TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT NGUYỄN THỊ DIỄM QUỲNH MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC VÀ TRIỆU CHỨNG GÂY HẠI CỦA BỌ VÒI VOI DIO
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
NGUYỄN THỊ DIỄM QUỲNH
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC
VÀ TRIỆU CHỨNG GÂY HẠI CỦA BỌ VÒI
VOI DIOCALANDRA FRUMENTI FABRICIUS
(COLEOPTERA: CURCULIONIDAE)
TRÊN CÂY DỪA
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT
Cần Thơ, 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC
VÀ TRIỆU CHỨNG GÂY HẠI CỦA BỌ VÒI
VOI DIOCALANDRA FRUMENTI FABRICIUS
(COLEOPTERA: CURCULIONIDAE)
TRÊN CÂY DỪA
Cán bộ hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Ts Lê Văn Vàng Nguyễn Thị Diễm Quỳnh
Ncs Châu Nguyễn Quốc Khánh MSSV: 3113472
Lớp: Bảo vệ Thực vật khóa 37
Cần Thơ, 2014
Trang 3i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Bảo vệ Thực vật với đề tài:
Một số đặc điểm hình thái, sinh học và triệu chứng gây hại của bọ vòi
voi Diocalandra frumenti Fabricius (Coleoptera: Curculionidae) trên cây dừa
Do sinh viên Nguyễn Thị Diễm Quỳnh thực hiện
Kính trình lên Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Bảo vệ Thực vật với đề tài:
Một số đặc điểm hình thái, sinh học và triệu chứng gây hại của bọ vòi
voi Diocalandra frumenti Fabricius (Coleoptera: Curculionidae) trên cây dừa
Do sinh viên Nguyễn Thị Diễm Quỳnh thực hiện và bảo vệ trước hội đồng
Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:
Luận văn tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá ở mức:
DUYỆT KHOA Cần Thơ, ngày tháng năm 2014 Trưởng Khoa Nông Nghiệp & SHƯD Chủ tịch Hội đồng
Trang 5iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bài trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
(ký tên)
Nguyễn Thị Diễm Quỳnh
Trang 6TIỂU SỬ CÁ NHÂN
Họ và tên: Nguyễn Thị Diễm Quỳnh
Ngày, tháng, năm sinh: 03/07/1993
Dân tộc: Kinh
Họ và tên cha: Nguyễn Văn Tài
Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Minh Tâm
Quê quán: Khu vực Long Thạnh 2, Phường Thốt Nốt, Quận Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ
Quá trình học tập:
Năm 1999 – 2004: Cấp 1 tại Trường Tiểu Học Thốt Nốt
Năm 2004 – 2008: Cấp 2 tại Trường Trung Học Cơ Sở Thị Trấn Thốt Nốt
Năm 2008 – 2011: Cấp 3 tại Trường Trung Học Phổ Thông Thốt Nốt
Năm 2011 – 2014: Là sinh viên ngành Bảo vệ Thực vật khóa 37, Khoa Nông
nghiệp & SHƯD, Trường Đại học Cần Thơ
Trang 7v
LỜI CẢM TẠ Kính dâng!
Cha mẹ suốt đời tận tụy, lo lắng cho con ăn học nên người!
Thành kính biết ơn!
Thầy Lê Văn Vàng đã truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm quý báo của
mình; hướng dẫn và khắc phục những khó khăn trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Đặc biệt cảm ơn!
Anh Châu Nguyễn Quốc Khánh đã trực tiếp giúp đỡ, động viên, truyền
đạt kinh nghiệm trong suốt thời gian thực hiện đề tài Cũng như hỗ trợ giúp đỡ trong suốt quá trình thực hiện bố trí thí nghiệm
Thân ái gửi về!
Tập thể lớp Bảo Vệ Thực Vật khóa 37, lời chúc tất cả sức khỏe, thành đạt
Xin nhận lời cảm ơn sâu sắc
Nguyễn Thị Diễm Quỳnh
Trang 8Nguyễn Thị Diễm Quỳnh 2014 Một số đặc điểm hình thái, sinh học và triệu
chứng gây hại của bọ vòi voi Diocalandra frumenti Fabricius (Coleoptera:
Curculionidae) trên cây dừa Trường Đại Học Cần Thơ, 40 trang Cán bộ
hướng dẫn khoa học: Ts Lê Văn Vàng và Ncs Châu Nguyễn Quốc Khánh
TÓM LƯỢC
Đề tài: “Một số đặc điểm hình thái, sinh học và triệu chứng gây hại của bọ
vòi voi Diocalandra frumenti Fabricius (Coleoptera: Curculionidae) trên cây
dừa” được thực hiện từ tháng 7 năm 2014 đến tháng 10 năm 2014 tại bộ môn
Bảo vệ Thực vật, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ
Khảo sát và ghi nhận triệu chứng gây hại của ấu trùng và thành trùng bọ vòi voi trên các bộ phận khác nhau của cây dừa bao gồm trái và bẹ dừa Ấu trùng gây xì
mủ, rụng trái và mục rỗng mô bẹ, thành trùng gây khô xơ và và nứt nẻ trái, chết khô bẹ lá
Kết quả khảo sát đặc điểm hình thái bọ vòi voi D.frumenti từ giai đoạn trứng đến
giai đoạn vũ hóa thành thành trùng cho thấy được đặc điểm kiểu biến thái hoàn toàn, hình dạng, kích thước, màu sắc và thời gian phát triển khác nhau ở từng giai đoạn
Kết quả khảo sát đặc điểm sinh học bao gồm thời gian phát triển giai đoạn trứng,
ấu trùng, nhộng và thành trùng Tỷ lệ thành trùng đực:cái của bọ vòi voi
D.frumenti cho tỷ lệ thành trùng cái cao hơn so với thành trùng đực Tỷ lệ hóa nhộng của ấu trùng và tỷ lệ vũ hóa của nhộng bọ vòi voi D.frumenti đạt tỷ lệ cao,
cho thấy ở giai đoạn này khả năng sống sót cao dẫn đến khả năng gây hại lớn do thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm, ít chịu tác động từ môi trường bên ngoài
Từ khóa: Diocalandra frumenti, đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh học, triệu
chứng
Trang 9vii
MỤC LỤC
Trang
TÓM LƯỢC vi
MỤC LỤC vii
DANH SÁCH BẢNG ix
DANH SÁCH HÌNH x
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT xii
MỞ ĐẦU………1
CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 TÌNH HÌNH PHÂN BỐ DỪA VÀ MỘT SỐ DỊCH HẠI PHỔ BIẾN TRÊN DỪA TẠI VIỆT NAM 2
1.1.1 Tình hình phân bố dừa trên thế giới 2
1.1.2 Tình hình phân bố dừa ở Việt Nam 3
1.1.3 Một số dịch hại phổ biến trên cây dừa tại Việt Nam 3
1.2 TÌNH HÌNH, TRIỆU CHỨNG GÂY HẠI VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC CỦA BỌ VÒI VOI Diocalandra frumenti Fabricius 5
1.2.1 Tình hình gây hại của bọ vòi voi Diocalandra frumenti Fabricius 5
1.2.2 Triệu chứng gây hại của Diocalandra frumenti Fabricius trên họ Cau dừa 6
1.2.3 Phân loại, ký chủ và đặc điểm hình thái, sinh học của bọ vòi voi Diocalandra frumenti Fabricius 7
1.3 NHỮNG NGHIÊN CỨU ĐẦU TIÊN VỀ NHÂN NUÔI VÀ KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SỐNG SÓT CỦA BỌ VÒI VOI Dicalandra frumenti F TRÊN THẾ GIỚI 9
1.3.1 Nhân nuôi trên mía 9
1.3.2 Nhân nuôi trên chế độ ăn nhân tạo 10
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 12
2.1 PHƯƠNG TIỆN 12
2.1.1 Thời gian và địa điểm 12
2.1.2 Vật liệu và dụng cụ 12
2.1.3 Nguồn bọ vòi voi 12
2.2 PHƯƠNG PHÁP 12
Trang 102.2.1 Mô tả triệu chứng gây hại của bọ vòi voi Diocalandra frumeni
Fabricius trên các bộ phận của cây dừa trong điều kiện tự nhiên 13
2.2.2 Khảo sát đặc điểm hình thái của bọ vòi voi Diocalandra frumenti Fabricius trong điều kiện phòng thí nghiệm 13
2.2.3 Khảo sát đặc điểm sinh học của bọ vòi voi Diocalandra frumenti trong điều kiện phòng thí nghiệm 15
2.2.3.1 Khảo sát tỷ lệ giới tính (đực:cái) của bọ vòi voi Diocalandra frumenti trong điều kiện phòng thí nghiệm 15
2.2.3.2 Khảo sát tỷ lệ (%) hóa nhộng của ấu trùng bọ vòi voi Diocalandra frumenti trong điều kiện phòng thí nghiệm 15
2.2.3.3 Khảo sát tỷ lệ (%) vũ hóa của nhộng bọ vòi voi Diocalandra frumenti trong điều kiện phòng thí nghiệm 16
2.3 XỬ LÝ SỐ LIỆU 16
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 17
3.1 TRIỆU CHỨNG GÂY HẠI CỦA BỌ VÒI Diocalandra frumenti Fabricius TRÊN CÁC BỘ PHẬN CỦA CÂY DỪA TRONG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 17
3.2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CỦA BỌ VÒI VOI Diocalandra frumenti Fabricius 22
3.2.1 Giai đoạn trứng 22
3.2.2 Giai đoạn ấu trùng 24
3.2.3 Giai đoạn tiền nhộng và giai đoạn nhộng 28
3.2.4 Giai đoạn thành trùng 30
3.3 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA BỌ VÒI VOI Diocalandra frumenti Fabricius 34
3.3.1 Tỷ lệ thành trùng (đực:cái) bọ vòi voi Diocalandra frumenti Fabricius trong điều kiện PTN 34
3.3.2 Tỷ lệ (%) hóa nhộng của AT bọ vòi voi Diocalandra frumenti Fabricius trong điều kiện PTN 34
3.3.3 Tỷ lệ (%) vũ hóa của nhộng bọ vòi voi Diocalandra frumenti Fabricius trong điều kiện PTN 35
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 36
4.1 KẾT LUẬN 36
4.2 ĐỀ NGHỊ 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
PHỤ CHƯƠNG xiii
Trang 11ix
DANH SÁCH BẢNG
1.1 Diện tích trồng dừa ở một số khu vực trên thế giới (Perley, 1992) 2
1.3 Thành phần chế độ ăn nhân tạo nuôi ấu trùng bọ vòi voi của
3.1 Kích thước các giai đoạn phát triển của bọ vòi voi D frumenti
trong điều kiện PTN, ĐHCT, từ tháng 7/2014 đến tháng 10/2014 22 3.2
Thời gian ủ trứng và thời gian phát triển của ấu trùng bọ vòi voi
D frumenti trong điều kiện PTN, ĐHCT, từ tháng 7/2014 đến
tháng 10/2014
23
3.3 Chiều rộng mảnh vỏ đầu của ấu trùng D frumenti qua các tuổi
trong điều kiện PTN, ĐHCT, từ tháng 8/2014 đến tháng 10/2014 24
3.4 Thời gian phát triển của giai đoạn tiền nhộng và giai đoạn nhộng
của D frumenti trong điều kiện PTN, ĐHCT, tháng 9/2014 28
3.5 Tỷ lệ giới tính (đực:cái) của thành trùng bọ vòi voi D frumenti
3.6 Tỷ lệ (%) hóa nhộng của ấu trùng bọ vòi voi D frumenti trong
điều kiện PTN, ĐHCT, từ tháng 9/2014 đến tháng 10/2014 34 3.7 Tỷ lệ (%) vuc hóa của nhộng bọ vòi voi D frumenti trong điều
kiện PTN, ĐHCT, từ tháng 9/2014 đến tháng 10/2014 35
Trang 12DANH SÁCH HÌNH
1.1
Triệu chứng D frumenti gây hại trên Phoenix canariensis trong
khu vực Maspaloma (Gran Canary) (González Núñez et al.,
Thành trùng bọ vòi voi Diocalandra frumenti F được thu tại An
Thạch, Tuy An, Phú Yên ngày 29/08/2012 (Chi cục BVTV Phú
Yên, 31/08/2012)
9
1.4 Thí nghiệm khảo sát của González Núñez et al (2002) 9
2.2 Tách và nuôi trứng bọ vòi voi trên bông gòn ẩm 14
3.1 Thành trùng bị thu hút bởi mùi của dịch cây tiết ra từ các vết
3.2 Trái dừa non và cuống trái bị thối do ấu trùng bọ vòi voi gây hại 17 3.3 Triệu chứng bọ vòi voi D frumenti gây hại trên cuống trái dừa 18 3.4 Triệu chứng trên trái do thành trùng bọ vòi voi gây hại 18 3.5 Triệu chứng bọ vòi voi D frumenti gây hại trên trái 19 3.6 Triệu chứng gây hại trên bẹ non của ấu trùng bọ vòi voi 19 3.7 Triệu chứng gây hại của thành trùng bọ vòi voi trên bẹ già 20 3.8 Triệu chứng gây hại của ấu trùng bọ vòi voi trên bẹ già 20
3.9 Chất nhựa cô đặc tiết ra từ vết thương khi bọ vòi voi D frumenti
3.11 Hình dạng, màu sắc trứng bọ vòi voi D frumenti (được quan sát
Trang 13xi
3.18 Giai đoạn tiền nhộng của bọ vòi voi D frumenti 28
3.20 Thành trùng bọ vòi voi D frumenti sau vũ hóa được 2 ngày 30
3.21 Hình dạng râu đầu bọ vòi voi D frumenti 30
3.23 Đặc điểm cơ thể thành trùng bọ vòi voi D frumenti 31
3.24 So sánh sự khác nhau giữa bộ phận sinh dục thành trùng đực và
3.25 Sự khác nhau về kích thước và vòi giữa thành trùng trùng cái và
Trang 14DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
APCC Asian and Pacific coconut community (Hiệp hội
dừa Châu Á – Thái Bình Dương
Trang 151
MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam, diện tích trồng dừa (Cocos nucifera L.) khoảng 155.800 ha tập
trung ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và một số tỉnh ven biển miền Trung; sản lượng dừa đạt khoảng 892.000 tấn/năm (Nguyễn Sinh Cúc, 2003) Cây dừa và các nghề có liên quan đến dừa mang lại giá trị kinh tế cao (Wales và Sanger, 2001), bên cạnh nguồn thu trực tiếp từ sản lượng dừa tươi, sản phẩm từ dừa rất đa dạng: dầu dừa, thủ công mỹ nghệ từ thân và gáo dừa, xơ dừa, than hoạt tính, kẹo dừa, thạch dừa và nước dừa đóng hộp (Panwar, 1990) Trong nội dung phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn đến năm 2010 của Bộ Nông Nghiệp
& PTNT (9/2001) về cây dừa, sẽ duy trì diện tích trồng dừa khoảng 125.000 đến 130.000 ha ở các tỉnh ĐBSCL Tuy nhiên, vào thời điểm hiện nay dịch hại trên cây dừa, đặc biệt là sự gây hại của các loài côn trùng trong giai đoạn trước và sau thu hoạch có đến 737 loài, trong đó có 165 loài gây hại trước thu hoạch (Đặng Xuân Nghiêm, 1991)
Loài bọ vòi voi Diocalandra frumenti Fab gây hại trên cây dừa được phát
hiện đầu tiên vào năm 1998 ở đảo Gran Canaria của Tây Ban Nha Loài này cũng
đã xuất hiện và gây hại ở châu Phi, nhiều nước châu Á như Bangladesh, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Malaysia, Myanma, Philippines, Singapore, Đài Loan, Thái
Lan (González Núñez et al., 2002; Salomone et al., 2000b)… Đến thời điểm này loài bọ vòi voi D frumenti đã có những mô tả về sự gây hại trên các cây khác của
họ cau dừa trong khu vực ven biển của Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương (Hill, 1983; CAB International, 2001)
Tại Việt Nam, theo Trung tâm Bảo vệ Thực vật phía Nam bọ vòi voi
Diocalandra frumenti Fab được phát hiện đầu tiên tại Kiên Giang vào tháng
11/2011; đến tháng 05/2012, loài bọ vòi voi này được định danh là loài
Diocalandra frumenti thuộc bộ cánh cứng (Coleoptera), họ vòi voi
(Curculionidae) đã gây hại nặng ở U Minh Thượng trên hai giống dừa xiêm và dừa lùn Bọ vòi voi là đối tượng gây hại mới trên cây dừa tại Việt Nam, nó gây thiệt hại trên các vườn dừa của các tỉnh ĐBSCL như Bến Tre, Sóc Trăng, Kiên Giang, Trà Vinh, Tiền Giang… và các vườn dừa của các tỉnh miền Trung, đã làm giảm năng suất và chất lượng dừa, gây thiệt hại kinh tế cho nông dân nhưng việc phòng trừ gặp nhiều khó khăn do nghiên cứu về loài này ở Việt Nam còn hạn chế
Trên cơ sở đó, đề tài: “Một số đặc điểm hình thái, sinh học và triệu
chứng gây hại của bọ vòi voi Diocalandra frumenti Fabricius (Coleoptera:
Curculionidae) trên cây dừa” được thực hiện nhằm làm cơ sở khoa học cho
việc đưa ra biện pháp quản lý loài gây hại này trên các vườn dừa
Trang 16CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 TÌNH HÌNH PHÂN BỐ DỪA VÀ MỘT SỐ DỊCH HẠI PHỔ BIẾN TRÊN DỪA TẠI VIỆT NAM
1.1.1 Tình hình phân bố dừa trên thế giới
Cây dừa (Cocos nucifera L.) được trồng nhiều nhất ở các vùng nhiệt đới, có
khoảng 90% dừa được tìm thấy trong giới hạn ở vĩ độ 200 Bắc và 200 Nam Sự phân bố rộng và phát tán từ vùng này sang vùng khác là do hai tác nhân: con người và biển cả Trái dừa được nước mưa đưa ra biển rồi trôi nổi đi xa hàng ngàn dặm, chúng bị giữ lại bởi những bờ biển rồi sinh sôi và phát triển tại đó Ngoài ra, trong quá trình giao lưu buôn bán trao đổi hàng hóa, con người đã chuyển vận dừa và chúng được canh tác ở nhiều vùng đất khác nhau trên thế giới (Ohler, 1999; Woodroof, 1979)
Theo thống kê của Persley (1992), diện tích dừa được trồng trên toàn thế giới chiếm khoảng 11,6 triệu ha (khoảng 50 tỷ trái) gồm 68 quốc gia trồng dừa
chủ yếu nằm trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, chiếm 86% (Bảng 1.1)
Thảm thực vật trên các đảo và bờ biển vùng Nam Thái Bình Dương chủ yếu là dừa (Apacible, 1968) Bên cạnh đó còn có 3 vùng rộng lớn khác cũng canh tác dừa là Đông Phi, Trung Mỹ và Nam Mỹ Diện tích canh tác dừa trên toàn thế giới tăng khá nhanh
Bảng 1.1 Diện tích trồng dừa ở một số vùng trên thế giới (Perley, 1992)
Châu Á
Ấn Độ Indonesia Philippines
1.183.000 3.050.000 3.270.000
Châu Phi
Tanzania Ivory Coast
260.000 32.000
Trung và Nam Mỹ
Mexico Jamica
110.000 50.000
Quần đảo Thái Bình Dương
Kiribati Các nước khác
36.000 23.000 Theo APCC (2005), cây dừa được trồng tại 93 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, phân bố ở 20o Bắc và Nam bán cầu với diện tích hơn 12 triệu ha, trong đó trên 80% diện tích trồng dừa thuộc các nước Đông Nam Á và Nam Á
Trang 173
1.1.2 Tình hình phân bố dừa ở Việt Nam
Theo thống kê của APCC thì năm 1991 Việt Nam có 330.000 ha dừa đạt sản lượng 1.200 triệu quả, đến năm 2003 chỉ còn 135.800 ha (Niên giám Thống
kê, 2003)
Theo số liệu của ngành Dầu thực vật thì diện tích dừa Việt Nam đạt đến 330.000 ha vào cuối thập niên 80, sau đó đã giảm sút nhanh còn 154.000 ha Hiện nay, diện tích trồng dừa ở nước ta đạt khoảng 200.000 ha, được trồng
từ Bắc đến Nam nhưng nhiều nhất là ở vùng ĐBSCL với trên 70%, kế đến là các tỉnh Nam Trung Bộ (từ Đà Nẵng trở vào) chiếm gần 20% Ở ĐBSCL, diện tích trồng dừa nhiều nhất là Bến Tre (38.000 ha), kế đến là Trà Vinh (12.418 ha) (Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bến Tre, 2009)
Bến Tre là tỉnh có diện tích trồng dừa lớn nhất cả nước, nhưng cũng không thoát khỏi tình trạng chung, nên diện tích dừa tỉnh Bến Tre giảm dần từ năm
1990 đến năm 2003, sau đó lại tăng dần lên, đến năm 2007 đạt 44.423 ha, chiếm gần 34,3% diện tích cả nước (Cục Thống kê tỉnh Bến Tre, 2007)
Theo Huỳnh Thị Như Thủy (2010), sản lượng dừa của Bến Tre khoảng 297,6 triệu trái, chủ yếu được sử dụng trong chế biến (mặt hàng chính hiện nay là cơm dừa nạo sấy) và xuất khẩu Cây dừa đã đóng góp hơn 40% tỷ trọng xuất khẩu của cả tỉnh và giải quyết việc làm cho hơn 100 nghìn lao động nông nghiệp
và hơn 15 nghìn lao động công nghiệp Cây dừa đã chi phối và tác động vào đời sống của hơn 50% dân số tỉnh Bến Tre
1.1.3 Một số dịch hại phổ biến trên cây dừa tại Việt Nam
Bảng 1.2 Một số dịch hại phổ biến trên cây dừa tại Việt Nam
STT Loài gây
hại Tên khoa học Phân loại Đặc điểm gây hại
1 Bọ vòi voi Diocalandra
frumenti
Fabricius
Bộ: Coleoptera Họ: Curculionidae
Gây hại thân, bẹ lá làm vàng, khô héo, đổ gãy
(Salomone Suárez et al.,
2000a) Gây rụng trái non, biến dạng trái già, chảy mủ trên trái và thân,
bẹ lá (Vanderplank, 1953)
2 Kiến vương
một sừng
Oryctes rhinoceros
Linneus
Bộ: Coleoptera Họ: Scarabaeidae
Chu kỳ sinh trưởng trung bình từ 337 ngày Đục theo đường ngang vào trung tâm, phần cuối bẹ
lá, cắn ngang cuốn lá đục
Trang 18theo đường dọc ăn sâu vào phần củ hủ (Nguyễn Bảo Vệ, Trần Văn Hâu
và Lê Thanh Phong, 2005)
3 Đuông dừa Rhynchophorus
ferrugineus
Oliver
Bộ: Coleoptera Họ: Curculionidae
Vòng đời 100-120 ngày,
ấu trùng và thành trùng đều gây hại phần non và thân dừa Có những lỗ đục trên thân với chất nhựa dẻo chảy ra Chồi ngọn phát triển cằn cỗi,
lá nón nhỏ không mở ra được sau đó khô héo rồi chết khi cây bị phá hại nặng (Nguyễn Bảo Vệ, Trần Văn Hâu và Lê Thanh Phong, 2005)
4 Bọ cánh
cứng
Brontispa longgissima
Gestro
Bộ: Coleoptera Họ: Chrysomelidae
Thành trùng và ấu trùng đều gây hại trên lá Ăn phá, tạo thành những vết trên lá có màu nâu, khô héo và cong queo, cháy khô, rách (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2001)
5 Rệp dính Aspidiotus
destructor
Signoret
Bộ: Homoptera Họ: Coccidae
Chích hút nhựa lá, làm lá vàng, hạn chế sự phát triển của trái, gây hại trên cây dừa tơ (Nguyễn Bảo
Vệ, Trần Văn Hâu và Lê Thanh Phong, 2005) Rệp gây hại mọi lứa tuổi của cây dừa nhưng trầm trọng nhất là ở vườn ương và cây mới trồng (Nguyễn Văn Huỳnh và
Lê Thị Sen, 2003)
6 Sâu đục
bông
Tirathaba rufivena
Walker
Bộ: Lepidoptera Họ: Pyralidae
Sâu ăn bông, đục vào cuống trái non khi sâu lớn (Nguyễn Văn Huỳnh
và Lê Thị Sen, 2003)
7 Bọ xít Amplypelta sp Bộ: Hemiptera Thành trùng và ấu trung
Trang 195
Họ: Coreidae chích hút trái dừa non,
làm rụng trái, tạo vết hình thoi xếp khít nhau phía đầu trái non (Nguyễn Văn Huỳnh và
Gậm phiến lá, ăn bìa lá, gây hại không đáng kể nhưng mật số cao, cần phòng trị (Nguyễn Bảo
Vệ, Trần Văn Hâu và Lê Thanh Phong, 2005)
9 Sâu sừng Amathusia
phidippus
Linnaeus
Bộ: Lepidoptera Họ: Nymphalidae
Sâu ăn lá nhưng gây hại không nghiêm trọng (Nguyễn Bảo Vệ, Trần Văn Hâu và Lê Thanh Phong, 2005)
1.2 TÌNH HÌNH, TRIỆU CHỨNG GÂY HẠI VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
HÌNH THÁI, SINH HỌC CỦA BỌ VÕI VOI Diocalandra frumenti
Fabricius
1.2.1 Tình hình gây hại của bọ vòi voi Diocalandra frumenti Fabricius
Vào tháng 3 năm 1998, Dicalandra frumenti Fabricius (Coleoptera:
Curculionidae), một dịch hại trên họ cau dừa nhiệt đới đã được phát hiện trong
khu vực Maspalomas, Gran Canaria, quần đảo Canary (Salomone Suárez et al.,
2000b)
Bọ vòi voi D frumenti có phân bố rộng ở các nước giáp với Ấn Độ Dương
và Thái Bình Dương, trên khắp vùng nhiệt đới Châu Á, phía bắc Châu Úc và ở một số nước của Châu Phi và ở Ecuador Theo Lepesme (1947), loài này dường như có nguồn gốc ở lưu vực biển Ấn Độ Bọ vòi voi gần đây đã được phát hiện
trong khu vực Eppo thuộc quần đảo Canary (Salomone Suárez et al., 2000b)
Tại Nhật Bản, nguyên nhân để lây lan dịch hại được xác định là do gieo trồng các cây dừa bị nhiễm (Morimoto, 1985) và có thể điều này cũng xảy ra
trong quần đảo Canary (Salomone Suárez et al., 2000b) Gieo trồng các cây dừa
bị nhiễm cũng được coi như một cách để lây lan dịch hại ở nước Úc (NGIA, 1998)
Hill (1983) ghi nhận D frumenti là một dịch hại chính trên cây dừa (Cocos nucifera) và cọ dầu (Elaeis guineensis) Bọ vòi voi D frumenti có nguy cơ gây
hại các vùng dừa cảnh quan và chúng đã gây chết các vùng cau cảnh ở Úc (Giblin-Davis, 2001) Ngoài ra, hoạt động gây hại của bọ vòi voi làm mô cây bị
Trang 20tổn thương tạo điều kiện cho các vi sinh vật có hại xâm nhập Các nấm
Gliocladium vermoeseni, Thielaviopsis paradoxa, Fusarium spp., Aspergillus spp., Cladosporium spp và Penicillium spp được phát hiện trong mô của các cây
dừa bị hại bởi bọ vòi voi ở đảo Canary (Salomone và Caballera Ruano, 2008)
Ở Đài Loan, Liao và Chen (1997) đã báo cáo sự tấn công của bọ vòi voi
trên cây Mascarena verchaffeltii, Roystonea regia với thiệt hại từ 5-20%, trong
khi thiệt hại trên cây Phoenix loureiri ước tính thấp hơn 5%
1.2.2 Triệu chứng gây hại của Diocalandra frumenti Fabricius trên họ Cau
dừa
Theo González Núñez et al (2002)khi bọ vòi voi tấn công vào các bẹ lá
phía bên ngoài gần phần thân của cây Phoenix canariensis sẽ làm lá bị khô héo,
bẹ lá đỗ ngã, phần bẹ lá chảy nhựa do sự tấn công từ bên ngoài của thành trùng
và phần gốc thân khô, xơ xác, mục rỗng do sự ăn lòn bên trong thân của ấu trùng
bọ vòi voi (Hình 1.1).
Hình 1.1 Triệu chứng D frumenti gây hại trên Phoenix canariensis
trong khu vựa Maspaloma (Gran Canary)
(González Núñez et al., 2002)
Vết đục của ấu trùng có thể gây biến vàng và đổ gãy lá dừa, bắt đầu từ
những lá bên ngoài đi dần vào lá bên trong (Salomone Suárez et al., 2000a) Sự
gây hại được ghi nhận khi xuất hiện các hốc 1-2 mm ở mô lành lặn của các bẹ lá
già và non (NGIA, 1998; Salomone Suárez et al., 2000a) Bọ thường tấn công ở
phần bị thương, yếu và già của cây, đặc biệt ở phần gốc lá già (Zimmerman, 1993) Mủ chảy ở miệng lỗ đục có thể thấy rõ Ở Úc, những gốc bẹ lá bị cắt ngang hay các bẹ bị gãy do gió thường là nơi bị tấn công đầu tiên Ấu trùng đục
từ ngoại biên của cuống lá vào trong (NGIA, 1998; Howard et al., 2001)
Bọ vòi voi có thể gây hại trên trái, làm rụng trái non và gây biến dạng trái già Vanderplank (1953) cho rằng sâu non có thể gây chảy mủ và rụng trái dừa
Trang 217
non Ngược lại, bọ vòi voi cũng có thể bị hấp dẫn bởi chất nhựa của vết thương hay vết cắn của các loài côn trùng khác (Kalshoven, 1981)
1.2.3 Phân loại, ký chủ và đặc điểm hình thái, sinh học của bọ vòi voi
Diocalandra frumenti Fabricius
+ Ký chủ chính: Dừa Cocos nucifera, Cau cảnh như là Phoenix canariensis
và các giống lai của nó (P dactylifera, Washingtonia spp.) (Kahlshoven, 1981; Salomone Suárez et al., 2000b)
+ Ký chủ phụ: Archontophoenix alexandrea, Bismarckia sp., Caryota sp.,
Chrysalidocarpus lutescens, Dypsis lutescens, D lucebensis, Elaeis guineensis, Howea belmoreana, Mascarena verschaffeltii, Metroxylon sagu, Nypa fruticans,
P canariensis, P loureirii, P roebelenii, Ptychosperma macarthurii, Ravenea rivularis, Roystonea regia, Sabal palmetto và Wodyetia bifurcata, (Lepesme,
1947; NGIA, 1998; Salomone và Caballero Ruano, 2008)
c Đặc điểm hình thái, sinh học:
Vòng đời
Tại Việt Nam, hầu như chưa có tài liệu nghiên cứu về bọ vòi voi D frumenti Theo một số tài liệu nước ngoài cho biết: vòng đời của bọ vòi voi Diocalandra frumenti từ 2-3 tháng, trải qua 4 giai đoạn: trứng, ấu trùng, nhộng
và thành trùng Ký chủ: cây dừa, dừa nước và cây cọ dầu (Chi cục BVTV Cần Thơ, 2012)
Theo Hill (1983), vòng đời bọ vòi voi kéo dài 10-12 tuần, bao gồm trứng
4-9 ngày, ấu trùng 8-10 tuần và nhộng 4-9-10 ngày (trong tự nhiên) Gần đây, theo báo cáo của Liao và Chen (1997), vòng đời các pha trứng, sâu non và nhộng lần lượt là 6-10, 35-40 và 10-16 ngày Thời gian của thành trùng là 15-22 ngày Theo
González Núñez et al (2002), thời gian của các giai đoạn cũng được tìm thấy
tương tự trong điều kiện phòng thí nghiệm (25±1°C, 70%±10 HR), sử dụng mía làm nguồn thức ăn
Trang 22Hình 1.2 Các giai đoạn sinh trưởng của bọ vòi voi
(González Núñez et al., 2002)
Khả năng sinh sản trung bình là 0,13 trứng/bọ cái/ngày trong suốt thí
nghiệm trên mía (González Núñez et al., 2002) Khả năng này là thấp để tạo sự
cân bằng với thời gian sống dài của thành trùng, dù thành trùng sống chỉ 15-20 ngày
Liao và Chen (1997) cho rằng với số lượng từ 10 hay nhiều hơn sâu non có
thể phát triển trong mỗi bẹ lá và theo Salomone Suárez et al (2000b) ước tính có
hàng trăm cá thể được tìm thấy trong mỗi cây dừa
Trứng: Trứng màu trắng, thon dài, kích thước 0,9x0,3 mm (Liao và Chen,
1997) Trứng được đẻ ở những vị trí khác nhau như chùm hoa, cuống hoa, gốc cuống lá hay trong các kẽ hở (nứt) ở phần gốc của những rễ bất định (Hill, 1983)
Ở Đài Loan, bọ cái đục lỗ bằng miệng để đẻ trứng gần bề mặt của bẹ lá
chưa mở trên cây cau Mascarena verchaffeltii (Liao và Chen, 1997), trong khi
đó González Núñez et al (2002) báo cáo trong một thí nghiệm với mía làm thức
ăn, thì bọ cái đẻ trứng ở độ sâu 1-2,5 mm và không có dấu hiệu của sự đẻ trứng được thấy từ bên ngoài cây mía
Ấu trùng: Sâu non màu trắng, cong thon, dài khoảng 7 mm khi tăng trưởng
hoàn toàn Hàm trên màu nâu đen và thân có phần bụng phình to và thon ở hai đầu cơ thể (Liao và Chen, 1997) Sâu non có thể đục lòn vào bất kỳ phần nào của cây như rễ, cuống lá, chùm hoa, lá chét, bẹ lá, trái và ở tất cả độ cao của thân
(González Núñez et al., 2002; Hill, 1983) Chúng đục sâu vào thân cây, việc chảy
mủ thường được thấy ở miệng lỗ đục
Nhộng: nhộng màu trắng, dài 6-7 mm (Liao & Chen, 1997) Sự hóa nhộng
diễn ra ngay trong lỗ đục González Núñez et al (2002) nhận thấy rằng trên mía,
ổ nhộng được tạo gần biểu bì của mía, một hốc tròn đường kính 1,5 mm được tạo
Trang 239
cho bọ chui ra Hốc này được lấp đầy bằng mảnh vụn và lớp biểu bì mỏng của mía nhằm bảo vệ nhộng bên trong Tương tự, Liao & Chen (1997) chỉ ra rằng sâu non di chuyển hướng tới gốc bẹ lá để hóa nhộng, thành trùng dời những mảnh vụn trong hốc bằng vòi để chui ra ngoài
Thành trùng: cơ thể thành trùng nhỏ, có chiều dài từ 6-8 mm, bọ có màu
nâu đen sáng bóng đến mờ với 4 đốm vàng nâu đến vàng đỏ ở cánh trước Cũng như với nhiều loại bọ (weevil) khác, đặc điểm phân biệt giới tính bởi hình dạng của chỏm đuôi sau lưng, độ dài và dày của vòi, thành trùng đực có vòi ngắn hơn, dày hơn Thời gian sống của trưởng thành 15-22 ngày (Hill, 1983) Trưởng thành
bọ vòi voi bị lôi cuốn bởi dịch tiết từ vết thương trên mô cây dừa (Kalshoven, 1981) hoặc từ cuống hoa (Lepesme, 1947)
Hình 1.3 Thành trùng bọ vòi voi Diocalandra frumenti F được thu
tại An Thạch, Tuy An, Phú Yên ngày 29/08/2012 (Chi cục BVTV
Phú Yên, 31/08/2012)
1.3 NHỮNG NGHIÊN CỨU ĐẦU TIÊN VỀ NHÂN NUÔI VÀ KHẢO SÁT
KHẢ NĂNG SỐNG SÓT CỦA BỌ VÕI VOI Dicalandra frumenti F TRÊN
THẾ GIỚI
1.3.1 Nhân nuôi trên mía
Theo nghiên cứu củaGonzález et al (2002) thực hiện nhân nuôi bọ vòi voi D frumenti trên mía nhằm theo dõi sự bắt cặp giữa những cá thể đực-cái và
sự đẻ trứng của con cái vào trong lớp mô của cây mía (Hình 1.4a)
Hình 1.4 Thí nghiệm khảo sát của González et al (2002)
a) Nuôi trên mía b) Nuôi trên chế độ ăn nhân tạo
Trang 24Theo kết quả nghiên cứu củaGonzález et al (2002) cho thấy qua khảo sát
sự đẻ trứng của thành trùng cái trên mía, có thể nhân nuôi bọ vòi voi trên mía với khả năng đẻ trứng và sống sót của bọ vòi voi cao vì có tổng cộng 140 mẫu mía có
sự sinh sản của bọ vòi voi D frumenti Đối với mía được bóc tách, kiểm tra định
kỳ và ghi nhận những thông tin về sự phát triển cũng như hành vi của bọ vòi voi trong môi trường nhân nuôi này có những kết quả cụ thể như con cái đẻ trứng sâu 1-1,2 mm để trứng không tiếp xúc với môi trường, trứng được đặt vào trong phần
xơ mía trong khi không có sự hiện diện của cá thể thành trùng bên trong Sau
7-10 ngày trứng nở, ấu trùng đục lòn thành các đường bên trong thân mía Một khi
ấu trùng đã phát triển đến kích thước tối đa, chúng sẽ bắt đầu tạo đục gần lớp biểu bì mía và hóa nhộng ngay tại đó, do đó sẽ để lại những lỗ tròn nhỏ 1,5-2mm trên bề mặt lớp biểu bì và bên trên lỗ tròn có nhiều mảnh vụn lấp đầy miệng lỗ để nhằm bảo vệ chúng Khi nhộng hóa thành trùng, thành trùng sẽ chui ra ngoài
1.3.2 Nhân nuôi trên chế độ ăn nhân tạo
Nghiên cứu được González Núñez et al (2002) thực hiện nhằm kiểm tra
khả năng sống của ấu trùng bọ vòi voi trong môi trường thức ăn nhân tạo (Hình 1.4b)
Bảng 1.3 Thành phần chế độ ăn nhân tạo nuôi ấu trùng bọ vòi voi của
González Núñez et al (2002)
Theo kết quả khảo sát khả năng sống của ấu trùng bọ vòi voi D
frumenti trong điều kiện PTN, nhiệt độ 25 1oC và ẩm độ 70% 10HR
của González et al (2002) cho thấy tỷ lệ ấu trùng còn non tử vong cao,
nhưng tỷ lệ thành trùng thay đổi chỉ ít Chứng tỏ ấu trùng tuổi đầu dễ
Trang 2511
chết có thể do các độc tố như Formaldehyd (CH2O) và Methyl hydroxybenzoate (C8H8O3) hoặc do quá trình thay đổi thức ăn hoặc thao tác thí nghiệm dễ làm chúng chết Điều này được thể hiện cụ thể
với 73,2 và 69,2 ngày của NT2 và 3 tương ứng
Trang 26CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 PHƯƠNG TIỆN
2.1.1 Thời gian và địa điểm
- Thời gian: Tiến hành khảo sát từ tháng 7/2014 đến tháng 10/2014
- Địa điểm: Phòng thí nghiệm Phòng trừ Sinh học, Bộ môn Bảo vệ thực vật, khoa Nông nghiệp & SHƯD, trường Đại học Cần Thơ
2.1.2 Vật liệu và dụng cụ
- Hộp nhựa chữ nhật lớn kích thước 20x15x5 cm, hộp nhựa tròn lớn kích thước 12x9,5x8 cm và hộp nhựa tròn nhỏ kích thước 6x5x3 cm
- Mía và bẹ dừa để làm nguồn thức ăn cho bọ vòi voi
- Trái và bẹ dừa bị bọ vòi voi gây hại
2.1.3 Nguồn bọ vòi voi
Nguồn bọ vòi voi được thu thập ngoài vườn và được nhân nuôi trong phòng thí nghiệm sẽ được dùng trong các thí nghiệm khảo sát đặc điểm sinh học và đặc điểm hình thái
Thành trùng bọ vòi voi được thu trên thân, bẹ và trái cây dừa xiêm lùn hoặc dừa dâu, dừa dứa tại các xã thuộc huyện Long Phú và huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng rồi mang về phòng thí nghiệm Phòng Trừ Sinh Học, Bộ môn Bảo vệ Thực vật Trong phòng thí nghiệm, thành trùng bọ vòi voi sẽ được tách nuôi riêng trong hộp nhựa tròn lớn có chứa một vài đoạn bẹ dừa tươi làm nguồn thức
ăn và 1 miếng bông gòn thấm nước để giữ ẩm Phân biệt giới tính bằng cách quan sát độ dài và dày của vòi dưới kính lúp, bọ vòi voi đực có vòi ngắn hơn, dày hơn so với con cái và quan sát kích cỡ cơ thể của thành trùng
2.2 PHƯƠNG PHÁP
Mục tiêu: Nhằm tìm hiểu một số đặc điểm hình thái, sinh học và triệu
chứng gây hại của bọ vòi voi trên dừa để nắm rõ quy luật phát triển và cách gây
hại của bọ vòi voi, từ đó làm cơ sở để quản lý loài gây hại này trên các vườn dừa
Trang 2713
2.2.1 Khảo sát triệu chứng gây hại của bọ vòi voi Diocalandra frumeni
Fabricius trên các bộ phận của cây dừa
- Phương pháp thực hiện: Thu thập các mẫu trái và bẹ dừa có sự hiện
diện và tấn công của bọ vòi voi D frumenti về phòng thí nghiệm Ghi nhận
và mô tả hình dạng, kích thước, màu sắc các triệu chứng gây hại của bọ vòi vòi trên các bộ phận của cây dừa từ giai đoạn trái non đường kính 5 cm đến trái có đường kính >5 và 20 cm; trên bẹ dừa non và bẹ dừa già
2.2.2 Khảo sát đặc điểm hình thái của bọ vòi voi Diocalandra frumenti
Fabricius trong điều kiện phòng thí nghiệm
nhật lớn, để nơi thoáng mát (Hình 2.1)
Hình 2.1 Thành trùng bọ vòi voi bắt cặp trên mía
- Chỉ tiêu quan sát: ghi nhận các đặc điểm sinh học và hình thái qua từng
giai đoạn phát triển của bọ vòi voi Diocalandra frumenti
Giai đoạn trứng: Sau khi đẻ, thu trứng và sử dụng các hộp nhựa tròn nhỏ
để đựng trứng sau khi tách ra từ mía, mỗi trứng được đặt trên một miếng bông
gòn để giữ ẩm và đựng trong một hộp riêng lẻ (Hình 2.2)
Chỉ tiêu ghi nhận (số mẫu là 60 trứng): quan sát 24 giờ/lần
- Kích thước của trứng
Trang 28- Thời gian ủ trứng
- Hình dạng, màu sắc của trứng
Hình 2.2 Tách và nuôi trứng bọ vòi voi trên bông gòn ẩm
Giai đoạn ấu trùng: sau khi trứng nở, tạo lỗ trên mía và cho mỗi ấu trùng
vào 1 đoạn mía nhỏ dài 3 cm để ấu trùng tự đục lòn vào thân mía, đặt riêng lẻ từng đoạn mía có chứa ấu trùng sang các hộp nhựa tròn nhỏ khác cùng kích
thước, để ở nơi thoáng mát và giữ ẩm bằng bông gòn thấm nước (Hình 2.3)
Hình 2.3 Các bước chuẩn bị mía và nuôi ấu trùng
Chỉ tiêu ghi nhận (số mẫu là 60 ấu trùng): sau 2 ngày thay thức ăn mới 1 lần
và ghi nhận tùy độ tuổi của ấu trùng
- Kích thước, hình dạng và màu sắc của ấu trùng ở các tuổi
- Số tuổi của ấu trùng, thời gian phát triển của cả giai đoạn ấu trùng
Trang 2915
Giai đoạn nhộng: Sau khi ấu trùng tuổi cuối chuyển sang giai đoạn tiền
nhộng, vẫn nuôi trong các hộp nhựa tròn nhỏ cho đến khi vũ hoá, bố trí thí nghiệm như ở giai đoạn ấu trùng, mỗi hộp được giữ ẩm bằng gòn thấm nước Chỉ tiêu ghi nhận (số mẫu là 60 nhộng): quan sát mỗi 24 giờ/lần
- Kích thước, màu sắc và hình dạng của nhộng
- Thời gian phát triển của nhộng
Giai đoạn trưởng thành: Thành trùng sau khi vừa vũ hóa và phân biệt
đực-cái, 30 thành trùng đực và 30 thành trùng cái được tách ra nuôi riêng trong các hộp nhựa tròn nhỏ có chứa 1 đoạn mía tươi dài 3 cm làm thức ăn
Các chỉ tiêu ghi nhận bao gồm:
- Chiều dài thân và màu sắc của thành trùng
- Chiều dài vòi con đực và con cái
- Hình dạng râu đầu, số đốt
- Dạng bàn chân
- Đặc điểm cánh trước và sau
2.2.3 Khảo sát đặc điểm sinh học của bọ vòi voi Diocalandra frumenti trong
điều kiện phòng thí nghiệm
2.2.3.1 Khảo sát tỷ lệ giới tính (đực:cái) của bọ vòi voi Diocalandra frumenti trong điều kiện phòng thí nghiệm
- Tiến hành chọn ngẫu nhiên 250 nhộng bọ vòi voi để khảo sát thí nghiệm, đặt nhộng bọ vòi voi vào bên trong 1 đoạn mía dài 3 cm có khoét lỗ sẵn, để tạo
ẩm độ và giữ cho nhộng không bị khô, sau đó đặt đoạn mía vào hộp nhựa tròn nhỏ, có đặt bông gòn để giữ ẩm và đậy nắp hộp nhựa lại
- Chỉ tiêu theo dõi: ghi nhận tỷ lệ đực:cái sau khi vũ hóa 24 giờ/lần
2.2.3.2 Khảo sát tỷ lệ (%) hóa nhộng của ấu trùng bọ vòi voi Diocalandra frumenti trong điều kiện phòng thí nghiệm
- Khảo sát với 5 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại nuôi 30 ấu trùng tuổi cuối
- Phương pháp thực hiện: đặt ấu trùng tuổi cuối vào đoạn mía có khoét lỗ sẵn để tạo điều kiện cho ấu trùng đục vào, rồi đặt đoạn mía vào hộp nhựa tròn nhỏ có bông gòn để giữ ẩm và đậy nắp hộp nhựa lại
- Chỉ tiêu theo dõi: đếm số ấu trùng đã hóa nhộng, quan sát ghi nhận 24 giờ/lần
Trang 302.2.3.3 Khảo sát tỷ lệ (%) vũ hóa của nhộng bọ vòi voi Diocalandra frumenti trong điều kiện phòng thí nghiệm
- Khảo sát với 5 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại nuôi 30 nhộng
- Phương pháp thực hiện: đặt nhộng bọ vòi voi vào bên trong 1 đoạn mía dài 3 cm có tạo lỗ sẵn, để tạo đủ độ ẩm và giữ cho nhộng không bị khô, sau đó đặt đoạn mía vào hộp nhựa tròn nhỏ, có đặt bông gòn để tạo độ ẩm và đậy nắp hộp nhựa lại Đặt 1 nhộng/đoạn mía/hộp riêng lẻ
- Chỉ tiêu theo dõi: số nhộng đã được vũ hóa 24 giờ/lần
2.3 XỬ LÝ SỐ LIỆU
Tất cả các số liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2007
và trình bày dưới dạng biểu bảng
Trang 3117
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 TRIỆU CHỨNG GÂY HẠI CỦA BỌ VÕI Diocalandra frumenti
Fabricius TRÊN CÁC BỘ PHẬN CỦA CÂY DỪA
Sau khi thu trái (non, già) và bẹ (non, già) bị tấn công bởi bọ vòi voi về PTN khảo sát và ghi nhận được như sau: hầu hết giai đoạn ấu trùng và thành trùng bọ vòi voi đều gây hại các bộ phận khác nhau trên cây dừa
Giai đoạn ấu trùng bọ vòi voi gây hại các mô bên trong của dừa, chủ yếu
là bẹ dừa và trái dừa, vì thành trùng bọ vòi voi đẻ trứng vào trong mô cây ngay tại các vết thương trên phần bẹ hoặc bên trong cuống trái lúc còn non, sau khi trứng nở ấu trùng sẽ sử dụng phần mô bên trong để làm thức ăn, do đó ấu trùng
sẽ đục lòn vào phần mô trên bẹ hoặc trái, phá hủy cấu trúc mô và làm ảnh hưởng đến sức sống của phần bẹ lá và trái, cây dừa không quang hợp và trái không phát triển được
Giai đoạn thành trùng chủ yếu gây hại bên ngoài trái (trái già và trái non), hút nhựa ngay tại các vết thương của phần bẹ lá, các vết thương này có thể do vết đục của các loại côn trùng gây hại khác trên dừa, các vết thương do con người
tạo ra, hoặc do sự đổ ngã, gãy tự nhiên (Hình 3.1)
Hình 3.1 Thành trùng bị thu hút bởi mùi của dịch tiết ra từ các vết thương
Triệu chứng trên trái:
- Giai đoạn trái non đường kính từ 5 cm: ấu trùng và thành trùng bọ vòi
voi khi tấn công vào những trái dừa non sẽ làm thối đen cuống trái, trái hóa nâu
đen và hư, rụng hàng loạt (Hình 3.2)
Hình 3.2 Trái dừa non và cuống trái bị thối do ấu trùng bọ vòi voi gây hại
Trang 32- Giai đoạn trái có đường kính từ > 5 và 20 cm: khi bọ vòi voi mới gây
hại vào giai đoạn này hầu như không có biểu hiện triệu chứng ra bên ngoài Khi
ấu trùng ăn lòn bên trong vỏ trái, tập trung gây hại nhiều ngay tại cuống trái sẽ làm chảy dịch nhựa, cuống trái thối và lan ra toàn trái Sau một thời gian tấn công trái sẽ tiết ra rất nhiều chất nhựa trong suốt màu vàng cam, chất dịch nhựa này cô
đặc lại phía bên ngoài cuống trái (Hình 3.3), phía trong cuống ngay vị trí đục có
nhiều dịch nhựa lỏng và phân thải của ấu trùng
Hình 3.3 Triệu chứng bọ vòi voi D frumenti gây hại trên cuống trái dừa
Thành trùng gây hại bên ngoài vỏ trái, dùng vòi hút dịch trái và làm khô
bề mặt vỏ trái, vỏ bị nứt, khô và teo tóp lại tạo thành những hình mắt én gần sát
cuống trái (Hình 3.4a) Phần vỏ xung quanh gần với cuống trái hóa màu xám
như các vết nám, viền vết nám màu nâu đậm, vết nám lan dần cho đến hết vỏ trái, làm cho trái bị biến dạng, sần sùi, vỏ nứt sâu, trái không phát triển, mất giá trị thương phẩm, trong một số trường hợp nặng vết hình thoi sẽ lan rộng, làm khô
hoàn toàn trái và có thể làm rụng trái khi còn non (Hình 3.3 và 3.4b)
Hình 3.4 Triệu chứng trên trái do thành trùng bọ vòi voi gây hại
a) Thành trùng đang hút dịch trên vết nứt gần cuống trái
b) Vết nám trên vỏ trái lan rộng đến gần đỉnh trái, khô cả vỏ
Ngoài việc gây tổn thương trên trái ngay vị trí cuống, sự gây hại kết hợp giữa thành trùng và ấu trung bọ vòi voi còn gây ra ở phần giữa vỏ và xung quanh
đỉnh trái với triệu chứng tương tự như ở phần cuống trái như trong Hình 3.5
Trang 3319
Hình 3.5 Triệu chứng bọ vòi voi D frumenti gây hại trên trái
a) Vết thương phần giữa vỏ trái b) Vết thương xung quanh phần đỉnh trái
Triệu chứng trên bẹ:
Thành trùng và ấu trùng đều có thể tấn công, gây hại cho bẹ dừa từ bên ngoài lẫn bên trong mô Tuy nhiên, bẹ không bị biến dạng và không có những vết hình thoi, khô như trên trái
- Trên bẹ non: do được bảo vệ bởi lớp vỏ dày nên thành trùng khó có thể
dùng vòi để hút dịch nhựa trên những bẹ này Giai đoạn đầu khi ấu trùng gây hại, phần mô dừa vẫn còn màu trắng, bề mặt bên ngoài bẹ vẫn còn xanh, không có dấu hiệu mục rỗng hay hóa nâu Bên trong ấu trùng đục thành các đường rỗng ngay trong lớp mô của bẹ, ấu trùng ăn phần mô dừa, thải phân ngay tại đường
đục và dùng xơ dừa vụn để bịt kín 1 đầu đường đục (Hình 3.6a và 3.6b) Sau
một thời gian gây hại phần bẹ chuyển dần sang màu nâu và có dấu hiệu chảy dịch
nhựa (Hình 3.6c)
Hình 3.6 Triệu chứng gây hại trên bẹ non của ấu trùng bọ vòi voi
a, b) Các đường đục trên bẹ non c) Đường đục hóa nâu và có dấu hiệu chảy nhựa
Trang 34- Trên bẹ già:
Thành trùng dùng vòi để cạp vào các vị trí mềm khác nhau trên bẹ dừa, hút dịch ngay tại các vết thương do côn trùng gây hại khác trên dừa hoặc các vết thương do con người tạo ra Thành trùng vừa hút dịch nhựa vừa tạo nơi để đẻ trứng, sự gây hại của thành trùng làm cho bề mặt gốc bẹ khô, xơ, loang lỗ các vết cạp để hút dịch Đặc biệt, sự gây hại của thành trùng trên bẹ không gây chảy dịch
nhựa, chỉ làm khô, teo tóp và biến màu phần mô mà chúng tấn công (Hình 3.7)
Hình 3.7 Triệu chứng gây hại của thành trùng bọ vòi voi trên bẹ già
Ấu trùng chỉ gây hại phần mô, đục và ăn lòn bên trong mô bằng các đường đục ngoằn ngoèo Ấu trùng chỉ sống tập trung tại những gốc bẹ ẩm ướt, do
đó sự gây hại của ấu trùng không làm bề mặt bẹ khô đi mà trở nên mục nát, phần
mô bên trong hóa nâu đen, tiết nhiều dịch nhựa trong màu vàng ngay tại đường
đục của ấu trùng (Hình 3.8)
Hình 3.8 Triệu chứng gây hại của ấu trùng bọ vòi voi trên bẹ già
a) Vết đục của ấu trùng b) Dịch nhựa tiết ra trên bẹ
Trang 3521
Những chất dịch nhựa này chủ yếu do chính bẹ dừa bị gây hại tiết ra, ban đầu dịch nhựa có màu vàng, khi cô đặc lại chuyển thành màu vàng cam trong suốt chạy dọc theo đường đục và dọc các xớ rỗng bên trong bẹ, các vết nhựa sẽ bịt kín đường đục cũ của ấu trùng bọ vòi voi, phần mô xung quanh vết nhựa màu
nâu đen, khô lại, phần vỏ bên ngoài bẹ cũng hóa nâu (Hình 3.9) Biểu hiện bên
ngoài bẹ rất dễ nhận dạng, bẹ sẽ hóa nâu và khô từ gốc bẹ lên, khi ấu trùng gây hại nặng cả bẹ sẽ cháy khô và dễ gãy
Hình 3.9 Chất nhựa cô đặc từ vết thương khi bọ vòi voi D frumenti tấn công
Bên ngoài những bẹ lá, khi có sự tấn công của bọ vòi voi rất dễ nhận diện bởi màu sắc của bẹ, trên bẹ có các lỗ đục nhỏ từ 1-2 mm, các lỗ đục này có thể là
nơi để thành trùng chui ra sau khi vũ hóa (Hình 3.10), toàn bộ bẹ và lá đều hóa
nâu, cháy khô và chết Thành trùng bọ vòi voi thường tập trung nhiều tại phần gốc bẹ và gây hại từ gốc bẹ lên Khi có sự hiện diện và gây hại với số lượng lớn
bọ vòi voi cả bẹ lá sẽ khô và cháy rụi, gốc bẹ mục rỗng, nhiều nhựa màu vàng, bên trong các gốc bẹ mục rỗng khi tách ra có sự hiện diện của nhiều thành trùng,
ấu trùng và cả nhộng
Hình 3.10 Triệu chứng vết đục bên ngoài bẹ dừa
a) Vết thương nhân tạo nơi thu hút thành trùng đến chích hút
b) Lỗ đục của bọ vòi voi D frumenti