Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Tài Nguyên & Môi Trường CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ Môi trường nước ta ngày càng bị ô nhiễm trầm trọng, không chỉ đe dọa đến cuộc sống, sức khỏ
Trang 1KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG KHÔNG KHÍ XUNG QUANH ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ SUY GIẢM
SỐ LƯỢNG ĐÀN DƠI Ở CHÙA MAHATUP
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
Sinh viên thực hiện NGUYỄN ĐẠT KHOA MSSV: 3113804
Cán bộ hướng dẫnThS BÙI THỊ BÍCH LIÊN
Cần Thơ, tháng 12 – 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG KHÔNG KHÍ XUNG QUANH ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ SUY GIẢM
SỐ LƯỢNG ĐÀN DƠI Ở CHÙA MAHATUP
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
Sinh viên thực hiện NGUYỄN ĐẠT KHOA MSSV: 3113804
Cán bộ hướng dẫnThS BÙI THỊ BÍCH LIÊN
Cần Thơ, tháng 12 – 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân còn là sự giúp đỡ rất lớn của Thầy Cô, gia đình, bạn bè, đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Trước tiên, xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Môi Trường và Tài Nguyên Thiên Nhiên, đặc biệt quý thầy cô Bộ môn Quản Lý Môi Trường và Tài Nguyên Thiên Nhiên đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường
Cảm ơn sự giúp đỡ và dìu dắt tận tình của Cô Bùi Thị Bích Liên, là cán bộ hướng dẫn đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo tận tình để em có thể hoàn thiện luận văn tốt nghiệp này
Cảm ơn Thầy Lê Văn Dũ, thầy Vũ Nam đã tận tình hướng dẫn và chia sẻ các kinh nghiệm và kiến thức hỗ trợ em trong quá trình thực hiện đề tài
Xin cảm ơn quý anh, chị và ban lãnh đạo Phường 3, thành phố Sóc Trăng, anh chị thuộc Sở khoa học và công nghệ tỉnh Sóc Trăng, ban trị sự chùa Dơi,… đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuật lợi cho em trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp Cảm ơn tất cả các bạn, đặc biệt là các thành viên lớp Quản Lý Tài Nguyên và Môi Trường Khóa 37 đã động viên, hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, những người thân đã ở bên động viên và quan tâm tôi trong suốt thời gian qua
Chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Đạt Khoa
Trang 4Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Tài Nguyên & Môi Trường
MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH BẢNG v
DANH SÁCH HÌNH vi
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2
CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 GIỚI THIỆU 3
2.1.1 Tổng quan về tỉnh Sóc Trăng 3
2.1.2 Sơ lược về chùa Dơi – Mahatup 4
2.1.3 Sơ lược về loài Dơi ở chùa Dơi - Mahatup 6
2.2 HIỆN TRẠNG ĐÀN DƠI Ở CHÙA MAHATUP 9
2.3 Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ VÀ CÁC YẾU TỐ GÂY Ô NHIỄM CHÍNH11 2.3.1 Ô nhiễm không khí 11
2.3.2 Các yếu tố gây ô nhiễm chính 12
2.3.3 Một số nghiên cứu nước ngoài về loài dơi 20
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 23
3.2 PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU 23
3.2.1 Máy đo tiếng ồn Noise Meter Testo 815 24
3.2.2 Máy đo khí độc IBRID MX6 25
3.2.3 Máy đo bụi KANOMAX 27
Trang 53.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 28
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 28
3.3.3 Đo đạc ô nhiễm không khí MTXQ tại khu vực Chùa Dơi và các khu vực kiếm ăn của Dơi 28
3.3.4 Đo đạc ô nhiễm tiếng ồn MTXQ tại khu vực Chùa Dơi và các khu vực kiếm ăn của Dơi 29
3.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 29
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 KẾT QUẢ PHỎNG VẤN .30
4.1.1 Thay đổi số lượng cá thể dơi 30
4.1.2 Mức độ quan tâm của người dân về nguyên nhân suy giảm số lượng cá thể Dơi tại chùa Mahatup 35
4.1.3 Các mối đe dọa đến đàn Dơi khi kiếm ăn xa chùa 41
4.2 CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ 42
4.2.1 Kết quả về khí NO2 và khí CO 43
4.2.2 Kết quả đo tiếng ồn 44
4.2.3 Kết quả về bụi lơ lửng 49
4.3 ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ 52
4.4 CÁC GIẢI PHÁP VỀ QUẢN LÝ BẢO VỆ CÁ THỂ DƠI 55
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
5.1 KẾT LUẬN 58
5.2 KIẾN NGHỊ 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
PHỤ LỤC 62
Trang 6Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Tài Nguyên & Môi Trường
2.4 Tác hại của NO2 phụ thuộc vào nồng độ và thời gian tiếp xúc 14 2.5 Giá trị giới hạn các thông số cơ bản trong không khí xung quanh 16 2.6 Tác hại của tiếng ồn phụ thuộc vào thời gian tiếp xúc và mức âm 18 2.7 Tác hại của tiếng ồn ở cường độ cao đối với sức khỏe con người 18 2.8 Giới hạn tối đa cho phép về tiếng ồn (theo mức âm tương đương),
dBA
19
4.1 Nhận định của người dân vùng lân cận về sự thay đổi số lượng Dơi
trong 5 năm gần đây (n=52)
31
4.2 Nhận định của khách du lịch về sự thay đổi số lượng Dơi trong 5
năm gần đây (n=50)
32
4.3 Nhận định của người dân vùng phụ cận và cán bộ tỉnh Sóc Trăng
về sự thay đổi số lượng Dơi trong 5 năm trở lại đây
33
4.4 Bảng thể hiện mức độ quan tâm về nguyên nhân suy giảm số
lượng cá thể Dơi tại chùa của người dân vùng phụ cận
36
4.5 Bảng thể hiện mức độ quan tâm về nguyên nhân suy giảm số
lượng cá thể Dơi tại chùa của cán bộ lãnh đạo tỉnh Sóc Trăng
36
4.6 Bảng thể hiện mức độ quan tâm về nguyên nhân suy giảm số
lượng cá thể Dơi tại chùa của khách du lịch
37
4.7 Bảng thể hiện mức độ quan tâm về nguyên nhân suy giảm số
lượng cá thể Dơi tại chùa của người dân vùng lân cận
37
4.9 Kết quả đo đạc thông số CO tại các vị trí quan trắc 43
4.11 Kết quả đo độ ồn vào ngày lễ Ok Om Bok 48
4.13 Kết quả thu mẫu bụi vào ngày lễ Ok Om Bok 51
Trang 7DANH SÁCH HÌNH
2.4 Ảnh dơi (trái) và cấu trúc cơ thể dơi (phải) 6
2.7 Các vị trí khảo sát ảnh hưởng của ánh sáng và tiếng ồn đến Dơi 22
4.1 Tỷ lệ % ý kiến của người dân sống lân cận Chùa về sự thay đổi cá
thể Dơi trong 5 năm gần đây (n=52 )
31
4.2 Tỷ lệ % ý kiến nhận định của khách du lịch về xu hướng thay đổi số
lượng Dơi tại chùa Dơi trong 5 năm gần đây (n=50)
32
4.3 Tỷ lệ % ý kiến nhận định của người dân ở vùng phụ cận về xu hướng
thay đổi số lượng Dơi trong 5 năm gần đây (n=374)
33
4.4 Tỷ lệ % ý kiến nhận định của lãnh đạo các ban ngành tỉnh Sóc Trăng
về xu hướng thay đổi số lượng Dơi tại chùa trong 5 năm trở lại đây
(n=30)
33
4.5 Tỷ lệ % ý kiến của người dân được phỏng vấn ở vùng phụ cận về sự
thay đổi số lượng Dơi theo mùa trong năm (n=374)
34
4.6 Tỷ lệ % ý kiến người dân phụ cận về số lượng Dơi xuất hiện nhiều
hơn vào mùa nào trong năm (n=254)
34
4.7 Biểu đồ thể hiện mức độ quan tâm đến suy giảm số lượng cá thể Dơi
tại chùa Mahatup của người dân phụ cận (n=374)
35
4.8 Biểu đồ thể hiện mức độ quan tâm đến suy giảm số lượng cá thể Dơi
tại chùa Mahatup của cán bộ lãnh đạo tỉnh SócTrăng (n=30)
35
4.9 Biểu đồ thể hiện mức độ quan tâm đến suy giảm số lượng cá thể Dơi
tại chùa Mahatup của khách du lịch (n=50)
35
4.10 Biểu đồ thể hiện mức độ quan tâm đến suy giảm số lượng cá thể Dơi
tại chùa Mahatup của người dân lân cận (n=52)
35 4.11 Khu vực nhà vệ sinh công cộng tại chùa 40 4.12 Tỷ lệ % ý kiến trả lời của người dân được phỏng vấn ở vùng phụ cận 41
Trang 8Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Tài Nguyên & Môi Trường
4.17 Diễn biến mức ồn giữa các lần đo tại chùa 47 4.18 So sánh mức ồn vào ngày lễ Ok Om Bok năm 2013 và 2014 48
4.20 So sánh nồng độ bụi giữa các lần đo 50 4.21 Diễn biến nồng độ bụi tại chùa Mahatup 51 4.22 So sánh nồng độ bụi vào ngày lễ Ok Om Bok năm 2013 và 2014 52 4.23 Mức ồn trung bình trong 4 lần đo tại các vị trí quan trắc 53 4.24 Diễn biến nồng độ trung bình bụi lơ lửng tại các vị trí quan trắc 55 4.25 Ý kiến của người dân vùng lân cận về việc có nên bảo vệ đàn Dơi 56 4.26 Ý kiến của người dân vùng phụ cận về việc có nên bảo vệ đàn Dơi 56
Trang 9DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVHTT Bộ văn hóa – thông tin BTNMT Bộ tài nguyên môi trường
Trang 10Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Tài Nguyên & Môi Trường
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Môi trường nước ta ngày càng bị ô nhiễm trầm trọng, không chỉ đe dọa đến cuộc sống, sức khỏe của người dân mà nó còn ảnh hưởng rất lớn đến các loài động vật, đến cảnh quan thiên nhiên và sự phát triển của kinh tế ở các thành phố lớn Với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa càng mạnh thì nhu cầu sử dụng năng lượng càng nhiều Do đó, chất lượng môi trường đất, nước, không khí ngày càng bị suy giảm nghiêm trọng hơn Đặc biệt, hiện nay vấn đề ô nhiễm môi trường không khí là một trong những vấn nạn chung của nhân loại cần được quan tâm hàng đầu Các quá trình sản xuất công nghiệp, sản xuất nông nghiệp, giao thông vận tải, sinh hoạt,… tất cả đều thải ra một lượng lớn chất gây ô nhiễm không khí do các quá trình đốt cháy nhiên liệu,
sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật, Các quá trình này thải ra bầu khí quyển một lượng lớn khí thải độc hại như bụi, CH4, CO2, NO2, CO, SO2, NH3,… gây ra các ảnh hưởng nghiêm trọng đến bầu khí quyển như “Sự biến đổi khí hậu – nóng lên toàn cầu”
Cũng như các thành phố khác trong cả nước, Sóc Trăng đang từng bước chuyển mình để bắt kịp xu hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, đồng thời cũng đang gặp nhiều khó khăn, thách thức về vấn đề môi trường đất, nước, không khí,… Với lợi thế tiềm năng sẵn có về phát triển du lịch, trong những năm gần đây thành phố Sóc Trăng
đã thu hút ngày càng đông du khách trong và ngoài nước đến tham quan du lịch bởi có những nét đặc trưng rất đặc sắc xuất phát từ truyền thống đoàn kết, gắn bó, sự hòa quyện giao thoa văn hóa của ba dân tộc Kinh, Hoa, Khmer Một trong những điểm đến dừng chân của khách tham quan khi đến với Sóc Trăng đó chính là chùa Dơi, một điểm tâm linh, tín ngưỡng đặc biệt nhất ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)
Chùa Dơi là một trong những công trình nghệ thuật kiến trúc tiêu biểu của Phật giáo Nam tông Khmer Nam bộ, có kiến trúc, hoa văn đặc sắc và là một trong những ngôi chùa cổ nhất với bề dày lịch sử hơn 400 năm Đây là một ngôi chùa đẹp hài hòa trong khoảng không gian xanh bốn mùa Cây cối ở đây cao to và là nơi cư ngụ của hàng trăm loài chim muông, đặc biệt là khuôn viên chùa khá rộng, nơi đây có hàng vạn con Dơi Quạ cư trú bao đời nay Ngày 12/02/1999, Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ VHTTDL) đã ra Quyết định số 05/1999/QĐ-BVHTT công nhận Chùa Dơi là di tích nghệ thuật cấp quốc gia
Hình ảnh đàn Dơi bay đi kiếm ăn vào ban đêm, cũng như hình ảnh đàn Dơi treo ngược mình nghỉ ngơi trên những cành cây trong không gian chùa từ lâu đã trở thành một nét đặc sắc riêng của tỉnh Sóc Trăng, thu hút hàng ngàn du khách tới tham quan Tuy nhiên, trong những năm gần đây, số lượng cá thể Dơi trong chùa suy giảm mạnh chỉ còn khoảng trên dưới 1.000 con và đang có xu hướng giảm dần theo thời gian
Trang 11Do đó, để xác định nguyên nhân suy giảm số lượng đàn Dơi tại chùa Mahatup,
đề tài “Khảo sát và đánh giá chất lượng không khí xung quanh ảnh hưởng đến sự suy giảm số lượng đàn Dơi ở chùa Mahatup thành phố Sóc Trăng” được thực hiện nhằm nghiên cứu các tác động của chất lượng không khí và tiếng ồn đối với loài Dơi tại chùa, từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục phù hợp
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Xác định khả năng tác động của ô nhiễm môi trường không khí và tiếng ồn đến
sự suy giảm số lượng đàn Dơi tại chùa Dơi – thành phố Sóc Trăng
- Đề xuất các giải pháp khả thi để hạn chế tác động tiêu cực của ô nhiễm không khí và tiếng ồn đến đời sống đàn Dơi tại chùa Dơi và các vùng kiếm ăn của Dơi
1.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Thu thập, tổng hợp các tài liệu, dữ liệu, các nghiên cứu trước đây liên quan đến mức độ ô nhiễm không khí, tiếng ồn và các tác động tiêu cực khác đã được ghi nhận đối với đời sống của loài Dơi
- Đo đạc tiếng ồn, thu mẫu và phân tích các chỉ tiêu ô nhiễm không khí tại các khu vực sinh sống, các khu vực Dơi thường đi kiếm ăn
- So sánh kết quả phân tích, đo đạc và đánh giá chất lượng môi trường không khí xung quanh tại chùa Dơi – Sóc Trăng và các vùng phụ cận
- Tìm hiểu các giải pháp hạn chế ô nhiễm không khí và tiếng ồn
Trang 12Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Tài Nguyên & Môi Trường
CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 GIỚI THIỆU
2.1.1 Tổng quan về tỉnh Sóc Trăng 1
Sóc Trăng là một tỉnh ven biển ĐBSCL thuộc Việt Nam, nằm ở cửa Nam sông Hậu, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 231 km, cách Cần Thơ 62 km Sóc Trăng nằm trên tuyến Quốc lộ 1A nối liền các tỉnh Cần Thơ, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau Quốc lộ 60 nối Sóc Trăng với các tỉnh Trà Vinh, Bến Tre và Tiền Giang
Tỉnh Sóc Trăng có bờ biển dài 72 km, nằm ở hạ nguồn của sông Hậu, là nơi sông Hậu đổ vào biển Đông tại hai cửa Định An và Trần Đề, với dân số và diện tích đều đứng thứ 6 trong khu vực ĐBSCL.
Thành phố Sóc Trăng trực thuộc tỉnh Sóc Trăng, thành lập tháng 02/2007 với
10 đơn vị hành chính (từ phường 1 đến phường 10) Thành phố có số lượng chùa Phật lớn trong cả nước với 54 đình, chùa Diện tích tự nhiên là 7.649 ha, dân số trên 173.900 người, trong đó có trên 60% người Kinh, người Khmer chiếm 23,4% và người Hoa chiếm 16,4% Những năm gần đây, Thành phố đã thu hút ngày càng đông du khách trong và ngoài nước đến tham quan du lịch bởi có nét đặc trưng rất đặc sắc xuất phát từ truyền thống đoàn kết, gắn bó, sự hòa quyện giao thoa văn hóa của ba dân tộc Kinh, Hoa, Khmer
Sóc Trăng được biết đến là xứ sở của lễ hội và chùa tháp Hiện nay, trên địa bàn tỉnh đã có trên 200 ngôi chùa lớn nhỏ Ngôi chùa vừa là điểm sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo trong cộng đồng còn có giá trị cao về nghệ thuật kiến trúc, là nơi gìn giữ truyền thừa bản sắc văn hóa dân tộc, tổ chức các hoạt động lễ hội, lễ tết… và trong số những ngôi chùa ấy, phải kể đến Chùa Mahatup hay còn gọi là Chùa Dơi, hiện đã trên 440 năm tuổi và là điểm tham quan du lịch sinh thái với đàn Dơi tự nhiên hàng ngàn con
và trở thành điểm đến hấp dẫn đối với khách du lịch trong và ngoài nước
Vị trí tọa độ: 9 độ 12’ – 9 độ 56’ độ vĩ Bắc và 105 độ 33’ – 106 độ 23’ độ kinh Đông Địa giới hành chính:
Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Hậu Giang
Phía Tây Nam giáp Bạc Liêu
Phía Đông Bắc giáp Trà Vinh
Phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông
1 Nguồn: Cổng thông tin điện tử Tình Sóc Trăng
Trang 13
Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Sóc Trăng
(Nguồn: www.soctrang.gov.vn )
2.1.2 Sơ lược về chùa Dơi – Mahatup 2
Phường 3 là một địa bàn khá rộng, với diện tích tự nhiên lên đến 617,3 ha; với 4.843 hộ dân sinh sống, và 3 dân tộc Kinh – Hoa – Khmer sống đan xen với nhau, là địa bàn có nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh
Chùa Dơi nằm trong địa bàn thành phố Sóc Trăng, thuộc khóm 9, phường 3, thành phố Sóc Trăng Phía đông giáp khu dân cư, phía tây giáp khu dân cư, phía nam giáp đồng ruộng, phía bắc giáp lộ Mai Thanh Thế tiếp giáp đường Lê Hồng Phong, thành phố Sóc Trăng
Chùa Dơi tên thật là Wathserâytêchô - Mahatup (phiên âm từ tiếng Khmer) Về sau đồng bào Kinh và Hoa đọc trại từ Mahatup thành “Mã Tộc” Cho nên cũng có nhiều người gọi là: “Chùa Mã Tộc” Ngoài ra, dân gian còn gọi là chùa Dơi bởi vì trong chùa có hàng ngàn con Dơi đang cư trú
Chùa Dơi là một tổng thể kiến trúc gồm có: Ngôi chánh điện Sala, nhà hội của sư sãi
và tín đồ, phòng ở của sư sãi và trụ trì, các tháp để tro người chết, phòng khách,… Toàn bộ các công trình toạ lạc trong một khuôn viên rộng có nhiều cây cổ thụ, diện tích khoảng 04 hecta
2 Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo Sóc Trăng
Trang 14Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Tài Nguyên & Môi Trường
Hình 2.2 Bản đồ vị trí chùa Dơi
Đây là một công trình tôn giáo – văn hóa, nơi hành hương của các phật tử, hàng năm có hơn 200.000 phật tử tập trung về chùa Kiến trúc Chùa Dơi cũng giống như bao kiến trúc Chùa Khmer khác ở ĐBSCL Về họa tiết trang trí, điêu khắc, hội họa mang sắc thái văn hoá Khmer cổ
Ban đầu, chùa được xây dựng bằng vật liệu tre lá, sau đó được tôn tạo, sửa chữa, trùng tu, bằng gạch và lợp mái bằng ngói Theo thư tịch cổ của Chùa còn để lại
có ghi chép: Chùa được khởi công xây dựng vào từ năm 1569 dương lịch, cách nay
440 năm Do ông Thạch Út đứng ra xây dựng Từ trước đến nay chùa được trùng tu nhiều lần, gần đây nhất là lần trùng tu từ năm 2007 đến 2009, sau khi xảy ra hỏa hoạn làm cháy gian chính điện của chùa, với tổng kinh phí lên tới hơn 4 tỷ đồng
Hình 2.3 Chánh điện chùa Dơi
(Nguồn: ảnh chụp)
Chùa Dơi với quần thể kiến trúc đẹp, có giá trị thẩm mỹ cao Ngoài chức năng thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt của đời sống tâm linh, còn hướng con người đến chân - thiện - mỹ, làm điều hay lẽ phải, làm việc thiện, tích phúc cho đời Ở đây chúng ta thấy
Trang 15rõ nghệ thuật tạo hình Khmer ĐBSCL, trong đó chùa Dơi là một minh chứng, mang tính tôn giáo
Cái đẹp và sức thu hút của Chùa Dơi là cảnh quan gần gũi với thiên nhiên, với một quần thể kiến trúc mở, hoà quyện với môi trường sống của con người - thực vật - động vật nơi đây đã gắn bó với con người từ lâu đời Hơn nữa, cộng đồng dân cư ở đây
có sự giao lưu giữa ba dân tộc Việt - Khmer - Hoa kết hợp với tinh hoa văn hoá, nghệ thuật trong cuộc sống, học hỏi lẫn nhau cùng phát triển Ngoài ra, Chùa Dơi còn là trung tâm sinh hoạt giáo dục - văn hoá và các lễ thức cúng kiếng, lễ hội của đồng bào Khmer, vừa là tụ điểm sinh hoạt văn hoá của cộng đồng cư dân địa phương Ngày 12 tháng 02 năm 1999, Bộ Văn hóa - Thông tin đã ra Quyết định số 05/1999/QĐ-BVHTT công nhận Chùa Dơi là di tích nghệ thuật cấp quốc gia
2.1.3 Sơ lược về loài Dơi ở chùa Dơi - Mahatup
Bộ Dơi (Chiroptera) là bộ có số lượng loài nhiều thứ hai trong lớp Thú với
khoảng 1.100 loài, chiếm 20% động vật có vú (đứng đầu là bộ Gặm nhấm chiếm 70%
số loài) 3
Từ Chiroptera trong tiếng Hy Lạp là ghép bởi 2 từ: cheir (χειρ) "bàn tay" và pteron (πτερον) “cánh” Đúng như tên gọi, cấu tạo 2 chi trước của chúng giống như bàn tay con người với các ngón tay được nối liền bởi màng da và tạo thành đôi cánh
Hình 2.4 Ảnh dơi (trái) và cấu trúc cơ thể dơi (phải)
Dơi là loài thú duy nhất có thể bay được Một số loài thú khác như chồn bay, sóc bay, trông có vẻ như có thể bay nhưng thực ra chúng chỉ có thể lượn - trong một khoảng cách có giới hạn
3 Nguồn: http://vi.wik ipedia.org/wiki/B%E1%BB%99_D%C6%A1i
Trang 16Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Tài Nguyên & Môi Trường
Khoảng 70% số loài dơi ăn sâu bọ, số còn lại chủ yếu ăn hoa quả và chỉ có vài loài ăn thịt Dơi cần thiết cho sinh thái bởi chúng đóng vai trò thụ phấn hoa hay phát tán hạt cây, sự phân tán của nhiều loài cây lệ thuộc hoàn toàn vào Dơi
Dơi Quạ (Pteropus) là một loài Dơi thuộc họ cùng tên và phân bộ Dơi lớn
Chúng bao hàm những loài Dơi có kích thước lớn nhất trên quả đất Một số tên thông dụng khác của chúng là Dơi ăn quả hay cáo bay Chúng sống ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt của châu Á (bao hàm cả Ấn Độ), Úc, Indonesia, các đảo ở vùng Đông Phi (nhưng không nằm ở trên lục địa châu Phi) và một số đảo trên Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương Có ít nhất 60 loài Dơi nằm trong chi này
Theo các nghiên cứu trên hóa thạch của tổ tiên xưa nhất của chi Dơi quạ, hình dáng của tổ tiên của chúng gần giống hệt như so với "hậu thế"; điểm khác biệt giữa chúng cho thấy sự thích nghi với sự bay của Dơi cổ có khác với Dơi hiện đại là sự hiện diện của đuôi nhằm giữ thăng bằng Loài Dơi lớn cổ xưa nhất xuất hiện cách đây chừng 35 triệu năm, tuy nhiên trước đó có một "khoảng hở" lớn vì vậy tổ tiên chung thật sự của dòng họ Dơi vẫn chưa được xác định chắc chắn
Tất cả các loài Dơi Quạ chỉ sống nhờ mật hoa, phấn hoa và các loại hoa quả, vì vậy chúng chủ yếu phân bố ở vùng nhiệt đới Chúng có thể kiếm ăn trong khu vực bán kính lên tới 40 dặm Khi tìm thấy thức ăn như trái cây, chúng lao thẳng vào "mục tiêu"
và dùng chân chụp lấy nó Ngoài ra, Dơi Quạ cũng có thể ăn trong khi đang treo mình ngược trên cành cây, sử dụng một trong hai chân sau hoặc móng tay của chân trước/cánh để kéo các hoa quả vào gần miệng
Dơi Quạ là họ thú có cánh bay, những con lớn nặng từ 700 – 1.000 g, cánh của chúng căng về hai phía dài từ 1,1 m – 1,5 m, tốc độ bay nhanh nhất từ 50 – 60 km/h Dơi có một số đặc điểm khác với loài chim; là động vật có vú, vú nằm hai bên nách cánh, có mỏ giống như loài chó Phóc (nên có nơi còn gọi là Dơi Chó), miệng có răng rất bén để gặm nhấm Thức ăn của chúng là trái cây, không ăn lúa hay thịt cá Dơi đi
ăn vào ban đêm, ban ngày thì ngủ Theo thường lệ hằng năm, bước vào mùa khô, thời tiết nóng nực, thiếu nước, trái cây ít, điều kiện sinh sống khó khăn, chúng thường tổ chức đi ăn ở xa, những nơi có nhiều trái cây và nước ngọt Đôi khi chúng đi tìm thức
ăn ở quá xa, không thể bay về chùa trước lúc bình minh, Dơi phải ngủ lại nơi đó, và đường về được tiếp nối từng chặng vào tối hôm sau Những lúc thời tiết như thế thì đàn dơi chỉ còn lại ở chùa 1/3 đàn để giữ chỗ Khoảng cuối tháng tư, khi thời tiết thay đổi, bắt đầu mùa mưa, cây trái phát triển, dơi thay màu lông Lúc đó Dơi quay về chùa chuẩn bị cho mùa sinh sản Từ đó, người dân xung quanh vùng xem chu kỳ sinh sản của Dơi như thời điểm vào mùa – họ chuẩn bị giống má, đắp bờ, nhổ cỏ, cày ải, cuốc bẩm chờ mưa để gieo hạt
Dơi không ấp trứng như loài chim khác, nên chúng không xây tổ Dơi có hai chân, mỗi bàn chân có 5 ngón và có móc nhọn cong như móc câu, trên bả vai mỗi cánh
có một lưỡi móc, chúng không đứng đậu như những loài chim khác, mà dùng hai chân
Trang 17móc lấy cành cây quay lộn đầu xuống treo mình lủng lẳng, kết lại với nhau như những chùm trái cây, lúc nào muốn thải phân hay nước thải chúng dùng sức bật mạnh hai phía cánh tung thân lên, mở móc cánh cấu chặt cành cây giữ thăng bằng và bắt đầu tuôn nước thải hoặc phân xuống, khi xong chúng lại trở lại trạng thái bình thường
Dơi sinh sản vào đầu tháng năm dương lịch, khi sắp đẻ thì một cánh móc lấy nhánh cây, một cánh đỡ lấy con ôm vào lồng ngực Đẻ xong vài giờ Dơi con bắt đầu
mở mắt, lúc đó chúng đã biết đói, bú mẹ như chó con mới lọt lòng và trong đêm đó Dơi mẹ vẫn đi kiếm ăn bình thường, con chúng mang theo, ôm ghì sát vào lồng ngực Dơi con lớn rất nhanh, hơn một tháng tuổi chúng đã biết nắm níu nhánh cây, đồng thời cánh của chúng cũng bắt đầu mọc và mở rộng ra, sức nặng Dơi con tăng dần lên Lúc này, Dơi mẹ không còn đủ sức để mang con nữa và tập cho Dơi con nắm níu nhánh cây rồi để chúng ở lại, không mang theo khi Dơi mẹ đi ăn Với bản năng sẵn có, Dơi con tập chuyền từ nhánh cây gần đến nhánh cây xa, qua tập luyện nhiều lần, chúng từ
từ biết vỗ cánh để bay Chuyến bay đầu tiên của chúng nhằm từ cây thấp, khoảng cách vài ba mét, đến lúc vững vàng thì bay sang ngang và bay cao hơn Chúng tập bay ban đêm chứ không tập bay ban ngày, nhất là những đêm trăng sáng, chúng tập bay đan xen nhau trông rất đẹp Thỉnh thoảng trong lúc tập bay có một vài con bị rơi xuống đất không bay lên được, chúng lê tìm nơi nào có cây cao, dùng móc cánh ở bả vai câu chặt nhánh cây và dùng sức mạnh của hai cánh đưa hai chân câu chặt nhánh cây, sau đó chúng buông thòng trúc đầu xuống, dồn sức bật mạnh, mở rộng hai cánh bay đi Còn khi Dơi mẹ xuống cứu con bị rớt xuống đất, một cánh chúng ôm ghì chặt lấy con áp vào lồng ngực, một cánh chống xuống đất bò nghiêng, cố tìm đến nơi có cây cao để cất cánh
Hình 2.5 Hình ảnh Dơi mẹ ôm con
(Nguồn: k hoahoc.com)
Dơi cũng biết yêu thương nhau, nhất là Dơi mẹ Trước khi đi ăn Dơi mẹ cho con bú và lúc trở về chúng đều nhớ đem mồi về cho con Sau thời gian chào đời và tập luyện, bước vào tháng thứ 3 Dơi con bắt đầu biết bay, nhưng không đủ sức đi ăn xa,
Trang 18Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Tài Nguyên & Môi Trường Dơi mẹ dẫn con đi ăn những nơi gần Nhờ sự ôm ấp chăm sóc của Dơi mẹ, dần dần Dơi con bắt đầu trưởng thành gia nhập vào bầy đàn một cách nhanh chóng, cứ thế đàn Dơi ngày càng được bổ sung Hiện nay chưa ai tính được chính xác đàn Dơi của “chùa Dơi” này có bao nhiêu con, chỉ ước lượng khoảng vài ngàn con, Dơi sinh sản thì thấy, nhưng tuổi thọ của chúng được bao lâu thì không ai theo dõi và biết được chính xác, vì chúng không trở về đầy đủ Thỉnh thoảng các nhà sư phát hiện thấy có vài xác Dơi, có thể do con người săn bắt và làm chúng bị thương, kiệt sức mà chết; hoặc cành cây bị gãy bất thình lình, những con không may đập đầu vào vật cứng mà chết
Dơi có phản xạ rất kỳ diệu, chúng có khả năng tiếp nhận, dự đoán được qua những tín hiệu, hiện tượng nào đó có thể xảy ra gây nguy hiểm đến sinh mạng của mình, Dơi là động vật sống có nề nếp, có bầy đàn
Khi đi kiếm ăn, Dơi đầu đàn bay lên dẫn đầu, sau đó là những con Dơi khác lần lượt bay theo nhập đàn, chúng bay theo hướng đã định, bay theo đường nào thì về đường ấy Khi thời tiết tốt thì Dơi bay cao, thời tiết xấu thì Dơi bay thấp Dơi đi ăn suốt cả đêm đến bình minh thì trở về, Dơi không bao giờ bay qua nóc ngôi chánh điện (lúc đi cũng như lúc về) Đặc biệt hơn là Dơi chỉ đậu trên những tán cây của khuôn viên chùa, những tán cây bên ngoài khu dân cư sát ngay chùa thì chúng không đậu; sự việc trên được các sư giải thích: “vì trong khuôn viên của chùa quang cảnh yên tĩnh, Dơi thích nghi với môi trường hoang dã gần gũi với thiên nhiên, còn bên ngoài bị vây đuổi, săn bắt nên nó không trú ngụ và có một điều mà không ai lý giải được là Dơi không ăn trái cây vùng lân cận cũng như trái cây trong khuôn viên chùa, mà phải đi ăn rất xa “
2.2 HIỆN TRẠNG ĐÀN DƠI Ở CHÙA MAHATUP
Dơi tại chùa Dơi có nhiều loại như: Dơi Ngựa Lớn, Dơi Ngựa Lớn Thái Lan, Dơi Quạ,… Trong đó, Dơi Ngựa Lớn Việt Nam nằm trong danh mục thuộc Nghị định 32/2006/NĐ - CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý hiếm
Do sự thay đổi về môi trường sống, sự săn bắt của con người, từ khoảng 50 năm trước những loài chim như cò, diệc,… đã không còn được nhìn thấy ở chùa
Theo lời kể của người dân sinh sống tại khu vực gần chùa Dơi, các khách du lịch viếng thăm chùa hằng năm và các sư sãi trong chùa, đàn Dơi đã từng đậu kín trong khuôn viên chùa, mùi phân Dơi có thể gây khó chịu cho du khách tham quan chùa Dơi Người dân xung quanh còn có thể hàng ngày gom phân Dơi về để bán hoặc bón cho cây trồng Thế nhưng, hiện nay cá thể Dơi Ngựa tập trung tại chùa Mahatup với số lượng trên 1000 cá thể và đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng rất cao
Trang 19Hình 2.6 Hình ảnh Dơi cất cánh
(Nguồn: www.k hoahoc.com)
Số lượng Dơi tại chùa Dơi giảm không chỉ do bị săn bắt làm thực phẩm mà có thể do môi trường sống, sinh cảnh tại chùa bị thay đổi Trước kia, đường vào chùa Dơi chỉ là một con đường nhỏ ít xe cộ qua lại, dân cư thưa thớt Nay con đường được mở rộng, hệ thống đèn chiếu sáng được lắp đặt, phía trước chùa Dơi lại mọc lên một khu
du lịch, đây có thể là nguyên nhân khiến Dơi trong chùa bỏ đi
Hiện nay trong phạm vi tỉnh Sóc Trăng chỉ có một số địa điểm là nơi sinh sống của các loài Dơi Ngựa; trong đó, đáng kể nhất là khuôn viên chùa Mahatup và nông trường 30/4 (huyện Cù Lao Dung) Đáng chú ý là số lượng cá thể ở các địa điểm trên rất nhỏ và ngày càng bị suy giảm nghiêm trọng do hiện tượng săn bắt trái phép và chặt phá sinh cảnh Theo kết quả điều tra năm 2004 (Vũ Đình Thống), có khoảng trên 100
cá thể Dơi Ngựa Lớn và khoảng 3.000 cá thể Dơi Ngựa Thái Lan sinh sống trong khuôn viên chùa Mahatup Đến năm 2009, số lượng giảm xuống nhanh chóng, Dơi ngựa lớn chỉ còn 20 con và khoảng 1.100 Dơi ngựa Thái Lan
“Trước mắt để Dơi không bỏ đi, trong bán kính 500 m của khuôn viên chùa không được gây tiếng động, ánh sáng ảnh hưởng đến Dơi Hay yêu cầu chùa không đốt
lá cây, vì khói bám vào thân cây lá cây cũng ảnh hưởng đến sinh hoạt của Dơi”, theo ông Trịnh Công Lý, Giám đốc Trung tâm thông tin xúc tiến du lịch (Sở VH-TT-DL Sóc Trăng)
Theo thượng tọa Lâm Tú Linh, “Con Dơi gắn liền với hình ảnh chùa Dơi nếu hết Dơi thì chùa không còn ý nghĩa nữa.”
Trang 20Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Tài Nguyên & Môi Trường
2.3 Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ VÀ CÁC YẾU TỐ GÂY Ô NHIỄM CHÍNH
2.3.1 Ô nhiễm không khí
Không khí là một dạng vật chất bao quanh Trái Đất bao gồm không khí khô và hơi nước Không khí khô là một hỗn hợp nhiều chất khí khác nhau trong đó chủ yếu là oxy và nitơ
Bảng 2.1 Thành phần các chất chứa trong không khí
(Nguồn: Nguyễn Duy Động, 1999)
Theo định nghĩa tại khoản 1 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi Trường nước ta thì “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.”
Theo định nghĩa tại khoản 8 điều 3 Luật Bảo Vệ môi trường nước ta năm 2014 thì “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.”
Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng
môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường
Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi
trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường
Ô nhiễm không khí là sự có mặt của các loại khí, hơi, hạt, không phải là thành phần khí khô trong khí quyển, sinh ra từ hoạt động của con người hoặc từ các quá trình
tự nhiên và nếu nồng độ đủ lớn, thời gian đủ lâu sẽ ảnh hưởng đến sự thoải mái, dễ chịu, sức khoẻ hoặc lợi ích của người hoặc môi trường
Trang 212.3.2 Các yếu tố gây ô nhiễm chính
2.3.2.1 Tác hại của khí cacbon mônôxit (CO)
Cácbon mônôxít, công thức hóa học là CO, là một chất khí không màu, không mùi, bắt cháy và có độc tính cao, có tỉ trọng d = 0,967, nhiệt độ sôi khoảng -199oC
CO là sản phẩm đốt cháy không hoàn toàn của của cácbon và các hợp chất chứa cácbon như xăng, dầu, than đá, gỗ và rác rưởi,… Lượng phát thải khoảng 25 triệu tấn/năm, trong đó có một phần là CO sinh học CO chiếm tỷ lệ lớn trong các chất ô nhiễm môi trường không khí Nguồn phát thải khí CO lớn nhất là của hoạt động giao thông vận tải
Cácbon mônôxít cũng tồn tại với một lượng nhỏ nhưng tính về nồng độ là đáng
kể trong khói thuốc lá Trong gia đình, khí CO được tạo ra khi các nguồn nhiên liệu như xăng, khí đốt, dầu hay gỗ không cháy hết trong các thiết bị dùng chúng làm nhiên liệu như xe máy, ô tô, lò sưởi và bếp lò, Khí cácbon mônôxít có thể thấm qua bê tông hàng giờ sau khi xe cộ đã rời khỏi ga - ra
Tác hại của khí CO:
- Đối với thực vật: ít nhạy cảm hơn so với người và động vật, nhưng khi nồng độ
CO cao (100 – 10000 ppm) sẽ làm cho lá rụng, bị xoắn quăn, cây non bị chết, cây cối chậm phát triển Ngoài ra, CO làm mất khả năng cố định Nitơ, làm thực vật thiếu đạm
- Đối với người và động vật:
Hít phải một lượng quá lớn CO sẽ dẫn tới thương tổn do giảm ôxy trong máu hay tổn thương hệ thần kinh cũng như có thể gây tử vong Nồng độ chỉ khoảng 0,1% mônôxít cácbon trong không khí cũng có thể là nguy hiểm đến tính mạng
Bản chất của CO là khí độc, nếu xâm nhập vào cơ thể, CO tác dụng với hồng cầu trong máu tạo hợp chất bền vững CO có tính liên kết với hemoglobin (Hb) trong hồng cầu mạnh gấp 230 - 270 lần so với ôxy nên khi được hít vào phổi CO sẽ gắn chặt với Hb thành HbCO do đó làm giảm hồng cầu, giảm khả năng hấp thụ, vận chuyển O2 của hồng cầu đi nuôi các tế bào của cơ thể CO còn gây tổn thương tim do gắn kết với myoglobin của cơ tim
HbO2 + CO → HbCO + O2
Triệu chứng ngộ độc CO thường bắt đầu bằng cảm giác bần thần, nhức đầu, buồn nôn, khó thở rồi từ từ đi vào hôn mê Nếu ngộ độc CO xảy ra khi đang ngủ say hoặc uống rượu say thì người bị ngộ độc sẽ hôn mê từ từ, ngưng thở và tử vong
Ngộ độc nhẹ CO có thể để lại di chứng thiếu máu, hay quên Ngộ độc nặng gây ngất, lên cơn co giật, liệt tay chân và có thể dẫn đến tử vong trong vòng vài ba phút khi nồng độ vượt quá 2%
Trang 22Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Tài Nguyên & Môi Trường
Nồng độ CO trong không khí nền là 0,01 đến 0,9 mg/m3 Tiếp xúc với nồng độ lớn hơn sẽ làm tăng nồng độ cacboxyhenoglobin trong máu Ngoài ra CO còn tác dụng với Fe trong xytochrom – oxydaza, men hô hấp có chức năng hoạt hóa, làm bất hoạt men, làm cho sự thiếu hụt oxy càng trầm trọng
Bảng 2.2 Các triệu chứng xuất hiện tương ứng các nồng độ Hb.CO trong máu
Nồng độ CO trong
máu (ppm)
Nồng độ Hb.CO trong máu (phần
Bảng 2.3 Các ảnh hưởng đến sức khỏe của CO
HbCO % Các ảnh hưởng đến sức khỏe
< 1,0 Không có biểu hiện ảnh hưởng
1,0 – 2,0 Một số dấu hiệu ảnh hưởng đến hình thức cư xử
2,0 – 5,0 Các ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương; làm suy yếu sự nhận
thức về thời gian, sự nhạy bén về thị giác và các chức năng thần kinh khác
5,0 – 10,0 Thay đổi chức năng tim phổi
10,0 – 80,0 Đau đầu, uể oải, mệt mỏi, hôn mê và chết
(Nguồn: Lê Huy Bá, 2000)
Ngoài ra, CO còn phản ứng rất mãnh liệt với oxy (O2) tạo ra CO2 một trong những chất chính gây hiệu ứng nhà kính làm cho Trái Đất nóng lên Bình thường CO2 trong không khí chiếm tỉ lệ thích hợp có tác dụng kích thích trung tâm hô hấp làm thúc đẩy quá trình hô hấp của vi sinh vật Tuy nhiên, nếu nồng độ CO2 trong không khí lên đến 50 - 60 ml/m3 thì sẽ ngưng hô hấp sau 30 - 60 phút
2.3.2.2 Tác hại của khí nitơ đioxit (NO 2 )
Các chất oxit nitơ (NO, N2O, NO5,… viết tắt là NOx) xuất hiện trong khí quyển qua quá trình đốt nhiên liệu ở nhiệt độ cao Trong khí quyển các oxit nitơ sẽ chuyển hóa thành nitrat rồi theo mưa xuống đất Nitrat nằm trên mặt đất theo nước mưa xuống đất và theo nước mưa chảy tràn hay vào cống thoát nước để vào môi trường nước Chất nitơ là một trong những nguyên nhân chính trong việc gây ra hiện tượng phú dưỡng làm bùng nổ sự phát triển thực vật
Trang 23Oxit nitric (NO) và nitơ đioxit (NO2) là những oxit nitơ quan trọng nhất trong khí thải Người ta thường gộp chúng lại cùng nhau dưới kí hiệu NOx NO là sản phẩm phụ chủ yếu của các quá trình cháy, sinh ra từ phản ứng giữa N2 và O2 ở nhiệt độ cao trong quá trình cháy không khí Cơ chế của quá trình oxi hóa này được Zeldovich diễn
Các phương tiện giao thông và quá trình sản xuất điện năng thải ra gần 34% mỗi loại trong tổng lượng NO sinh ra Lượng NOx từ các buồng lửa công nghiệp sinh
ra (theo khảo sát) chiếm khoảng 15% tổng lượng phát thải NOx (USEPA, 1928b) NO2
là một trong những loại nitơ oxit chủ yếu trong môi trường không khí, có màu hồng thường phát hiện được mùi của nó khi có nồng độ > 12 ppm Trong phản ứng hóa quang hóa học nó hấp thụ bức xạ tử ngoại Do hoạt động của con người hàng năm khoảng 48 triệu tấn NO2 sinh ra
Tác hại của NO 2
- Đối với con người và động vật: khi xâm nhập vào cơ thể nó có thể tác dụng với hồng cầu trong máu, làm giảm khả năng vận chuyển oxy của máu, dẫn đến bệnh thiếu máu, ảnh hưởng mạnh đến đường hô hấp, gây tổn thương trầm trọng đến đường hô hấp, có khi dẫn đến tử vong khi tiếp xúc ở nồng độ cao hoặc thời gian lâu dài NOx là chất kích thích, khi tiếp xúc với niêm mạc ẩm ướt tạo thành axit (HNO3) Các chất khí trên vào cơ thể qua đường hô hấp hoặc hòa tan vào nước bọt rồi vào đường tiêu hóa, sau đó phân tác vào máu tuần hoàn
Bảng 2.4 Tác hại của NO 2 phụ thuộc vào nồng độ và thời gian tiếp xúc
Nồng độ, ppm Thời gian tiếp xúc Tác hại
5 Vài phút Gây tác hại cho bộ máy hô hấp
15 – 30 Vài giờ Gây nguy hiểm cho tim, phổi, gan
100 Vài phút Gây chết cho người và động vật
5 – 100 6 – 8 tuần Gây chết cho người và động vật
150 – 200 3 – 5 tuần Viêm sơ cuốn phổi có thể gây tử
vong
300 – 400 2 – 10 ngày Viêm phổi và chết
>= 500 48 giờ Gây chết cho người và động vật
(Nguồn: Lê Huy Bá, 2000)
Trang 24Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Tài Nguyên & Môi Trường
- Đối với thực vật: một số loại thực vật nhạy cảm với môi trường sẽ bị tác hại khi nồng độ NO2 khoảng 1 ppm và thời gian tác động trong khoảng 1 ngày Nếu nồng độ
là 0.35 ppm thì thời gian tác động trong 1 tháng Ở nồng độ 4.7 mg/m3 trở lên sẽ làm cho thực vật tổn thương các mô, đổi màu lá sang nâu hoặc trắng, rụng lá, chết cây,…
- Ngoài ra NO2 còn góp phần gây ra mưa axit, gây phá hoại các công trình kiến trúc, phá hủy kim loại, phá hủy lớp sơn bao phủ bề mặt
NO và NO2 có vai trò nhất định trong việc hình thành khói mù quang hóa và là một trong bốn nguyên nhân chính phân hủy ozôn, gây nên nguy cơ suy giảm tầng ôzon hiện nay
O + O3 → NO2 + O2
NO2 + O3 → NO3* + O2 NO3* trạng thái kích hoạt
NO3* + NO → 2NO2
2.3.2.3 Tác hại của bụi
Bụi là một tập hợp nhiều hạt có kích thước khác nhau, tồn tại lâu trong không khí dưới dạng bụi bay, bụi lắng và các hệ khí dung nhiều pha gồm hơi, khói, mù
Bụi bay có kích thước từ 0,001 – 10 µm bao gồm tro, muội khói và những hạt rắn được nghiền nhỏ, chuyển động theo kiểu Brao hoặc rơi xuống đất với vận tốc không đổi theo định luật Stok Về mặt sinh học, bụi này thường gây thương tổn nặng cho cơ quan hô hấp, nhất là khi phổi nhiễm bụi thạch anh do hít thở phải không khí có chứa bụi dioxit silic lâu dài (Đinh Xuân Thắng, 2007 )
Thành phần bụi là tất cả mọi thứ thải ra khí quyển dưới dạng cô đọng (chất lỏng hay hạt rắn) Các quá trình công nghệ (43%), phương tiện giao thông (13%) và sản xuất điện năng (12%) là các nguồn thải ra môi trường chính
Bụi sinh ra trong không khí sẽ gây rất nhiều tác hại cho con người, động vật, thực vật và ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường Nhờ có hệ thống liên bào trụ lông ở mũi, khí phế quản và màng niêm dịch của đường hô hấp, mà ta có thể cản và loại trừ được 90% bụi kích thước lớn hơn và bằng 5µm Các hạt bụi nhỏ dưới 5µm có thể theo không khí thở vào đến phế nang, sau đó chúng có thể loại ra khoảng 90% số còn lại đọng ở trong phổi và đường hô hấp trên có thể gây ra một số bệnh có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và các loài động vật
Tác hại của bụi
- Đối với con người và động vật: bụi gây tác hại trực tiếp đến con người cũng như động vật như các bệnh qua đường hô hấp, da, mắt,… Ngoài ra, bụi còn gây ảnh hưởng gián tiếp cho con người và động vật qua đường nước uống do nước bị nhiễm bụi Một số bệnh thường gặp của con người khi tiếp xúc trực tiếp với bụi: Bệnh phổi
Trang 25nhiễm bụi (Pneumoconise), phổi nhiễm bụi Silic (Silicose), phổi nhiễm bụi Asbestose (Asbbest),… bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da, bệnh gây tổn thương mắt,…
- Đối với thực vật: hầu hết các chất ô nhiễm không khí đều có tác dụng xấu đến thực vật, gây ảnh hưởng có hạ đến nhà nông và cây trồng Khi bị tiếp xúc với chất ô nhiễm chúng thường chậm phát triển, năng suất thấp, cháy lá, khô cây Bụi có thể làm giảm khả năng quang hợp của cây do các bề mặt bị lá che lấp Tuy nhiên, cũng có một
số các loại bụi có tác dụng đối với thực vật, ví dụ như các chất photphat, nitơ, cacbon,…
- Tác hại đối với vật liệu: khi bụi tiếp xúc với các thiết bị, đồ vật bằng kim loại trong không khí sẽ gây ăn mòn các đồ vật thiết bị,…
- Tác hại đối với cảnh quan môi trường: làm ô nhiễm bầu khí quyển
Bảng 2.5 Giá trị giới hạn các thông số cơ bản trong không khí xung quanh
Đơn vị: Microgam trên mét khối (g/m3)
(Nguồn: Quy chuẩn k ỹ thuật quốc gia về chất lượng k hông k hí xung quanh QCVN 05 : 2013/BTNMT)
2.3.2.4 Tác hại của tiếng ồn
Tiếng ồn là tập hợp những âm thanh có cường độ và tần số khác nhau, sắp xếp không có trật tự, gây cảm giác khó chịu cho người nghe, ảnh hưởng đến quá trình làm việc và nghỉ ngơi của con người Hay là những âm thanh phát ra không đúng lúc, không đúng nơi, âm thanh phát ra với cường độ quá lớn, vượt quá mức chịu đựng của con người
Ô nhiễm tiếng ồn là âm thanh có âm lượng quá độ, kéo dài có thể gây hại cho các hoạt động và sự cân bằng của đời sống con người hoặc động vật Như vậy, ô nhiễm tiếng ồn là một khái niệm tương đối, tuỳ thuộc từng người mà có cảm nhận
Trang 26Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Tài Nguyên & Môi Trường tiếng ồn khác nhau, mức ảnh hưởng sẽ khác nhau Nó tùy thuộc vào cường độ của tiếng ồn, tần số (trầm hay bổng), độ dài thời gian, tính bất ngờ Sự khó chịu do tiếng
ồn gây ra còn phụ thuộc vào thời điểm (ngày hay đêm), người nghe (vui, buồn, chú ý hay không,…), đối tượng (giận, ghét, yêu thương) và “âm thanh nền” xung quanh Một tiếng nói, một điệu nhạc có thể dễ chịu với người này, nhưng lại gây khó chịu, bực mình đối với người khác
Tiếng ồn không phải lúc nào cũng có hại cho con người, chỉ khi tiếng ồn tăng lên sẽ ảnh hưởng xấu đến các hoạt động của con người Ảnh hưởng của tiếng ồn đến
cơ thể phụ thuộc vào mức và phổ biến của tiếng ồn, thời gian tác động, quá trình tiếp xúc, tình trạng sức khỏe,… Tác động lâu dài của tiếng ồn sẽ làm giảm độ nhạy cảm của tai dần và dần dẫn đến các bệnh nặng tai và gây điếc
Tai người có thể cảm thụ một khoảng mức cường độ âm thanh rất rộng từ 0 đến
180 dB Người ta gọi âm thanh 0 dB là ngưỡng bắt đầu nghe thấy, còn mức cao nhất
mà tai người ta có thể chịu đựng nghe được (khi nghe bị chói tai) gọi là ngưỡng chói tai, thông thường ngưỡng chói tai là 140 dB Tuy vậy, có một số người cảm thấy khó chịu khi âm thanh ở mức 115 dB Tiếng nói chuyện thông thường hay tranh luận với nhau có mức âm biến thiên là 30 – 60 dB Con người có thể nghe thấy âm thanh có tần
số từ 16 đến 20.000 Hz Nhưng khoảng tần số đó sẽ giảm dần theo tuổi già và các nhân
tố khác Tần số thấp hơn 16 Hz con người không thể nghe được gọi là hạ âm, tần số trên 20.000 Hz gọi là siêu âm
Tác hại của tiếng ồn
Nhiều nghiên cứu thống kê đi đến kết luận rằng tiếng ồn của các thành phần lớn
là nguyên nhân làm giảm độ thính tai và tăng số người bị bệnh nặng tai Chẳng hạn ở Pháp, trong thành phố cứ 100.000 người dân thì có 100 - 200 người bị bệnh nặng tai trong khi đó ở nông thôn cũng số dân trên thì chỉ có 20 - 30 người bị bệnh Năm 1967
ở Mỹ có 11 triệu người lớn và 3 triệu trẻ em ở thành phố được chuẩn đoán là mất thính giác Tác động của tiếng ồn phụ thuộc vào tần số, cường độ âm, tần số lặp lại của tiếng
ồn, thời gian tác động và lứa tuổi
Tiếng ồn 50 dB: làm suy giảm hiệu suất làm việc, nhất là đối với lao động trí
Tiếng ồn tác động đến tai, sau đó tác động đến hệ thần kinh trung ương, rồi đến
hệ tim mạch, dạ dày và các cơ quan khác, sau đó mới đến cơ quan thích giác
Trang 27 Tác động đến cơ quan thính giác: tiếng ồn làm giảm độ nhạy cảm, tăng ngưỡng nghe, ảnh hưởng đến quá trình làm việc và an toàn Tiếng ồn mạnh có thể gây chói tai, đau tai thậm chí lụng màng nhĩ
Bảng 2.6 Tác hại của tiếng ồn phụ thuộc vào thời gian tiếp xúc và mức âm
Mức âm (dBA) Thời gian tiếp xúc Tác hại
20 năm
10% bị điếc 16% bị điếc
20 năm
17% bị điếc 28% bị điếc
20 năm
29% bị điếc 42% bị điếc
(Nguồn: Phan Đức Nguyên, 2000)
Bảng 2.7: Tác hại của tiếng ồn ở cường độ cao đối với sức khỏe con người
Mức tiếng ồn
(dB)
Tác dụng đến người nghe
0 Ngưỡng nghe thấy
100 Bắt đầu làm biến đổi nhịp đạp của tim
110 Kích thích mạch màng nhỉ
120 Ngưỡng chói tai
130 - 135 Gây bện thần kin và nôn mửa, làm yếu xúc giác và cơ bắp
140 Đau chói tai, nguyên nhân gây mất trí, điên
145 Giới hạn cực hạn mà con người có thể chịu được đối với tiếng ồn
150 Nếu chịu đựng lâu sẽ thủng màn tai
160 Nếu tiếp xúc lâu sẽ gây nguy hiểm lâu dài
190 Chỉ cần tiếp xúc ngắn sẽ gây nguy hiểm lâu dài
( Nguồn: Đinh Xuân Thắng, 2007)
Ở động vật: tiếng ồn có thể gây ra xáo trộn trong hoạt động của động vật ăn thịt Động vật sẽ khó khăn hơn để phát hiện con mồi và khó hơn để tránh các động vật săn mồi Tiếng ồn cũng gây trở ngại cho sinh sản và các hoạt động di cư và cũng có thể dẫn đến mất thính lực
Trang 28Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Tài Nguyên & Môi Trường
Đối với Dơi 4: các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các thiết bị siêu âm tạo ra có thể sẽ làm Dơi giảm tử vong như tại các tuabin gió (Arnett et al, 2013) Do đó Dơi nhạy cảm hơn với những âm thanh tần số cao
Bảng 2.8: Giới hạn tối đa cho phép về tiếng ồn (theo mức âm tương đương), dBA
(Nguồn: Quy chuẩn k ỹ thuật quốc gia về tiếng ồn QCVN 26 : 2010/BTNMT)
2.3.2.5 Tác hại của ô nhiễm ánh sáng
Ô nhiễm ánh sáng là việc chiếu sáng quá mức hoặc ánh sáng nhân tạo gây khó chịu.Theo định nghĩa của Hiệp hội bầu trời đêm quốc tế (IDA) xác định ô nhiễm ánh sáng là: bất kỳ tác động bất lợi của ánh sáng nhân tạo bao gồm cả ánh sáng trên bầu trời, ánh sáng chói, xâm nhập ánh sáng, ánh sáng lộn xộn, giảm tầm nhìn vào ban đêm,
và lãng phí năng lượng 5
Định nghĩa khoa học bao gồm:
Ô nhiễm ánh sáng là sự thay đổi của mức độ ánh sáng trong môi trường ngoài trời (từ những người tự nhiên) do con người tạo ra nguồn ánh sáng Ô nhiễm ánh sáng trong nhà là những thay đổi mức độ ánh sáng trong môi trường trong nhà do nguồn ánh sáng, thỏa hiệp sức khỏe con người
Ô nhiễm ánh sáng là sự du nhập trực tiếp hoặc gián tiếp, ánh sáng nhân tạo ra môi trường
Ô nhiễm ánh sáng được định nghĩa là việc lạm dụng ánh sáng nhân tạo quá mức cần thiết so với khả năng chịu đựng ánh sáng của con người và môi trường.Ô nhiễm ánh sáng được phân chia thành 4 loại Bốn loại ô nhiễm ánh sáng này không đơn lẻ mà thường kết hợp hoặc chồng lắp nhau:
Ánh sáng xâm nhập: việc chiếu sáng quá mức cần thiết vào các khu dân cư vềđêm
Lạm dụng ánh sáng: chiếu sáng ở những nơi không cần ánh sáng, chiếu sáng ngoài ý muốn gây lãng phí
Ánh sáng chói lòa: chiếu sáng với cường độ sáng quá mức gây hiệu ứng tiêu cực về mặt thị giác Mức độ chói lòa quá cao có thể làm giảm thị lực
4 Nguồn: Impacts of noise and light on bat foraging
5 Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki
Trang 29 Ánh sáng lộn xộn: nhiều nguồn sáng được sử dụng quá mức cùng một lúc Loại
ô nhiễm ánh sáng này phổ biến ở các khu đô thị, góp phần gây ra các loại ô nhiễm ánh sáng còn lại
Tác hại của ô nhiễm ánh sáng
Đối với người và động vật: gây chói mắt, khiến cho con người có phản xạ nhắm mắt hoặc ngoảnh mặt đi để màn ánh sáng không phân tán xuyên qua võng mạc làm giảm độ tinh tế, giảm khả năng nhận biết màu sắc, giảm khả năng nhận biết độ tương phản Ô nhiễm ánh sáng có thể làm rối loạn nhịp sinh học, gây mất ngủ, suy nhược cơ thể, ung thư và các bệnh về tim mạch Ngoài ra, ô nhiễm ánh sáng còn ảnh hưởng đến khả năng đi ngủ và thức dậy đúng giờ của con người, đồng thời tác động lên các quá trình chuyển hóa của cơ thể Trong khi đó, một giấc ngủ đầy đủ có thể giúp cơ thể con người chống thừa cân, giảm stress, tái tạo sức lao động và giảm nguy cơ đái tháo đường Theo các nhà nghiên cứu việc tiếp xúc với ánh sáng vào ban đêm làm hạn chế quá trình tổng hợp melatonin hoặc tăng quá trình sản sinh cortisol, về lâu dài có thể dẫn đến ung thư vú, ung thư ruột kết, trực tràng và ung thư tuyến tiền liệt,… Riêng đối với động vật vốn thích nghi với ánh sáng và bóng tối tự nhiên Khi vấn đề ô nhiễm ánh sáng xảy ra sẽ làm cho thói quen sinh hoạt của chúng có thể bị rối loạn Trước hết, ánh sáng trong đêm làm giảm khả năng nhìn đường của các loài côn trùng hoạt động về đêm Những bóng đèn chiếu sáng trong đêm có sức thu hút mạnh đối với các loài côn trùng Khi chúng bay xung quanh, va đập vào bóng đèn nên có thể chết hoặc dễ dàng làm mồi cho các loài sinh vật ăn thịt khác Cũng vì thế, các loài hoa nở về đêm và phải nhờ các loài côn trùng trên thụ phấn, cũng bị ảnh hưởng
Đối với thực vật: ô nhiễm ánh sáng không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến chu kỳ sinh trưởng của thực vật, mà còn nó cũng ảnh hưởng gián tiếp bằng cách can thiệp vào vòng đời của các côn trùng thụ phấn
2.3.3 Một số nghiên cứu nước ngoài về loài dơi
Tại châu Âu, sự xáo trộn và thay đổi môi trường sống và chỗ ngủ do sự phát triển và đô thị hóa được cho là mối đe dọa lớn nhất đối với các quần thể Dơi Chín trong số mười hai mối đe dọa đến loài Dơi nêu ở Anh báo cáo năm 2010 cho Ban EUROBATS có liên quan đến đô thị hóa và phát triển tức là xây dựng phá dỡ, xây dựng thay đổi, chuồng chuyển đổi, mất sinh cảnh trong đề xuất quy hoạch, mất cảnh quan đất canh tác, thiếu kiến thức về các phương pháp giảm thiểu tác động của tua bin gió, chia cắt sinh cảnh,…
Đô thị hóa – hiện đại hóa đất nước đã ảnh hưởng đến môi trường sống của Dơi thông qua việc xáo trộn ánh sáng, ô nhiễm tiếng ồn và các hoạt động khác của con người Những thay đổi trong môi trường sống ảnh hưởng đến số lượng, chất lượng và khả năng tìm kiếm thức ăn, nước uống của con Dơi Các khu vực cảnh quan như hàng rào, bờ sông, kênh rạch, vườn trái cây,… là những nơi quan trọng để tìm đàn Dơi tìm
Trang 30Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Tài Nguyên & Môi Trường
kiếm thức ăn và đi lại (Limpens & Kapteyn 1991; Verboom và cộng sự năm 1999)
Phát triển đô thị hóa dẫn đến tình trạng ô nhiễm ánh sáng ngày càng cao hơn Ô nhiễm ánh sáng là một vấn đề toàn cầu ảnh hưởng đến tất cả các sinh vật trên Trái Đất trong
đó có con người (Cinzano et al 2001) Một số lĩnh vực điện chiếu sáng đã tăng lên về đêm bầu trời sáng 20% (Hendry 1984) Ánh sáng nhân tạo trên toàn thế giới đang tăng lên khoảng 6% một năm (Hölker 2010b et al.), tại Vương quốc Anh từ năm 1993 đến năm 2000 ô nhiễm ánh sáng tăng lên 24% (Anon 2003)
Môi trường sống và chỗ ngủ của Dơi đang chịu áp lực ngày càng tăng do sự xáo trộn từ ánh sáng nhân tạo Các khu vực môi trường sống, chỗ ngủ và tìm kiếm thức ăn
là nền tảng cho sự tồn tại của nhiều quần thể Dơi (Verboom & Huitema 1997) Ánh
sáng nhân tạo cũng có thể gây tổn hại môi trường sống, khả năng kiếm ăn của Dơi trực tiếp do độ chiếu sáng cao, hoặc gián tiếp bằng cách cắt đứt các tuyến đường bay đi lại
của Dơi qua ánh sáng từ hàng rào, hàng cây, tuyến đường và kênh rạch,… (Racey 2006)
Dơi không mù nhưng đã phát triển một hệ thống định hướng rất tinh vi cho phép chúng tránh chướng ngại vật và tìm kiếm nguồn thức ăn Trong chuyến bay Dơi tạo ra một dòng của các cuộc gọi có âm vực cao và lắng nghe lặp lại để tạo ra một hình ảnh âm thanh của môi trường xung quanh Điều này được biết đến như vị bằng tiếng vang
Dựa theo Nghiên cứu sơ bộ về ảnh hưởng của ánh sáng nhân tạo và tiếng ồn đối với hành vi của loài Dơi Dơi có xu hướng tránh các khu vực có nhiều tiếng ồn và ánh sáng Nghiên cứu được thực tại 4 địa điểm Tilgate Park (sáng/ồn), North Lewes (sáng/yên tĩnh), Plashett Lakes (tối/ồn) và Barcombe Mills (tối/yên tĩnh), cho thấy rõ rằng tại khu vực tối và yên tĩnh là nơi lý tưởng nhất cho Dơi sinh sống và hoạt động Barcombe Mills có số lượng lớn Dơi và các hoạt động của chúng mỗi đêm Trong khi
đó tại Tilgate Park nơi có độ sáng lớn và độ ồn cao, số lượng dơi và hoạt động của chúng là thấp nhất
Giá trị tiếng ồn đo đạc tại các khu vực “yên tĩnh” có giá trị từ 41,9 – 58 dB, và giá trị tiếng ồn tại các khu vực “ồn ào” có giá trị từ 58,6 – 65,5 dB
Giá trị ánh sáng đo đạc tại khác khu vực “tối” là 0,5 lux, và giá trị ánh sáng tại các khu vực “sáng” là từ 3,5 – 5,3 lux Ánh sáng tại các khu vực “sáng” có giá trị cao hơn nhiều các khu vực “tối”
Sắp xếp môi trường lý tưởng đối với loài Dơi từ cao đến thấp là: môi trường tối/yên tĩnh > môi trường tối/ồn > môi trường sáng/yên tĩnh > môi trường sáng/ồn
Nguyên do là Dơi thích làm tổ nơi tối và yên tĩnh Chúng săn mồi dựa vào khả năng định vị bằng sóng âm, nên với môi trường càng ồn, khả năng định vị của Dơi càng kém hiệu quả
Trang 31Hình 2.7 Các vị trí khảo sát ảnh hưởng của ánh sáng và tiếng ồn đến Dơi
(nguồn: Pilot study of a technique for investigatingthe effects of artificial light and noise on bat activity, 2009)
Ánh sáng mạnh làm thay đổi nhịp điệu sinh học của các loài vật nói chung và Dơi nói riêng Các loài sinh vật vốn thích nghi với ánh sáng và bóng tối tự nhiên, khi
có sự thay đổi về thời gian chiếu sáng sẽ ảnh hưởng đến thói quen sinh hoạt và có thể khiến cơ thể chúng bị rối loạn
Theo báo cáo Dơi tránh né ồn ào trong quá trình săn mồi Thí nghiệm với 4 loại
âm thanh là: yên lặng (cho loa hoạt động và phát một file rỗng), giao thông (thu lại cách đường cao tốc 7,5m), gió (tiếng các cây sậy dao động mạnh do gió dọc theo các con sông) và tiếng ồn (tiếng ồn kĩ thuật số); xem xét ảnh hưởng của nó đến khả năng
săn mồi của dơi Tai chuột (Myotis myotis).6
Nghiên cứu cho thấy với cường độ âm thanh và tần số của âm thanh đó càng cao thì càng ảnh hưởng đến hoạt động của loài Dơi
6 Nguồn: Foraging bats avoid noise
Trang 32Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Tài Nguyên & Môi Trường
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 02/2014 đến tháng 12/2014
Địa điểm nghiên cứu: Đề tài được thực hiện tại chùa Dơi (Mahatup) và các vùng phụ cận (địa bàn kiếm ăn của đàn Dơi) tại Sóc Trăng
Hình 3.1 Địa bàn kiếm ăn của Dơi 3.2 PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU
- Máy đo tiếng ồn Noise Meter Testo 815
- Máy đo khí độc IBRID MX6
- Máy đo bụi KANOMAX
- Bảng phỏng vấn
- Máy tính
- Các dụng cụ văn phòng phẩm
Trang 333.2.1 Máy đo tiếng ồn Noise Meter Testo 815
Hình 3.2 Máy đo tiếng ồn Noise Meter Testo 815
- Hãng sản xuất: TESTO – Đức
- Giới hạn đo: + 32 tới + 130 dB
- Độ chính xác: 1.0 dB
- Độ phân giải: 0.1 dB
- Nhiệt độ hoạt động: 0 tới + 400C
- Nhiệt độ bảo quản: - 10 tới + 600C
- Nguồn: 9V pin
Cách sử dụng:
- Khi đo cần chú ý đến vận tốc gió và hướng của microphone Các giá trị đo chỉ
có giá trị khi vận tốc gió từ 5 m/s trở xuống Trong tình trạng gió xoáy ở tốc độ lớn có thể che lấp tiếng ồn mà chúng ta muốn đo Tuy nhiên các giá trị đo đạc cũng có thể chấp nhận được ở vận tốc gió từ 10m/s trở lại Thông thường thì tiếng ồn của gió phải dưới tiếng ồn cần đo ít nhất 10 dB Khi đo đạc ngoài trời cần có các thiết bị chắn gió
- Qui trình đo thay đổi tùy theo mục đích của người đo Khi đo áp suất âm ở khu vực làm việc nên đặt máy ở nơi không bị quấy nhiễu và microphone được đặt ở vị trí mà tai người tiếp xúc với tiếng ồn nhiều nhất Tương tự khi đo độ ồn của môi trường thì ta phải đo ở nơi mà tiếng ồn gây phiền toái nhất Microphone thường được
Trang 34Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Tài Nguyên & Môi Trường đặt ở vị trí cao 1,2 m so với mặt đất và phải chú ý đến các mặt có thể phản xạ âm thanh
3.2.2 Máy đo khí độc IBRID MX6
Hình 3.3 Máy đo khí độc IBRID MX6
(Nguồn: ảnh chụp)
Hãng sản xuất: INDUSTRIAL SCIENTIFIC – Mỹ
Máy đo khí đa chỉ tiêu khí loại cầm tay, dùng đo các loại khí LEL (Pentane), LEL (Methane), CH4 IR (0-100% vol.), CH4 (0-5%), Hydrocarbons IR (0-100% LEL), các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOCs), H2S, O2, NO2, CO, CO/H2S, NH3, Cl2, ClO2 PH3 CO High, SO2, HCl, HCN, H2, PH3 High, NO, CO/H2 low interference CO2 IR (mỗi cấu hình của MX6 đo được tối đa 6 loại khí trên)
Kết quả hiển thị theo đơn vị ppm, hoặc % thể tích, có biểu đồ kết quả theo thời gian thực trên màn hình LCD màu
Tùy theo yêu cầu người sử dụng có thể chọn cấu hình MX6 tích hợp bơm hút khí khi cần thiết đo khí ở các nơi có vị trí khó tiếp cận
Có chức năng báo động bằng đèn, âm thanh (lên tới 95 dB), báo rung
Dữ liệu lưu trữ trong 1 năm và chỉ mất 15 phút để tải về
Dữ liệu được lưu trữ khi mất nguồn
Màn hình STN đồ họa màu LCD lớn, điều chỉnh độ tương phản để phù hợp với môi trường làm việc khác nhau
Máy sử dụng pin sạc Li-ion, thời gian sử dụng lên tới 24 giờ, hoặc sử dụng pin kiềm AA (10.5 giờ)
Trang 35 Thân máy vững chắc chịu được va đập, nhỏ gọn, chống mốc, chống nhiễu
Kích thước: 135 x 77 x 43 mm
Trọng lượng: 409 g
Môi trường hoạt động: - 200C – 550C / 15% - 95% RH không ngưng tụ
Thang đo khí / độ phân giải:
Các khí dễ cháy: 0 – 100% LEL / 1% hoặc 10 ppm
Nitrogen Dioxide NO2: 0 - 150 ppm / 0.1 ppm
Sulfur Dioxide SO2: 0 - 150 ppm / 0.1 ppm
Carbon Dioxide CO2: 0 - 5% / 0.01%
Chất hữu cơ dễ bay hơi VOCs: 0 - 2,000 ppm / 0.1
Trang 36Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Tài Nguyên & Môi Trường
3.2.3 Máy đo bụi KANOMAX
Hình 3.4 Máy đo bụi KANOMAX 3887
(Nguồn: ảnh chụp)
- Hiển thị đồng thời giá trị đếm của 3 kích thước bụi 0.3, 0.5, 5.0 mm
- Sensor lưu lượng tích hợp (0.1 CFM +/- 10%)
- Lưu được tới 8000 kết quả đo
- Truyền dữ liệu dễ dàng với máy tính và máy in
- Kích thước nhỏ gọn trong lòng bàn tay (108 x 68 x 196 mm)
- Lưu lượng khí qua máy: 2.83 l/m
- Thời gian lấy mẫu: 1s ~ 99 phút hoặc liên tục
- Tín hiệu cảnh báo: 1~70,000,000 hạt
- Chế độ đo: Single, repeat, continuos, calculation, remote, ISO
- Xuất xứ: United States
Trang 373.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập các số liệu sẵn có liên quan đến chùa Dơi trên sách vở, báo chí, từ các
cơ quan ban ngành có liên quan và thông qua các nhà sư trong chùa
Thu thập các kết quả nghiên cứu của các chương trình, đề tài khoa học, có liên quan đến đàn Dơi
Tổng hợp, phân tích, đánh giá thông tin thu thập được
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Điều tra, quan sát và phỏng vấn (thông qua phiếu phỏng vấn) một số nội dung liên quan đến dân sinh xã hội và chất lượng môi trường xung quanh để xác định những nhân tố trực tiếp và gián tiếp tác động đến đời sống và hiện trạng loài dơi ở các vùng nghiên cứu Nhóm tiến hành phỏng vấn các hộ dân vùng phụ cận, lân cận, khách du lịch, cán bộ lãnh đạo và các đối tượng liên quan
Vùng phụ cận 374 phiếu gồm các xã: Song Phụng (30 phiếu), An Thạnh Nam (30 phiếu), An Thạnh 2 (30 phiếu), An Thạnh 1 (30 phiếu), Châu Khánh (30 phiếu), Phú Hữu (30 phiếu), Tham Đôn (30 phiếu), Ngọc Đông (10 phiếu), Vĩnh Châu (30 phiếu), Long Phú (30 phiếu), Đại Ân 2 (30 phiếu), Mỹ Xuyên (32 phiếu), Thiện Mỹ (32 phiếu)
Vùng lân cận: khu vực phường 3, gần chùa Dơi 52 phiếu
Thời gian thu mẫu là vào những ngày thường và các ngày lễ Điều kiện thu mẫu: thời tiết ổn định, trời trong xanh, không có mưa
Kết quả thu được sẽ so sánh với QCVN 05:2013/BTNMT về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh, từ đó nhận định ảnh hưởng của ô nhiễm không khí đối với đời sống của loài Dơi
Trang 38Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Tài Nguyên & Môi Trường
3.3.4 Đo đạc ô nhiễm tiếng ồn MTXQ tại khu vực Chùa Dơi và các khu vực kiếm
ăn của Dơi
Sử dụng máy đo tiếng ồn Noise Meter Testo 815 để đo đạc tiếng ồn tại khu vực Dơi sinh sống
So sánh số liệu thu được với ngưỡng tiếng ồn theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
về tiếng ồn QCVN 26:2010/BTNMT Từ đó nhận định ảnh hưởng của tiếng ồn đối với đời sống và tập quán của loài Dơi
Trang 39CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 KẾT QUẢ PHỎNG VẤN
Thực hiện phỏng vấn 584 hộ dân bao gồm các hộ dân sống xung quanh khu vực chùa Dơi (Mahatup), các vùng phụ cận: Mỹ xuyên, Tham Đôn, Song Phụng, Vĩnh Châu, Đại Ân, Mỹ Tú, An Thạnh Nam, các cán bộ, nhà sư và khách du lịch Thời gian phỏng vấn tiến hành vào tháng 2/2014
Trong quá trình thực hiện phỏng vấn gặp nhiều thuận lợi cũng như khó khăn
- Thuận lợi: có được sự giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của cán bộ, chính quyền địa phương, sự nhiệt tình trả lời các câu hỏi phỏng vấn của người dân, sự giúp đỡ và quan tâm tới việc bảo tồn đàn Dơi tại chùa của các nhà sư
- Khó khăn:
+ Phần lớn người dân sinh sống trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng là người Khmer, nhiều người trong số đó không biết hoặc không rành tiếng Việt nên đôi lúc gây khó khăn và hiểu nhầm trong quá trình phỏng vấn
+ Nhiều nhà sư vẫn còn ngại khi trả lời các câu hỏi phỏng vấn
+ Có nhiều hộ gia đình mới chuyển tới khu vực này sinh sống trong khoảng thời gian gần đây, nên không thể cung cấp các thông tin trả lời phiếu phỏng vấn
4.1.1 Thay đổi số lượng cá thể dơi
4.1.1.1 Thay đổi số lượng Dơi trong 5 năm trở lại
Theo kết quả phỏng vấn thì đàn Dơi đã sinh sống trong khuôn viên chùa từ rất lâu, có thể là trước khi chùa được xây dựng Đàn Dơi sống trong chùa thuộc loài Dơi Ngựa (Dơi Chó), Dơi ngựa Thái Lan,… thức ăn chủ yếu của chúng là các loại trái cây chín như xoài, nhãn, bần, dừa,… Đàn Dơi có tập tính kiếm ăn ở các khu vực phụ cận, nơi trồng nhiều trái cây như Cù Lao Dung, Song Phụng, Mỹ Xuyên, Tham Đôn, Vĩnh Châu, Đại Ân,…
Theo kết quả phỏng vấn của các nhà sư, các hộ dân sống lân cận thì đàn Dơi trong chùa bay đi kiếm ăn theo đàn, bắt đầu bay đi từ khoảng 18 giờ và bay về chùa khoảng 4 giờ
Tuy nhiên, theo kết quả phỏng vấn từ người dân, các khách du lịch, nhà sư và các cán bộ quản lý tỉnh Sóc Trăng thì số lượng cá thể Dơi trong chùa Mahatup đã và đang giảm mạnh trong vòng 5 năm trở lại đây và có xu hướng giảm dần theo thời gian
Trang 40Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Tài Nguyên & Môi Trường
Hình 4.1 Tỷ lệ % ý kiến của người dân sống lân cận Chùa về sự thay đổi cá thể Dơi
trong 5 năm gần đây (n=52 ) Bảng 4.1 Nhận định của người dân vùng lân cận về sự thay đổi số lượng Dơi trong 5
năm gần đây (n=52)
Kết quả phỏng vấn 52 hộ dân sống lân cận chùa Dơi về sự thay đổi số lượng cá thể Dơi trong 5 năm trở lại đây, theo năm cấp độ: tăng, không thay đổi, giảm, và giảm mạnh Kết quả là 32 hộ dân cho rằng giảm mạnh (chiếm tỷ lệ 61%), 17 hộ dân cho rằng có giảm (chiếm 33%), 3 hộ dân cho rằng không thay đổi (chiếm 6%) và không ai nhận định về số lượng dơi tăng Qua đó cho thấy rằng người dân sống xung quanh khu vực Chùa rất quan tâm đến sự suy giảm số lượng Dơi tại đây, một phần là đời sống sinh hoạt của họ gắn với sự phát triển du lịch của Chùa Các hoạt động kinh doanh, buôn bán các đặc sản của tỉnh, các dịch vụ phục vụ cho hoạt động du lịch phát triển từ đó đời sống của người dân quanh khu vực chùa Dơi được cải thiện rõ rệt Kết quả phỏng vấn từ người dân xung quanh Chùa cho thấy mức độ số lượng cá thể Dơi tại Chùa Mahatup đã giảm và giảm mạnh đáng kể so với 5 - 7 năm về trước Một vài người lớn tuổi sống xung quanh khu vực Chùa cho rằng số lượng Dơi hiện nay chỉ bằng 1/3 so với lúc trước