1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của mỡ cá tra bổ sung trong khẩu phần lên tỷ lệ đẻ và chất lượng trứng gà đẻ hisex brown giai đoạn 33 – 40 tuần tuổi

53 470 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 6,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hình 2.3: Gà Hisex Brown Nguồn:www.actualidadavipecuaria.com 2.3 Nhu cầu dinh dưỡng gà Hisex Brown 2.3.1 Nhu cầu dinh dưỡng của gà hậu bị Hisex Brown Mức tiêu tốn thức ăn và trọng lư

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

HUỲNH THANH NGUYÊN

ẢNH HƯỞNG CỦA MỠ CÁ TRA BỔ SUNG TRONG KHẨU PHẦN LÊN TỶ LỆ ĐẺ VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG GÀ ĐẺ HISEX BROWN GIAI ĐOẠN 33 – 40 TUẦN TUỔI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CHĂN NUÔI – THÚ Y

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

HUỲNH THANH NGUYÊN

ẢNH HƯỞNG CỦA MỠ CÁ TRA BỔ SUNG TRONG KHẨU PHẦN LÊN TỶ LỆ ĐẺ VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG GÀ ĐẺ HISEX BROWN GIAI ĐOẠN 33 – 40 TUẦN TUỔI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CHĂN NUÔI – THÚ Y

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

TS NGUYỄN THỊ THỦY

2014

Trang 3

PHẦN KÝ DUYỆT

Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014 Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN DUYỆT BỘ MÔN

TS NGUYỄN THỊ THỦY

Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014 DUYỆT CỦA KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn có thật, trung thực và chưa từng

được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây

Trang 5

LỜI CẢM TẠ

Lời đầu tiên, con xin gởi đến cha mẹ lòng kính yêu và lòng biết ơn sâu sắc của con Cha mẹ đã nuôi dạy con khôn lớn trưởng thành, che chở con vượt qua mọi khó khăn, quan tâm động viên con, giúp con rất nhiều trong quá trình làm luận văn và luôn ủng hộ để con hoàn thành tốt việc học tập

Tôi xin chân thành biết ơn quí Thầy Cô Bộ môn Chăn Nuôi, Khoa Nông Nghiệp & SHƯD Trường Đại Học Cần Thơ đã nhiệt tình giúp đỡ giảng dạy và hướng dẫn trong quá trình học tập tại trường

Xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến cô Nguyễn Thị Thủy, cố vấn học tập lớp

CN – TY K37A luôn quan tâm, chia sẽ, lo lắng và giải đáp những thắc mắc của tôi trong suốt quá trình học tập ở trường Và cũng là cán bộ hướng dẫn đã tận tình hướng dẫn và dạy bảo trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp

Cám ơn anh Nguyễn Hoài An chủ trại, anh Trần Thanh Phong quản lý và tập thể, anh Huỳnh Minh Quân, bạn Lý Minh Thiện và Nguyễn Thị Lan Thanh đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình làm đề tài

Cám ơn BS.TY Nguyễn Thị Kim Yến của Công ty TNHH EMIVEST VIỆT NAM đã giúp đỡ nhiệt tình về lĩnh vực chuyên môn trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp

Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn đến các bạn lớp Chăn Nuôi - Thú Y K37 đã giúp

đỡ tôi rất nhiều trong 3,5 năm qua

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM TẠ ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH vi

TÓM LƯỢC vii

CHƯƠNG 1 1

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 2 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN 2

2.1 Đặc điểm cấu tạo và sinh sản gia cầm mái 2

2.1.1 Đặc điểm sinh lý gia cầm mái 2

2.1.2 Đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh sản 2

2.1.3 Cấu tạo của trứng gà 4

2.2 Sơ lược về giống gà chuyên trứng Hisex Brown 5

2.3 Nhu cầu dinh dưỡng gà Hisex Brown 6

2.3.1 Nhu cầu dinh dưỡng của gà hậu bị Hisex Brown 6

2.3.2 Nhu cầu dinh dưỡng của gà đẻ Hisex Brown trong giai đoạn sản xuất trứng 7

2.3 Một số dưỡng chất cơ bản đối với gà đẻ 7

2.3.1 Nhu cầu năng lượng 8

2.3.2 Nhu cầu protein 10

2.3.3 Nhu cầu vitamin và muối khoáng 11

2.3.4 Nhu cầu béo 12

2.5 Các thực liệu bổ sung chất béo trong thức ăn gia cầm 13

2.6 Một số nghiên cứu bổ sung mỡ cá Tra đã từng thực hiện 16

CHƯƠNG 3 18

PHƯƠNG TIỆN – PHƯƠNG PHÁP 18

3.1 Phương tiện 18

3.1.1 Thời gian và địa điểm thực hiện thí nghiệm 18

3.1.2 Đối tượng thí nghiệm 18

3.1.3 Chuồng trại 18

3.1.4 Dụng cụ thí nghiệm 20

3.1.5 Thức ăn thí nghiệm 20

3.2 Phương pháp 21

3.2.1 Cách bố trí thí nghiệm 21

3.2.2 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng 21

3.2.3 Quy trình phòng bệnh cho gà ở trại 22

3.2.4 Phương pháp thu mẫu 22

3.2.5 Các chỉ tiêu ghi nhận 23

3.2.6 Hiệu quả kinh tế 24

3.2.7 Xử lý số liệu 24

CHƯƠNG 4 25

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25

4.1 Nhận xét chung về đàn gà thí nghiệm 25

4.2 Ảnh hưởng của các khẩu phần thí nghiệm lên tỷ lệ đẻ 25

4.3 Ảnh hưởng của các khẩu phần thí nghiệm lên tiêu tốn thức ăn 26

4.4 Ảnh hưởng của khẩu phần thí nghiệm lên khối lượng trứng 28

4.5 Ảnh hưởng của khẩu phần thí nghiệm lên chất lượng trứng 29

Trang 7

4.6 Tỷ lệ trứng loại thải và tăng trọng của gà thí nghiệm 30

4.7 Hiệu quả kinh tế của các khẩu phần thí nghiệm 32

CHƯƠNG 5 33

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 33

5.1 Kết luận 33

5.2 Đề nghị 33

TÀI LIỆU THAM KHẢO 34

Phuc lục……… 36

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Chức năng của ống dẫn trứng ở gà mái 4

Bảng 2.2: Nhu cầu dinh dưỡng gà đẻ Hisex Brown 6

Bảng 2.3: Nhu cầu dinh dưỡng của gà đẻ Hisex Brown 7

Bảng 2.4: Thành phần các acid béo của dầu nành 14

Bảng 2.5: Thành phần các acid béo của dầu phộng 14

Bảng 2.6: Thành phần các acid béo của mỡ cá Tra 15

Bảng 2.7: Ảnh hưởng của bổ sung mỡ cá Tra và vitamin E lên năng suất, chất lượng trứng gà Hisex Brown 16

Bảng 2.8: Ảnh hưởng của bổ sung bột tỏi, mỡ cá Tra hoặc dầu màng gạo vào khẩu phần lên năng suất, chất lượng trứng của gà Hisex Brown giai đoạn 20-38 tuần tuần 17

Bảng 2.9: Ảnh hưởng của bổ sung dầu mỡ lên gà Isa Brown giai đoạn 32-36 tuần tuổi 18

Bảng 3.1: Thành phần hóa học của thức ăn 21

Bảng 3.2: Bố trí thí nghiệm 21

Bảng 3.2: Quy trình sử dụng thuốc và vaccine cho gà ở trại 22

Bảng 4.1: Ảnh hưởng của khẩu phần lên năng suất trứng 25

Bảng 4.2 Tỷ lệ đẻ của các nghiệm thức qua các tuần 25

Bảng 4.3: Tiêu tốn thức ăn g/con/ngày của các nghiệm thức 27

Bảng 4.4: Tiêu tốn thức ăn/trứng của các nghiệm thức qua các tuần 28

Bảng 4.5: Khối lượng trứng của các nghiệm thức qua các tuần 28

Bảng 4.6: Ảnh hưởng của khẩu phần thí nghiệm lên chất lượng trứng 29

Bảng 4.7: Tỷ lệ trứng loại và tăng trọng của gà thí nghiệm 30

Bảng 4.8: Hiệu quả kinh tế 32

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Hệ sinh dục của gà mái 3

Hình 2.2: Cấu tạo của trứng gà 5

Hình 2.3: Gà mái Hisex Brown 6

Hình 3.1: Gà mái đẻ Hisex Brown nuôi thí nghiệm 19

Hình 3.2: Hệ thống làm mát 20

Hình 3.3: Hệ thống điều khiển 20

Hình 3.4: Hệ thống quạt hút 20

Hình 3.5: Hệ thống máng ăn và máng uống 20

Hình 3.6: Bồn nước lớn 20

Hình 4.1: Biểu đồ so sánh tỷ lệ đẻ của nghiệm thức giữa các tuần 26

Hình 4.2: Biểu đồ so sánh TTTĂ gam/con/ngày của các nghiệm thức 27

Hình 4.3: Biểu đồ so sánh lượng tiêu tốn thức ăn gam/trứng 28

Hình 4.4: Biểu đồ so sánh trọng lượng trứng trung bình qua các tuần 38

Hình 4.5: Biểu đồ so sánh trứng loại của các nghiệm thức 31

Trang 10

TÓM LƯỢC

Thí nghiệm “Ảnh hưởng của mỡ cá Tra trong khẩu phần lên tỷ lệ đẻ

và chất lượng trứng gà Hisex Brown giai đoạn 33 – 40 tuần tuổi” được bố

trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 nghiệm thức và 10 lần lặp lại Nghiệm thức đối chứng là khẩu phần thức ăn cơ sở của trại, các nghiệm thức

bổ sung mỡ cá Tra với mức 2% (MC2) và mức 4% (MC4) vào khẩu phần thức

ăn cơ sở Thí nghiệm kéo dài 8 tuần, kết quả thí nghiệm như sau:

Về tỷ lệ đẻ có khuynh hướng tăng nhẹ khi bổ sung mỡ cá, tuy sự khác biệt là không có ý nghĩa thống kê (P=0.72), cụ thể tỷ lệ đẻ lần lượt là MC0 (89,73%), MC2 (90,15%) và MC4 (92,43%)

Tiêu tốn thức ăn g/gà/ngày thì giảm khi bổ sung mỡ cá Tra trong khẩu phần, sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê (P=0,01) Nghiệm thức MC0 (112,49 g/con/ngày) là cao nhất, kế đến MC2 (108,08 g/con/ngày) và thấp nhất MC4 (107,04 g/con/ngày)

Các chỉ tiêu trọng lượng trứng, chỉ số hình dáng, chỉ số lòng trắng, chỉ số lòng đỏ, màu lòng đỏ, độ dày vỏ đều không có sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê (P>0,05)

Về hiệu quả kinh tế: Lợi nhuận thu được từ gà ở nghiệm thức MC0( 615.914 đồng) là thấp nhất, kế đến là MC2 (684.484 đồng) và cao nhất là nghiệm thức MC4 (722.586 đồng) Nhìn chung khi bổ sung mỡ cá Tra ở mức

độ 2% và 4% cho năng suất có khuynh hướng tốt hơn đối chứng

Trang 11

CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong tình hình hiện nay, đất nước ngày càng phát triển và đang hướng tới một nền nông nghiệp bền vững, trong đó ngành chăn nuôi giữ vai trò quan trọng trong nền nông nghiệp nước ta Chăn nuôi gia cầm chiếm một vị trí quan trọng nhất định vì tạo ra một sản lượng lớn về sản phẩm chủ yếu là trứng và thịt Trứng được xem như là một thực phẩm hoàn hảo vì thành phần dinh dưỡng được cân bằng tuyệt vời với các thành phần protein, axit béo, carbohydrate, khoáng và vitamin (Bùi Xuân Mến, 2008) Từ đó cho thấy được

sự quan trọng trong việc chăn nuôi gà công nghiệp lấy trứng thương phẩm

Tận dụng tối đa các phụ phẩm trong công nghiệp chế biến cá ở ĐBSCL (chủ yếu là cá Tra và Basa) như bột cá, mỡ cá,…để chế biến thức ăn gia súc gia cầm Trong đó mỡ cá Tra là phụ phẩm rất là quan trọng vì trong thành phần mỡ cá Tra chứa các acid béo chưa bão hòa cao rất cần thiết cho cơ thể gà

đẻ đặc biệt là acid oleic, acid linoleic, acid arachidonic và đặc biệt là acid oleic Đồng thời các acid béo này là dung môi hòa tan các vitamin tan trong dầu như A K D E giúp cho bộ máy tiêu hóa của gà hấp thu tốt các dưỡng chất

Và các acid béo chưa bão hòa này có vai trò là làm giảm nguy cơ bị bệnh tim mạch nhất là bệnh xơ vữa động mạch và nhồi máu cơ tim (Hoàng Đức Như, 1997) đã được chứng minh qua nhiều công trình nghiên cứu khoa học

Gà đẻ cần phải được bổ sung các chất béo thiết yếu như acid linoleic, acid oleic và acid arachidonic Các acid béo này sẽ được cơ thể gà hấp thu và chuyển hóa trong gan vào trong sản phẩm trứng (Valencia et al., 1980) Tăng các acid béo thiết yếu trong trứng nhằm tạo ra một loại thực phẩm sạch và bổ dưỡng cho sức khỏe người tiêu dùng Nâng cao giá trị sản phẩm đem lại lợi ích kinh tế cho nhà chăn nuôi

Từ những lợi ích trên tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của việc bổ sung mỡ cá Tra trong khẩu phần lên tỷ lệ đẻ và chất lượng trứng gà Hisex Brown giai đoạn 33 – 40 tuần tuổi” với mục tiêu: Đánh giá

ảnh hưởng của việc bổ sung các mức độ mỡ cá Tra lên năng suất, chất lượng trứng và hiệu quả mang lại trên gà đẻ giống Hisex Brown

Trang 12

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1 Đặc điểm cấu tạo và sinh sản gia cầm mái

2.1.1 Đặc điểm sinh lý gia cầm mái

Gà chịu nóng kém, có thân nhiệt cao dao động từ 41 – 420C lớn hơn thân nhiệt của động vật hữu nhũ Gà không có răng nhưng có dạ dày cơ (mề) rất khỏe để nghiền bóp các loại thức ăn thông thường, ngoài ra hệ thống men tiêu hóa lại phức tạp nên vận tốc tiêu hóa của gà rất lớn, điều này thể hiện gà ăn rất khỏe Từ những đặc điểm trên, gà có một tiềm năng sinh vật rất lớn (đẻ nhiều, nhanh lớn,…) (Lê Hồng Mận và Hoàng Đình Cương, 1999)

Theo Bùi Xuân Mến (2008), quá trình tiêu hóa ở dạ dày của gà được trong hai cơ quan phân biệt và tách riêng, dạ dày tuyến và mề

Dạ dày tuyến là cơ quan nhỏ, thức ăn tiêu hóa thoát qua vùng này nhanh chóng Chức năng chủ yếu của dạ dày tuyến là tiết dịch dạ dày Dịch tiết ở dạ dày tuyến giống như dịch tiết dạ dày của loài thú độc vị, chứa cả hai enzyme pepsin và acid hydrochloric Rất ít có sự đảo trộn thức ăn ở trong dạ dày tuyến

Chức năng của mề là hoạt động cơ học trộn và nghiền thức ăn Vì gà không có răng và nuốt nguyên thức ăn nên mề được xem là một cơ quan chủ yếu nghiền thức ăn Đôi khi mề còn được gọi là “răng mề” hoặc “răng gà mái” Trong mề, thức ăn được trộn với dịch tiêu hóa tiết từ dạ dày tuyến trong quá trình nghiền Trong mề gà có các hạt sỏi đá nhỏ, được gia cầm ăn vào cùng với thức ăn để làm tăng khả năng tiêu hóa những thức ăn nguyên hạt hoặc hạt sơ chế và những thức ăn có vở cứng khác Hạt sỏi có vai trò kích thích sự vận động trong mề cũng như cung cấp thêm diện tích bề mặt trong khi nghiền thức ăn Khi cho gia cầm ăn thức ăn hỗn hợp ở dạng bột thì vai trò của hạt sỏi trong mề là không đáng kể

Trong thực tế thì các loại cám gà công nghiệp hiện nay thì vẫn có bổ sung thêm các hạt sỏi đá nhỏ vào cùng với các thực liệu nhằm đẻ tạo nên một loại thức ăn hỗn hợp tốt nhất dành cho gà

2.1.2 Đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh sản

Gà mái đang đẻ trứng chỉ có một buồng trứng trái hoạt động, nằm trong xoang bụng, gần dưới xương sống lưng Lúc mới nở, buồng trứng trái của gà mái con có khoảng 3600 – 4000 tế bào trứng rất nhỏ và sau đó lòng đỏ sẽ phát triển và có độ lớn đầy đủ khi gà mái ở tuổi trưởng thành (Bùi Xuân Mến, 2008)

Mỗi lòng đỏ được bao bọc bởi một túi có màng rất mỏng gọi là nang (follicle) gắn vào cuốn buồng trứng Túi này chứa hệ thống các mạch máu dày đặc để cung cấp liên tục các chất dinh dưỡng cho lòng đỏ Khi một gà hậu bị

Trang 13

đạt đến tuổi trưởng thành, một số trứng phát triển thành lòng đỏ Khi chín trứng được giải phóng khỏi túi lòng đỏ theo một đường trên thành túi gọi là vết rách (stigma) Ngay sau khi phóng thích, trứng rớt và chìm xuống phễu (funnel) của ống dẫn trứng (Bùi Xuân Mến, 2008)

Ống dẫn trứng là một khúc ngoằn ngoèo dài khoảng 50 – 75 cm, chiếm phần lớn bên trái xoang bụng (Hình 2.1) Nó chia ra làm 5 đoạn xác định khá

rõ ràng, mỗi đoạn đóng một vai trò chuyên biệt để hình thành hoàn chỉnh một quả trứng Một gà mái bình thường cần trên 24 giờ để hình thành một quả trứng Ở gà trong vòng 10 – 30 phút sau khi đẻ trứng, một trứng chín khác được tiếp tục phóng thích từ buồng trứng để chuẩn bị cho ngày đẻ kế tiếp Chức năng trong mỗi đoạn của ống dẫn trứng được chỉ rõ trong Bảng 2.1 (Bùi Xuân Mến, 2008)

Hình 2.1: Hệ sinh dục của gà mái

(Nguồn: :www.extension.org)

Trang 14

Bảng 2.1: Chức năng của ống dẫn trứng ở gà mái

Đoạn Thời gian trứng lưu lại Chức năng

Phễu (funnel hay

Hình thành màng vỏ

(isthmus) 1 giờ 15 phút

Màng vỏ trong và ngoài, thêm nước và muối khoáng Bảo vệ chất liệu trong trứng, cách ly bẩn từ bên ngoài

Tử cung (uterus) 21 giờ

Thêm nước và khoáng làm căng phồng trứng, tăng lòng trắng loãng ngoài Tiết canxi và sắc tố

Âm đạo (vagina) Trứng rụng đến khi đẻ

trên 24 giờ

Trứng chuyển qua vùng này ngay trước khi đẻ, chức năng chưa được biết rõ ràng

(Nguồn: Bùi Xuân Mến, 2008)

2.1.3 Cấu tạo của trứng gà

Vỏ trứng đóng vai trò rất là quan trọng là lớp bảo vệ bên ngoài của trứng, thành phần cấu tạo chủ yếu là lớp carbonate canxi (CaCO3), có từ 60000 –

80000 lỗ rất nhỏ cho phép trao đổi của các thành phần bay hơi Buồng khí định vị phía phần đầu lớn của trứng, buồng khí hình thành khi trứng được đẻ

ra môi trường có nhiệt độ thấp hơn, làm co lại và đẩy màng trong và màng ngoài trứng về mỗi bên Dây chằng giống những sợi dây nhỏ giữ cho vị trí lòng đỏ ở trung tâm của trứng Lòng đỏ trong trứng được bao quanh bằng màng noãn hoàng Dĩa phôi thông thường nằm trên bề mặt của lòng đỏ Sự hình thành phôi bắt đầu chỉ khi nào trứng được thụ tinh Cấu tạo của trứng được thể hiện trong hình 2.2 (Bùi Xuân Mến, 2008)

Trang 15

Hình 2.2: Cấu tạo của trứng gà

(Nguồn: www.cooking4kid.com )

2.2 Sơ lược về giống gà chuyên trứng Hisex Brown

Hisex Brown là giống gà chuyên trứng có nguồn gốc từ Hà Lan, được nhập vào Việt Nam từ năm 1997 Gà có màu lông nâu và trắng, có thể phân biệt trống mái qua màu sắc lông lúc 1 ngày tuổi Sản lượng trứng đạt

290 – 300 quả trong 76 tuần tuổi, có khối lượng trứng 50 – 60 g Trứng màu nâu Tiêu tốn thức ăn cho 10 trứng là 1,5 – 1,7 kg (Bùi Đức Lũng, 1999)

Gà được công ty Emivest nhập giống bố mẹ về nuôi và nhân giống Gà Hisex Brown bố mẹ được công ty nuôi ở Việt Nam mục đích là sản suất gà Hisex Brown hậu bị để đẻ trứng thương phẩm Gà giống được nuôi ở trang trại

gà giống tại xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Sau đó gà con được giao đến các trại nuôi gia công hậu bị của công ty hoặc bán ra thị trường

Gà con được nuôi đến 18 tuần tuổi giai đoạn sau thì chuyển lên các trại gia công nuôi gà đẻ trứng thương phẩm (Công ty TNHH Emivest Việt Nam, 2010)

Buồng khí Lòng trắng trứng Lòng trắng đặc Lòng đỏ

Đĩa phôi

Dây chằng

Vỏ trứng Màng trong và màng ngoài

Trang 16

Hình 2.3: Gà Hisex Brown

(Nguồn:www.actualidadavipecuaria.com )

2.3 Nhu cầu dinh dưỡng gà Hisex Brown

2.3.1 Nhu cầu dinh dưỡng của gà hậu bị Hisex Brown

Mức tiêu tốn thức ăn và trọng lượng cơ thể của gà đẻ hậu bi Hisex Brown được thể hiện qua Bảng 2.2

Bảng 2.2: Nhu cầu dinh dưỡng gà đẻ Hisex Brown

Giai đoạn (tuần tuổi) Thành phần

(Nguồn: Công ty TNHH Emivest Việt Nam, 2010)

Gà Hisex Brown có thể nuôi theo 2 phương thức: nuôi lồng và nuôi trên nền có lớp đệm:

- Nuôi lồng thì có lợi cho việc phòng trừ dịch bệnh và tăng được mật

độ nuôi cũng như tốc độ tăng trưởng, đỡ tốn nhân công, thao tác lượm trứng

Trang 17

dễ dàng và hạn chế bị bể nhưng khuyết là ngực gà có thể bị chai và chi phí đầu

tư xây dựng cao

- Nuôi trên nền thì chi phí đầu tư xây dựng thấp nhưng mật độ nuôi lại thấp hơn chuồng lồng, dễ dẫn đến việc gà dẫm lên nhau khi hoảng sợ và dẫn đến chết gà, dịch bệnh cũng dễ xảy ra hơn đặc biệt là bệnh cầu trùng (Nguyễn Văn Quyên, 2000)

2.3.2 Nhu cầu dinh dưỡng của gà đẻ Hisex Brown trong giai đoạn sản xuất trứng

Nhu cầu dinh dưỡng của gà đẻ Hisex Brown theo chuẩn của Công Ty TNHH Emivest Việt Nam đưa ra được thể hiện qua Bảng 2.3

Bảng 2.3: Nhu cầu dinh dưỡng gà đẻ Hisex Brown

Giai đoạn (tuần tuổi) Thành phần

(Nguồn: Công ty TNHH Emivest Việt Nam, 2010)

2.3 Một số dưỡng chất cơ bản đối với gà đẻ

Theo Võ Bá Thọ (1995), gà đẻ có nhu cầu dinh dưỡng rất quan trọng, đặc biệt là trong giai đoạn sản xuất Gà đẻ được nuôi theo phương pháp công nghiệp, do đó về mặt dinh dưỡng phụ thuộc hoàn toàn vào tác động người

Trang 18

từ lúc gà sắp đẻ đến lúc gà đạt tỷ lệ cao nhất và khối lượng trứng đạt mức cực đại, thời điểm này thường vào khoảng 35 – 48 tuần tuổi tùy giống gà Trong thời kỳ đầu giai đoạn đẻ gà sẽ được cho ăn tự do để đẻ rộ, nhanh đạt tỷ lệ đẻ

và khối lượng trứng Thời kỳ sau được tính từ lúc gà đẻ đạt đỉnh cao đến kết thúc Hầu hết, gà đẻ các giống trong thời kỳ này đều ăn theo khẩu phần định mức Khi đạt được đỉnh cao của tỷ lệ đẻ, gà tiếp tục đẻ tốt và kéo dài một vài tuần Lúc này định mức khẩu phần gần như tối đa

Về sau, gà có xu hướng giảm tỉ lệ đẻ dần theo quy luật, cần kịp thời điều chỉnh khẩu phần một cách tương xứng cho đến khi kết thúc thời kỳ khai thác Không giảm lượng thức ăn quá nhanh và đột ngột vì có thể làm cho gà giảm tỷ

lệ đẻ dưới mức chuẩn và khối lượng trứng bị nhỏ lại Ngược lại giảm mức thức ăn không kịp thời gà sẽ mập nhanh, gây lãng phí, giảm đẻ nhanh, phải kết thúc khai thác trước hạn định Hai trường hợp trên đều kém hiệu quả kinh tế

2.3.1 Nhu cầu năng lượng

Nhu cầu duy trì

Theo Bùi Xuân Mến (2008), gia cầm nuôi cho mục đích sản xuất, trước hết phải nuôi dưỡng để duy trì sự sống, mặc dù chúng có sản xuất hay không Một lượng đáng kể thức ăn tiêu tốn cho gia cầm là sử dụng cho duy trì sự sống của cơ thể gia cầm Nhu cầu năng lượng để duy trì của gia cầm bao gồm sự trao đổi cơ bản và hoạt động bình thường Trao đổi cơ bản là sự tiêu phí năng lượng tối thiểu hoặc sự sinh nhiệt trong những điều kiện khi ảnh hưởng của thức ăn, nhiệt độ môi trường và hoạt động chủ động bị loại ra Sự sinh nhiệt cơ bản thay đổi theo độ lớn của vật nuôi, nhìn chung thì độ lớn vật nuôi tăng thì

sự sinh nhiệt cơ bản trên một đơn vị thể trọng giảm Sự sinh nhiệt cơ bản của

gà con mới nở vào khoảng 5,5 calo/g thể trọng trong một giờ, nhưng trái lại đối với gà mái trưởng thành thì chỉ cần phân nửa số năng lượng này

Năng lượng yêu cầu cho hoạt động có thể thay đổi đáng kể, thường được ước tính bằng khoảng 50% của sự trao đổi cơ bản Điều này có thể bị ảnh hưởng bởi những điều kiện chuồng trại cũng như giống gia cầm được nuôi Sử dụng chuồng lồng làm giới hạn các hoạt động sẽ dẫn đến sự tiêu phí năng lượng thấp hơn, cỡ khoảng 30% của trao đổi cơ bản so với nuôi nền

Mặc dù thực tế những động vật lớn hơn yêu cầu năng lượng duy trì thấp hơn trên một đơn vị thể trọng, nhưng tổng năng lượng cần cho những động vật lớn hơn lại cao hơn nhiều so với vật nhỏ hơn Từ quan điểm thực tiễn cho thấy, một gà mái sản xuất trứng có độ lớn cơ thể nhỏ nhất, đẻ trứng lớn và sức sống cao sẽ có khả năng chuyển đổi thức ăn thành sản phẩm đạt hiệu quả nhất,

vì tiêu phí năng lượng duy trì thấp

Hầu hết gà đang đẻ trứng thương phẩm và gà thịt đang sinh trưởng đều được cho ăn tự do theo mục đích sản xuất Lượng thức ăn gia cầm tiêu thụ có

Trang 19

liên quan trước hết đến nhu cầu năng lượng của gia cầm trong thời kỳ này Khi các chất dinh dưỡng khác có đủ lượng trong thức ăn thì khả năng tiêu thụ thức

ăn được xác định trước tiên dựa trên mức năng lượng của khẩu phần Mức tiêu thụ năng lượng của gia cầm hàng ngày có thể đo bằng kilocalo năng lượng trao đổi thì chắc chắn sẽ ổn định hơn là tổng lượng thức ăn tiêu thụ, nếu trong khẩu phần có chứa các mức năng lượng khác nhau

Nhu cầu sản xuất trứng

Theo Bùi Xuân Mến (2008), năng lượng thuần cần cho một mái đang có

tỷ lệ đẻ cao gồm năng lượng tiêu phí cho duy trì và năng lượng dự trữ trong trứng Nếu tốc độ trao đổi cơ bản được ước lượng khoảng 68 kcal/kg thể trọng trao đổi (lũy thừa 0,75 của thể trọng sống), hoạt động duy trì coi như bằng 50% của trao đổi cơ bản và một trứng lớn chứa 90 kcal Một gà mái nặng 1,8

kg, trong môi trường thích hợp đẻ một trứng một ngày sẽ cần khoảng 250 kcal năng lượng trong một ngày Hiệu quả sử dụng năng lượng trao đổi cho mục đích sản xuất này là 75%, do đó năng lượng trao đổi cần ăn vào khoảng 330 kcal ME Như vậy, lượng thức ăn cần thiết để đáp ứng một ngày cho gà đẻ là

110 g, chứa 2974 kcal ME/kg Những giả định này sẽ tạo cơ sở cho ước lượng tiêu thụ thức ăn của gia cầm

Gà mái có khả năng thay đổi mức tiêu thụ thức ăn theo mức năng lượng trong khẩu phần Tuy nhiên mức năng lượng tối thiểu trong khẩu phần của gà đang đẻ không thể dưới mức 2640 kcal ME/kg Khi gà mái phải chịu đựng trong môi trường lạnh thì mức năng lượng không thể thấp hơn 2750 kcal ME/kg Thường thì mức năng lượng thực trong khẩu phần sẽ tùy thuộc nhiều vào mức độ của giá thức ăn trong thực tế sản xuất

Theo Dương Thanh Liêm (2003), đặc trưng của gia cầm là không có vùng nhiệt độ trung hòa rõ rệt Khi nhiệt độ môi trường tăng lên hay giảm xuống thấp thì sẽ ăn thức ăn ít hay nhiều lên Nếu dựa vào trao đổi chất cơ bản (hay nhiệt lượng tỏa ra do phân giải lúc đói) với công thức tính của Brody thì nhu cầu cho duy trì phải cao hơn 20% nhu cầu trao đổi chất cơ bản

Trong thực tế khi được cho ăn tự do, gà tự cân đối năng lượng ME ăn vào với nhu cầu của chúng Thường hàm lượng ME trong thức ăn gà đẻ từ

10 – 12 MJ/kg (11,5 – 13,5 MJ/kg chất khô) Nếu tăng hay giảm 1% hàm lượng năng lượng trong thức ăn (lớn hơn 12 MJ hay dưới 10 MJ) gây nên sự

Trang 20

2.3.2 Nhu cầu protein

Nhu cầu duy trì

Theo Bùi Xuân Mến (2008), protein cần thiết cho duy trì tương đối thấp,

vì thế yêu cầu protein trước hết tùy thuộc vào lượng cần thiết cho mục đích sản xuất Để đáp ứng nhu cầu protein thì các acid amin thiết yếu phải được cung cấp đủ lượng và tổng hợp nitơ trong khẩu phần phải đủ cao và ở dạng thích hợp để cho phép tổng hợp các acid amin không thiết yếu

Một khi lượng protein tối thiểu được yêu cầu cung cấp cho sinh trưởng hoặc sản xuất trứng tối đa thì protein cần cộng thêm do bị oxy hóa thành năng lượng cũng phải tính đến Protein cũng không được dự trữ trong cơ thể theo số lượng có thể đánh giá được Thực tế sản xuất, protein luôn là thành phần thức

ăn đắt nhất của một khẩu phần, sẽ không kinh tế nếu nuôi động vật quá mức protein Vì lý do này mà mức protein trong khẩu phần cho vật nuôi luôn phải giữ gần với mức nhu cầu tối thiểu hơn là các chất dinh dưỡng khác

Nhu cầu sinh trưởng

Theo Bùi Xuân Mến (2008), nhu cầu protein và acid amin của gia cầm non đang sinh trưởng là đặc biệt quan trọng Phần lớn vật chất khô tăng lên với sự sinh trưởng là protein Sự thiếu hụt của protein tổng số hoặc là một acid amin thiết yếu nào đó sẽ đều làm giảm tốc độ tăng trưởng Sự tổng hợp protein yêu cầu tất cả các acid amin cần thiết làm thành protein cần phải có mặt trong

cơ thể gần như cùng một lúc Khi thiếu một acid amin thiết yếu thì không có

sự tổng hợp protein Những protein không hoàn chỉnh sẽ không bao giờ được tạo thành Các acid amin không được sử dụng cho tổng hợp protein sẽ chuyển đổi thành carbonhydrate hoặc mỡ, đồng thời nó có thể dễ dàng bị oxy hóa cho nhu cầu năng lượng trực tiếp hay được dự trữ dưới dạng mô mỡ Thân thịt của những vật nuôi cho ăn khẩu phần thiếu protein hoặc các acid amin thường chứa nhiều mỡ hơn những vật được ăn khẩu phần đủ và cân đối protein

Điều cân nhắc quan trọng nhất trong việc biểu diễn nhu cầu các acid amin là lượng thức ăn tiêu thụ Một lượng ổn định protein tổng số và acid amin thiết yếu trong thức ăn được yêu cầu để giúp tốc độ tăng trưởng mô cơ thể có thành phần không thay đổi Tuy nhiên, khi nhu cầu protein được biểu thị theo phần trăm trong khẩu phần thì mức protein ăn vào thực sự sẽ tùy thuộc vào sự tiêu hóa thức ăn Mức năng lượng trong khẩu phần có thể là sự xem xét quan trọng nhất trong việc đánh giá lượng thức ăn ăn vào Vì lý do này mà các nhu cầu được biểu diễn như phần trăm của khẩu phần luôn có sự liên quan tới mức năng lượng của khẩu phần đó

Trang 21

Nhu cầu đẻ trứng

Theo Bùi Xuân Mến (2008), một gà mái phải sản sinh ra khoảng 6,7 g protein cho mỗi quả trứng đẻ được Lượng protein này tương đương với lượng protein tích lũy hàng ngày của một gà thịt đang sinh trưởng có mức tăng trọng

37 g/ngày Mặc dù, gà mái không đẻ thường xuyên hằng ngày nhưng protein cho duy trì cũng phải được xem xét và nhu cầu protein hằng ngày cho những mái đang đẻ cao cũng đầy đủ như cho gà thịt đang sinh trưởng nhanh

Trong thời kỳ đầu của sản xuất trứng, gà mái đang còn tăng trọng nên chúng cần tích lũy protein cho cơ thể và cho sản xuất trứng Sau đó nhu cầu protein của tăng trọng giảm xuống nhưng độ lớn của trứng lại tăng lên Để có thể tạo ra được những trứng lớn và đạt tỷ lệ đẻ tối đa, một gà mái một ngày cần phải tiêu thụ 17 g protein (cân đối các acid amin)

Trong bất cứ nghiên cứu nào về nhu cầu protein của gà mái đang đẻ phải đương nhiên thừa nhận một sự cân đối hợp lý các acid amin trong protein của khẩu phần Thiếu hụt một acid amin thiết yếu sẽ làm sụt giảm khả năng sản xuất trứng, giảm độ lớn của trứng và giảm mức protein tổng số Việc xác định nhu cầu các acid amin riêng lẽ cho gà mái đẻ có khó khăn hơn là cho gà thịt

Vì thể những ước lượng nhu cầu acid amin cho gà mái đẻ chủ yếu dựa vào thành phần các acid amin của protein trong trứng Tỷ lệ của các acid amin thiết yếu trong protein của khẩu phần phải đi gần với tỷ lệ các acid amin được tạo thành trong trứng

2.3.3 Nhu cầu vitamin và muối khoáng

Theo Bùi Xuân Mến (2008), hầu hết nhu cầu của gia cầm về vitamin và muối khoáng đã được biết chính xác, đặc biệt đối với các vitamin và khoáng chất biết chắc chắn là bị thiếu trong các khẩu phần sản xuất Ngoại trừ một số

ít các vitamin hoặc khoáng chất không biết chắc chắn là thiếu dưới những điều kiện sản xuất, các mức trong khẩu phần được khuyến cáo là sẽ cung cấp lượng

đủ để cho phép gia cầm sản xuất hiệu quả

Không như protein, các yếu tố vitamin và khoáng vi lượng luôn được cung cấp vượt quá mức nhu cầu tối thiểu trong khẩu phần Vì vậy, nhu cầu vitamin và khoáng vi lượng thường không được chỉ dẫn theo tỉ lệ thức ăn tiêu thụ hoặc mức năng lượng có trong thức ăn, từ đó số lượng đủ nằm trên mức nhu cầu tối thiểu luôn được tính trong các khẩu phần gia cầm

Trang 22

lại và chuyển vào trứng Như vậy, để đảm bảo sản xuất ra vỏ trứng theo yêu cầu thì gà mái cần tiêu thụ 2600g carbonate canxi trong một năm đẻ Đây là lượng khoáng vượt quá cả thể trọng của gà mái Qua sự đánh giá này cho thấy tầm quan trọng của sự trao đổi canxi phải diễn ra liên tục trong một gà mái đang đẻ và quá trình trao đổi này cũng lớn hơn ở bất kỳ loài vật nào khác Nhu cầu canxi đối với gia cầm mái đang đẻ khó xác định được chính xác, bởi vì duy trì ở một tỷ lệ đẻ cao thì mức canxi trong thức ăn lại thấp hơn yêu cầu để tạo ra một vỏ trứng vừa ý Thị trường hiện đại và những điều kiện quản

lý trứng yêu cầu vỏ trứng bền, không bị nứt bể dễ dàng trong buôn bán Khi gà mái đi vào kỳ cuối của năm đẻ thường cho những trứng có vỏ mỏng và chất lượng kém hơn trong thời kỳ đẻ đầu Thời tiết nóng cũng làm cho gà đẻ trứng

có vỏ mỏng hơn Chất lượng vỏ trứng cũng có thể bị ảnh hưởng bởi bệnh đường hô hấp, vì có thể bệnh này đã làm ảnh hưởng tới ống dẫn trứng nên gà

đẻ ra trứng có vỏ không bình thường Sự tiêu thụ thức ăn cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nhu cầu canxi khi được tính toán như phần trăm trong khẩu phần (giống như nhu cầu của protein) Đối với những gà mái trong thời kỳ đẻ đầu, muốn cho gà sử dụng tốt canxi thức ăn để tạo ra vỏ trứng vừa ý thì mức canxi trong khẩu phần chỉ ở dưới mức 3%

2.3.4 Nhu cầu béo

Chất béo trong thức ăn đóng vai trò rất quan trọng trong khẩu phần ăn của gà đẻ, ngoài việc cung cấp các acid béo thiết yếu, là dung môi giúp hòa tan các vitamin tan trong dầu, chất béo còn là nguồn cung cấp năng lượng và hàm lượng chất béo khẩu phần có ảnh hưởng đến khối lượng trứng Chất béo

là dung môi hòa tan các vitamin và sắc tố giúp cho cơ thể hấp thu thuận tiện Nếu thiếu chất béo dẫn đến việc hấp thu caroten, vitamin A D E K sẽ giảm Cơ thể gia cầm có thể chuyển hóa chất béo thành chất khác và cùng tham gia tạo nên sản phẩm thịt trứng Đặc biệt ở gia cầm chất béo xúc tiến hấp thu và tích lũy sắc tố vàng để sơn màu lòng đỏ và da gà thích hợp thị hiếu của người tiêu dùng Chất béo làm khẩu vị thức ăn cho gia cầm, làm giảm độ bụi cho thức ăn Chất béo có tác dụng bôi trơn thức ăn khi gà nuốt thức ăn, cung cấp các acid béo thiết yếu cho cơ thể như : acid linoleic, acid oleic, acid arachidonic Trong

đó, acid linoleic rất cần thiết cho sự sinh trưởng và mọc lông của gia cầm, nếu thiếu sẽ bị còi cọc, rụng lông, lỡ da, gan tích mỡ, khả năng chống đỡ bệnh đường tiêu hóa giảm, sức đẻ trứng của gia cầm giảm và chất lượng trứng kém

Từ acid linoleic, cơ thể có thể chuyển hóa thành acid arachidonic có sự tham gia của vitamin B6 (Dương Thanh Liêm, 2003)

Acid linoleic dùng đẻ bổ sung năng lượng cho gà nhưng không sinh thêm nhiều nhiệt, trường hợp gà bị stress do nóng, ăn không hết khẩu phần, không

Trang 23

hấp đủ năng lượng cần thiết ta có thể bổ sung cho gà nhằm duy trì năng suất

đẻ và kích cỡ trứng (Võ Bá Thọ, 1996)

Năng lượng tỏa nhiệt khi chuyển hóa chất béo ít hơn chuyển hóa chất đạm và chất bột đường nên trong mùa hè giải quyết bằng năng lượng bằng chất béo cho gà tốt hơn chất bột đường và chất protein (Dương Thanh Liêm, 1996)

Trong thức ăn hỗn hợp của gà, thành phần chất béo không nhiều nhưng không thể thiếu Trong đó các acid béo chưa bão hòa như acid linoleic, acid oleic, acid arachidonic, đây là những acid béo thiết yếu không thể thiết Các tổ hợp gà đẻ trứng đang nuôi tại Việt Nam thường bổ sung 1 – 1,6% acid olinoleic trong thức ăn Trong giai đoạn sắp đẻ và đang đẻ trước đỉnh cao, tỷ lệ acid linoleic được dùng tối đa (Võ Bá Thọ, 1996)

Gà đẻ cần bổ sung chất béo trong khẩu phần vì hầu hết các acid béo trong lòng đỏ trứng được hình thành trong gan bằng cách sử dụng các acid béo thu được từ lượng ăn vào trong cơ thể Việc này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong môi trường nhiệt độ cao Khi thức ăn giảm, sự gia tăng acid béo cần thiết giúp gà mái duy trì sự hình thành trứng trong khi giảm thiểu nhiệt sinh ra (Valencia et al., 1980) Theo Bùi Xuân Mến (2008), acid linoleic phải có trong thức ăn của gà con nếu không chúng sẽ sinh trưởng kém, tích lũy mỡ trong gan và dễ cảm nhiễm với các bệnh về hô hấp Đặc biệt là gà mái cho ăn thức

ăn thiếu acid linoleic trầm trọng sẽ giảm sức đẻ trứng, trứng nhỏ, tỷ lệ ấp nở thấp, tăng tỷ lệ chết phôi Nếu trứng của gà đẻ giống mà thiếu acid linoleic thì trứng sẽ không ấp được Nhu cầu acid linoleic cho gà đẻ/ngày là 250 mg acid linoleic trong thức ăn hỗn hợp

2.5 Các thực liệu bổ sung chất béo trong thức ăn gia cầm

Dầu nành

Dầu nành là một chất béo cung cấp năng lượng rất lớn cho cơ thể động vật Dầu nành có lượng acid béo chưa bão hòa cao, chiếm khoảng 80% so với tổng số acid béo Trong đó đáng kể là acid linoleic chiếm khoảng 50%

Do đó cac acid béo chưa bão hòa đa (PUFA) cao khoảng 75% nên dầu đậu nành cũng giàu acid béo omega-3 Omega-3 có tác dụng làm giảm nguy

cơ về bệnh tim mạch và ngăn ngừa bệnh loãng xương Dầu nành cũng chứa phytosterol có làm giảm cholesterol LDL Dầu nành không chứa cholesterol

Trang 24

Bảng 2.4: Thành phần acid béo của dầu nành.

Bão hòa

Không bão hòa

Thành phần acid béo của dầu phộng chứa đầy đủ các acid béo Trong

đó, các acid béo không bão hòa chiếm tỷ lệ khác cao khoảng trên 80% Đáng lưu ý, lượng acid linolenic dễ bị oxy hóa chỉ có 0,76% trái lại acid oleic lại có khả năng chống chịu sự oxy hóa cao gần 47% Đây là yếu tố tạo ra độ bền của dầu phộng (Nông Thế Cận, 2005) Trong các acid béo chưa bão hòa của dầu phộng có acid arachidonic chiếm 1,15%, acid behenic 3,25% và acid lignoceric 1,06% với số lượng không lớn, nhưng ở nhiêt độ 8 – 120C thì các acid này vẫn làm đục dầu, không phải là hiện tượng biến hóa hỏng (Nông Thế Cận, 2005)

Bảng 2.5: Thành phần acid béo của dầu phộng

Trang 25

Mỡ cá Tra

Cũng như các loài các khác, thịt cá Tra, cá Basa là nguồn protein động vật chất lượng cao, cung cấp nhiều protein, các chất khoáng quan trọng và chứa nhiều loại vitamin cần thiết cho cơ thể Tổng lượng chất béo được tìm thấy trong cá Tra là khá cao với tỷ lệ acid béo chưa bão hòa chiếm 55,84% trong tổng số các acid béo Trong đó, acid oleic là acid chiếm thành phần cao nhất trong các acid béo chưa bão hòa đơn (39,51%) và acid linoleic chiếm thành phần cao nhất trong acid béo chưa bão hòa đa (7,83%) Nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã chứng minh được những lợi ích của các acid béo chưa bão hòa này đem lại Trong đó có vai trò quan trọng trong việc làm giảm nguy

cơ về bệnh tim mạch Nhưng acid này giúp làm giảm cholesterol toàn phần và cholesterol LDL (cholesterol xấu) trong máu phòng xơ vữa động mạch và nhồi máu cơ tim Đây là tính quan trọng được khuyến cáo trong chế độ dinh dưỡng nhằm làm giảm lượng cholesterol tiêu thụ hằng ngày trong bữa ăn Mỡ cá Tra

là loại thực liệu tương đối dễ kiếm hơn các thực liệu khác ở ĐBSCL và giá thành cũng chấp nhận được Như vậy việc bổ sung mỡ cá Tra lên khẩu phần

ăn của gà đẻ hậu bị vừa cung cấp các loại acid béo quan trọng cũng như cân đối mức năng lượng vừa cải thiện một số mặt hạn chế của loại thức ăn hỗn hợp tự trộn

Thành phần acid béo và năng lượng trong mỡ cá được trình bày qua Bảng 2.6

Bảng 2.6: Thành phần acid béo của cá Tra

(%)

Toàn bộ mỡ cá (%)

Trang 26

2.6 Một số nghiên cứu bổ sung mỡ cá Tra đã từng thực hiện

Ảnh hưởng của bổ sung mỡ cá Tra và vitamin E lên năng suất, chất lượng trứng của gà đẻ Hisex Brown

Phạm Ngọc Thảo (2012) đã tiến hành thí nghiệm bổ sung mỡ cá Tra và vitamin E lên năng suất và chất lượng trứng của gà Hisex Brown giai đoạn 52 đến 59 tuần tuổi cho kết quả như sau:

Bảng 2.7: Ảnh hưởng của bổ sung mỡ cá Tra và vitamin E lên chất lượng trứng

của gà đẻ Hisex Brown

(g/trứng) 132,53 131.67 131,27 132,82 131,59 Khối lượng trứng, g 63,09 65,59 64,26 64,49 63,20 Chỉ số hình dáng 77,99 77,89 77,90 76,84 79,03 Chỉ số lòng trắng đặc 0,12 0,10 0,09 0,09 0,11

Ngày đăng: 25/11/2015, 17:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Hệ sinh dục của gà mái - ảnh hưởng của mỡ cá tra bổ sung trong khẩu phần lên tỷ lệ đẻ và chất lượng trứng gà đẻ hisex brown giai đoạn 33 – 40 tuần tuổi
Hình 2.1 Hệ sinh dục của gà mái (Trang 13)
Bảng 2.2: Nhu cầu dinh dưỡng gà đẻ Hisex Brown - ảnh hưởng của mỡ cá tra bổ sung trong khẩu phần lên tỷ lệ đẻ và chất lượng trứng gà đẻ hisex brown giai đoạn 33 – 40 tuần tuổi
Bảng 2.2 Nhu cầu dinh dưỡng gà đẻ Hisex Brown (Trang 16)
Hình 2.3: Gà Hisex Brown - ảnh hưởng của mỡ cá tra bổ sung trong khẩu phần lên tỷ lệ đẻ và chất lượng trứng gà đẻ hisex brown giai đoạn 33 – 40 tuần tuổi
Hình 2.3 Gà Hisex Brown (Trang 16)
Bảng 2.3: Nhu cầu dinh dưỡng gà đẻ Hisex Brown - ảnh hưởng của mỡ cá tra bổ sung trong khẩu phần lên tỷ lệ đẻ và chất lượng trứng gà đẻ hisex brown giai đoạn 33 – 40 tuần tuổi
Bảng 2.3 Nhu cầu dinh dưỡng gà đẻ Hisex Brown (Trang 17)
Bảng 2.7: Ảnh hưởng của bổ sung mỡ cá Tra và vitamin E lên chất lượng trứng  của gà đẻ Hisex Brown - ảnh hưởng của mỡ cá tra bổ sung trong khẩu phần lên tỷ lệ đẻ và chất lượng trứng gà đẻ hisex brown giai đoạn 33 – 40 tuần tuổi
Bảng 2.7 Ảnh hưởng của bổ sung mỡ cá Tra và vitamin E lên chất lượng trứng của gà đẻ Hisex Brown (Trang 26)
Hình 3.1: Gà mái đẻ Hisex Brown nuôi thí nghiệm - ảnh hưởng của mỡ cá tra bổ sung trong khẩu phần lên tỷ lệ đẻ và chất lượng trứng gà đẻ hisex brown giai đoạn 33 – 40 tuần tuổi
Hình 3.1 Gà mái đẻ Hisex Brown nuôi thí nghiệm (Trang 28)
Hình 3.2: Hệ thống tấm làm mát - ảnh hưởng của mỡ cá tra bổ sung trong khẩu phần lên tỷ lệ đẻ và chất lượng trứng gà đẻ hisex brown giai đoạn 33 – 40 tuần tuổi
Hình 3.2 Hệ thống tấm làm mát (Trang 29)
Bảng 3.2: Bố trí thí nghiệm - ảnh hưởng của mỡ cá tra bổ sung trong khẩu phần lên tỷ lệ đẻ và chất lượng trứng gà đẻ hisex brown giai đoạn 33 – 40 tuần tuổi
Bảng 3.2 Bố trí thí nghiệm (Trang 31)
Bảng 3.3 Quy trình sử dụng thuốc và vaccine cho gà (trong thời gian thí - ảnh hưởng của mỡ cá tra bổ sung trong khẩu phần lên tỷ lệ đẻ và chất lượng trứng gà đẻ hisex brown giai đoạn 33 – 40 tuần tuổi
Bảng 3.3 Quy trình sử dụng thuốc và vaccine cho gà (trong thời gian thí (Trang 32)
Bảng 4.2: Tỷ lệ đẻ (%) của các nghiệm thức qua các tuần. - ảnh hưởng của mỡ cá tra bổ sung trong khẩu phần lên tỷ lệ đẻ và chất lượng trứng gà đẻ hisex brown giai đoạn 33 – 40 tuần tuổi
Bảng 4.2 Tỷ lệ đẻ (%) của các nghiệm thức qua các tuần (Trang 35)
Bảng 4.3: Tiêu tốn thức ăn g/con/ngày của các nghiệm thức. - ảnh hưởng của mỡ cá tra bổ sung trong khẩu phần lên tỷ lệ đẻ và chất lượng trứng gà đẻ hisex brown giai đoạn 33 – 40 tuần tuổi
Bảng 4.3 Tiêu tốn thức ăn g/con/ngày của các nghiệm thức (Trang 36)
Hình 4.2: Biểu đồ ảnh hưởng bổ sung mỡ cá lên tiêu tốn thức ăn - ảnh hưởng của mỡ cá tra bổ sung trong khẩu phần lên tỷ lệ đẻ và chất lượng trứng gà đẻ hisex brown giai đoạn 33 – 40 tuần tuổi
Hình 4.2 Biểu đồ ảnh hưởng bổ sung mỡ cá lên tiêu tốn thức ăn (Trang 37)
Bảng 4.5: Khối lượng trứng của các nghiệm thức theo tuần - ảnh hưởng của mỡ cá tra bổ sung trong khẩu phần lên tỷ lệ đẻ và chất lượng trứng gà đẻ hisex brown giai đoạn 33 – 40 tuần tuổi
Bảng 4.5 Khối lượng trứng của các nghiệm thức theo tuần (Trang 38)
Bảng 4.8: Hiệu quả kinh tế của các nghiệm thức thí nghiệm - ảnh hưởng của mỡ cá tra bổ sung trong khẩu phần lên tỷ lệ đẻ và chất lượng trứng gà đẻ hisex brown giai đoạn 33 – 40 tuần tuổi
Bảng 4.8 Hiệu quả kinh tế của các nghiệm thức thí nghiệm (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm