TÓM LƯỢC Đề tài được thực hiện tại Nhà lưới Nghiên cứu rau sạch, khoa Nông Nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Đại học Cần Thơ, từ 11/2013 – 10/2014, nhằm tìm ra thời gian mỗi lần tưới nước, l
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN NGỌC SƠN
TÌM HIỂU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
TRỒNG GIÁ ĐẬU XANH AN TOÀN
QUY MÔ HỘ GIA ĐÌNH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH: NÔNG HỌC
2014
Trang 2LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH: NÔNG HỌC
TÌM HIỂU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
TRỒNG GIÁ ĐẬU XANH AN TOÀN
QUY MÔ HỘ GIA ĐÌNH
Trang 3
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP
-
Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông Học, với đề tài:
TÌM HIỂU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
TRỒNG GIÁ ĐẬU XANH AN TOÀN
QUY MÔ HỘ GIA ĐÌNH
Do sinh viên Nguyễn Ngọc Sơn thực hiện
Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2014 Cán bộ hướng dẫn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Sơn
Trang 5TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP
-
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Đại học ngành Nông Học với đề tài: TÌM HIỂU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG GIÁ ĐẬU XANH AN TOÀN
QUY MÔ HỘ GIA ĐÌNH Do sinh viên Nguyễn Ngọc Sơn thực hiện và bảo vệ trước hội đồng Ý kiến của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:
Luận văn tốt nghiệp được hội đồng đánh giá ở mức:
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2014 Thành viên Hội đồng ……… ……… ………
DUYỆT KHOA
Trưởng Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
Trang 6QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
I Lý lịch sơ lược
Họ và tên: Nguyễn Ngọc Sơn Giới tính: Nam
Ngày, tháng, năm sinh: 25/06/1993 Dân tộc: Kinh
Nơi sinh: An Giang
Họ và tên cha: Nguyễn Thanh Minh
Họ và tên mẹ: Đỗ Thị Uyên
Chỗ ở hiện nay: Ấp Qui Thạnh II, phường Trung Kiên, quận Thốt Nốt, TPCT
II Quá trình học tập
Địa chỉ: Đường 3/2, phường Xuân Khánh, quận Ninh Kiều, TPCT
Chuyên ngành: Nông Học (Khóa 37)
Ngày… tháng… năm 2014
Nguyễn Ngọc Sơn
Trang 7LỜI CẢM TẠ Kính dâng!
Cha mẹ đã hết lòng nuôi nấng, dạy dỗ con khôn lớn nên người, đã luôn quan tâm, lo lắng, động viên, đặc biệt hỗ trợ về tinh thần trong suốt quá trình tôi học tập
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
- Trước hết, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Cô Trần Thị Ba đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm, góp ý chân thành và cho những lời khuyên
hết sức bổ ích trong việc nghiên cứu luận văn này
- Xin trân trọng cảm ơn Cô Võ Thị Bích Thủy là người đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
- Cảm ơn Thầy cố vấn học tập Nguyễn Lộc Hiền đã dìu dắt và nhiệt tình giúp đỡ trong thời gian tôi học tập tại trường Đại học Cần Thơ
- Quý Thầy Cô Khoa Nông nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại học Cần Thơ đã giúp tôi hiểu biết rất nhiều kiến thức chuyên ngành, là nền tảng
để vận dụng tổng hợp góp phần quan trọng hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Chị Lâm Kiều Nương, chị Lý Hương Thanh cùng các bạn Hương, Hậu,
Ly Ni, Nhung, Xương, Lợi, Trúc, đã hết lòng giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Thân gửi về!
Các bạn lớp Nông Học khóa 37 những lời chúc sức khỏe và thành công
trong tương lai
Nguyễn Ngọc Sơn
Trang 8NGUYỄN NGỌC SƠN, 2014 “Tìm hiểu một số biện pháp kỹ thuật trồng giá đậu xanh an toàn quy mô hộ gia đình” Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Nông Học,
khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ, 48 trang Cán bộ hướng dẫn: PGS TS Trần Thị Ba và ThS Võ Thị Bích Thủy
TÓM LƯỢC
Đề tài được thực hiện tại Nhà lưới Nghiên cứu rau sạch, khoa Nông Nghiệp
và Sinh học Ứng dụng, Đại học Cần Thơ, từ 11/2013 – 10/2014, nhằm tìm ra thời gian mỗi lần tưới nước, loại giá thể, thể tích thùng thích hợp và giống đậu xanh cho năng suất giá cao khi không sử dụng hóa chất Trung Quốc thích hợp cho sinh trưởng, năng suất và phẩm chất của giá đậu xanh Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm 3 thí nghiệm:
1 Ảnh hưởng của thời gian mỗi lần tưới nước đến sự sinh trưởng và năng suất giá đậu xanh Kết quả cho thấy thời gian tưới 10 phút cho chiều dài thân cao (7,14 cm), đường kính thân tốt (2,45 mm), năng suất cao hơn thời gian tưới 1 phút và tương đương các thời gian tưới còn lại
2 Ảnh hưởng của loại giá thể và thể tích thùng ủ đến sinh trưởng và năng suất của giá đậu xanh Kết quả cho thấy làm giá đậu xanh sử dụng giá thể khăn giấy cho chiều dài thân cao (7,65 cm), đường kính thân tốt (2,52 mm) và hiệu quả năng suất tương đương giá thể vải bố, ba thể tích thùng ủ cho sinh trưởng và năng suất tương đương nhau
3 Ảnh hưởng của hóa chất Trung Quốc đến sinh trưởng, năng suất và phẩm chất ở hai giống đậu làm giá đậu xanh Kết quả cho thấy giống đậu xanh số 22 có các chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất cao hơn giống đậu xanh Trung Quốc, không
xử lý hóa chất Trung Quốc cho chiều dài thân cao (5,91 cm) phẩm chất tốt như:
hàm lượng vitamin C cao (8,68 mg/100 g), ít bị nhiễm vi khuẩn E coli và thời
gian bảo quản lâu hơn xử lý hóa chất Trung Quốc
Trang 9MỤC LỤC
QUÁ TRÌNH HỌC TẬP iv
LỜI CẢM TẠ v
TÓM LƯỢC vi
MỤC LỤC vii
DANH SÁCH BẢNG ix
DANH SÁCH HÌNH x
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT xii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 Tổng quan về giá đậu xanh 2
1.1.1 Khái niệm 2
1.1.2 Lịch sử phát triển 2
1.1.3 Cấu tạo sinh học và sự phát triển của giá đậu xanh 2
1.1.4 Giá trị dinh dưỡng 3
1.1.5 Điều kiện ngoại cảnh thích hợp với giá đậu xanh 4
1.1.6 Một số giá thể làm giá đậu xanh 6
1.1.7 Vôi, thạch cao và hóa chất tăng trưởng sử dụng trong sản xuất giá đậu xanh 7
1.2 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng trong sản xuất giá đậu xanh 8
1.2.1 Trên thế giới 8
1.2.2 Ở Việt Nam 9
1.3 Một số trở ngại trong sản xuất giá đậu xanh ở Việt Nam 9
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 10
2.1 Phương tiện 10
2.1.1 Địa điểm và thời gian 10
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm 10
2.2 Phương pháp 12
2.2.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của thời gian mỗi lần tưới nước đến sự sinh trưởng và năng suất của giá đậu xanh 12
2.2.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của loại giá thể và thể tích thùng đến sự sinh trưởng và năng suất của giá đậu xanh 12
2.2.3 Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của hóa chất Trung Quốc đến sự sinh trưởng, năng suất và phẩm chất ở hai giống đậu làm giá đậu xanh 13
2.3 Kỹ thuật canh tác 13
2.3.1 Thí nghiệm 1 13
Trang 102.3.2 Thí nghiệm 2 14
2.3.3 Thí nghiệm 3 15
2.4 Chỉ tiêu theo dõi 15
2.5 Phân tích số liệu 17
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 18
3.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của thời gian mỗi lần tưới nước đến sự sinh trưởng và năng suất của giá đậu xanh 18
3.1.1 Ghi nhận tổng quát 19
3.1.2 Điều kiện ngoại cảnh 19
3.1.3 Chỉ tiêu sinh trưởng 19
3.1.4 Chỉ tiêu năng suất 21
3.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của loại giá thể và thể tích thùng đến sự sinh trưởng và năng suất của giá đậu xanh 22
3.2.1 Ghi nhận tổng quát 22
3.2.2 Điều kiện ngoại cảnh 23
3.2.3 Chỉ tiêu sinh trưởng 25
3.2.4 Chỉ tiêu năng suất 27
3.3 Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của hóa chất Trung quốc đến sự sinh trưởng, năng suất và phẩm chất ở hai giống đậu làm giá đậu xanh 29
3.3.1 Ghi nhận tổng quát 29
3.3.2 Điều kiện ngoại cảnh 29
3.3.3 Chỉ tiêu sinh trưởng 30
3.3.4 Chỉ tiêu năng suất 34
3.3.5 Chỉ tiêu về phẩm chất 36
3.4 Quy trình sản xuất giá đậu xanh 42
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45
4.1 Kết luận 46
4.2 Đề nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46 PHỤ CHƯƠNG
Trang 11DANH SÁCH BẢNG
3.1 Chiều dài thân, chiều dài rễ và đường kính thân giá đậu xanh ở 4 thời
gian mỗi lần tưới nước
19
3.2 Chiều dài lá mầm, chiều rộng lá mầm và chiều dài lá thật giá đậu xanh
ở 4 thời gian mỗi lần tưới nước
21
3.3 Năng suất tổng, năng suất thương phẩm và tỷ lệ năng suất thương
phẩm/năng suất tổng giá đậu xanh ở 4 thời gian mỗi lần tưới nước
21
3.4 Chiều dài thân, chiều dài rễ và đường kính thân của giá đậu xanh ở 2
loại giá thể và 3 thể tích thùng
24
3.5 Chiều dài lá mầm, chiều rộng lá mầm và chiều dài lá thật của giá đậu
xanh ở 2 loại giá thể và 3 thể tích thùng
26
3.6 Năng suất tổng, năng suất thương phẩm và tỷ lệ năng suất thương
phẩm/năng suất tổng giá đậu xanh ở 2 loại giá thể và 3 thể tích thùng
28
3.7 Chiều dài thân, chiều dài rễ và đường kính thân ở 2 giốngđậu làm giá
đậu xanh khi xử lý và không xử lý hóa chất Trung Quốc
31
3.8 Chiều dài lá mầm, chiều rộng lá mầm và chiều dài lá thật ở 2 giống đậu
làmgiá đậu xanh khi xử lý và không xử lý hóa chất Trung Quốc
33
3.9 Năng suất tổng, năng suất thương phẩm và tỷ lệ năng suất thương
phẩm/năng suất tổng ở 2 giống đậu làm giá đậu xanh khi xử lý và
không xử lý hóa chất Trung Quốc
34
3.10 Độ giòn, độ Brix và hàm lượng vitamin C ở 2 giống đậu làm giá đậu
xanh khi xử lý và không xử lý hóa chất Trung Quốc
37
3.11 Mật số E coli và Salmonella ở 2 giống đậu làm giá đậu xanh khi xử lý
và không xử lý hóa chất Trung Quốc
39
3.12 Tỷ lệ bệnh (%) sau 2 ngày bảo quản ở 2 giống đậu làm giá đậu xanh
khi xử lý và không xử lý hóa chất Trung Quốc
40
3.13 Tỷ lệ bệnh (%) sau 4 ngày bảo quản ở 2 giống đậu làm giá đậu xanh
khi xử lý và không xử lý hóa chất Trung Quốc
41
3.14 Tỷ lệ bệnh (%) sau 6 ngày bảo quản ở 2 giống đậu làm giá đậu xanh
khi xử lý và không xử lý hóa chất Trung Quốc
42
Trang 123.1 Điều kiện nhiệt độ trung bình 3 ngày khảo sát trong thùng làm giá
đậu xanh ở thí nghiệm ảnh hưởng của thời gian mỗi lần tưới nước
đến sự sinh trưởng, năng suất của giá đậu xanh (24 – 27/11/2013)
18
3.2 Chiều dài thân và chiều dài rễ của giá đậu xanh ở 4 thời gian mỗi
lần tưới nước
20
3.3 Năng suất tổng của giá đậu xanh ở 4 thời gian mỗi lần tưới nước 22
3.4 Điều kiện nhiệt độ trung bình 3 ngày khảo sát trong thùng làm giá
đậu xanh ở thí nghiệm ảnh hưởng của loại giá thể và thể tích thùng
ủ đến sinh trưởng, năng suất của giá đậu xanh (23 – 26/09/2014)
23
3.5 Chiều dài thân và chiều dài rễ của giá đậu xanh ở 2 loại giá thể 25 3.6 Năng suất tổng của giá đậu xanh ở 2 loại giá thể và 3 thể tích thùng 27
3.7 Điều kiện nhiệt độ trung bình 3 ngày khảo sát trong thùng làm giá
đậu xanh ảnh hưởng của hóa chất Trung Quốc đến sự sinh trưởng,
năng suất và phẩm chất ở hai giống đậu làm giá đậu xanh (02 –
05/11/2014)
30
3.8 Chiều cao thân và chiều dài rễ của giá đậu xanh ở 2 giống đậu làm
giá đậu xanh khi xử lý và không xử lý hóa chất Trung Quốc
32
3.9 Năng suất tổng của giá đậu xanh ở 2 giống đậu làm giá đậu xanh
khi xử lý và không xử lý hóa chất Trung Quốc
35
3.10 Giá đậu xanh bị bệnh thối nhũn sau 2 ngày bảo quản ở 2 giống đậu
làm giá đậu xanh khi xử lý và không xử lý hóa chất Trung Quốc
40
Trang 13DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
ATVSTP VN: An toàn vệ sinh thực phẩm Việt Nam
AVRDC: Asian Vegetable Research and Development Center
Bộ NN – PTNN: Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn Ca(OCl)2: Calcium hypochlorite
CP: Cổ phần
ĐHCT: Đại học Cần Thơ
E coli: Escherichia coli O157: H7
FDA: Food and Drug Administration
FSAI: Food Safety Authority of Ireland
NN & SHƢD: Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng
NSKG: Ngày sau khi gieo
NXB: Nhà xuất bản
TP HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 14vệ cơ thể, chống lại các bệnh như: Bệnh xơ vữa động mạch, bệnh cao huyết áp, bệnh ung thư và các chứng mất ngủ
Tuy nhiên, hiện nay hầu hết giá đậu xanh bán trên thị trường đều không đảm bảo về an toàn thực phẩm Thứ nhất, là để tăng tính cảm quan, hấp dẫn hơn cho giá, người làm giá thường sử dụng thêm các loại hóa chất kích thích tăng trưởng (thuốc nhập lậu, không rõ nguồn gốc) để giúp giá tăng trưởng nhanh, rễ ngắn, mập, trắng Thứ hai, là do điều kiện môi trường, bảo quản, vận chuyển thiếu vệ sinh an toàn thực phẩm nên giá rất dễ bị nhiễm các vi khuẩn, thường là
nhiễm E coli và Salmonella Nếu dùng các loại giá đậu này, về lâu dài có thể gây
nên các bệnh mãn tính, nó còn là yếu tố gây ung thư Để đảm bảo sức khỏe cho
người tiêu dùng, có những bữa ăn ngon và an toàn Đề tài “Tìm hiểu một số biện pháp kỹ thuật trồng giá đậu xanh an toàn quy mô hộ gia đình” được
Trang 15CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về giá đậu xanh
1.1.1 Khái niệm
Giá đậu xanh là mầm được làm từ hạt đậu xanh nảy mầm, dài chừng 3 đến
7 cm, với 2 lá mầm màu vàng, nhỏ, được che tối và chịu một áp lực từ bên trên trong suốt thời gian trồng Đây là một loại rau mầm có nhiều chất có giá trị dinh dưỡng (http://vi.wikipedia.org, 12/10/2014)
1.1.2 Lịch sử phát triển
Giá đậu xanh được sản xuất từ đậu xanh, tên khoa học là Vigna radiata L, có
nguồn gốc từ Ấn Độ và Trung Á, được phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (Đường Hồng Dật, 2006) Người Trung Quốc là người đầu tiên ăn và phát hiện giá trị dinh dưỡng mầm giá đậu xanh, tiêu thụ mầm đã nấu chín và giảm nguy cơ ngộ độc thực phẩm (FSAI, 2001), mầm có tác dụng trong điều trị rối loạn cách đây 5.000 năm (Mansour, 1993) Năm 1772 – 1775, mầm giá đậu xanh đã giải quyết tai họa thiếu vitamin C cho những thủy thủ hành trình dài trên biển Trong Thế chiến II, bài viết của Tiến sĩ Clive M thuộc Đại học Cornell đã dấy lên quan tâm ở Mỹ về những lợi ích của mầm đậu (Salette A.A, 2013) Hiện nay, giá đậu xanh được tiêu thụ phổ biến trên toàn thế giới và đặc biệt ở các nước Châu Á như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan… Ở Việt Nam, hạt đậu xanh làm giá là loại rau mầm truyền thống, được sử dụng chủ yếu trong các món ăn (Trần Thị Ba, 2010)
1.1.3 Cấu tạo sinh học và sự phát triển của giá đậu xanh
Đậu được cấu tạo từ vỏ hột, phôi và hai lá to rộng tạo thành Trong đó, phôi là bộ phận quan trọng nhất của hột đậu, xét về hình thái của nó có thể phân thành ba bộ phận là: Chồi mầm, chồi rễ, thân mầm, trên thân mầm có các chồi mầm (Đường Hồng Dật, 2006) Lớp vỏ là tầng bảo vệ của hột đậu, do nhiều tế bào cấu tạo thành, các tế bào này có chất sừng, hình thành nên tổ chức bao quanh, lớp vỏ này cứng mà không dễ bị hấp khí, có tác dụng bảo vệ mầm và lá (Salette A.A., 2013)
Đậu trồng dưới điều kiện bình thường, phôi tách ra mà nảy mầm Loại giá đậu hoàn chỉnh phải có 1 rễ và 3 bộ phận là: Lá, mầm rễ, thân mầm Tùy theo sự phát triển của mỗi loại đậu, thân mầm được kéo dài ra và trở thành bộ phận chủ yếu giá đậu còn sự phát triển của mầm rễ thì chậm lại Khi thân mầm kéo dài tối
đa, lá thật được lộ ra thì có thể ăn được Vì vậy, bộ phận dùng để ăn của giá đậu
là lá và thân mầm (Thái Hà và Đặng Mai, 2011)
Trang 16Quá trình nảy mầm trên cơ sở của sự trao đổi, sự phân hóa kéo duỗi, sự phân liệt của các tế bào làm cho rễ và thân sinh trưởng Hạt nảy mầm cho đến khi thân lộ ra (khoảng 0,3 mm) được gọi là giai đoạn bắt đầu nảy mầm, đến thời kỳ cuối cùng của sự sinh trưởng thân mầm dài ra 1,5 mm, thân rễ chính bắt đầu dài
ra được gọi là thời kỳ phát mầm (Guo et al., 2012)
Sau khi đậu xanh nảy mầm thì lượng vitamin C bắt đầu tăng, thời điểm tăng cao nhất là ngày thứ hai sau khi đậu nảy mầm, lúc này nó giải phóng khí cacbonic nhiều nhất, sau đó giảm dần Nếu sử dụng đậu sau khi nảy mầm 50 giờ, thì lượng dinh dưỡng phong phú, trong đó vitamin là nhân tố quan trọng có hàm
lượng cao nhất (Lee et al., 2007) Lúc này, thân mầm vẫn chưa sinh trưởng đầy
đủ, sản lượng thấp, không phải là thời kỳ thích hợp để thu hoạch, mà phải đến khi thân mầm phát triển đầy đủ, lá chưa nhô dài lên mới là lúc thích hợp nhất để thu hoạch giá (Nguyễn Hữu Hoàng và Lưu Xuân Lan, 2010)
1.1.4 Giá trị dinh dưỡng
Giá đậu xanh là một loại rau mầm có nhiều chất dinh dưỡng nhất Chỉ tính riêng hàm lượng protein thì nó được xếp hàng đầu trong các loại rau, cao hơn cả nấm, giá đậu xanh có 5,5% protein trong khi nấm mỡ chỉ có 4% và nấm rơm chỉ có 3,6% Qua quá trình ngâm ủ, giá sẽ có hàm lượng protein, acid amin, khoáng chất và đặc biệt hàm lượng vitamin C cao gấp 2 – 4 lần, B12 gấp
10 lần, caroten (tiền sinh tố A) cao gấp 1,5 – 2 lần (Nguyễn Công Khẩn, 2002) Không giống như hầu hết các loại rau, có giá trị dinh dưỡng giảm dần sau khi
đã được thu hoạch, giá đậu xanh giữ lại tính chất dinh dưỡng của chúng cho đến khi tiêu thụ (Võ Văn Chi, 2005) Giá đậu xanh là loại giá đậu được dùng nhiều nhất trong ẩm thực và làm thuốc Giá đậu là một nguồn tuyệt vời của lecithin, bên cạnh việc giảm mức cholesterol trong máu, giúp ngăn ngừa bệnh gan nhiễm mỡ Giá đậu là một nguồn năng lượng sẵn có và chất dinh dưỡng khác
đó là hữu ích trong việc làm giảm căng thẳng và mệt mỏi (Salette A.A, 2013)
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ thì giá đậu đã biến tinh bột trong hạt đậu thành loại đường đơn giản, dễ tiêu hóa Thêm vào đó lượng protein trong giá rất cao nhưng lại chứa ít calo vì vậy giá đậu là món ăn chay và ăn kiêng rất tốt Một cuộc nghiên cứu khác tại Pháp chỉ ra rằng những phụ nữ thực hiện chế
độ ăn kiêng với giá đậu có thể ngăn ngừa các chứng bệnh như béo phì, cao huyết áp, tiểu đường Bên cạnh đó, giá đậu có chứa kích thích tố nữ tên là
isoflavone – vị thuốc rất tốt với phụ nữ (Rita G, 2013) Giá đậu hạn chế bốc hỏa,
loãng xương, chứng giảm trí nhớ và các rối loạn liên quan đến phụ nữ tuổi mãn kinh, tiền mãn kinh Nhờ khả năng đặc biệt này mà giá đậu rất tốt với phụ nữ tuổi mãn kinh Cùng với đó, các chất isoflavon trong giá đậu còn đóng vai trò quan
Trang 17trọng trong việc chống ung thư, hạn chế nguy cơ di căn; giảm tỷ lệ ung thư vú ở phụ nữ (Nguyễn Công Khẩn, 2002) Theo kết luận của các chuyên gia dinh dưỡng
Pháp, nhờ ăn nhiều giá đậu mà phụ nữ Nhật Bản ít có nguy cơ mắc ung thư 5 – 8
lần so với phụ nữ phương Tây (Thái Hà và Đặng Mai, 2011)
Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng của giá đậu xanh
Thành phần dinh dưỡng Đơn vị tính Giá trị ăn được 100 g (%)
(Nguồn: Võ Văn Chi, 2005)
1.1.5 Điều kiện ngoại cảnh thích hợp với giá đậu xanh
Nước
Nước là điều kiện quan trọng để khống chế và điều tiết sự nảy mầm của hạt (Mansour N.S, 1993) Tác dụng chủ yếu của sự hút nước: Thứ nhất là khi hút nước,
vỏ đậu giãn nở để hút CO2, tăng tác dụng hô hấp; thứ hai là làm cho những vật chất
ở trạng thái ngưng tụ chuyển sang trạng thái dung hòa, tăng hoạt tính của men, tiến
Trang 18hành hoạt động nảy mầm bình thường; thứ ba là làm cho những vật chất hữu cơ phức tạp phân giải thành những hợp chất đơn giản, vận chuyển thành nước, đưa chất dinh dưỡng đến nơi sinh trưởng, cung cấp yêu cầu cho quá trình phân hóa sinh trưởng của các tế bào (Vũ Văn Liết và Nguyễn Công Hoan, 2007)
Thành phần nước đầy đủ cần cung cấp cho đậu nảy mầm, phải đủ để đậu sinh trưởng, đồng thời dùng để bài tiết chất thải, có tác dụng mang đi hàm lượng CO2 và điều tiết nhiệt độ (Nguyễn Hữu Hoàng và Lưu Xuân Lan, 2010) Điều đáng chú ý là sau khi đậu nảy mầm, lượng nước quá nhiều hay thời gian ngâm trong nước quá lâu thì sẽ thiếu oxy, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của giá đậu, có thể làm giá đậu bị chết (Thái Hà và Đặng Mai, 2011)
C (Vanessa V, 2014)
Không khí
Khí oxy có tác dụng thúc đẩy quá trình hô hấp của mầm, giúp giải phóng nhiệt lượng, cung cấp cho hoạt động sinh trưởng của các loại mầm Đồng thời, oxy lại có thể thúc đẩy hoạt tính của men tinh bột và các dưỡng chất khác (Fah J, 2000) Khi giá đậu nảy mầm có khí oxy đầy đủ, thì tác dụng hô hấp nhanh, quá trình trao đổi chất mạnh còn giá đậu sinh trưởng yếu, ảnh hưởng đến chất lượng của giá đậu Thành phần khí thể so với bình thường là khí hydro nhiều hơn và khí oxy ít hơn, để khống chế tác dụng hô hấp và sự trao đổi chất của giá đậu, có lợi chi việc sinh trưởng và tạo nên loại giá đậu trắng, mềm và non (Thái Hà và Đặng Mai, 2011)
Ánh sáng
Sản phẩm giá đậu yêu cầu thân mầm thẳng đứng, có màu trắng tinh khiết, lá
có màu vàng hoặc xanh nhạt Ánh sáng và sự thay đổi của màu sắc có liên hệ mật thiết với nhau Vì vậy trong quá trình giá đậu sinh trưởng, cần phải tránh ánh sáng
mặt trời và những nơi có điều kiện ẩm thấp (Guo et al., 2012) Đặc biệt là khi giá
đậu nảy mầm dài khoảng 1,5 cm, là giai đoạn quan trọng cần phải tránh ánh sáng mặt trời Hơn nữa, khi đem ra thị trường tiêu thụ cũng cần lưu ý tránh ánh sáng mặt trời, tránh cho giá đậu bị thay đổi màu sắc để giá đậu có chất lượng tốt nhất
Trang 19(Nguyễn Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan, 2005)
1.1.6 Một số giá thể làm giá đậu xanh
Yêu cầu giá thể phải có khả năng giữ ẩm tốt, thoáng khí tương đối, đã tiệt trùng (Dickson, 2004) Sau đây là một số giá thể có thể trồng giá đậu xanh:
- Cát: Loại dùng trong xây dựng đã được rửa sạch, có tính năng thoát nước tốt, tiện lợi cho sản xuất với số lượng nhiều, thích hợp cho việc sản xuất vào mùa hè (Lê Quỳnh Trang, 2011) Theo Võ Thị Bạch Mai (2003) cát có nguồn gốc từ biển cần loại bỏ muối, vì làm pH tăng gây hiện tượng thiếu sắt
- Mùn cưa: Mùn cưa có thể thu được từ rất nhiều loại gỗ khác nhau, mỗi loại gỗ cho một loại mùn cưa có tính chất khác nhau Có nhiều loại gỗ có nhựa độc như gỗ lim, soan, đại… làm cây khó phát triển hoặc hấp thu độc tố gây nguy hại cho người sử dụng Phải xử lí chất chát và diệt trùng Vì vậy cần lựa chọn loại mùn cưa an toàn và có khả năng kiểm soát hàm lượng độc tố trong mùn cưa (Hà Hoàng Long, 2009)
- Lá tre hay trúc: Thường được dùng trong nông thôn, hộ gia đình, dễ tìm, thoát nước tốt, nhưng nhiệt độ khó điều tiết (Nguyễn Khắc Oánh, 2005)
- Khăn bông, vải bông: Hiện nay trên thị trường tràn ngập các loại khăn bông, vải bông có đủ thứ nguồn gốc xuất xứ, với đủ loại màu sắc và chất lượng
Do đó, cần phải đảm bảo khăn bông, vải bông được sử dụng làm giá thể phải không có hóa chất độc hại, gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng rau giá thành phẩm (Hà Hoàng Long, 2009)
- Tro trấu: Đây là một loại giá thể thường được sử dụng để sản xuất các loại rau mầm Ưu điểm là dễ tìm, giữ ẩm tốt, có chứa nhiều hợp chất vi lượng tốt cho sự phát triển của cây Nhược điểm là khó làm sạch, không kiểm soát được hàm lượng vi sinh vật trên giá thể (Nguyễn Khắc Oánh, 2005)
- Vải bố: Được dệt bằng vải bông thiên nhiên tạo thành, là chỗ dựa cho hệ thống rễ, tạo điều kiện cho rễ mọc dài ra và dễ tìm nước Có khả năng giữ nước, duy trì độ ẩm quanh rễ đồng thời cung cấp đủ khí để tránh hiện tượng úng nước (Lê Quỳnh Trang, 2011)
- Xơ dừa: Phải xử lí và tiệt trùng trước khi đem ủ Trong xơ dừa có chất gây vị chát, do đó khi ủ giá bằng giá thể là xơ dừa phải xử lý loại bỏ vị chát nếu không sẽ ảnh hưởng tới chất lượng của rau giá thành phẩm (Hà Hoàng Long, 2009)
Trang 201.1.7 Vôi, thạch cao và hóa chất tăng trưởng sử dụng trong sản xuất giá đậu xanh
Canxi là thành phần chủ yếu có trong vôi và thạch cao Vôi có tác dụng ức chế sự phát triển của nấm bệnh trong đất, đất trở nên chua khi bị suy thoái là điều kiện bất lợi cho nấm bệnh trong đất phát triển, và làm tăng năng suất, chất lượng cây trồng, giúp môi trường canh tác bền vững (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004)
Canxi là một thành phần của màng tế bào cây nên rất cần thiết cho sự hình thành tế bào mới, hình thành các mô cơ quan và làm màng tế bào ổn định, vững chắc Canxi cần cho sự hình thành và phát triển hệ rễ (Nguyễn Bảo Vệ và
Nguyễn Huy Tài, 2004; Nguyễn Đăng Nghĩa và ctv., 2005) Một số kết quả
nghiên cứu cho thấy Canxi Oxit (CaO) có hiệu quả tiêu diệt vi khuẩn, được xem
là chất khử trùng và vệ sinh thực phẩm (Sawai et al., 2001; Bea et al., 2006)
Theo Viện nghiên cứu rau quả thế giới (AVRDC), những loại mầm được sản xuất bởi Canxi được đánh giá là những mầm chất lượng tốt cho giòn cao, vị ngọt
Vôi nung (vôi sống)
Đây là một oxit của Canxi (CaO), dạng vôi được nung từ CaCO3 tạo thành, có phân tử gam bằng 56,1 g/mol Vôi nung được sử dụng rộng rãi trong xử
lý đất, phòng trừ sâu bệnh hại (Đường Hồng Dật, 2002; Ngô Ngọc Hưng, 2004) Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Anh (2012), Nguyễn Thị Thu Hà (2012)
sử dụng vôi để xử lý nước tưới (250 g/m3) trên rau ăn lá cho hiệu quả trong giảm
thiểu mật số Coliforms và E coli dưới giới hạn cho phép
Thạch cao
Đây là dạng Sunfat Canxi ngậm nước (CaSO4.H2O) chứa 56% CaO, là một dạng đặc biệt của vôi có chứa lưu huỳnh, có tác dụng nhanh hơn vôi nghiền (Đường Hồng Dật, 2002; Ngô Ngọc Hưng, 2004) Theo Hà Hoàng Long (2009)
bổ sung thạch cao nồng độ 2% cho năng suất thành phẩm giá đậu xanh cao, đồng thời giá có cấu trúc giòn, không có mùi lạ, vị ngọt tự nhiên, thân mọng nước
Hóa chất tăng trưởng dùng trong sản xuất giá đậu xanh
Kết quả kiểm tra của Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản và Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN – PTNT) cho biết kết quả phân tích bước đầu phát hiện 2 hoạt chất điều hòa sinh trưởng trong dung dịch mà người dân sử dụng để ủ giá ăn, gồm hoạt chất 6 – benzylaminopurine thuộc nhóm Cytokinin và Gibberelin A28 Các hoạt chất này được xem là không rõ nguồn gốc, việc sử dụng chúng là vi phạm các quy định hiện hành và tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn
vệ sinh thực phẩm Ngoài ra, trên bao bì của dung dịch mà người dân sử dụng để
Trang 21làm giá có ghi một số thành phần của các kim loại nặng như Fe, Cu, Zn, Mn… Theo bác sĩ Trần Văn Ký, Hội Khoa học kỹ thuật ATVSTP VN, các kim loại nặng tích tụ lâu ngày sẽ tàn phá tế bào cơ thể, gây bệnh mãn tính, bệnh thần kinh, suy thận, tác hại lên tim mạch, gan và ung thư là hậu quả sau cùng đáng lo ngại (http://www.thanhnien.com.vn, 13/08/2012)
1.2 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng trong sản xuất giá đậu xanh
1.2.1 Trên thế giới
Theo Lee et al, (2007) ngâm mầm đậu xanh trong nước ở 50 – 60oC trong
10 phút, 65oC trong 5 phút có thể loại bỏ vi khuẩn và cho chất lượng mầm cao Ngâm hạt mầm đậu xanh ở 85oC trong 10 giây hiệu quả hơn là xử lý ở 20.000 ppm Ca(OCl2) trong 20 phút, hoặc kết hợp ngâm nước nóng ở 85oC trong 40 giây sau đó ngâm nước lạnh 30 giây và ngâm trong nước Clo (2.000 ppm) trong 2 giờ
làm giảm mật số E coli và Salmonella dưới mức phát hiện và không thấy mầm bệnh trong quá trình nảy mầm (Holmes et al., 2009; Bari et al., 2010)
Rất nhiều loại máy trồng rau mầm “sprouter” khác nhau có thể được tìm thấy trong các cửa hàng chuyên dụng hoặc có sẵn cho mua trên internet, với thiết
kế giúp máy luôn ổn định về độ ẩm, nhiệt độ giúp cây trồng phát triển ổn định, hiệu quả và nhanh chóng Máy hoàn toàn tự động trong quá trình sử dụng (tự động bơm nước tưới, tự động cân bằng nhiệt độ, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng) (Rita G, 2013)
Ở các nước tiên tiến như Mỹ, Pháp, Úc… nhu cầu sử dụng mầm rất lớn, đòi hỏi phải an toàn vệ sinh thực phẩm Có phòng trồng rau chuyên biệt, sạch sẽ, gần như vô trùng (thanh trùng bằng đèn cực tím) Dây truyền sản xuất tự động hóa từ khâu gieo hạt, tưới nước, thu hoạch, đóng gói và tồn trữ lạnh (Salette A.A, 2013) Tại Nhật Bản, phần lớn giá đậu xanh được sản xuất với quy mô công nghiệp, các nhà máy sản xuất giá đậu đều lắp đặt máy tính kiểm soát trong suốt quá trình canh tác về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, không khí và chế độ nước tưới, tất cả đều được vô trùng để đảm bảo mức an toàn cho sản phẩm Các khâu thu hoạch, rửa và sơ chế được thực hiện trên máy móc và trong quy trình khép kín,
đảm bảo vệ sinh (Kim et al., 2009) Tại Thái Lan, việc sản xuất giá đậu xanh rất
phổ biến trong các hộ gia đình và có thể dễ dàng loại bỏ rễ mầm của giá đậu xanh bằng cách gieo đậu lên trên lưới có kích thước lỗ nhỏ hơn hạt đậu, sử dụng khăn lông hoặc vải bố làm giá thể để giữ ẩm và được trồng trong các chậu nhựa hoặc thùng chứa xi măng có lỗ thoát nước bên dưới và được che tối trong suốt thời
gian trồng (Bari et al., 2010)
Trang 22Tại Cần Thơ với quy trình làm giá tự động, trại rau mầm An Bình cho ra thị trường 100 kg giá an toàn/ngày Quy trình làm giá an toàn dựa trên quy trình sản xuất giá truyền thống nhưng điều chỉnh giờ tưới nước tự động, tiết kiệm diện tích, thời gian, nước, công chăm sóc và vệ sinh hơn so với làm giá bằng lu, khạp Hơn nữa, quy trình sản xuất không sử dụng hóa chất nên đảm bảo được những chất dinh dưỡng thiết yếu vốn có của hạt đậu, và đảm bảo an toàn cho người sử dụng (http://baocantho.com.vn, 11/03/2013)
1.3 Một số trở ngại trong sản xuất giá đậu xanh ở Việt Nam
Làm giá đỗ không khó tuy nhiên để giá đỗ đạt sản lượng cao, chất lượng tốt thì các kỹ thuật cũng như kinh nghiệm là điều rất cần thiết khi sản xuất quy
mô lớn (Lê Minh Đức, 2014) Khi sản xuất giá đỗ, người ta thường gặp phải một
số vấn đề như: Giá nảy mầm không đều, thân giá nhỏ, ngắn hay bị thối hoặc thâm, thời gian bảo quản ngắn dẫn đến chất lượng kém và năng suất ra giá thấp… (Thái Hà và Đặng Mai, 2011)
Hiện nay, ở Việt Nam chưa có giống đậu xanh chuyên làm giá, do đậu xanh ở Việt Nam sản xuất chưa chuyên nghiệp, manh mún nên độ nảy mầm không đảm bảo, cho thân giá rất ốm, nhiều rễ, năng suất không cao, khó bán Bên cạnh đó, giá đậu xanh bán trên thị trường hiện nay hầu hết không an toàn Một là
do điều kiện ẩm ướt và môi trường thiếu vệ sinh an toàn thực phẩm như ở chợ
nên giá rất dễ bị nhiễm vi khuẩn, thường là nhiễm E coli và Salmonella Hai là
để giá trông có vẻ hấp dẫn hơn, người làm giá thường cho vào các loại hóa chất kích thích tăng trưởng (thuốc nhập lậu từ Trung Quốc, không rõ nguồn gốc) giúp giá không ra rễ, tăng trưởng nhanh, trắng, mập, nếu dùng lâu dài có thể gây nên các bệnh mãn tính, ảnh hưởng lên gan, thận, thần kinh, và nó còn là yếu tố gây ung thư (http://www.thanhnien.com.vn, 13/08/2012)
Trang 23CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Phương tiện
2.1.1 Địa điểm và thời gian
- Địa điểm: Thực hiện tại nhà lưới Nghiên cứu Rau sạch, khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Đại học Cần Thơ
- Thời gian: Từ tháng 11/2013 đến tháng 10/2014
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm
- Giống: Đậu Trung Quốc (xuất xứ Trung Quốc, chuyên làm giá, vỏ màu xanh, trọng lượng 1000 hạt 60,23 g) và đậu xanh số 22 (do Công ty cổ phần Giống cây trồng Miền Nam tuyển chọn để sản xuất giá đậu xanh, vỏ màu vàng, trọng lượng 1000 hạt 55,85 g)
- Thùng nhựa: Thùng nhỏ (đường kính đáy 18 cm, đường kính miệng 24
cm, cao 22 cm, thể tích 5 lít); thùng vừa (đường kính đáy 27 cm, đường kính miệng 30 cm, cao 35 cm, thể tích 20 lít); thùng lớn (đường kính đáy 30 cm, đường kính miệng 40 cm, cao 40 cm, thể tích 35 lít), có lỗ thoát nước
- Giá đỡ: Cách ly rễ cây với đáy thùng, giúp rễ không bị úng nước
- Lưới trồng: Lưới cứng (0,5 cm/ô) giúp tạo mặt bằng và lưới dẻo (0,2 cm/ô) giúp cắt rễ dễ dàng khi thu hoạch
- Giá thể: Vải bố (dày 0,16 cm), khăn giấy (30 x 30 cm), giúp rễ mọc xuyên qua và đứng vững, giữ ẩm cho cây
- Vật liệu ủ: Khăn lông, kích thước lớn (60 x 105 cm, 130 g/cái), vừa (35
x 75 cm, 50 g/cái), nhỏ (25 x 28 cm, 25 g/cái), khăn mùng (10 x 15 cm, 10 g/cái) giữ ẩm và che tối cho giá đậu xanh
- Hóa chất: Chlorine (2%), hóa chất Trung Quốc (dạng lỏng chuyên dùng làm giá)
- Vật liệu khác: Gạch ngói (470 g/viên), vôi, thạch cao phi, máy bơm nước, thau ngâm hạt, máy đo nhiệt độ, thước kẹp…
Trang 24
Hình 2.1 Vật liệu thí nghiệm: (a) đậu xanh, (b) lưới cứng, (c) lưới dẻo, (d) khăn
giấy, (e) vải bố, (f) khăn lớn, (g) khăn mùng, (h) gạch ngói, (i) hóa chất Trung Quốc
(d)
(g)
Trang 252.2 Phương pháp
2.2.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của thời gian mỗi lần tưới nước đến sự sinh
trưởng và năng suất giá đậu xanh
- Mục đích: Xác định thời gian mỗi lần tưới nước thích hợp cho giá đậu xanh
sinh trưởng tốt, năng suất cao
- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên
1 nhân tố gồm 4 nghiệm thức là 4 thời gian mỗi lần tưới với 3 lần lặp lại (mỗi lặp lại tương ứng 1 thùng)
Nghiệm thức:
(1) Tưới 1 phút (2) Tưới 10 phút (3) Tưới 20 phút (4) Tưới 30 phút
2.2.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của loại giá thể và thể tích thùng ủ đến sự
sinh trưởng và năng suất của giá đậu xanh
- Mục đích: Xác định loại giá thể và thể tích thùng ủ thích hợp cho giá đậu xanh
sinh trưởng tốt, năng suất cao
- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên
2 nhân tố gồm 6 nghiệm thức là 2 loại giá thể và 3 thể tích thùng với 3 lần lặp lại (mỗi lặp lại tương ứng 1 thùng)
+ Nhân tố 1: Giá thể
(1) Khăn giấy (2) Vải bố
+ Nhân tố 2: Thể tích thùng ủ
(1) Thùng lớn (35 lít) (2) Thùng vừa (20 lít) (3) Thùng nhỏ (5 lít)
Trang 262.2.3 Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của hóa chất Trung Quốc đến sự sinh
trưởng, năng suất và phẩm chất ở hai giống đậu làm giá đậu xanh
- Mục đích: Xác định hóa chất Trung Quốc và giống đậu xanh nào ảnh hưởng
đến sự sinh trưởng, năng suất và phẩm chất của giá đậu xanh
- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên
2 nhân tố với 3 lần lặp lại (mỗi lặp lại tương ứng 1 thùng)
2.3 Kỹ thuật canh tác
2.3.1 Thí nghiệm 1
Chuẩn bị hạt: Sử dụng giống đậu xanh Trung Quốc và ngâm đậu trong
nước sạch (nước máy) 4 giờ, nhiệt độ khoảng 45 – 50oC Sau đó vớt ra, để ráo và chuẩn bị gieo, mỗi thùng gieo 2 lớp (lượng hạt cần cho mỗi lớp là 70 g hạt khô (254,34 cm2))
Chuẩn bị dụng cụ: Dụng cụ (thùng, giá đỡ, vĩ lưới, gạch ngói ) được
thanh trùng bằng cách xử lý với Chlorine (2%) Tất cả giá thể trồng và vật liệu đậy giữ ẩm đều được thanh trùng bằng nước nóng khoảng 85 – 100o
C trong 5 –
10 phút để tiệt trùng
Gieo đậu (Hình 2.3)
- Để giá đỡ dưới đáy thùng, cao khoảng 3 cm
- Lót lưới cứng lên trên giá đỡ để tạo mặt bằng
- Gieo đậu trên giá thể vải bố như sau:
+ Gieo lớp thứ nhất: Lót giá thể lên trên lưới cứng
Lót lưới dẻo lên trên giá thể
Gieo đều hạt đậu đã ngâm trên mặt lưới + Gieo lớp thứ hai: Lót tiếp giá thể lên trên đậu xanh
Trang 27 Gieo đều hạt đậu đã ngâm trên mặt lưới
- Đậy khăn lớn (4 lớp/thùng), dằn gạch ngói (940 g) Dùng vải đen để che tối các thùng giá đậu xanh trong thời gian ủ
Hình 2.3 Các bước gieo đậu: (a) để giá đỡ và lót lưới cứng, (b) lót giá thể lên trên
lưới cứng, (c) lót lưới dẻo lên trên giá thể, (d) gieo đều hạt đậu đã ngâm trên mặt lưới, (e) tương tự gieo tiếp lớp thứ 2, (f) dùng khăn đậy lại và dằn 2 viên gạch ngói lên trên
Chăm sóc và thu hoạch: Tưới nước sạch (nước máy) 4 lần/ngày vào các
thời điểm 06:00, 11:00, 16:00, 21:00, với thời gian mỗi lần tưới nước tương ứng với từng nghiệm thức (1, 10, 20 và 30 phút/lần tưới) Sử dụng thạch cao 2% (Hà Hoàng Long, 2009) vào lúc ngâm hạt và lần tưới cuối cùng trước khi thu hoạch
Thu hoạch 3 ngày sau khi ủ
2.3.2 Thí nghiệm 2
Chuẩn bị hạt, dụng cụ: Tương tự như thí nghiệm 1 nhưng sử dụng đậu
xanh số 22
Gieo đậu: Gieo đậu tương tự như thí nghiệm 1 Gieo hạt trên 2 loại giá
thể khăn giấy và vải bố Sử dụng 3 thể tích thùng trồng (5 lít, 20 lít và 35 lít) và khăn đậy giữ ẩm với thùng lớn dùng 2 khăn lớn và 1 khăn vừa, thùng vừa dùng 1
khăn lớn, 1 khăn nhỏ và 1 khăn mùng, thùng nhỏ dùng 1 khăn lớn
Chăm sóc và thu hoạch: Tưới nước sạch, thời gian mỗi lần tưới 10 phút,
4 lần/ngày (kế thừa thí nghiệm 1) Thu hoạch 3 ngày sau khi ủ
Trang 282.3.3 Thí nghiệm 3
Chuẩn bị hạt, dụng cụ, gieo đậu: Tương tự như thí nghiệm 1, sử dụng giống đậu xanh Trung Quốc và đậu xanh số 22 (theo từng nghiệm thức) Gieo hạt trên giá thể khăn giấy
Chăm sóc và thu hoạch
- Tưới nước: Kế thừa thí nghiệm 1, thời gian mỗi lần tưới 10 phút
- Sử dụng hóa chất Trung Quốc: Ngày thứ 2 sau khi gieo, vào lần tưới lúc 21: 00 (2 ống pha 20 lít nước cho 1 thùng) ngâm trong 20 phút sau đó ngâm tiếp tục với nước máy (theo hướng dẫn của những người làm giá thương mại)
- Thu hoạch 3 ngày sau khi ủ
- Thu mẫu giá tại chợ An Nghiệp và siêu thị VINATEX Được biết mẫu giá ở chợ thu hoạch lúc 4 giờ sáng cùng ngày và mẫu giá ở siêu thị được thu
hoạch lúc 5 giờ sáng trước đó một ngày
2.4 Chỉ tiêu theo dõi
* Ghi nhận
- Thời gian: Ngày gieo hạt, ngày thu hoạch
- Điều kiện tiểu khí hậu: Dùng nhiệt kế đo nhiệt độ trong thùng từ ngày
thứ nhất sau khi gieo hạt, được đo vào các thời điểm trước khi tưới mỗi lần/ngày
* Chỉ tiêu sinh trưởng (vào thời gian thu hoạch)
- Chiều dài thân (cm): Đo từ cổ rễ đến đỉnh thân, nơi tiếp giáp với bề mặt
lưới trồng đến đỉnh cao nhất của giá đậu xanh bằng thước nhựa dẻo
- Chiều dài rễ (cm): Đo từ chóp rễ đến cổ rễ của giá đậu xanh bằng thước
Trang 29* Chỉ tiêu về năng suất
- Năng suất tổng (kg giá/kg hạt khô): Cân toàn bộ trọng lượng giá thu
hoạch (thân, rễ và vỏ hạt) của nghiệm thức rồi quy ra năng suất trên kg hạt khô
- Năng suất thương phẩm (kg giá/kg hạt khô): Là những cây giá đậu xanh
sau khi loại bỏ phần rễ, vỏ hạt và những cây bị bệnh thối nhũn
- Tỷ lệ năng suất thương phẩm/năng suất tổng (%) = (năng suất thương
phẩm/năng suất tổng) * 100
* Chỉ tiêu về phẩm chất
- Độ giòn: Lấy 20 cây giá trong mỗi thùng lúc thu hoạch Áp dụng đo theo
phương pháp của Nguyễn Minh Chơn (2007) Các bước đo độ giòn:
+ Bước 1: Kẹp giữ thân giá còn nguyên vẹn lên giá đỡ Khoảng cách từ điểm kẹp giữ thân giá đến mặt đất là 30 cm, chiều cao dây treo vuông góc với mặt đất là 3 cm, chiều cao vật treo là 5 cm và khoảng cách giữa hai điểm kẹp thân giá là 2 cm
+ Bước 2: Treo vật đựng lên trên thân cây giá và tăng trọng lượng bằng cách cho cát vào từ từ và đều tay
+ Bước 3: Quan sát thấy thân cây giá bắt đầu gãy thì ngưng lại
+ Bước 4: Cân toàn bộ trọng lượng của vật đựng cát ở thời điểm cây giá vừa gãy Với 100 g vật đựng cát có lực tương đương 1 N (100 g = 1 N)
Hình 2.4 Các bước đo độ giòn: (a) kẹp giữ thân giá lên trên giá đỡ và treo vật đựng
lên trên thân giá, (b) cho cát từ từ vào vật đựng, (c) thân cây giá vừa gãy, (d) cân toàn bộ trọng lượng của vật đựng cát
- Độ Brix (tổng chất rắn hòa tan) (%): Được xác định bằng khúc xạ kế,
lấy một lượng giá khoảng 5 g nghiền, lấy dịch nhỏ lên Brix kế rồi đọc kết quả
- Hàm lượng vitamin C (mg/100 g): Tại phòng thí nghiệm Bộ môn Khoa
học Cây trồng, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, Đại học Cần Thơ Định lượng theo phương pháp Muri (Đại Học Cần Thơ, 1996), được xác định dựa trên
(b)
Trang 30tính khử của thuốc thử 2,6 Dichlorophenol indophenol Dạng oxi hóa của thuốc thử 2,6 Dichlorophenol indophenol có màu bị khử bởi acid ascorbic có trong dịch trích của nguyên liệu thực vật tạo thành dung dịch không màu Ở điểm trung hòa của tất cả acid ascorbic thì thuốc thử dư không bị khử sẽ có màu hồng trong dung dịch acid
Phương pháp: Cân khoảng 5 g mẫu cho vào cối sứ cùng với 20 ml HCl 1%, tiến hành nghiền nát mẫu, sau đó lên thể tích 100 ml với acid oxalic 1%, lắc
kỹ và để yên dung dịch mẫu trong 10 phút Kế đó lọc và lấy 10 ml dịch lọc đem chuẩn độ với dung dịch 2,6 Dichlorophenol indophenol 0,001 N cho đến khi thấy xuất hiện màu phớt hồng bền sau 1 phút thì ngưng quá trình chuẩn độ, đọc thể tích dung dịch 2,6 Dichlorophenol indophenol 0,001 N đã sử dụng
V b
a g mg X
Trong đó
a: Số ml trung bình khi chuẩn mẫu vật
b: Số ml trung bình khi chuẩn mẫu đối chứng
V1: Thể tích dung dịch chiết ban đầu (100 ml)
V2: Thể tích dung dịch chiết lấy để chuẩn độ (10 ml)
m: Trọng lượng mẫu cân lúc đầu (g)
0,088: Số mg acid ascorbic tương đương với 1ml dung dịch chuẩn độ 2,6 Dichlorophenol indophenol
- Vi sinh vật gây hại: E coli: Nuôi cấy bằng môi trường lỏng EC broth ủ ở
44,5oC trong 48 giờ và đếm mật số bằng phần mềm MPN; Salmonella: Nuôi cấy
bằng môi trường SS agar trong đĩa petri, đếm colony sau 24 giờ ủ ở 37oC Mẫu sản phẩm được phân tích tại phòng phân tích hóa lý và phì nhiêu đất, bộ môn Khoa học đất, trường Đại học Cần Thơ
- Bảo quản sau thu hoạch: Cân 100 g giá đậu xanh của từng nghiệm thức
cho vào bọc, sau đó đem tồn trữ ở ngăn mát của tủ lạnh Theo dõi và ghi nhận tỷ
lệ bệnh thối nhũn do vi khuẩn Erwinia carotovora gây ra (cân trọng lượng thối
bằng cân điện tử rồi quy ra tỷ lệ %) qua các ngày 2, 4 và 6 sau thu hoạch
Trang 312.5 Phân tích số liệu
Số liệu được tổng hợp bằng phần mềm Excel và xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0 theo phương pháp ANOVA và kiểm định Duncan để so sánh số liệu trung bình giữa các nghiệm thức
Trang 32CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của thời gian mỗi lần tưới nước đến sự sinh
trưởng và năng suất của giá đậu xanh 3.1.1 Ghi nhận tổng quát
Nhìn chung điều kiện thời tiết trong 3 ngày (24 – 27/11/2013) thực hiện thí nghiệm tương đối thuận lợi cho sự sinh trưởng của giá đậu xanh, các thùng giá đậu xanh được che tối bằng lớp vải đen, nhiệt độ trong thùng ủ giá dao động
từ 27,29 – 30,26o
C, thu hoạch sau 3 NSKG giá đậu xanh phát triển tốt
3.1.2 Điều kiện ngoại cảnh
Kết quả Hình 3.1 và Phụ bảng 1.1 cho thấy thí nghiệm được bố trí trong thời điểm tương đối thuận lợi, nhiệt độ trong thùng dao động từ 27,29 – 30,26o
C Theo Thái Hà và Đặng Mai (2011), nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng của giá đậu xanh là 28 – 30o
C
28,44
30,26
28,68 27,29
Hình 3.1 Điều kiện nhiệt độ trung bình 3 ngày khảo sát trong thùng làm giá đậu
xanh ở thí nghiệm ảnh hưởng của thời gian mỗi lần tưới nước đến sự sinh trưởng, năng suất của giá đậu xanh (24 – 27/11/2013)
3.1.3 Chỉ tiêu sinh trưởng
* Chiều dài thân
Kết quả Bảng 3.1 cho thấy khi tưới nước 4 lần/ngày khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê Ba nghiệm thức tưới 1 phút, 10 phút và 20 phút/lần tưới cho chiều dài thân (dao động 6,81 – 7,17 cm), cao hơn nghiệm thức tưới 30 phút
Trang 33(6,02 cm) Như vây, thời gian mỗi lần tưới nước ảnh hưởng đến chiều dài thân của giá đậu xanh, có thể tưới 30 phút làm giảm nhiệt độ bên trong thùng ủ giá nhiều hơn so với các thời gian tưới còn lại trong thí nghiệm, làm cho thân giá thấp Điều này phù hợp với nhận định của Thái Hà – Đặng Mai (2011) nếu như
nhiệt độ quá thấp, giá đậu sẽ sinh trưởng chậm, thời gian lâu
Bảng 3.1 Chiều dài thân, chiều dài rễ và đường kính thân giá đậu xanh ở 4 thời
gian mỗi lần tưới nước
Trong cùng một cột, những số có chữ theo sau giống nhau thì không khác biệt có ý nghĩa thống kê;
*: Khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%; **: Khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1%
* Chiều dài rễ
Tương tự như kết quả chiều dài thân, Bảng 3.1 cho thấy chiều dài rễ giá đậu xanh ở hai nghiệm thức tưới 1 phút và 10 phút có chiều dài rễ (6,15 và 6,10 cm) dài hơn và khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê so với nghiệm thức tưới 30 phút (5,41 cm) Thời gian tưới ngắn (1 phút và 10 phút) làm cho nhiệt độ bên trong thùng ủ cao hơn, vì thế mầm thiếu nước, kích thích rễ phát triển, mọc dài ra để tìm nước Điều này phù hợp với nhận định của Lê Minh Đức (2014), khi làm giá cần giải nhiệt tốt, nếu để nóng, mầm háo nước, phát triển rễ để tìm nước
Thời gian tưới nước Chiều dài thân
(cm)
Chiều dài rễ (cm)
Đường kính thân (mm)
Trang 34Hình 3.2 Chiều dài thân và chiều dài rễ của giá đậu xanh ở 4 thời gian mỗi lần
tưới nước: (a) tưới 1 phút, (b) tưới 10 phút, (c) tưới 20 phút, (d) tưới 30 phút
* Chiều dài và chiều rộng lá mầm
Kết quả ở Bảng 3.2 cho thấy cả 2 chỉ tiêu chiều dài và chiều rộng lá mầm của giá đậu xanh ở nhân tố thời gian mỗi lần tưới nước khác biệt không có ý nghĩa qua phân tích thống kê Chiều dài lá mầm của các nghiệm thức trong thí nghiệm dao động từ 0,56 – 0,58 cm Cũng vậy, chiều rộng lá mầm của nhân tố thời gian mỗi lần tưới nước khác biệt không có ý nghĩa qua phân tích thống kê và dao động từ 1,37 – 1,76 mm Vậy thời gian mỗi lần tưới nước không ảnh hưởng đến chiều dài lá mầm và chiều rộng lá mầm của giá đậu xanh
Trang 35Bảng 3.2 Chiều dài lá mầm, chiều rộng lá mầm và chiều dài lá thật giá đậu xanh ở
4 thời gian mỗi lần tưới nước
Trong cùng một cột, những số có chữ theo sau giống nhau thì không khác biệt có ý nghĩa thống kê;
*: Khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%
* Chiều dài lá thật
Qua Bảng 3.2 cho thấy, chiều dài lá thật qua các thời gian mỗi lần tưới nước có khác biệt thống kê ở mức 5% Tưới 1 phút và 10 phút có chiều dài lá thật cao nhất (tương đương 1,79 và 1,77 cm) và thấp nhất ở nghiệm thức tưới 30 phút (1,54 cm) Như vậy, thời gian mỗi lần tưới nước làm ảnh hưởng đến chiều dài lá thật Theo Thái Hà và Đặng Mai (2011), chất lượng của giá đậu xanh quy định chiều dài lá thật dài không vượt quá 2,5 cm, do vậy chiều dài lá thật của 4 thời gian tưới nước đều đạt mức quy định
3.1.4 Chỉ tiêu năng suất
* Năng suất tổng
Năng suất tổng của các thời gian mỗi lần tưới nước trong thí nghiệm khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê ở mức 5% (Bảng 3.3) Ba nghiệm thức tưới 10, 20 và 30 phút có năng suất tổng đạt từ 9,90 – 9,92 kg giá/kg hạt khô cao hơn nghiệm thức tưới 1 phút (8,71 kg giá/kg hạt khô) Thời gian tưới 1 phút làm cho thân giá đậu xanh cao, mảnh khảnh, rễ mọc dài và đường kính thân nhỏ, dẫn
đến năng suất tổng thấp hơn thời gian tưới 10, 20 và 30 phút
Bảng 3.3 Năng suất tổng, năng suất thương phẩm và tỷ lệ năng suất thương
phẩm/năng suất tổng giá đậu xanh ở 4 thời gian mỗi lần tưới nước
Trong cùng một cột, những số có chữ theo sau giống nhau thì không khác biệt có ý nghĩa thống kê; ns: Không khác biệt; *: Khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%
Thời gian tưới nước Chiều dài lá mầm
(cm)
Chiều rộng lá mầm (mm)
Chiều dài lá thật (cm)
Tỷ lệ năng suất thương phẩm/
năng suất tổng (%)
Trang 36Hình 3.3 Năng suất tổng của giá đậu xanh ở 4 thời gian mỗi lần tưới nước: (a) tưới
1 phút, (b) tưới 10 phút, (c) tưới 20 phút, (d) tưới 30 phút
* Năng suất thương phẩm
Kết quả Bảng 3.3 cho thấy năng suất thương phẩm của giá đậu xanh qua các thời gian mỗi lần tưới nước có khác biệt ý nghĩa qua phân tích thống kê ở mức 5% Tương tự như năng suất tổng, ba nghiệm thức tưới 10, 20 và 30 phút đạt năng suất thương phẩm từ 8,86 – 8,95 kg giá/kg hạt khô, cao hơn nghiệm thức tưới 1 phút với 7,73 kg giá/kg hạt khô
* Tỷ lệ năng suất thương phẩm/năng suất tổng
Bảng 3.3 cho thấy tỷ lệ năng suất thương phẩm/năng suất tổng không khác biệt qua phân tích thống kê, dao động từ 88,80 – 90,20% Qua kết quả thí nghiệm cho thấy, thời gian mỗi lần tưới nước đã ảnh hưởng đến chiều dài thân, chiều dài
rễ, đường kính thân, chiều dài lá thật và năng suất của giá đậu xanh Tưới nước 4 lần/ngày với mỗi lần tưới 10 phút giúp cho giá đậu xanh sinh trưởng tốt, đường kính thân tốt và đạt năng suất cao, đồng thời tiết kiệm được thời gian và công chăm sóc so với thời gian tưới lâu hơn Tiếp tục nghiên cứu về loại giá thể và thể tích thùng ủ giá thích hợp cho sinh trưởng, năng suất cao, tiện lợi, đảm bảo an toàn cho người sử dụng
3.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của loại giá thể và thể tích thùng ủ đến sự sinh
trưởng và năng suất của giá đậu xanh 3.2.1 Ghi nhận tổng quát
Thời tiết trong 3 ngày (23 – 26/09/2014) thực hiện thí nghiệm thuận lợi cho sự phát triển của giá đậu xanh, các thùng giá được che tối bằng lớp vải đen trong thời gian ủ, nhiệt độ mát vào buổi sáng sớm và chiều tối, ấm nóng vào buổi trưa (32oC) tạo cho giá đậu sinh trưởng tối ưu Giá đậu sinh trưởng và phát triển tốt, không thấy dấu hiệu của bệnh thối nhũn, vì vậy cho năng suất cao
Trang 373.2.2 Điều kiện ngoại cảnh
Thí nghiệm được bố trí trong nhà lưới Nghiên cứu rau sạch, khoa NN & SHƯD, ĐHCT vào thời điểm thuận lợi Kết quả Hình 3.2 và Phụ bảng 1.2 cho thấy nhiệt độ trong thùng ủ giá cao, dao động từ 28,26 – 31,43o
Hình 3.4 Điều kiện nhiệt độ trung bình 3 ngày khảo sát trong thùng làm giá đậu
xanh ở thí nghiệm ảnh hưởng của loại giá thể và thể tích thùng ủ đến sự sinh trưởng, năng suất của giá đậu xanh (23 – 26/09/2014)
3.2.3 Chỉ tiêu sinh trưởng
* Chiều dài thân
Qua kết quả Bảng 3.4, có sự khác biệt ý nghĩa qua phân tích thống về chiều dài thân giá đậu xanh đối với 2 loại giá thể sử dụng Nghiệm thức sử dụng giá thể vải bố cho chiều dài thân (7,65 cm) cao hơn so với nghiệm thức dùng giá thể khăn giấy là 6,20 cm Như vậy, việc sử dụng loại giá thể khác nhau có ảnh hưởng đến chiều dài thân của giá đậu xanh Giá thể vải bố giữ nước kém hơn khăn giấy, nên việc sử dụng giá thể vải bố làm tăng nhiệt độ bên trong thùng ủ thích hợp cho thân giá tăng trưởng về chiều dài thân nhiều hơn Điều này phù hợp với nhận định của Thái Hà – Đặng Mai (2011) sự sinh trưởng của giá đậu xanh cần nhiệt độ ấm, nóng Nếu như nhiệt độ quá thấp, giá đậu sẽ sinh trưởng chậm, thời gian lâu Còn nếu nhiệt độ quá cao, giá đậu sinh trưởng nhanh, sợi nhiều, chất lượng kém
Chiều dài thân giá đậu xanh của các nghiệm thức thể tích thùng ủ khác
biệt không có ý nghĩa qua phân tích thống kê, dao động từ 7,35 – 7,47 cm Vậy
thể tích thùng khác nhau đều không ảnh hưởng đến chiều dài thân giá đậu xanh
Trang 38Hai nhân tố loại giá thể và thể tích thùng ủ không có sự tương tác qua phân tích thống kê về chiều dài thân giá đậu xanh
Bảng 3.4 Chiều dài thân, chiều dài rễ và đường kính thân của giá đậu xanh ở 2 loại
giá thể và 3 thể tích thùng ủ
(cm)
Chiều dài rễ (cm)
Đường kính thân (mm) Giá thể (A)
* Ghi chú: Thùng 5 lít (đường kính đáy 18 cm, đường kính miệng 24 cm, cao 22 cm)
Thùng 20 lít (đường kính đáy 27 cm, đường kính miệng 30 cm, cao 35 cm)
Thùng 35 lít (đường kính đáy 30 cm, đường kính miệng 40 cm, cao 40 cm)
– 5,22 cm Kết quả chiều dài rễ cũng không có sự tương tác giữa nhân tố giá thể
và thể tích thùng ủ
* Đường kính thân
Kết quả Bảng 3.4 cho thấy, ở nhân tố giá thể, đường kính thân của giá đậu xanh khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê ở mức 1%, nghiệm thức sử dụng giá thể khăn giấy cho đường kính thân (2,52 mm) cao hơn so với nghiệm thức sử dụng giá thể vải bố là 2,40 mm So sánh giữa chiều dài thân và đường kính thân cho thấy chúng có tỷ lệ nghịch với nhau Theo nhận định của Lê Văn Hoà và Nguyễn Bảo Toàn (2005), sự sinh trưởng ở thực vật được định nghĩa như một sự gia tăng không thuận nghịch về thể tích
Trang 39Đối với thể tích thùng ủ, đường kính thân giá đậu xanh khác biệt không có
ý nghĩa qua phân tích thống kê, đường kính thân ở các thể tích thùng tương
đương là 2,46 – 2,47 mm Như vậy, việc sử dụng các thể tích thùng ủ giá khác
nhau không làm ảnh hưởng đến đường kính thân của giá đậu xanh Sự tương tác giữa 2 nhân tố về giá thể và thể tích thùng ủ cũng không có khác biệt qua phân tích thống kê
Hình 3.5 Chiều dài thân và chiều dài rễ của giá đậu xanh ở 2 loại giá thể: (a) vải
bố, (b) khăn giấy
* Chiều dài lá mầm
Kết quả ở Bảng 3.5 cho thấy chiều dài lá mầm của các nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa qua phân tích thống kê ở 2 nhân tố loại giá thể và thể tích thùng ủ, dao động từ 0,55 – 0,56 cm Tương tự, hai nhân tố giá thể và thể tích thùng ủ không có sự tương tác qua phân tích thống kê về chiều dài lá mầm giá đậu xanh