồng bằng Sông Cửu Long Trước năm 1945, Hậu Giang là tên gọi của sông Hậu Vùng đất thuộc tỉnh Hậu Giang ngày nay nằm rải rác ở nhiều tỉnh khác nhau Sau 30 tháng 04 năm 1975, tỉnh Hậu Giang được thành lập trên cơ sở sáp nhập hai tỉnh Phong Dinh và Ba Xuyên thời Việt Nam Cộng Hoà Cuối năm 1991 tỉnh Hậu Giang được chia thành Cần Thơ và Sóc Trăng Ngày 26 tháng 11 năm 2003, tỉnh Cần Thơ được chia thành thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương

và tỉnh Hậu Giang ngày nay

Tỉnh có diện tích đứng hàng thứ 11 và dân số đứng hàng thứ 13 trong tổng số

13 tỉnh thành ở miền Tây Nam Bộ, là một trong những trung tâm lúa gạo của miền Tây Nam Bộ Tỉnh có thế mạnh về cây lúa và cây ăn quả các loại, có nguồn thủy sản phong phú, chủ yếu tôm cá nước ngọt và chăn nuôi gia súc Tỉnh nổi tiếng với chợ nổi Ngã Bảy và nhiều di tích lịch sử cấp quốc gia như di tích Khởi Nghĩa Nam Kỳ, di tích Liên Hiệp Đình Chiến Nam Bộ, Căn cứ Tỉnh Ủy Cần Thơ, di tích Tầm Vu, đền Bác Hồ

2.3.1 Vị trí địa lý

Tỉnh Hậu Giang được tách ra từ tỉnh Cần Thơ cũ để trở thành một tỉnh mới trực

Trang 14

thuộc Trung Ương, là một trong 13 đơn vị hành chính cấp tỉnh thành của vùng ĐBSCL Hậu Giang là tỉnh ở trung tâm ĐBSCL, lãnh thổ của tỉnh nằm trong tọa độ từ

9030'35 đến 10019'17 Bắc và từ 105014'03 đến 106017'57 kinh Đông Phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang, phía Bắc giáp thành phố Cần Thơ và tỉnh Vĩnh Long, phía nam giáp tỉnh Bạc Liêu, phía đông giáp tỉnh Sóc Trăng Tỉnh có diện tích tự nhiên là 1601,1

km2, chiếm khoảng 4% diện tích vùng ĐBSCL và chiếm khoảng 0,4% tổng diện tích

tự nhiên cả nước Dân số trung bình 758,6 nghìn người với mật độ 474 người/km2 (Theo tổng cục thống kê 2010)

Tỉnh nằm ở hạ lưu sông Hậu, giữa một mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt như: sông Hậu, sông Cần Thơ, sông Cái Tư, kênh Quản Lộ, kênh Phụng Hiệp… Các tuyến đường lớn chạy qua tỉnh là lộ 1A, quốc lộ 61, quốc lộ 61B Tuy nhiên, do vị trí nằm sâu trong nội địa nên Hậu Giang gặp không ít khó khăn trong việc khai thác các nguồn lợi bên ngoài lãnh thổ, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa, đòi hỏi tỉnh phải

nổ lực hết sức trong việc khai thác nội lực để phát triển

Hậu Giang hiên có 7 đơn vị hành chánh gồm thành phố Vị Thanh, thị xã Ngã Bảy và 5 huyện: Phụng Hiệp, Long Mỹ, Vị Thủy, Châu Thành, Châu Thành A Tỉnh của tỉnh là thành phố Vị Thanh cách thành phố Cần Thơ 60 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 240 km về phía Tây Nam Hậu Giang chú trọng phát huy tiềm năng về sản xuất nông nghiệp, đẩy mạnh nuôi trồng khai thác thủy sản, trồng cây ăn trái cùng với nhiều ngành công nghiệp mạnh trên địa bàn như chế biến nông, thủy sản, cơ khí, hàng tiêu dùng… đã góp phần làm phát triển kinh tế của tỉnh

2.3.2 Điều kiện tự nhiên

2.3.2.1 Địa hình

Hậu Giang nằm ở phần cuối đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, độ cao trung bình dưới 2m so với mực nước biển Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây, bao gồm 2 dạng địa mạo là đê tự nhiên ven sông Hậu và các cù lao dọc theo sông Hậu Đồng bằng châu thổ chiếm gần 95% có địa hình bằng phẳng thấp dần theo hướng xa sông Hậu với một số vùng trũng cục bộ, cao trình phổ biến từ 0,6 – 0,8 m và tương đối bằng phẳng Khu vực ven sông Hậu cao nhất, trung bình khoảng 1 – 1,5m,

độ cao thấp dần về phía Tây Phần lớn lãnh thổ nằm kẹp giữa kênh Xáng Xà No và kênh Quản Lộ – Phụng Hiệp là vũng thấp trũng, độ cao trung bình chỉ khoảng 0,2 – 0,5m so với mực nước biển

Địa hình khá bằng phẳng là đặc trưng chung của ĐBSCL Trên địa bàn tỉnh có

2 trục giao thông huyết mạch quốc gia là quốc lộ 1A, quốc lộ 61; 2 trục giao thông thủy quốc gia kênh Xà No, kênh Quản lộ – Phụng Hiệp Trên phương diện phát triển kinh tế xã hội có thể phân thành 3 vùng hợp theo chế độ thủy văn như sau:

- Vùng triều: là vùng tiếp giáp sông Hậu về hướng Tây Bắc gồm huyện Châu Thành, Châu Thành A, thị xã Ngã Bảy và một phần huyện Phụng Hiệp có diện tích

Trang 15

19.200 ha, phát triển mạnh về kinh tế vườn và kinh tế công nghiệp, dịch vụ

- Vùng úng triều: về phía Đông Bắc huyện Phụng Hiệp tiếp giáp với vùng triều diện tích khoảng 16.800 ha, phát triển mạnh cây lúa với hệ thống canh tác khá đa dạng, có tiềm năng công nghiệp và dịch vụ

- Vùng úng: nằm sâu trong nội đồng bao gồm thị xã Vị Thanh, huyện Long Mỹ,

Vị Thủy và phần phía Đông Nam của huyện Phụng Hiệp, diện tích 124.000ha (78% diện tích tự nhiên) là vùng kinh tế quan trọng của tỉnh Hậu Giang phát triển nông nghiệp đa dạng (lúa, mía, khóm…) Có khả năng phát triển mạnh về công nghiệp, dịch vụ…

Trên địa bàn tỉnh có ba nhóm đất chính là nhóm đất phù sa (42% diện tích tự nhiên) đất phèn (41% diện tích tự nhiên) và đất lập líp (17% diện tích tự nhiên), có thành phần cơ giới nặng, giàu mùn đạm Bề mặt địa hình bị chia cắt mạnh bởi hệ thống kênh rạch nhân tạo Việc đào kênh vừa tăng khả năng thoát nước và lưu thông, vừa tạo

ra các vùng có địa hình cao tương đối hàng mét Sự chênh lệch về độ cao giữa các nơi trong tỉnh tuy không lớn lắm nhưng đã tạo ra sự tương phản rõ rệt Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến tự nhiên và sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh (http://www.haugiang.gov.vn)

2.3.2.2 Khí hậu

Tỉnh Hậu Giang nằm trong vòng đai nội chí tuyến Bắc bán cầu, gần xích đạo;

có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành hai mùa rõ rệt Mùa mưa có gió Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô có gió Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng 4 hàng năm Nhiệt độ trung bình là 270C không có sự trênh lệch quá lớn qua các năm Tháng có nhiệt độ cao nhất (350C) là tháng 4 và thấp nhất vào tháng 12 (20 – 300C)

Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm, chiếm từ 92 – 97% lượng mưa cả năm Lượng mưa ở Hậu Giang thuộc loại trung bình, khoảng 1800 mm/năm, lượng mưa cao nhất vào khoảng tháng 9 (250,1mm)

Độ ẩm trung bình trong năm phân hoá theo mùa một cách rõ rệt, chênh lệch độ

ẩm trung bình giữa tháng ẩm nhất và tháng ít ẩm nhất khoảng 11% Độ ẩm trung bình thấp nhất vào khoảng tháng 3 và 4 (77%) và giá trị độ ẩm trung bình trong năm là 82%

Biến đổi khí hậu đang là một thách thức lớn hiện nay, diễn ra với mức độ ngày càng khốc liệt tại nhiều địa phương Cùng với các tỉnh ở ĐBSCL, Hậu Giang cũng phải chịu tác động và bị ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu, nhất là do hiện tượng nước biển dâng Trong đó, ngành sản xuất nông nghiệp là đối tượng bị ảnh hưởng sớm

và nặng nề nhất Biến đổi khí hậu làm suy thoái nghiêm trọng phân bố nguồn cá và các môi trường sống ven biển do tác động của nước biển nóng lên Hậu Giang đang đối mặt với nguy cơ xâm nhập mặn, ô nhiễm, suy thoái nguồn nước gia tăng khi biến đổi khí hậu

Trang 16

Theo dự báo của các nhà khoa học: ĐBSCL nói chung và tỉnh Hậu Giang nói riêng, nước biển dâng sẽ làm ngập lụt phần lớn diện tích tự nhiên Lưu lượng nước sông Mekong giảm từ 2 – 24% trong mùa khô, tăng từ 7 – 15% vào mùa lũ Hạn hán

sẽ xuất hiện nhiều hơn, việc tiêu thoát nước mùa mưa lũ cũng khó khăn Sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản (http://www.haugiang.gov.vn)

2.3.2.3 Thủy văn

Tỉnh Hậu Giang có một hệ thống sông ngòi kênh rạch chằng chịt với tổng chiều dài khoảng 2.300 km Mật độ sông rạch khá lớn 1,5 km/km2, vùng ven sông Hậu thuộc huyện Châu Thành lên đến 2 km/km2 Do điều kiện địa lý của vùng, chế độ thuỷ văn của tỉnh Hậu Giang vừa chịu ảnh hưởng của chế độ nguồn nước sông Hậu, vừa chịu ảnh hưởng chế độ triều biển Đông, biển Tây và chế độ mưa nội tỉnh Hậu Giang có một hệ thống kênh rạch chằng chịt với tổng chiều dài khoảng 2.300 km Các con kênh lớn là: kênh Đông Lợi, kênh Sóc Trăng, kênh Mỹ Thuận, kênh Xáng Xà No, kinh Xáng, kênh Lô Đá, kênh Xáng Nàng Mau, kênh Xáng Bún Tàu, kênh Cái Côn Sông Hậu chảy ở phía Đông Bắc tỉnh với chiều dài khoảng 14 - 15 km, qua địa bàn huyện Châu Thành Sông có nhiều nhánh tự nhiên chảy vào tỉnh Phía Tây Nam của tỉnh có các con sông như: sông Cái Lớn, sông Ba, sông Nước Đục, sông Nước Trong không chỉ cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất, mà còn là đường giao thông quan trọng

đi khắp nơi trong tỉnh và các tỉnh trong khu vực

Phần lớn lãnh thổ Hậu Giang trong năm đều có thời kỳ ngập nước, bắt đầu từ tháng 7 và kéo dài khoảng 2 – 3 tháng Độ sâu và thời gian ngập nước tùy thuộc vào lượng nước mưa; độ cao tương đối, vị trí so với các dòng sông, kênh rạch Hiện tượng ngập úng thường được bắt đầu do mưa, sau đó tăng cường do lũ sông Hậu Các vùng cao ven sông Hậu và những vùng phía Tây trong lưu vực sông Cái Lớn thoát nước tốt nên ít bị ngập hoặc thời gian ngập ngắn Vùng đất thấp có khả năng thoát nước kém nên thời gian ngập lụt dài hơn Tùy theo mức độ ngập, có thể chia lãnh thổ Hậu Giang thành các vùng:

- Vùng ngập dưới 30 cm gồm phần lớn huyện Châu Thành, huyện Châu Thành

A, vùng Đồng Gò huyện Phụng Hiệp, phần lớn huyện Long Mỹ

- Vùng ngập từ 30 – 60 cm gồm khu vực phía Nam huyện Châu Thành, phần lớn huyện Vị Thủy

- Vùng ngập từ 60 cm trở lên gồm xã Trường Long Tây của huyện Châu Thành

A và phần lớn huyện Phụng Hiệp

- Vùng không bị ngập hoặc thời gian ngập không đáng kể gồm phần lớn thị xã

Vị Thanh, một phần huyện Vị Thủy, do nằm ở lưu vực sông Cái Lớn nên có khả năng thoát nước tốt

Là tỉnh nằm ở hạ nguồn sông Hậu, Hậu Giang chịu tác động mạnh của thủy

Trang 17

triều Vào mùa mưa, biên độ triều thấp, khoảng 0,5 m Vào mùa khô, biên độ thủy triều có thể lên tới vài mét Người ta có thể lợi dụng điều này để xây dựng hệ thống tưới tiêu tự chảy, nhưng đồng thời phải luôn cảnh giác đề phòng nước mặn xâm nhập vào đồng ruộng Vùng Tây Nam của tỉnh nằm trong lưu vực sông Cái Lớn nên chịu ảnh hưởng mạnh bởi chế độ triều của vịnh Thái Lan Nước mặn có thể theo sông Cái Lớn gây ra hiện tượng nhiễm mặn nặng tại khu vực Vị Thanh, Vị Thủy, Long Mỹ; khu vực ven các sông Nước Trong, Cái Tư, Ngan Dừa, Cái Côn; thậm chí nước mặn còn lấn vào cả kênh Quản Lộ (http://www.haugiang.gov.vn)

2.3.2.4 Tiềm năng thủy sản

Thủy sản là thế mạnh thứ hai sau cây lúa, được xác định là thế mạnh của tỉnh với sản lượng khai thác cao, khoảng 33.000 – 35.000 tấn/năm Hàng năm xuất khẩu thủy hải sản của tỉnh đạt 20.000 tấn (khoảng 50 triệu USD) Thế nhưng, tiềm năng của tỉnh hiện còn rất lớn, đến 54.000 ha diện tích mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản và 15.000 ha mặt nước sông, rạch; trong khi tỉnh chỉ mới quy hoạch được khoảng 2.000 ha tập trung tại các xã vùng ven sông Hậu Các loại cá được tỉnh tập trung phát

triển là: cá tra, cá thác lác, cá rô đồng, cá sặc rằn…

Năm 2008 diện tích nuôi thủy sản tăng nhanh, góp phần đưa sản lượng thủy sản, tạo nguồn nguyên liệu lớn, ổn định cho công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu Theo tổng cục thống kê năm 2010, toàn tỉnh diện tích nuôi tròng thủy sản là 6.400 ha tăng so với năm 2009 (6.200 ha), đứng thứ 10 trong tổng số 13 tỉnh ĐBSCL, tỉnh có diện tích nuôi trồng thủy sản lớn nhất là tỉnh Cà Mau với 299.100 ha Sản lượng thủy sản năm 2010, ước tính toàn tỉnh đạt 47,478 tấn, tăng 8,13% so với cùng kỳ năm trước (trong đó sản lượng thủy sản khai thác là 3.048 tấn, giảm 95 tấn so với năm 2009 và nuôi trồng là 44.430 tấn, tăng 3.663 tấn so với năm 2009) Sản lượng thủy sản của tỉnh Hậu Giang chiếm một phần nhỏ (khoảng 1,62%) trong tổng sản lượng thủy sản của ĐBSCL, đạt sản lượng cao nhất là tỉnh Kiên Giang với 459.310 tấn (http://www.haugiang.gov.vn)

Đến năm 2015 và 2020, ngành thủy sản tỉnh Hậu Giang phấn đấu đạt được từ

16 nghìn ha đến 20 nghìn ha nuôi trồng các loại thủy sản, tương ứng với tốc độ tăng trưởng bình quân về diện tích của giai đoạn 2011 – 2015 là 7,8%/năm và giai đoạn

2016 – 2020 là 4,65/năm Cùng với đó, sản lượng thủy sản đến năm 2015 phấn đấu đạt trên 165 nghìn tấn Kim nghạch xuất khẩu thủy sản vào năm 2015, ước tính sẽ đạt 200 triệu USD và đạt 275 triệu USD năm 2020, từ đó kéo theo hàng chục nghìn lao động

có việc làm và thu nhập ổn định (http://www.cpv.org.vn)

Trong những năm gần đây, nghề nuôi thủy sản được nhân rộng trong các tỉnh ĐBSCL trong đó có tỉnh Hậu Giang, nguồn lợi thủy sản tự nhiên trên các thủy vực ở Hậu Giang rất đa dạng và phong phú, phần lớn các giống loài bắt gặp ở đây là các giống loài phân bố thủy vực nước ngọt có phẩm chất thịt ngon với nhiều đối tượng nuôi như: cá tra, ba sa, cá lóc, cá rô đồng, cá sặc rằn, rô phi, cá trê vàng, tôm càng

Trang 18

xanh, tôm sú, tôm thẻ, Được nuôi với nhiều hình thức khác nhau như nuôi trong ao đất, nuôi bè, nuôi kết hợp, nuôi trên ruộng lúa Ở các mức độ khác nhau như: quảng canh, quảng canh cải tiến, thâm canh, bán thâm canh, chuyên canh, xen canh, lồng bè, Diện tích nuôi luân canh thủy sản với cây lúa ước tỉnh khoảng 21.000 ha chủ yếu

là cá chép, cá mè vinh, có rô đồng, cá thát lát, tôm càng xanh, Diện tích nuôi xen canh trong mương khoảng 430 ha, sản lượng 258 tấn, chủ yếu là tôm càng xanh Diện tích nuôi thủy sản ở rừng tràm là 500 ha, sản lượng 400 – 600 tấn Nuôi bè tự kiến đạt

200 bè, sản lượng khoảng 1.000 tấn, chủ yếu là cá Bống Tượng (chiếm 60%) còn lại là các loại cá trắng nuôi ghép

2.4 Sơ lược về địa bàn thu mẫu

Phụng Hiệp là một huyện của tỉnh Hậu Giang, huyện được thành lập vào tháng 9/2005 trên cơ sở phân vạch địa giới hành chính của huyện Phụng Hiệp (cũ) để thành lập hai đơn vị là thị xã Ngã Bảy và huyện Phụng Hiệp Trung tâm hành chính huyện nằm ở thị trấn Cây Dương, nơi giao nhau giữa hai trục đường tỉnh 927 và 928 Phụng Hiệp là một huyện thuần nông, có diện tích tự nhiên và số dân đứng đầu của tỉnh Hậu Giang Dân số hơn 205 nghìn người, diện tích đất tự nhiên 48.550 ha, chiếm 30,3% diện tích của toàn tỉnh, trong đó có 42.000 ha đất canh tác nông nghiệp

2.4.1 Vị trí địa lý huyện Phụng Hiệp

Xét về diện tích địa giới hành chính, huyện có diện tích lớn nhất tỉnh Hậu Giang Bắc giáp huyện Châu Thành và huyện Châu Thành A; Nam giáp huyện Mỹ

Tú của tỉnh Sóc Trăng; Tây giáp huyện Vị Thủy và huyện Long Mỹ; Đông giáp thị xã Ngã Bảy và tỉnh Sóc Trăng Huyện có 15 đơn vị hành chính trực thuộc là 12 xã: Phụng Hiệp, Tân Phước Hưng, Tân Bình, Hòa An, Phương Bình, Phương Phú, Hòa My, Hiệp Hưng, Thạnh Hòa, Bình Thành, Tân Long, Long Thạnh và 3 thị trấn: Cây Dương, Kinh Cùng, Búng Tàu Diện tích 485,55 km2, dân số 210.089 người (2009), mật độ dân số 433 người/km2

Phụng Hiệp cách thành phố Cần Thơ khoảng 30 km2 về phía Nam, cách thị thành phố Vị Thanh 38 km về hướng Đông Phụng Hiệp có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế, có truyền thống trồng trọt lâu đời với hệ thống cây ăn trái, mía đường Trên địa bàn huyện có mạng lưới giao thông đường bộ khá dày đặc gồm tuyến Quốc lộ 1A, Quốc lộ 61, tuyến Quản Lộ - Phụng Hiệp, hai tuyến tỉnh lộ 927 và 928 với nhiều tuyến sông (Lái Hiếu, Búng Tàu) tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế của huyện (http://www.coviet.vn)

2.4.2 Kinh tế huyện Phụng Hiệp

Liên tục nhiều năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện tăng 10%/năm

Từ nền kinh tế thuần nông, do chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế, đến nay đã hình thành rõ rệt 3 khu vực nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và dịch vụ, góp phần tích cực vào giải quyết các vấn đề xã hội, nâng cao mức sống người dân Giai đoạn

Trang 19

2000 - 2005, tốc độ phát triển của huyện khá nổi bật Giá trị sản xuất tăng gấp 2 lần giai đoạn trước; cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh từ khu vực I sang khu vực II, III Công nghiệp tiểu thủ công nghiệp tăng trưởng nhanh, bình quân hàng năm tăng 28,43% (tăng 3,5 lần năm 2000); dịch vụ, thương mại cũng tăng 1,96 lần so với năm

2000

Năm 2006, tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện đạt 10,17%, thu nhập bình quân đầu người đạt 5,52 triệu đồng/người/năm; tổng sản lượng sản xuất nông nghiệp đạt 983 tỷ đồng, đạt 101% kế hoạch; sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt 760,525 tỷ đồng, (tăng 0,5% so với năm 2005); thương mại, dịch vụ đạt 436,5 tỷ đồng (tăng 15% so với năm 2005) và vượt 68% chỉ tiêu tỉnh giao, thu ngân sách trên địa bàn đạt 14,1 tỷ đồng

Nông nghiệp vẫn là thế mạnh của huyện, những năm qua, ngành nông nghiệp huyện chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, trên cơ sở quy hoạch phát triển sản xuất hợp lý, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và sinh thái của từng vùng Nếu như năm

1985, phần lớn diện tích đất nông nghiệp chỉ độc canh cây lúa, nhiều diện tích phải bỏ hoang do trũng thấp, nhiễm phèn, thì đến năm 2007, nông dân đã khai thác và canh tác trên toàn bộ diện tích với gần 40.000 ha Nhiều vùng chuyên canh lúa, mía, cây ăn trái, nuôi trồng thủy sản, mang lại hiệu quả kinh tế cao Các loại cây đặc sản, như: bưởi năm roi, quýt đường, sầu riêng, măng cụt, xoài cát Hoà Lộc…đã đóng góp tích cực vào việc nâng cao mức sống người dân, xóa hộ đói, giảm hộ nghèo

Bên cạnh thế mạnh cây lúa và cây mía truyền thống, huyện Phụng Hiệp còn tận dụng lợi thế tự nhiên để đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản Phong trào chăn nuôi thủy sản

ở huyện Phụng Hiệp nở rộ trong vài năm gần đây Bước đầu chăn nuôi theo hình thức bán công nghiệp, chủ yếu trong ao, vèo, lồng ven các tuyến kênh, rạch Mỗi khi mùa nước về, thay vì sản xuất lúa vụ 3 kém hiệu quả, người dân chuyển sang nuôi cá dưới ruộng Tuy nhiên, do quy mô các mô hình sản xuất nhỏ, chỉ góp phần cải thiện cuộc sống cho nhiều hộ dân nông thôn, chứ chưa thể khai thác hết tiềm năng, thế mạnh nuôi trồng thủy sản tại địa phương Dựa vào lợi thế tự nhiên của 2 xã Hiệp Hưng và Tân Phước Hưng có các tuyến kênh lớn như: kênh Quản lộ Phụng Hiệp, Lái Hiếu, Cây Dương , huyện Phụng Hiệp đã quy hoạch thành công vùng nuôi thủy sản có giá trị thương phẩm của khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long

Phong trào chăn nuôi thủy sản ở huyện Phụng Hiệp nở rộ trong vài năm gần đây Bước đâu chăn nuôi theo hình thức bán công nghiệp, chủ yếu trong ao, vèo, lồng… ven các tuyến kênh, rạch Mỗi khi mùa nước về thay vì sản xuất vụ 3 kém hiệu quả, người dân chuyển sang nuôi cá dưới ruộng Tuy nhiên, do quy mô các mô hình nhỏ nên chỉ góp phần cải thiện cuộc sống cho nhiều hộ dân nông thôn, chứ chưa thể khai thác hết tiềm năng, thế mạnh nuôi trồng thủy sản tại địa phương Dựa vào lợi thế của 2 xã Hiệp Hưng và Tân Phước Hưng có các tuyến kênh lớn như: kênh Quản lộ Phụng Hiệp, Lái Hiếu, Cây Dương… huyện Phụng Hiệp đã có quy hoach thành công

Trang 20

vùng nuôi thủy sản có giá trị thương phẩm của khu vực ĐBSCL (www.coviet.vn)

Thế mạnh của Phụng Hiệp là tiềm năng phát triển nông nghiệp, sau đó đến thương mại – du lịch – dịch vụ và từng bước phát triển công nghiệp Lúa, mía, kết hợp nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi gia súc, gia cầm là những thế mạnh mà Phụng Hiệp đầu tư lớn cho sản xuất, kinh doanh Vì vậy, sự kết hợp phát triển giao thông – thủy lợi cần đặc biệt quan tâm

2.4.3 Trung tâm nông nghiệp Mùa Xuân

Hình 2.2: Hiện trạng sử dụng đất năm 2012 của TTNNMX

Nông trường Mùa xuân với tổng diện tích là 1.434,89 ha trong đó diện tích có rừng khoảng 431,20 ha, và diện tích rừng nơi có chim về làm tổ và kiếm ăn khoảng 30 – 70 ha Tuy diện tích rừng của Vườn chim này không lớn so với diện tích của Đồng bằng Sông Cửu Long nhưng nó rất có ý nghĩa vì nó góp phần duy trì sự ổn định của môi trường thiên nhiên, đặc biệt là góp phần giảm nhẹ những tác động của biến đổi khí hậu như điều hòa nguồn nước, lọc nước, chắn gió, ổn định độ ẩm,… Ngoài ra đây là một trong số ít những khu rừng của Hậu Giang có chim về làm tổ sinh sản Cùng với chợ nổi Ngã bảy, Vườn chim của Nông trường có thể phát triển thành điểm tham quan

Trang 21

học tập cho du khách trong và ngoài nước trong tương lai

Theo kết quả khảo sát của Chi cục Kiểm lâm và chuyên gia Viện sinh học nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh, tại khu vực Vườn Chim trong Trung tâm nông nghiệp Mùa Xuân (Phụng Hiệp, Hậu Giang), tính từ tháng 8/2011 đến nay, đã có hơn 30 loài bay về sinh sống, trú ngụ với tổng đàn khoảng 3.500 đến 4.000 cá thể; trong đó, có ba

loài quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam là chim cổ rắn (Anhingar melanogaster),

cò nhạn (Ardea oscitans) và giang sen (Tantalus leucocephalus)

Năm 2012, tỉnh phê duyệt Quy hoạch sử dụng đất Trung tâm nông nghiệp Mùa Xuân với tổng diện tích hơn 1.400 ha, trong đó đất rừng để làm khu bảo tồn động vật quý hiếm vườn chim là 61,87 ha trên tổng diện tích tự nhiên của vườn chim khoảng 92,62 ha Hậu Giang có khoảng 5.100ha đất lâm nghiệp; trong đó, diện tích có rừng khoảng 2.500 ha, chủ yếu là rừng trồng đạt tỷ lệ che phủ 1,2%

Trang 22

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Trình tự nghiên cứu

- Lược khảo tài liệu

- Khảo sát thực tế, phân tích hiện trạng cá tự nhiên trên bên ngoài TTNNMX

- Tham khảo ý kiến chuyên gia

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: đề tài được thực hiện bên ngoài Trung tâm Nông nghiệp Mùa Xuân - huyện Phụng Hiệp tỉnh Hậu Giang

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 8/2014 đến tháng 12/2014

3.3 Đối tượng nghiên cứu

Các loài cá tự nhiên (đối tượng chính) và các loại ngư cụ (đối tượng nằm ngoài phạm vi nghiên cứu)

từ mạng internet, tạp chí, báo cáo khoa học

3.5.2 Thu thập số liệu sơ cấp

3.5.2.1 Điều tra thông tin các hộ dân (33 hộ)

Điều tra thông tin về họ tên, tuổi, trình độ văn hóa, giới tính, nguồn thu nhập chính, số nhân khẩu, số lao động chính, diện tích và kiểu sử dụng đất…

3.5.2.2 Điều tra thông tin về hiện trạng khai thác cá

Điều tra thông tin về thời gian bắt đầu nghề, mùa vụ đánh bắt, các loại ngư cụ thường dùng để đánh bắt kèm theo thời điểm, thủy vực đánh bắt và số loài cá bắt được

3.5.2.3 Điều tra nhận thức người dân về suy giảm loài cá theo kiểu sử dụng đất

Điều tra nhận thức người dân về suy giảm loài cá theo kiểu sử dụng đất (dựa

Trang 23

vào phiếu điều tra: thay đổi thành phần, số lượng và vùng phân bố loài cá theo kiểu sử dụng đất)

3.5.2.4 Điều tra về cá

Tổ chức điều tra cộng đồng tại tất cả các điểm thu mẫu, trên tất cả các kiểu sử dụng đất Dựa vào phiếu điều tra để hướng tới việc phát hiện tối đa các loài cá Điều tra các đối tượng sau: người trực tiếp canh tác, người sống tại chỗ, người đánh bắt cá thường xuyên

Cho người được phỏng vấn xem hình ảnh các loài cá để nhận dạng loài

3.5.3 Phương pháp xác định thành phần loài

Dựa vào mô tả và tên các loài cá do người được phỏng vấn trả lời kết hợp với trang http://www.fishbase.org/search.php và một số tài liệu chuyên ngành như: Định loài cá nước ngọt ĐBSCL (1993) và Định loài cá nước ngọt Nam Bộ (1992) để định danh các loài cá

3.5.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

- Sử dụng phần mềm SPSS để so sánh sự khác biệt

- Sử dụng Microsoft Excel để nhập và xử lý số liệu, vẽ biểu đồ

Trang 24

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Thông tin cơ bản về kết quả phỏng vấn

Đề tài nghiên cứu được khảo sát tại địa bàn thị xã Ngã Bảy và xã Tân Phước Hưng, huyện Phụng Hiệp tỉnh Hậu Giang, được tiến hành thông qua việc phỏng vấn một cách ngẫu nhiên các hộ gia đình trong địa bàn khảo sát Kết quả điều tra được 33

hộ dân đang sinh sống trong phạm vi nghiên cứu Đặc điểm của các đối tượng dân cư tham gia trả lời phỏng vấn cụ thể như sau:

4.1.1 Độ tuổi và giới tính của các người dân được phỏng vấn

Hình 4.1: Vị trí các hộ gia đình được phỏng vấn

Tỷ lệ nam giới tham gia trả lời phỏng vấn là 97%, cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ phụ nữ trả lời phỏng vấn chỉ chiếm 3% Sự khác biệt quá lớn này là do quá trình điều tra phỏng vấn thường được tiến hành vào các buổi sáng (khoảng 8h-11h30) nên đa phần người phụ nữ trong các hộ gia đình đều phải đi chợ, làm cơm…nên họ thường từ chối khi tiếp xúc với người phỏng vấn Bên cạnh đó, đề tài được tiến hành khảo sát ở nông thôn, lao động nam thường là lao động chính, trụ cột gia đình, họ thường làm tất

cả các công việc đồng áng, đánh bắt…nuôi sống gia đình, khả năng tiếp xúc và kinh nghiệm phân loại các loài cá là rất lớn, nên họ rất năng động trong quá trình phỏng vấn

Trang 25

Sau khi thu thập thông tin từ việc phỏng vấn, độ tuổi và giới tính của các hộ dân đƣợc tổng hợp lại ở bảng sau:

Bảng 4.1: Thông tin về độ tuổi và giới tính của các hộ dân

ta có thể thu thập đƣợc nhiều thông tin đáng tin cậy trong quá trình phỏng vấn

Trang 26

4.1.2 Trình độ học vấn

Trình độ học vấn của người dân được phân chia theo từng bậc học, gồm có: mù chữ, cấp 1, cấp 2, cấp 3 và hệ cao đẳng, đại học Trong đó, cấp 1 chiếm tỷ lệ lớn nhất (48,5%), kế tiếp là cấp 2 (42,4%), cấp 3 (6,1%) và mù chữ (3%), không có hộ dân nào được phỏng vấn có trình độ cao đẳng, đại học Nhìn chung, trình độ văn hóa của người dân được phỏng vấn tương đối cao nên thuận lợi cho việc trao đổi thông tin trong quá trình phỏng vấn (Bảng 4.2)

Bảng 4.2: Trình độ văn hóa của người dân được phỏng vấn.

(%)

Mù chữ Cấp 1

Trang 27

4.1.3 Thu nhập chính

Qua kết quả khảo sát cho thấy, người được phỏng vấn tham gia nhiều ngành nghề khác nhau được nêu trong hình 4.2 Đa phần thu nhập chính của họ là từ trồng trọt, làm thuê, đánh bắt cá tự nhiên, nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi, trong đó chủ yếu

là trồng trọt (chiếm 52%), làm thuê (chiếm 20%), đánh bắt cá tự nhiên (14%) còn lại

là từ chăn nuôi (8%) và nuôi trồng thủy sản (6%)

Hình 4.2: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) thu nhập chính của các hộ dân.

Trang 28

4.1.4 Thông tin kiểu sử dụng đất

Các kiểu sử dụng đất của hộ dân tham gia trả lời phỏng vấn được thể hiện ở Hình 4.3 gồm 4 kiểu sử dụng đất: đất trồng mía, đất trồng lúa, đất mương vườn và đất trồng tràm

Hình 4.3: Biểu đồ thể hiện thông tin kiểu sử dụng đất của các hộ dân

Kết quả khảo sát, đất trồng mía chiếm tỷ lệ cao nhất là 69,7% (được 23 hộ sử dụng), kế tiếp là đất mương vườn chiếm tỷ lệ 24,2% (8 hộ sử dụng), còn lại là đất trồng lúa chiếm 18,2% (6 hộ sử dụng) và đất trồng tràm chiếm 9,1% (3 hộ sử dụng)

Nhìn chung phần lớn các kiểu sử dụng đất thực tế khảo sát đều gồm các dạng thủy vực tự nhiên (kênh rạch) hay nhân tạo (kênh đào, mương dẫn), đây là môi trường sống phù hợp của các loại cá nước ngọt ở địa phương

Trang 29

4.1.5 Tỷ lệ sử dụng ngư cụ và nơi đánh bắt của những hộ dân được phỏng vấn

4.1.5.1 Ngư cụ

Qua kết quả khảo sát về các loại ngư cụ đánh bắt cá tự nhiên của 33 hộ dân cho thấy có 5 loại ngư cụ khai thác cá được sử dụng phổ biến trên địa bàn gồm: lưới giăng, câu, chài, lờ và giớn Trong đó lưới giăng là ngư cụ được sử dụng phổ biến nhất (62,5%), kế đến là câu (18,8%), chài (8,3%), lờ (6,2%) và giớn (4,2%) Các hộ gia đình tham gia khai thác thủy sản với nhiều loại ngư cụ khác nhau, tùy theo điều kiện kinh tế gia đình và đặc điểm thủy vực nơi khai thác mà phối hợp sử dụng chúng với nhau Kết quả trên thể hiện các loại ngư cụ được sử dụng trong khai thác thủy sản khá

đa dạng nhưng tập trung chủ yếu ở lưới giăng và câu (Hình 4.4) Mỗi loại ngư cụ chỉ hoạt động hiệu quả trong một số điều kiện nhất định, có thể do địa hình thủy vực, kênh rạch nước chảy chậm thì họ sử dụng lưới giăng, mùa lũ thì loại ngư cụ này cũng được

sử dụng phổ biến trên ruộng; câu cũng được sử dụng rộng rãi để bắt cá, đặc biệt là cắm câu ban đêm; chài là loại ngư cụ thích hợp sử dụng ở thủy vực nông, linh động

Hình 4.4: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) sử dụng ngư cụ của các hộ dân.

62.5% 18.8%

8.3%

Lưới giăng Câu Chài Lờ Giớn

Trang 31

4.2 Thành phần loài cá bên ngoài Trung tâm Nông nghiệp Mùa Xuân

4.2.1 Thành phần loài cá theo bộ

Kết quả khảo sát thông qua phỏng vấn trực tiếp, người tham gia phỏng vấn được yêu cầu xác định các loài cá mà họ biết được trên tất cả các loại hình thủy vực cho thấy có 71 loài cá được xác định, chiếm ưu thế nhất là bộ cá vược (bộ

Perciformes) với 22 loài (chiếm 31%), kế đến là bộ cá chép (bộ Cypriniformes) và bộ

cá da trơn (bộ Siluriformes) có số loài bằng nhau là 18 loài ( mỗi bộ chiếm 25%), bộ

cá mang liền (bộ Synbranchiformes) với 3 loài (chiếm 4%), bộ cá cơm (bộ Clupeiformes), bộ cá thát lát (bộ Osteoglossiformes) và bộ cá lìm kìm (bộ Beloniformes) có số loài bằng nhau là 2 loài (mỗi bộ chiếm 3%), còn lại là các loài cá

Trang 32

4.2.2 Thành phần loài cá theo họ

Kết quả khảo sát trên tất cả các loại hình thủy vực cho thấy có 26 họ đƣợc xác

định thì họ cá chép (Họ Cyprinidae) có số lƣợng loài lớn nhất với 21 loài (chiếm 30%) tổng số loài, kế đến là họ cá tra (Họ Pangasiidae) và họ cá tai tƣợng (Họ Osphronemidae) có số loài bằng nhau là với 6 loài (chiếm 8%), họ cá bống (Họ Eleotridae) và họ cá nheo (Họ Siluridae) có số loài bằng nhau là 4 loài (chiếm 6%),

còn lại là các họ khác với số lƣợng loài từ 1 đến 3 loài (Hình 4.6)

Hình 4.6: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) số loài giữa các họ

Trang 33

4.3 Thành phần loài cá phân bố theo kiểu sử dụng đất

Hình 4.7: Biểu đồ thể hiện số loài cá giữa các kiểu sử dụng đất.

Bảng 4.4: So sánh số lượng loài cá phỏng vấn theo kiểu sử dụng đất

Đặc điểm Số mẫu khảo sát Trung bình số loài cá

Các chữ cái khác nhau thể hiện mức khác nhau có ý nghĩa thống kê p = 0,05

Kết quả thống kê (T – Test) cho thấy sự khác biệt trung bình số lượng loài cá được phỏng vấn giữa kiểu sử dụng đất lúa – vườn, mía – vườn và tràm – vườn khác nhau là có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Sự khác biệt trung bình số lượng loài cá được phỏng vấn giữa kiểu sử dụng đất còn lại không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

Trang 34

4.4 Thành phần loài cá phân bố theo thủy vực

Kết quả khảo sát (Hình 4.8) cho thấy rằng số loài cá khảo sát đều xuất hiện trên

5 loại hình sinh cảnh: sông, kênh gạch, ruộng, ao và vườn Trong đó, sông là loại hình thủy vực có số lượng loài cá phỏng vấn nhiều nhất với 61 loài, kênh rạch với 36 loài,

ruộng với 30 loài, ao hồ với 17 loài và mương vườn với 12 loài

Hình 4.8: Biểu đồ thể hiện số loài cá giữa các thủy vực.

Trang 35

Bảng 4.5: So sánh số lượng loài cá phỏng vấn theo thủy vực

Sinh cảnh Số mẫu khảo sát Trung bình số loài cá

Các chữ cái khác nhau thể hiện mức khác nhau có ý nghĩa thống kê p = 0,05

Kết quả thống kê (T – Test) cho thấy có sự khác biệt trung bình số loài cá được phỏng vấn giữa các thủy vực khác nhau là có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)

Có thể hệ thống các sông trên địa bàn được lưu thông với nhau tạo điều kiện

mở rộng phạm vi cư trú của các loài cá tự nhiên nên thành phần loài cá có trong sinh cảnh này rất đa dạng và chiếm số lượng loài cao nhất (61 loài)

Kênh rạch có phạm vi nhỏ hơn sông, có thể bị hạn chế bởi hệ thống cống, đập

để phục vụ cho nhu cầu của con người và được cung cấp nước chủ yếu bởi hệ thống sông nên thành phần loài cá có trong sinh cảnh này khá đa dạng (36 loài)

Ruộng có phạm vi cư trú khá rộng lớn, có thể bị hạn chế bởi hệ thống đê bao và được cung cấp nước chủ yếu bởi kênh rạch, thành phần loài khá đa dạng (30 loài)

Ao và vườn có phạm vi nhỏ, thường là ao tù, nước trong ao có thể ít được lưu thông với bên ngoài nên thành phần loài cá thường nghèo nàn hơn các sinh cảnh nói trên (ao có 17 loài, vườn có 12 loài)

Trang 36

4.5 Kết quả khảo sát về ngư cụ cấm đánh bắt

Theo kết quả khảo sát cho thấy, 32 trong tổng số 33 người được phỏng vấn có biết về ngư cụ cấm đánh bắt (chiếm tỷ lệ là 97%), còn lại 1 người (chiếm 3%) là không biết về ngư cụ cấm đánh bắt

Các loại ngư cụ cấm được người dân biết đến là: xiệc, thuốc cá, thuốc nổ và lưới dày (Hình 4.9)

Hình 4.9: Thông tin về các loại ngư cụ cấm

Kết quả phỏng vấn ghi nhận được 44 ý kiến về các loại ngư cụ cấm đánh bắt, trong đó xiệc điện là ngư cụ cấm được biết đến nhiều nhất với 28 trường hợp chiếm tỷ

lệ 64%, kế đến là thuốc cá với 12 trường hợp chiếm 36% , thuốc nổ với 3 trường hợp

chiếm 7% và cuối cùng là lưới dày với 1 trường hợp chiếm 2%

Ngày đăng: 25/11/2015, 17:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Bản đồ địa giới hành chính tỉnh Hậu Giang - khảo sát đa dạng cá tự nhiên bên ngoài trung tâm nông nghiệp mùa xuân
Hình 2.1 Bản đồ địa giới hành chính tỉnh Hậu Giang (Trang 13)
Hình 2.2: Hiện trạng sử dụng đất năm 2012 của TTNNMX - khảo sát đa dạng cá tự nhiên bên ngoài trung tâm nông nghiệp mùa xuân
Hình 2.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2012 của TTNNMX (Trang 20)
Hình 4.1: Vị trí các hộ gia đình đƣợc phỏng vấn. - khảo sát đa dạng cá tự nhiên bên ngoài trung tâm nông nghiệp mùa xuân
Hình 4.1 Vị trí các hộ gia đình đƣợc phỏng vấn (Trang 24)
Hình 4.2: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) thu nhập chính của các hộ dân. - khảo sát đa dạng cá tự nhiên bên ngoài trung tâm nông nghiệp mùa xuân
Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) thu nhập chính của các hộ dân (Trang 27)
Hình 4.3: Biểu đồ thể hiện thông tin kiểu sử dụng đất của các hộ dân. - khảo sát đa dạng cá tự nhiên bên ngoài trung tâm nông nghiệp mùa xuân
Hình 4.3 Biểu đồ thể hiện thông tin kiểu sử dụng đất của các hộ dân (Trang 28)
Hình 4.4: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) sử dụng ngƣ cụ của các hộ dân. - khảo sát đa dạng cá tự nhiên bên ngoài trung tâm nông nghiệp mùa xuân
Hình 4.4 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) sử dụng ngƣ cụ của các hộ dân (Trang 29)
Bảng 4.3: Các loại thủy vực. - khảo sát đa dạng cá tự nhiên bên ngoài trung tâm nông nghiệp mùa xuân
Bảng 4.3 Các loại thủy vực (Trang 30)
Hình 4.5: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) số loài cá giữa các bộ. - khảo sát đa dạng cá tự nhiên bên ngoài trung tâm nông nghiệp mùa xuân
Hình 4.5 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) số loài cá giữa các bộ (Trang 31)
Hình 4.6: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) số loài giữa các họ. - khảo sát đa dạng cá tự nhiên bên ngoài trung tâm nông nghiệp mùa xuân
Hình 4.6 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) số loài giữa các họ (Trang 32)
Hình 4.7: Biểu đồ thể hiện số loài cá giữa các kiểu sử dụng đất. - khảo sát đa dạng cá tự nhiên bên ngoài trung tâm nông nghiệp mùa xuân
Hình 4.7 Biểu đồ thể hiện số loài cá giữa các kiểu sử dụng đất (Trang 33)
Bảng 4.4: So sánh số lƣợng loài cá phỏng vấn theo kiểu sử dụng đất. - khảo sát đa dạng cá tự nhiên bên ngoài trung tâm nông nghiệp mùa xuân
Bảng 4.4 So sánh số lƣợng loài cá phỏng vấn theo kiểu sử dụng đất (Trang 33)
Hình 4.8: Biểu đồ thể hiện số loài cá giữa các thủy vực. - khảo sát đa dạng cá tự nhiên bên ngoài trung tâm nông nghiệp mùa xuân
Hình 4.8 Biểu đồ thể hiện số loài cá giữa các thủy vực (Trang 34)
Bảng 4.5: So sánh số lƣợng loài cá phỏng vấn theo thủy vực. - khảo sát đa dạng cá tự nhiên bên ngoài trung tâm nông nghiệp mùa xuân
Bảng 4.5 So sánh số lƣợng loài cá phỏng vấn theo thủy vực (Trang 35)
Hình 4.9: Thông tin về các loại ngƣ cụ cấm - khảo sát đa dạng cá tự nhiên bên ngoài trung tâm nông nghiệp mùa xuân
Hình 4.9 Thông tin về các loại ngƣ cụ cấm (Trang 36)
Hình 4.10: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) nguyên nhân suy giảm nguồn lợi thủy sản. - khảo sát đa dạng cá tự nhiên bên ngoài trung tâm nông nghiệp mùa xuân
Hình 4.10 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) nguyên nhân suy giảm nguồn lợi thủy sản (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w