Là một dạng probiotic, chế phẩm men vi sinh Bactozyme có tác dụng bổ sung các vi sinh vật hữu ích giúp cho vật nuôi tăng trọng nhanh, phòng ngừa một số bệnh về đường ruột đang là một tro
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGÔ THỊ KIM NGÂN
SO SÁNH HIỆU QUẢ BỔ SUNG CHẾ PHẨM
MEN VI SINH BACTOZYME TRÊN
GÀ THỊT GIỐNG NÒI LAI
(5-12 TUẦN TUỔI)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH CHĂN NUÔI THÖ Y
2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGÔ THỊ KIM NGÂN
SO SÁNH HIỆU QUẢ BỔ SUNG CHẾ PHẨM
MEN VI SINH BACTOZYME TRÊN
GÀ THỊT GIỐNG NÕI LAI
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CHĂN NUÔI - THÚ Y
SO SÁNH HIỆU QUẢ BỔ SUNG CHẾ PHẨM
MEN VI SINH BACTOZYME TRÊN
GÀ THỊT GIỐNG NÕI LAI
(5-12 TUẦN TUỔI)
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts Nguyễn Minh Thông
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014 DUYỆT CỦA KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
DUYỆT BỘ MÔN
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Con vô cùng biết ơn công sinh thành dưỡng dục của ba mẹ cùng tình yêu thương của các em Cha mẹ và các em đã tạo điều kiện cho con hoàn thành ước mơ của mình
Trải qua những năm tháng học tập tại trường Đại học Cần Thơ và thời gian thực tập tại công ty TNHH MTV Chăn nuôi Vemedim-Cần Thơ, tôi chân thành cảm ơn
- Ban giám hiệu trường Đại học Cần Thơ, quý thầy cô thuộc bộ môn Chăn nuôi, bộ môn Thú y khoa Nông nghiêp và Sinh học Ứng dụng cùng quý thầy cô trường Đại học Cần Thơ đã tận tình dạy dỗ, hướng dẫn con trong suốt thời gian học tập tại trường
- Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Minh Thông đã hết lòng hướng dẫn, truyền đạt những kinh nghiệm quý báo cho con trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này
- Chân thành cảm ơn thầy Huỳnh Hữu Chí, chú Trần Ngọc Mong, chị Châu Nguyễn Lê Huỳnh và các anh, chị làm việc tại công ty TNHH MTV chăn nuôi Vemedim-Cần Thơ đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện để em có thể thực tập tại trại
- Cảm ơn anh Huỳnh Minh Trí đã hướng dẫn em trong thời gian thực tập tại công ty Vemedim-Cần Thơ
- Cảm ơn cô Nguyễn Thị Thủy và các bạn lớp Chăn nuôi K37 đã chia sẽ những buồn vui và giúp đỡ em trong thời gian học tập tại trường
Chân thành cám ơn!
Trang 5TÓM LƢỢC
Thí nghiệm “So sánh hiệu quả bổ sung chế phẩm men vi sinh Bactozyme trên gà thịt giống Nòi lai (5-12 tuần tuổi)”, được bố trí theo mô hình hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 nghiệm thức khác nhau như sau:
- Nghiệm thức 1 (NT CĂLT): ăn khẩu phần bổ sung thêm 2 g/kg chế phẩm men vi sinh Bactozyme, ăn suốt thời gian thí nghiệm
- Nghiệm thức 2 (NT CĂCT): ăn khẩu phần bổ sung thêm 2 g/kg chế phẩm men vi sinh Bactozyme trong 7 ngày, sau đó cho ăn khẩu phần không bổ sung men trong 7 ngày Lặp lại liệu trình đến hết thời gian thí nghiệm
- Nghiệm thức 3 (NT ĐC): ăn khẩu phần thức ăn trại tự phối trộn
Thí nghiệm được lặp lại 3 lần, tổng cộng có 9 đơn vị thí nghiệm, mỗi đơn
vị thí nghiệm có 100 gà thịt Kết quả thu được như sau:
Khối lượng bình quân của gà ở tuần tuổi 8 và 12, tăng trọng tuyệt đối, tiêu tốn thức ăn, tiêu tốn thức ăn bình quân toàn thí nghiệm, sai khác có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức (P≤0,05), cao nhất là NT CĂLT và thấp nhất là ở NT ĐC Riêng hệ số chuyển hóa thức ăn toàn thí nghiệm thấp nhất ở
NT CĂCT (2,83), cao nhất là NT ĐC (3,19), sai khác có ý nghĩa thống kê (P=0,009)
Hàm lượng E coli trong 1 g phân gà ở các tuần tuổi khảo sát sai khác
có ý nghĩa thống kê (P≤0,05), thấp nhất là NT CĂ LT là (1,60±0,77)*10 6 CFU/g (tuần 12), cao nhất là NT ĐC Tỷ lệ hao hụt cao nhất là NT ĐC, thấp nhất là NT CĂ LT Hiệu quả kinh tế cao nhất ở NT CĂ LT (17.857.711 đồng), thấp nhất ở NT ĐC (15.525.374 đồng)
Như vậy, bổ sung chế phẩm men vi sinh Bactozyme vào khẩu phần gà thịt không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao mà còn tạo ra những sản phẩm
an toàn cho người tiêu dùng
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan kết quả trình bày trong luận văn là công trình nghiên cứu của bản thân
Tất cả kết quả, số liệu là hoàn toàn trung thực và chưa từng đực ai công
bố trong các công trình nghiên cứu trước đó
Cần Thơ, ngày 6 tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn
Ngô Thị Kim Ngân
Trang 7MỤC LỤC
Tóm lược ii
Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2
2.1 Đặc điểm sinh học gà 2
2.2 Sơ lược một số giống gà ở địa phương 2
2.2.1 Gà Tàu vàng 2
2.2.2 Gà Nòi 3
2.2.3 Gà Ta vàng 3
2.2.4 Gà Tam Hoàng 3
2.2.5 Gà Tre 4
2.3 Sinh lý tiêu hóa của gia cầm 4
2.3.1 Sự giống và khác nhau giữa sinh lý tiêu hóa của heo và gia cầm 4
2.3.2 Hệ tiêu hóa của gia cầm 5
2.4 Sự tiêu hóa, hấp thu các dưỡng chất cần thiết 8
2.4.1 Sự tiêu hóa, hấp thu carbohydrate 8
2.4.2 Sự tiêu hóa, hấp thu lipid 9
2.4.3 Tiêu hóa, hấp thu protein 9
2.4.4 Hấp thu muối khoáng và vitamin 10
2.5 Mối liên hệ giữa hệ vi sinh vật đường tiêu hóa và sức khỏe vật nuôi 10
2.5.1 Hệ vi sinh vật đường tiêu hóa 10
2.5.2 Mối liên hệ giữa hệ vi sinh vật đường ruột và sức khỏe động vật 11
2.6 Probiotic 12
2.6.1 Khái niệm 12
2.6.2 Vai trò của probiotic trong chăn nuôi gia cầm 13
2.6.3 Cơ chế tác động của probiotic 14
2.7 Nấm Saccharomyces cerevisiae 15
2.7.1 Phân loại, hình dạng của nấm 15
2.7.2 Đặc tính sinh sản của nấm 16
2.7.3 Nấm Saccharomyces cerevisiae trong đường tiêu hóa 16
2.7.4 Giá trị dinh dưỡng của nấm Saccharomyces cerevisiae 17
2.7.5 Vai trò của Nấm Saccharomyces cerevisiae 17
2.8 Vi khuẩn Pediococcus acidilactici 18
2.8.1 Phân loại, hình dáng vi khuẩn 18
2.8.3 Đặc tính của vi khuẩn Pediococcus acidilactici 19
2.8.2 Khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh 19
2.9 Vài nét về vi khuẩn Escherichia coli 20
Trang 82.9.1 Hình thái 20
2.9.2 Đặc tính nuôi cấy 21
2.9.3 Đặc tính sinh hóa 21
2.9.4 Đặc tính gây bệnh của vi khuẩn E coli 21
2.9.5 Bệnh do vi khuẩn E coli 22
2.10 Sự điều tiết nhiệt cơ thể gia cầm và mối liên quan đến nhiệt độ, độ ẩm, độ thoáng khí của tiểu khí hậu chuồng nuôi 22
2.10.1 Sự điều tiết nhiệt cơ thể gia cầm và mối liên quan đến nhiệt độ của tiểu khí hậu chuồng nuôi 22
2.10.2 Sự điều tiết nhiệt của cơ thể gia cầm và mối liên quan đến độ ẩm, thoáng khí của tiểu khí hậu chuồng nuôi 23
Chương 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 24
3.1 Phương tiện thí nghiệm 24
3.1.1 Thời gian và địa điểm thực hiện 24
3.1.2 Động vật thí nghiệm 24
3.1.3 Chuồng trại thí nghiệm 24
3.1.4 Thức ăn thí nghiệm 26
3.1.5 Nước uống 28
3.1.6 Vật liệu thí nghiệm 29
3.2 Phương pháp thí nghiệm 29
3.2.1 Bố trí thí nghiệm 29
3.2.2 Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng 30
3.2.3 Quy trình phòng bệnh ở trại 31
3.2.4 Phương pháp lấy mẫu 32
3.3 Các chỉ tiêu theo dõi 32
3.3.1 Chỉ tiêu về khối lượng và tăng trọng 32
3.3.2 Chỉ tiêu tiêu tốn thức ăn và hệ số chuyển hóa thức ăn 32
3.3.3 Tỷ lệ hao hụt 33
3.3.4 Định lượng vi khuẩn E coli trong 1g phân gà bằng phương pháp đếm khuẩn lạc 33
3.3.5 Hiệu quả kinh tế 35
3.3.6 Xử lý số liệu 35
Chương 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 36
4.1 Nhận xét chung về đàn gà trong thời thí nghiệm 36
4.2 Ảnh hưởng của các nghiệm thức lên khối lượng và tăng trọng của gà trong thời gian khảo sát 36
4.2.1 Khối lượng của gà qua các tuần tuổi khảo sát 36
Trang 94.2.2 Tăng trọng của gà trong quá trình thí nghiệm 38
4.3 Ảnh hưởng của các nghiệm thức lên tiêu tốn thức ăn và hệ số chuyển hóa thức ăn trong thời gian khảo sát 40
4.4 Ảnh hưởng của các nghiệm thức lên hàm lượng vi khuẩn E coli trong phân gà trong các giai đoạn khảo sát 43
4.5 Tỷ lệ hao hụt 46
4.6 Hiệu quả kinh tế 48
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Đề nghị 51
Tài liệu tham khảo 52
Phụ lục 58
Trang 10DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1 Ảnh hưởng của vi khuẩn đường ruột đối với sức khỏe động vật 12
Bảng 2.2 Thành phần hóa học của nấm Saccharomyces cerevisiae 17
Bảng 2.3 Mật độ gà theo từng mức nhiệt độ 22 Bảng 3.1 Công thức khẩu phần thức ăn của gà trong giai đoạn thí nghiệm 27 Bảng 3.2 Thành phần nguyên liệu sản xuất Bactozyme 28
Bảng 3.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 29 Bảng 3.4 Quy trình phòng bệnh của trại 31 Bảng 4.1 Khối lượng bình quân của đàn gà qua các giai đoạn khảo sát (g/con) 36 Bảng 4.2 Tăng trọng của gà trong thời gian thí nghiệm 38 Bảng 4.3 Tiêu tốn thức ăn và hệ số chuyển hóa thức ăn của gà trong thời gian khảo sát 41
Bảng 4.4 Lượng vi khuẩn E coli có trong 1 g phân gà tại các thời
điểm khảo sát (106
CFU/g) 44 Bảng 4.5 Tỷ lệ hao hụt của gà trong thời gian thí nghiệm 46
Bảng 4.6 Hiệu quả kinh tế giữa các nghiệm thức 48
Trang 11DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1 Hệ tiêu hóa của gà 6
Hình 2.2 Nấm Saccharomyces cerevisiae 15
Hình 2.3 Vi khuẩn Pedioccocus acidilactici (phóng đại 9000x) 18
Hình 2.4 Cấu tạo vi khuẩn E coli 20
Hình 3.1 Trại gà thí nghiệm tại Huyện Thới Lai-Cần Thơ 24
Hình 3.2 Sơ đồ trại gà giống 25
Hình 3.3 Các ô gà thí nghiệm tại trại 26
Hình 3.4 Chế phẩm men vi sinh Bactozyme 27
Hình 3.5 Bồn nước sử dụng trong trại và bồn nước chính 28
Hình 3.6 Chiều cao máng ăn, bầu nước 30
Hình 3.7 Khuẩn lạc E coli trên môi trường MC 34
Hình 3.8 Khuẩn lạc E coli trên môi trường EMB 34
Hình 3.9 Kết quả thử nghiệm IMViC định danh vi khuẩn E coli 34
Hình 4.1 Biểu đồ khối lượng bình quân gà ở các tuần tuổi khảo sát 37
Hình 4.2 Biểu đồ tăng trọng toàn thí nghiệm giữa các nghiệm thức 39
Hình 4.3 Biểu đồ hệ số chuyển hóa thức ăn giữa các nghiệm thức 42
Hình 4.4 Biểu đồ tỷ lệ gà chết giữa các nghiệm thức 47
Trang 12DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 13Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay chăn nuôi gia cầm đã trở thành ngành sản xuất thực phẩm quan trọng của nhiều quốc gia trên thế giới Thực phẩm từ gia cầm là thức ăn ngon,
bổ dưỡng và có rất ít cấm kị vì lý do xã hội hay tôn giáo như những loài vật nuôi khác Ở Việt Nam, chăn nuôi gà đã có từ lâu đời và hiện vẫn còn được duy trì phổ biến trên cả nước Song song đó hiện tượng tồn dư kháng sinh trong sản phẩm chăn nuôi đang ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người tiêu dùng cũng như tổn thất về kinh tế cho nhà chăn nuôi Con người nếu ăn phải thực phẩm tồn dư kháng sinh có thể gây ung thư, hiện tượng kháng thuốc ở một số loài vi khuẩn Nguyên nhân tồn dư kháng sinh có thể là do quá trình phòng và chữa bệnh cho vật nuôi, bảo quản thức ăn, kích thích tăng trọng bằng phương pháp sử dụng kháng sinh hoặc hormone tăng trọng…(VnMedia, 2010)
Để cải thiện những tồn tại trên và phát triển chăn nuôi bền vững Probiotic, prebiotic đã và đang là những sản phẩm được nhà chăn nuôi lựa chọn để thay thế kháng sinh trong phòng và trị bệnh gia súc, gia cầm Là một dạng probiotic, chế phẩm men vi sinh Bactozyme có tác dụng bổ sung các vi sinh vật hữu ích giúp cho vật nuôi tăng trọng nhanh, phòng ngừa một số bệnh
về đường ruột đang là một trong những lựa chọn của nhà chăn nuôi Thành
phần chủ yếu của chế phẩm men vi sinh Bactozyme gồm nấm Saccharomyces
cerevisiae và vi khuẩn Pediococcus acidilactici, chúng là những vi sinh vật
hữu ích có chức năng sản sinh các enzyme tiêu hóa giúp tăng chuyển hóa thức
ăn, tăng trọng nhanh, giảm thời gian nuôi Vi khuẩn Pediococcus acidilactici
sản sinh acid lactic giúp toan hóa đường ruột, ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây hại, cân bằng hệ vinh đường ruột, phòng chống táo bón và tiêu chảy…
Tuy nhiên muốn sử dụng chế phẩm men vi sinh Bactozyme mang lại hiệu quả nhất người chăn nuôi cần chú ý đến phương pháp sử dụng, thời điểm sử dụng và một số vấn đề khác… Để hiểu rõ hơn về những ảnh hưởng của chế phẩm men vi sinh Bactozyme đối với gia cầm nói chung đặc biệt trên gà nói
riêng, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “So sánh hiệu quả bổ sung chế
phẩm men vi sinh Bactozyme trên gà thịt giống Nòi lai (5-12 tuần tuổi)”
Với mục tiêu nhằm kiểm tra hiệu quả của chế phẩm có thành phần chủ yếu là
nấm Saccharomyces cerevisiae và vi khuẩn Pediococcus acidilactici lên tăng trọng, khả năng sử dụng thức ăn, hàm lượng vi khuẩn E coli có trong phân gà
Từ đó có những khuyến cáo khi sử dụng chế phẩm nhằm mang lại hiệu quả kinh tế nhất cho người chăn nuôi
Trang 14Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Đặc điểm sinh học gà
Gà là một loại gia cầm, thuộc lớp chim có lông vũ, không có răng, hệ thống tiêu hóa không có đường tiểu tiện riêng, không có tuyến mồ hôi dưới da… Gà chịu nóng kém, có thân nhiệt cao hơn các động vật có vú 0,5-1o
C Gà
có một dạ dày cơ rất khỏe, có thể nghiền bóp mọi loại thức ăn thông thường Ngoài ra, hệ thống men tiêu hóa rất phức tạp nên vận tốc tiêu hóa ở gà rất lớn (Lê Hồng Mận, 2005)
Vì những đặc điểm trên nên gà có một tiềm năng sinh vật rất lớn (đẻ nhiều, lớn nhanh…), qua cách nhìn của nhà chăn nuôi con gà có những điểm mạnh và điểm yếu như sau:
- Điểm mạnh: hiệu suất chuyển hóa thức ăn thành sản phẩm ở gà rất lớn, một gà mái có thể sinh ra một sản lượng sản phẩm (trứng) nặng gấp 8 lần cơ thể của nó trong vòng 12 tháng trong khi heo nái cần 40 năm và bò cái cần 80 năm Một gà thịt có thể đạt khối lượng cơ thể gấp 50 lần trọng lượng sơ sinh chỉ sau 8 tuần lễ, trong khi heo đạt khối lượng cơ thể gấp 20 lần khối lượng sơ sinh trong 26 tuần, ở bò là 6-7 lần trong 52 tuần (Trần Trung Vĩnh và Nguyễn Mộng Giao, 2002)
- Điểm yếu: vì không có tuyến mồ hôi, lớp mỡ dày (nhất là giống gà thịt)
và thân nhiệt cao nên gà chỉ thích hợp với những nơi, những lúc có nhiệt độ thấp, gà chịu rét tốt nhưng chịu nóng rất kém Do có cường độ trao đổi chất cao nên gà rất mẫn cảm với các bệnh về dinh dưỡng và thời tiết đặc biệt là các giống gà cao sản (Trần Trung Vĩnh và Nguyễn Mộng Giao, 2002)
2.2 Sơ lược một số giống gà ở địa phương
2.2.1 Gà Tàu vàng
Gà Tàu vàng là giống gà kiêm dụng xuất xứ từ Trung Quốc, được đưa vào miền nam từ lâu và nuôi rộng rãi ở nhiều tỉnh như Tiền Giang, Long An, Bình Dương, Tây Ninh…Màu lông phổ biến là màu vàng rơm, vàng đậm, có đốm đen quanh cổ cánh và đuôi, có những con có lông chân mọc dài, tầm vóc lớn hơn gà Ta và gà Ri Đa phần có mào đơn đỏ tươi, một số mào kép Gà mọc lông chậm, 3 tháng tuổi gà trống còn lông lơ thơ (Lê Minh Hoàng, 2002) Thịt gà thơm ngon, mổ thịt lúc 16 tuần tuổi con trống 2,0 kg; mái 2,1 kg; thân thịt 67% Gà nuôi thịt bán công nghiệp 12 tuần tuổi đạt 1,7-1,8 kg/con trống, 1,3-1,5 kg/con mái Gà mái 6 tháng bắt đầu đẻ, trứng nặng 45-50 g, sản lượng trứng 70-90 trứng/mái/năm (Lê Minh Hoàng, 2002) Gà mái có tính ấp
Trang 15và nuôi con giỏi, thành thục sớm hơn gà trống Gà có ưu thế về khả năng thích ứng trong điều kiện chăn thả, có khả năng chống chịu bệnh tật tốt, song năng suất lại thấp
2.2.2 Gà Nòi
Giống gà này có ở khắp các miền Việt Nam, thường gọi là gà chọi hay
gà đá Con trống có lông màu xám, màu đỏ lửa xen lẫn các vệt xanh biếc, con mái có màu xám đá, vóc dáng to, chân cao, cổ cao, thịt đỏ rắn chắc Tính hung hăng, hiếu chiến Trọng lượng trưởng thành của gà mái 2,0-2,5 kg, gà trống 3,0-4,0 kg Thời gian đạt trọng lượng thịt 5 tháng, sản lượng trứng bình quân 50-70 trứng/mái/năm, gà mái 7 tháng bắt đầu đẻ Con trống được dùng
để lai với gà Ri và các giống gà khác để sản xuất con lai nuôi thịt (Lê Hồng Mận, 2002)
2.2.3 Gà Ta vàng
Gà Ta vàng là giống gà phân bố rộng rãi ở các vùng nông thôn Việt Nam Nhìn chung giống gà này bị pha tạp nhiều, nuôi phổ biến ở phía nam là dòng
có lông màu vàng rơm và vàng nâu, có điểm đốm đen ở cổ, cánh và đuôi Gà
Ta vàng nhẹ hơn gà Tàu vàng Tuổi trưởng thành, con trống nặng 1,8-2,0 kg, con mái nặng khoảng 1,2-1,5 kg Khả năng sinh sản của gà Ta vàng thấp, mỗi năm đẻ khoảng 9-10 lứa, mỗi lứa 10-12 trứng Gà mái nuôi con khéo, khả năng tìm thức ăn tốt, chống chịu tốt khi gặp thời tiết bất lợi, có khả năng kháng bệnh tật cao và thịt rất thơm ngon (Lê Hồng Mận, 2002)
2.2.4 Gà Tam Hoàng
Theo Đặng Thị Hạnh (2007), giống gà này có nguồn gốc từ Trung Quốc, vào Việt Nam lần đầu năm 1993 và được nuôi ở Quảng Ninh Hiện nay ở Việt Nam gà Tam Hoàng có những dòng sau
Dòng Tam Hoàng 882 có lông màu vàng rơm, chân vàng, da vàng Con trống to, mào đơn to và chân thấp hơn gà tàu vàng của Việt Nam Nuôi 3,5 tháng theo dạng bán công nghiệp đạt trọng lượng bình quân 1,75 kg/con, năng suất trứng đạt 145-150 trứng/mái/năm Theo Đào Đức Long (2004) dòng gà này có ưu điểm về khả năng sản xuất thịt so với các dòng gà Tam Hoàng khác,
tỷ lệ thịt đùi và ức khá cao, thịt thơm ngon và chất lượng thịt ngang với gà Ri Dòng gà này được chọn lọc và nhân giống chủ yếu ở Quảng Đông, Trung Quốc
Dòng Tam Hoàng 882-2, to con và đẻ sai hơn Nuôi 3 tháng tuổi đạt trọng lượng bằng gà Tam Hoàng 882 lúc 3,5 tháng, năng suất trứng đạt 160-170 trứng/mái/năm
Trang 16Dòng Tam Hoàng 882-3 nuôi 3 tháng đạt bình quân 1,9-2,0 kg/con, năng suất trứng đạt 160-170 trứng/mái/năm
Dòng Ma Hoàng (882-2) qua khảo sát cho thấy năng suất thịt, trứng cũng tương đương với gà Tam Hoàng 882 Dòng này có lông màu vàng sẫm, điểm rằn rất giống gà ta nên cũng được người tiêu dùng ưa chuộng (Đặng Thị Hạnh, 2007)
Dòng Jiangcun vàng nhỏ con hơn các dòng Tam Hoàng khác nhưng dòng này có phẩm chất thịt tốt, thịt thơm ngon và tỷ lệ các phần thịt như thịt ức, thịt đùi đạt yêu cầu Dòng này đẻ tốt hơn dòng gà Tam Hoàng 882 (Đào Đức Long, 2004)
Dòng Lương Phượng (gà Hoa Lương Phượng) có màu lông giống gà Ma Hoàng, song dòng này cho năng suất thịt và trứng cao hơn Năng suất trứng đạt 170 trứng/mái/năm Tuy nhiên, chúng có nhược điểm là tỷ lệ phần thân thịt
có giá trị lại thấp hơn các dòng gà khác nên thị trường Hong Kong không chuộng bằng gà Jiangcun (Đặng Thị Hạnh, 2007)
2.2.5 Gà Tre
Giống gà này thường gặp ở những vùng nông thôn phía Nam Gà có sắc
lông sặc sỡ, nhanh nhẹn, thịt thơm ngon Giống này nuôi chủ yếu để làm cảnh
và nuôi chọi (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2004)
Trọng lượng trưởng thành của gà mái là 0,6-0,7 kg, gà trống là
0,75-1,0 kg, năng suất trứng trung bình 40-50 trứng/mái/năm Hiện tại giống
gà này bị pha tạp với nhiều giống địa phương khác như Ta vàng, Tàu vàng nên
có tầm vóc lớn hơn nhưng bộ lông không còn đẹp như nguyên chủng (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2004)
2.3 Sinh lý tiêu hóa của gia cầm
2.3.1 Sự giống và khác nhau giữa sinh lý tiêu hóa của heo và gia cầm
Theo Lưu Hữu Mãnh và ctv (2010) và Lý Thị Thu Lan (2013) sinh lý
tiêu hóa của heo và gia cầm có những điểm giống và khác nhau sau
a Sự giống nhau
Heo và gia cầm là thú không nhai lại, như thế có nghĩa là có quan hệ cộng sinh với vi sinh vật kém hơn thú nhai lại và có cấu tạo bộ máy tiêu hóa khác với các loài này
Heo và gia cầm cần được cung cấp acid amin thiết yếu, khả năng sử dụng chất xơ trong khẩu phần còn hạn chế Khẩu phần thức ăn của chúng chủ yếu là ngũ cốc, nên rất mẫn cảm với việc thiếu khoáng và vitamin
Trang 17Heo và gia cầm thường được nuôi nhốt trong hệ thống chăn nuôi hiện đại, tăng trưởng nhanh và việc chuyển hóa thức ăn vào mô cơ hiệu quả
b Sự khác nhau
Heo được đẻ trực tiếp từ mẹ trong khi gia cầm được nở ra từ trứng Heo
có lông mao, gia cầm có lông vũ chiếm tỉ lệ lớn đối với cơ thể và bị ảnh hưởng bởi nhu cầu acid amin
Heo có hệ thống tiêu hóa lúc còn non khác với lúc trưởng thành, trái lại gia cầm có bộ máy tiêu hóa có đầy đủ các enzyme tiêu hóa sau khi nở, gà con
có thể sử dụng bắp và bánh dầu nành chỉ 1 ngày sau khi nở trong khi heo con phải được bú sữa hoặc dựa trên khẩu phần cơ bản là sữa
Gà con có tốc độ trao đổi căn bản cao, hô hấp và nhịp tim nhanh hơn heo
Gà mái đẻ trứng cần huy động một lượng lớn Canxi nên rất mẫn cảm với các vấn đề về chân
Ngoài ra gà có bộ máy tiêu hóa và quy trình tiêu hóa khác với heo ở các điểm như: không có răng, có diều và mề, không có dạ dày thật để dự trữ hoặc bài tiết enzyme, có hai manh tràng góp một phần ít cho quá trình tiêu hóa Gà
có tốc độ vận chuyển thức ăn rất nhanh, hấp thu acid béo theo hệ thống tỉnh mạch cửa, hệ bạch huyết kém phát triển, bài tiết Nitơ dạng acid uric nên ảnh hưởng tới nhu cầu vài acid amin và giá trị nặng lượng khẩu phần
2.3.2 Hệ tiêu hóa của gia cầm
Nước bọt của gà ít và thức ăn qua miệng quá nhanh nên tiêu hóa tinh bột
do α-amylase không đáng kể Tuy vậy nước bọt thấm trong thức ăn vẫn tiếp tục tiêu hóa tinh bột trong tiền mề, góp phần vào tiêu hóa chung (Lưu Hữu
Mãnh và ctv., 2010)
Hầu nằm cuối vòm họng, là cấu trúc kiểm soát sự đi qua của không khí
và thức ăn Khi cổ nở rộng ra trong quá trình ăn, có một sự thay đổi trong vị trí của khí quản để ngăn không cho thức ăn lọt vào (Bùi Xuân Mến, 2007) Hình 2.1 mô tả cấu trúc hệ tiêu hóa gà
Trang 18b Diều
Diều là chỗ tiếp giáp giữa ngực và cổ, diều gà phát triển hơn diều vịt, ngỗng Khi dạ dày đầy thức ăn sẽ ức chế sự co bóp của diều Sự co bóp của diều sẽ ảnh hưởng làm giảm tính thèm ăn, giảm sự tiêu hóa và một số thức ăn
bị đẩy ra ngoài (Nguyễn Thị Kim Đông và Nguyễn Văn Thu, 2009)
Thức ăn di chuyển trong thực quản xuống tới diều thì chứa lại Thời gian thức ăn lưu trong diều tùy thuộc vào khối lượng thức ăn ăn vào, cỡ hạt thức ăn
và số lượng thức ăn đang có trong mề Trong mề, các hạt thức ăn mềm ra và α-amylase trong thức ăn tiếp tục tiêu hóa tinh bột Diều không tạo được
emzyme tiêu hóa (Lưu Hữu Mãnh và ctv., 2010)
c Dạ dày tuyến (tiền mề)
Dạ dày tuyến giống dạ dày đơn nhưng dung tích dạ dày tuyến rất nhỏ nên tiêu hóa không quan trọng Vì nhỏ và thức ăn qua nhanh nên hoạt động tiêu hóa không cụ thể, thức ăn đã được thấm dịch vị sẽ được chuyển xuống dạ dày
cơ Sự tiết dịch của dạ dày tuyến cũng theo thần kinh và thể dịch (Nguyễn Thị Kim Đông và Nguyễn Văn Thu, 2009)
Theo Nguyễn Duy Hoan (2010) dạ dày tuyến có các tuyến tiết ra enzyme pepsin và HCl để tiêu hóa thức ăn, ngoài ra còn có nhiều mô nhỏ đó là cửa sổ
đổ ra của các ống tuyến dịch vị Trong nang tuyến có hai loại tế bào, loại to tiết ra acid HCl và loại nhỏ tiết ra men pepsinogen
Hình 2.1 Hệ tiêu hóa của gà
Manh tràng
http://www.bachkhoatrithuc.vn
Trang 19d Dạ dày cơ (mề)
Dạ dày cơ hình tròn, dẹp, cấu tạo bởi lớp cơ dày, rắn Sự co bóp ở dạ dày
cơ có chu kỳ (khoảng 20s/lần), khi đói co bóp giảm, khi no co bóp tăng Thần kinh phế vị có nhiệm vụ chi phối sự co bóp của dạ dày cơ (Nguyễn Thị Kim Đông và Nguyễn Văn Thu, 2009)
Ở dạ dày cơ thức ăn được nghiền và tiếp tục tiêu hóa Mề là bắp thịt rất khỏe, bên trong là lớp biểu mô gấp nhiều lớp có phủ lớp “cutica gastrica” bằng chất koilin (tương tự keratin) dai và nhám, lớp này có tác dụng bảo vệ cho vách dạ dày không bị tổn thương khi nghiền nát thức ăn vận động Trong quá trình hoạt động, lớp “cutica gastrica” bị bong tróc và được thay thế Dạ dày cơ vận động theo kiểu “thớt-cối” bóp vào nhau với sức ép đến vài mươi bar, cộng với sự ma sát của hạt sạn, sỏi, đá mà gà lượm ở đất tạo nên sức nghiền mạnh
mẽ và làm tăng khả năng tiêu hóa thức ăn khoảng 10% so với mề không sạn sỏi Thức ăn được nghiền và trộn với độ ẩm dịch tiết tiêu hóa thành khối nhão
có độ ẩm thay đổi khoảng 50% Dạ dày cơ không tiết dịch tiêu hóa mà chỉ tiếp tục tiêu hóa bằng dịch tiêu hóa của dạ dày tuyến Sự co thắt có chu kỳ của hai túi dạ dày làm cho thức ăn đi tới đi lui giữa hai túi, cùng với sự ựa ngược có chu kỳ thức ăn trở về dạ dày tuyến làm cho thức ăn được nhào trộn liên tục, được nghiền nhiều lần và tiếp xúc với enzyme tiêu hóa, kết quả là tăng mức
tiêu hóa của thức ăn (Lưu Hữu Mãnh và ctv., 2010)
e Ruột non
Trước ruột non là dạ dày cơ và sau là manh tràng Ruột non không phân biệt tá tràng, không tràng và hồi tràng, đường kính của các đoạn ruột non gần bằng nhau Không có tuyến Brunner, màng nhầy của gia cầm có nhung mao, nhưng nhung mao không có nhủ quản do hệ thống bạch huyết của gia cầm không phát triển, sự hấp thu chất dinh dưỡng chủ yếu qua hệ thống huyết quản Trên vách ruột non có các tuyến ruột Thời gian thức ăn ở lại tại ruột ít hơn 24 giờ nên quá trình tiêu hóa xảy ra mạnh ở đây, đặc biệt tuyến tụy tạng ở gia cầm rất lớn (Nguyễn Thị Kim Đông và Nguyễn Văn Thu, 2009), mật độ lông nhung trên 1 cm2 ở ruột non gia cầm rất lớn, hơn tất cả các loại gia súc khác (Nguyễn Duy Hoan, 2010)
Dưới tác dụng của các enzyme từ dịch vị, dịch ruột, dịch tụy và dịch mật, các chất bột đường, protein, lipit đa phần được tiêu hóa và hấp thu tại đây Những mảnh thức ăn còn cứng chưa được nghiền kỹ sẽ được đưa trở lại dạ dày cơ để nghiền tiếp nhờ vào nhu động ngược của ruột non, đây cũng có thể
là nguyên nhân làm cho dạ dày cơ có màu vàng của mật (Nguyễn Duy Hoan, 2010)
Trang 20g Lỗ huyệt
Lỗ huyệt là nơi tập trung các chất không tiêu hóa được ở ruột và nước tiểu Viên phân gồm hai phần: phần dưới là phân thật có màu nâu đen và chóp trên là phân trắng đó là nước tiểu đặc của gà Thành lỗ huyệt có túi fabricius là
cơ quan bạch huyết quan trọng của gia cầm (Nguyễn Thị Kim Đông và
Nguyễn Văn Thu, 2009)
2.4 Sự tiêu hóa, hấp thu các dƣỡng chất cần thiết
2.4.1 Sự tiêu hóa, hấp thu carbohydrate
Sự tiêu hóa và hấp thu hầu hết carbohydrate xảy ra ở ruột non Các enzyme maltase, sucrase phân cắt carbohydrate thành đường đơn và sau đó là quá trình hấp thu Vùng hấp thu đường lớn nhất là vùng không tràng, các loại đường glucose và galactose được hấp thu theo một cơ chế chuyên chở chủ động Nồng độ Na+
của các chất chứa trong ruột cho thấy đóng vai trò quyết định trong cơ chế hấp thu đường Nồng độ cao của Na+
có ảnh hưởng thuận lợi cho quá trình hấp thu nhanh chóng các loại đường này, trong khi nồng độ thấp
Na+ lại giảm tốc độ hấp thu Các đường pentose và hexose được hấp thu nhờ
sự khuếch tán, một quá trình vận chuyển thụ động chậm hơn rất nhiều so với vận chuyển chủ động (Bùi Xuân Mến, 2007)
Trang 212.4.2 Sự tiêu hóa, hấp thu lipid
Chất béo được tiêu hóa và hấp thu chủ yếu ở phần trên ruột non, quá trình hấp thu lại xảy ra mạnh mẽ nhất ở phần dưới ruột non (đoạn hồi tràng) Chất béo được nhũ hóa bởi muối mật và tiếp xúc với các enzyme lipase khác nhau trong tá tràng, tiếp theo bị phân hủy thành các monoglyceride và acid béo Các acid béo chuỗi ngắn sau đó được hấp thu trực tiếp vào màng nhầy của ruột non và chuyển đến hệ tuần hoàn cửa Các monoglyceride và acid béo không hòa tan được nhũ hóa bởi muối mật để hình thành nên các chuỗi phân
tử Chúng gắn vào bề mặt của các tế bào biểu mô, thành phần của các chuỗi phân tử có thể được hấp thu vào các tế bào Ngay khi ở bên trong các tế bào này, các acid béo chuỗi dài tiếp tục được tái ester hóa trở lại để hình thành các triglyceride Các triglyceride sau đó kết hợp với cholesterol, lipoprotein và phospholipid để tạo thành các chylomicron, là những giọt mỡ rất nhỏ Các chylomicron sau đó được chuyển vào trong hệ tuần hoàn bạch huyết (Bùi Xuân Mến, 2007)
2.4.3 Tiêu hóa, hấp thu protein
Các protein chỉ được tổng hợp khi trong thức ăn có mặt của chúng với số lượng cần thiết và chất lượng nhất định Gia cầm không thể đồng hóa các protein của thức ăn ở trạng thái chưa được biến đổi, nên thật chất quá trình tiêu hóa chính là sự phân giải protein thành các acid amin cho cơ thể sử dụng
để tạo ra các protein cho bản thân và các sản phẩm để tổng hợp các chất nitơ cần thiết (Nguyễn Duy Hoan, 2010)
Mặc dù sự tiêu hóa protein khởi đầu ở dạ dày tuyến và mề nhưng hầu hết
sự tiêu hóa và hấp thu lại xảy ra ở ruột non Nhiều enzyme của ruột và tụy tạng phân cắt protein thành các acid amin và chúng hấp thu sau đó Tốc độ hấp thu các acid amin tùy thuộc vào cấu trúc và sự phân cực của chúng, nhưng tất
cả đều dựa vào quá trình chuyên chở chủ động nhờ vào ion Na+
Quá trình hấp thu chủ động này tương tự như quá trình hấp thu glucose trong tiêu hóa, hấp thu tinh bột Các acid amin được hấp thu nhanh chóng ở các đoạn không tràng
và tá tràng, ngoài ra các acid amin cũng được hấp thu ở đoạn hồi tràng nhưng rất ít (Bùi Xuân Mến, 2007)
Trang 222.4.4 Hấp thu muối khoáng và vitamin
Sự hấp thu muối khoáng xảy ra trên toàn bộ ruột non và ruột già, với một tốc độ hấp thu tùy thuộc chủ yếu vào một số yếu tố như độ pH, các chất chuyên chở Các chất khoáng như Na, Fe yêu cầu có chế độ chuyên chở chủ động Những chất khoáng khác như Ca lại sử dụng cả hai là các protein chuyên chở và cơ chế khuếch tán (Bùi Xuân Mến, 2007)
Hầu hết các vitamin được hấp thu ở phần trên của ruột non, ngoại trừ vitamin B12 được hấp ở phần dưới của của ruột non Các vitamin hòa tan trong nước được hấp thu một cách nhanh chóng nhưng sự hấp thu của các vitamin hòa tan trong chất béo lại có liên quan đến cơ chế hấp thu mỡ nên thông thường là chậm (Bùi Xuân Mến, 2007)
2.5 Mối liên hệ giữa hệ vi sinh vật đường tiêu hóa và sức khỏe vật nuôi
2.5.1 Hệ vi sinh vật đường tiêu hóa
Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1977) hệ vi sinh vật đường tiêu hóa của động vật rất phong phú Trên niêm mạc miệng và trong nước bọt có cầu khuẩn
Micrococcus, Staphylococcus, Streptococcus, trực khuẩn gram dương như trực
khuẩn Lactic, Trực khuẩn gram âm như E coli, Pasteurella, nấm men
Candida albicans Nước bọt, niêm mạc động vật bài tiết một số chất sát trùng
có khả năng diệt một số loài vi khuẩn
Ở động vật mới sinh ra, ruột và dạ dày không có vi khuẩn, vài giờ sau khi sinh mới thấy vài loại vi khuẩn và từ đó chúng bắt đầu sinh sôi Hằng ngày một số loại vi khuẩn khác đã theo thức ăn vào ruột, sống và sinh sôi nảy nở ở đấy, chúng có thể bị biến đổi ít nhiều nhưng căn bản vẫn sống cho đến khi con vật chết Thành phần, chất lượng và số lượng hệ vi sinh vật đường ruột và dạ dày phụ thuộc vào tuổi, cách nuôi dưỡng, những điều kiện vật lý, hóa học và môi trường đường ruột, dạ dày Vi sinh vật theo thức ăn vào ruột sẽ chịu một
sự biến đổi, phần lớn các loại vi khuẩn chết đi, một phần thích nghi với điều kiện mới và sinh sản
Có thể chia hệ vi vật đường ruột ra làm hai loại: loại “vi sinh vật yếm khí tùy tiện”, thay đổi tùy theo điều kiện thức ăn và loại “vi sinh vật yếm khí bắt buộc”, loại này thích nghi được với môi trường đường ruột, dạ dày và trở
thành loại định cư vĩnh viễn Hệ vi sinh vật bắt buộc gồm có: Streptococcus
lactic, Lactobacterium acidophilum, trực khuẩn Lactic, E coli… (trích dẫn
của Nguyễn Văn Đạo, 2011)
Trang 23Mặc dù dạ dày có tính sát trùng nhưng tính chất này cũng bị hạn chế do
một số nhân tố Ví dụ trực khuẩn tỵ thư (Streptococcus equy) có thể gây bệnh
thiếu máu truyền nhiễm khi vào dạ dày, nhưng trực khuẩn lao, cầu khuẩn, trực
khuẩn có nha bào (như Bacillus anthracis) khi vào dạ dày sẽ bị dịch toan của
dạ dày tiêu diệt Còn các trực khuẩn ở ruột và dạ dày (như trực khuẩn phó thương hàn) có thể qua dạ dày mà không bị tiêu diệt Mặc khác những vi khuẩn này nằm bên trong một khối thức ăn lớn có thể thoát khỏi tác dụng tiệt trùng của dạ dày, ngoài ra khi động vật uống nước nhiều độ acid trong dịch dạ dày trở nên loãng làm cho dịch dạ dày mất chức năng tiệt trùng Do đó một số
vi sinh vật có thể tồn tại ở dạ dày động vật như Streptococcus, Bacterium, trực khuẩn Lactic, xạ khuẩn, nấm men
Ruột non chiếm 2/5-2/3 chiều dài ruột, số lượng vi khuẩn rất ít, nhất là
ở tá tràng do nhiều nguyên nhân Dịch dạ dày vào ruột non vẫn có tác dụng sát trùng Ngoài ra, mật và dịch tụy tạng bài tiết qua tá tràng cũng có tác dụng diệt khuẩn Trong ruột non một số loại vi khuẩn có thể sinh nha bào, một
số E coli, ở gia súc non có thêm Streptococcus, Lacto bacterium Từ tá tràng
về sau lượng vi khuẩn bắt đầu tăng lên, số lượng vi khuẩn trong ruột già tăng
lên rất nhiều Hệ vi sinh vật ruột già chủ yếu là E coli (ở gia súc trưởng thành
E coli chiếm 75% tổng số vi sinh vật) Ngoài ra trong ruột có thể thấy một số
loài vi khuẩn gây bệnh như Salmonella, Clostridium, những vi khuẩn này
theo phân ra ngoài làm lây lan bệnh
2.5.2 Mối liên hệ giữa hệ vi sinh vật đường ruột và sức khỏe động vật
Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1977) các vi sinh vật dạ dày-ruột tham gia
phân giải các chất dinh dưỡng Vi khuẩn Lactic phân giải tinh bột và đường
tạo thành acid lactic, acid acetic, acid propionic Vi khuẩn sản sinh men amylase để phân giải tinh bột, men protease để phân giải protein Ngoài ra,
một số vi khuẩn còn tổng hợp vitamin nhóm B (Bacillus subtilic) Ngược lại các vi sinh vật gây thối rữa lại là nguồn gây bệnh đường ruột (E coli) khi sức
khỏe gia súc giảm sút do dinh dưỡng kém hoặc do tác động của môi trường Hầu hết các vi sinh vật có mặt trong kết tràng dao động trong khoảng từ
1011-1012 CFU/ml (Ohhira, 2008)
Theo tài liệu của công ty Victory (2001, trích dẫn của Trần Thị Thu Thủy, 2003), trong đường ruột gia súc có khoảng 100 loài vi khuẩn hợp thành
2 nhóm chủ yếu Nhóm vi khuẩn có lợi chủ yếu gồm Bifidobacterium,
Eubacterium, Lactobacillus Nhóm vi sinh vật có hại chủ yếu có Clostridium,
E coli , Bảng 2.1 trình bày ảnh hưởng của vi khuẩn đường ruột đối với sức
khỏe động vật
Trang 24Bảng 2.1 Ảnh hưởng của vi khuẩn đường ruột đối với sức khỏe động vật
bệnh Tên vi khuẩn Tổng
hợp vitamin,protein
Trợ giúp tiêu hóa
Ngăn chặn
sự xâm nhập
từ bên ngoài
Tăng cường miễn dịch
Gây thối rữa trong ruột
Kích thích chất sinh ung thư
Sản sinh độc tố
Nhiễm trùng tự phát
Nhóm vi khuẩn có hại sẽ chiếm ưu thế khi gia súc bị bệnh hoặc bị nhiễm
từ môi trường Trong điều kiện nuôi nhốt, hệ thống đường ruột gia súc yếu và lợi thế của vi khuẩn có lợi không cao Vì vậy cách làm tăng vi khuẩn có lợi rất quan trọng đối với động vật vì nó có khả năng ức chế vi khuẩn có hại, làm tăng năng suất và sức khỏe động vật (Trần Thị Thu Thủy, 2003)
2.6 Probiotic
2.6.1 Khái niệm
Theo các trích dẫn của Soccol et al (2010) probiotic bắt nguồn từ chữ
“pro bios” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “cho cuộc sống” Lịch sử của probiotic bắt đầu cùng với lịch sử của con người, phô mát và lên men sữa ở
Hy Lạp và Roma Thuật ngữ "probiotic" được sử dụng đầu tiên bởi Lilly and Stillwell (1965) để mô tả các chất tiết ra bởi một vi sinh vật có khả năng kích thích sự tăng trưởng của vi sinh vật khác Parker (1974) đề xuất rằng probiotic
là những sinh vật và các chất góp phần cân bằng vi khuẩn đường ruột
Salminen et al (1998) định nghĩa probiotic là thực phẩm có chứa các vi khuẩn
Trang 25sống có lợi cho sức khỏe Marteau et al (2001) xác định probiotic là các tế
bào vi khuẩn chế phẩm hay các thành phần của tế bào vi khuẩn có lợi đối với sức khỏe Tổ chức nông lương thế giới FAO/WHO (2001) và Hội khoa học quốc tế ISCASS (2003) định nghĩa probiotic là những vi sinh vật sống khi được sử dụng liều lượng hợp lý sẽ cho những ảnh hưởng có lợi cho sức khỏe vật chủ
Các vi sinh vật probiotic bao gồm các chủng thuộc chi Lactobacillus,
Bifidobacterium, một số chủng Bacillus, Pediococcus và nấm men. Các vi sinh vật này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cơ thể chống lại các vi sinh vật gây hại, cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột và tăng cường hệ miễn dịch
của vật chủ (Soccol et al., 2010)
Trong quy chuẩn thức ăn, probiotic thuộc nhóm phụ gia thức ăn chăn nuôi có vai trò làm ổn định hệ vi sinh vật trong đường tiêu hoá của động vật
dạ dày đơn và động vật nhai lại (Vũ Duy Giảng, 2012)
2.6.2 Vai trò của probiotic trong chăn nuôi gia cầm
Theo các nghiên cứu, probiotic có khả năng
- Làm thay đổi pH trong đường tiêu hóa gia súc bằng cách sản sinh ra các acid hữu cơ như acid lactic, tạo điều kiện cho các vi khuẩn có ích phát triển làm cân bằng hệ vi sinh đường ruột, cải thiện tình trạng sức khỏe của vật nuôi (Ohhira, 2008)
- Tăng đồng hóa các chất dinh dưỡng, trung hòa các độc tố, bình thường hóa nhu động ruột, ngăn chặn sự truyền nhiễm của các tác nhân gây hại như nấm mốc, nấm men, vi khuẩn (Elixa, 2004)
- Bảo vệ cơ thể chống lại các độc tố môi trường như thuốc trừ sâu, chất gây ô nhiễm, giảm bớt chất thải độc tại tế bào, kích thích cơ chế sữa chữa của các tế bào (Loren and Schiele, 2004)
- Tăng số lượng tế bào của hệ thống miễn dịch, từ đó giúp tăng các phản ứng miễn dịch Tăng chiều cao, chiều sâu của nhung mao ruột từ đó giúp tăng khả năng hấp thu chất dinh dưỡng (Loren and Schiele, 2004)
- Cải thiện chất lượng thức ăn bằng cách sản sinh ra một số enzyme quan trọng, các acid béo, vitamin… Ổn định lượng cholesterol, triglyceride, phá vỡ
và tái tạo các loại hormone (Loren and Schiele, 2004)
- Nâng cao năng suất vật nuôi, giúp tăng trọng nhanh, giảm tiêu tốn thức
ăn, cải thiện năng suất trứng, chất lượng thịt xẻ và giảm tỷ lệ nhiễm bẩn ở thịt (Fuller, 1989)
Trang 262.6.3 Cơ chế tác động của probiotic
Hiện tại đã có nhiều nghiên cứu về cơ chế tác động của probiotic, tuy chưa rõ ràng lắm nhưng cũng có thể tóm tắt thành các kiểu tác động sau
a Sản sinh các chất ức chế
Otutumi et al, (2010) cho rằng tại ruột, probiotic kháng khuẩn bằng cách
sản sinh ra bacteriosin, cạnh tranh ức chế với vi khuẩn gây bệnh, ức chế vi khuẩn bám dính hay vi khuẩn chuyển vị, làm giảm pH đường ruột và tăng sản xuất dịch nhày đường ruột làm cho lớp dịch nhày này dày lên
Theo Vũ Duy Giảng (2012) ngoài bacteriosin, các probiotic còn sản sinh
ra các acid béo mạch ngắn, acid hữu cơ như acid lactic, acid propionic, acid acetic, hydrogen peroxide, pyroglutamate…
b Nâng cao đáp ứng miễn dịch đường ruột
Theo các trích dẫn của Otutumi et al (2010) các probiotic dịch chuyển
dọc theo thành ruột và nhân lên cho đến khi không còn nhân lên được nữa, các kháng nguyên được sinh ra từ vi sinh vật được tế bào hấp thu từ đó làm tăng
khả năng miễn dịch (Havenaar and Spanhaak, 1994)
Trong khi đó Loddi (2003) và Nunes (2008) cho rằng các kháng nguyên (lipopolysaccharides và peptidoglycans) không ngừng nhân lên trong đường ruột, chúng tạo ra các tác chất hóa học tác dụng lên tế bào biểu mô và các tế bào liên quan đến khả năng miễn dịch của niêm mạc ruột từ đó gây ra sự thay đổi trong biểu mô đường ruột gia cầm Các kháng nguyên này là thành phần quan trọng hình thành miễn dịch tại chỗ của gia cầm
c Tranh giành vị trí bám dính với các vi khuẩn có hại
Các trích dẫn của Otutumi et al (2010) cho thấy hoạt động của các
kháng nguyên và chất tiết từ vi sinh vật đã ức chế sự xâm nhập và ngăn cản vi khuẩn bám vào tế bào biểu mô bằng cách tăng tiết cytokines (TNF-α, IFN-γ,
IL-10 and IL-12) (Arvola et al., 1999), cytokines làm niêm mạc ruột tiết
IgA từ đó gây tăng tiết dịch nhày (Gupta and Garg, 2009) Chất nhày có tác dụng bôi trơn, giúp các biểu mô chống lại các tác nhân gây bệnh Chất nhày tạo ra một rào cản vật lý giữa biểu mô ruột và các chất chứa bên trong
ruột (Oliveira and Sequeira et al., 2008), và tạo điều kiện cho các vi sinh vật
có thể sống trong đường ruột (Mattar et al., 2002)
Khi vi khuẩn probiotic bám lên niêm mạc thành ruột chúng sẽ tạo ra môi trường acid nhẹ (chủ yếu là acid lactic), kiềm chế sự phát triển của những loài
vi khuẩn có hại (Elixa, 2004)
Trang 27d Tranh giành hóa chất, năng lượng với các vi khuẩn khác
Tất cả các vi khuẩn điều yêu cầu sắt (Fe) để phát triển, probiotic có khả năng sinh ra một hợp chất sắt có khối lượng phân tử thấp (<1500), hòa tan chất kết tủa của sắt Các vi khuẩn gây hại không có khả năng này nên một số
vi khuẩn có hại đã bị loại khỏi hệ tiêu hóa, có thể nói nhờ vào cơ chế này mà các probiotic có thể cạnh tranh hóa chất, năng lượng với các vi khuẩn khác (trích dẫn của Nguyễn Tiến Sĩ, 2008)
2.7 Nấm Saccharomyces cerevisiae
Nấm Saccharomyces cerevisiae (Hình 2.2) là một loại nấm men hay sử
dụng trong sản xuất rượu Hiện nay loài này được sử dụng rộng rãi trong sản xuất chế phẩm probiotic cho người và động vật
Ngoài ra nấm Sacharomyces cerevisiae còn là nguyên liệu trong sản xuất
prebiotic làm thức ăn bổ sung cho chăn nuôi như β-glucan Nấm sinh sản nhanh chóng, có khả năng lên men mạnh sinh khối của chúng giàu protein và
vitamin (Nguyễn Lân Dũng và ctv., 1979).
2.7.1 Phân loại, hình dạng của nấm
Hansen and Meyen (1838, nguồn vi.wikipedia.org) đã phân loại nấm
Saccharomyces cerevisiae như sau
Trang 28Theo Pretorius (2000 trích dẫn của Trần Thị Quế, 2011) nấm
Saccharomyces cerevisiae có dạng hình cầu hoặc elip, hình thái này thay đổi
theo môi trường nuôi cấy Nấm Saccharomyces cerevisiae có cấu tạo đơn bào,
có khả năng đồng hóa trực tiếp nitơ, photpho, kali và một số hợp chất hữu cơ
2.7.2 Đặc tính sinh sản của nấm
Nấm Saccharomyces cerevisiae có khả năng sinh sản hữu tính và vô tính
Theo Hartwell (1974, trích dẫn của Cao Ngọc Điệp, 2010) nấm
Saccharomyces cerevisiae sinh sản vô tính bằng cách nảy chồi, một chồi hoàn
chỉnh sẽ phát triển nối liền với tế bào mẹ (bud scar) và khi chồi rời ra tế bào
mẹ gọi là điểm sinh sản (birth scar)
Theo Guilliermond (1949, trích dẫn của Cao Ngọc Điệp, 2010) trong quá trình sinh sản hữu tính, sẽ có 4 bào tử nang hình thành trong 1 nang với 2 bào
tử nang mang gene α và 2 bào tử nang mang gene a phát triển độc lập với nhau Khi tiến hành tiếp hợp mỗi loài α và a sẽ tạo ra 2 loại giao tử khác nhau, sau đó chúng tiếp hợp lại với nhau tạo thành tế bào tiếp hợp Tế bào tiếp hợp nảy chồi cho ra tế bào giống tế bào tiếp hợp và mang 2n NST, tế bào tiếp hợp tiếp tục phát triển thành nang (tế bào tiếp hợp to hơn tế bào dinh dưỡng và có hình bầu dục) Trong điều kiện môi trường bất lợi, tế bào tiếp hợp sẽ giảm phân để hình thành 4 tế bào đơn bội với 2 tế bào mang gene α và 2 tế bào mang gene a
2.7.3 Nấm Saccharomyces cerevisiae trong đường tiêu hóa
Theo các trích dẫn của Auclair (2001) nấm Saccharomyces cerevisiae đã
được chứng minh là chỉ có thể nhân lên trong đường tiêu hóa của chuột
“axenic” (Ducluzeau and Bensaada, 1982) Do ảnh hưởng của hệ vi sinh vật
đường ruột nên nấm Saccharomyces cerevisiae bị loại bỏ đáng kể trong đường
tiêu hóa của chuột bình thường Trong điều kiện bình thường, nấm
Saccharomyces cerevisiae không thể tồn tại lâu trong đường tiêu hóa, một
lượng lớn nấm men đã được tìm thấy trong phân của động vật Đây chính là sự
khác biệt chính giữa nấm Saccharomyces cerevisiae với các probitic khác như
vi khuẩn sinh acid lactic về khả năng bám vào niêm mạc ruột, điều này có liên
quan chặc chẽ đến các tác động sinh học của probiotic (Ouwehand et al., 1999) Nấm Saccharomyces cerevisiae biến mất nhanh chóng từ đường dạ
dày-ruột khi ngừng dùng thuốc So với vi sinh vật yếm khí, nấm men không
thủy phân acid mật (Buts et al., 1986) Khả năng tiêu hóa, nhũ tương hóa chất
béo không bị ảnh hưởng khi có sự hiện diện của một lượng lớn
Saccharomyces cerevisiae trong đường tiêu hóa
Trang 292.7.4 Giá trị dinh dƣỡng của nấm Saccharomyces cerevisiae
Theo Vương Thị Hồng Vi (2007) nấm Saccharomyces cerevisiae có giá
trị dinh dưỡng cao, đặc biệt là hàm lượng protein, acid amin, vitamin nhóm B trong nấm rất cao Một số men tiêu hóa có trong nấm như amylase, protease,… và vitamin nhóm B có thể xúc tiến nhanh quá trình trao đổi chất, kích thích sự thèm ăn của gia súc, gia cầm Thành phần hóa học của
Saccharomyces cerevisiae được thể hiện trong Bảng 2.2
Bảng 2.2 Thành phần hóa học của nấm Saccharomyces cerevisiae
(Nguồn: Bekatorou, 2006 trích dẫn của Dương Thanh Vân, 2012)
2.7.5 Vai trò của Nấm Saccharomyces cerevisiae
Nấm Saccharomyces cerevisiae có khả năng kích thích các enzyme phân
giải đường như sucrase, lactase và maltase, kết quả nghiên cứu của
Buts et al (1986, trích dẫn của Auclair, 2001) trên chuột và các tình nguyện viên bằng cách cho uống nấm Saccharomyces cerevisiae cho thấy các enzyme
được đánh dấu đã tăng hoạt động
Nấm Saccharomyces cerevisiae cũng có tác dụng chống lại tác nhân gây
bệnh, kích thích các miễn dịch không đặc trưng do vách tế bào nấm
Saccharomyces cerevisiae chứa mannan và glucan có tác dụng hoạt hóa đại
thực bào, ức chế hoạt động của độc tố, và chống lại vi sinh vật gây bệnh như
Salmonella typhimurium, Shiguella flexneri, Clostridium difficile, Vibrio cholerae, E coli (Auclair, 2001)
Ngoài ra, nấm Saccharomyces ceresvisiae có khả năng chuyển hóa
glucose thành acid pyruvic, là cơ chất các vi sinh vật có lợi hoạt động và sinh sản Sản xuất các enzyme tiêu hóa như amylase, cellulase, lipase, protease, acid lactic, các acid hữu cơ làm giảm pH ruột Các enzyme sản xuất ra giúp
cải thiện tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng (Ghasemi et al., 2006 trích dẫn của
Hồ Trung Thông và Hồ Lê Quỳnh Châu, 2009 )
Trang 302.8 Vi khuẩn Pediococcus acidilactici
Vi khuẩn Pediococcus acidilactici (Hình 2.3) được tìm thấy vào năm
1887 bởi Lindner, là vi sinh vật đã được nghiên cứu trong những năm gần đây hứa hẹn sẽ tạo ra những chế phẩm sinh học tiềm năng trong chăn nuôi
Vi khuẩn Pediococcus acidilactici thường được tìm thấy trong các loại
rau lên men, các sản phẩm sữa và thịt lên men, và đã được bổ sung vào thức
ăn ủ chua để tăng cường sản xuất
2.8.1 Phân loại, hình dáng vi khuẩn
Lindner (1887, nguồn vi.wikipedia.org) đã phân loại vi khuẩn
Pediococcus acidilactici như sau:
- Loài: Pediococcus acidlactici
Pediococcus acidilactici là vi khuẩn gram dương, yếm khí tùy ý, phát
triển tốt trên môi trường MRS Pediococcus acidilactici là một loại vi khuẩn
lên men mà chịu được độ pH thấp (dưới 6,2), nhiệt độ cao (37-65oC) và có thể sống ở đường tiêu hóa của nhiều loài Kích thước khuẩn lạc của vi khuẩn
Pediococcus acidilactici nằm trong khoảng 1,0-2,5 mm, hình thái chủ yếu của
khuẩn lạc đặc trưng bởi màu xám trắng, mịn và tròn (Garvie, 1986)
Hình 2.3 Vi khuẩn Pedioccocus acidilactici
(phóng đại 9000x)
http://www.hindawi.com
Trang 312.8.3 Đặc tính của vi khuẩn Pediococcus acidilactici
Vi khuẩn Pediococcus acidilactici có dạng hình cầu, thống nhất về kích
thước và phân chia độc đáo dọc theo hai mặt ở góc bên phải để tạo thành bốn
vi khuẩn mới trong điều kiện thuận lợi Tuy nhiên cấu trúc bốn vi khuẩn ít nhìn thấy được, sự phát triển thường thấy ở tế bào đơn, đôi và chuỗi ngắn được hình thành từ các cặp vi khuẩn cũng như các cụm vi khuẩn hình thành ngẫu nhiên (Garvie, 1986)
Pediococcus acidilactici là những vi sinh vật “chemoorganotrophs”có
nhu cầu dinh dưỡng rất phức tạp Chúng cần lên men các chất có nguồn gốc carbohydrate ở dạng monosaccharide hoặc disaccharides và một loạt các vitamin, acid amin và ion cho sự tăng trưởng của chúng (Garvie, 1986)
2.8.2 Khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh
Vi khuẩn Pediococcus acidilactici gây đối kháng chống lại vi sinh vật khác, bao gồm các tác nhân gây bệnh đường ruột, chủ yếu thông qua việc sản xuất acid lactic và tiết bacteriosins gọi là pediosins (Furr, 2013) Theo tổng hợp của Geary (1997) pediosins được quan tâm như một loại thực phẩm phòng bệnh sinh học tiềm năng “potential food bio-preservatives” (Ray and Daeschel
1994) Vi khuẩn Pediococcus acidilactici còn có khả năng diệt nhiều loại vi
khuẩn gây hư hỏng thực phẩm cũng như là gây ra các bệnh truyền từ thực phẩm sang con người (Biswas, Ray, Johnson and Ray 1991) Con người có thể
tiêu thụ bacteriosin mà vi khuẩn Pediococcus acidilactici sinh ra trong quá
trình lên men và không ảnh hưởng bất lợi nào (Yang and Ray 1994)
Vi khuẩn Pediococcus acidilactici có thể lên men glucose, fructose,
mannose, galactose, arabinose, xylose, salicin và trehalose, một số dòng vi khuẩn có thể lên men cả lactose sản xuất ra acid lactic, DL-lactic acid và diacetyl (Buchanan và Gibbons 1974 trích dẫn của Geary, 1997) Diacetyl là một chất diệt khuẩn có khả năng kháng lại các vi khuẩn gram âm, nấm men và nấm mốc, diacetyl tăng khi pH giảm xuống 5,0 (Geary, 1997)
Vi khuẩn Pediococcus acidilactici
vi khuẩn Pediococcus acidilactici sẽ
et al., 2007)
Theo kết quả nghiên cứu của Furr (2013) trên gia cầm tiêm Eimeria
tenella với liều lượng khác nhau rồi cho ăn nấm Saccharomyces boulardii và
vi khuẩn Pediococcus acidilactici thì sự đổ kén hợp tử cầu trùng đã giảm 10-38% Ngoài ra vi khuẩn Pediococcus acidilactici còn ức chế sự tăng sinh của vi khuẩn Campylobacter trong ống nghiệm
Trang 32Theo nghiên cứu của Giancaillo et al (2008) trên heo con con cai sữa thì vi khuẩn Pediococcus acidilactici có khả năng làm tăng chiều cao và chiều
sâu nhung mao hồi tràng và manh tràng, từ đó các chất dinh dưỡng được hấp thu tốt hơn
2.9 Vài nét về vi khuẩn Escherichia coli
Escherichia coli (E coli) là một trong những loài vi khuẩn chính ký sinh
trong đường ruột của động vật máu nóng (bao gồm cả chim và động vật có vú), vi khuẩn này cần thiết trong quá trình tiêu hóa thức ăn Chúng thường xuất hiện sớm ở người và động vật sơ sinh (sau khi sinh khoảng 2 giờ), chúng
thường ở ruột già ít khi ở dạ dày và ruột non, từ ruột E coli theo phân ra môi
trường (Lưu Hữu Mãnh, 2010)
Theo nhóm tác giả Oliveira et al., (2009, trích dẫn của Nguyễn Hoàng
Dũ, 2013) chủng E coli gây bệnh trên gia cầm chủ yếu là serotype O, cùng
một loại gia cầm nhưng có thể nhiễm các serotype O khác nhau Serotypes O1, O2, O78 được phân lập từ gà mái đẻ, serotypes O8, O15, O78, O86, O88, O103 được phân lập từ gà giò, serotypes O2, O5, O78, O88 được phân lập từ
gà con, serotypes O2, O5, O78 được tìm thấy ở gà tây, trong đó O78 có mặt ở tất cả các mẫu phân lập được
2.9.1 Hình thái
E coli là một trực khuẩn hình gậy ngắn, kích thước 2-3 µm Trong cơ
thể có trực khuẩn đứng riêng lẻ đôi khi xếp thành chuỗi ngắn Có khi trong môi trường nuôi cấy thấy có những trực khuẩn dài 4-8 µm, những loại này
thường gặp trong canh khuẩn già Phần lớn E coli di động do có lông ở xung
quanh thân, nhưng một số không thấy di động Không hình thành nha bào, có thể có giáp mô (Hình 2.4)
Vi khuẩn bắt màu Gram âm, có thể bắt màu đều hoặc sẫm ở hai đầu khoảng giữa nhạt hơn Nếu lấy khuẩn lạc nhày để nhuộm có thể thấy giáp mô,
khi soi tươi thì không thấy được (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Hình 2.4 Cấu tạo vi khuẩn E coli
http://www.impe-qn.org.vn
Trang 332.9.2 Đặc tính nuôi cấy
E coli phát triển dễ dàng trên các môi trường nuôi cấy thông thường,
một số chủng có thể phát triển được ở các môi trường tổng hợp đơn giản nên
người ta đã chọn chúng làm mẫu để nghiên cứu về sinh vật học E coli là trực
khuẩn hiếu khí hoặc yếm khí tùy tiện có thể sinh trưởng ở nhiệt độ từ 5-40o
C, nhiệt độ thích hợp là 37oC, pH thích hợp là 7,2-7,4 có thể phát triển được ở pH
từ 5,5-8 (Lưu Hữu Mãnh, 2010)
Trên môi trường thạch dinh dưỡng ở 37oC và sau 24 giờ, E coli hình
thành những khuẩn lạc tròn, ướt, có màu trắng đục Trên môi trường
MacConkey, khuẩn lạc E coli tròn, có màu hồng Trên môi trường EMB, sau
24 giờ nuôi cấy ở 37oC, vi khuẩn E coli hình thành những khuẩn lạc màu tím
đen có ánh kim (trích dẫn của Trát Minh Thụy, 2011)
2.9.3 Đặc tính sinh hóa
E coli lên men sinh hơi các loại đường glucose, fructose, levulose,
xylose, ramose mannitol, lactose Tất cả vi khuẩn E coli đều lên men đường
lactose nhanh và sinh hơi đó là đặc điểm quan trọng mà người ta dựa vào đó
để phân biệt E coli và Salmonella Tuy nhiên cũng có một vài chủng không
lên men đường lactose (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Một số phản ứng sinh hóa khác: phản ứng Indol và MR dương tính; phản ứng H2S, VP, urea, citrate âm tính (Trần Linh Thước, 2006)
2.9.4 Đặc tính gây bệnh của vi khuẩn E coli
Vi khuẩn E coli tồn tại bình thường trong ống tiêu hóa của gia súc, gia cầm Dưới ảnh hưởng của một số yếu tố nhất định, các chủng vi khuẩn E coli
có độc lực gây bệnh liên quan đến tình trạng tiêu chảy, nhiễm trùng huyết ở gia súc non hoặc bệnh hô hấp của gia cầm Các chủng khác không gây tiêu chảy có thể trở thành căn bệnh cơ hội khi điều kiện cho phép
Vi khuẩn E coli có thể gây bệnh được do nhiều yếu tố như: khả năng
bám dính, khả năng xâm nhập, các loại kháng nguyên, yếu tố dung huyết, yếu
tố kháng khuẩn, khả năng kháng kháng sinh và độc tố Nhưng quan trọng nhất
là 2 yếu tố độc lực chính: kháng nguyên bám dính (Fimbriae) và độc tố đường ruột (Enterotoxin) Kháng nguyên bám dính cho phép vi khuẩn bám dính trên
tế bào biểu mô lông ruột non từ đó gây nên những biến động bệnh lý kèm theo Độc tố đường ruột do vi khuẩn sản sinh gắn vào receptor trên tế bào ruột non của vật chủ gây nên những biến đổi chức năng sinh lý màng tế bào, dẫn đến việc tăng cường bài xuất nước và các chất điện giải ra khỏi màng tế bào, cuối cùng gây chết gia súc do mất nước, rối loạn trao đổi chất điện giải và trúng độc toan (Acres, 1985 trích dẫn của Nguyễn Hoàng Dũ, 2013)
Trang 342.9.5 Bệnh do vi khuẩn E coli
E coli có thể gây bệnh colibacillosis, viêm rốn, viêm túi khí và viêm
màng hoạt dịch E coli là một vi khuẩn cơ hội thường gây bệnh kế phát khi gia cầm bị stress hay bị bệnh Nhưng chính E coli cũng có thể tự nó gây bệnh
nhưng hầu hết các trường hợp là kế phát (Nguyễn Hoàng Dũ, 2013)
Theo Nguyễn Như Thanh và ctv (1997),vi khuẩn E coli thường gây tháo
dạ, đi phân xanh mùi hôi thối, có khi có hiện tượng viêm kết mạc mắt, viêm cuống phổi, viêm niêm mạc mũi làm gia cầm thở khó
2.10 Sự điều tiết nhiệt cơ thể gia cầm và mối liên quan đến nhiệt độ,
độ ẩm, độ thoáng khí của tiểu khí hậu chuồng nuôi
2.10.1 Sự điều tiết nhiệt cơ thể gia cầm và mối liên quan đến nhiệt độ của tiểu khí hậu chuồng nuôi
Theo Đào Đức Long (2004) ngay từ nhỏ gia cầm đã có quá trình điều nhiệt, khả năng này có liên quan đến yếu tố kiểu khí hậu chuồng nuôi nhằm giúp cho chúng tạo ra nhiệt và thoát nhiệt để ổn định nhiệt độ cơ thể Da gà không có tuyến mồ hôi do vậy sự thoát nhiệt thực hiện khi gà hô hấp Nếu nhiệt độ được giữ ở mức 15-20o
C thì gà sẽ có sức sản xuất cao, tiêu tốn ít thức
ăn hơn Khi nhiệt độ cao hơn 25oC kéo dài nhiều ngày cũng gây bất lợi cho gà, nhiệt độ từ 30o
C trở lên sức sản xuất của gà giảm nhiều đặc biệt là các đàn gà sản xuất hướng thịt Nhiệt độ tăng kéo dài theo sự biến động nhiệt mạnh mẽ trong ngày là thời kỳ đặc biệt nguy hiểm cho gà vì chúng bị choáng nóng liên tục và dẫn đến chết
Khi trời nóng nếu quan sát đàn gà ta thấy chúng xõa cánh để làm giảm bớt nhiệt độ cơ thể, há miệng thở và nhịp thở tăng nhanh để thoát nhiệt, đồng thời gà cũng mất nước nhiều… Cần cung cấp đủ lượng nước mát cho gà uống, khi nhiệt độ chuồng nuôi lên cao bắt buộc phải dãn rộng gà, mật độ nuôi gà đẻ
và gà thịt trên nền có đệm lót thay đổi như Bảng 2.3
Trang 35Khả năng chống nóng còn tùy thuộc vào loại hình, giới tính gà Gà nhỏ, nhẹ cân có thể chịu đực nhiệt độ cao hơn các giống gà nặng cân, con trống chịu được nhiệt độ cao giỏi hơn con mái
Trời lạnh gia cầm phải điều tiết thân nhiệt bằng cách tăng cường hoạt động của tuyến giáp trạng và cường độ trao đổi chất Ở nhiệt độ thấp dưới
10oC hoặc xuống thấp hơn, mức tiêu tốn thức ăn để sản xuất ra 1 đơn vị trứng, thịt đều tăng, nhưng tỷ lệ đẻ giảm Khi nhiệt độ thấp quá gà trở nên ít hoạt động, chúng đứng tụm lại thành đàn, co đầu lại rút vào trong cánh Nếu là gà con chúng có thể đè lên nhau và làm chết những gà nằm ở dưới
2.10.2 Sự điều tiết nhiệt của cơ thể gia cầm và mối liên quan đến độ
ẩm, thoáng khí của tiểu khí hậu chuồng nuôi
Theo Đào Đức Long (2004) gia cầm ít có phản ứng rõ rệt với ẩm độ cao trong điều kiện nhiệt độ bình thường, tuy vậy ẩm độ cao sẽ gây khó thoát nhiệt của cơ thể gia cầm trong thời tiết nóng, ẩm độ cao làm sự bốc hơi của màng nhày gặp khó khăn
Độ ẩm không khí trong chuồng nuôi tốt nhất là 65-70% Đây là độ ẩm tương đối được biểu diễn bằng số phần trăm của độ ẩm tối đa để đo độ ẩm không khí Độ ẩm cao là điều kiện cho các loại vi khuẩn phát triển, lớp độn chuồng dễ bị nấm mốc phát triển gây mủn nát, các thiết bị dụng cụ chăn nuôi
dễ hỏng hoặc phải lau chùi, cọ rửa nhiều,các bệnh dễ lây lan hơn
Thông gió giúp giảm độ ẩm cao trong chuồng nuôi, ngoài ra nó còn cung cấp thêm không khí sạch và đẩy các khí độc trong chuồng nuôi ra ngoài Việc thông thoáng rất quan trọng trong điều kiện nuôi chuồng kín Thông thoáng kém thường kéo theo các bệnh về đường hô hấp, bệnh Newcastle
Cần lưu ý trong lúc làm thông thoáng cần tránh gió lùa, gió lùa làm cho gia cầm bị lạnh đột ngột, hệ thống điều tiết nhiệt không bù đắp lại được ngay nên cũng rất nguy hại
Trang 36Chương 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
3.1 Phương tiện thí nghiệm
3.1.1 Thời gian và địa điểm thực hiện
Thời gian: Thí nghiệm được tiến hành trong khoảng thời gian từ ngày 10/3/2014 đến hết ngày 4/5/2014
Địa điểm: Đề tài thí nghiệm được thực hiện tại trại gà giống của công ty TNHH MTV Chăn nuôi Vemedim nằm tại Ấp Thới Hòa C, xã Thới Thạnh, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ và phòng thí nghiệm vi sinh trung tâm R&D thuộc công ty Vemedim Cần Thơ
3.1.2 Động vật thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành trên 900 con gà thịt giống Nòi lai (Nòi x Lương Phượng) đang ở đầu tuần tuổi thứ 5 do công ty tự cung cấp giống với khối lượng trung bình là 376,26 ± 0,70 g/con Trước khi thí nghiệm
gà được tiêm phòng các loại vaccine và tẩy ký sinh trùng đầy đủ
3.1.3 Chuồng trại thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành tại trại gà giống (Hình 3.1) thuộc công ty TNHH MTV Chăn nuôi Vemedim-Cần Thơ
Đây là 1 trại trong hệ thống 8 trại của công ty Chăn nuôi bao gồm: trại động vật ăn cỏ, trại gà giống, trại gà kín, trại gà thịt, trại heo kín, trại heo hở Chức năng chủ yếu của các trại là cung cấp động vật phục vụ cho các thí nghiệm của công ty Vemedim, đồng thời sản xuất, kinh doanh các giống gia súc, gia cầm
Hình 3.1 Trại gà thí nghiệm tại Huyện Thới Lai-Cần Thơ
Trang 37Trại được xây dựng theo trục Đông Bắc - Tây Nam, có diện tích 13,9 m x 42 m với các hướng tiếp giáp như sau
- Hướng Đông giáp ruộng lúa của nông dân
- Hướng Tây giáp xí nghiệp Chăn nuôi heo Miền Tây
- Hướng Nam giáp cánh đồng cỏ voi
- Hướng Bắc giáp Trại gà kín
Trại được xây dựng theo kiểu trại hở kiên cố nên nhiệt độ và ẩm độ trong trại chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường, mái chuồng lợp tole, thiết kế theo dạng 2 mái Nền chuồng được trán xi măng bằng phẳng, cuối nền chuồng
có lỗ thoát nước Vách chuồng xây bằng xi măng cao 0,4 m phía trên được bao xung quanh bằng lưới B40 Trại có 8 ô chuồng, mỗi ô chuồng có 2 cửa ra vào Trại được chia làm 3 khu vực: 1 khu vực nhỏ phía trên đầu trại dùng làm kho chứa thức ăn, tủ thuốc và các vật dụng phục vụ chăn nuôi như máng ăn, bầu nước, bình xịt thuốc sát trùng… Khu vực 2 gồm 4 ô chuồng dùng để nuôi gà thịt giống địa phương Khu vực còn lại gồm 4 ô chuồng dùng để nuôi gà đẻ giống địa phương, có một cửa mở ra sân chơi cho gà Hình 3.2 mô phỏng sơ
Hình 3.2 Sơ đồ trại gà giống
Trang 38
Mỗi ô chuồng thí nghiệm được bố trí 1 bầu nước và 2 máng máng ăn tròn đường kính 50 cm Gà được nuôi nuôi trên nền trấu dầy khoảng 7 cm Hình 3.3 là ảnh chụp thực tế các ô chuồng thí nghiệm
3.1.4 Thức ăn thí nghiệm
Thức ăn sử dụng trong thí nghiệm là thức ăn do trại tự phối trộn các loại thực liệu như bắp, cám gạo, bánh dầu nành, bột xương, bột sò to, muối ăn, Methionine, các sản phẩm bổ sung khoáng và vitamin như Embavit 2, Vime Senic EH Thức ăn được trộn theo đợt, mỗi đợt ăn trong 2-3 ngày Thí nghiệm được tiến hành trên 2 loại khẩu phần khác nhau theo công thức ở Bảng 3.1
- Khẩu phần 1 (Khẩu phần cơ sở, KPCS): trại phối hợp các thực liệu theo công thức của công ty Vemedim
- Khẩu phần 2 (Khẩu phần bổ sung, KPBS): gồm KPCS bổ sung thêm chế phẩm men vi sinh Bactozyme ở mức 2 g/kg thức ăn
Hình 3.3 Các ô gà thí nghiệm tại trại
Trang 39Bảng 3.1 Công thức khẩu phần thức ăn của gà trong giai đoạn thí nghiệm Stt Thực liệu Khẩu phần 1, kg Khẩu phần 2, kg
(Nguồn: Công ty Vemedim, 2014)
Embavit 2 là một loại premix khoáng, vitamin, acid amin Embavit 2 có công dụng kích thích tăng trọng giúp gà mau lớn, phòng ngừa các bệnh do thời tiết, stress, các bệnh do vi khuẩn gây ra
Vime Senic EH là một premix bổ sung vitamin E, vitamin H và Sodium Selenite Vime Senic EH có tác dụng giúp cơ thể tăng cường miễn dịch, chống thoái hóa cơ và chống khô lông
Chế phẩm men vi sinh Bactozyme (Hình 3.4) là một probiotic chứa các
vi sinh vật hữu ích như vi khuẩn Pediococcus acidilactici và nấm
Saccharomyces cerevisiae
Hình 3.4 chế phẩm men vi sinh Bactozyme