gây hại trên cây mai vàng” được thực hiện nhằm tìm hiểu một số đặc điểm hình thái và đặc điểm sinh học của sâu ăn lá để quản lí và phòng trừ chúng một cách có hiệu quả trong thời gian t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
TRẦN CÔNG KHANH
KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI,
SINH HỌC CỦA SÂU ĂN LÁ ABROSTOLA SP
(LEPIDOPTERA: NOCTUIDAE) GÂY HẠI
TRÊN CÂY MAI VÀNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT
2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
TRẦN CÔNG KHANH
KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI,
SINH HỌC CỦA SÂU ĂN LÁ ABROSTOLA SP
(LEPIDOPTERA: NOCTUIDAE) GÂY HẠI
TRÊN CÂY MAI VÀNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
ThS Lăng Cảnh Phú
SINH VIÊN THỰC HIỆN
Họ và tên: Trần Công Khanh MSSV: 3113438
Lớp: Bảo Vệ Thực Vật K37
2015
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Chứng nhận đã chấp nhận luận văn đại học với đề tài:
“KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC CỦA SÂU
ĂN LÁ ABROSTOLA SP (LEPIDOPTERA: NOCTUIDAE) GÂY
HẠI TRÊN CÂY MAI VÀNG”
Do sinh viên TRẦN CÔNG KHANH thực hiện và đề nạp
Kính trình Hội đồng chấp nhận luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2015
Cán bộ hướng dẫn
ThS Lăng Cảnh Phú
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Hội đồng chấm luận văn đại học đã chấp thuận luận văn với đề tài:
“KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC CỦA SÂU
ĂN LÁ ABROSTOLA SP (LEPIDOPTERA: NOCTUIDAE) GÂY
HẠI TRÊN CÂY MAI VÀNG”
Do sinh viên TRẦN CÔNG KHANH thực hiện và bảo vệ trước hội đồng
ngày ………
Luận văn đã được hội đồng chấp thuận và đánh giá ở mức ……….………
………
Ý kiến hội đồng: ………
………
………
……… DUYỆT CỦA KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ
SINH HỌC ỨNG DỤNG
CHỦ NHIỆM KHOA
Cần Thơ, ngày…tháng…năm… CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 5Họ tên cha: Trần Văn Ngôn
Họ tên mẹ: Huỳnh Kim Hai
Địa chỉ: ấp Vĩnh Cầu, xã Vĩnh Gia, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam kết luận văn này đƣợc hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả của nghiên cứu này chƣa đƣợc dùng cho bất cứ luận văn nào cùng cấp khác
Ngày…….tháng……năm……
(Ký tên)
TRẦN CÔNG KHANH
Trang 7LỜI CẢM TẠ
Lời đầu tiên con xin chân thành biết ơn công lao sinh thành, nuôi dưỡng của Cha Mẹ Người đã luôn chia sẻ, quan tâm và yêu thương con bằng tất cả tấm lòng
Kính gửi thầy Lăng Cảnh Phú, giáo viên hướng dẫn lòng biết ơn sâu sắc Cám ơn thầy đã tận tình chỉ bảo và cho những lời khuyên bổ ích trong việc nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin gởi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô trong Bộ môn Bảo vệ Thực vật, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ, đã truyền đạt kiến thức cho em trong suốt thời gian học tập và làm luận văn tại
Chân thành cảm ơn các bạn trong lớp Bảo vệ Thực vật K37 đã giúp đỡ rất nhiệt tình trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp
Trân trọng!
Trang 8Trần Công Khanh, 2015 “Khảo sát một số đặc điểm hình thái, sinh học của
sâu ăn lá Abrostola sp (Lepidoptera: Noctuidae) gây hại trên cây mai
vàng” Luận văn tốt nghiệp Đại học, ngành Bảo vệ thực vật, Khoa Nông
nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn: Thạc sĩ Lăng Cảnh Phú
TÓM LƯỢC
Đề tài được thực hiện từ tháng 10/2013 đến tháng 11/2014 với mục đích khảo sát một số đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh học của sâu ăn lá
Abrostola sp gây hại trên cây mai ở Đồng bằng sông Cửu Long
Khảo sát trong điều kiện phòng thí nghiệm, nhiệt độ 28,5 ± 1,7o
C (dao động từ 26 đến 31oC), ẩm độ 74,8 ± 11,7% (dao động từ 56 đến 89%) đã ghi
nhận một số đặc điểm hình thái và đặc điểm sinh học của sâu ăn lá Abrostola
sp như sau:
Trứng có hình bán cầu, một mặt cong, một mặt bằng, bề mặt có nhiều khía cách đều nhau tạo nên một khối đối xứng, chiều dài 0,44 ± 0,04 mm, chiều rộng 0,24 ± 0,03 mm Trứng mới đẻ có màu trắng đục, căng bóng, sau chuyển thành màu nâu, ngay tâm có chấm đỏ và mép trứng có viền đỏ bao quanh tâm, từ từ lan ra khắp trứng, đến khi trứng sắp nở có màu nâu vàng Ấu trùng thon dài, trải qua 4 tuổi và giai đoạn nhộng, hình thái ở các giai đoạn gần tương tự nhau Thành trùng là ngài đêm, có lớp phấn bao phủ thân và cánh Con đực có kích thước nhỏ hơn con cái
Thời gian phát triển từ trứng đến thành trùng đẻ trứng đầu tiên trung bình là 27,5 ± 1,2 ngày (dao động từ 25 – 30 ngày), trong đó thời gian ủ trứng
là 2,20 ± 0,41 ngày ( dao động từ 2 – 3 ngày) Tuổi 1 mới nở di chuyển nhanh nhẹn, thời gian tuổi 1 kéo dài 2,30 ± 0,70 ngày (dao động từ 1 – 4 ngày), thời gian tuổi 2 là 3,70 ± 1,06 ngày (dao động từ 2 – 5 ngày), tuổi 3 kéo dài 3,33 ± 0,88 ngày (dao động từ 2 – 5 ngày), thời gian tuổi 4 là 4,27 ± 0,91 ngày (dao động từ 3 – 6 ngày) và giai đoạn nhộng là 8,93 ± 0,87 ngày (dao động từ 7 –
10 ngày); thành trùng đực có thời gian sống trung bình 11,33 ± 3,97 ngày (dao động từ 4 đến 18 ngày), thành trùng cái có thời gian sống trung bình là 13,27 ± 5,11 ngày (dao động từ 7 đến 24 ngày), đa số thành trùng cái đẻ trứng sau khi
vũ hóa 2 – 3 ngày, thời gian trung bình từ khi vũ hóa đến đẻ trứng là 2,77 ± 0,57 ngày (dao động từ 2 – 4 ngày), mỗi con cái đẻ trung bình 340,20 ± 178,12 trứng (dao động từ 98 đến 727 trứng) đối với thành trùng có bắt cặp, tỉ lệ trứng
nở khá cao dao động từ 75 đến 100% Đối với thành trùng không bắt cặp, mỗi con cái đẻ trung bình 49,10 ± 15,69 trứng (dao động từ 24 đến 84 trứng) nhưng trứng không nở
Trang 91.2.1.3 Nhện đỏ Tenuipalpus pacificus Baker (Acari: Tenuipalpide) 11
1.2.1.4 Sâu đục thân Zeuzera coffeae Neitner (Lepidoptera: Cosside) 12
Trang 101.2.1.7 Rệp sáp mũ Ceroplastes rusci Linnaeus (Homoptera: Coccidae) 15
1.2.1.8 Sâu xếp lá Archips micaceana Walker (Lepidoptera: Tortricidae) 16
1.2.2 Một số loài gây hại chi Abrostola 17 CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 21
2.2.2 Khảo sát khả năng sinh sản và tuổi thọ của thành trùng sâu ăn lá
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24 3.1 Khảo sát đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh học của sâu ăn lá
3.1.1 Một số đặc điểm hình thái của sâu ăn lá Abrostola sp 24
3.1.2 Một số đặc điểm sinh học của sâu ăn lá Abrostola sp 29 3.2 Khảo sát khả năng sinh sản, tỉ lệ trứng nở và tuổi thọ thành trùng
của sâu ăn lá Abrostola sp 33 CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
Trang 113.2 Vòng đời và các giai đoạn phát triển của sâu ăn lá Abrostola
sp trên mai vàng ở điều kiện phòng thí nghiệm, ĐHCT, 2013
Trang 12DANH SÁCH HÌNH
1.3 Ấu trùng, nhộng và thành trùng Abrostola tripartite 19
3.11 Đặc tính đẻ trứng của sâu ăn lá Abrostola sp 30
3.15 Sự phá hại hoa mai của sâu ăn lá Abrostola sp 33
Trang 13DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
ĐHCT: Đại học Cần Thơ
NXB: Nhà xuất bản
Trang 14MỞ ĐẦU
Hoa mai là một giống hoa quý chỉ ra hoa vào mỗi dịp Tết Nguyên Đán
Vì vậy, hoa mai được xem như là biểu tượng của ngày Tết cổ truyền miền Nam, giống như miền Bắc xem hoa đào là biểu tượng của ngày Tết Sắc vàng tươi thắm của hoa mai tượng trưng cho sự thịnh vượng và hạnh phúc Chính vì vậy mà việc trồng và kinh doanh mai kiểng ngày càng phát triển rộng rãi Nhiều người xem nghề này là một nghề truyền thống “cha truyền con nối”, những kinh nghiệm về nghề nghiệp được truyền từ đời này sang đời khác Nhiều địa phương cũng xem nghề này như làng nghề lâu đời của họ như làng mai Phước Định – Vĩnh Long và Cái Mơn – Bến Tre từ lâu đã là hai làng mai nổi tiếng của ĐBSCL Nhiều quận, ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh như Phú Nhuận, Gò Vấp, Thủ Đức, Củ Chi,…cũng là những vùng trồng hoa mai nổi tiếng khắp cả nước Song song với sự phát triển về diện tích thì tình hình dịch hại cũng ngày càng trở nên phổ biến trên cây mai Đặc biệt gần đây,
dịch hại sâu ăn lá Abrostola sp xuất hiện ở một số vùng trồng mai ở ĐBSCL
gây nhiều khó khăn cho bà con nông dân trong quá trình sản xuất Hầu hết
nông dân vẫn chưa am hiểu nhiều về khả năng gây hại của sâu ăn lá Abrostola
sp cũng như đặc điểm về hình thái và đặc điểm về sinh học của loài côn trùng nguy hại này Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào
về loài côn trùng này
Do đó đề tài: “Khảo sát một số đặc điểm hình thái, sinh học của sâu
ăn lá Abrostola sp gây hại trên cây mai vàng” được thực hiện nhằm tìm
hiểu một số đặc điểm hình thái và đặc điểm sinh học của sâu ăn lá để quản lí
và phòng trừ chúng một cách có hiệu quả trong thời gian tới
Trang 15CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Sơ lược về cây mai vàng
1.1.1 Nguồn gốc của cây mai vàng
Mai vàng có tên khoa học Ochna integerrima (Lour.) Merr còn gọi là Huỳnh Mai, thuộc họ lão mai Ochnaceae (Phạm Hoàng Hộ, 1999 và Trần
Hợp, 2002), là một loại hoa mai có màu vàng, khác với các loại hoa Mai mơ ở Trung Quốc hay nhắc đến trong thi ca cổ là có màu trắng Cây Mai có nguồn gốc hoang dại mọc nhiều ở rừng miền Nam, là cây gỗ đa niên, sống lâu hàng trăm năm (Huỳnh Văn Thới, 2002 và Nguyễn Văn Hai, 2007)
Trên thế giới có ít nhất là 50 loài mai vàng phân bố rải rác ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, song chủ yếu tập trung nhiều nhất ở Đông Nam Á
và Châu Phi (Trần Hợp, 2002) Ở Việt Nam, loài này phân bố nhiều nhất tại những khu rừng thuộc dãy Trường Sơn và các tỉnh từ Quảng Nam, Đà Nẵng cho tới Khánh Hòa Các vùng núi ở ĐBSCL cũng có nhiều loài hoa này, ở cao nguyên cũng có nhưng số lượng ít hơn.
Theo sự tích để lại, cây mai vàng bắt đầu được coi là hoa tết truyền thống
ở miền Nam từ thời chúa Nguyễn mở đất phương Nam, cách đây 300 năm Khi tết đến không có hoa đào như ngoài Bắc, chúa Nguyễn đã bảo quần thần lấy hoa mai vàng nở vào dịp tết làm hoa cúng tết (Phạm Văn Duệ, 2005)
1.1.2 Đặc điểm thực vật học cây mai vàng
Thân cây bụi gỗ nhỏ, cao 2 - 7 m, vỏ cây màu nâu vàng Lá đơn mọc đối, mặt trên nhẵn, mặt dưới thô, không có lông, dày, mép lá có răng cưa nhỏ, thuộc loại cây rụng lá và ra hoa đẹp vào cuối mùa đông đầu xuân Hoa có năm cánh đài màu xanh, năm đến tám cánh tràng hoa mỏng màu vàng có sáp, dễ rụng Hoa mai còn cất dầu thơm trị bỏng nước, uống trị ngứa, phơi khô trị ho suyễn Quả có chân cứng đen, bảy đến mười quả chụm quanh một đế hoa Cây mọc hoang ở rừng thưa, được trồng làm cảnh ở đất vườn đồng bằng Vỏ cây đắng, dùng làm thuốc kích thích tiêu hóa (Phạm Văn Duệ, 2005) Nếu trồng trong chậu kiểng mai có chiều cao khoảng 1 m, gốc lớn tối đa cũng chỉ bằng bắp tay nhưng nếu được trồng ngoài đất vườn thân có thể cao đến gần 4 m và gốc cũng có đường kính tới khoảng 20 – 30 cm (Phạm Văn Duệ, 2005)
Hoa mai thường mọc ra từ nách lá, lúc đầu hoa to, gọi là hoa cái, có vỏ lụa “vỏ trấu” bọc bên ngoài Khi vỏ lụa xòe ra thì xuất hiện một chùm hoa
Trang 16con, có từ một đến mười nụ, tăng trưởng rất nhanh, khoảng bảy ngày sau là
nở Trong chùm hoa này hoa to nở trước, hoa nhỏ nở sau, vài ngày mới nở hết Mỗi hoa bên ngoài có năm đài màu xanh, bên trong có năm cánh màu vàng, ở giữa là một chùm nhụy mang phấn màu vàng đậm hơn Hoa nở ba ngày thì tàn: ngày thứ nhất, năm cánh và chùm nhụy xòe thẳng ra rất đẹp, ngày thứ hai năm cánh cong lên và chùm nhụy chụm lại Qua đến ngày thứ ba năm cánh bắt đầu rơi xuống, hoa tàn Hoa nào đậu thì bầu noãn phình to lên và kết hạt, hạt non màu xanh, hạt già màu đen, hạt chín rụng xuống đất và mọc lên cây con Cây con vài năm sau mới ra hoa bói lần đầu tiên và cứ thế tiếp tục, mỗi năm ra hoa đúng vào mùa xuân Đó là chu trình của cây mai vàng (Huỳnh Văn Thới, 2002)
Mai có lá đơn mọc cách, kích thước lá thay đổi theo giống và điều kiện dinh dưỡng Khi cây còn non lá có màu đỏ nâu, khi trưởng thành lá có màu xanh có nhiệm vụ quang hợp, tổng hợp chất hữu cơ Phiến lá mỏng hình bầu dục, không lông, có 8 – 10 cặp gân phụ, bìa lá có gân thấp Lá mai mọc gần chụm đầu cành, khi già mặt lá bóng (Phạm Hoàng Hộ, 1999 và Trần Hợp, 2002)
Cây mai gieo hạt cho bộ rễ khỏe, có một rễ chính và nhiều rễ con (Huỳnh Hoàng Thắng, 2001) Cây mai có rễ khá dài cắm sâu vào lòng đất để giữ thế đứng cho cây Rễ có nhiệm vụ hấp thu chất khoáng và nước Rễ chính ăn sâu hơn giúp cây có khả năng chịu được khô hạn (Việt Chương và Phúc Quyên, 2006)
Cây mai rụng lá tự nhiên vào tháng 11 và ra hoa vào dịp tết, tuy nhiên có một chút sai lệch Biểu hiện nở hoa đúng tết là ngày 23 tháng chạp, các nụ mai tách vỏ trấu Để cho hoa mai nở đúng tết thì ở Nam Bộ thường tỉa lá mai vào
15 tháng chạp, và việc tỉa lá mai đã trở thành phong tục Tuy nhiên thời gian tỉa lá cũng căn cứ vào giống mai và thời tiết, độ lớn của nụ mai, vĩ tuyến nơi trồng mai Thao tác tỉa lá tránh xước vỏ cây, dừng tưới nước hai ngày cho khô nhựa (Phạm Văn Duệ, 2005)
1.1.3 Giống
Hiện nay các giống mai vàng chưa được phân biệt rõ ràng, thường các giống mai được phân biệt dựa vào nguồn gốc, màu sắc, kích thước và cấu trúc hoa (Huỳnh Văn Thới, 2002 và Đặng Phương Trâm, 2005)
Mai vàng được phân biệt ở màu sắc (vàng tươi, vàng sẫm, vàng nghệ, ), kích thước hoa, cấu trúc hoa (cánh đơn hay cánh kép, cánh tròn hay cánh nhọn, ) bao gồm các giống mai sau: mai Sẻ, mai Châu, mai cánh nhọn, mai cánh tròn, mai cánh nhún, mai Liễu, mai Giảo Thủ Đức, mai 12 Cánh Bến Tre,
Trang 17mai Huỳnh Tỷ, mai Gò Đen 48 cánh và các loại mai đột biến (Đặng Phương Trâm, 2005)
Theo khảo sát về giống mai của Huỳnh Văn Thới (2002) cho thấy, các giống mai vàng bao gồm:
Mai vàng thường
Mai vàng thường có năm cánh như mai Sẻ, mai Châu, mai Liễu, mai Chùm Gởi, mai thơm (mai Hương, mai Ngự), mai cánh nhọn, mai cánh tròn, mai cánh nhún, mai rừng Cà Ná, mai rừng Bình Châu, mai Vĩnh Hảo, mai lá Quắn, và mai Ba thật
Mai vàng nhiều cánh
Mai vàng nhiều cánh là tất cả các loại mai có nhiều hơn 5 cánh, nhưng đúng quy ước là lúc nào cũng phải ra nhiều cánh như vậy, chứ không phải lâu lâu, đột xuất mới ra một lần mai vàng nhiều cánh gồm có: mai vàng 9 cánh, mai Giảo 12 cánh Thủ Đức, mai 12 cánh Bến Tre, mai 12 cánh Bến Tranh, mai 12 – 14 cánh Tư Giỏi, mai 24 cánh Cửu Long, mai cúc 24 cánh Thủ Đức, mai 32 cánh Ba Bỉ, mai 24 cánh Huỳnh Tỷ, mai 24 cánh Chín Đợi, mai 48 cánh Gò Đen và mai 120 – 150 cánh Bến Tre
Mai vàng nhiều cánh đột biến
Đột biến bất thường là do thời tiết, do cách trồng, do nở trái mùa nên phát sinh nhiều hoa kỳ lạ, có khi có quá nhiều cánh, có khi có quá ít cánh Mai vàng đột biến nhiều cánh gồm: mai 14 – 15 cánh, mai 18 – 20 cánh, mai 36 –
40 cánh và mai 70 – 80 cánh
Ngoài ra người ta ưa chuộng hoa mai lớn và nhiều lớp cánh tròn khít nhau, vàng thắm và những cây mai đột biến về màu sắc như mai vàng viền đỏ, mai vàng lá trắng, Hồng Diệp Mai, và mai vàng đột biến hàng trăm cánh hoa cũng được đánh giá cao (Nguyễn Bảo Toàn và Nguyễn Thị Mai Anh, 2008)
1.1.4 Đặc tính sinh học tự nhiên của cây mai vàng
Nắm được đặc tính sinh học tự nhiên của mai sẽ giúp ích rất nhiều trong việc phát huy ưu điểm nổi bật của mai và có cách khắc phục một số hạn chế vốn có của nó để mau chóng thu được kết quả tốt nhất (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007)
Trang 18a Nhiệt độ
Thực tế cho thấy cây mai có thể sống được ở nhiều vùng khí hậu có nhiệt
độ khác nhau, dù là nơi nắng nóng trên 40oC hay những nơi tuyết phủ giá lạnh dưới 10oC (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007) Trong những trường hợp như vậy tuy là vẫn sống được nhưng đó là so sánh với những loại hoa kiểng khác vốn không có được sức dẻo dai như mai Còn nói chính xác hơn thì mai dù vẫn tồn tại nhưng đã giảm đi rất nhiều hoặc thậm chí không còn có thể phát triển được gì nữa (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007)
Thích hợp với mai nhất vẫn là những vùng đất có khí hậu nhiệt đới ấm
áp, đặc biệt khi được trồng ở miền Nam nước ta là nơi có nhiệt độ trung bình
từ 25 – 30o
C mới thật sự là môi trường lý tưởng nhất cho mai không ngừng phát triển, ra nhiều kiểu hoa đúng mùa và rất đẹp mắt (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007)
ít bị sâu bệnh phá hoại (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007)
Tuy có khả năng chịu nắng khá tốt như thế nhưng chúng ta cũng đừng nên trồng cây mai ở vùng đất quá khô cằn hoặc đang bị hạn hán kéo dài do ảnh hưởng của thời tiết Có thể mai vẫn trụ được một cách hết sức dẻo dai trong khi một số loại cây kiểng khác không thể sống được nhưng cây sẽ không thể phát triển tốt được, vì thế cần đảm bảo nguồn nước tưới dồi dào để cung cấp đầy đủ cho cây (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007)
c Lƣợng mƣa
Trồng mai ở những vùng có lượng mưa 1.500 – 2.000 mm là những nơi phù hợp nhất Thậm chí ở những nơi có lượng mưa nhiều hơn cũng không ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của mai (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007)
Chỉ cần sau những cơn mưa lớn, nước mưa có thể rút hết mà không ngập úng xung quanh thì cây vẫn tươi tốt như bình thường Nhưng nếu để đất trồng ngập nước ít ngày khiến bộ rễ mai bị ngâm nước dẫn đến úng thối thì cây sẽ nhanh chóng héo chết trong thời gian rất ngắn ngay sau đó Bên cạnh những
Trang 19ưu điểm về sức sống dẻo dai thì đây là một điểm yếu mà người chơi mai nên chú ý quan tâm (TrầnVăn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007)
e Đất đai
Do có sức sống dẻo dai khỏe mạnh nên mai vẫn có thể sống được trong môi trường đất sét, đất pha cát, đất lẫn đá sỏi hoặc một số loại đất nghèo nàn chất dinh dưỡng mà một số loại cây trồng khác khó có thể phát triển được Tuy sống khỏe là vậy, nhưng muốn cây mai phát triển thật tốt, ra hoa đẹp như
ý muốn thì tốt nhất là phải chú ý lựa chọn loại đất màu mỡ giàu chất dinh dưỡng nhất để trồng (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007)
Đất dự định trồng mai phải thật tơi xốp Đặc biệt nếu tận dụng lại những loại đất đã qua trồng trọt hoặc bỏ hoang lâu ngày hay đất rừng mới được khai phá phải hết sức kỹ lưỡng để cải tạo lại bằng cách cày xới thật kỹ ít nhất là hai lần, không những thế còn phải thu gom hết các gốc rễ tạp chất lẫn trong đất, ngoài ra còn phải phơi nắng nhiều tháng để những mầm móng sâu bệnh bị diệt trừ hết mới có thể lên liếp khai thông mương rãnh bắt đầu trồng mai được Ngay cả khi chọn được chỗ đất tốt để trồng mai cũng cần lưu ý địa thế chỗ đất
đó, nếu như rơi đúng vào chỗ thấp trũng, mỗi lần mưa xuống lại bị ngập úng thì chỉ cần sau hai ngày cây mai sẽ bị vàng lá và chết do bộ rễ bị thúi Để khắc phục tình trạng này nên lên liếp trước rồi mới trồng mai xuống Ngoài ra cũng cần đào thêm một số mương rãnh thoát nước ở xung quanh để đề phòng trường hợp mưa quá to hoặc ngập lụt bất ngờ cũng giữ được cây mai khỏi bị ảnh hưởng đáng tiếc (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007)
f Tưới nước
Nước rất quan trọng đối với cây mai nên nguồn nước phải sạch, không bị
ô nhiễm và không chứa nhiều kim loại nặng (Thái Văn Thiện, 2008), nguồn nước tưới phải đảm bảo độ pH thay đổi trong khoảng 5,5 – 6,5 để dễ hòa tan phân bón (Nguyễn Văn Hai, 2007)
Trang 20Mỗi vùng có chế độ mưa nắng khác nhau, độ ẩm khác nhau cho nên cần phải thay đổi chế độ tưới linh hoạt sao cho phù hợp với từng môi trường cụ thể (Thái Văn Thiện, 2008), nguyên tắc tưới là giữ cho gốc mai có độ ẩm trong suốt năm (Đặng Phương Trâm, 2005)
Ngoài việc tưới gốc, ta cũng nên tưới lên lá để rửa bụi bặm giúp lá quang hợp tốt hơn Đồng thời làm giảm mầm móng dịch hại, nấm mốc và nhện đỏ (Nguyễn Văn Hai, 2007)
g Tỉa cành tạo tán
Cây mai sau ngày tết, qua một thời gian bón phân, tưới nước đầy đủ càng
có thêm cơ hội phát triển nhanh chóng Những cành nhánh cũ sẽ dài thêm, còn những tược non, chồi non cũng xuất hiện rất nhiều khiến cho tán lá ngày càng trở nên rậm rạp, khó nhìn ra những đường nét hài hòa, cân đối cũ Chính vì vậy mà việc cắt tỉa tán lá để cây mai trở lại đúng bản chất của một cây kiểng quý là một điều cần thiết Việc tái tạo lại tán cây cho mai kiểng vốn đã được các nghệ nhân uốn tỉa tạo thế trước đây không phải là một việc quá khó hoặc đòi hỏi phải thật trình độ, hay có nhiều kinh nghiệm (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007)
Mục tiêu quan trọng của việc cắt tỉa là các cành dài cần phải được bỏ đi hoặc cắt còn một đoạn ngắn và những cánh ngắn hơn mới phát triển cần được giữ lại Chỉnh hình tạo tán để dễ dàng chăm sóc và điều khiển cây, có tác dụng giúp cho thân cành phát triển hợp lý, tận dụng được không gian, tăng cường sự đồng hóa của các chất bên trong cây do rút ngắn khoảng cách giữa thân, cành
và rễ Việc tạo cành cần làm sớm khi cây còn nhỏ (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004), việc cành lá sinh trưởng quá yếu, khả năng đồng hóa sẽ kém, ngược lại cành lá sinh trưởng quá mạnh, thời gian sinh trưởng kéo dài, tiêu hao nhiều dinh dưỡng cho phần non trên cành, do đó việc phân hóa mầm hoa gặp nhiều khó khăn, bởi vậy những cành lá phát triển với một mức độ vừa
phải là tốt nhất (Trần Thế Tục và ctv., 1998)
h Bón phân
Cây mai trồng dưới đất trong tự nhiên yêu cầu về phân bón không cao, vì
bộ rễ của nó có thể tự vươn xa để tìm nguồn dinh dưỡng cho cây (Thái Văn Thiện, 2008), việc bổ sung thêm phân bón sẽ cải thiện được các khiếm khuyết như: ít hoa, hoa nhỏ, dễ rụng (Huỳnh Hoàng Thắng, 2001) Ngược lại, cây mai trồng trong chậu, nhu cầu phân bón cho cây là vấn đề quan trọng Mai là cây
đa niên, khác hẳn cây ngắn ngày, do đó cần cung cấp nguồn dinh dưỡng thật đúng và hợp lý mới có thể giúp cho cây sống bền với thời gian (Thái Văn Thiện, 2008)
Trang 21Theo Huỳnh Văn Thới (2006) thì ở giai đoạn phục hồi và phát triển, cây mai tăng trưởng ra chồi nên lá cần thêm phân, có thể dùng phân: NPK 30 – 10 – 10 (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007) Còn ở giai đoạn làm nụ,
để kích thích cho cây ra hoa nhiều thì nên tăng hàm lượng P và K cao hơn, có thể dùng phân: NPK 10 – 30 – 30 (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007)
Theo Thái Văn Thiện (2008), đối với cây mai có ba giai đoạn phát triển
cụ thể như sau: giai đoạn phục hồi và phát triển (từ tháng 2 đến tháng 5 âm lịch), giai đoạn làm nụ (từ tháng 6 đến tháng 9 âm lịch), giai đoạn làm bông tết (từ tháng 10 âm lịch trở đi) Và cách bón phân cho từng giai đoạn được thể hiện chi tiết như sau:
Bảng 1.1: Lịch bón phân cho cây mai vàng theo Nguyễn Văn Hai, 2007
b Bánh dầu + Lân hữu cơ sinh học (Sông Gianh)
c Phân chuồng (đã ủ hoai)
Tùy theo điều kiện mà có thể sử dụng một trong ba dạng trên Nếu phối hợp dạng khác thì N phải cao hơn P, K, vì giai đoạn này cây mai cần phát triển cành lá Nếu có sử dụng phân hóa học thì ít thôi
Từ tháng 6 đến
tháng 9 âm
lịch
Lân sinh học (Sông Gianh) + Dynamic
Đây là giai đoạn mai bắt đầu có nụ nên Dynamic phải ít hơn Sông Gianh
1.2 Thành phần loài côn trùng gây hại trên cây mai vàng
Do chưa có vùng trồng mai đại trà nên các nghiên cứu về sâu bệnh trên mai chưa nhiều Thông thường mai bị các loại sâu chủ yếu là sâu ăn lá, nhện
đỏ và quan trọng nhất là bọ trĩ Frankliniella sp gây hại trên đọt và lá non
(Đặng Phương Trâm, 2005)
Trang 22Thành phần loài côn trùng gây hại trên cây mai vàng bao gồm: sâu đục thân, sâu tơ, ong cắt lá, rầy đen, rầy bông (Huỳnh Văn Thới, 2002) Theo Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh (2007) thì thành phần loài côn trùng gây hại trên cây mai vàng gồm có bọ trĩ, nhện đỏ, rầy bông, sâu đục thân, sâu nái, sâu tơ
Theo Việt Chương và Phúc Quyên (2006) thì những loài côn trùng gây hại trên mai bao gồm bọ trĩ, nhện đỏ, sâu đục thân, sâu nái
1.2.1 Đặc điểm một số loài gây hại phổ biến
1.2.1.1 Bọ trĩ Scirtothrips dorsalis Hood (Thysanoptera: Thripidae)
Sự phân bố
Pakitan, Nhật Bản, các quần đảo Solomon, Australia, Ấn độ, Bangladesh, Brunei, Daussalam, Trung Quốc, Indonesia, Đại hàn, Malaysia, Myanmar, Philippines, Sri Lanka, Thái Lan, Châu Phi, Hoa kỳ, Papua New
Guinea, Việt Nam (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) Theo Hodges et al (2005) thì
loài này còn phân bố ở Jamaica, Đài Loan, Hawaii, Tobago và Trinidad, Barbados, Venezuela, Indonesia
Ký chủ
Ớt, trinh nữ, đậu phộng, sen, cam, đậu, cây hoa hồng, xoài, trà, nho, điều, hành, dâu, cao su, bông vãi, keo và một số loại cỏ (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
Theo Hodges et al (2005) thì Scirtothrips dorsalis Hood tấn công trên
100 loài ký chủ thuộc 40 họ cây trồng khác nhau như măng tây, đào lộn hột, trà, cây có múi, thược dược, dâu tây, đậu nành, xoài, cà chua, chuối, sen, cây hoa hồng, cà tím, me, ca cao, nho
Trang 23 Đặc điểm sinh học
Sau khi vũ hóa khoảng 3 ngày thì con cái bắt đầu đẻ trứng, số lượng trứng đẻ khoảng 20 – 25 trứng Trứng thường được đẻ trong mô lá non, trái non hoặc trong cành non Chu kỳ sinh trưởng 13 – 20 ngày, giai đoạn nhộng 3 – 4 ngày Sau khi hoàn thành giai đoạn tuổi 2, một số ấu trùng sẽ rơi xuống đất
để hóa nhộng, một số khác hóa nhộng trong các khe nứt của cây hoặc trong các lá cuốn lại (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
mảng lớn biến màu Bọ trĩ S dorsalis gây hại cả trong mùa nắng lẫn mùa mưa
nhưng mật số thường rất cao vào mùa nắng nóng (Nguyễn Thị Thu Cúc và Trần Thị Thu Thủy, 2014)
Một số biện pháp phòng trị
Kỹ thuật canh tác: Sử dụng biện pháp phun nước lên cây có thể hạn chế
mật số bọ trĩ
Biện pháp sinh học: Bọ trĩ Franklinothrips megalops, Scolothrips
indicus và Erythrothrips asiaticus là thiên địch phổ biến của S dorsalis, ngoài
ra còn có loài Geocoris ochropterus cũng được ghi nhận là thiên địch quan trọng của S dorsalis
Biện pháp hóa học: Mặc dù không phải là một biện pháp lý tưởng
nhưng cho đến nay biện pháp hóa học vẫn là biện pháp được áp dụng phổ biến
để phòng bọ trĩ Nhiều loại thuốc có hiệu quả cao đối với bọ trĩ, có thể sử dụng các loại thuốc sâu phổ biến như Comite, Carsulfan, Phosalone, Benfuracarb, Prothiophos, Confidor, Regent, Trebon, Cypermethrin, Disulfoton, Sagolex… Tuy nhiên cũng giống nhện gây hại, bọ trĩ cũng có thể lờn thuốc nhanh vì vậy cần luân phiên sử dụng các thuốc có gốc hóa học khác nhau (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
Trang 24Chu kỳ phát triển của nhện gồm có trứng, ấu trùng các tuổi và trưởng thành, giai đoạn nhện non tuổi 1 có 3 đôi chân, sau đó đến giai đoạn tiền trưởng thành có 4 đôi chân Giai đoạn nhện non có 3 tuổi (tuổi 1: Larva, tuổi 2: Protonymph, tuổi 3: Deutonymph) Qua mỗi tuổi, nhện lột xác một lần
giống như các loài côn trùng khác (Jeppson et al., 1975)
Theo Zhi – Qiang et al (2002) thì hầu hết những loại nhện thuộc họ nhện
đỏ Tetranychidae là những đối tượng gây hại quan trọng trong nông nghiệp và lâm nghiệp Chúng hiện diện trên nhiều loại cây ăn trái, rau quả và trên hoa
kiểng Nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae Koch là một trong những đối
tượng gây hại trên nhiều loại cây ăn trái và hoa cảnh phân bố ở nhiều nơi trên
thế giới Tetranychus urticae Koch có khoảng 1200 cây trồng ký chủ thuộc 70
giống
Theo Zhi – Qiang et al (2002), thành trùng và ấu trùng nhện đỏ chủ yếu
gây hại dưới mặt lá, trong quá trình gây hại nhện tạo ra lớp mạng nhện mỏng, vết cạp và chích hút của nhện làm cho lá có những chấm li ti vàng, bắt đầu từ bên dưới mặt lá sau đó lan dần hết cả lá Nếu bị nặng lá sẽ ngã vàng sau đó héo đi và có thể rụng, dễ dàng thấy xác nhện màu trắng rất nhiều bên dưới lá
Sự gây hại của nhện trước hết là tạo vết thương do kim chích vào mô cây, độ lớn và độ dài của kim sẽ quyết định các vết thương Tuy nhiên so với các loại dịch hại khác, vết thương cơ giới do nhện hại tạo nên không quá lớn
và nhiều khi những vết thương đơn lẻ có ý nghĩa Trong khi tiêu hóa, nhện thường đưa các men tiêu hóa, các chất có tính độc hoặc kích thích sự phát triển của mô cây làm chỗ bị hại phát triển không bình thường, một số loại nhện còn truyền các bệnh virus, nấm nguy hiểm cho cây (Nguyễn Văn Đỉnh, 2004)
Tác hại dễ nhận thấy do nhện gây nên thường là làm mất màu lá, quả và cây: đây là hiện tượng phổ biến nhất Đa số các loại nhện nhỏ hại khi hút dịch trên cây tạo nên các vết chấm nhỏ li ti, ban đầu những vết nhỏ có màu vàng, khi mật độ quần thể nhện hại tăng, nhiều vết chấm gộp lại với nhau tạo nên một diện tích lá hoặc quả mất màu xanh đặc trưng Những diện tích có các tế bào đã chết không phục hồi được mà các hoạt động sinh lý sinh hóa tiếp tục xấu đi, màu sắc tiếp tục biến vàng (Nguyễn Văn Đỉnh, 2004)
1.2.1.3 Nhện đỏ Tenuipalpus pacificus Baker (Acari: Tenuipalpidae)
Kết quả nghiên cứu của Baker and Bambara (1994) về nhóm nhện gây hại thuộc họ Tenuipalpidae (Acari) ghi nhận có khoảng gần 10 loài khác nhau gây hại trên rất nhiều đối tượng cây trồng từ cây cảnh, cây ăn trái, rau cải… Tuy nhiên đa số trong chúng gây hại trên họ Phong Lan (Orchidaceae), những
Trang 25loại gây hại quan trọng ghi nhận được ở Mỹ gồm có: Tenuipalpus orchidarum,
Tenuipalpus pacificus, Tenuipalpus orchidofilo, Brevipalpus oncidi Một số
loại khác như: Brevipalpus inornatus gây hại quan trọng trên cây cảnh than gỗ
ở Đông Bắc Mỹ, loài Brevipalpus phoenicis gây hại đặc biệt nghiêm trọng
trong điều kiện trồng ở nhà kính trên các đối tượng thuộc nhóm citrus… Họ Tenuipalpus (Acari) được phát hiện ở khắp Bắc Mỹ, một phần Châu Âu, Đông Nam Á và Australia
Nhện đỏ Tenuipalpus pacificus (Baker) (họ Tenuipalpidae) gây hại phổ
biến trên cây hoa lan được trồng trong điều kiện nhà kính ở Florida Được biết loài này cũng hiện diện và gây hại ở Australia, Brazil, Anh, Đức, Hà Lan, Philippin, Panma, Hoa kỳ… Loại này không giăng tơ như các loại nhện gây hại khác Đây là loại gây hại trên lan ở vùng nhiệt đới và có thể trở thành dịch hại của nhóm Dương Xỉ (Filicinae) Vòng đời của chúng thường khoảng 2 tháng và phụ thuộc rất nhiều vào nhiệt độ Nhện trưởng thành có màu từ vàng cam đến đỏ, kích thước chỉ gần 0,3 mm
1.2.1.4 Sâu đục thân Zeuzera coffeae Nietner (Lepidoptera: Cossidae)
Theo CAB Abstracts (2006), thì đây là một loại đa ký chủ, gây hại trên
cà phê, trà, gỗ tết, mahogany, sandalwood Loài này hiện diện tại nhiều nơi trên thế giới như: Bangladesh, Burma, Cambodia, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia, Philippines, Sri Lanka, Đài Loan, Thái Lan, Việt Nam, Australia, Papua và New Guinea, Irian Jaya
Zeuzera coffeae được ghi nhận trên cây Clausena lansium ở tỉnh Quảng
Đông, Trung Quốc Ấu trùng gây hại ở mức độ trung bình là 6% cây trồng, tối
đa có khi lên đến 31% số cây hiện diện Loài này có một thế hệ trong năm, tổng thời gian phát triển của một thế hệ là 358,6 ngày, trong đó giai đoạn ấu trùng chiếm 204 ngày con cái có tuổi thọ là 16,5 ngày, trong khi con đực có
tuổi thọ là 17,3 ngày (Feng RongYang et al., 2006)
Sâu ăn phá bên trong thân và cành, ăn phần gỗ tạo thành đường hầm trong thân cây Phần thân hoặc cành phía trên chỗ bị đục sẽ bị chết khô do không được cung cấp nước và dinh dưỡng Khi hết thức ăn, ấu trùng sẽ tấn công sang các nhánh cây khác Để có thể xâm nhập vào cây, ấu trùng tuổi 1 sẽ tiết tơ và dùng vỏ cây để tạo thành một cái bọc bảo vệ sau đó sẽ đục vào bên trong cành thân cây, thải phân ra bên ngoài (Nguyễn Thị Thu Cúc và Trần Thị Thu Thủy, 2014)
Trang 261.2.1.5 Sâu bao bộ Lepidoptera – họ Psychidae
Theo Rhainds et al (2009), sâu “bao” họ Psychidae có khoảng 1000 loài
thuộc 300 giống khắp nơi trên thế giới Việc hiểu được những đặc điểm sinh thái sinh học của họ Psychidae là một vấn đề quan trọng trong việc phòng trừ bởi vì có nhiều loài là những dịch hại quan trọng, đặc biệt là vùng nhiệt đới Được gọi là sâu” bao” do trong quá trình sinh trưởng gây hại sâu tạo và sống trong một cái bao Sâu tiết tơ kết những chất dư thừa thực vật như cành nhỏ, lá khô… thành một cái “bao” và sinh sống trong “bao”, ấu trùng vừa nở
ra là bắt đầu tạo “bao” và ẩn trong bao trong suốt giai đoạn ấu trùng, trong quá trình sống và phát triển, ấu trùng thò đầu ra ngoài để di chuyển và ăn phá Khi
đã phát triển đầy đủ, ấu trùng kết dính bao tại một vị trí trên lá, cành non và hóa nhộng trong “bao” (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
Họ Psychidae là một trong 5 họ hình thành nên tổng họ Tineidae Thành trùng là loại ngài có kích thước nhỏ đến trung bình, chiều dài sải cánh 4 – 28
mm Thành trùng đực có cánh phát triển đầy đủ, thành trùng cái có sự đa dạng
về hình thái từ có cánh, cánh ngắn, không cánh Trứng có hình trụ, trơn láng, thời gian ủ trứng khoảng 1 tháng trừ những trường hợp những loài có trường hợp qua đông thì dài hơn Ấu trùng tuổi 1 nở rất đồng loạt Khi mới nở, ấu trùng có thể ăn phần còn lại của vỏ trứng, xác của thành trùng cái Thời gian
ấu trùng sống trong bao của thành trùng cái tối đa là 5 ngày sau đó sẽ phát tán
ra ngoài thông qua sợi tơ từ phía dưới bao Có nhiều yếu tố giúp ấu trùng phát tán như thời tiết, ánh sáng, con người và đặc biệt là gió Ấu trùng sau khi ra khỏi cơ thể mẹ sẽ tạo cho mình một cái “túi” (“bao”) có thể đóng mở trước khi tìm thức ăn, nguyên liệu để tạo nên túi là lá cây, xác bã hữu cơ “Bao” có chiều dài 1 – 2 mm có hình nón, hở hai đầu Đầu và chân ngực của ấu trùng sẽ thò ra bên ngoài để ăn ở phía trước, phái sau dùng để thải phân và các chất
thải (Rhainds et al., 2009)
Sâu bao gây hại trên nhiều loại cây trồng như cọ dừa, ca cao, trà, cà phê, cây canh-ki-na, chuối… (Kalshoven, 1981) Hầu hết các loại sâu bao gây hại
đều là các loại đa ký chủ gây hại trên nhiều loại cây khác nhau như Oiketicus
kirbyi có 40 ký chủ, Mahasena corbetti có 25 ký chủ, Pteroma plagiophleps
có 22 ký chủ, Pteroma pendula có 19 ký chủ, Metisa plana có 7 ký chủ… (Rhainds et al., 2009)
Metisa plana Walker và Cremastopsyche pendula Joannis là hai loài gây
hại rất quan trọng trên cọ dừa ở Malaysia Mặc dù ấu trùng khá nhỏ khoảng 12
mm, nhưng hai loài này có thể gây thiệt hại bộ lá lên đến 40% Thành trùng
cái của Metisa plana có thể để 100 – 300 trứng (Rhainds et al., 2009)
Trang 27Mặc dù được bảo vệ bên trong một cái túi (bao) nhưng những loài sâu
bao này cũng thường bị tấn công bởi nhiều loài ký sinh chủ yếu là Nealsomyia
rufella (Bezzi) và Exorista psychidarum (Bar) (Kalshoven, 1981)
Một số đặc điểm của Pteroma plagiophleps Hampson
(Tamarindus indica) và cây lựu (Punica granatum) ở Ấn Độ, phân bố tại Ấn
Độ, Indonesia, Bangledesh, Philippines, Malaysia và Thái Lan
- Một số đặc điểm
Theo Nair (2007), con đực có chiều dài sải cánh từ 14 – 16 mm, màu hơi nâu, rất hoạt động Con cái không có cánh hoặc cánh bị thoái hóa, nằm trong bao nhộng Sâu có thể dài khoảng 9 – 10 mm
Mỗi con cái đẻ khoảng 100 – 200 ấu trùng và ấu trùng được phát tán bởi gió Ấu trùng mới nở sẽ tìm ký chủ và xây nên vỏ bao cho chính nó trong khoảng một giờ Ấu trùng ăn chủ yếu là bộ lá của cây, những ấu trùng lớn có thể ăn cả vỏ của thân cây
Cách gây hại của loài này là ăn phần lá và cả vỏ cây Khi mật số cao có thể tìm thấy hàng trăm con trên cây, chúng làm cho lá khô và rụng đi
- Thiên địch
Loài này trong tự nhiên có rất nhiều thiên địch Theo Nair (2007), có tổng cộng 18 loài ong ký sinh thuộc bộ Hymenoptera đã được tìm thấy thuộc các họ như Braconidae, Chalcididae, Eulophidae, Eurytomidae và Ichneumonidae
- Phòng trừ
Phun thuốc trực tiếp lên lá để diệt sâu Kết quả nghiên cứu của Varma et
al (1989) cho thấy hai loại thuốc có hiệu quả cao bằng cách phun lên lá trong
điều kiện phòng thí nghiệm là 0,05% a.i quinalphos và methyl parathion
1.2.1.6 Sâu nái Parasa sp (Lepidoptera: Limacodidae)
Sâu nái Parasa sp., thuộc họ Limacodidae, bộ cánh vảy (Lepidoptera)
Họ Limacodidae gồm rất nhiều loài gây hại trên hàng trăm loại ký chủ Sâu nái còn được gọi là Bọ nẹt Sâu nái có đặc tính gây ngứa và nóng rát và giống
Trang 28như bị châm đốt khi chạm phải vì sâu có các lông nhọn dễ gãy, nơi gãy tiết ra chất độc dị ứng với da (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004)
Theo Kalshoven (1981), loài Parasa lepida Cramer là loài ăn tạp, chủ yếu tấn công trên lá cây Parasa lepida hiện diện và gây hại trên nhiều loài
cây trồng như chuối, dừa, cà phê, cacao, trà, xoài và các loại cau kiểng, ấu trùng có thể di cư đến khoảng cách xa hơn để tìm thức ăn Nguyễn Văn Huỳnh
và Lê Thị Sen (2004) cho biết đã phát hiện được loài Parasa lepida Cramer
gây hại trên cây xoài mặc dù vậy thiệt hại thường không đáng kể, chỉ làm giảm sức tăng trưởng của cây
Theo ghi nhận của Lê Văn Bình và Phạm Quang Thu (2008) thì loài
Parasa sp., gây hại trên cây điều, mặc dù gây hại không đáng kể nhưng loại
sâu hại này có mặt trên nhiều loài cây trồng quan trọng
1.2.1.7 Rệp sáp mũ Ceroplastes rusci Linnaeus (Homoptera: Coccidae)
Rệp sáp mềm hình mũ có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Châu Phi, sau đó chúng được mở rộng phạm vi lãnh thổ trong đó có nguyên nhân do con người Ngày nay chúng phân bố rộng ở Algeria, Cyprus, Ai Cập, Hi Lạp, Lebanon, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ… (Ben – Dov Y, 1993)
Tại Bồ Đào Nha, loài rệp sáp hình mũ Ceroplastes rusci có thời gian ấu
trùng kéo dài 3 – 4 tuần và trải qua 3 tuổi Thành trùng cái đẻ khoảng 750 –
900 trứng Rệp sáp hình mũ hoàn thành 1 – 2 thế hệ/năm Lúc đầu định cư trên gân lá, sau khoảng một tháng thì di chuyển lên cành Loài này qua đông vào giai đoạn tuổi 2 trên cành Tại Israel, vào mùa xuân, trứng nở, ấu trùng sống trên lá, sang tuổi 2 ấu trùng di chuyển đến sống ở cuống lá hay cành mới, trưởng thành vào mùa hè và một thế hệ mới được tiếp tục Ấu trùng tuổi lớn của loài này xuất hiện vào cuối thu và qua đông trên cành Rệp sáp hình mũ chích hút nhựa từ lá và cành, có thể làm chết cành Chất bài tiết có vị ngọt, thu hút kiến cộng sinh, là môi trường cho nấm bồ hóng phát triển và từ đó cản trở quang hợp của cây, làm suy yếu cây (Ben – Dov Y, 1993)
Ấu trùng thường tập trung ở các gân lá, một số ít bám ở ngoài và mặt dưới của lá Sau khi đã tìm được vị trí thích hợp, rệp sáp mũ ít di động và gần như nằm yên một chỗ Sau lần lột xác thứ hai, rệp sáp mũ di chuyển đến các chan cây định cư ở đó để gây hại và sinh sản Trong quá trình sinh sống và phát triển, rệp sáp mũ tiết rất nhiều dịch mật, tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển đầy mặt lá và cành non, nơi rệp sáp mũ sinh sống và phát triển Khi mật số rệp cao, cây sẽ bị chết nhánh (Nguyễn Thị Thu Cúc và Trần Thị Thu Thủy, 2014)
Trang 29Theo Vu Thi Nga and et al (2006) thì loài rệp sáp hình mũ có thời gian
phát triển khá dài Thời gian trung bình của tuổi 1 là 20,6 ngày, tuổi 2 là 17,7 ngày, tuổi 3 là 29,7 ngày, thời gian sau tuổi 3 đến đẻ trứng là 22,2 ngày, vòng đời trung bình là 90 ngày Rệp sáp hình mũ có khả năng sinh sản cao, một con cái có thể đẻ được 1134 trứng (915 – 1368) Thực tế ngoài đồng ruộng cho thấy loài rệp này có 4 lứa trong năm và phát dục khá đồng đều trong cùng 1 vườn, đây là loài sâu hại có tính quần thể khá đặc biệt
1.2.1.8 Sâu xếp lá Archips micaceana Walker (Lepidoptera: Tortricidae)
Đặc điểm hình thái và sinh học
Thuộc nhóm sâu cuốn lá Tortricidae, có sự khác biệt về hình thái bên ngoài rất rõ nét về con đực và con cái, con cái có kích thước lớn hơn con đực nhưng con đực lại có màu sắc rực rỡ hơn con cái Con cái có chiều dài sải cánh 23 – 24 mm, chiều dài thân 9 – 10 mm Cơ thể màu vàng nâu, cánh trước
có màu nâu vàng, ngay sát rìa cánh trước gần về phía đuôi cánh có một đốm nâu dẹp dài khoảng 3 mm Cánh sau có màu vàng rơm, trên rìa trước của cánh sau gần sát gốc cánh có một vết màu đen Con đực có chiều dài sải cánh 19 –
20 mm, chiều dài thân 8 – 8,5 mm Cánh trước có pha nhiều vết vàng, nâu, đen rực rỡ Rìa ngoài của cánh có màu sáng hơn phía trong cánh Cánh sau màu vàng rơm (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
Ấu trùng phát triển đầy đủ có cơ thể màu xanh, trong suốt, đầu màu đen (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) Theo Nguyễn Thị Tường Vân (2005) thì giai đoạn ấu trùng trải qua 6 tuổi, ấu trùng mới nở có màu vàng nhạt, đầu đen bóng Kích thước thân trung bình của ấu trùng mới nở 1,3 ± 0,04 mm x 0,2
mm Ở tuổi cuối, ấu trùng có cơ thể màu xanh, đầu nâu đỏ, kích thước thân trung bình của ấu trùng tuổi cuối 15,6 ± 0,4 mm x 2,1 ± 0,05 mm Lúc mới hóa nhộng phần bụng có màu vàng tươi, phần đầu ngực và mầm cánh có màu xanh đọt chuối, sau dần chuyển sang màu nâu bắt đầu từ phần bụng Trước khi
vũ hóa, nhộng có màu đen, nhộng cái thường lớn hơn nhộng đực, kích thước nhộng cái là 10,7 ± 0,2 mm x 3 ± 0,04 mm, kích thước nhộng đực 9,7 ± 0,03
mm x 2,8 ± 0,04 mm Thời gian nhộng kéo dài 5 – 7 ngày
Sự gây hại
Hiện diện phổ biến trong những vườn ổi tơ, ít được chăm sóc Tại ĐBSCL, sâu được ghi nhận suốt năm nhưng phổ biến vào các tháng đầu mùa mưa Sâu gây hại bằng cách nhả tơ xếp lá lại và ăn phá bên trong Các lá bị xếp có thể có nhiều lá hoặc chỉ một lá đến hai lá xếp lại với nhau, khi mật số cao sâu có thể ăn rụi lá (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) Theo Nguyễn Thị Tường Vân (2005) loài này còn gây hại khá nghiêm trọng trên cây đậu phộng
Trang 30Khi phát triển đầy đủ, sâu non dài khoảng 12 mm, màu hồng, đầu có màu đen, khi sắp hóa nhộng, cơ thể sâu có màu vàng nhạt, đầu có màu hơi nâu (Nguyễn Thị Thu Cúc và Trần Thị Thu Thủy, 2014)
Thành trùng cái có kích thước to hơn thành trùng đực với chiều dài sải cánh khoảng 11 mm, chiều dài thân 6 mm, râu hình sợi chỉ nhỏ, ngắn, cánh màu nâu đen, cánh sau mỏng hơn, gốc trên của cánh trước có một chấm màu trắng nhỏ (Nguyễn Thị Thu Cúc và Trần Thị Thu Thủy, 2014)
Đặc điểm sinh học
Giai đoạn sâu non và nhộng kéo dài lần lượt là 4 – 5 ngày và 8 – 9 ngày Vòng đời trung bình là 19,3 ngày Thành trùng bắt cặp vào lúc sáng sớm, con cái đẻ khoảng 200 trứng Sâu dùng phân và tơ bao kín nhộng lại trước khi hóa nhộng bên trong hoa (Nguyễn Thị Thu Cúc và Trần Thị Thu Thủy, 2014)
Sự gây hại và triệu chứng
Gây hại quan trọng trên cây hoa mai Ngay sau khi nở, sâu chui ngay vào bên trong nụ hoa để ăn phá Mức độ thiệt hại nặng hay nhẹ tùy thuộc vào thời điểm xâm nhập của sâu Khi cây mai mới ra nụ mà đã bị sâu tấn công thì mức
độ thiệt hại sẽ rất cao Sâu chui vào bên trong ăn phần nhụy hoa, thải phân ngay bên trong hoa nên rất khó phát hiện (Nguyễn Thị Thu Cúc và Trần Thị Thu Thủy, 2014)
Gây hại đặc biệt quan trọng vào lúc cây mai ra nụ, khoảng tháng 12 – 3
âm lịch (Nguyễn Thị Thu Cúc và Trần Thị Thu Thủy, 2014)
1.2.2 Một số loài sâu hại chi Abrostola
Qua nhiều thời gian nghiên cứu, các nhà khoa học đã tìm ra một số loài sâu hại thuộc chi Abrostola sau:
Trang 31 Abrostola abrostolina (Butler, 1879): là một loài ngài đêm thuộc họ
Noctuidae Loài này có ở Nhật Bản và Hàn Quốc Sải cánh dài 25 – 27
mm
Abrostola agnorista (Dufay, 1956): là một loài ngài đêm thuộc họ
Noctuidae Nó được tìm thấy ở Romania, Yugoslavia, Albania, Bulgaria,
Hy Lạp, Ý, Pháp và Hungary Sải cánh dài 24 – 32 mm Thành trùng hoạt động từ tháng 5 đến tháng 9 có hai thế hệ tùy theo địa điểm, ấu trùng ăn
các loài Parietaria officinalis và Urtica là thực vật có hoa thuộc họ Tầm
ma
Abrostola anophioides (Moore, 1882): là một loài ngài đêm thuộc họ
Noctuidae Nó được tìm thấy ở Đông Nam Châu Á, bao gồm Đài Loan
Abrostola asclepiadis (Denis và Schiffermuller, 1775): là một loài ngài
đêm thuộc họ Noctuidae Nó được tìm thấy ở miền Nam và miền Trung Châu Âu, nằm về phía Bắc Phần Lan, Thụy Điển, Tiểu Á và Kavkaz Sải cánh dài 30 – 40 mm, thành trùng hoạt động từ tháng 6 đến tháng 8 tùy theo địa điểm, ấu trùng ăn Vincetoxicum hirundinaria là thực vật lâu năm
thuộc họ Dừa cạn
Abrostola bettoni (Dufay, 1958): là một loài ngài đêm thuộc họ
Noctuidae Nó được tìm thấy ở Kenya thuộc miền Đông Châu Phi
Abrostola brevipennis (Dufay, 1958): là một loài ngài đêm thuộc họ
Noctuidae Nó được tìm thấy ở Kenya thuộc miền Đông Châu Phi
Abrostola canariensis (Hampson, 1913): là một loài ngài đêm thuộc họ
Noctuidae Nó là loài đặc trưng của quần đảo Canaria
Hình 1.1 Ấu trùng và thành trùng Abrostola asclepiadis
Hình 1.2 Thành trùng Abrostola canariensis
Trang 32 Abrostola clarissa (Staudinger, 1900): là một loài ngài đêm thuộc họ
Noctuidae Loài này phân bố từ Thổ Nhĩ Kỳ tới Tây Nam Iran, vùng Kavkaz và miền Bắc Iraq Thành trùng hoạt động từ tháng 5 đến tháng 6
Abrostola ovalis (Guenée, 1852): là một loài ngài đêm thuộc họ
Noctuidae Nó được tìm thấy ở Đông Bắc Bắc Mỹ từ phía Nam Quebec và Maine đến phía Bắc Carolina và phía Tây Wisconsin Sải cánh dài khoảng
30 mm, thành trùng hoạt động từ tháng 5 đến tháng 8 có một thế hệ một
năm, ấu trùng ăn Urtica dioica và các loài tầm ma khác
Abrostola tripartita (Hufnagel, 1766): là một loài ngài đêm thuộc họ
Noctuidae Nó được tìm thấy ở Châu Âu và Xibia Ấu trùng ăn các loài
Hình 1.3 Ấu trùng, nhộng và thành trùng Abrostola tripartite
Hình 1.4 Ấu trùng và thành trùng Abrostola triplasia
Hình 1.5 Thành trùng Abrostola triopis