Chất lượng trứng của gà được cải thiện khi có bổ sung Yucca trong khẩu phần, đặc biệt là ở các chỉ tiêu về tỷ lệ lòng trắng, tỷ lệ lòng đỏ và màu sắc lòng đỏ cao hơn so với ĐC P... Tron
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
CAM THỊ MỸ HẠNH
ẢNH HƯỞNG BỔ SUNG YUCCA
SCHIDIGERA TRONG KHẨU PHẦN LÊN
NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG
CỦA GÀ ĐẺ HISEX BROWN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CHĂN NUÔI - THÚ Y
2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
CAM THỊ MỸ HẠNH
ẢNH HƯỞNG BỔ SUNG YUCCA
SCHIDIGERA TRONG KHẨU PHẦN LÊN
NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG
CỦA GÀ ĐẺ HISEX BROWN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CHĂN NUÔI - THÚ Y
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS NGUYỄN THỊ KIM KHANG
2014
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
ẢNH HƯỞNG BỔ SUNG YUCCA
SCHIDIGERA TRONG KHẨU PHẦN LÊN
NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG
CỦA GÀ ĐẺ HISEX BROWN
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
DUYỆT CỦA KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
………
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS NGUYỄN THỊ KIM KHANG
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
DUYỆT CỦA BỘ MÔN
………
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: Ban lãnh đạo khoa Nông Nghiệp & SHƯD và các thầy cô của
Bộ Môn Chăn Nuôi
Tôi tên: Cam Thị Mỹ Hạnh, MSSV: 3118080 là sinh viên ngành Chăn Nuôi, khóa 37, niên học: 2011 – 2014
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả
Cam Thị Mỹ Hạnh
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trải qua gần 3,5 năm học tập và rèn luyện dưới giảng đường Đại học Cần Thơ, với sự tận tâm hướng dẫn, truyền dạy những kiến thức và kinh nghiệm quý báo của các thầy cô cùng sự nỗ lực của bản thân, hôm nay tôi đã hoàn thành xong luận văn tốt nghiệp Trước khi rời khỏi mái trường kính yêu
để chuẩn bị hành trang mới bước vào đời, tôi xin gởi đến tất cả mọi người lời cám tạ chân thành và sâu sắc nhất
Lời đầu tiên, con xin gởi đến ba mẹ lòng kính yêu và biết ơn sâu sắc của con Ba mẹ đã nuôi dạy con trưởng thành, che chở con vượt qua mọi khó khăn, giúp con rất nhiều trong quá trình làm luận văn và luôn ủng hộ để con hoàn thành tốt việc học tập
Quý thầy cô trường Đại học Cần Thơ, đặc biệt là các thầy cô trong bộ môn Chăn Nuôi, Khoa Nông Nghiệp & SHƯD đã nhiệt tình giúp đỡ giảng dạy
và hướng dẫn trong quá trình học tập
Cô Nguyễn Thị Kim Khang đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo em trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Cô Nguyễn Thị Thủy, cố vấn học tập lớp Chăn nuôi – Thú y khóa 37A
đã hết lòng quan tâm giúp đỡ, lo lắng và giải đáp những thắc mắc của tôi trong suốt quá trình học tập ở trường
Em xin chân thành cám ơn anh, chị cùng các bạn đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em thực hiện đề tài
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn đến các bạn lớp Chăn Nuôi Thú Y K37 đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong 3,5 năm qua
Xin chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày… tháng … năm
Tác giả
Cam Thị Mỹ Hạnh
Trang 6TÓM LƯỢC
Nhằm tìm ra một khẩu phần thích hợp có tác động tốt nhất lên năng suất
và chất lượng của gà đẻ Hisex Brown Một trăm sáu mươi con gà Hisex Brown 25 tuần tuổi được sử dụng và được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên, với bốn nghiệm thức thể hiện qua 4 khẩu phần ăn khác nhau như sau: nghiệm thức đối chứng (ĐC) chỉ bao gồm thức ăn của cơ sở (KPCS), YC 50
gồm KPCS + 50mg bột Yucca/kg thức ăn, YC 75 gồm KPCS + 75mg bột Yucca/kg thức ăn, YC 100 gồm KPCS + 100mg bột Yucca/kg thức ăn Thí nghiệm được lặp lại 10 lần, mỗi lần lặp lại là 4 con gà Thí nghiệm nuôi dưỡng được thực hiện tại Trại gà 1 ấp Đồng Tâm, xã Tam Lập, huyện Phú
Giáo, tỉnh Bình Dương, từ ngày 04/08/2014 đến ngày 12/10/2014
Kết quả phân tích cho thấy bổ sung Yucca vào khẩu phần ăn của gà mái
đẻ Hisex Brown giai đoạn 25-34 tuần tuổi cải thiện được năng suất trứng và
tỷ lệ đẻ của gà qua các tuần tuổi So với ĐC, đặc biệt là ở tuần 34 (P<0,05) trong đó cao nhất là YC 50 , đồng thời tỷ lệ trứng loại ở các NT này thấp hơn và cải thiện được tiêu tốn thức ăn của gà (g/trứng) (P>0,05) Chất lượng trứng của gà được cải thiện khi có bổ sung Yucca trong khẩu phần, đặc biệt là ở các chỉ tiêu về tỷ lệ lòng trắng, tỷ lệ lòng đỏ và màu sắc lòng đỏ cao hơn so với
ĐC (P<0,05) Phân tích hiệu quả kinh tế cho thấy giữa các khẩu phần có bổ sung Yucca là chênh lệch không nhiều, với khẩu phần YC 50 mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn Kết quả này có thể cho thấy rằng bột Yucca schidigera có thể
có tiềm năng để cải thiện suất và chất lượng trứng cho gia cầm tốt hơn và có thể bổ sung 50mg Yucca/kg TA vào khẩu phần của gà đẻ trứng thương phẩm
Trang 7MỤC LỤC
TÓM LƯỢC iv
MỤC LỤC v
DANH SÁCH BẢNG vii
DANH SÁCH HÌNH viii
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT ix
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
2.1 Giới thiệu về giống gà Hisex Brown 2
2.2 Nhu cầu dinh dưỡng của gia cầm 3
2.2.1 Nhu cầu protein 3
2.2.2 Nhu cầu năng lượng 4
2.2.3 Nhu cầu chất béo 6
2.2.4 Nhu cầu vitamin 6
2.2.5 Nhu cầu chất khoáng 9
2.2.6 Vai trò của nước 16
2.3 Các chỉ tiêu năng suất chất lượng trứng 17
2.4 Giới thiệu về cây Yucca schidigera và các ứng dụng 19
2.4.1 Giới thiệu về cây Yucca schidigera 19
2.4.2 Vai trò của cây Yucca schidigera 21
2.4.3 Các ứng dụng của cây Yucca schidigera trong chăn nuôi 22
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 25
3.1 Phương tiện thí nghiệm 25
3.1.1 Thời gian và địa điểm 25
3.1.2 Động vật thí nghiệm 25
3.1.3 Chuồng trại 25
3.1.4 Thức ăn thí nghiệm 31
3.1.5 Dụng cụ thí nghiệm 31
3.2 Phương pháp thí nghiệm 32
3.2.1 Bố trí thí nghiệm 32
3.2.2 Quy trình phòng bệnh ở trại 33
3.2.3 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc 33
3.2.4 Phương pháp lấy mẫu 34
3.2.5 Các chỉ tiêu theo dõi 34
3.2.6 Chỉ tiêu về chất lượng trứng 35
3.2.7 Hiệu quả kinh tế 36
3.2.8 Xử lý số liệu 36
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ-THẢO LUẬN 37
4.1 Nhận xét chung về đàn gà thí nghiệm 37
4.2 Nhiệt-ẩm trong chuồng nuôi 37
4.3 Ảnh hưởng của chất bổ sung lên năng suất trứng 38
4.3.1 Ảnh hưởng của chất bổ sung lên khối lượng gà thí nghiệm 38
4.3.2 Năng suất trứng và Tỷ lệ đẻ 39
Trang 84.3.3 Tỷ lệ trứng loại của gà thí nghiệm 41
4.3.4 Tiêu tốn thức ăn (g/mái) và Hệ số chuyển hóa thức ăn (g/trứng) 41
4.4 Ảnh hưởng của chất bổ sung lên chất lượng trứng 43
4.4.1 Ảnh hưởng của nghiệm thức 43
4.4.2 Ảnh hưởng của tuần tuổi 45
4.4.3 Tương tác giữa nghiệm thức và tuần tuổi 46
4.4 Hiệu quả kinh tế 48
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Đề nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ CHƯƠNG 54
Trang 9DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1: Bảng chỉ tiêu của giống gà Hisex Brown 3
Bảng 2.2: Nhu cầu dinh dưỡng gà đẻ 3
Bảng 2.3: Nhu cầu vitamin của gà đẻ 9
Bảng 2.4: Nhu cầu các nguyên tố khoáng ở các loại gà: 15
Bảng 2.5: Nhu cầu nước của gà đẻ theo nhiệt độ 16
Bảng 2.6: Tiêu chuẩn phân loại chất lượng trứng 19
Bảng 3.1: Thành phần dinh dưỡng 31
Bảng 3.2: Chương trình thuốc và vaccine cho gà đẻ Hisex Brown 33
Bảng 4.1 Nhiệt độ và độ ẩm qua các tuần tuổi 37
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của chât bổ sung lên khối lượng gà, kg 38
Bảng 4.3: Năng suất trứng của gà Hisex Brown qua các tuần tuổi 39
Bảng 4.4: Tỷ lệ đẻ của gà Hisex Brown qua các tuần tuổi 40
Bảng 4.5 Tỷ lệ trứng loại của gà qua các tuần tuổi thí nghiệm 41
Bảng 4.6 Tiêu tốn thức ăn qua các tuần tuổi, (g/mái) 42
Bảng 4.7: Hệ số chuyển hóa thức ăn của gà thí nghiệm, (g/trứng) 43
Bảng 4.8: Ảnh hưởng của thức ăn lên chất lượng trứng 44
Bảng 4.9: Ảnh hưởng của giai đoạn tuổi lên chất lượng trứng 46
Bảng 4.10: Tương tác giữa nghiệm thức và tuần tuổi thí nghiệm 47
Bảng 4.11: Tỷ lệ thành phần của trứng 48
Bảng 4.12: Hiệu quả kinh tế của các khẩu phần thức ăn thí nghiệm 49
Trang 10DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1 Gà đẻ Hisex Brown 2
Hình 2.2 Cây Yucca Schidigera 20
Hình 3.1 Trại thí nghiệm 25
Hình 3.2 Tấm làm mát 26
Hình 3.3 Hệ thống quạt 27
Hình 3.4 Hệ thống tự điều chỉnh 27
Hình 3.5 Hệ thống đèn 28
Hình 3.6 Hệ thống máng ăn 29
Hình 3.7 Hệ thống núm uống 29
Hình 3.8 Máng hứng trứng 30
Hình 3.9 Bồn chứa nước 30
Hình 3.10 Thức ăn hỗn hợp 7606 sử dụng trong thí nghiệm 31
Hình 3.11 Bố trí thí nghiệm 32
Hình 3.12 Thu lượm trứng 34
Hình 3.13 Trứng đo các chỉ tiêu 34
Hình 3.14 Quạt so màu Roche 36
Trang 12CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Trứng là một nguồn thực phẩm rất giàu dinh dưỡng và khá cân bằng về dưỡng chất, và là nguồn protein an toàn nhất trong các nguồn protein có nguồn gốc từ động vật đối với con người Thành phần của trứng có chứa hàm lượng cao protein, các acid béo chưa bão hòa đơn và đa, acid amin, khoáng và vitamin (Cook & Briggs, 1997)
Trong cây Yucca schidigera có hợp chất saponin có khả năng làm giảm
được ammonia và mùi hôi chất thải trong chuồng nuôi do saponin có tác dụng đến chức năng của thận, làm tăng tốc độ phân giải loại bỏ urê, dẫn đến giảm thấp hàm lượng urê và ammonia trong máu (Kong, 1998) Bên cạnh đó, saponin còn có khả năng kết hợp với cholesterol trên màng protozoa, làm cho
màng bị phá hủy, bị ly giải và tế bào protozoa bị chết (Makkar et al, 1998; Wang et al, 1998) Ngoài ra, bột hay dịch chiết của cây Yucca không chỉ có
saponin mà còn có những hóa thực vật khác như oligosaccharide, phenol, stilbene, resveratrol Mặc khác, cây Yucca còn ngăn ngừa một số bệnh nhiễm khuẩn của heo, gà, tôm, cá giúp kích thích tăng trưởng 10%, giảm 10–20% chi phí thức ăn (Vũ Duy Giảng, 2010).Vì thế, Yucca schidigera thường được bổ sung vào khẩu phần ăn cho gia súc và gia cầm để cải thiện tốc độ tăng trưởng, năng suất và kiểm soát lượng amonia thải ra môi trường ngoài Một số nghiên cứu cho thấy việc bổ sung Yucca cho kết quả khá tốt như: Ở động vật nhai lại, saponin từ cây yucca, quillaia làm giảm nồng độ NH3 trong dạ cỏ (Wallace et
al., 1994; Hristov et al.,1999) Người ta nhận thấy rằng heo con sinh ra từ heo
mẹ ăn khẩu phần bổ sung chiết chất yucca có hàm lượng oxy trong máu cao hơn, có lẽ đây là lý do làm cho tỷ lệ chết của heo con khi sinh giảm đi (Cline
et al., 1996) Đối với giống gà thịt Cobb 500 khi được bổ sung Yucca vào khẩu
phần thì có tỷ lệ hao hụt giảm, gà được ăn khẩu phần bổ sung 50 mg và 125 mg bột Yucca/kg thức ăn không bị bệnh về hô hấp Kết quả thí nghiệm cho thấy khi được cho ăn thức ăn có bổ sung Yucca thì khối lượng bình quân và tăng trọng tích lũy được cải thiện đáng kể ở giai đoạn 21 đến 35 ngày tuổi (Võ Hữu Nghị, 2013)
Từ những lợi ích của việc bổ sung Yucca nên chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: "Ảnh hưởng của việc bổ sung Yucca schidigera lên năng suất và
chất lượng trứng của gà đẻ Hisex Brown" Với mục nhằm tìm ra một khẩu
phần thích hợp có tác động tốt nhất lên năng suất và chất lượng trứng của gà
đẻ Hisex Brown ở giai đoạn từ 25-34 tuần tuổi
Trang 13CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Giới thiệu về giống gà Hisex Brown
Được nhập vào Việt Nam năm 1997 Là giống gà chuyên trứng màu nâu
có nguồn gốc từ hãng Euribreed - Hà Lan được nhập giống gà bố mẹ về nhân giống Gà Hisex Brown bố mẹ được nuôi để sản xuất gà hậu bị để lấy trứng thương phẩm Gà đẻ hậu bị Hisex Brown là giống gà đẻ trứng cao sản lông con mái màu nâu, lông con trống màu trắng (có di truyền chéo với bố mẹ) Là giống gà có kích thước trứng trung bình như lại rất đồng đều và vỏ dày Hisex Brown (Hình 2.1) có khả năng thích nghi cao với việc thay đổi thức ăn trong quá trình nuôi
Gà mái đẻ thương phẩm đạt tỷ lệ đẻ 5% ở 20 tuần tuổi, đỉnh cao tỷ lệ đẻ khoảng 96% Thời gian đạt tỷ lệ đẻ cao trên 90% kéo dài khoảng 10 tuần Khối lượng trứng trong tuần đẻ đầu là 46g và tăng dần cho đến khi kết thúc là 67g Sản lượng trứng đến 78 tuần tuổi là 307 quả/mái Tỉ lệ chết trong thời kỳ
đẻ trứng là 5,8% Khối lượng gà mái khi kết thúc đẻ khoảng 2,15kg/con Lượng thức ăn tiêu thụ đến hết 78 tuần tuổi là 47kg/con (Bảng 2.1)
Hình 2.1 Gà đẻ Hisex Brown
(http://www.safnepal.com/products_hisexbrown.html)
công ty Emivest
Trang 14Bảng 2.1: Bảng chỉ tiêu của giống gà Hisex Brown
(Nguồn: trung.html)
http://www.vietdvm.com/gia-cam/ky-thuat-chan-nuoi-gia-cam/item/363-cac-giong-ga-huong-2.2 Nhu cầu dinh dưỡng của gia cầm
Tùy theo giống gà và tuần tuổi đẻ, các phương thức chăn nuôi mà nhu
cầu dinh dưỡng khác nhau Gà đang ở tuần tuổi đẻ cao thì cần nhu cầu dinh dưỡng cao, gà đang ở giai đoạn thay lông thì cần phải bổ sung nhu cầu dinh dưỡng hợp lí (Bảng 2.2)
Bảng 2.2: Nhu cầu dinh dưỡng gà đẻ
TPDD V Giai đoạn (tuần)
0–3 3–9 9–17 17–19 19–45 45–70 70–kt Protein % 20 20 15,5 16,5 16,7 16,2 15,3 Năng lượng Cal 2975 2975 2750 2750 2775 2750 2725
Linoleic acid % 1,5 1,5 1,25 1,25 2,2 1,6 1,25 Acid amin tiêu hóa
Methionine % 0,54 0,54 0,34 0,38 0,41 0,39 0,36 Methionine +
Cysteine % 0,92 0,92 0,61 0,68 0,75 0,69 0,63 Lysine % 1,2 1,2 0,75 0,8 0,8 0,75 0,7 Tryptophan % 0,23 0,23 0,14 0,15 0,17 0,16 0,15 Threonine % 0,78 0,78 0,49 0,52 0,56 0,53 0,5 Khoáng
Phosphor hữu
dụng % 0,5 0,5 0,45 0,42 0,42 0,4 0,38 Sodium % 0,16 0,16 0,15 0,15 0,15 0,15 0,15 Chloride % 0,22 0,22 0,22 0,22 0,22 0,22 0,19
(Nguồn: Công ty TNHH Emivest Việt Nam, 2011)
2.2.1 Nhu cầu protein
Protein là chất quan trọng nhất để duy trì sự sống, tham gia mọi hoạt
Trang 15bản của protein là các axít amin Protein là cấu trúc cơ bản hình thành nên các
mô mềm của các tổ chức của động vật như: cơ, mô liên kết, da, lông Ở gia cầm protein có trong lông, mỏ,
Protein tham gia cấu tạo tế bào là thành phần quan trọng của sự sống, protein có vai trò quan trọng trong vận chuyển các chất dinh dưỡng qua thành ruột vào máu và từ máu đến các mô của cơ thể và qua màng tế bào Chiếm đến khoảng 1/5 khối lượng cơ thể gia cầm, 1/7-1/8 khối lượng trứng Protein là hợp chất hữu cơ quan trọng không có chất dinh dưỡng nào thay thế vai trò của protein trong tế bào sống vì phân tử protid ngoài cacbon, hydro, oxy còn có nitơ, lưu huỳnh, phospho mà ở các phân tử mỡ, bột đường không có
Sản phẩm thịt, trứng đều cấu tạo từ protid Không đủ protein trong thức
ăn, năng suất chăn nuôi giảm Protid tham gia điều hòa quá trình đồng hóa các chất dinh dưỡng của thức ăn cho cơ thể, đồng thời nó còn cung cấp năng lượng cho cơ thể (Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận, 1999)
Nhu cầu protein trong cơ thể là sự cân đối các axít amin không thay thế Đối với gà con, nhu cầu protein cho duy trì cơ thể và phát triển sinh trưởng của các bộ phận mô cơ Ở gà thịt cần tỷ lệ protein tương đối cao trong khẩu phần để hỗ trợ tăng trưởng nhanh
Cân bằng các axit amin có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong cân bằng các chất dinh dưỡng bởi: tất cả các axit amin cần thiết cho vật nuôi đều được lấy từ thức ăn, các axit amin được dùng chủ yếu để tổng hợp protein củ cơ thể, không có sự dự trữ các axit amin trong cơ thể Cân bằng bị phá vỡ sẽ làm giảm lượng thức ăn thu nhận và khả năng tăng trọng
2.2.2 Nhu cầu năng lượng
Dinh dưỡng của gia cầm, năng lượng thường được xem là nguồn dinh dưỡng giới hạn nhất vì nhu cầu quá lớn so với các chất dinh dưỡng khác Nhu cầu năng lượng của gia cầm có thể được xác định là mức năng lượng cần thiết cho sinh trưởng hoặc cho sản xuất trứng và cho duy trì mọi hoạt động sống của cơ thể Theo Nguyễn Đặng Ngô (2005), nhu cầu năng lượng cho gà là mang tính thiết yếu, ở gà nhu cầu năng lượng được biểu thị bằng năng lượng trao đổi Kcal/kg thức ăn Nếu hàm lượng trong thức ăn cao gà sẽ ăn ít còn hàm lượng thấp gà sẽ ăn nhiều hơn
Các chất hữu cơ trong thức ăn bao gồm: protein, lipid, cacbohydrate, trong đó carbohydrate chiếm tỉ lệ lớn nhất 40-60%, cung cấp năng lượng cho
cơ thể phát triển, duy trì các hoạt động sống bình thường, duy trì nhiệt độ, sản xuất thịt trứng… Khi năng lượng dư thừa sẽ được tích lũy thành mỡ mà không
bị thải ra ngoài (Lê Hồng Mận, 2001)
Trang 16Nhu cầu năng lượng cho gà bao gồm năng lượng duy trì sự sống, năng lượng sinh trưởng, năng lượng cho quá trình sản xuất trứng, tích lũy tăng trọng thịt và mỡ Yêu cầu năng lượng đối với gà con tương đối cao, nhất là gà thịt: 3000-3300 kcal/kg thức ăn hỗn hợp, đồng thời phải có protein, khoáng và vitamin thích hợp Năng lượng thấp, gà gầy, chậm lớn (Lê Hồng Mận, 2001) Gia cầm không tự điều chỉnh được sự tiêu thụ năng lượng, cơ thể gà chỉ đồng hóa được 70-90% năng lượng toàn phần, phần còn lại bị loại thải qua nước tiểu, phân, thải nhiệt Khi thức ăn có mức năng lượng cao sẽ được tích lũy mỡ trong cơ thể, khi thức ăn thiếu năng lượng thì gà phát triển không bình thường và gầy đi Xây dựng khẩu phần cho gia cầm, năng lượng là yếu tố đầu tiên được quan tâm Một mức năng lượng thích hợp sẽ giúp tiết kiệm được chi phí thức ăn cho mỗi đơn vị đơn sản phẩm Mức năng lượng thường được sử dụng làm cơ sở cho thiết lập nồng độ chất dinh dưỡng khác trong khẩu phần Xây dựng khẩu phần ăn cho gia cầm được dựa trên khái niệm là gia cầm có xu hướng ăn để đáp ứng nhu cầu năng lượng của chúng, giả định rằng khẩu phần
đầy đủ chất dinh dưỡng thiết yếu (Hill et al, 1956; Scott et al, 1982)
Khi nhiệt độ tăng cao gà phản ứng tự nhiên để chống lại là điều tiết thân nhiệt bằng cách tăng dần tần số hô hấp, ăn ít và uống nhiều nước Khi đó việc tăng năng lượng và protein trong khẩu phần là rất cần thiết để bù đắp hao tổn nói trên, nhưng khi nhiệt độ tiếp tục tăng quá 27% thì cơ thể gà bắt đầu rối loạn, nếu nhiệt độ tiếp tục tăng nữa thì cơ thể gà không bị mất năng lượng như trên mà lúc này ta phải biết giảm năng lượng trong thức ăn một cách hợp lý
350C (NRC, 1994) Phản ứng giảm lượng thức ăn khi gia tăng nhiệt độ được
đề xuất ở gà Tây (NRC, 1994)
Năng lượng thuần cần cho một mái đang có tỷ lệ đẻ cao gồm năng lượng tiêu phí cho duy trì và năng lượng dự trữ trong trứng Nếu tốc độ trao đổi cơ bản được ước lượng là 68 kcal/kg thể trọng trao đổi (lũy thừa 0,75 của thể trọng sống), hoạt động duy trì coi như bằng 50% của trao đổi cơ bản và một trứng lớn chứa 90 kcal Một gà mái nặng 1,8 kg, trong môi trường thích hợp
đẻ một trứng một ngày sẽ cần khoảng 250 kcal năng lượng trong một ngày
Trang 17Hiệu quả sử dụng năng lượng trao đổi cho mục đích này là 75%, do đó năng lượng trao đổi cần ăn vào khoảng 330 kcal ME Như vậy, lượng thức ăn cần thiết để đáp ứng một ngày cho gà đẻ là 110g, chứa 2974 kcal ME/kg Những giả định này sẽ tạo cơ sở cho ước lượng tiêu thụ thức ăn của gia cầm
Gà mái có khả năng thay đổi mức tiêu thụ thức ăn theo mức năng lượng trong khẩu phần Tuy nhiên mức năng lượng tối thiểu trong khẩu phần của gà đang đẻ không thể dưới mức 2640 kcal ME/kg Khi gà mái phải chịu đựng trong môi trường lạnh thì mức năng lượng không thể thấp hơn 2750 kcal ME/kg thường thì mức năng lượng thực trong khẩu phần sẽ tùy thuộc nhiều vào mức độ của giá thức ăn trong thực tế sản xuất (Bùi Xuân Mến, 2007)
2.2.3 Nhu cầu chất béo
Lipid (hay còn gọi chất béo) là chất dinh dưỡng cung cấp năng lượng cao cấp hơn 2 lần so với glucid Đối với gia cầm, lipid tạo một phần năng lượng và chủ yếu tạo mỡ Nhu cầu chất béo trong cơ thể gia cầm rất ít: gà con cần dưới 4% (nếu cao hơn sẽ dẫn đến tiêu chảy), gà hậu bị và gà đẻ cần dưới 5% (nếu cao hơn sẽ làm gà mập mỡ khó đẻ), đối với gà nuôi thả có thể cung cấp chất
béo nhiều hơn (Lê Hồng Mận, 2003)
Khi khẩu phần ăn có nhiều protein thì khó nâng cao mức năng lượng vì vậy nếu ta thêm chất béo thì cân đối tốt hơn nhu cầu năng lượng cho khẩu phần Chất béo trong thức ăn cũng ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm: Nếu thức ăn chứa nhiều axít béo chưa no thì mỡ động vật lỏng, ngược lại thiếu axít béo chưa no thì mỡ cứng (Dương Thanh Liêm, 1999)
2.2.4 Nhu cầu vitamin
Vitamin là chất có hoạt tính sinh học cao cần thiết cho các quá trình trao đổi chất của cơ thể sống Với nồng độ thấp nhưng vitmain có vai trò quyết định sự tồn tại của tất cả quá trình sống Vitamin tham gia và cấu trúc của các nhóm enzyme xúc tác các phản ứng sinh hóa trong quá trình đồng hóa, dị hóa,
quyết định sự sinh trưởng, sinh sản và tính kháng bệnh của gia cầm
Vitamin có hai nhóm: Nhóm hòa tan trong dầu mỡ là vitamin A, D, E và
K Nhóm hòa tan trong nước là vitamin nhóm B và C
Nhóm hòa tan trong dầu, mỡ:
Vitamin A (Retinol) có vai trò quan trọng trong việc điều hòa trao đổi
protein, lipid, glucid, cần thiết cho sự hoạt động bình thường của tuyến giáp trạng, các tế bào biểu mô, là nguyên liệu tạo rodopxin của thị giác Thiếu vitamin A gà con còi cọc, chậm lớn, sừng hóa và viêm niêm mạc mắt, sừng hóa thanh khí quản nên dễ bị bệnh hô hấp, bệnh cầu trùng sẽ nặng thêm và khó chữa, gà dễ mắc những bệnh nhiễm trùng, tỷ lệ chết cao (gà con chết sau 2-4 tuần với triệu chứng thần kinh trước khi chết, mổ khám sẽ thấy ống dẫn niệu
Trang 18tích đầy urat, gà đẻ giảm năng suất trứng do buồng trứng phát triển kém, niêm mạc ống dẫn trứng bị sừng hóa, vỏ trứng mỏng, tỷ lệ thụ tinh thấp, tỷ lệ chết
phôi cao, thường chết phôi
Nguồn vitamin A và sắc tố vàng được cung cấp từ những thực liệu chứa nhiều caroten như bắp vàng, bột cỏ giúp cho màu lòng đỏ trứng đậm hơn, da
và mỡ gà vàng Vitamin A dễ hư hỏng khi trộn vào thức ăn nên cần có thêm chất chống oxy hóa, khi tồn trữ thức ăn lâu sẽ bị mất vitamin A
Nhu cầu vitamin A ở gia cầm phụ thuộc vào tuổi và sức sản xuất của chúng: gia cầm non đang sinh trưởng nhanh cần khoảng 12000-15000 IU/kg thức ăn, gà đẻ trứng cần 10000-12000 IU/kg
Vitamin D (Cholecalciferol) tham gia vào quá trình trao đổi chất khoáng,
protein và lipid Giúp điều hòa quá trình gắn kết Ca, P và Mg vào xương, kích thích các phản ứng oxy hóa khử Khi thiếu vitamin D gia cầm non mắc bệnh còi xương, xương chân và xương lưỡi hái cong, dị dạng; gà đẻ bị bệnh xốp xương, xương dễ gẫy, bại liệt chân, lòng trắng trứng loãng, vỏ trứng mỏng, dễ
vỡ, tỷ lệ ấp nở thấp, phôi chết nhiều ở ngày ấp thứ 19-20 Nhu cầu vitamin D cho gà: gà con 2000-2200 UI, gà đẻ 1500 UI/kg thức ăn
Vitamin E (Tocoferol) giúp ngăn cản quá trình oxy hóa, bảo vệ các hợp
chất sinh học và các axít béo chưa no, tạo điều kiện thuận lợi trao đổi Phospho, glucid và protein, kích thích sự tạo thành các hoocmon thùy trước tuyến yên, tăng cường sự hấp thu các vitamin A và D, giúp ổn định thành mạch, màng tế bào của tuyến sinh dục Thiếu sẽ gây tình trạng gà bị ngẹo đầu,
mỏ trúc xuống, mất thăng bằng, đi đứng loạng choạng, đi thụt lùi, hoại tử cơ trắng vùng cơ ức và cơ đùi (giống như tình trạng thiếu Selen) Ở gia cầm sinh sản sẽ giảm tỷ lệ thụ tinh, giảm tỷ lệ đẻ, trứng đã thụ tinh có phôi phát triển kém, phôi chết nên tỷ lệ ấp nở thấp Nhu cầu vitamin E cho gà: gà con 15-20
UI, gà đẻ 20-30 UI/kg thức ăn
Vitamin K (Phylloquinone) được tổng hợp trong manh tràng của gà, có
tác dụng đông máu được sử dụng trong thức ăn cho gà con và gà đẻ để phòng chống xuất huyết khi bị bệnh cầu trùng và bệnh Gumboro Nhu cầu vitamin K cho gà: gà con dưới 7 tuần tuổi 8,8 mg, gà 8-17 tuần tuổi 2,2 mg, gà đẻ 2,2 mg/kg thức ăn
Nhóm hòa tan trong nước:
Vitamin B1 (Thiamin) có vai trò quan trọng cho trao đổi glucid và
decarboxyl, hoạt động của các men tiêu hóa, tăng hấp thu đường ở ruột Gia cầm thường thiếu B1 trong trường hợp sử dụng nhiều thức ăn củ như khoai
mỳ, khoai lang hoặc thức ăn hạt dự trữ lâu ngày, bảo quản không tốt nên bị mốc Nhu cầu vitamin B1 cho gà: gà con 2,2 mg; gà lớn, gà đẻ 1,8-2,0 mg/kg
Trang 19Vitamin B2 (Riboflavin) có vai trò quan trọng trong oxy hóa vật chất của
tế bào, trao đổi hydratcarbon và năng lượng, duy trì hoạt động bình thường của tuyến sinh dục Thiếu vitamin B2 gà con sẽ bị còi cọc, chậm lớn, lông xù, viêm quanh khóe mắt, chân bị liệt ngón co quắp, di chuyển khó khăn, mắt nhắm, ghèn dính làm mắt mở khó khăn Gà đẻ giống sẽ giảm tỷ lệ ấp nở, phôi chết nhiều ở ngày ấp thứ 12-18, gà con mới nở bị liệt chân Nhu cầu vitamin B2 cho gà: gà con 3,5-4,0 mg; gà đẻ trứng thương phẩm 2,2-2,5 mg/kg thức
ăn
Vitamin B3 (Acid pantothenic) thường chỉ gặp trường hợp thiếu do thức
ăn bị sấy ở nhiệt độ cao làm vitamin B3 bị phân hủy Thiếu sẽ gây hiện tượng viêm da ở góc mắt và miệng, viêm nứt các ngón chân, rụng lông, sinh trưởng chậm, giảm sức kháng bệnh, gà đẻ giảm năng suất, tỷ lệ ấp nở giảm Vitamin B3 có nhiều trong các loại thức ăn hạt, nấm men, nghèo trong các loại củ quả Nhu cầu đối với gia cầm là 20 mg/kg thức ăn hỗn hợp
Vitamin B5 (PP) có vai trò quan trọng trong trao đổi năng lượng, protein
và cần cho tế bào cơ quan hô hấp Khi thiếu vitamin B5 làm các lóp biểu bì của da và niêm mạc đường tiêu hóa và hô hấp bị tổn thương, tỷ lệ ấp nở kém Nhu cầu B5 cho gà: gà con dưới 8 tuần tuổi 20-55 mg; gà đẻ 10-15 mg/kg thức ăn
Vitamin B6 (Pyridoxine) có vai trò tham gia decarboxyl hóa và preamin
hóa các axít amin, cần thiết cho sự chuyển hóa protid thành mỡ, cho tiếp thu các axít béo chưa no Thiếu vitamin B6 sẽ dẫn đến tình trạng giảm tính thèm
ăn, ăn ít, chậm lớn, gây thiếu máu Nhu cầu đối với gà thịt là 4,5 mg/kg thức
ăn, gà đẻ là 3,5 mg/kg thức ăn, khi tỷ lệ protein trong thức ăn tăng thì nhu cầu vitamin B6 cũng tăng lên
Vitamin B9 (Folacin) có nhiều trong các loại thức ăn xanh và được vi
khuẩn đường ruột tổng hợp, chỉ thiếu khi thức ăn nấu ở nhiệt độ cao hoặc gà bị bệnh đường ruột Khi thiếu sẽ gây thiếu máu, số lượng hồng cầu giảm, gà con giảm tăng trọng, còi cọc, xuất hiện sự rối loạn sắc tố như trên lông đen, vàng
có những đốm trắng Gà sinh sản cho trứng tỷ lệ ấp nở thấp Nhu cầu vitamin B9 cho gà: gà con là 1 mg/kg thức ăn, gà đẻ là 0,7 mg/kg thức ăn
Vitamin B12 (Cyanocobalamin) có vai trò trong tạo máu, kích thích tăng
trưởng, cần cho tổng hợp methionine Khi thiếu B12 gây hiện tượng thiếu máu, giảm tăng trọng, sức kháng bệnh kém, gà đẻ giảm tỉ lệ ấp nở, phôi chết nhiều Nhu cầu vitamin B12 cho gà: gà con dưới 8 tuần tuổi 12-20 mg; gà mái
đẻ 10-15 mg/kg thức ăn
Vitamin C tham gia quá trình hô hấp tế bào, tăng cường các phản ứng
oxy hóa khử, kích thích sự sinh trưởng và đổi mới tổ chức tế bào, tăng cường
Trang 20cơ thể, chống stress, tạo điều kiện gia tăng năng suất và phẩm chất trứng, tinh trùng, có tính chất chống oxy hóa trong cơ thể Vitamin C được tổng hợp trong
cơ thể nhưng trong những trường hợp gia cầm bị bệnh hoặc trong tình trạng stress thì nên cung cấp vitamin C qua thức ăn hoặc nước uống cho gia cầm với liều 100-500 mg/kg thức ăn Khi thời tiết nóng, chủng ngừa, cân gà hoặc đàn
gà bị bệnh truyền nhiễm thì dùng vitamin C liều cao giúp cho đàn gà mau chóng ổn định và vượt qua những yếu tố bất lợi Nhu cầu vitamin C cho gà: gà con 500 mg; gà đẻ 30-60 mg/kg thức ăn Trời nắng bổ sung thêm 59-100
2.2.5 Nhu cầu chất khoáng
Nguyên tố khoáng, đến nay người ta đã phát hiện được 14 nguyên tố khoáng cần thiết cho gia cầm cầm là Ca, P, Na, K, Mg, Cl, I, Fe, Mn, S, Cu, ,
Zn, Se và Coban Coban cần có chỉ như một thành phần của vitamin B12, vì gia cầm không thể tổng hợp vitamin B12 từ nguồn coban Kể cả chức năng sinh lý trong cơ thể của mỗi nguyên tố Các nguyên tố khoáng tham gia cấu tạo nên toàn bộ bộ xương, cấu tạo tế bào dưới dạng muối của chúng (Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận, 2001) Ca, P, Na, Mg, Cl là khoáng được bổ sung chủ yếu vì chúng phải có trong khẩu phần với những lượng tương đối lớn (đa lượng) Những khoáng còn lại chỉ được bổ sung với lượng rất nhỏ, thường được tính bằng milligram hoặc ppm (phần triệu) trong 1 kg thức ăn Tuy được yêu cầu ở mức vi lượng, nhưng thiếu một loại khoáng nào trong khẩu phần
Trang 21đều có thể gây ra bất lợi đối với vật nuôi cũng như thiếu một trong các khoáng
đa lượng (Bùi Xuân Mến, 2007)
Trong cơ thể các nguyên tố đa lượng bao gồm: Natri (Na), Kali (K), Clo (Cl), Canxi (Ca), Phospho (P), Lưu huỳnh (S), Magie (Mg)
Natri, Kali, Clo
Natri và kali là những kim loại kiềm có nhiều và quan trọng nhất trong
cơ thể Có ý nghĩa quan trọng trong thể dịch của cơ thể, là các chất điện giải Chúng tồn tại trong cơ thể dưới dạng hóa hợp với clorua, bicacbonat, một phần kết hợp với axit hữu cơ và protit Muối Kali có nhiều trong thức ăn thực vật, muối Natri có nhiều trong thức ăn động vật Cho nên thức ăn cho gia cầm
mà không có hoặc thiếu thức ăn động vật, cần phải bổ sung muối
Hàm lượng Kali được thấy chủ yếu bên trong tế bào có nhiều trong các
mô tuyến, mô thần kinh, mô xương, Natri được thấy chủ yếu trong các dịch ngoài tế bào như máu, bạc huyết và có nhiều trong huyết tương Đây là hai yếu
tố quan trọng việc duy trì axít-bazơ và sự cân bằng thể dịch trong các mô cơ thể
Clo trong cơ thể nó kết hợp với Natri (NaCl), đặc biệt ở dịch vị dạ dày,
nó là thành phần cấu tạo nên axít hydrochloric (HCl), làm tăng độ toan ở dịch
dạ dày, giúp tăng cường tiêu hóa protit Nếu có sự thiếu hụt nào của một trong các khoáng này đều làm cho gia cầm sinh trưởng kém, cơ thể mất nước và dẫn đến chết khi bị thiếu hụt trầm trọng
NaCl, KCl có trong huyết tương tạo nên áp suất thẩm thấu của máu NaHCO3 bảo đảm lượng kiềm dự trữ của máu, giữ độ toan kiềm của máu Natri và Kali tham gia vào hệ đệm của máu có natri như H2CO3, NaHCO3, NaH2PO4, Na2HPO4 hệ đệm trong hồng cầu có kali như HHb, KHb, HhbO2 KhbO2 H- protit, K- protit
Nari và Kali ở trạng thái ion trao đổi qua lại màng tế bào tạo nên điện thế màng yên tĩnh và hoạt động, là nguyên nhân tạo nên xung điện thần kinh chạy trong cơ thể
Tỷ lệ ion Na+
, K+ trên Ca++ thích hợp đảm bảo hoạt động co bóp cơ tim bình thường K+ làm giảm nhịp đập của tim và sức co bóp của tim nếu tăng, còn Ca++ làm tăng nhịp đậm và sức co bóp của tim
Khẩu phần cân đối của Natri, Kali, và Clo là yếu tố quyết định quan trọng của sự cân bằng acid−base trong cơ thể gia cầm (NRC,1994) Các cation
và anion khác như Canxi, Sunphate, Phosphate cũng có thể tham gia vào sự cân bằng acid−base Các thức ăn cân bằng các chất điện phân thường được đánh giá theo các mức độ của Natri và Kali so với Clo được thể hiện trong đương lượng/kg thức ăn
Trang 22Cung cấp muối cho gà con không quá 0,4%, gà lớn và gà đẻ không quá 0,5% muối trong khẩu phần
Canxi (Ca)
Trong vỏ của một trứng lớn chứa khoảng 2 gam canxi ở dạng carbonate canxi Vì vậy, nhu cầu canxi đối với những mái đang đẻ trứng cao hơn nhiều
so với các loại vật nuôi khác Thiếu canxi trong khẩu phần làm cho mái đẻ
trứng có vỏ mỏng, xốp và sẽ ngưng sản xuất trứng (Bùi Xuân Mến, 2007)
Trong cơ thể gà chủ yếu là phosphat canxi và carbonat canxi Bộ xương
có thành phần chính là canxi, trong vỏ trứng 98% là carbonat canxi Canxi cần cho sự điều hoà tính thẩm thấu của màng tế bào, cho sự đông máu, cho co bóp của tim, cho hoạt động của thần kinh Canxi hấp thu phần lớn đảm bảo cho hoạt động bình thường của sinh lý cơ thể, số dư dự trữ ở xương khoảng 20%, còn lại thải ra ngoài Canxi tích luỹ ở xương khi cần thiết lấy ra từ xương Yêu cầu canxi tăng lên gấp 3−4 lần khi gà đẻ sản xuất trứng Trước khi đẻ 4 tuần
canxi chỉ cần 2,5%, trong giai đoạn gà con 1− 1,2%
Trong thức ăn gà, tỷ lệ canxi/phospho phải được cân đối ở gà con 2/1, ở
gà đẻ 9/1 Cung cấp Ca cho gia cầm tùy thuộc vào lứa tuổi, tính năng sản xuất của gia cầm, phụ thuộc vào thời tiết, vào hàm lượng phospho
Nhu cầu trong thức ăn gà con 1−1,2%, gà dò 0,9−1,0%, gà đẻ 3,5−3,8% (2,7% lúc gà ở tiền thời kỳ đẻ 20−25 tuần tuổi) Mùa hè và tuổi đẻ sau 54 tuần đối với gà mái cần 3,8−4,0% Thiếu canxi trong thức ăn gà bị co giật, run rẩy, còi xương, gà đẻ vẹo xương lưỡi hái, đẻ trứng non, vỏ trứng mỏng, dẫn đến ngừng đẻ Thức ăn thực vật rất ít canxi 0,1−0,3% Bột đá, bột vỏ sò 35−38% canxi bột xương, dicanxi phosphat 25−28% canxi, bột cá 5−7% canxi Gà nuôi chăn thả tự tìm sỏi đá ở sân vườn là nguồn khoáng, nhưng cần để sẳn máng đựng các chất khoáng cho gia cầm
Một khẩu phần dư thừa canxi gây trở ngại cho tính hữu dụng của các khoáng chất khác, chẳng hạn như phospho, magie, mangan, kẽm Tỉ lệ 2 canxi với 1 nonphytate phosphorus (% khối lượng) là thích hợp nhất trong thức ăn của gia cầm, và ngoại lệ trong thức ăn của gà đang đẻ trứng Khi gia cầm đang
đẻ trứng, một mức độ cao nhu cầu canxi cần thiết cho sự hình thành vỏ trứng,
tỉ lệ cao nhất là 12 canxi với 1 nonphytate phosphorus (% khối lượng) Nhưng mức độ cao của calcium carbonate (đá vôi) và calcium phosphate có thể làm cho thức ăn không ngon miệng và pha loãng các thành phần dưỡng chất khác Nếu một nguồn canxi có chứa mức độ cao của magie (cũng như đá vôi đolomitic) thì nó có thể không được sử dụng trong thức ăn gia cầm (NRC, 1994)
Phospho (P)
Trang 23Thành phần cấu tạo xương, giữ cân bằng độ toan, kiềm trong máu và các
tổ chức của cơ thể, có vai trò trong trao đổi hydratcarbon, axit amin, lipid, trong hoạt động thần kinh Sự trao đổi phospho gần với trao đổi canxi và kali trong cơ thể Lượng phospho ở gà con khoảng 0,4−0,6%, ở gà lớn 0,7−0,9% khối lượng cơ thể Phospho thiếu trong thức ăn làm cho gà ít thèm ăn, gây còi xương, xốp xương, gà trống kém nhảy mái, gà mái đẻ trứng giảm sản lượng trứng, giảm chất lượng vỏ trứng như vỏ mỏng, dễ vỡ, vỏ sần sùi hoặc thiếu vỏ Nguồn phospho của dicanxiphosphat là 18%, bột cá 3,5−4%, bột xương 9−10% phospho hấp thu Phospho từ nguồn thức ăn thực vật hấp thu 30 – 35%, còn ở dạng không hấp thu được là phosphophytin Phospho từ nguồn động vật, dicanxiphosphat tỷ lệ hấp thu cao 95−100% Hàm lượng phospho trong thức ăn gà con trên 0,5%, gà đẻ 0,45−0,5%
Phospho ngoài chức năng trong việc hình thành xương thì cần thiết trong việc sử dụng năng lượng và trong các thành phần cấu trúc của các tế bào Ví
dụ về các hợp chất có chứa phospho là adenosine 5'−triphosphate (ATP) và phospholipid Những hình thức của phosphor trong thức ăn có thể được gia cầm tiêu hóa nhưng chỉ vào khoảng 30 đến 40% của tổng số phospho Các phospho còn lại ở dạng như phospho phytate và khó tiêu hóa Chỉ có khoảng 10% của phospho phytate trong ngô và lúa mì được tiêu hóa ở gia cầm (Nelson, 1976)
Magie (Mg)
Ca, P và Mg có mối liên hệ mật thiết với nhau đều tham gia cấu tạo xương, trao đổi glucid, Mg có tỷ lệ 0,05% khối lượng sống của gà, trong đó 50% trong xương, 40% trong mô cơ, tồn tại chủ yếu trong tế bào Thiếu Mg làm giảm hấp thu Ca và P, làm giảm tốc độ sinh trưởng, không điều chỉnh được hoạt động cơ bắp, từ đó dẫn đến chết, gà giảm đẻ Nhu cầu Mg 550 mg/kg thức ăn cho gà ở các lứa tuổi
Lưu huỳnh (S)
Trong cơ thể gia cầm lưu huỳnh ở dạng muối sunphat và không lớn lắm Phần lớn lưu huỳnh ở dạng hữu cơ trong thành phần một số axit amin chứa lưu huỳnh như cystine, methionine, thiamine.Lưu huỳnh tham gia vào thành phần các axit amin có chứa lưu huỳnh như methionine, cystine…để tạo nên lông, móng Vì vậy, gia cầm rất cần S để tạo lông Lưu huỳnh cần thiết cho trao đổi protein, cần thiết cho sản xuất hormon
Ở gia cầm thường khó nhận biết khi thiếu lưu huỳnh, vì khi trao đổi một số axit amin như methionine, cystine sẽ giải phóng S Nhưng khi dùng liều cao thuốc cầu trùng sẽ gây thiếu S và từ đó ảnh hưởng đến trao đổi phospho, kết quả gây bệnh còi xương Lưu huỳnh chứa nhiều trong thức ăn có
Trang 24nguồn gốc từ động vật như bột cá, bột xương thịt, bột lông vũ và dạng muối sunphat tổng hợp
Các nguyên tố vi lượng gồm 7 nguyên tố được tiêu chuẩn hoá trong
thành phần dinh dưỡng khẩu phần thức ăn gia cầm: Sắt (Fe), Đồng (Cu),
Mangan (Mn), Coban (Co), Selen (Se), Kẽm (Zn), Iod (I)
Sắt (Fe)
Fe là thành phần của hemoglobin, một chất chuyên chở oxy trong máu và cũng là thành phần của các hợp chất liên quan có trong cơ thể và trong các hệ enzyme Thiếu sắt trong cơ thể gây ra chứng thiếu máu Sắt cũng thiết yếu cho
sự hình thành sắc tố lông ở những giống gia cầm cóp lông màu đỏ
Fe được hấp thu chủ yếu ở đường tiêu hóa dưới dạng vô cơ, nhưng phần lớn dưới dạng hỗn hợp hữu cơ Ở dạ dày nhờ HCl, Fe hữu cơ được tách ra thành Fe có hóa trị 3 Sau đó Fe+++ được khử bởi các chất khử như vitamin C, axit folic thành Fe++ dễ hấp thu Khoảng 80% Fe được chuyển vào tủy đỏ xương để tạo thành hemoglobin của hồng cầu, còn 20% được chuyển đến các
“kho” dự trữ như gan, lách, thận để dự trữ dưới dạng hợp chất feritin (Fe+++ dự trữ)
Fe tham gia cấu tạo cơ, da, lông, hồng cầu, tạo các axit amin chứa lưu huỳnh, các axit béo, vitamin…Thức ăn gà thiếu sắt gây bệnh thiếu máu, mỏ, chân gà con nhợt nhạt, gà mái tái mào, xù lông, giảm đẻ Nhu cầu sắt trong thức ăn gà con 88 mg/kg thức ăn, trên 3 tuần tuổi 108mg/kg thức ăn
Đồng (Cu)
Đồng có trong tất cả các cơ quan của cơ thể động vật, nhiều nhất ở gan
Cu từ CuS hấp thu tốt hơn từ CuSO4; CuO; CuCO3; phần lớn Cu có trong chất hữu cơ của các loại thức ăn, ở dạ dày Cu được HCl tách ra khỏi các hợp chất đó để dễ dàng hấp thụ Cu làm tăng hấp thu sắt cho tạo hemoglobin của hồng cầu, vì thế bổ sung sắt vào thức ăn đồng thời bổ sung đủ Cu Đồng tham gia tạo sắc tố đen melanin, tạo các enzym oxy hoá, vì thế có quan hệ đến quá trình hô hấp của mô bào Đồng trong thức ăn thiếu sẽ làm giảm hấp thu sắt, gây rối loạn về xương, lông biến màu, da nhợt nhạt chậm lớn, rụng lông, trứng
vỏ mỏng và không bóng mịn Nhu cầu Cu là 11 mg/kg thức ăn cho các loại gà
Coban (Co)
Coban được hấp thu qua niêm mạc ruột, nó được dự trữ trong gan, lách, thận, tuyến tụy Coban là yếu tố quan trọng cho tạo vitamin B12 cho nên Coban có vai trò kích thích tạo máu, trong trao đổi chất và tăng trưởng của gà Coban thiếu trong thức ăn làm thiếu vitamin B12 giảm đồng hoá hydratcarbon, protein, giảm thèm ăn của gà, giảm trao đổi năng lượng Đối với gia cầm trưởng thành, vitamin B12 được tổng hợp ở manh tràng, vì vậy cần cung cấp
Trang 25đủ yêu cầu Co cho chúng Coban có nhiều trong nguồn thức ăn động vật hơn nguồn thực vật CoSO4; CoCl2.6H2O chứa hàm lượng Co cao
Mangan (Mn)
Mn được hấp thu chủ yếu ở ruột non nhất là tá tràng Ở gia cầm hấp thu
Mn kém chỉ 15% đối với gia cầm non và 0,5%−5% gia cầm già Mn được phân bố vào các cơ quan và mô bào khắp cơ thể, lông, gan là nơi dự trữ Mn quan trọng, từ gan Mn đi vào mật xuống ruột vào máu và từ máu đến xương
và những cơ quan khác nhau, nhất là mô cơ vân, buồng trứng, tinh hoàn
Ảnh hưởng đến chuyển hoá Canxi và Phospho, cần cho phát triển xương, tạo vỏ trứng, cần cho trao đổi protein và axit amin…Mn ảnh hưởng đến tính dục của gà và gia cầm khác Mangan thiếu trong thức ăn gây bệnh vẹo xương (perosis)−đặc biệt là vẹo cổ, giảm men phosphataza trong máu và xương, ảnh hưởng đến cốt hoá xương, các khớp sưng, trứng vỏ mỏng gây dập vỡ nhiều, đẻ giảm, tỷ lệ chết phôi tăng, tỷ lệ nở giảm, gà con chân yếu Mangan có ở các dạng muối mangan (MnSO4, MnCO3, MnCl2) và các nguồn thức ăn khác Nhu cầu Mn 55 mg/kg thức ăn cho gà các lứa tuổi
da, làm da kém đàn hồi (cứng da) Gà mất tính thèm ăn Gây rối loạn trao đổi đường, do sự biến đổi hoạt tính của men glutation−insulin−transhydrogenaza Men này lại được hoạt hóa bằng Zn, tham gia vào sự phân giải insulin Kẽm
có trong bột cá (0.1 ppm/kg), hợp chất vô cơ ZnO và ZnSO4 Kẽm độc nên không cho gà ăn quá liều, gà con dưới 4 tuần tuổi 44 mg/kg thức ăn, sau 4 tuần tuổi là 33 mg/kg
Selen (Se)
Có vai trò trong trao đổi và hấp thu vitamin E, phòng bệnh ỉa chảy Thiếu
Se sẽ dẫn đến tạng bị rỉ dịch, tụy tạng bị thoái hóa ở gà con, giảm tốc độ sinh trưởng, giảm tỷ lệ đẻ, tỷ lệ phôi, ấp nở kém, gà trống đạp mái kém, kiềm chế
sử dụng vitamin E và cũng gây ra sự loạn dưỡng ở cơ mề và cơ tim của gà tây
(Bùi Xuân Mến, 2007) Se có nhiều trong thức ăn men, bột cá và hợp chất vô
cơ Nhu cầu selen cho gà con, gà dò 0.1−0.15, gà đẻ 0.15mg/kg thức ăn
Iod (I)
Trang 26Iod sau khi được hấp thu qua màng ruột, nó nhanh chóng đi vào khoảng không gian bào, rồi tập trung lượng khá lớn 90% vào tuyến giáp trạng, một phần nhỏ vào thận, gan, tim Ở tuyến giáp song song với quá trình dung nạp iod, có sự oxy hóa iod vô cơ thành iod hữu cơ để nhanh chóng kết hợp với tyrozin tạo thành hoocmon tyroxin của tuyến giáp Hoocmon tuyến giáp có tác dụng điều hòa sinh trưởng
Duy trì chức năng của tuyến giáp trạng bằng sự tham gia sản sinh hormone thyroxine điều hoà sinh trưởng, sinh sản và trao đổi chất trong cơ thể
gà Iod thiếu trong thức ăn gây bệnh bướu cổ, phôi kém, nở thấp Nhu cần Iod cho gà con 0.37, gà đẻ 0.15 mg/kg thức ăn Iod có nhiều trong bột cá và dạng
tổng hợp hóa học chất vô cơ KI (Ioduakali)
Theo Vũ Duy Giảng (1997), chất khoáng quan trọng cho gà đẻ là Ca, P
Gà mái có tốc độ chuyển hóa Ca rất cao Ngoài Ca, P cần cung cấp cho gà mái
đẻ đủ Na, Cl, K, Fe, Cu, Zn, Mn, Mg, I, Se và Co
Theo Trịnh Quang Khuê, Nguyễn Văn Vinh (2011) thì nhu cầu khoáng của gia cầm được trình bày qua Bảng 2.4
Bảng 2.4: Nhu cầu các nguyên tố khoáng ở các loại gà:
(Nguồn: Trịnh Quang Khuê, Nguyễn Văn Vinh, 2011)
Nhu cầu về khoáng chất thường được thực hiện bởi nồng độ hiện diện trong thành phần thức ăn thông thường Các loại đất khác nhau chứa khoáng chất khác nhau Do đó, thức ăn chăn nuôi trồng ở một số khu vực địa lý có thể được nhiều hoặc thiếu các khoáng chất cụ thể Vì vậy, khẩu phần ăn của gia cầm cần được bổ sung để đảm bảo đủ lượng khoáng chất Các mối tương tác xảy ra giữa các khoáng chất như Selen và Thủy ngân, Canxi và Kẽm, Canxi và Mangan (Mertz, 1986) khi nồng độ quá mức của một trong những khoáng chất
có thể dẫn đến giảm tính hữu dụng của các yếu tố khác Người thiết lập khẩu phần ăn gia cầm cần phải nhận thức được những tương tác này và hình thức hóa học (sự kết hợp cation−anion) của các nguồn khoáng chất (Allaway,
Trang 271986) Các muối khoáng được sử dụng như chất bổ sung trong thức ăn thường không chứa các hợp chất tinh khiết nhưng có thể chứa khoáng chất khác
2.2.6 Vai trò của nước
Sự sống xuất hiện đầu tiên ở trong môi trường nước vì vậy, nước đồng nghĩa với cuộc sống sinh vật Đó là phần lớn nhất của vật thể sống Nước tuy không phải là nguồn năng lượng của động vật, nhưng nó giữ vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình trao đổi chất của con vật Cơ thể sống phải thường xuyên thu nhận nước và đào thải nước Theo Rubner, con vật đã thấy khó sông, nếu mất 10% nước trong cơ thể và có thể chết khi mất tới 20% lượng nước cơ thể (Tôn Thất Sơn, 2005) Ở nhiệt độ 220C gà cần nước gấp 1,5-2 lần lượng thức ăn, nhưng ở nhiệt độ 350C thì gấp đến 4,7-5 lần (Lê Hồng
Mận,1999)(Bảng 2.5)
Bảng 2.5: Nhu cầu nước của gà đẻ theo nhiệt độ
(Nguồn: Lê Văn Năm, 2004)
Phương pháp cung cấp nước tốt nhất cho gà là cho chúng tiếp xúc trực tiếp với nguồn nước để chúng được uống thỏa thích Tuy nhiên cần đảm bảo các chỉ tiêu vệ sinh nước uống, nồng độ chất hòa tan không vượt quá 15 g/1 lít Nước tốt chứa 2,5 g chất hòa tan/1 lít NaCl không vượt quá 10 g/1 lít, muối sunfat không quá m1 g/1 lít, muối natri tối đa 50-100 ppm Không cho vật uống nước có chứa các tác nhân gây bệnh ký sinh trùng, truyền nhiễm hoặc các chất độc hại (Vũ Duy Giảng, 1997)
Chất lượng nước ảnh hưởng đến sự tiêu thụ thức ăn, nếu chất lượng nước giảm, sự tiêu thụ nước giảm kéo theo sự tiêu thụ thức ăn giảm và con vật bị
giảm năng suất (Lưu Hữu Mãnh và ctv, 1999)
Nước cần cho việc phân tích protein, lipid và glucid trong ống tiêu hóa Nước vận chuyển các chất khoáng, các vitamin tan trong nước, các sản phẩm phân hủy khác trong ống tiêu hóa Nước là môi trường cần thiết cho quá trình lên men của trao đổi chất trong cơ thể cũng như đối với sự thẩm thấu và
khuếch tán các chất (Melekhin et al, 1997) Nước chính là dung môi hòa tan
các chất dinh dưỡng, đồng thời vận chuyển các chất dinh dưỡng đến các tổ chức và mang các chát cặn bã về cơ quan bài tiết để thải ra ngoài (Tôn Thất Sơn, 2005)
Nguyên nhân hàng đầu làm con vật chết khát chính là vì cơ thể chúng
Trang 28để thải ra ngoài, khiến chúng ứ đọng gây nhiễm độc Nếu ngưng cung cấp nước cho gà mái đẻ trong 24 giờ thì tỷ lệ đẻ trứng giảm 30%, 3 ngày không có nước thì gà mái đẻ sẽ rụng lông và ngừng đẻ Gà 42 tuần tuổi có tỷ lệ nước là 50%; tỷ lệ nước trong trứng là 65% Đối với gà mái đẻ trứng lượng nước cần thiết để hình thành 1 quả trứng là 35g Nhu cầu nước cho gà mái đẻ có tỷ lệ 50%, 70% và 90% tương ứng là 204g, 231g và 257g/con/ngày (Tôn Thất Sơn, 2005)
2.3 Các chỉ tiêu năng suất chất lượng trứng
Khi nuôi gà đẻ thuộc giống chuyên trứng thì việc quan tâm đến tỉ lệ đẻ không chưa đủ, bên cạnh đó ta cần quan tâm đến chất lượng trứng Để đánh giá chất lượng trứng người ta thường dùng các chỉ tiêu bên ngoài như màu sắc
vỏ trứng, khối lượng trứng chỉ số hình dáng, độ dày vỏ và độ bền vỏ trứng Chỉ số bên trong đó là tỉ lệ các thành phần cấu tạo trứng, chỉ số lòng trắng trứng, chỉ số lòng đỏ trứng, độ đậm của lòng đỏ, đơn vị Haugh
Khối lượng trứng không những là một trong những chỉ tiêu quan trọng
để đánh giá chất lượng trứng mà còn là một đánh giá chỉ tiêu sản lượng trứng Sản lượng trứng giống nhau nhưng khối lượng trứng khác nhau thì tổng khối lượng trứng rất khác nhau, do đó ảnh hưởng đến thu nhập, sản lượng và giá cả khối lượng trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: loài giống, hướng sản xuất,
cá thể, chế độ dinh dưỡng, tuổi gà mái, khối lượng gà mái (Nguyễn Thị Mai et
al., 2009)
Hình dáng trứng được đánh giá qua chỉ số hình dáng (CSHD) trứng CSHD trứng (I) là tỉ lệ giữa đường kính lớn D (chiều dài) và đường kính nhỏ d (chiều rộng) của trứng
Đo đường kính lớn (D) và đường kính nhỏ (d) của trứng bằng thước kẹp CSHD của trứng liên quan mật thiết đến tỉ lệ ấp nở Trứng bình thường có tỉ lệ
ấp nở cao, trứng quá dài hoặc quá tròn có tỉ lệ nở thấp Trứng có CSHD 71 –
76 % là trứng chuẩn, tốt (Bùi Hữu Đoàn, 2009)
Độ dày vỏ trứng có ý nghĩa qua trọng cả về kĩ thuật và kinh tế Nó liên quan đến tỉ lệ dập vỡ trong quá trình thao tác đóng gói, ấp trứng, vận chuyển
và ảnh hưởng đến tỉ lệ ấp nở Độ dày vỏ trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng quan trọng nhất là hàm lượng Ca, P và vitamin D trong khẩu phần Hệ
số di truyền về độ dày vỏ trứng ở mức thấp 0,15 – 0,3 Độ dày vỏ của trứng gà phải lớn hơn 0,32 mm và độ bền trung bình từ 3 – 5 kg/cm2 (Nguyễn Đức Hưng, 2006)
Màu sắc vỏ trứng được quyết định bởi yếu tố di truyền mạnh hơn là dinh dưỡng Ngược lại độ đạm nhạt của lòng đỏ là do sắc tố trong thức ăn quyết định Để thay đổi màu của vỏ trứng phải thông qua việc tạo ra các tổ hợp gen
Trang 29mới, còn để thay đổi màu lòng đỏ trứng chỉ cần thay đổi thành phần khẩu phần
ăn Xu hướng chung hiện nay là tạo ra gia cầm lai đẻ trứng có vỏ màu (nâu, hồng, nâu xẫm…) thay cho trứng vỏ trắng Ở Anh 100% gà đẻ trứng thương phẩm là vỏ màu, ở Pháp 85%, Đức 80% Vỏ trứng màu thường gắn với bộ lông màu và thương di truyền liên kết với giới tính Màu sắc trứng tương đương với giống, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng là màu nâu (Nguyễn Đức Hưng, 2006) Màu lòng đỏ được so màu bằng quạt so màu Roche
Chỉ số lòng đỏ trứng: Chỉ số lòng đỏ là tỉ số giữa chiều cao lòng đỏ và đường trung bình của lòng đỏ Chỉ số lòng đỏ trứng biểu hiện trạng thái và chất lượng của lòng đỏ, chỉ số này càng cao trứng càng tốt, trứng gia cầm tươi chỉ số này là 0,4 – 0,5 Chỉ số này thay đổi phụ thuộc vào đặc điểm loài,
giống, cá thể, nó giảm dần theo thời gian bảo quản trứng (Nguyễn Thị Mai et
al., 2009)
Chỉ số lòng trắng trứng: Chỉ số lòng trắng trứng là mối quan hệ giữa chiều cao lòng trắng đặc và trung bình giữa đường kính lớn và đường kính nhỏ của lòng trắng đặc Chỉ số này ở trứng tươi là 0,08 – 0,09 Chỉ số này càng cao thì phẩm chất trứng càng tốt Chỉ số này khác nhau tùy theo loài, giống và cá
thể (Nguyễn Thị Mai et al., 2009)
Đơn vị Haugh (Chỉ số Haugh – Haugh Unit) Chỉ số này càng cao thì phẩm chất càng tốt Thực nghiệm cho biết, những quả trứng chênh lệch nhau dưới 8 đơn vị Haugh thì có chất lượng trứng tương đương nhau (Nguyễn Thị
Một số yếu tố làm ảnh hưởng đến năng suất chất lượng quả trứng
Ca trong thức ăn: Canxi được hấp thụ vào những giờ buổi sáng, sau đó tăng lên trong suốt 4 giờ trước khi mặt trời lặn Gà đẻ rộ vào 10−11 giờ sáng
Sự hình thành vỏ trứng vào 4−5 giờ sáng Nếu thiếu canxi gà sẽ ăn nhiều thức
ăn để bù vào sự thiếu hụt đó Nếu Ca ở dạng bột hoàn toàn sẽ làm giảm tiêu thụ thức ăn dẫn đến mất căn bằng dinh dưỡng làm giảm năng suất và vỏ trứng mỏng Nên cho ăn Ca ở dạng mảnh, cục (sỏi hoặc vỏ sò) (Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận, 1999)
Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1999), đối với gà đẻ trứng có khả năng chịu được khí hậu lạnh 15
Trang 30trứng, nếu nhiệt độ môi trường dưới 150C hoặc trên 300C ảnh hưởng lớn đến sức đẻ trứng và khối lượng trứng, tỷ lệ hao hụt tăng
Ngoài ra theo Nguyễn Xuân Bình (2000), có nhiều nguyên nhân làm giảm tỷ lệ đẻ trứng: khẩu phần thức ăn thiếu đạm, thiếu Ca, P, Vitamin D, stress nhiệt…
Bảng 2.6: Tiêu chuẩn phân loại chất lượng trứng
Sạch đến hơi
dơ, không bề,
có thể hơi bất thường
Sạch đến dơ trung bình, không
bể, có thể không bình thường
có bóng khí
Chiều cao buồng khí dưới 0,95m, có thể thấy di chuyển không giới hạn, không hay có bóng khí
Chiều cao buồng khí dưới 0,95cm,
có thể thấy di chuyển không giới hạn, không hay có bóng khí
HU 60 - 72
Trong, có thể hơi loãng, HU
31 - 60
Có thể loãng và nhiều nước, có thể có đốm máu, HU<31
Hình dạng xác định khá rõ, có thể hơi rộng và phẳng, cũng có thể thấy rõ nhưng không
có khuyết tật trầm trọng
Những có thể: hình dạng thấy
rõ, rộng và phẳng, thấy phôi phát triển nhưng không máu, có khuyết tật trầm trọng
(Bùi Xuân Mến, 2007)
2.4 Giới thiệu về cây Yucca schidigera và các ứng dụng
2.4.1 Giới thiệu về cây Yucca schidigera
2.4.1.1 Phân loại khoa học
Cây Yucca Schidigera thuộc giới: Plantae, (không phân hạng) Angiospermae, (không phân hạng) Monocot Bộ: Asparagales Họ: Asparagaceae Chi: Yucca Loài: Y schidigera Danh pháp hai phần là
Yucca schidigera (Roezl ex Ortgies, 1871)
Trang 31Hình 2.2 Cây Yucca Schidigera
(http://en.wikipedia.org/wiki/Yucca_schidigera)
2.4.1.2 Nguồn gốc và phân bố
Cây Yucca có tên khoa học Yucca schidigera, là loại cây thuộc
họ Agavaceae Cây Yucca còn được gọi là cây Mojave Yucca, vì nó là cây bản địa ở sa mạc Mojave và sa mạc Sonoran thuộc Đông Nam Califonia, ở Nam Nevada, Tây Arizona Nó cũng là loài bản địa ở Mexico, Yucca thường mọc ở những dốc sa mạc đá và miền sa mạc Creosote Chúng chịu đựng được sự nung nóng của mặt trời và không cần nước Cây Yucca là loài cây có hoa và
có thể cao đến 5m
2.4.1.3 Mô tả
Yucca schidigera là loài cây có hoa, phát triển cao đến 5m, cánh hoa nhiều dày đặc xếp xoắn ốc, những bông hoa có màu trắng, đôi khi có một chút màu tím, hình chuông, dài 3-5 cm (hiếm khi đến 7,5 cm), lá cây giống hình lưỡi lê có chiều dài 30-150 cm và chiều rộng 4-11 cm, vỏ cây có màu xám nâu được bao phủ bằng lá khô màu nâu
2.4.1.4 Đặc điểm sinh học
Môi trường sống của chúng là trên sườn núi sa mạc đá giữa độ cao 1.200m và có thể lên đến 2.500m Chúng là loài phát triển mạnh trong điều
Trang 32300-kiện ánh nắng mặt trời đầy đủ và nền đất thoát nước tốt Nó cũng không cần
nước vào mùa hè và có quan hệ gần gũi với loài Yucca baccata
2.4.1.5 Thành phần dinh dưỡng
Trong cây Yucca có hợp chất saponin rất đặc biệt, saponin khi thủy phân cho glycon (gốc đường, bao gồm glucose, arabinose, xylose và axít glucoronic) và aglycon (gốc sapogenin, bao gồm saponin trung tính và saponin
axít) (Sapa et al, 2009) Phân tử saponine có hai thành phần chính, steroid tan
trong dầu và một hoặc nhiều carbohydrate mạch nhánh tan trong nước
Hợp chất saponin đang có trên thị trường hiện nay chủ yếu lấy từ cây
Yucca (Yucca schidigera) Để thu hoạch saponin của cây Yucca, người ta đem
thân cây ngâm nước hoặc sấy khô Nếu làm theo kỹ thuật sấy khô thì thân cây sau khi sấy đem nghiền thành bột, đó là bột saponin yucca Nếu làm theo kỹ thuật ngâm nước thì thân cây sau khi ngâm nước được ép lấy dịch, đó là “dịch chiết yucca” (thực chất là dịch ép bằng cơ giới chứ không phải là dịch chiết bằng dung môi)
Bột hay dịch chiết của cây Yucca không phải chỉ có saponin mà còn có những hóa thực vật khác, đó là oligosaccharide, phenol, stilbene, resveratrol
có vai trò là các chất chống oxy hóa (resveratrol cũng rất giàu trong nho và là một chất chống oxy hóa mạnh, rất tốt đối với việc ngăn ngừa các bệnh tim
mạch và ung thư) (Vũ Duy Giảng, 2010)
2.4.2 Vai trò của cây Yucca schidigera
Với các hóa chất thực vật có trong cây, đặc biệt là saponin, bột hay dịch chiết của cây Yucca đã được dùng làm phụ gia thức ăn chăn nuôi với các vai trò: kiểm soát ammonia và mùi hôi của chất thải, điều chỉnh sự lên men dạ cỏ, kháng protozoa, tương tác giữa saponin với cholesterol, hoạt tính bề mặt và chức năng của ruột, nâng cao đáp ứng miễn dịch, cải thiện năng suất sinh sản, hạn chế tỷ lệ đẻ non
2.4.2.1 Vai trò kiểm soát ammonia và mùi hôi
Chiết chất saponin của Yucca bổ sung vào thức ăn cho gà hay lợn đã thấy giảm được ammonia và mùi hôi của chất thải trong chuồng nuôi Steroid tan trong dầu và một hoặc nhiều carbohydrate mạch nhánh tan trong nước tạo nên đặc tính của một chất tẩy thiên nhiên, hoạt chất bề mặt (surfactant) chiết xuất từ thân cây Yucca có tác dụng kết hợp với ammonia, làm giảm ammonia
tự do Khi thức ăn đi qua dạ dày, ammonia sẽ bị giữ lại bởi chất chiết xuất có trong thức ăn Chúng cũng có thể kết hợp với ammonia khi ở ngoài cơ thể động vật Chất chiết xuất Yucca ở dạng nước có khả năng kết hợp với các phân tử ammonia và chuyển đổi chúng sang dạng hợp chất nitrogen không độc khác Cơ chế làm giảm ammonia của chất chiết Yucca thì chưa được hiểu rõ
Trang 33nhưng có nhiều nghiên cứu cho rằng có liên quan đến thành phần carbohydrate
có trong mạch nhánh của phân tử saponin Ngoài ra, các hợp chất stilben (C14H12) có nhiều trong vỏ cây Yucca cũng có liên quan đến khả năng hấp thụ ammonia
2.4.2.2 Vai trò điều chỉnh sự lên men dạ cỏ
Saponin có khả năng kháng protozoa, cơ chế này được thực hiện do sự kết hợp của saponin với cholesterol trên màng protozoa, làm cho màng bị phá hủy, bị ly giải và tế bào protozoa bị chết Protozoa trong dạ cỏ ăn vi khuẩn để
sử dụng nguồn nitơ của vi khuẩn (một protozoa trong mỗi giờ có thể ăn
600-700 vi khuẩn) và phân giải protein vi khuẩn cho ra ammonia Nhờ saponin, protozoa bị tiêu diệt, khả năng ăn vi khuẩn giảm và từ đó cũng giảm được khả năng phân giải protein, giảm hàm lượng ammonia hình thành trong dạ cỏ
(Makkar et al, 1998; Wang et al, 1998)
2.4.2.3 Vai trò chống bệnh protozoa của saponin
Vai trò chống bệnh của protozoa của saponin đã được chứng minh đối với bệnh giardiasis, một bệnh đường ruột phổ biến của người và động vật trên
khắp thế giới gây ra bởi Giardia lamblia Bệnh lây qua đường thức ăn, nước
uống, triệu chứng điển hình của bệnh là tiêu chảy cấp hoặc mãn và giảm hấp thu, dẫn đến mệt mỏi, gầy yếu, giảm khả năng lao động Saponin yucca đã thấy có tác dụng tiêu diệt hiệu quả giardia tropozoite trong đường ruột
(McAllister et al, 1998)
2.4.2.4 Saponin và hệ thống miễn dịch
Saponin thì đặc biệt hiệu quả khi là tá dược của vaccine antiprotozoa, tá dược saponin trong vaccine này tạo cho vaccine có khả năng tấn công protozoa ở cả hai phía, cả trong trong đường ruột lẫn trong đường máu
Ngoài ra, saponin cũng được chứng minh là có khả năng tăng sự phân chia của tế bào miễn dịch, kích thích sự sản sinh cytokine, nhờ đó hoạt hóa được lympho B sản sinh kháng thể
2.4.2.5 Tiêu hóa mỡ
Saponin có ảnh hưởng tích cực đến sự tiêu hóa và hấp thu lipid bằng cách nhũ hóa mỡ và tạo micelle giúp niêm mạc ruột hấp thu dễ dàng hơn (Vũ Duy Giảng, 2010)
2.4.3 Các ứng dụng của cây Yucca schidigera trong chăn nuôi
Trong chăn nuôi thủy sản
Chất chiết xuất từ Yucca schidigera ở dạng bột là một trong những
nguyên liệu bổ sung trong thức ăn tôm nhằm quản lý và làm giảm mức độ ammonia và các hợp chất khác Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi bổ sung chất
Trang 34chiết xuất Yucca vào thức ăn, tôm tăng trưởng tốt hơn, giảm tỷ lệ chết Liều lượng sử dụng trong thức ăn thủy sản là bột chiết xuất Yucca (30% active), 60–130g/1 tấn thức ăn
Sử dụng làm chất xử lý nước
Ở trong nước biển, chất chiết xuất Yucca chứng tỏ là chất tự nhiên, an toàn và hiệu quả trong việc làm giảm hàm lượng ammonia trong hệ thống nuôi thủy hải sản Nghiên cứu cho thấy ammonia tổng cộng được giảm nhiều nhất trong vòng 12 giờ khi xử lý bằng chiết xuất Yucca ở liều lượng 72–108 mg/L trong hệ thống ương nuôi tôm sú Một số nghiên cứu cũng đã chứng minh hiệu quả xử lý ammonia của chất chiết xuất Yucca trong nước ngọt Hiệu quả giảm ammonia đạt cao nhất trong ao nuôi cá rô phi trong 12–24 giờ sau khi bổ sung chiết xuất Yucca
Yucca hấp thụ NH 3 trong ao nuôi thủy sản
Chất chiết xuất từ cây Yucca có khả năng hấp thụ amoniac (Wacharonke, 1994) Trong điều kiện thí nghiệm 1mg/L chất chiết xuất Yucca có thể giảm nồng độ amoniac 0,1-0,2 mg/L NH3 là khí độc đối với tôm cá Chất chiết xuất
từ cây Yucca có tác dụng hấp thụ NH3 trong nước nuôi thủy sản mặn và ngọt Tuy nhiên, saponin nồng độ cao sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt động hô hấp của đối tượng thủy sản, đặc biệt là cá Do vậy cần sử dụng saponin trong quá trình nuôi theo hướng dẫn của nhà sản xuất
Yucca hàm lượng thấp trong khẩu phần kích thích tăng trưởng đối tượng thủy sản
Hàm lượng saponin trong khẩu phần ăn cao sẽ tác động tiêu cực cho sinh
trưởng của cá Bureau et al (1998), thấy rằng tốc độ tăng trưởng của cá hồi chinook (Oncorhynchus tshawytscha) và cá hồi Vân (Oncorhynchus mykiss)
giảm khi khẩu phần ăn của chúng chiếm 0,3% (3000 ppm) yucca, nhưng không giảm tốc độ tăng trưởng khi khẩu phần ăn chiếm 0,15% (1500 ppm)
Trong chăn nuôi
Yucca giảm mùi hôi trong chuồng trại
Yucca hiện nay được sử dụng làm phụ gia thức ăn chăn nuôi và có tác dụng làm giảm mùi hôi của NH3 Cơ chế giải thích cho việc giảm NH3, một là chất chiết xuất của cây Yucca; thứ hai là do có tác dụng hạn chế sự phân giải urê thành NH3 Ngoài ra, thành phần carbohydrate có trong mạch nhánh của phân tử saponin có tác dụng làm giảm NH3 (Nguyễn Phú Hòa, 2008) Các nhà khoa học cho rằng đã có sự kết dính trực tiếp giữa các thành phần gây mùi của phân với một vài thành phần của chất chiết xuất từ cây yucca
Yucca điều chỉnh sự lên men dạ cỏ động vật nhai lại
Ở động vật nhai lại, saponin từ cây yucca, quillaia làm giảm nồng độ
Trang 35yêu của NH3 trong dạ cỏ do sự phân hủy protein của vi khuẩn dạ cỏ khi bị động vật nguyên sinh ăn Saponin có chức năng tiêu diệt động vật nguyên sinh, vì vậy thức ăn chứa saponin sẽ giảm được động vật nguyên sinh trong dạ
cỏ và do đó sẽ giảm được NH3 (Lu and Jorgensen, 1987; Wallace et al., 1994; Klita et al., 1996; Makkar et al., 1998; Wang et al., 1998) Giảm hàm lượng
NH3 dạ cỏ sẽ giảm hàm lượng NH3 máu từ đó loại bỏ được ảnh hưởng xấu đến
tỷ lệ thụ thai của bò hàm lượng NH3 trong máu cao thì làm tăng hàm lượng
NH3 trong ống sinh sản và tăng pH dịch tử cung, từ đó làm giảm sự vận động
và tỷ lệ sống của tinh trùng
Yucca phòng trị bệnh động vật nguyên sinh
Cơ chế chống bệnh nguyên sinh động vật của saponin là do sự kết hợp của nó với cholesterol trên màng động vật nguyên sinh, làm cho màng bị phá hủy và tế bào động vật nguyên sinh bị tiêu diệt Vai trò chống bệnh của động vật nguyên sinh của saponin đã được chứng minh đối với bệnh đường ruột phổ
biến của người và động vật trên khắp thế giới (Olson et al., 1995) Saponin
cũng đã thấy có hiệu quả rõ rệt trong việc khống chế bệnh viêm não tủy ở ngựa Cơ chế khống chế bệnh này của saponin Yucca là một mặt tiêu diệt bào
tử trong ruột mặt khác kích thích hệ miễn dịch của ngựa trong việc nâng cao năng lực chống lại động vật nguyên sinh thâm nhập vào các mô của cơ thể Saponin Yucca có tác dụng khống chế bệnh giun tròn ký sinh ở manh tràng gà mái đẻ Bột hỗn hợp của hai cây này đã làm giảm gần 23% số lượng trứng trong phân và loại bỏ gần 50% số giun tròn trong ruột
Yucca cải thiện hệ thống miễn dịch của thú nuôi
Yucca có vai trò tá dược nâng cao hiệu quả của vaccine tiêm và uống Ngoài ra, vai trò kích thích chức năng miễn dịch được chứng minh ở thí
nghiệm trên tôm cho nhiễm khuẩn Vibrio alginolyticus (một loại vi khuẩn gây
bệnh đỏ thân ở tôm) Nhiều thí nghiệm trên heo nái trước khi đẻ cho ăn khẩu phần bổ sung chiết chất hoặc bột từ cây yucca làm giảm rõ rệt tỷ lệ chết của heo con khi sinh Người ta nhận thấy rằng heo con sinh ra từ heo mẹ ăn khẩu phần bổ sung chiết chất yucca có hàm lượng oxy trong máu cao hơn, có lẽ đây
là lý do làm cho tỷ lệ chết của heo con khi sinh giảm đi (Cline et al., 1996)
Mức tiêu hóa thức ăn được cải thiện đáng kể khi cho gà ăn thức ăn chứa
yucca
Trang 36CHƯƠNG 3:
PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
3.1 Phương tiện thí nghiệm 3.1.1 Thời gian và địa điểm
Thời gian: từ ngày 04/08/2014 đến ngày 12/10/2014 Địa điểm: thí nghiệm được thực hiện tại trại gà 1 ấp Đồng Tâm, xã Tam Lập, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương (Hình 3.1)
Hình 3.1 Trại thí nghiệm
3.1.2 Động vật thí nghiệm
Động vật thí nghiệm là 160 con gà đẻ thương phẩm nuôi công nghiệp Hisex Brown ở giai đoạn đẻ ở 25 - 34 tuần tuổi Gà được tiêm phòng và tẩy ký sinh trùng đầy đủ (Bảng 3.2)
3.1.3 Chuồng trại
Điều kiện khí hậu: trại nuôi chịu ảnh hưởng của thời tiết miền đông nam
bộ mưa lớn và nắng gắt kéo dài
Hình 3.1 Trại thí nghiệm
Trang 37Trại bao gồm có 6 dãy chuồng được thiết kế theo hệ thống chuồng kín, theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, cách mặt lộ 500m Nền chuồng được tráng
xi măng và sát trùng bằng vôi , xung quanh xây tường bằng gạch cao 0,5 m, có
hệ thống bạt nhựa, chiều cao của bạt nhựa khoảng 1,5 m, có thể kéo lên xuống bằng hệ thống ròng rọc, gà được nuôi lồng kích thước mỗi ô chuồng 40x40x40 mỗi ô chuồng nuôi 4 con gà mái đẻ với 3 tầng lồng mỗi dãy tầng lồng thấp nhất cách mặt đất 30cm Một trại chứa 19600 con đầu dãy 139 ô chuồng cuối dãy 134 ô chuồng Mái chuồng lợp tole để giảm bớt âm thanh từ bên ngoài trại còn lợp bạt nhựa trên mái và được sát trùng bằng vôi.Hệ thống làm mát ở đầu trại, chuồng được lắp đặt 1 máy đo nhiệt tự động giữa dãy chuồng, khi nhiệt
độ môi trường nuôi tăng lên cao hơn 270C, hệ thống sẽ tự khởi động phun nước lên tấm làm mát (Hình 3.2) Hệ thống quạt hút (Hình 3.3) đặt ở cuối trại gồm 10 quạt trại chỉ sử dụng 9 quạt trong đó 5 quạt mở suốt ngày đêm, 4 quạt còn lại được cài tự động điều chỉnh theo nhiệt độ (Hình 3.4).Và 4 dãy đèn chiếu sáng 16/24 giờ từ 4 giờ sáng đến 9 giờ tối, bóng chữ U 15W, màu vàng nhẹ (Hình 3.5)
Hình 3.2 Tấm làm mát
Trang 38Hình 3.3 Hệ thống quạt
Hình 3.4 Hệ thống tự điều chỉnh
Trang 39Hình 3.5 Hệ thống đèn
Hệ thống máng ăn (Hình 3.6) được làm bằng nhựa cứng có màu trắng sữa, đặt phía trên cách máng hứng trứng 10cm, được phân bố song song với hệ thống núm uống (Hình 3.7) và máng hứng trứng (Hình 3.8) nằm trước cửa lồng Gà uống nước tự do bằng núm uống gắn vào ống nhựa, phía trước có bồn chứa nước (Hình 3.9), nước từ bồn chứa sẽ tự động chảy theo ống nhựa đến các núm uống Có bồn chứa nước sẽ giúp cho việc pha thuốc vào nước hay chủ động nguồn nước uống cho gà một cách dễ dàng hơn
Trang 40Hình 3.6 Hệ thống máng ăn
Hình 3.7 Hệ thống núm uống