QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO Hệ đào tạo: Chính quy Thời gian đào tạo: 2011-2015 Nơi học: Đại học Cần Thơ Ngành học: Khoa học đất Tên đề tài tốt nghiệp: “Ảnh hưởng của ẩm độ, hàm lượng đạm và phân h
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠKHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT
_
VÕ THỊ DIỄM MY
ĐỀ TÀI
ẢNH HƯỞNG CỦA ẨM ĐỘ, HÀM LƯỢNG ĐẠM VÀ
PHÂN HỮU CƠ ĐẾN SỰ PHÁT THẢI KHÍ
NHÀ KÍNH TỪ ĐẤT VƯỜN CHÔM CHÔM
Ở HUYỆN CHỢ LÁCH, BẾN TRE
Luận văn tốt nghiệp Ngành: KHOA HỌC ĐẤT
Cần Thơ - 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
ẢNH HƯỞNG CỦA ẨM ĐỘ, HÀM LƯỢNG ĐẠM VÀ
PHÂN HỮU CƠ ĐẾN SỰ PHÁT THẢI KHÍ
NHÀ KÍNH TỪ ĐẤT VƯỜN CHÔM CHÔM
Ở HUYỆN CHỢ LÁCH, BẾN TRE
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN SINH VIÊN THỰC HIỆN
KHOA HỌC ĐẤT K37 – TT1172A1
MSSV: 3113648
Cần Thơ - 2014
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT
XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Xác nhận đề tài “ Ảnh hưởng của ẩm độ, hàm lượng đạm và phânhữu cơ đến sự phát
thải khí nhà kính từ đất vườn chôm chôm ở huyện Chợ Lách, Bến Tre ” do sinh viên
Võ Thị Diễm My, Lớp Khoa Học Đất K37, Bộ Môn Khoa Học Đất thực hiện từ
tháng 06/2013 đến 12/2013
Nhận xét của cán bộ hướng dẫn:
Kính trình lên Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp
Cần thơ, ngày……tháng ……năm 2014
Cán bộ hướng dẫn
Ts Nguyễn Minh Đông
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT
XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN
Hội đồng chấm tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Khoa Học
Đất với đề tài “Ảnh hưởng của ẩm độ, hàm lượng đạm và phân hữu cơ đến sự phát
thải khí nhà kính từ đất vườn chôm chôm ở huyện Chợ Lách, Bến Tre ” do sinh viên
Võ Thị Diễm My, Lớp Khoa Học Đất K37, Bộ Môn Khoa Học Đất thực hiện từ
tháng 06/2013 đến 12/2013
Ý kiến của Hội đồng chấp nhận luận văn tốt nghiệp:
Luận văn tốt nghiệp được hội đồng đánh giá ở mức:
Cần thơ, ngày……tháng ……năm 2014
Chủ tịch Hội đồng
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết
quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Võ Thị Diễm My
Trang 6LỜI CẢM TẠ
Kính dâng:
Cha và Mẹ là người đã sinh ra và nuôi nấng con nên người, luôn bên cạnh con và
động viên con trong suốt quá trình học tập và tạo điều kiện tốt nhất để con có được
kết quả như ngày hôm nay
Thành kính biết ơn:
Thầy Nguyễn Minh Đông, anh Võ Văn Bình đã tận tình hướng dẫn dạy bảo và tạomọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn thànhluận văn
Quý thầy cô trường Đại Học Cần Thơ và thầy cô của khoa Nông Nghiệp & SinhHọc Ứng Dụng đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời giantheo học tại trường
Chân thành cám ơn:
Các thầy cô và toàn thể các anh chị thuộc phòng Thí nghiệm Bộ Môn Khoa học đất
đã tận tình hướng dẫn và giúp em rất nhiều để hoàn thành luận văn
Các bạn trong lớp Khoa Học Đất K37 đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập,
đặc biệt là các bạn trong nhóm của tôi
Xin gửi tới mọi người lời chúc tốt đẹp nhất, chúc mọi người sức khỏ e, hạnh phúc vàthành công
Cần Thơ, ngày 11 tháng 11 năm 2014
Võ Thị Diễm My
Trang 7LƯỢC SỬ CÁ NHẦN
I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC
Họ và tên: Võ Thị Diễm My
Giới tính: Nữ
Ngày, tháng, năm sinh: 21-04-1993
Nơi sinh: xã Long Hưng, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng
Quê quán: xã Long Hưng, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng
II QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO
Hệ đào tạo: Chính quy
Thời gian đào tạo: 2011-2015
Nơi học: Đại học Cần Thơ
Ngành học: Khoa học đất
Tên đề tài tốt nghiệp: “Ảnh hưởng của ẩm độ, hàm lượng đạm và phân hữu cơ đến
sự phát thải khí nhà kính từ đất vườn chôm chôm ở huyện Chợ Lách, Bến Tre ”.
Giảng viên hướng dẫn: Ts Nguyễn Minh Đông
Thời gian và địa điểm bảo vệ luận văn: tháng 09 năm 2014, tại Hội đồng khoa Nôngnghiệp và Sinh học ứng dụng, Đại Học Cần Thơ
Cần thơ, ngày……tháng ……năm 2014
Người khai ký tên
Võ Thị Diễm My
Trang 8Võ Thị Diễm My 2014 Ảnh hưởng của ẩm độ, hàm lượng đạm và phân hữu cơ đến
sự phát thải khí nhà kính từ đất vườn trồng chôm chôm ở huyện Chợ Lách, Bến Tre.
Luận văn Kỹ sư Ngành Khoa học đất, Khoa nông ngh iệp và Sinh học ứng dụng,
Trường Đại Học Cần Thơ, 50 trang Cán bộ hướng dẫn: Ts Nguyễn Minh Đông
TÓM LƯỢC
Cùng với hệ thống thâm canh tăng vụ việc sử dụng một lượng lớn phân bón nhưhiện nay đã ảnh hưởng đến môi trường khí quy ển gây hiệu ứng nhà kính góp phầnvào sự nóng lên của khí hậu toàn cầu Đề tài được thực hiện trong phòng thí nghiệmnhằm khảo sát sự phát thải khí CO2và N2O do ảnh hưởng của ẩm độ đất, sử dụng
phân vô cơ và phân hữu cơ trên đất vườn trồng chôm chôm Thí nghiệm được bố trí
hoàn toàn ngẫu nhiên với 8 nghiệm thức, 3 lặp lại Mẫu đất được thu trên vườn
chôm chôm 22 năm tuổi tại xã Phú Phụng, Chợ Lách, Bến Tre Kết quả cho thấylượng CO2phát thải ở ẩm độ đất 60% cao hơn ý nghĩa so với ẩm độ đất 40% CO2phát thải ở các nghiệm thức có bổ sung bã bùn mía cao hơn ý nghĩa so với cácnghiệm thức chỉ bón N vô cơ ở cả hai ẩm độ đất 40% và 60% Hàm lượng đạm hữudụng (NH4+, NO3-) đạt cao nhất ở nghiệm thức bón 140 mg N kết hợp với bã bùn
mía so với các nghiệm thức còn lại ở cả hai ẩm độ đất 40% và 60% Tuy nhiên, sựphát thải khí N2O ở các nghiệm thức bón N vô cơ cao hơn, có ý nghĩa so với cácnghiệm thức có bổ sung bã bùn mía Khí N2O phát thải ở ẩm độ đất 40% cao hơn có
ý nghĩa so với ẩm độ đất 60% Độ pH đất cao ở hai nghiệm thức bón phân N vô cơ
có kết hợp với phân hữu cơ bã bùn mía có khác biệt ý nghĩa ( p < 0,05) so với hai
nghiệm thức N vô cơ ở cả hai ẩm độ đất 40% và 60% Không có sự phát thải khí
CH4trong thí nghiệm ở ẩm độ đất 40% và 60%
Trang 9MỤC LỤC
XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN i
XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN ii
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM TẠ iv
LƯỢC SỬ CÁ NHẦN v
TÓM LƯỢC vi
MỤC LỤC vii
KÝ TỰ VIẾT TẮT ix
DANH SÁCH HÌNH x
DANH SÁCH BẢNG xi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 Tổng quan về địa điểm thí nghiệm 2
1.1.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 2
1.1.2 Tổng quan về đất liếp vườn cây ăn trái 2
1.1.3 Cây chôm chôm 3
1.2 Sự phát thải khí CO2, N2O và CH4từ sản xuất nông nghiệp 4
1.2.1 Sự phát thải khí CO2từ sản xuất nông nghiệp 4
1.2.2 Sự phát thải khí N2O từ sản xuất nông nghiệp 6
1.2.3 Sự phát thải khí CH4từ sản xuất nông nghiệp 7
1.3 Các biện pháp làm giảm khí thải nhà kín h từ các hoạt động nông nghiệp 8
CHƯƠNG II PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.1 Phương tiện 11
2.1.1 Thời gian thực hiện 11
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm 11
2.2 Phương pháp 11
2.2.1 Quy trình lấy xử lý mẫu 11
2.2.2 Phương pháp thực hiện 11
2.2.3 Phương pháp phân tích mẫu 14
2.2.4.Đặc tính đất và vật liệu hữu cơ trước khi bố trí thí nghiệm 15
Trang 10CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16
3.1 Ảnh hưởng của ẩm độ, hàm lượng đạm và phân hữu cơ đến sự phát thải khí từ đất vườn chôm chôm 16
3.1.1 Sự phát thải CO2 16
3.1.2 Sự phát thải N2O 18
3.1.3 Sự phát thải khí CH4 21
3.2 Tổng hàm lượng khí CO2và N2O sau thời gian ủ đất 21
3.3 Hàm lượng đạm hữu dụng trong đất 23
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 25
Kết luận 25
Kiến nghị 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ CHƯƠNG
Trang 11DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ANOVA Analysis of Variance (Phân tích biến số)
LSD Least Significance Diference (Khác biệt ý nghĩa thấp nhất)
CV Coefficient of Variation (Độ biến động)
Trang 124 Ảnh hưởng của ẩm độ và phân đạm vô cơ đến phát thải khí CO2
từ đất vườn chôm chôm đất bổ sung phân hữu cơ và không bổ
5 Ảnh hưởng của ẩm độ và phân đạm vô cơ đến phát thải khí N2O
từ đất vườn chôm chôm đất bổ sung phân hữu cơ và không bổ
sung phân hữu cơ
18
6 Ảnh hưởng của ẩm độ và phân đạm vô cơ đến phát thải khí N2O
từ đất vườn chôm chôm đất được bổ sung phân hữu cơ
20
7 Hàm lượng đạm hữu dụng còn lại trong đất 23
Trang 132 Mô tả các nghiệm thức trong thí nghiệm 12
3 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu còn lại của đất 14
4 Một số đặc tính đất trước khi bố trí thí nghiệm 15
5 Hàm lượng dinh dưỡng của các vật liệu phân hữu cơ trong thí
nghiệm
15
6 Tổng hàm lượng khí CO2-eqphát thải sau 7 ngày 22
Trang 14MỞ ĐẦU
Ngày nay, vấn đề bảo vệ môi trường và gia tăng sản xuất nông nghiệp nhằm đáp
ứng nhu cầu về lương thực cho con người đang trở thành mối quan tâm hàng đầu
Theo Nguyễn Đình H oe (2000), sự nóng lên toàn cầu làm thời tiết diễn biến theo
hướng cực đoan: mực nước biển dâng cao gây xói lở bờ và làm chìm ngập vùng đất
thấp ven biển, mưa lũ gia tăng ở vùng ven biển, vấn đề sa mạc hóa mở rộng ởnhững vùng nằm sâu trong lục địa, dịch bệnh tăng lên do nóng ẩm Một trongnhững nguyên nhân góp phần vào sự biến đổi của khí hậu là do các hoạt động sảnxuất nông nghiệp Với mục đích đẩy mạnh sản lượng nông nghiệp, nhiều biện pháp
kỹ thuật đã được áp dụng nhằm nâng cao năng suất cây trồng; đặc biệt là sử dụngphân bón ngày càng tăng Theo Vũ Đình Yên (1995), sử dụng phân bón không đúng
kỹ thuật là nguyên nhân làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến bầu khí quyển do phânbón có thể tạo ra các khí ảnh hưởng đến môi trường như: CO2, CH4, N2O TheoSmith và ctv (2007), nông nghiệp đã tạo ra 10 - 12% tổng số các chất gây nên hiệu
ứng nhà kính bao gồm CO2, CH4, N2O Trong đó, CO2 được phóng thích với sốlượng lớn từ sự phân hủy chất hữu cơ và đốt rừng; CH4 được sản sinh ra từ quá
trình phân hủy yếm khí chất hữu cơ, trong quá trình lên men ở bộ máy tiêu hóa của
các động vật nhai lại và những loài dộng vật ăn cỏ khác, phân động vật và từ ruộng
ngập nước; N2O được phát thải vào khí quyển do vi khuẩn biến đổi N trong đất,
phân bón và thường tăng khi lượng N vượt quá nhu cầu sử dụng của cây trồng, đặcbiệt là trong điều kiện ẩm ướt
Hiện nay, việc nghiên cứu sự phát thải khí nhà kính từ các hệ thống nông nghiệp đãnhận được nghiên cứu, chủ yếu là trên các hệ thống canh tác lúa, màu Trong khi
đó, có rất ít nghiên cứu cơ bản về vấn đề phát thải k hí nhà kính trên vườn cây ăn trái
ở Đông bằng Sông Cửu Long Vấn đề sử dụng phân bón vô cơ không hợp lý, quản
lý nước cho ra hoa trái vụ và tập quán ít sử dụng phân hữu cơ trên đất vườn cây ăntrái của nông dân trong vùng có thể dẫn đến những ảnh hưởng khá c nhau trên sựphát thải khí nhà kính Việc tìm hiểu sự phát thải khí nhà kính từ đất vườn cây ăntrái ở ĐBSCL nhằm có được những đánh giá cơ bản về vấn đề này là rất thiết thực
Do đó, đề tài “Ảnh hưởng của ẩm độ, hàm lượng đạm và phân hữu cơ đến sự phát
thải khí nhà kính từ đất vườn trồng chôm chôm ở huy ện Chợ Lách, Bến Tre” nhằm:
- Tìm hiểu ảnh hưởng của ẩm độ đất và phân N vô cơ, phân hữu cơ đến sự phát thảikhí CO2, N2O, góp phần giải thích kết quả nghiên cứu thực tế về sự phát thải khí
trên vườn chôm chôm tại Chợ Lách, Bến Tre
Trang 15CHƯƠNG I LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về địa điểm thí nghiệm
1.1.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre
Huyện Chợ Lách nằm ở vị trí 9052’50’’ – 1003’47’’ vĩ độ Bắc và 10602’00’’
-106017’10’’ kinh độ Đông Phía Bắc giáp với sông Hàm Luông và huyện Cai Lậy,
tỉnh Tiền Giang; phía Nam giáp với sông Cổ Chiên; phía Đông giáp với huyện MỏCày, tỉnh Bến Tre; phía Tây giáp với huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long (PhòngThống Kê huyện Chợ Lách, 2005)
Nhiệt độ trung bình hằng năm là 27,100C, cao nhất là 350C và thấp nhất là
230C Lượng mưa bình quân hằng năm là 1.499,8 mm, từ tháng 5 đến tháng 10 là
mùa mưa và từ tháng 11 đến tháng 4 là mùa nắng Số giờ nắng cả năm trung bình là2.172,3 giờ, tháng 3 có số giờ nắng nhiều nhất (285,2 giờ), tháng 11 có số giờ nắngthấp nhất (111,6 giờ) (Phòng Thống Kê huyện Chợ Lách, 2005).Với điều kiện khíhậu của vùng rất thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển cây chôm chôm
1.1.2 Tổng quan về đất liếp vườn cây ăn trái
Độ phì nhiêu
Việc sử dụng nông dược thường xuyên với liều lượng cao làm suy giảm độ phìnhiêu đất và giảm hoạt động của vi sinh vật đất, ngoài ra đất liếp vườn có thời gianlên liếp lâu năm dẫn đến việc suy giảm về phì nhiêu đất (Võ Thị Gương và ctv.2010b) Phế phẩm thực vật, phân hữu cơ ủ hoai bón vào đất giúp cải thiện sự bạcmàu đất và giúp cải thiện năng suất cây trồng (Võ Thị Gương và ctv 2010b) Kếtquả thí nghiệm qua một vụ canh tác và sử dụng phân bón hữu cơ có khuynh hươnggiúp cải thiện một số đặc tính hóa học và sinh học đất, nhưng chưa giúp tang năngsuất trái chôm chôm (Võ Thị Gương và ctv 2009) Nguyên nhân chính của sự duythoái đất là sự nén dẽ, xói mòn đất, mất chất hữu cơ, mặn hóa, suy kiệt dinh dưỡng
và ô nhiễm đất (Oldeman, 1994)
Độ pH
Độ pH đất được xem là yếu tố ảnh hưởng đến của chất dinh dưỡng trong đất
(Christopher và ctv 2001) Nhìn chung cây ăn trái có thể phát triển ở pH 5 – 8,nhưng tốt nhất ở pH 6 – 7 và đất có pH dưới 4,5 gây nhiều bất lợi cho sự sinh
trưởng và phát triển của cây, dưỡng chất kém hữu dụng, các hoạt động của vi sinh
vật có ích bị giảm (Dauba và ctv 2008)
Theo nghiên cứu của Phạm Văn Quang và Võ Thị Gương (2011) khảo sát hainhóm đất vườn cây ăn trái có độ tuổi (≤ 30 năm) và nhóm đất vườn (>30 năm) ở
Trang 16tầng (0 – 20) và (20 – 50), pH của đất thấp, nghèo chất hữu cơ, độ hữu dụng của các
dưỡng chất trong đất kém, hoạt động của vi sinh vật giảm theo độ tuổi của vườn cây
ăn trái Vi sinh vật phân giải chất hữu cơ rất mẫn cảm với với điều kiện pH đất và
chúng hoạt động tốt nhất với số lượng nhiều nhất trong điều kiện pH trung tính(Châu Minh Khôi, 2000)
Hàm lượng chất hữu cơ
Hàm lượng chất hữu cơ trong đất liếp vườn cây ăn trái một số tỉnh Đồng bằngsông Cửu Long là khá thấp, có nơi chỉ khoảng từ 1,6 – 2,8%, đất nghèo dinh dưỡng,
bị nén dẽ, độ bền cấu trúc kém, hoạt động của vi sinh vật trong đất rất thấp, đưa đếntiến trình chuyển hóa dinh dưỡng trong đất thấp Đất liếp vườn có thời gian lên liếplâu năm làm suy giảm về phì nhiêu đất, giảm hoạt động của vi sinh vật đất (Võ ThịGương và ctv 2010b) Theo nhiều nghiên cứu của Võ Thị Gương và ctv (2005;2010b); Dương Minh Viễn và ctv (2011) bón phân hữu cơ với lượng 10 tấn/ha trên
đất liếp vườn cây ăn trái có sự gia tang hàm lượng hữu cơ trong đất khác biệt có ý
nghĩa thống kê so với không bón hữu cơ Theo Châu Thị Anh Thy và ctv (2013)bón bã bùn mía với lượng 20 kg/cây qua hai vụ lien tiếp giúp cải thiện chất hữu cơ
trong đất vườn chôm chôm, khác biệt ý nghĩa so với đối chứng chỉ sử dụng phân vô
cơ
Diện tích vườn cây ăn trái vùng Đồng bằng sông Cử u Long khoảng 240.000hecta, chiếm khoảng 70% diện tích trồng cây ăn trái của cả nước ( Vũ Công Hậu,
2000) và được xem là vùng trồng cây ăn trái quan trọng Với điều kiện tự nhiên
ngập lũ hằng năm, các vườn cây ăn trái ở Đồng bẳng sông Cửu Long cần thiết xâ y
đắp bờ bao ngăn lũ và đồng thời phải lên liếp, nhiều vườn có tuổi liếp trên ba mươinăm Sự suy giảm độ phì nhiêu tự nhiên về mặt hóa, lý, sinh học đất thể hiện rất rõ
là sự mất dần chất hữu cơ trong đất và sự suy giảm khả năng cung cấp các dưỡngchất cần thiết cho cây trồng (Võ Thị Gương và ctv 2010) Ngoài những nguyênnhân gây nên sự suy thoái chất lượng đất như: phèn hóa, biến dổi khí hậu làm nướcbiển dâng cao, sự xâm nhập mặn, gia tang nồng độ kim loại nặng và các chất gây ônhiễm khác, thì sự suy thoái đất gây ra bởi tác động của con người trong canh tác
được đánh giá là quan trọng nhất, làm cho đất bị bạc màu nhanh hơn (Võ ThịGương và ctv 2010b)
1.1.3 Cây chôm chôm
Chôm chôm (Nephelium lappaceum L.) là một loại cây ăn trái đặc sản của vùng
Đồng bằng sông Cửu Long, diện tích 14,2 ngàn hecta, sản lượng xấp xỉ 100 ngàn
tấn/năm (chiếm 40% diện tích và 61,54% sản lượng chôm chôm cả nước) Chômchôm là một loại cây ăn trái có giá trị dinh dưỡng và hiệu quả kinh tế khá cao, đượctrồng nhiều ở các tỉnh như B ến Tre, Vĩnh Long, Tiền Giang, Cần Thơ (Vũ Công
Trang 17Hậu, 2000) Theo Phòng Thống Kê huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (2005) huyệnChợ Lách là vùng trọng điểm trồng cây ăn trái trong đó, diện tích trồng cây chômchôm của huyện là 1.774 hecta trên tổng diện tích trồ ng cây ăn trái 10.796 ha,chiếm tỷ lệ 16,15% và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân Thế
nhưng, phần lớn nông dân canh tác chôm chôm theo kinh nghiệm truyền thống,chưa áp dụng kỹ thuật canh tác và bón phân hợp lý
Huyện Chợ Lách- Bến Tre là m ột vùng trọng điểm trồng cây ăn quả với nhiềuchủng loại khác nhau như: chôm chôm, sầu riêng, măng cụt…Trong đó , cây chômchôm mang lại hiệu quả kinh tế rất cao cho người nông dân Nhưng phần lớn nôngdân canh tác chôm chôm theo kinh nghiệm truyền thống, chưa tìm hiểu nhiều đếnnhững đặc tính sinh học của cây cũng như kỹ thuật canh tác và bón phân hợp lí Vấn
đề hiện nay giá chôm chôm chính vụ thấp nên phần lớn nông dân xử lý ra hoa
nghịch vụ để bán được giá cao Trung bình giá bán 1 kg chôm chôm nghịch vụ caogấp 5 đến 7 lần giá bán 1 kg chôm chôm chính vụ Việc xử lý ra hoa nghịch vụ
nông dân thường sử dụng phân bón hóa học nhiều hơn đã làm thay đổi một số đặc
tính sinh học của cây đồng thời làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây và làmchậm trễ thời gian xử lý ra hoa của vụ tiếp theo và cuối cùng làm cho năng suất câytrồng và phẩm chất trái bị sụt giảm
Trong điều kiện khí hậu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) chôm
chôm ra hoa tập trung vào tháng 2 -3 do ảnh hưởng của khô hạn và thu hoạch tậptrung vào tháng 6-7 dương lịch là trong điều kiện tự nhiên theo chu kỳ sinh học củacây, nên giá bán rất thấp Do đó, nông dân điều khiển cho chôm chôm ra hoa nghịch
vụ góp phần làm thay đổi một số đặc tính sinh học của cây
1.2 Sự phát thải khí CO 2 , N 2 O và CH 4 từ sản xuất nông nghiệp
1.2.1 Sự phát thải khí CO 2 từ sản xuất nông nghiệp
Theo Wager (2007) hoạt động trong sản xuất nông nghiệp đóng góp lượng CO2
đáng kể vào khí quyển Sự hô hấp của vi sinh vật đất cũng phóng thích khoảng 20%lượng CO2 vào khí quyển Theo Smith và ctv (2007a) cho rằng nguyên nhân làm
tăng khả năng phóng thích khí nhà kính từ hoạt động sản xuất nông nghiệp là do
dân số ngày càng tăng làm cho nhu cầu về lương thực thực phẩm của con người
tăng lên, khoa học kỹ thuật phát triển, những chính sách kinh tế và xã hội đã làm
cho nền nông nghiệp thế giới thay đổi trong hơn 4 thập kỉ qua Sản xuất nôngnghiệp ngày càng phát triển để đáp ứng nhu cầu lương thực thực phẩm đều này đãgây sức ép lên môi trường và làm cạn kiệt nguồn tài nguyên Theo Miyittah vàInubushi (2003) khả năng phóng thích CO2 vào khí quyển cũng phụ thuộc vào hàm
lượng carbon trong đất, mật số vi sinh vật phân hủy chất hữu cơ và tùy vào loại
phân chuồng đã bón vào đất Ngoài ra, khả năng phóng thích CO2 từ đất vào khí
Trang 18quyển cũng phụ thuộc vào hàm lượng CO2 tích lũy trong đất, khi hàm lượng CO2tích lũy trong đất tăng thì khả năng phóng thích CO2tăng Bên cạnh đó, hàm lượng
chất hữu cơ trong đất và nhiệt độ đất cũng ảnh hưởng đến khả năng phóng thích
CO2 Khi nhiệt độ đất tăng thì sẽ tạo ra CO2 nhiều hơn do các quá trình sinh học
trong đất xảy ra mạnh (Miyittah và Inubushi, 2003) Khả năng phóng thích CO2vào
ban ngày cao hơn ban đêm (Liang Fuyuan, 2005)
Khả năng phóng thích CO2vào khí quyển cũng phụ thuộc vào hàm lượng chấthữu cơ trong đất, đặc tính đất, việc sử dụng phân khoáng và phân hữu cơ có ảnh
hưởng đáng kể đến khả năng phóng thích CO2 (Ginting và ctv., 2003).Theo
Clemens và ctv (2006) sự phát thải CO2, CH4, N2O, NH3phụ thuộc vào nhiệt độ,vật liệu hữu cơ, thí nghiệm được thực h iện thời gian 100 ngày trong mùa xuân CO2thải ra dao động 14.3–17.1 kg.m−3 và 40.5–90.5 kg.m−3 thời gian 140 ngày trongmùa hè Theo kết quả nghiên cứu của Maljanen và ctv (2004) đất trồng cạn khi cótrồng cây thì phóng thích CO2cao hơn đất để trống và ngược lại thì sự phóng thích
khí N2O cao ở đất có trồng cây Những nghiên cứu trước đây đã chứng minh nhiệt
độ đất và ẩm độ đất là yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phóng thích CO2 từ đất vàokhí quyển Khi nhiệt độ đất tăng thì khả năng phóng thích CO2cũng tăng theo.Theo kết quả nghiên cứu của Smith và ctv (2007b) sự phát thải khí CO2từ rấtnhiều nguồn khác nhau, sự phát thải khí CO2tập chung chủ yếu là quản lý mùa vụchiếm 1450 Mt CO2-eq/năm, quản lý đất trồng cỏ chiếm 1500 Mt CO2-eq/năm,canh tác nông nghiệp trên đất có hàm lượng hữu cơ cao chiếm 1400 Mt CO 2và kế
đến là những vùng đất suy thoái đã được phục hồi để canh tác 700 Mt CO 2
Theo kết quả báo cáo của Lê Đức Ngoan và Lê Thị Hoa Sen , (2008) Việt Nam
là một nước nông nghiệp nên khả năng sinh ra các khí gây hiệu ứng nhà kính là
không đáng kể so với các nước công nghiệp, những nước phát triển trên thế giới
(Natcom, 2003) Trong tổng lượng khí thải nhà kính ước tính thải ra hàng năm củaViệt Nam thì nguồn thải ra lớn nhất là từ sản xuất nông nghiệp chiếm > 50%, kế
đến là việc sử dụng năng lượng chiếm 24,7%
Trang 19Bảng 1 Ước tính lượng khí nhà kính thải ra từ sau 1994 đến nay ở Việt Nam
Các lĩnh vực Lượng khí nhà kính
(tương đương triệu tấn CO2)
% tổng lượngkhí thải
24,7%18,%50,5%3,7%2,4%
Nguồn: Việt Nam Initial Natcom (2003)
1.2.2 Sự phát thải khí N 2 O từ sản xuất nông nghiệp
Đạm từ phân bón, chất rắn sinh học và các ngu ồn khác của N không phải luônluôn được sử dụng hiệu quả cho cây trồng (Galloway và ctv 2003; Cassman và ctv
2003) N dư dễ bị ảnh hưởng đến phát thải N2O (McSwiney and Robertson, 2005)
Do đó, cải thiện hiệu quả sử dụng N có thể làm giảm lượng khí thải N2O và giántiếp giảm lượng khí thải nhà kính từ sản xuất phân bón N Mặc khác, giảm rửa trôi,mất N và cải thiện hiệu quả sử dụng của N cũng có thể làm giảm phát thải N2O.Theo kết quả nghiên cứu của Maljanen và ctv (2004) thì đất có cây trồng cạn phóngthích CO2cao, trong khi đất không trồng cây phát thải N2O cao Theo Akiyama,(2004) thì cho rằng nông nghiệp đóng góp lượng khí thải N2O, NO, NH3 đáng kể
vào sự thay đổi khí hậu toàn cầu Tổng lượng N2O và NO phóng thích từ phân urea
là 0.04- 0.62% và từ 0.23 đến 1.55% ở ẩm độ trong đất khoảng từ 40- 80%
Theo ước tính của các nhà khoa học, ở nước ta các khí "nhà kính" phát thải từ
nguồn do hoạt động nông nghiệp chủ yếu là CH4 từ canh tác lúa với số lượng vàokhoảng 3,5 tấn /năm và N2O từ phân đạm với lượ ng khoảng 0,06 tấn /năm Trong
tương lai nếu các hoạt động nông nghiệp vẫn duy trì ở mức trong những năm qua
thì tốc độ gia tăng hàng năm của lượng phóng thích CH4 và N2O sẽ vào khoảng 4
đến 6% (Trần Thanh Lâm, 1998) Theo Bai Hong-Ying, Zhang Yi-Ping (2005),
nghiên cứu tại cánh đồng trồng lúa mì kết quả cho rằng N2O phóng thích từ đấtcũng ảnh hưởng bởi nhiệt độ đất và độ sâu ở từng tầng đất Kết quả cho thấy, ở độsâu từ 0- 5cm thì nhiệt độ ảnh hưởng không đáng kể đến khả năng phóng thích N2O
từ đất Nhưn g ở những độ sâu khác nhau : 0-10cm ; 0-15cm ; 0-20cm thì nhiệt độ
ảnh hưởng đáng kể đến khả năng phóng thích N2O từ đất Khi nhiệt độ đất khoảng
30oC ảnh hưởng đáng kể đến lượng N2O được phóng thích Ở những độ sâu khác
nhau thì N2O được phóng thích cũng khác nhau Khi nhiệt độ đất khoảng 30oC và ở
độ sâu từ 5- 20cm thì N2O được phóng thích đáng kể, cao nhất là ở độ sâu từ 5
-10cm N2O được phóng thích khoảng 43% Theo Yu-chun và Dong Yun-she (2005),
Trang 20thì cho rằng tiến trình khử nitrate và nitrate hóa cũng là nguồn phóng thích N2O từ
đất vào khí quyển Có một vài yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phóng thích N2O vàokhí quyển :Việc sử dụng phân đạm trong canh tác có ảnh hưởng đến khả năngphóng thích N2O Nếu như việc sử dụng phân bón ổn định sẽ giảm được N2O phóngthích từ đất đồng thời vẫn có thể tăng năng suất cây trồng Ẩm độ đất khả năng N2Ophóng thích cao nhất khi ẩm độ 77- 86% Khi ẩm độ đất thấp hơn giá trị này thì
N2O được phóng thích từ tiến trình nitrate hóa, khi ẩm độ đất cao hơn giá trị này thì
N2O được phóng thích từ tiến trình khử nitrate Nhiệt độ đất từ 15- 35oC thuận lợicho hoạt động của vi sinh vật tham gia vào tiến trình nitrate hóa Từ 5 - 75oC thuậnlợi cho hoạt động của vi sinh vật tham gia vào tiến trình khử nitrate Nên khả năngphóng thích N2O từ đất cũng phụ thuộc vào nhiệt độ đất pH đất pH tối hảo cho quátrình khử nitrate là từ 7 -8 Độ xốp của đất N2O phóng thích từ đất bị nén chặt thấp
hơn đất không nén chặt do đất sẽ cản trở tiến trình phóng thích N2O.Cây trồng sựphát triển của cây trồng, sự phát triển của rễ cây, sự bài tiết từ rễ có thể làm thay đổi
điều kiện đất (về mặt vật lý và hóa học) như đậu nành, ngô, lúa cũng có thể ảnhhưởng đến khả năng phóng thích N2O N2O là một khí nhà kính quan trọng và nồng
độ của nó trong khí quyển đã tăng 17% vào năm 1750 (IPCC Intergovernmental
Panel on Climate Change, 2001) 70% N2O phát thải vào sinh quyển có nguồn gốc
từ đất (Mosier, 1998) và việc sử dụng phân bón N đã góp phần đáng kể vào việcphát thải khí N2O (Mosier và ctv 2000)
Theo nghiên cứu của Hefting và ctv (2006) điều kiện nghiên cứu trong phòngthí nghiệm, các mẫu đất đồng nhất về tính chất hóa học và vi sinh vật để so sánh sựnitrat hóa và tiềm năng phát thải khí N2O không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê sovới trong điều kiện sản xuất ngoài đồng Theo kết quả nghiên cứu của Castro Silva
và ctv (2008) phát thải CO2tăng trong đất mặn có bổ sung phân urê cao 1,5 lần so
với đất không bổ sung phân urê, nhưng ở tầng C nó bị ức chế chỉ cao 1,2 lần Đất ở
ẩm độ 40%, 60% và 80% thì lượng phát thải N2O tăng trong các tầng đất có bổ
sung phân urê so với đất không bổ sung Theo kết quả nghiên cứu của Rochette vàctv (2007) khí thải hàng năm đặc biệt cao trong đất sét nặng, thay đổi từ 12 đến 45
kg N2O ha-1 và lượng N2O phát thải cao có thể không liên quan với phân bón N
trong điều kiện khử nitơ được duy trì, sự phân hủy nguồn dự trữ chất hữu cơ trongđất (192 nghìn gam C ha-1trong 0,5 m lớp đất mặt)
1.2.3 Sự phát thải khí CH 4 từ sản xuất nông nghiệp
Sự phát thải khí CH4 được chứng minh từ hai dạng methanotrophs (vi
khuẩn-oxy hóa) và methanogens (vi khuẩn sản xuất CH4) đã có mặt trong cộng đồng visinh vật đất Nói chung, quá trình oxy hóa CH4vượt quá 80% CH4được sản xuất thì
tốc độ phát thải CH4 được đo trong nghiên cứu giảm khoảng -1 đến -130 µg C m-2
h-1 (Castaldi và Fierro, 2005) Theo nghiên cứu của Carter và ctv (2010) nhiệt độ
Trang 21cao làm tăng sự hấp thu khí CH4 trung bình 10 µg C m-2 h-1, tương ứng với sự gia
tăng tỷ lệ hấp thu khoảng 20% Tuy nhiên, trong mùa đông hàm lượng khí CO2caolàm giảm sự hấp thu CH4và giảm sự phát thải N2O (<10 µg N m-2h-1)
Theo kết quả của IPCC, (2007) trên toàn cầu, các khí thải từ nông nghiệp CH4
và N2O tăng 11% từ 1990 đến 2007 Nguồn phát thải khí CH4 chủ yếu là từ quátrình lên men đường ruột của gia súc chiếm trung bình từ 77,7 % ở năm 1990 và73,2 % ở năm 2007 của tổng lượng phát thải khí CH4 Kế đến là việc quản lý phângia súc cũng là nguồn phát thải đáng kể trong khí thải nhà kính Nói chung khí CH4
có xu hướng giảm nhẹ ở năm 2007 so với năm 1990, nhưng với mức giảm này làchưa đáng kể
Trong hầu hết các hệ sinh thái, sự phát thải CH4 được kiểm soát bởi sự khuếch
tán của CH4từ không khí trong các lớp đất, quá trình oxy hóa CH4diễn ra và độ ẩm
đất là yếu tố có ảnh hưởng đến việc vận chuyển p hân tán của CH4 (Borken và ctv
2006) Ngược lại, CH4hấp thu dường như ít bị kiểm soát bởi các yếu tố sinh học mà
được quy định bởi nhiệt độ đất ví dụ như tỷ lệ hấp thu tương đối giống nhau trên
nhiều hệ sinh thái khác nhau trên toàn thế giới (Billings và ctv 2000) Những vùng
đất bị hạn hán đã không ảnh hưởng đến sự phát thải CH4mặc dù điều này xảy ra ởtầng 0-20 cm của lớp đất mặt, khô hạn đã hạn chế tác động trực tiếp hoặc gián tiếp
đến sự phát thải CH4 và kể từ khi xảy ra hạn hán phản ứng phát thải CH4 chậm trễ(Cantarel và ctv 2011)
1.3 Các biện pháp làm giảm khí thải nhà kính từ các hoạt động nông nghiệp
Do nhu cầu sử dụng phân bón ngày càng cao để đảm bảo an ninh lương thực vàphát triển một nền nông nghiệp sinh thái bền vững, thì những giải pháp phò ng ngừacần được đặt ra và giải quyết đồng bộ, nhằm hạn chế đến mức tối thiểu mối nguyhại môi trường Sử dụng phân bón có hiệu lực và cân đối giúp gia tăng năng suấtbền vững, đồng thời hạn chế tổn thất do rửa trôi, bay hơi của phân khoáng cũng nhưphân hữu cơ, đều là những chiếc lược của nền nông nghiệp bền vững và giải quyếtmối quan hệ biện chứng giữa năng suất cây trồng và bảo vệ môi trường Vì vậy,việc tiến tới một nền nông nghiệp bền vững và hạn chế đến mức tối thiểu mối nguyhại đến môi trường phải được giải quyết một cách đồng bộ (Lê Văn Khoa và ctv,1999)
Việc sử dụng phân bón cho trồng trọt đặc biệt là phân đạm và phân chuồngkhông phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả, nếu sử dụng không đúng liều lượng, kỹthuật sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe con ngư ời, ảnh hưởng đến môi trường đất và khíquyển
Theo Ngô Ngọc Hưng (2004), việc nâng cao hiệu quả sử dụng phân đạm sẽ làmgiảm phóng thích N2O Nhiều nghiên cứu đồng ruộng đã được thực hiện với chất ức
Trang 22chế nitrat hóa và sử dụng phân đạm chậm tan có thể làm giảm phóng thích N2O.Việc sử dụng chất ức chế nitrat hóa là một cơ chế hợp lý để duy trì dạng ammoniumcủa phân bón trong đất sẽ giảm thấp khả năng phóng thích N2O Nhiều thí nghiệm
đồng ruộng cho thấy việc sử dụng các loại chất ức chế nitrat hóa đã hạn c hế có ý
nghĩa phóng thích N2O từ phân bón có chứa gốc ammonium Chất ức chế cần đượcchọn phù hợp với điều kiện khí hậu, kiểu hệ thống canh tác cũng như loại phân N.Một số nghiên cứu cũng xác nhận tiềm năng của phân N tan chậm có thể làm giảmkhả năng phóng thích N2O Ngoài ra, cần bón đạm đúng loại, đúng lượng và bóntheo nhu cầu sử dụng của cây trồng
Đối với canh tác lúa nước, nếu quản lý nước hợp lý thì việc phóng thích khí
CH4 cũng được giảm thiểu: xen kẻ tưới nước với rút khô ruộng lúa giúp các vikhuẩn methanothrops biến CH4 trong đất thành CO2 Rút nước khô sau khi hạt lúa
chín khối lượng vừa làm năng xuất lúa gia tăng, vừa ngăn chặn phóng thích khí CH4vào khí quyển (Trần Đăng Hồng, 2007)
Vì vậy, cần tránh lúa bị ngập nước Đất lúa ngập nước đư ợc tính là đóng góp30% của sự phóng thích CH4 toàn cầu Dưới điều kiện yếm khí chất hữu cơ có thểtạo ra CH4 , vì vậy mà sự bón phân chuồng vào đất lúa trong giai đoạn ngập là
không được khuyến cáo (Ngô Ngọc Hưng, 2004)
Theo Corton và ctv (2000), cho rằng để có thể giảm khả năng phóng thích CH4cần phải :
Cần phải thoát nước tốt ở những vùng đất ẩm ướt vì CH 4 được sinh ra từ sự
phân hủy chất hữu cơ trong điều kiện yếm khí
Bón phân có gốc sulfate như ammonium sulfate (NH4)2SO4và phosphogypsumkết hợp với phân urea(NH4)2CO3 sẽ làm giảm lượng CH4 phóng thích Khiammonium sulfate kết hợp với phân urea sẽ giảm CH4 phóng thích khoảng 25-36% Phân gia cầm kết hợp với phân urea không làm tăng CH4phóng thích Nguyênnhân là CH4 tích lũy trong đất sẽ giảm khi có hàm lượng SO42- cao vì có sự cạnhtranh chất nền giữa vi khuẩn khử SO42- và vi khuẩn sinh CH4; do ảnh hưởng kiềmhãm của sulphate và sulphit đối với quá trình sinh CH4; khả năng phụ thuộc giữaquá trình sinh CH4vào các sản phẩm của vi khuẩn khử sulphate ; CH4có thể bị oxyhóa bởi vi khuẩn dinh dưỡng CH4hiếu khí và kị khí (Lê Văn Khoa và ctv 2000).Bên cạnh đó, một trong những phương pháp làm giảm phát thải khí nhà kính cóhiệu quả nhất được khuyến khích là thay đổi cách sử dụng đất (Pete Smith và ctv.2007) Chẳng hạn, từ trồng lúa chuyển sang trồng cỏ kết quả sẽ làm tăng cacbontích lũy trong đất bởi vì đất ít bị xáo trộn hơn Nguyên nhân là đất bị xáo trộn sẽ
kích thích cacbon trong đất mất đi do tăng khả năng phân hủy chất hữu cơ và kết
quả CO2được phóng thích Đất trồng cỏ có thể làm giảm sự phóng thích N2O vào
Trang 23khí quyển do giảm được việc sử dụng phân đạm (Paustian và ctv 2004, trong PeteSmith và ctv 2007).
Theo ước tính của SAR (IPCC, 1996), trích trong Pete Smith và ctv (2007),
toàn cầu lượng CH4 phóng thích từ sản xuất nông nghiệp có thể giảm khoảng 16%, nếu nguồn thức ăn cho chăn nuôi gia súc đặc biệt là đối với động vật nhai lại
15-được cải thiện và quản lý tốt những cánh đồng lúa ngập nước và N 2O cũng có thểgiảm khoảng 9- 26%
Trang 24CHƯƠNG II PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Phương tiện
2.1.1 Thời gian thực hiện
Thời gian thực hiện luận văn từ 18/06/2013 tại phòng thí nghiệm phân tích hóa
– lý đất, Bộ môn Khoa học đất, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trườngĐại Học Cần thơ
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm
Các thiết bị, dụng cụ phân tích trong phòng thí nghiệm phân tích hóa- lý đất.Mẫu đất được lấy tại đất v ườn chôm chôm nguyên thủy xã Phú Phụng, huyệnChợ Lách, tỉnh Bến Tre
2.2 Phương pháp
2.2.1 Quy trình lấy xử lý mẫu
Mẫu đất sau khi lấy về để khô không khí ở nhiệt độ phòng, nghiền và qua rây ( 2
lượng phân bón và ẩm độ đất ảnh hưởng đến sự phát thải khí Thí nghiệm được thực
hiện theo phương pháp của Carolina Castro Silva và ctv (2008)
Mẫu đất được thu từ vườn trồng chôm chôm có tuổi liếp 26 năm và tuổi cây là
22 năm Mẫu đất được phơi khô tự nhiên trong không khí và được nghiền qua rây
2mm Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 8 nghiệm thức và 3 lặp lại.Mẫu đối chứng không chứa vật liệu được bố trí trong thí nghiệm để xác định lượngkhí CO2và N2O trong không khí bên ngoài vào bình
Phương pháp tính ra CO 2 -eq tương đương (IPCC, 2007)
Hàm lượng CO2x 1 = CO2-eq
Hàm lượng CH4x 25 = CO2-eq
Hàm lượng N2O x 298 = CO2-eq
Trang 25Bảng 2 Mô tả các nghiệm thức trong thí nghiệm.
2A
4C 4B
4A
6C 6B
6A
8C 8B
8A
Trang 26Phương pháp ủ đất: Xác định ẩm độ đất với lượng nước cần thiết để đạt ẩm độ
đất theo nghiệm thức thí nghiệm Cân 20 g đất khô cho vào bình tam giác 250 ml,
cho 8 ml và 12 ml nước cất vào để đạt ẩm độ đất 40% và 60% Các bình chứa mẫu
đất đã tạo ẩm độ 40 và 60% được để sau 24 giờ, sau đó thêm 0,6 1 mg urê cho
nghiệm thức 140 mgN và 0,87 mg urê cho 200 mg N Các nghiệm thức có bổ sungphân hữu cơ được thêm vào 16 mg bã bùn mía tương đương 0,8 g bã bùn mía/kg đấtkhô Mỗi nghiệm thức được bố trí 12 bình cho 4 lần thu mẫu là 1, 2, 4 và 7 ngày sau
ủ đất Tổng cộng 96 bình chứa mẫu và 12 bình không chứa mẫu để kiểm tra mức độ
nhiễm không khí từ bên ngoài Các bình chứa mẫu được bơm khí He vào rồi đậy nútcao su lại thật kín Sau 1 ngày kể từ lúc đậy nút cao su lấy ra 3 bình từ mỗi nghiệmthức, dùng ống kim xuyên thẳng qua nút cao su rút ra 30 ml khí và nén vào chai pi
có thể tích 20 ml để mang đi phân tích Các bình sau khi thu mẫu phần đất trongbình được lấy ra để khô tự nhiên Tiếp tục thu mẫu vào ngày thứ 2, 4, và 7 Sau khithu mẫu khí xong phần đất trong bình được để khô tự nhiên và nghiền qua rây 0,5
mm để phân tích các chỉ tiêu: N-NH4, N-NO3, pH Các mẫu khí sau khi thu đượcphân tích các chỉ tiêu CO2, N2O
Hình 2 Sụt khí He vào trước khi ủ mẫu đất Phương pháp đo mẫu khí: Các mẫu khí thu vào chai, đậy kín nắp gởi đến
Viện Nghiên Cứu Lúa đồng bằng sông Cửu Long để đo khí CO2, CH4bằng máy sắc
ký khí (Model SRI 8610C) Khí CO2 và CH4 được phát hiện bởi đầu dò ion hóa
ngọn lửa (FID) Khí N2O dùng đầu dò ECD là Hayesep-N Nhiệt độ của buồng cột là
60C và nhiệt độ đầu dò FID là 300C
Trang 27Hình 3 Cách lấy mẫu khí
Xử lý số liệu: sử dụng phần mềm Minitab 16 để xử lý thống kê và phân tích
sự sai biệt giữa các trung bình nghiệm thức
2.2.3 Phương pháp phân tích mẫu
Bảng 3 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu còn lại của đất
Các chỉ tiêu phân tích đất Phương pháp phân tích
Đạm hữu dụng N-NH4+ Được xác định bằng phương pháp so mà u
Đạm hữu dụng N-NO3- Được xác định bằng phương pháp so màu
pH tươi của đất Được xác định bằng cách sử dụng điện cực xác
định [H+] trong dung dịch trích với tỷ lệ đất và