1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

sử dụng phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt trồng rau cải xanh (brassica juncea l.)

62 407 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 3,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÊ DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG Luận văn tốt nghiệp kèm theo đây, với tựa đề “Sử dụng phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt trồng rau cải xanh Brassica juncea L.”, do Trương Hoài Phong thực hiện và báo

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

TRƯƠNG HOÀI PHONG

Luận văn tốt nghiệp Đại học Chuyên ngành Khoa học Môi trường

SỬ DỤNG PHÂN HỮU CƠ BÙN CỐNG SINH HOẠT

TRỒNG RAU CẢI XANH (Brassica juncea L.)

Cán bộ hướng dẫn:

PGS TS BÙI THỊ NGA

Cần Thơ, 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

TRƯƠNG HOÀI PHONG

Luận văn tốt nghiệp Đại học Chuyên ngành Khoa học Môi trường

SỬ DỤNG PHÂN HỮU CƠ BÙN CỐNG SINH HOẠT

TRỒNG RAU CẢI XANH (Brassica juncea L.)

Cán bộ hướng dẫn:

PGs TS BÙI THỊ NGA

Cần Thơ, 2014

Trang 3

PHÊ DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG Luận văn tốt nghiệp kèm theo đây, với tựa đề “Sử dụng phân hữu cơ bùn

cống sinh hoạt trồng rau cải xanh (Brassica juncea L.)”, do Trương Hoài Phong

thực hiện và báo cáo đã được hội đồng chấm đề luận văn tốt nghiệp thông qua

Thành viên của hội đồng

PGs TS Bùi Thị Nga

Trang 4

vô cùng quý giá để có thể hoàn thành tốt đề tài luận văn của mình

Con xin chân thành gửi lời cảm ơn đến gia đình bác Văn Nhịn, ấp Nhơn Lộc, thị trấn Một Ngàn, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang đã tạo điều kiện vô cùng thuận lợi và giúp đỡ con trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn

Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, những người thân

và tất cả bạn bè đã động viên, chia sẻ, hỗ trợ và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập trên giảng đường và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Cần Thơ, ngày 20 tháng 11 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Trương Hoài Phong

Trang 5

TÓM TẮT

Đề tài “Sử dụng phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt trồng cải xanh (Brassica

juncea L.)” được thực hiện tại huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang từ tháng

07/2014 đến tháng 12/2014 với các mục tiêu: (i) Đánh giá tăng trưởng của cải xanh

ở các nghiệm thức phân khác nhau nhằm tìm ra nghiệm thức phân thích hợp; (ii) Đánh giá chất lượng rau được trồng từ phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt theo quy định tại QCVN 08-3:2012/BYT và Quyết định số 99/2008/QĐ-BNN của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Kết quả thí nghiệm cho thấy, nghiệm thức bón phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt kết hợp với phân hóa học trồng cải xanh cho năng suất tương đương so với nghiệm thức bón hoàn toàn phân hóa học; năng suất cải xanh dao động trong khoảng 1,7 - 2,6 kg/m2 Chỉ tiêu về Escherichia coli (1,5.102 - 5,5.102

CFU/g) đạt mức cho phép QCVN 08-3:2012/BYT, hàm lượng nitrate (96,55 – 292,65 mg/kg) đạt ngưỡng an toàn theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bón phân hóa học kết hợp với phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt với liều lượng 3,75g Urê + 6,0g Supe lân + 2,25g KCl/m2 + 1,2kg phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt/m2 giúp tăng năng suất cải xanh và tiết giảm 75% lượng phân hóa học

Từ khóa: cải xanh, Escherichia coli, nitrate trong rau, năng suất, phân hữu

cơ bùn cống sinh hoạt, phân hóa học

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Phê duyệt của hội đồng i

Lời cảm tạ ii

Tóm tắt iii

Danh mục từ viết tắt vi

Danh sách hình vii

Danh sách bảng vii

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3

2.1 Sơ lược về địa điểm nghiên cứu 3

2.2 Phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt 4

2.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan 4

2.4 Giới thiệu rau cải xanh 6

2.4.1 Nguồn gốc 6

2.4.2 Đặc tính thực vật 7

2.4.3 Đặc điểm sinh học 7

2.4.4 Dinh dưỡng 7

2.4.5 Yêu cầu ngoại cảnh rau cải xanh 7

2.4.6 Kỹ thuật canh tác cải xanh 8

2.5 Vai trò của phân hóa học đối với cây rau 9

2.5.1 Vai trò của phân đạm 9

2.5.2 Vai trò của phân lân 10

2.5.3 Vai trò của phân kali 10

2.6 Hàm lượng nitrate trong rau 10

2.7 Escherichia coli 11

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

3.1 Thời gian và địa điểm 12

3.2 Phương tiện nghiên cứu 12

3.2.1 Vật liệu và dụng cụ trồng rau 12

3.3 Phương pháp nghiên cứu 12

3.3.1 Chuẩn bị đất 12

3.3.2 Bố trí thí nghiệm 12

Trang 7

3.3.3 Thời điểm bón phân và cách bón phân cho 3 nghiệm thức 13

3.3.4 Phương pháp theo dõi và lấy mẫu thí nghiệm 14

3.3.5 Phương pháp phân tích mẫu 15

3.3.6 Phương pháp xử lí số liệu 16

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 17

4.1 Sự tăng trưởng rau cải xanh 17

4.1.1 Số lá 17

4.1.2 Chiều dài lá 17

4.1.3 Chiều rộng lá 18

4.1.4 Mật độ cải xanh (cây/m2) 19

4.1.5 Năng suất (kg/m2) 20

4.1.6 Dư lượng nitrate (NO3-) trong cải xanh 21

4.1.7 Escherichia coli trong rau cải xanh 22

4.1.8 Hiệu quả kinh tế 22

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 25

5.1 Kết luận 25

5.2 Kiến nghị 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO 26 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BNN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 9

DANH SÁCH HÌNH

Hình 2.1 Bản đồ hành chính của tỉnh Hậu Giang 3

Hình 2.2 Cải xanh (Brassica juncea L.) 6

Hình 4.1 Mật độ trung bình rau cải xanh 20

Hình 4.3 Năng suất rau cải xanh 21

Hình 4.4 Hàm lượng nitrate rau cải xanh 22

Trang 10

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 2.1 Hàm lượng dinh dưỡng trong phân bùn cống sinh hoạt 4

Bảng 3.1 Liều lượng phân bón cho 3 nghiệm thức (g/m2) 14

Bảng 4.2 Diễn biến số lá giữa các nghiệm thức theo thời gian 17

Bảng 4.3 Diễn biến chiều dài lá giữa các nghiệm thức theo thời gian 18

Bảng 4.4 Diễn biến chiều rộng lá giữa các nghiệm thức theo thời gian 19

Bảng 4.5 Tỷ suất lợi nhuận của cải xanh 23

Bảng 4.6 Tỷ suất lợi nhuận của cải xanh có sự thay đổi về giá sản phẩm 23

Trang 11

CHƯƠNG 1

MỞ ĐẦU

Bùn cống sinh hoạt là một vấn đề nan giải đối với môi trường và xã hội, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển Bùn cống sinh hoạt gây ô nhiễm môi trường không khí, đất, nước; làm mất vẻ mỹ quan đô thị, gây nhiều bệnh tật và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người (Trung tâm đào tạo ngành nước, 2005) Vấn đề đặt ra cho công tác quản lí bùn cống sinh hoạt không chỉ hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường mà còn cần phát huy tối đa những lợi ích từ bùn cống sinh hoạt do bởi khả năng hữu dụng của bùn thải như chế tạo thành phân bón cho cây trồng, cải tạo đất trồngvà ủ phân compost Nghiên cứu của Võ Quốc Bảo (2010) về việc sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ rễ lục bình kết hợp nguồn chất thải hữu cơ khác và hiệu quả trên cây trồng; tận dụng chất thải ao nuôi cá tra và xác bã thực vật để sản xuất phân hữu cơ

- vi sinh bón cho một số rau củ tại Cần Thơ (Phan Văn Lập, 2009); nghiên cứu về

quy trình xử lí bùn thải đáy ao nuôi cá tra thâm canh bằng trùn Peryonyx excavatus

để sản xuất phân hữu cơ (Trần Dương Xuân Vĩnh, 2009) Tuy nhiên việc nghiên cứu

sử dụng phân hữu cơ từ bùn cống sinh hoạt để trồng hoa màu vẫn còn hạn chế

Ngày nay, quá trình sản xuất rau sử dụng nhiều phân bón, chất kích thích sinh trưởng, thuốc bảo vệ thực vật không chỉ gây ô nhiễm môi trường canh tác mà còn làm rau bị nhiễm bẩn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người sử dụng (Phan Thị Thu Hằng, 2008) Trong số các loại rau thì cải xanh được trồng nhiều, sản lượng lớn, được sử dụng trong bữa ăn Do vậy dễ ảnh hưởng đến người tiêu dùng nếu rau bị nhiễm bẩn

Từ những vấn đề trên, đề tài: “Sử dụng phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt

trồng rau cải xanh (Brassica juncea L.)” đã được thực hiện

Mục tiêu tổng quát

Đánh giá hiệu quả của phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt đến năng suất rau cải xanh nhằm góp phần hạn chế sử dụng phân hóa học và giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Mục tiêu cụ thể

Đánh giá khả năng tăng trưởng của cải xanh ở các nghiệm thức phân khác nhau nhằm tìm ra nghiệm thức phân thích hợp

Nội dung nghiên cứu

- Bố trí thí nghiệm trồng rau cải xanh với 3 nghiệm thức phân bón khác nhau

- Khảo sát sự tăng trưởng của rau cải xanh định kỳ (5 ngày/lần) và đánh giá năng suất rau cải xanh sau thu hoạch

- Đánh giá chất lượng rau (Escherichia coli và nitrate) được trồng từ phân hữu

cơ bùn thải có đạt yêu cầu về Escherichia coli theo quy định tại QCVN

Trang 12

08-3:2012/BYT và dư lượng nitrate theo quy định tại Quyết định số 99/2008/QĐ-BNN

về việc quy định quản lý sản xuất, kinh doanh rau, quả và chè an toàn

- Tính toán lợi nhuận thu được

Trang 13

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 Sơ lược về địa điểm nghiên cứu

Huyện Châu Thành A nằm ở phía bắc của tỉnh Hậu Giang, phía bắc giáp thành phố Cần Thơ, phía nam giáp huyện Phụng Hiệp, phía tây giáp thành phố Cần Thơ, tỉnh Kiên Giang và huyện Vị Thủy, phía đông giáp huyện Châu Thành Diện tích huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang khoảng 156,62km2 với đặc điểm là huyện thuần nông, thế mạnh của huyện trong các năm qua vẫn là sản xuất nông nghiệp Với đất đai màu mỡ, đặc trưng cho vùng đồng bằng được bồi đắp hàng năm bởi phù sa sông Mêkông Hệ thống sông rạch chằng chịt, trong nội đồng có hệ thống kinh thủy lợi lớn, nhỏ phục vụ sản xuất, nguồn nước ngọt quanh năm rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất kinh doanh

Ghi chú: khu vực bố trí thí nghiệm

Hình 2.1 Bản đồ hành chính của tỉnh Hậu Giang (Nguồn: http://www.cpv.org.vn), truy cập ngày 04/12/2014 Khí hậu: mang đặc điểm khí hậu của trung tâm vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với hai mùa rõ rệt; mùa mưa từ tháng 05 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 04 năm sau

Nhiệt độ: nhiệt độ tương đối cao và ổn định, dao động từ 27,00C – 28,00C; trung bình 27,60C Biên độ dao động nhiệt giữa các ngày và các tháng không lớn Nhiệt độ cao nhất là 300C vào tháng 05 và thấp nhất là 260C vào tháng 01

Lượng mưa và độ ẩm không khí: tổng lượng mưa/năm đạt khoảng 1309,8mm, 92,5% lượng mưa tập trung từ tháng 05 đến tháng 11, các tháng còn lại chiếm 7,5%

Trang 14

Đặc biệt tháng 2 hầu như không có mưa Lượng mưa lớn nhất vào các tháng 10 và 11

từ 265,4mm – 204mm

(Niên giám thống kê huyện Châu Thành A, 2013)

2.2 Phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt

Phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt là loại phân được ủ từ các nguyên liệu bùn

cống sinh hoạt – rơm – phân gà – nấm Trichoderma, thời gian ủ 45 - 60 ngày, có hàm

lượng chất dinh dưỡng phù hợp với tiêu chuẩn ngành 10TCN526-2002 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được trình bày ở Bảng 2.1

Bảng 2.1 Hàm lượng dinh dưỡng trong phân bùn cống sinh hoạt

Chỉ tiêu Phân bùn cống sinh hoạt TCN 526-2002

2.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan

Theo nghiên cứu của Trần Kim Cương (2004) trên cải xanh và cải ngọt về hiệu quả của việc bón bổ sung phân hữu cơ sinh học trên nền phân vô cơ trong canh tác cây rau ăn lá an toàn cho thấy bón bổ sung phân hữu cơ sinh học trên nền phân vô cơ

ở liều lượng xác định có tác dụng gia tăng hàm lượng đạm tổng số và lượng hữu cơ trong đất, gia tăng trọng lượng cây, năng suất và hiệu quả kinh tế

Nghiên cứu của Cao Ngọc Điệp và Tôn Minh Điền (2006) đã dùng phân hữu

cơ – vi sinh thí nghiệm trên rau muống, mồng tơi cho thấy năng suất tương đương nghiệm thức hóa học và rau có hàm lượng nitrate rất thấp Ngoài ra, thí nghiệm của Tôn Như Ái và Lê Phú Duy (2006) cho thấy năng suất rau muống khi bón 30 tấn phân hữu cơ kết hợp với (50N - 40P2O5 - 20K2O kg/ha) cao hơn khi chỉ sử dụng đơn thuần phân vô cơ (100N - 80P2O5 - 40K2O kg/ha) là 48,3%

Bón phân vi sinh bã bùn mía 7 tấn/ha kết hợp với phân vô cơ theo khuyến cáo (100N - 70P2O5 - 150K2O kg/ha) cho thấy đã cải thiện được năng suất của cải Pố-xôi trồng trên đất đỏ Đà Lạt, tiết kiệm được khoảng 70% lượng phân đạm, 30% lân, 50% kali so với công thức bón phân của nông dân (120N - 100P2O5 - 315K2O kg/ha)

Trang 15

Ngoài ra, sử dụng phân hữu cơ giảm dịch bệnh và cải thiện đặc tính lý hóa học đất

(Dương Minh Viễn và ctv., 2007)

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Thật (2008) cho thấy bón 10 tấn/ha phân

hữu cơ bã bùn mía - Trichoderma kết hợp với 90N - 67,5P2O5 - 15K2O kg/ha (75% phân vô cơ theo khuyến cáo 120N - 90P2O5 - 20K2O kg/ha) làm tăng năng suất rau húng và rau díp cá trên vùng đất Long Tuyền, Cần Thơ

Nghiên cứu của Ngô Quang Vinh (2010) về sử dụng nước xả của các công trình khí sinh học bón cho rau cải xanh và xà lách ở Đồng Nai đã xác định công thức tốt bón cho cải xanh (và cũng tốt cho xà lách) là công thức dùng 20 tấn phân chuồng hoai mục và 45kg N + 50kg P2O5 + 20kg K2O + 2m3 nước xả giúp cây trồng đạt hiệu quả kinh tế cao

Theo Huỳnh Đức Tâm (2010) sử dụng 15 tấn phân hữu cơ hoai mục kết hợp với 60 – 60 – 20 NPK là tốt nhất cho sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng của rau cần nước Nhưng đối với nghiên cứu của Huỳnh Hồng Hải (2010) thì cho rằng, sử dụng 30 tấn phân hữu cơ hoai mục kết hợp với 60 – 60 – 20 NPK là tốt nhất cho sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng của rau cần nước Qua đó ta thấy, việc tăng hàm lượng phân hữu cơ không làm tổn hại đến năng suất cây trồng mà còn giúp cải thiện đất tốt hơn

Kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Lưu (2011) về ảnh hưởng của than sinh học và chất thải biogas trong cải tạo đất trồng trên bắp lai DK - 888 và cải bẹ xanh cho thấy sự tăng trưởng mạnh hơn khi kết hợp than sinh học và nước thải biogas vào đất tỷ lệ 6% than sinh học kết hợp với nước thải biogas là tỷ lệ cho kết quả tốt nhất với năng suất đạt 16,6 tấn/ha

Nghiên cứu của Thạch Thị Hồng Loan (2012) về ảnh hưởng của phân hữu cơ

vi sinh lên sự sinh trưởng và năng suất và chất lượng cải xanh (Brassica juncea L

czernjaew) cho thấy sử dụng phân hữu cơ vi sinh kết hợp phân vô cơ để trồng cải

xanh cho năng suất cao, đặc biệt là làm tăng năng suất thương phẩm Đồng thời giúp tiết kiệm được 45,20% lượng phân đạm vô cơ; 36,36% lượng phân lân vô cơ và 82,74% lượng phân kali vô cơ so với các nghiệm thức chỉ sử dụng đơn thuần phân

vô cơ Ngoài ra nguy cơ ô nhiễm môi trường sẽ được giảm xuống một khi mà các lượng phân bón vô cơ được tiết kiệm sử dụng

Thí nghiệm hiệu quả sử dụng phân hữu cơ – vi sinh (HCVS) lên 3 loại rau ăn

lá (rau muống, mồng tơi, cải xanh) của Đỗ Thị Ngọc Châu (2012) trồng trên đất phù

sa Sông Hậu, Cờ Đỏ, Cần Thơ cho thấy phân bón hữu cơ – vi sinh góp phần tăng năng suất, tiết kiệm 50% phân bón hóa học đối với rau muống, mồng tơi, cải xanh đem lại năng suất cả 3 loại rau đều tương đương với nghiệm thức bón 100% phân hóa học và dư lượng nitrate trong rau thấp hơn nhiều so với nghiện thức sử dụng 100% phân hóa học và đem lại hiệu quả kinh tế cao Ngoài ra, nghiên cứu của Nguyễn Thành Trung (2013) về hiệu quả của phân hữu cơ – vi sinh lên 3 loại rau ăn lá (rau

Trang 16

muống, mồng tơi, cải xanh) trồng trên đất phù sa tại huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh cho thấy bón (2 tấn/ha phân HCVS + 50N - 40P2O5 - 20K2O kg/ha) sẽ màu mỡ hơn so với đất không bón phân và đất bón (100 N - 80 P2O5 - 40 K2O kg/ha)

Nguyễn Văn Đạt (2013) sử dụng phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt trồng thử

nghiệm rau muống (Ipomoea aquatica) và rau xà lách (Lactuca sativa var Capitata

L.) được thực hiện tại Hợp tác xã rau an toàn Long Tuyền Kết quả thí nghiệm cho thấy, nghiệm thức bón phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt kết hợp với phân NPK 16 –

16 – 8 trồng rau muống và xà lách cho năng suất cao có ý nghĩa so với nghiệm thức bón phân NPK 16 – 16 – 8; năng suất rau trong khoảng 2,77 - 3,35 kg/m2 đối với xà lách và 2,22 - 2,27 kg/m2 đối với rau muống Các chỉ tiêu về coliform (10,73 - 15,80 CFU/g), hàm lượng nitrate (74,33 - 175,33 mg/kg) đạt ngưỡng an toàn theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Dung trọng và độ xốp của đất ở các nghiệm thức có bón phân hữu cơ đã được cải thiện có ý nghĩa so với nghiệm thức bón phân hóa học Bón phân hóa học kết hợp với phân hữu cơ bùn cống với liều lượng 0,02kg NPK 16 – 16 – 8/m2 + 1,6kg phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt/m2 giúp tăng năng suất rau và cải thiện độ xốp của đất

2.4 Giới thiệu rau cải xanh

Hình 2.2 Cải xanh (Brassica juncea L.)

2.4.1 Nguồn gốc

Cải xanh có tên khoa học là Brassica juncea (L) thuộc họ thập tự (Cruciferae), tên tiếng Anh là Leaf mustard Hiện nay, nguồn gốc của cải xanh vẫn chưa được xác định Tuy nhiên, trung tâm đa dạng của cải xanh là Trung Á (Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng, 2005)

Trang 17

2.4.2 Đặc tính thực vật

Rễ: có bộ rễ ăn nông, chỉ tập trung chủ yếu trong phần đất màu (Đường Hồng

Dật, 2003)

Thân: thuộc loại thân thảo Theo Phạm Hồng Cúc và ctv., (2001) thì cải xanh

là loại rau 2 năm vì tính từ khi cây trổ hoa mang trái một lần trong đời nhưng hoàn tất tuổi đời trong 2 năm Cây cao khoảng 30cm tùy giống (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007)

Lá: dạng lá đơn, phiến lá rộng, vị đắng nhẹ, cuống lá ngắn và có dạng bẹ nhỏ,

mép lá hơi nhăn Lá có từ màu xanh vàng đến xanh đậm Vì bộ lá khá phát triển và mỏng nên chịu hạn kém và dễ bị sâu bệnh gây hại

Hoa: màu vàng tươi, 4 cánh xếp thành hình chữ thập

Quả: nhỏ, dài, có mỏ ngắn, bên trong chứa nhiều hạt nhỏ

Giống: các giống cải xanh ngon được trồng ở nước ta là: cải xanh lá vàng, cải

xanh Vĩnh Tuy, Thanh Mai (Đường Hồng Dật, 2002) Cải xanh để giống dễ dàng trong vụ Đông Xuân từ tháng 10 - 2 dương lịch, vì nông dân có thể tự túc giống Do cải xanh là cây thụ phấn chéo nên có nhiều dạng hình của thân lá, qua tuyển lựa của nông dân mà giống trồng cũng phong phú, đa dạng ở mỗi địa phương

2.4.3 Đặc điểm sinh học

Thời gian sinh trưởng từ 30 - 40 ngày, lá xanh đậm hình quạt mo, số lá/cây lúc thu hoạch 8 - 12 lá (Trương Đích, 2000) Cải xanh sinh trưởng mạnh, phát triển đồng

đều, cây lớn nhanh, màu xanh mượt, dày và đẹp (Trần Khắc Thi và ctv., 2009, Công

ty giống cây trồng Trang Nông)

2.4.4 Dinh dưỡng

Rau cũng là nguồn cung cấp khẩu phần cân đối trong bữa ăn hàng ngày của con người, nó cung cấp lượng đạm, đường, chất béo rất ít nên không có giá trị năng lượng cao chủ yếu là nguồn bổ sung vitamin và khoáng chất quan trọng cho cơ thể (Trần Văn Lài và Lê Thị Hà, 2002) Theo Trần Thế Tục và Nguyễn Ngọc Kính (2002), trong 100g phần ăn được cho 18kcal, 1,7g protein, 235µg Vitamin A, 51mg Vitamin C

2.4.5 Yêu cầu ngoại cảnh rau cải xanh

Nhiệt độ: ở vùng ôn đới nhiệt độ quyết định thời gian sinh trưởng của cây còn

ở vùng nhiệt đới nhiệt độ quan trọng cho sự hô hấp hơn quang hợp Nhiệt độ ảnh hưởng đến sự hút nước và dinh dưỡng của cây trong đó nhiệt độ rễ là quan trọng nhất

và nhiệt độ này thấp hơn so với nhiệt độ không khí, bề mặt thảm thực vật, phản ứng

của cây bị hạn chế ở nhiệt độ thấp và gia tăng ở nhiệt độ cao hơn (Edwards et al.,

Trang 18

1981) Nhìn chung nhiệt độ trung bình hàng năm ở vùng sản xuất rau không được thấp dưới 150C (Tạ Thu Cúc, 2005)

Ánh sáng: ánh sáng là yếu tố quan trọng và cần thiết cho sản xuất rau vì ánh

sáng đóng vai trò quan trọng trong quang hợp của cây, có đến 90 - 95% năng suất cây trồng là do quang hợp Khi thiếu ánh sáng, cây sinh trưởng khó khăn, hàm lượng diệp lục tố giảm, thịt lá mềm và xốp, gian bào chứa đầy nước, làm giảm khả năng chống

chịu với điều kiện bất lợi của môi trường (Tạ Thu Cúc, 2005)

Thành phần ánh sáng cũng ảnh hưởng tới sinh trưởng, phát triển và phẩm chất cây rau Các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới có bức xạ cao hơn các vùng có khí hậu

ôn đới, chính vì vậy mà lượng chất khô cũng cao hơn (Charies, 1997)

Cây rau ưa sáng khuếch tán hơn ánh sáng trực tiếp chiếu lên cây Khi độ cao mặt trời càng thấp thì ánh sáng khuếch tán càng nhiều, vì vậy rau ưa ánh nắng buổi

sáng hơn buổi trưa (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001)

Trong từng loại rau khác nhau thì yêu cầu cường độ ánh sáng cũng khác nhau Phần lớn các loại rau thích hợp với ánh sáng có cường độ 20.000 lux - 30.000 lux

(Mai Thị Phương Anh và ctv., 1996)

Ẩm độ: năng suất rau màu có thể bị giảm ở các mức cao, thấp và stress ẩm độ

do sự giảm phân và giảm dài của tế bào trong quá trình phát triển (Edwards et al.,

1983) Đa số các loại cây họ cải rất mẫn cảm với hiện tượng ngập úng, khi mực nước trong đất khá cao bộ rễ bị tổn thương (Trần Văn Lài và Lê Thị Hà, 2002) Cải xanh

là cây ưa hạn, ưa tưới nhưng cũng không chịu được hạn cũng như ngập úng nên rất

dễ ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất, ẩm độ không khí thích hợp cho cây phát

triển là 80 - 90% (Trần Khắc Thi và Phạm Mỹ Linh, 2010)

Đất và dinh dưỡng: cải xanh có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau nhưng

tốt nhất là loại đất thịt thoát nước tốt Theo Nguyễn Minh Nghĩa (2005), pH thích hợp cho rau là từ 5,0 đến 6,8

2.4.6 Kỹ thuật canh tác cải xanh

Thời vụ: theo Huỳnh Thị Dung và Nguyễn Huy Điềm (2007), các loại cải

xanh trồng tốt nhất ở vụ Đông Xuân, năng suất sẽ cao hơn các vụ khác Tuy nhiên, rau cải xanh có thể trồng quanh năm, mùa nắng nếu đủ nước tưới cây phát triển tốt cho năng suất cao hơn mùa mưa nhưng có nhiều sâu hại cần chú ý phòng trừ (Trần

Thị Ba và ctv., 2008)

Làm đất, gieo trồng: các loại rau ăn lá như cải xanh có thể trồng trên nhiều

loại đất khác nhau, chỉ cần thoát nước tốt là được, do đó luống trồng phải cao ráo và thoáng Theo Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng (2005); Huỳnh Thị Dung và Nguyễn Huy Điềm (2007), khoảng cách cây thích hợp cho cải xanh từ 12 - 15cm

Trang 19

Bón phân, chăm sóc: nguyên tắc bón phân phải cân đối giữa phân hữu cơ, vô

cơ và các nguyên tố N, P, K một cách thích hợp Các rau ăn lá cần có nhiều đạm, nó chính là yếu tố quyết định năng suất rau ăn lá (Tạ Thu Cúc, 2005)

Bón lót: toàn bộ phân chuồng + 5kg Urê + 12kg Supe lân + 3kg KCl được rãi

trên mặt liếp và xới trộn đều

Bón thúc: phân bón được bón dựa theo sự sinh trưởng của cây, do cải xanh rất

ngắn ngày nên chia phân ra nhiều lần tưới sẽ có hiệu quả hơn

Bảng 2.2 Liều lượng phân bón cho rau cải xanh (kg/1.000m2)

Nước tưới: theo Phạm Hồng Cúc và ctv., (2001), lượng nước tưới tùy thuộc

vào điều kiện đất đai, thời tiết, tuổi cây, đặc tính sinh học, nông học và phương pháp tưới Nhu cầu nước của cây phụ thuộc vào khả năng hút nước của rễ và khả năng tiêu hao của phần thân lá trên mặt đất (Trịnh Thị Thu Hương, 2001) Cần giữ độ ẩm từ 70

- 80% là thích hợp (Đường Hồng Dật, 2003 và Tạ Thu Cúc, 2005)

Quản lý sâu bệnh: đối tượng gây hại chủ yếu trên cải xanh là sâu ăn tạp, sâu

tơ và bọ nhảy Các bệnh chủ yếu như chết cây con (Pythium sp., Rhizoctonia sp.), thối bẹ (Sclerostium rolfsii, Rhizoctonia sp.), thối nhũn (Erwinia carotovora) (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001)

Theo Nguyễn Mạnh Chinh (2005), các chế phẩm sinh học BT như Biocin, Delfin và các loại thuốc thảo mộc như Abatin, Vibamec có hiệu quả tốt trong phòng trừ sâu ăn lá Đối với các bệnh thối nhũn do vi khuẩn, tốt nhất nên nhổ bỏ ngay, nếu thấy có triệu chứng lây lan phải giảm nước tưới và dùng các loại thuốc phòng trị như

Kasuran, Benlate C (Mai Văn Quyền và ctv., 1995)

Thu hoạch: xác định thời gian thu hoạch có ảnh hưởng đến năng suất và

phẩm chất rau ăn lá Cải xanh có thể thu hoạch sau khi trồng được 30 - 35 ngày, năng suất có thể đạt 25 - 30 tấn/ha (Trịnh Thu Hương, 2003)

2.5 Vai trò của phân hóa học đối với cây rau

2.5.1 Vai trò của phân đạm

Đạm rất cần thiết cho cây rau phát triển thân và lá, việc cung cấp đạm đầy đủ

đảm bảo sự sinh trưởng mạnh và phẩm chất rau ngon (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001)

Trang 20

Trong cây đạm liên kết trong glutamate và glutamine có thể được sử dụng để tổng hợp các hợp chất cao phân tử như Protein Khi thiếu đạm lá có màu vàng và diện tích phiến lá bị nhỏ (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004)

Đối với rau ăn lá như: rau cải, rau dền, rau muống thì lượng phân đạm cần sử dụng cao hơn các loại rau khác Tuy nhiên không nên bón quá nhiều và lại bón chậm vào lúc thu hoạch sẽ làm cây rau sinh trưởng quá mạnh, dễ sâu bệnh và khó bảo quản (Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi, 1996) Nên kết thúc bón phân đạm ở thời điểm 6 - 7 ngày trước khi thu hoạch để đảm bảo rau có mức nitrate ở ngưỡng an toàn cho phép (Nguyễn Thanh Bình, 2001)

2.5.2 Vai trò của phân lân

Lân kích thích quá trình tăng số nhánh trên cây, nảy chồi, thúc đẩy ra hoa sớm

và nhiều, đặc biệt lân rất cần cho các loại rau ăn củ, quả như: khoai tây, cà rốt, cà chua (Trần Khắc Thi, 2000) Lân có vai trò quan trọng trong đời sống cây trồng là các thành phần trong acid nhân, các enzyme, tham gia vận chuyển năng lượng (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004)

2.5.3 Vai trò của phân kali

Kali được biết đến như nguyên tố của chất lượng, làm tăng khả năng chống chịu của cây trồng đối với các tác động không có lợi từ bên ngoài, giúp cây ít đổ ngã, tăng khả năng chịu hạn, chịu úng (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004) Đối với cây rau cần chú ý cân đối giữa các nguồn đạm, lân và kali để giúp rau tăng năng suất, chất lượng nhất là giúp làm giảm hàm lượng nitrate trong rau (Bùi Cách Tuyến

và ctv., 1998; Trần Thị Ba, 2006)

2.6 Hàm lượng nitrate trong rau

Theo Ngô Ngọc Hưng (2005) nitrate là một dạng chất đạm hiện diện trong cây rau Trong một số trường hợp nitrate có thể tích lũy với nồng độ cao trong mô thực vật Sự có mặt của nitrate trong nông sản sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người

và dư lượng nitrate trong mô thực vật vượt quá ngưỡng an toàn được xem như là một độc chất

Nitrate lần đầu tiên được phát hiện như là một dạng độc chất tồn dư trong nông sản gây hại đến sức khỏe của con người vào năm 1945 tại Jerusalem, Israel (Bùi Cách Tuyến, 1997) Theo Cao Thị Làn (2011) trên thế giới, trong nhiều thập kỷ qua, nhiều nhà khoa học đã quan tâm đến chất lượng rau xanh, chủ yếu tập trung nghiên cứu dư lượng của các chất trong rau và tác hại của chúng tới sức khỏe người tiêu dùng Nitrate vào cơ thể ở mức độ bình thường không gây độc, chỉ khi hàm lượng vượt ngưỡng cho phép mới nguy hiểm Vì thế tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo hàm lượng nitrate trong rau không vượt quá 300 mg/kg tươi Hàm lượng nitrate trong rau cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố Nhiều nhà khoa học trên thế giới cho rằng có đến 20 yếu tố

Trang 21

gây dư lượng nitrate tăng cao trong sản phẩm cây trồng, trong cây rau và trong môi trường xung quanh (Cao Thị Làn, 2011) Các chủng loại rau khác nhau, giống rau khác nhau thì lượng nitrate tích tụ trong cây cũng khác nhau Sự tích tụ nitrate trong các giống rau không đồng đều đó là do tốc độ hấp thụ nitrate và sử dụng nó trong quá trình trao đổi chất có sự khác biệt Hàm lượng nitrate trong rau cao hay thấp chủ yếu

là do bón phân đạm quá nhiều hoặc quá gần ngày thu hoạch

2.7 Escherichia coli

E coli là loại trực khuẩn gram âm sống trong ruột người và động vật Nó được

thải ra môi trường ngoài theo phân Vi khuẩn E coli chịu nhiệt kém, dễ bị diệt ở 550C trong 1 giờ, trong 30 phút ở 600C, chết ngay ở 1000C Chúng có thể tồn tại ở nhiệt độ

5 – 400C (tối ưu là 370C), pH từ 5,5 – 8 (tối ưu pH 7,2 – 7,4) (Trần Cẩm Vân, 2001)

E coli chiếm 80% vi khuẩn hiếu khí sống trong ruột và giữ trạng thái cân bằng sinh

thái nên nó làm vi sinh vật chỉ thị cho ô nhiễm Nếu phân không được xử lý tốt môi

trường xung quanh như đất, nước, thực phẩm sẽ bị ô nhiễm Bình thường E coli

không gây bệnh nhưng nếu cơ thể yếu thì chúng sẽ gây ra một số bệnh như tiêu chảy, kiết lỵ, viêm tiết niệu

Trang 22

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm

Đề tài được thực hiện từ tháng 07/2014 đến tháng 12/2014 và được bố trí tại

hộ Ông Nguyễn Văn Nhịn, ấp Nhơn Lộc, thị trấn Một Ngàn, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang

3.2 Phương tiện nghiên cứu

3.2.1 Vật liệu và dụng cụ trồng rau

- Giống rau cải xanh (Brassica juncea L.): thời gian sinh trưởng 30 – 32 ngày,

độ sạch 98%, tỷ lệ nảy mầm 80%, độ ẩm 10% Giống được mua tại Công ty TNHH hạt giống cây trồng Tùng Nông

- Loại phân bón áp dụng cho các nghiệm thức:

- Cuốc, giá, dao, búa, kéo, cọc cắm, dây chì, thước dây, bọc nilon, các bảng nghiệm thức, máy ảnh, viết, bút lông, cân đông hồ, sổ tay ghi chép

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.2 Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên, có 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được lặp lại 4 lần

Trang 23

- Nghiệm thức 1: 100% phân bùn cống sinh hoạt

- Nghiệm thức 2: 75% phân bùn cống sinh hoạt + 25% phân hóa học, bón phân hóa học (liều lượng dựa vào giáo trình của Trần Thị Ba (2010) Thấp hơn liều lượng bón của nông dân)

- Nghiệm thức 3: 100% phân hóa học (đối chứng)

- Mỗi nghiệm thức được bố trí trồng trên diện tích đất 1,5m2 (1,5mx1m) (dài x rộng) theo sơ đồ như sau:

Hình 3.1 Sơ đồ bố trí các nghiệm thức thí nghiệm

3.3.3 Thời điểm bón phân và cách bón phân cho 3 nghiệm thức

Bón phân

Giai đoạn bón lót:

Làm đất xong, 5 ngày trước khi trồng rau cải xanh tiến hành bón lót Đối với các nghiệm thức bón lót tiến hành bón trực tiếp trên đất Sau đó tưới một lượng nước vừa đủ để giữ ẩm và giúp phân ngấm vào đất Bón lót ở tất cả các nghiệm thức phân hữu cơ

Tính toán lượng phân cần bón:

Nghiệm thức 2, 3: tính toán liều lượng theo đúng với qui trình kỹ thuật của Trần Thị Ba (2010) tiến hành cân chính xác theo lượng đã tính toán cho mỗi nghiệm thức

Tiến hành bón thúc: phân bón được chia làm 2 lần bón Các nghiệm thức 2, 3 được bón thúc cùng một thời điểm Riêng nghiệm thức 1 toàn bộ lượng phân hữu cơ

đã được bón ở giai đoạn bón lót

Trang 24

Bảng 3.1 Liều lượng phân bón cho 3 nghiệm thức (g/m2)

Nghiệm thức Bón lót Bón thúc

Lần 1 Lần 2 Urê Supe

NT1: 100% phân bùn cống sinh hoạt

NT2: 75% phân hữu cơ từ bùn cống sinh hoạt + 25% phân hóa học

NT3: 100% phân hóa học

HC: phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt được bón toàn bộ ở giai đoạn bón lót

Supe lân (20% P2O5) ; Urê: (NH2)2CO (46%N); KCl (60% K2O)

Nguồn: Trần Thị Ba (2010)

Chăm sóc

Tưới nước: sau khi gieo hạt rau cải xanh cần phải tưới ngay để giữ ẩm độ phù hợp giúp hạt giống rau cải xanh nảy mầm tốt Định kỳ tưới nước ngày 2 lần vào buổi sáng và buổi chiều Vào những ngày trời có mưa, tùy theo tình hình ẩm độ trên liếp đất trồng rau sẽ có chế độ tưới nước phù hợp, nếu ẩm độ cao trên 90% (nước chảy qua kẽ tay), không tưới nước để tránh làm ảnh hưởng đến bộ rễ của rau

Tỉa cây: sau khi gieo 10 - 15 ngày cây có 2 - 3 lá thật thì nhổ bỏ những cây xấu ở chỗ mọc dày, để lại cây tốt, phân bố đều để đảm bảo mật độ đồng đều ở các nghiệm thức

Theo dõi sâu bệnh: thường xuyên theo dõi, làm cỏ, để tránh sự phát tán sang các cây khác, hạn chế việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

Thu hoạch

Sau 30 - 35 ngày sau khi gieo hạt tiến hành thu hoạch bằng cách nhổ cả gốc

3.3.4 Phương pháp theo dõi và lấy mẫu thí nghiệm

Theo dõi sinh trưởng của cây

Sau khi gieo hạt, quan sát và ghi nhận thời gian hạt nảy mầm Sau khi hạt đã nảy mầm, tại mỗi nghiệm thức đặt 1 khung chỉ tiêu để theo dõi và thu thập số liệu (mỗi khung có kích thước 1m2) Sau 15 NSKG, cây phát triển ổn định tiến hành theo dõi sự tăng trưởng của cây

- Về tăng trưởng: định kỳ 5 ngày/lần, theo dõi cố định 10 cây/khung

Chiều cao cây (cm): đo bằng thước nhựa dài 50cm, đo từ mặt đất đến đỉnh

lá dài nhất, đo trên 40 cây (10 cây/khung x 4 lần lặp lại)

Số lá (lá/cây): đếm tổng số lá trên thân chính từ lá thật đầu tiên đến lá

ngọn, đếm những lá có chiều dài hơn 2cm Tiến hành đếm số lá trên 40 cây (10 cây/khung x 4 lần lặp lại)

Trang 25

Kích thước lá (cm): dùng thước đo chiều dài và chiều ngang lá có kích

thước lớn nhất

Mật độ (cây/m 2 ): ghi nhận số cây khi thu hoạch trên từng lô thí nghiệm

- Về năng suất: năng suất rau cải xanh được tính khi thu hoạch, rau cải xanh đem cân cả cây xác định trọng lượng của rau cải xanh theo từng nghiệm thức để so sánh (cải xanh được cân bằng cân đồng hồ 5kg)

Lấy mẫu thí nghiệm:

Mẫu rau cải xanh được phân tích các chỉ tiêu mật số Escherichia coli, hàm

lượng nitrate Số lượng mẫu và phương pháp lấy mẫu rau cải xanh theo tiêu chuẩn TCVN 9016:2011

Mẫu nước tưới được phân tích các chỉ tiêu mật số Escherichia coli, hàm lượng

nitrate Số lượng mẫu và phương pháp lấy mẫu nước theo tiêu chuẩn, TCVN

5996-1995 đối với nước sông và suối

Mẫu đất trước khi gieo trồng và sau khi thu hoạch được phân tích các chỉ tiêu

mật độ Escherichia coli, hàm lượng nitrate Số lượng mẫu và phương pháp lấy mẫu

đất theo tiêu chuẩn TCVN 5297:1995

Mẫu rau, nước được thu và đem về phân tích tại Trung tâm Kỹ thuật và Ứng dụng công nghệ - Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ với các thông số

sau: mật số Escherichia coli, hàm lượng nitrate Riêng mẫu đất được phân tích tại

phòng thí nghiệm Bộ môn Khoa học Đất & Sinh học Ứng dụng với các chỉ tiêu mật

số Escherichia coli, hàm lượng nitrate

3.3.5 Phương pháp phân tích mẫu

a) Phân tích mẫu đất

- Hàm lượng nitrate NO3-: trích bằng dung dịch muối KCl 2M theo tỉ lệ 1:10 Lắc trong 1h, ly tâm và lọc lấy dung dịch trong phân tích Đạm NO3-: xác định theo phương pháp VCl3 ở bước sóng 543 nm (Markus D.K et al., 1985)

- Mật số Escherichia coli được đếm bằng phương pháp Most Probable Number

(MPN) sử dụng môi trường Lauryl Sulphate Broth (LSB) và EC ủ tương ứng ở nhiệt

độ 34,5 và 44,5o C

b) Phân tích mẫu nước

- Hàm lượng nitrate NO3-: phân tích bằng phương pháp SMEWW 4500 NO3- E:2012

- Mật số Escherichia coli: xác định bằng phương pháp TCVN 6187-2:1996

c) Phân tích mẫu thực vật

Trang 26

- Hàm lượng nitrate NO3-: phân tích bằng phương pháp NMKL 125:2005

- Mật số Escherichia coli: phân tích bằng phương pháp TCVN 7767:2007

Trang 27

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN

4.1 Sự tăng trưởng rau cải xanh

4.1.1 Số lá

Kết quả Bảng 4.2 cho thấy trung bình số lá trên cây của 3 nghiệm thức tăng dần từ ngày 17 đến ngày 22 dao động trong khoảng 6,3±0,10 - 6,88±1,27 lá/cây và không khác biệt có ý nghĩa thống kê Theo Đỗ Thị Thanh Ren (1999), phân hữu cơ khi được bón vào đất vẫn cần một khoảng thời gian nhất định để đạt hiệu quả tối ưu Giai đoạn 27 - 32 NSKG số lá trên cây của 3 nghiệm thức tăng khác biệt có ý nghĩa dao động trong khoảng 7,15±1,15 - 8,78±1,33 lá/cây

Bảng 4.2 Diễn biến số lá giữa các nghiệm thức theo thời gian

NT1: 100% phân bùn cống sinh hoạt

NT2: 75% phân hữu cơ từ bùn cống sinh hoạt + 25% phân hóa học

NT3: 100% phân hóa học (đối chứng)

Các hàng có cùng ký tự (a, b, c) theo sau thì không khác biệt có ý nghĩa thống kê 5% qua phép thử LSD

Số lá trên cây giữa 3 nghiệm thức không có sự khác biệt ở thời điểm 17, 22,

27, 32 NSKG và dao động trong khoảng 6,3±0,8 - 8,8±1,3 lá/cây Điều này có thể là

do cây được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho sự phát triển của rau cải xanh Kết quả số lá tương đồng với kết quả của Nguyễn Thanh Bình (2001) khi nghiên cứu trên cải ngọt

4.1.2 Chiều dài lá

Kết quả trình bày trong Bảng 4.3 cho thấy chiều dài lá của 3 nghiệm thức tăng khác biệt có ý nghĩa thống kê theo thời gian do cải xanh sinh trưởng mạnh, lớn nhanh (Trần Thị Ba, 2010) Do đó thu hoạch cải xanh ở thời điểm 32 NSKG là thích hợp góp phần nâng cao năng suất

Trang 28

Bảng 4.3 Diễn biến chiều dài lá giữa các nghiệm thức theo thời gian

Ghi chú: Trung bình ±SD, n = 40

NT1: 100% phân bùn cống sinh hoạt

NT2: 75% phân hữu cơ từ bùn cống sinh hoạt + 25% phân hóa học

NT3: 100% phân hóa học (đối chứng)

Các hàng có cùng ký tự (a, b, c,d) theo sau thì không khác biệt có ý nghĩa thống kê 5% qua phép thử LSD Các cột có cùng ký tự (x, y) theo sau thì không khác biệt có ý nghĩa thống kê 5% qua phép thử LSD

Qua Bảng 4.3 chiều dài lá giữa 3 nghiệm thức ở các ngày 17, ngày 22 tương đương nhau Ngày 27 ở NT3 (bón 100% phân hóa học) có khác biệt ý nghĩa thống kê

so với NT1 (100% phân hữu cơ) do (NT3) được bón thúc trong giai đoạn này nên chiều dài lá phát triển tốt, tuy nhiên không khác biệt có ý nghĩa thống kê so với (NT2)

là do có lượng đạm và lân cung cấp cho cây được ở hai dạng hữu cơ và vô cơ, cộng thêm việc bón phân hữu cơ làm tăng độ hữu dụng của phân hóa học (Võ Thị Gương, 2010) Thiếu đạm sẽ làm cho cây có lá vàng và phiến lá nhỏ (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004) Ngược lại, khi chỉ sử dụng đơn thuần phân vô cơ thì lượng phân trong phân hóa học có thể bị cố định bởi Al3+ và Fe2+, đạm ở dạng NH4+ bị giảm

độ hữu dụng và một phần bị giữ lại trong các lá sét (Nguyễn Mỹ Hoa, 2004)

Chiều dài lá được chia thành 2 nhóm, nhóm có chiều dài lá thấp nhất khác biệt

có ý nghĩa thống kê so với những nghiệm thức còn lại là NT1 (được bón hoàn toàn phân hữu cơ) Nhóm có chiều dài lá lớn nhất là NT3 (bón 100% phân hóa học) và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với (NT1) nhưng không khác biệt ý nghĩa thống kê với (NT2) Cải xanh là loại rau ăn lá, bộ phận lá tạo nên năng suất cho rau cải xanh nên việc phát triển của lá làm gia tăng năng suất rau cải xanh

4.1.3 Chiều rộng lá

Bảng 4.4 cho thấy chiều rộng lá tăng khác biệt có ý nghĩa thống kê theo thời gian do đặc điểm cây ngắn ngày có khả năng lớn nhanh, sinh trưởng mạnh nếu được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng

Trang 29

Bảng 4.4 Diễn biến chiều rộng lá giữa các nghiệm thức theo thời gian

Ghi chú: Trung bình ±SD, n = 40

NT1: 100% phân bùn cống sinh hoạt

NT2: 75% phân hữu cơ từ bùn cống sinh hoạt + 25% phân hóa học

4.1.4 Mật độ cải xanh (cây/m 2 )

Qua Hình 4.1 cho thấy mật độ cây trung bình lúc thu hoạch dao động khoảng 21,2±1,38 - 24,2±3,64 cây/m2 Năng suất của cải xanh phần lớn phụ thuộc vào số lá, chiều rộng, chiều dài lá Cải xanh có lá dài, tán lá lớn sẽ cho năng suất cao, như vậy đối với cải xanh có năng suất cao thì mật độ cây càng thấp và trọng lượng cây cải xanh sẽ cao

Trang 30

Hình 4.1 Mật độ trung bình rau cải xanh

Ghi chú: Trung bình ±SD, n = 4

NT1: 100% phân bùn cống sinh hoạt

NT2: 75% phân hữu cơ từ bùn cống sinh hoạt + 25% phân hóa học

NT3: 100% phân hóa học

Trong một thời điểm, các cột có cùng ký tự theo sau thì không khác biệt ý nghĩa thống kê 5% qua phép thử LSD

Mật độ cây không khác biệt giữa 3 nghiệm thức Theo Nguyễn Xuân Thành

và Nguyễn Sĩ Hiệp (2003) bón phân hữu cơ làm tăng khả năng giữ ẩm cho đất, giúp cây phát triển tốt Ngoài ra, phân hữu cơ là nguồn bổ sung chất mùn rất quan trọng cho đất, chất mùn làm cho đất có kết cấu tốt hơn, là kho dự trữ thức ăn cho cây, làm tăng hiệu quả của phân hóa học, là yếu tố tạo độ phì nhiêu cho đất, giúp cho bộ rễ phát triển tốt, cho nên gia tăng mật độ cây ở cuối vụ (Võ Thị Gương, 2010) Như vậy bón phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt kết hợp với phân hóa học có thể cung cấp đầy

đủ chất dinh dưỡng cho cải xanh và mật độ cây lúc thu hoạch không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nghiệm thức bón hoàn toàn phân hữu cơ hoặc bón đơn thuần phân hóa học

4.1.5 Năng suất (kg/m 2 )

Kết quả phân tích thống kê (Hình 4.3) cho thấy (NT3) và (NT2) có năng suất đạt cao nhất 2,58 kg/m2 và 2,43 kg/m2 khác biệt so với (NT1) Tuy nhiên giữa (NT3)

và (NT2) thì năng suất tương đương nhau Có nghĩa việc giảm 75% lượng phân vô

cơ kết hợp giảm 25% phân hữu cơ từ bùn cống sinh hoạt năng suất tương đương sử dụng 100% phân vô cơ Theo Võ Thị Gương (2010) phân hữu cơ theo thời gian có tác dụng đệm dinh dưỡng hữu dụng cần thiết, duy trì tính ổn định cấu trúc đất, giúp đất sử dụng hiệu quả lượng phân bón vô cơ bổ sung vào nên cây hấp thụ dinh dưỡng nhiều hơn góp phần gia tăng năng suất ở (NT2) Kết quả thí nghiệm trên phù hợp với

Trang 31

nghiên cứu của Thạch Thị Hồng Loan (2012) về ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh

lên sự sinh trưởng và năng suất và chất lượng cải xanh (Brassica juncea L czernjaew)

cho thấy sử dụng phân hữu cơ vi sinh kết hợp phân vô cơ để trồng cải xanh cho năng suất cao, đặc biệt là làm tăng năng suất thương phẩm Đồng thời giúp tiết kiệm được 45,20% lượng phân đạm vô cơ; 36,36% lượng phân lân vô cơ và 82,74% lượng phân kali vô cơ so với các nghiệm thức chỉ sử dụng đơn thuần phân vô cơ

Hình 4.3 Năng suất rau cải xanh

Ghi chú: Trung bình ±SD, n = 4

NT1: 100% phân bùn cống sinh hoạt

NT2: 75% phân hữu cơ từ bùn cống sinh hoạt + 25% phân hóa học

NT3: 100% phân hóa học

Trong một thời điểm,các cột có cùng ký tự theo sau thì không khác biệt ý nghĩa thống kê 5% qua phép thử LSD

4.1.6 Dư lượng nitrate (NO 3 - ) trong cải xanh

Kết quả phân tích cho thấy, dư lượng nitrate trong cải xanh khoảng (96,55 - 292,65) mg/kg Nghiệm thức sử dụng 75 % phân hữu cơ kết hợp 25% phân hóa học (NT2) có hàm lượng nitrate là 95,55 mg/kg thấp hơn so với NT3 (bón 100% phân hóa học) là 292,65 mg/kg Hàm lượng nitrate ở tất cả các nghiệm thức đều thấp hơn ngưỡng an toàn cho phép của Tổ chức Y tế Thế giới (< 300 mg/kg) Theo Lâm Tú

Minh và ctv., (2003) và Nguyễn Thanh Bình (2001) phân hữu cơ có tác dụng làm

giảm hàm lượng nitrate trong rau, kết quả này đồng thời phù hợp với nghiên cứu của

Cao Ngọc Điệp và ctv., (2011) là bón phân hữu cơ vi sinh kết hợp phân hóa học trên

rau cho năng suất tương đương với rau được bón hoàn toàn phân hóa học và hàm lượng nitrate trong rau thấp Như vậy, việc sử dụng phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt kết hợp với phân hóa học bón cho cải xanh đã góp phần làm giảm hàm lượng nitrate

trong rau và thấp hơn so với nghiệm thức đối chứng (bón hoàn toàn phân hóa học)

a

0 0.5

1 1.5

2 2.5

Ngày đăng: 25/11/2015, 17:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Hàm lượng dinh dưỡng trong phân bùn cống sinh hoạt - sử dụng phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt trồng rau cải xanh (brassica juncea l.)
Bảng 2.1 Hàm lượng dinh dưỡng trong phân bùn cống sinh hoạt (Trang 14)
Hình 2.2 Cải xanh (Brassica juncea L.) - sử dụng phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt trồng rau cải xanh (brassica juncea l.)
Hình 2.2 Cải xanh (Brassica juncea L.) (Trang 16)
Bảng 3.1 Liều lượng phân bón cho 3 nghiệm thức (g/m 2 ) - sử dụng phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt trồng rau cải xanh (brassica juncea l.)
Bảng 3.1 Liều lượng phân bón cho 3 nghiệm thức (g/m 2 ) (Trang 24)
Bảng 4.2 Diễn biến số lá giữa các nghiệm thức theo thời gian - sử dụng phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt trồng rau cải xanh (brassica juncea l.)
Bảng 4.2 Diễn biến số lá giữa các nghiệm thức theo thời gian (Trang 27)
Hình 4.1 Mật độ trung bình rau cải xanh - sử dụng phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt trồng rau cải xanh (brassica juncea l.)
Hình 4.1 Mật độ trung bình rau cải xanh (Trang 30)
Hình 4.4 Hàm lượng nitrate rau cải xanh - sử dụng phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt trồng rau cải xanh (brassica juncea l.)
Hình 4.4 Hàm lượng nitrate rau cải xanh (Trang 32)
Bảng 4.5 Tỷ suất lợi nhuận của cải xanh - sử dụng phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt trồng rau cải xanh (brassica juncea l.)
Bảng 4.5 Tỷ suất lợi nhuận của cải xanh (Trang 33)
Bảng 4.6 Tỷ suất lợi nhuận của cải xanh có sự thay đổi về giá sản phẩm - sử dụng phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt trồng rau cải xanh (brassica juncea l.)
Bảng 4.6 Tỷ suất lợi nhuận của cải xanh có sự thay đổi về giá sản phẩm (Trang 33)
Bảng 3 Chiều rộng lá rau cải xanh - sử dụng phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt trồng rau cải xanh (brassica juncea l.)
Bảng 3 Chiều rộng lá rau cải xanh (Trang 46)
Bảng 16 Kiểm định LSD so sánh chiều dài lá giữa các nghiệm thức theo dõi ngày - sử dụng phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt trồng rau cải xanh (brassica juncea l.)
Bảng 16 Kiểm định LSD so sánh chiều dài lá giữa các nghiệm thức theo dõi ngày (Trang 50)
Bảng 26 Diễn biến số lá của NT3 theo thời gian - sử dụng phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt trồng rau cải xanh (brassica juncea l.)
Bảng 26 Diễn biến số lá của NT3 theo thời gian (Trang 53)
Bảng 29 Diễn biến chiều dài lá của NT3 theo thời gian - sử dụng phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt trồng rau cải xanh (brassica juncea l.)
Bảng 29 Diễn biến chiều dài lá của NT3 theo thời gian (Trang 54)
Bảng 27 Diễn biến chiều dài lá của NT1 theo thời gian - sử dụng phân hữu cơ bùn cống sinh hoạt trồng rau cải xanh (brassica juncea l.)
Bảng 27 Diễn biến chiều dài lá của NT1 theo thời gian (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w