frumenti gây ra trên các vườn dừa của huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng………..37 3.2.3 Tình hình gây hại của bọ vòi voi trên các vườn dừa tại huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT
ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT TÌNH HÌNH VÀ DIỄN BIẾN GÂY HẠI CỦA BỌ VÒI VOI
DIOCALANRRA FRUMENTI Fab
(COLEOPTERA: CURCULIONIDAE) TRÊN DỪA TẠI HUYỆN CÙ LAO DUNG
VÀ LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
Ks CHÂU NGUYỄN QUỐC KHÁNH MSSV: 3113440
Cần Thơ, 2014
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Chứng nhận luận văn tốt nghiệp với đề tài “Điều tra, khảo sát tình hình và
diễn biến gây hại của bọ vòi voi Diocalandra frumenti Fab (Coleoptera:
Cuculionidae) trên dừa tại huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng”
Do sinh viên NGUYỄN DUY KHÁNH thực hiện
Kính trình lên hội đồng luận văn tốt nghiệp
CầnThơ, ngày… tháng….năm 2014
Cán bộ hướng dẫn
TS Lê Văn Vàng
Ks Châu Nguyễn Quốc Khánh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố bất kỳ luận văn nào trước đây
Cần Thơ, ngày… tháng….năm 2014
Người viết
Nguyễn Duy Khánh
Trang 5LỜI CẢM TẠ
Để có được những kết quả ngày hôm nay con xin gửi lòng thành kính biết ơn thiêng liêng nhất đến công lao sinh thành và nuôi dưỡng của cha mẹ
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
Thầy Lê Văn Vàng và anh Châu Nguyễn Quốc Khánh đã hướng dẫn tận tình, tạo điều kiện và cho những lời khuyên hết sức bổ ích trong công việc nghiêm cưu và hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn
Quý Thầy, Cô của khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ đã truyền đạt những kiến thức quý báo cho tôi trong suốt khóa học
Các bạn Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Thị Ánh Hồng, Nguyễn Thị Diễm Quỳnh, Lâm Xuân Khoa lớp Bảo Vệ Thực Vật khóa 37 đã hỗ trợ tôi làm luận văn
Tập thể lớp Bảo Vệ Thực Vật khóa 37 Trường Đại Học cần Thơ đã nhiệt tình hỗ trợ tôi trong thời gian học tập và thực hiện luận văn
Anh Huỳnh Thành Tài lớp cao học khóa 19 Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng Trường Đại học Cần Thơ đã giúp đỡ và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Xin trân trọng ghi nhớ và gửi lời cảm ơn chân tình tới bạn bè đã giúp
đõ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này
Xin nhận lời cảm ơn sâu sắc nhất
Nguyễn Duy Khánh
Trang 6LÝ LỊCH CÁ NHÂN
I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC
Quê quán: Ấp Thời Mỹ 2 -Vĩnh Thới -Lai Vung -Đồng Tháp
Nơi sinh: Ấp Thời Mỹ 2 -Vĩnh Thới -Lai Vung -Đồng Tháp
sư Bảo vệ thực vật tháng 11 năm 2014
NGUYỄN DUY KHÁNH (2014), “Điều tra, khảo sát tình hình và diễn biến
gây hại của bọ vòi voi Diocalandra frumenti Fab (Coleoptera:
Cuculionidae) trên dừa tại huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng” Luận văn Đại Học, ngành Bảo vệ thực vật, Trường Đại học Cần Thơ
45 trang
Cán bộ hướng dẫn: Ts Lê văn Vàng, Ks Châu Nguyễn Quốc Khánh
Trang 7TÓM LƯỢC
Đề tài “Điều tra, khảo sát tình hình và diễn biến gây hại của bọ vòi
voi Diocalandra frumenti Fab (Coleoptera: Cuculionidae) trên dừa tại
huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng” được thực hiện trên các
vườn dừa tại huyện Cù Lao Dung và huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng từ tháng
11 năm 2013 đến tháng 8 năm 2014 đạt được những kết quả sau:
Phần lớn nông dân đều tự học kỹ thuật canh tác và không tham gia vào các lớp tập huấn kỹ thuật Các loại phân được nông dân sử dụng chủ yếu là phân vô cơ Đa phần nông dân không sử dụng phân hữu cơ để bón cho các vườn dừa
Kết quả điều tra ghi nhận được sự gây hại của bọ vòi voi Diocalandra frumenti là 100% số vườn dừa, bọ vòi voi chủ yếu gây hại trên trái và buồng
Đa phần nông dân đều ghi nhận hiện tượng rụng trái non, trái non bị biến dạng trên vườn Tuy nhiên, phần lớn nông dân không biết tác nhân gây hại là gì
Kết quả của việc khảo sát diễn biến gây hại trên các vườn: qua quá trình khảo sát diễn biến gây hại của bọ vòi voi cho thấy nhiệt độ và lượng mưa ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ gây hại trên các vườn Những tháng mùa nắng
tỷ lệ gây hại cao nhất có thể lên đến 35% ở tháng 1, khi nhiệt độ bất đầu tăng nhẹ từ tháng 2 đến tháng 5 đồng thời kéo theo tỷ lệ gây hại bị giảm thấp dưới 10% Từ cuối tháng 4 khi nhiệt độ bất đầu ổn định và lượng mưa tăng nhanh cho tới tháng 8 thì tỷ lệ bọ vòi voi gây hại trên các vườn dừa giảm mạnh thấp nhấp dưới 5%
Trang 8MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU……… 1
CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU……… 3
1.1 SƠ LƯỢC VỀ CÂY DỪA 3
1.1.1 Nguồn gốc và phân bố……… 3
1.1.1.1 Nguồn gốc……… 3
1.1.1.2 Phân bố……… 3
1.1.2 Đặc tính thực vật……… 3
1.1.2.1 Rễ……… 3
1.1.2.2 Thân……… 4
1.1.2.3 Lá……… 4
1.1.2.4 Hoa……… 5
1.1.2.5 Trái……… 5
1.1.3 Yêu cầu điều kiện môi trường……… 6
1.1.3.1 Khí hậu……… 6
1.1.3.2 Đất……… 7
1.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT DỪA TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC……… 7
1.2.1 Trên thế giới……… 7
1.2.2 Trong nước……… 8
1.3 DỊCH HẠI TRÊN DỪA……… 9
Trang 91.3.1 Động vật hại dừa……… 9
1.3.2 Bệnh hại dừa……… 9
1.3.3 Côn trùng hại dừa……… 10
1.4 BỌ VÒI VOI HẠI DỪA DIOCALANDRA FRUMENTI 13
1.4.1 Phân bố và ký chủ 13
1.4.2 Đặc điểm hình thái……… 13
1.4.3 Cách gây hại……… 15
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP……… 16
2.1 PHƯƠNG TIỆN……… 16
2.1.1 Thời gian và địa điểm……… 16
2.1.2 Vật liệu……… 16
2.2 PHƯƠNG PHÁP……… 16
2.2.1 Điều tra và khảo sát tình hình gây hại của bọ vòi voi D Frumenti trên các vườn dừa tại huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng…… 16
2.2.2 Khảo sát diễn biến sự gây hại của bọ vòi voi D frumenti trên các vườn dừa của huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng……… 16
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THẢO LUẬN……… 20
3.1 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA NÔNG DÂN……… 20
3.1.1 Thông tin chung……… 20
3.1.1.1 Thông tin nông hộ……… 20
3.1.1.2 Diện tích canh tác……… 21
3.1.1.3 Tình hình dừa trên các vườn……… 21
3.1.1.4 Đặc tính giống dừa……… 23
3.1.1.5 Kiểu trồng và mật độ trồng……… 25
3.1.2 Tình hình canh tác……… 26
3.1.2.1 Mô hình canh tác……… 26
3.1.2.2 Nước tưới……… 28
3.1.2.3 Quản lý cỏ……… 29
3.1.2.4 Cắt tỉa bẹ……… 29
3.1.2.5 Kỹ thuật bón phân……… 30
Trang 103.1.3 Tình hình sâu bệnh hại và cách phòng trị……… 33
3.1.3.1 Động vật và côn trùng gây hại trên dừa theo ghi nhận của nông dân……… 33
3.1.3.2 Các loại bệnh theo ghi nhận của nông dân……… 35
3.2 TÌNH HÌNH GÂY HẠI TRÊN CÁC VƯỜN DỪA CỦA BỌ VÒI VOI (DIOCALANDRA FRUMENTI) TẠI HUYỆN CÙ LAO DUNG VÀ LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG……… 36
3.2.1 Nhận thức chung của nông dân……… 36
3.2.2 Đánh giá chung của nông dân về hiện tượng xì mủ, rụng trái non, trái non bị biến dạng do bọ vòi voi (D frumenti) gây ra trên các vườn dừa của huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng……… 37
3.2.3 Tình hình gây hại của bọ vòi voi trên các vườn dừa tại huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng……… 38
3.3 DIỄN BIẾN GÂY HẠI TRÊN CÁC VƯỜN DỪA CỦA BỌ VÒI VOI (DIOCALANDRA FRUMENTI) TẠI HUYỆN CÙ LAO DUNG VÀ LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG……… 40
3.3.1 Huyện Cù Lao Dung……… 40
3.3.2 Huyện Long Phú……… 41
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN ĐỀ NGHỊ……… 43
4.1 KẾT LUẬN 43
4.2 ĐỀ NGHỊ……… 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 44 PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
Trang 11DANH SÁCH HÌNH
1.1 Ấu trùng (A) và thành trùng (B) của bọ vòi voi D frumenti
gây hại trên dừa
14
1.2 Biểu hiện sự gây hại trên trái (A) và lỗ đục (B) của ấu trùng
bọ vòi voi D frumenti
15
2.1 Cách ghi nhận chỉ tiêu trên các vườn dừa của huyện Cù Lao
Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
19
3.1 Phần trăm số hộ có vườn dừa qua các độ tuổi khác nhau tại
huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
22
3.2 Tỷ lệ các giai đoạn dừa trên các vườn được đều tra tại huyện
Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
23
3.3 Tỷ lệ giữa nguồn gốc giống dừa của nông dân được nông dân
trồng tại huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
24
3.4 Tỷ lệ các giống dừa trên các vườn được điều tra tại huyện Cù
Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
24
3.5 Diễn biến gây hại của bọ vòi voi gây ra trên 3 vườn dừa tiêu
biểu được chọn để tiến hành khảo sát tại huyện Cù Lao Dung,
tỉnh Sóc Trăng
40
3.6 Diễn biến gây hại của bọ vòi vòi trên 3 vườn dừa tiêu biểu
được chọn để tiến hành khảo sát tại huyện Long Phú, tỉnh Sóc
Trăng
41
Trang 12DANH SÁCH BẢNG
2.1 Thông tin của các vườn khảo sát sự gây hại của bọ vòi voi
D frumenti trên dừa tại huyện Cù Lao Dung và Long Phú,
tỉnh Sóc Trăng
18
3.1 Kinh nghiệm canh tác dừa của nông dân tại huyện Cù Lao
Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
20
3.2 Tỷ lệ phần trăm số hộ về diện tích canh tác dừa của nông
dân huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
21
3.3 Tỷ lệ số hộ về các kiểu trồng được nông dân huyện Cù Lao
Dung và Long Phú, tỉnh Sóc trăng áp dụng
25
3.4 Tỷ lệ số hộ về mật độ và khoảng cách trồng được nông dân
áp dụng tại các vườn dừa của huyện Cù Lao Dung và Long
Phú, tỉnh Sóc Trăng
26
3.5 Tỷ lệ số hộ về các loại hình canh tác của nông dân tại
huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
27
3.6 Tỷ lệ số hộ về các loại hình xen canh trong vườn dừa của
nông dân huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc
Trăng
28
3.7 Tỷ lệ số hộ về việc quản lý nước tưới tại huyện Cù Lao
Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
3.10 Tỷ lệ phần trăm số hộ sử dụng phân hữu cư và loại phân
được nông dân huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tình Sóc
Trăng sử dụng
31
3.11 Tỷ lệ số hộ sử dụng phân hóa học và cách bón phân được
nông dân huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc
Trăng áp dụng
32
3.12 Liều lượng phân bón trung mà nông dân huyện Cù Lao
Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng sử dụng
33
Trang 133.13 Tỷ lệ số hộ được điều tra đánh giá về thành phần các loài
gây hại trên dừa theo đánh giá của nông dân
34
3.14 Tỷ lệ số hộ đánh giá về loài gây hại chính trên cây dừa và
biện pháp phòng trị theo nông dân
35
3.15 Tỷ lệ số hộ đánh giá về các loại bệnh phổ biến xuất hiện
trên các vườn dừa của huyện Cù Lao Dung và Long Phú,
tỉnh Sóc Trăng
36
3.16 Mức độ hiểu biết của nông dân về bọ vòi voi (D.frumenti)
của các nông dân được điều tra
36
3.17 Đánh giá của nông dân về cách gây hại của bọ vòi voi
(D.frumenti) trên các vườn dừa tại huyện Cù Lao Dung và
Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
37
3.18 Tình hình nhiễm bọ vòi voi (D.frumenti) trên các vườn dừa
tại huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
38
3.19 Tỷ lệ vườn bị hại theo kích thước trái 39
Trang 14DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
FAO Food and Agriculture Organization APCC Asian and Pacific Coconut Community IPM Integrated Pest Management
Trang 15MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam diện tích trồng dừa (Concos nucifera L.) khoảng 155.800
ha và tập trung chủ yếu vùng đồng bằng sông Cửu Long và một số tỉnh duyên hải miền Trung, sản lượng dừa hàng năm trung bình đạt khoảng 892.000 tấn/năm (Nguyễn Sinh Cúc, 2003) Cây dừa và các ngành nghề liên quan đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của đất nước, góp phần tạo sự ổn định về kinh tế và vấn đề lao động cho người dân Trong nội dung phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn đến năm 2010 của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (tháng 9/2001) về việc đẩy mạnh thâm canh cây dừa hiện có, duy trì diện tích trồng dừa khoảng 125.000 đến 130.000 ha ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Tuy nhiên việc sản xuất, duy trì diện tích trồng dừa ở mức ổn định gặp rất nhiều vấn đề khó khăn như việc giá dừa tươi trên thị trường còn rất bấp bênh, chưa được ổn định Đặc biệt hơn là thành phần loài côn trùng gây hại trên dừa trước và sau thu hoạch có đến 737 loài, trong đó có
165 loài gây hại trước thu hoạch (Đặng Xuân Nghiêm, 1991) Trong giai đoạn
gần đây với sự xuất hiện của bọ vòi voi (D frumenti) được phát hiện đầu tiên vào năm 1998 ở đảo Gran Canaria của Tây Ban Nha (González Núñez et al.,
2002), từ đó lây lan và gây hại ở châu Phi, nhiều nước châu Á như: Indonesia, Japan, Malaysia, Myanma, Philippines, Singapore, Thailand…
Theo Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Nam bọ vòi voi Diocalandra
frumenti (Coleoptera: Curculionidae) được phát hiện đầu tiên ở Kiên Giang
vào tháng 11/2011 Sau đó gây hại nặng ở U Minh Thượng trên hai giống dừa xiêm và dừa lùn Đây là đối tượng gây hại mới trên các vườn dừa tại các tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh miền Trung, đã làm giảm năng suất và chất lượng dừa gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người dân trồng dừa
Trên cơ sở đó, đề tài: “Điều tra, khảo sát tình hình và diễn biến gây
hại của bọ vòi voi Diocalandra frumenti Fab (Coleoptera: Curculionidae)
trên dừa tại huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng” được thực
hiện tại các vườn dừa ở huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng nhằm các mục tiêu sau:
- Biết được hiện trạng canh tác dừa của nông dân
- Tình hình gây hại của bọ vòi voi D frumenti trên các vườn dừa tại
tỉnh Sóc Trăng
- Khảo sát diễn biến gây hại của bọ vòi voi D frumenti trên các vườn
dừa tại tỉnh Sóc Trăng
Trang 16CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 SƠ LƯỢC VỀ CÂY DỪA
1.1.1 Nguồn gốc và phân bố
1.1.1.1 Nguồn gốc
Cây dừa được ghi nhận là canh tác đầu tiên ở Ấn Độ, từ rất lâu đời, khoảng 300 năm trước Công Nguyên (Woodroof, 1979) Vì vậy, nguồn gốc của cây dừa có thể không xa Ấn Độ lắm Tuy vậy Ấn Độ và Sri Lanka không được xem là nơi phát sinh của dừa Vùng Nam Thái Bình Dương và Nam Phi thường được cho là trung tâm phát sinh nguồn gốc của cây dừa, có thể là ở Đông Nam Phi và đặc biệt là ở Đông Nam Châu Á trải dài từ phía Tây Mã Lai đến phía Đông Melanesia
1.1.1.2 Phân bố
Cây dừa được phân bố rộng rãi trong vùng nhiệt đới, có khoảng 90% dừa được tìm thấy trong giới hạn vĩ độ 200 Bắc và 200 Nam Nhìn chung tổng diện tích trồng dừa trên thế giới ta có thể thấy được sự trùng hợp đa phần đều
là những đất nước nằm ven biển, duyên hải, chỉ riêng Thái Lan và Việt Nam dừa được trồng nhiều ở đồng bằng Sự phân bố rộng và phát tán từ vùng này sang vùng khác do 2 tác nhân là con người và biển cả Từ những chuyến giao lưu buôn bán trao đổi hàng hóa, con người đã góp phần phát tán những trái dừa đến những vùng đất khác từ đó chúng bén rễ và phát triển Ngoài ra, trái dừa được nước mưa đưa ra biển rồi trôi nổi đi xa hàng ngàn dặm, đến khi chúng bị giữ lại bởi những bờ biển cát dài rồi định cư ở đó (Ohler, 1984) Dưới ánh nắng mặt trời của vùng nhiệt đới, dừa mọc mầm và bắt đầu cuộc
sống mới, nhanh chống lan rộng thành những rừng dừa rộng khắp
1.1.2 Đặc tính thực vật
Dừa sống rất lâu từ 50-120 năm, trung bình 70 năm (Ohler, 1984) Chỉ
có một đỉnh sinh trưởng, không mai đỉnh sinh trưởng này bị chết sẽ làm chết toàn cây
1.1.2.1 Rễ
Dừa có rễ bất định sinh ra liên tục ở phần đáy gốc thân, không có rễ cọc, chúng thường mọc dài ngang ra 5-7 m và sâu 0,3-1,2 m (Perley, 1992; Reynild, 1988), lúc mới sinh ra có màu trắng sau chuyển sang màu đỏ nâu, rễ
Trang 17già sẽ chết và rễ mới phát triển liên tục Cá biệt rễ có thể mọc dài trên 30 m và sâu đến 5,5 m cũng đã được tìm thấy (Ohler, 1984)
Theo Nguyễn Bảo Vệ và ctv (2005) rễ không có lông hút mà chỉ có
những rễ nhỏ là rễ dinh dưỡng, những rễ này hình thành trên rễ chính và hoạt động như rễ hô hấp giúp cho cây trao đổi khí Trong điều kiện ngập nước liên tục sẽ ảnh hưởng đến khả năng hô hấp của bộ rễ, làm cho cây giảm sức tăng trưởng do dừa là cây chịu nước nhưng không chịu ngập
1.1.2.2 Thân
Theo Võ Văn Long và ctv (2008) thân dừa có màu xám không có tầng
sinh mô thứ cấp Thân dừa không có tượng tầng (tầng sinh gỗ) bên ngoài, một khi nó bị cắt hay bị tổn thương thì không phục hồi hoặc lành vết thương bằng
mô mới và đường kính thân cũng không lớn ra thêm theo thời gian
Trong giai đoạn đầu mới trồng, chiều dài lóng trên thân dừa ngắn và chậm phát triển, đến khi chiều ngang của thân phát triển đầy đủ thì mới cao lên, tiến trình này có thể kéo dài đến 4 năm tùy thuộc vào giống (Ohler, 1984) Gốc dừa là một trong những đặc điểm để phân biệt nhóm dừa cao và dừa lùn
Ở nhóm dừa lùn thường có gốc nhỏ, ngược lại ở nhóm dừa cao và dừa lai giữa giống dừa lùn và dừa cao thường có gốc phình to đến rất to Dừa có thể mọc cao đến 35 m, không phân nhánh, thân cọc to, chắc, khỏe, mang nhiều sẹo lá quấn ngang trọn thân Sẹo lá ở dừa mọc tốt có thể rộng đến 8 cm và cách nhau khoảng cách 3 cm, khoảng cách sẹo rộng chứng tỏ cây bị thiếu ánh sáng Nhìn sẹo và khoảng cách giữa các sẹo trên thân biết được dừa phát triển tốt hay xấu của một thời điểm trước đó
1.1.2.3 Lá
Lá dừa (tàu lá) rất to gồm một bẹ lá ôm trọn thân, mọc theo hình xoắn
ốc Bẹ lá này cách bẹ lá kia 1400, diệp tử 2/5 nghĩa là 2 vòng xoắn ốc thì hai lá
ở cùng vị trí, như lá thứ nhất và lá thứ 6 chẳng hạn (Tôn Thất Trình, 1974) Bẹ gồm một phần cứng và yếm dừa nhiều xơ đan chéo nhau Tàu lá dừa có một song chánh mang hai hàng lá phụ hai bên, dạng hình lông chim dài từ 4,5-6 m, rộng từ 0,5-0,8 m, nặng từ 10-15 kg Lá phụ nhỏ, hẹp, dài khảng 1 m, có khoảng 200 lá, mọc không đối xứng hai bên song chính và thường chênh nhau 4-5 lá Lá phụ có một gân chính và nhiều gân phụ song hành, mặt trên có màu xanh láng hơn mặt dưới Cây dừa lúc còn nhỏ chỉ có tàu lá nguyên, sau đó tàu
lá mới có lá phụ tách ra, đến khoảng 4-5 năm cây mới hoàn toàn có tàu lá lông chim
Trang 18Tùy thuộc vào giống và điều kiện sinh trưởng, một cây dừa có từ 30-40 tàu lá đâm ra từ đỉnh thân Số tàu lá đã nở có thể phân chia như sau: (a) có 5 tàu lá có hoa tự nhưng chưa thấy rõ khối sơ khởi, (b) 20 tàu lá có hoa tự và (c) 5-10 tàu lá đã hái trái xong (Tôn Thất Trình, 1974) Ở điều kiện thuận lợi, trung bình mỗi tháng dừa cho một tàu lá, nếu bất lợi khoảng 2-3 tháng mới có một tàu Đời sống của một tàu lá trung bình khoảng 4-5 năm Như vậy, số lá trên cây nhiều hay ít phụ thuộc chủ yếu vào thời gian ra lá
1.1.2.4 Hoa
Hoa dừa thuộc đơn tính đồng chu, nghĩa là có hoa đực và hoa cái ở riêng trên cùng một nhánh của phát hoa, hoa đực ở ngoài chóp nhánh còn gọi hoa cái ở trong gần đáy nhánh, thường mỗi nhánh hoa có một hoa cái Mỗi phát hoa có khoảng 8.000 hoa đực, chiếm gần hết phát hoa, với 1-30 hoa cái (Ohler, 1984; Ohler, 1999; Qoodroof, 1979) Hoa đực nhỏ chỉ khoảng 6-8 ly, gồm 3 lá đài và 3 phiến hoa màu vàng, dày và cứng; 6 tiểu nhị với cái nhụy cái lép ở giữa; tiểu nhị chứa nhiều phấn hoa, có thể đạt 6,1 g/phát hoa (Whitehead, 1963); hoa đực cũng có tuyến mật để thu hút côn trùng
Dừa có phát hoa sau khi trồng từ 3-8 năm (nhóm dừa cao từ 5-8 năm, còn nhóm dừa lùn từ 3-4 năm) Theo Nguyễn Hữu Hoàng (1983), trung bình mất 24,1 ngày có một phát hoa xuất hiện ở dừa Ta Xanh và 24,9 ngày ở dừa
Ta Vàng Phát hoa rất to, trổ quanh năm ở nách lá, mỗi nách lá có một phát hoa, lúc đầu phát hoa ở trong một lá bắc dày gọi là mo dừa (thật ra có 2 mo,
mo nhỏ ở ngoài và mo lớn ở trong), mo càng lớn sau này có buồng càng to Phát hoa có nhiều nhánh, dài từ 0,6 đến 1,2 m, mang hoa
Hoa cái to hơn, có kích thước từ 1,5-3 cm, cũng có 3 phiến hoa và 3 lá đài (còn dính lại ở trái khi trưởng thành); vòi nhụy ngắn có 3 nướm; 3 tâm bì, mỗi tâm bì chứa một tiểu noãn nhưng chỉ có một tiểu noãn phát triển; noãn sào thượng, mầm nhỏ, phôi nhũ to Mỗi hoa cái có kèm theo hai hoa đực Ở thời
kỳ nướm nhụy nhận phấn, chất dịch ngọt, trong được tiết ra từ 4 lỗ, một lỗ ở phần dưới nướm và ở 3 lỗ nhỏ ở đỉnh bầu noãn Làm tăng số hoa cái trên mỗi buồng dừa là rất quan trọng để làm tăng năng suất dừa, số hoa cái này thay đổi theo giống, môi trường và kỹ thuật canh tác Ở vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long, những buồng dừa tượng và nở hoa trong mùa nắng thiếu nước có
số hoa cái ít hơn trong mùa mưa Tưới nước cho cây đầy đủ trong mùa nắng
và có bón phân là biện pháp làm tăng số hoa cái trên buồng
1.1.2.5 Trái
Trái dừa được phân loại như là quả hạch sợi, nó phát triển từ bầu noãn
có 3 tâm bì có “mắt”, mỗi tâm bì chứa một tiểu noãn Thông thường có hai
Trang 19tiểu noãn không phát triển sau khi thụ phấn, chính vì vậy trong 3 “mắt” chỉ có một mắt chứa mầm của tiểu noãn phát triển (Ohler, 1984) Mắt dừa có chứa mầm thì mềm, 2 mắt còn lại không có mầm bị cứng do hóa gỗ Mầm nhỏ nằm bên trong cơm dừa có tử diệp (mộng dừa) sẽ phù to khi mọc để tiêu hóa phôi nhũ (Phạm Hoàng Hộ, 1968) Phôi nhũ khá đặc biệt, gồm một phần lỏng ở bên trong và một phần đặc (cơm dừa) bao bọc ở ngoài
Không phải tất cả hoa cái đều đậu thành trái, hoa cái có thụ tinh mới cho trái Nhưng việc rụng trái non vẫn xảy ra như những loài cây trồng khác
và xảy ra nhiều nhất trong 6 tuần sau khi thụ phấn Có cây rụng trên 50% số hoa cái có trên buồng Ban đầu sau khi thụ phấn, vỏ và gáo dừa phát triển về kích thước và túi mầm rộng ra rất đáng kể chứa đầy chất lỏng Từ 6 hay 7 tháng sau, cơm dừa bắt đầu phát triển bên trong gáo dừa Ở giai đoạn này, cơm dừa có cấu trúc giống như thạch trắng Tháng thứ tám sau khi thụ phấn, cơm dừa cứng lại và ở thời điểm này trọng lượng và kích thước trái dừa lớn nhất Cơm dừa trở nên cứng hơn và trắng ở giai đoạn sau của thời kỳ trái chín và được bao bọc bởi lớp vỏ màu nâu cứng Cơm dừa chứa 95% nước và nhỏ hơn 1% dầu khi chưa trưởng thành, khi trưởng thành chứa 50% nước và 30-40% dầu Nước dừa được tạo ra từ tháng 3 và đạt thể tích tối đa vào tháng thứ 8 Trái thường già trong vòng 12 tháng sau khi thụ phấn và có dạng tròn hay oval
có 3 mảnh là dấu tích của 3 tâm bì Ngoại quả bì chuyển từ màu xanh sang màu nâu khi trái trưởng thành Mô của trung quả bì ở thể sợi Nội quả bì là gáo dừa cứng có 3 mảnh, ở phần tiếp giáp với cuống trái thấy rõ có 3 “mắt”
Vỏ khô cùng lúc với mất nước trong ruột trái và ở giai đoạn trưởng thành dừa rụng từ điểm dính với cuống trái
Trái dừa lớn có thể chứa 0,6 lít nước, 30 g đường (fructose và sucrose)
và 2 g kali (Ohler, 1999) Mỗi quay dừa trung bình có từ 1-20 trái, thông thường 6-7 trái đối với dừa cao và trên 10 trái đối với dừa lùn, mỗi trái có trọng lượng vài kg Một cây dừa có thể cho 100 trái mỗi năm
1.1.3 Yêu cầu điều kiện môi trường
1.1.3.1 Khí hậu
Dừa được trồng nhiều trong khu vực nhiệt đới nóng, ẩm Nhiệt độ thích hợp cho dừa phát triển dao động trong khoảng 24-300 C, chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm không quá 6-70C Khí hậu vùng ven biển có ẩm độ tương đối ổn định nên rất tốt cho dừa Ẩm độ thích hợp cho dừa là từ 70-90%, thấp hơn 60% dừa thường bị rụng trái non hay beo đít trái Dừa cần nhiều ánh sáng, trồng dày hay trồng dưới tán cây, dừa thiếu ánh sáng vươn cao, lâu cho trái và
ít trái Cây mọc tốt khi có số giờ nắng trung bình 6 giờ/ngày Dừa mọc tốt
Trang 20ngay ở điều kiện vũ lượng hàng năm từ 1.000-3.000 mm Gió bão lớn có ảnh hưởng đến vườn dừa, tuy nhiên dừa đủ cứng để chống lại bão tố
Điều kiện khí hậu ở đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) thích hợp cho dừa phát triển quanh năm, cho năng suất và chất lượng cao Gió Lào miền Trung và nhiệt độ thấp ở vùng cao và miền Bắc Việt Nam không thích hợp cho việc thành lập vườn dừa thương mại
1.1.3.2 Đất
Dừa mọc tốt nhất ở gần bờ biển, đất thoát thủy tốt và có cát Tuy nhiên, dừa cũng thích nghi ở vùng đất khác như đất san hô và đất mặn trung bình Dừa chẳng những tìm thấy ở những vùng đất ven biển mà còn được canh tác nhiều ở vùng đất cách biển vài trăm cây số, pH đất thích hợp nhất cho dừa là
từ 6-7 Ở Ấn Độ, đất trồng dừa chính là đất laterire, đất phù sa, đất đỏ thịt pha cát, đất cát ven biển có pH trong khoảng 5,2-8,0 Người ta tìm thấy dừa vẫn mọc tốt ở đất có hàm lượng cát đến 97% ở Tích Lan, 70% sét ở Phi Luật Tân
và 80% chất hữu cơ ở Mã Lai
Ở ĐBSCL, dừa mọc tốt và cho năng suất cao nhất trên đất phù sa vùng
hạ lưu sông Cửu Long, nhưng dừa cũng cho năng suất cao trên những loại đất khác, trừ đất phèn nặng Tuy nhiên, đất thịt phù sa có ẩm độ đất thích hợp và thoát nước tốt rất phù hợp cho dừa phát triển Ở đất có độ mặn 1 phần ngàn dừa phát triển rất tốt Mặc dù dừa kháng mặn nhưng cũng bị thiệt hại ở đất mặn nhiều Vùng nước ngọt hoặc lợ có độ mặn từ 1-10 phần ngàn dừa đều mọc tốt
Tóm lại, dừa không kén đất, có thể trồng nhiều loại đất khác nhau Tuy nhiên, không chọn vùng đất thấp, ngập nước Dừa không chịu hạn lâu, vì vậy chọn nơi cung cấp đủ nước cho dừa
1.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT DỪA TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC
1.2.1 Trên thế giới
Theo số liệu của FAO (2001), thế giới có khoảng 11,86 triệu ha đất canh tác dừa Cây dừa phấn bố khá rộng khắp ở khu vực nhiệt đới và cận xích đạo, trải dài từ Đông bán cầu sang Tây bán cầu Tuy nhiên, cây dừa tập trung nhiều nhất ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Cây dừa được phân bố nhiều nhất ở vùng Đông Nam Á (60,89%); kế đó là vùng Nam Á (19,75%); vùng Châu Đại Dương (4,6%) Sau đó là vùng Châu Mỹ La Tinh, mà chủ yếu
là Brazil (2,79%), các đảo quốc ở vùng Caribbean đóng góp 0,97%, và Trung
Trang 21Quốc, mà chủ yếu là đảo Hải Nam, chiếm tỷ trọng 0,24% Các vùng còn lại đóng góp 10,75% diện tích
Năm 2000, sản lượng dừa của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương chiếm khoảng 87% tổng sản lượng dừa trên thế giới, nước có sản lượng dừa cao nhất thế giới là Indonesia (16.235.000 tấn), Ấn Độ (11.100.000 tấn) và Philippines (5.761.000 tấn), còn lại là những nước khác có sản lượng dưới 2 triệu tấn
1.2.2 Trong nước
Dừa là một cây trồng nông nghiệp truyền thống ở Việt Nam Là một đất nước nhiệt đới, Việt Nam có đủ diều kiện khí hậu, thủy văn và thổ nhưỡng phù hợp cho cây dừa sinh trưởng và phát triển tốt, nhất là ở khu vực duyên hải miền Trung đến ĐBSCL Cây dừa có địa bàn khu trú khá rộng, và đặc biệt phát triển tốt từ tỉnh Thừa Thiên Huế đến mũi Cà Mau (Đường Hồng Dật,
1990, trích bởi Nguyễn Thị Lệ Thủy, 2008) Cây dừa có thể thích nghi tốt trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng phát triển tốt nhất trên đất cát nhiễm mặn nhẹ, vốn rất phổ biến ở vùng duyên hải miền Trung Cây dừa cũng phát triển rất tốt trên đất phù sa sông nhiễm mặn ven biển ở các tỉnh ĐBSCL, có hàm lượng và chất lượng dầu cao trên vùng đất lợ
Ở Việt Nam, cây dừa được xếp hàng trong cây công nghiệp lâu năm với diện tích trồng lớn, đứng hàng thứ tư sau cao su, cà phê và điều… Dừa đã từng được phát triển mạnh ở Việt Nam, và có thời gian quy mô diện tích hơn 300.000 ha Từ những năm 1980, nhà nước đã có kế hoạch phát triển cây dừa lên đến quy mô 700.000 ha (Đường Hồng Dật, 1990, trích bởi Nguyễn Thị Lệ Thủy, 2008) Theo thống kê của APCC, đến năm 1991, Việt Nam đã có 330.000 ha dừa (trích dẫn bởi Nguyễn Thị Lệ Thủy, 2008)
Tuy nhiên, trong một thời gian dài, diện tích dừa của Việt Nam suy giảm liên tục Hiện tại, Việt Nam chỉ có chưa đầy 140.000 ha dừa Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam (2009), sự suy giảm này có thể từ nhiều
lý do khác nhau như ưu tiên phát triển cây lương thực để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, sự chuyển đổi mô hình canh tác cây trồng nông nghiệp ven biển sang nuôi trồng thủy sản, hoặc mở rộng diện tích cây ăn trái, ngành công nghiệp chế biến dừa trong giai đoạn trước còn yếu kém không đủ tạo ra nền tảng phát triển bền vững cho ngành dừa Việt Nam và sự suy giảm giá dầu dừa trong một thời gian dài do sự cạnh tranh khốc liệt của dầu cọ và dầu đậu nành trên thị trường dầu ăn thế giới Chỉ tính riêng ở đồng ĐBSCL, diện tích chuyển đổi từ canh tác cây nông nghiệp sang nuôi tôm sú đã xấp xỉ 400.000 ha
từ năm 1999 cho đến nay Trên diện tích này, rất nhiều vùng dừa tập trung đã
Trang 22bị chặt bỏ để chuyển sang nuôi tôm, ví dụ vùng dừa ở huyện Đầm Dơi, Thới Bình, Trần Văn Thời… của tỉnh Cà Mau
Hiện nay, cây dừa ở Việt Nam được trồng phân tán ở nhiều tỉnh khác nhau, tuy nhiên được trồng tập trung với quy mô lớn tại hai tỉnh là Bình Định của vùng duyên hải miền Trung (nổi tiếng với vùng dừa Tam Quan) và tỉnh Bến Tre ở ĐBSCL
1.3 DỊCH HẠI TRÊN DỪA
Biện pháp phòng trị: dùng bẫy, dùng thuốc diệt chuột, thường xuyên
dọn dẹp vệ sinh vườn không tạo điều kiện cho chuột có nơi trú ẩn, làm hang, khống chế đường đi của chuột, hạn chế nguồn thức ăn cho chuột (Nguyễn Bảo
Vệ và ctv., 2005)
1.3.2 Bệnh hại dừa
Bệnh chảy mủ thân
Do nấm Ceratostomella paradoxa Dade gây ra, từ vết nứt trên thân cây
có chất mủ màu nâu chảy ra, sau đó đậm dần chuyển sang màu đen Nấm bệnh thường gây hại trên cây dừa tơ và làm giảm năng suất
Biện pháp phòng trị: cắt bỏ phần vết thương chảy mủ rồi dùng dầu
hắc bôi vào hoặc dùng thuốc gốc đồng xát lên vết thương (Nguyễn Bảo Vệ và
ctv., 2005)
Bệnh nứt trái non
Hiện tượng nứt trái có thể do nấm Fusarium sp., do thiếu nước hoặc dư
nước, do côn trùng, thiếu kali làm giảm năng suất Tùy theo từng nguyên nhân gây bệnh mà có biện pháp phòng trị thích hợp, tuy nhiên việc cung cấp nước tưới đầy đủ trong mùa nắng và tránh ngập úng trong vườn dừa vào mùa mưa, đất quanh gốc nên có độ tơi xốp, có chế độ phân thường xuyên hàng năm Rải muối hột (1-2 kg) trên các bẹ của tàu lá non mỗi năm 2 lần (Nguyễn Bảo Vệ
và ctv., 2005)
Trang 231.3.3 Côn trùng hại dừa
vì thế kiến vương ở các vườn dừa mới trồng cần đặc biệt lưu ý
Dùng thuốc Basudin 50 EC, Actara 25 WG pha theo nồng độ khuyến cáo, xong dùng quặng đổ thuốc vào hang rồi lấy đất hay xi măng bịt kín lại (Dương Tấn Lợi, 2004)
Bằng biện pháp sinh học dùng siêu vi khuẩn “O rhinoceros virus” và
nấm Metarhizium anisopliae để phòng trị tại nhiều nước trên thế giới (George
and Kurian, 1971; Latch and Falloon, 1976; Zelazny, 1979; Bedford, 1986; Darwis, 1990 Trích từ nguồn Nguyễn Thị Thu Cúc, 2001)
Đuông
Đuông dừa theo đường đục của kiến vương đi sâu vào trong cây, ngoài
ra đuông cũng theo vết nứt trên thân cây mà xâm nhập vào trong cây Thường thì ít phát hiện được sớm khi đuông dừa mới xâm nhập vào thân cây, vì vậy đến khi thấy những triệu chứng xuất hiện như lá bị vàng, khô và rụng thì cây không thể phục hồi được Vì vậy cần có biện pháp kiểm tra vườn dừa thường xuyên, để nhận biết sớm những cây dừa bị đuông tấn công xuất hiện trên vườn:
Trang 24- Có những lỗ đục trên thân trong đó có những sợi tơ còn sót lại và có chất nhựa dẻo chảy ra
- Ghé sát tai vào thân dừa để nghe tiếng động do đuông dừa ăn gây ra
- Chồi ngọn phát triển cằn cỗi, lá non nhỏ không mở ra được sau đó khô héo và chết khi cây bị gây hại nặng
Bịt kín các vết thương trên thân cây bằng thuốc hóa học hoặc bôi trơn
dầu hắc (Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2005)
Bọ dừa
Trong thời gian gần đây, bọ dừa (Brontispa longissima Gestro) mới
xuất hiện nhưng tàn phá thật nặng nề ở khắp nơi và gây hại đặc biệt nghiêm trọng trong những vùng trồng dừa của các tỉnh ở ĐBSCL như tỉnh Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Kiên Giang,…
Biện pháp phòng trị:
Dùng thuốc Padan 95 WG, Sumicidine 20ND, Karate 2,5 EC, Supracide 40 ND, Decis 2,5 EC, phun 10 ngày/lần ngay trên đọt non, nếu phun nhiều lần cần luân phiên các loại thuốc có gốc hóa học khác nhau
Do đặc điểm bọ dừa phát triển mạnh trong mùa khô, chúng gây hại trên cây dừa cao lớn, nên biện pháp dùng thuốc hóa học có phần hạn chế và cũng ảnh hưởng nhiều đến môi trường xung quanh và ảnh hưởng đến sức khỏe người dân trong vùng Vì thế nên từ năm 2003, nhiều tỉnh ở ĐBSCL đã áp
dụng biện pháp nuôi ong ký sinh có tên Asecodes hispinarum, được sự du
nhập từ Tây Samoa, để tiêu diệt bọ dừa mà không cần dùng thuốc hóa học
Dùng giống chống chịu như dừa lùn
Nhóm sâu hại dừa
Trang 25không đáng kể Nếu mật số cao cần phải phòng trị (Nguyễn Bảo Vệ và ctv.,
2005)
Nhóm sâu này phần lớn có túm lông làm sừng ngứa, xếp thành từng hàng dài trên thân sâu Hễ đụng nhằm thì sâu rụt đầu lại và lông rời ra chích gây ngứa ngáy Sâu mập, ngắn sống tập đoàn nên rất dễ lượm sâu đem giết Bướm đẻ trứng thành từng cụm ờ mặt dưới lá Sâu phá hại tất cả các loài cây thuộc họ dừa như cau, dừa nước Sâu gặm phiến lá thành những vết cháy dài trên lá (Tôn Thất Trình, 1974)
Sâu kèn:
Có nhiều loài sâu kèn như sâu kèn đầu đen (Nephantis seronopa Meyr.), sâu kèn dừa nước (Crematopsyche nipae L.),… Sâu có màu xanh lục,
sọc màu nâu chạy dài trên thân, cuốn thành ống kèn ở mặt dưới lá, ăn loang lỗ
trên lá Nếu số lượng nhiều chúng ăn trụi lá, chỉ còn gân (Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2005)
Sâu sừng:
Có tên khoa học là Amathusia phidippus L Sâu có chiều dài khoảng
8-9 cm, trên đầu có 2 sừng, đốt cuối có cập gai nhiều lông, thân màu xám xanh
có sọc đen trên lưng, có chùm lông màu đỏ trên ngực Sâu ăn lá nhưng sự phá
hại này không nghiêm trọng lắm (Nguyễn Bảo Vệ và ctv, 2005)
Nhóm rệp dính, rầy bông
Rệp dính nâu lợt (Aspidiotus destructor Singnoret) không chỉ gây hại
trên dừa mà còn gây hại trên nhiều loại cây trồng khác Lá bị rệp dính phủ đầy mặt dưới sẽ khô vì bị hút hết nhựa và các khí khổng lá bị bịt kín Lá trở màu lốm đốm vàng hay xanh lợt, yếu đuối, các vết chích khô, mặt trên lá đóng bồ hống đen như khói đèn, cây dừa mất sức trái rụng sớm và đôi khi cây bị chết Nếu cây con bị bệnh nặng thì trị bằng Parthion, các nhũ dầu của thực vật hay dầu lửa (Tôn Thất Trình, 1974) Rệp dính chích hút nhựa trên lá, làm cho lá chuyển màu vàng, tác động đến khả năng quang hợp và hạn chế sự phát triển
của trái Rệp gây hại trên dừa tơ (Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2005)
Rệp dính đen (Diaspis pentagona Targ) thường chỉ xuất hiện ở lá già
mà thôi (Tôn Thất Trình, 1974)
Rệp dính đỏ (Chrysomphalus dictyosperm) có mai tròn lồi nhưng giữa
mai đỏ chói, dưới mai con cái màu vàng chói (Tôn Thất Trình, 1974)
Rầy bông (Pseudococcusnipae Maskfll) nhận diện nhờ quanh mình rầy
bông có nhiều lông dài, xếp thành hình các ngôi sao (Tôn Thất Trình, 1974)
Trang 261.4 BỌ VÒI VOI HẠI DỪA DIOCALANDRA FRUMENTI
1.4.1 Phân bố và ký chủ
Theo Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Sóc Trăng (2014), bọ
vòi voi có tên khoa học là (Diocalandra frumenti) thuộc bọ cánh cứng (Coleoptera), họ vòi voi (Curculionidae) Bọ vòi voi xuất hiện và gây hại trên
cây cọ dầu, dừa, cau cảnh ở rất nhiều nước như: Madagascar, Somalia, Tanzania, Bangladesh, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Malaysia, Philippines, Singapore, Sri Lanka, Thái Lan, Samoa, đảo Guam, đảo Solomon…
Tại Việt Nam, bọ vòi voi xuất hiện và gây hại trên cây dừa từ năm 2012, đến nay đã phát hiện tại tất cả các vùng trồng dừa phía Nam với tỷ lệ nhiễm phổ biến từ 1-5%, nơi cao nhất lên đến 80% số trái dừa bị hại Tại miền Trung
bọ vòi voi được ghi nhận tại Phú Yên Riêng tại Sóc Trăng tỷ lệ có triệu chứng
bị hại khoảng 3-5% vào tháng 6/2012, đến nay tỷ lệ này đã tăng gấp đôi khoảng 10%, cá biệt có khu vực lên tới 30% và xuất hiện tại các vùng trồng dừa của tỉnh trên các giống dừa phổ biến như: dừa dâu, dừa ẻo, dừa dứa… Các vườn dừa trồng dày, khuất gió thường có mật số bọ vòi voi cao hơn so với các vườn trồng thưa, thông thoáng
1.4.2 Đặc điểm hình thái
Đặc điểm hình thái của bọ vòi voi được mô tả qua các giai đoạn sinh
trưởng và phát triển (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2013)
Trứng: được đẻ trong các khe nứt, rảnh ở phần cuối của rễ phụ, ở gốc
thân cây, hoặc trên hoa, cuống hoa, cuống trái Trứng có màu trắng trong dài 1-1, 1 mm Giai đoạn trứng kéo dài 6 ngày
Ấu trùng: màu vàng lợt có 5 tuổi là: tuổi 1: 1-2 mm; tuổi 2: 2,1-2,6
mm; tuổi 3: 3,3-4,0 mm; tuổi 4: 4,2-5,5 mm; tuổi 5: 5,8-7,2 mm Ấu trùng sống bằng cách đục đường hầm trong vỏ trái
Nhuộng: nhuộng trần, không tạo kén, màu trắng đục Chiều dài cơ thể
khoảng 6,7-7,2 mm Hóa nhộng trong các đường đục của mô cây Giai đoạn nhộng kéo dài 10-16 ngày
Trưởng thành: bọ vòi voi trưởng thành là côn trùng bộ cánh cứng màu
nâu đen Cánh có 2 đốm trước ở đầu cánh và cuối cánh Trưởng thành sợ ánh sáng, hoạt động mạnh lúc chiều tối, chúng sống ở nơi tiếp xúc giữa hai trái hoặc gần cuống trái Chiều dài con trưởng thành khoảng 7-8 mm, chiều ngang khoảng 1,5 mm
Trang 27Theo Hill (1983), vòng đời của bọ vòi voi D frumenti kéo dài 10-12
tuần, bao gồm trứng 4-9 ngày, sâu non 8-10 tuần và nhộng 9-10 ngày (trong tự nhiên) Gần đây Liao và Chen (1997) cũng báo cáo một vòng đời tương tự với các pha trứng, sâu non và nhộng lần lượt là 6-10, 35-40 và 10-16 ngày Thời gian trưởng thành là 15-22 ngày Thời gian của các pha cũng được tìm thấy
tương tự do (González Núñez et al 2002) trong điều kiện phòng thí nghiệm (T
= 25 ±1°C, HR = 70%±10% HR), sử dụng mía làm nguồn thức ăn
Bọ vòi voi trưởng thành bị lôi cuốn bởi dịch tiết từ vết thương trên mô cây dừa (Kalshoven, 1981) hoặc từ cuống hoa (Lepesme, 1947) và đến đẻ trứng ở những vị trí khác nhau: chùm hoa, cuống hoa, gốc cuống lá hay trong các khe hở (nứt) ở phần gốc của những rễ bất định
Khả năng sinh sản trung bình là 0,13 trứng/bọ cái/ngày trong suốt thí nghiệm trên mía (González Núñez et al 2002) Khả năng này là thấp để tạo sự cân bằng với thời gian sống dài của thành trùng Dù thành trùng chỉ sống 15-
20 ngày
Ở Đài Loan, bọ cái đục lỗ bằng miệng để đẻ trứng gần bề mặt của bẹ lá chưa mở trên cây cau Mascarena verchaffeltii (Liao và Chen, 1997), trong khi
đó González Núñez et al (2002) báo cáo trong một thí nghiệm với mía làm
thức ăn, thì bọ vòi voi cái đẻ trứng ở độ sâu 1-2,5 mm và không có dấu hiệu của sự đẻ trứng được thấy từ bên ngoài cây mía
1.4.3 Cách gây hại
Sâu non có thể đục đường hầm ở bất kỳ phần nào của rễ, cuống lá,
chùm hoa, lá chết, bẹ lá, trái và ở tất cả độ cao của thân (González Núñez et
Hình 1.1: Ấu trùng (A) và thành trùng (B) của bọ vòi voi D frumenti gây hại
trên dừa (Nguồn: Nguyễn Thị Nguyệt, 2012)
Trang 28al., 2002; Hill, 1983) Chúng đục sâu vào thân cây, việc chảy mủ thường thấy
được ở miệng lỗ đục
Trái dừa bị hại thường có 3-5 con bọ vòi voi trưởng thành Trái bị hại
có nhiều vết nhựa chảy ra từ vết đục, tập trung quanh cuống trái nhựa màu trong suốt sau đó chuyển sang màu vàng, vàng nâu và khô cứng Tại nơi vết nhựa chảy ra thường có phân đi kèm theo (có thể do phân ấu trùng thải ra) Ấu trùng gây hại bằng cách đục vào vỏ trái, chúng có thể đục tới gáo dừa (giai đoạn trái non) Nếu trái dừa bị nhiều vết gây hại làm cho trái bị rụng sớm (tấn công và làm trái méo mó trái dưới 3 tháng), kích thước nhỏ
Hình 1.2 Biểu hiện sự gây hại trên trái (A) và lỗ đục (B) của ấu trùng bọ vòi voi D
frumenti (Nguồn:Vũ Bá Quan, 2012)
Trang 29CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 PHƯƠNG TIỆN
2.1.1 Thời gian và địa điểm
Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 11/2013 đến tháng 10/2014
Địa điểm: thực hiện tại các vườn dừa có diện tích trồng tối thiểu 1.000
m2 trở lên trên các địa bàn trồng dừa thuộc huyện Long Phú và huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng
2.1.2 Vật liệu
Viết mực, viết lông và sổ ghi chép dùng đề ghi chép, lấy chỉ tiêu
Thước, dao, kéo, bọc nylon và máy ảnh dùng để ghi nhận hình ảnh thí nghiệm, điều tra và thu mẫu ngoài đồng
Phiếu điều tra nông dân được soạn sẵn bao gồm các thông tin về tình hình canh tác, đánh giá đến mức độ nhận thức của nông dân về loài bọ vòi voi
D Frumenti, đối tượng gây hại mới trên cây dừa (Phụ lục 1)
2.2 PHƯƠNG PHÁP
2.2.1 Điều tra và khảo sát tình hình gây hại của bọ vòi voi D Frumenti
trên các vườn dừa tại huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
Mục tiêu: nhằm tìm hiểu về hiện trạng canh tác, mức độ hiểu biết của
nông dân về bọ vòi voi và tình hình gây hại của bọ vòi voi trên các vườn dừa
tại 2 huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
Phương pháp điều tra:
- Điều tra nông dân
Điều tra được tiến hành trên 60 phiếu, tại mỗi huyện tiến hành điều tra ngẫu nhiên 30 hộ trồng dừa có diện tích canh tác trên 1.000 m2 Khoảng cách mỗi hộ tối thiểu 500 m Điều tra bằng cách phỏng vấn trực tiếp nông dân dựa trên phiếu điều tra được soạn sẵn (Phụ lục 1) bao gồm các thông tin như sau:
+ Thông tin sơ lược về người được phỏng vấn: tên, tuổi, địa chỉ, giới
tính, kinh nghiệm trồng dừa
+ Thông tin về kỹ thuật canh tác:
Trang 30Tình hình canh tác: tổng diện tích canh tác, loại vườn, giai đoạn dừa trong vườn khi điều tra
Thông tin về giống: tên giống, nguồn gốc giống, giống trồng nhiều nhất trên vườn, nguyên nhân chọn giống
Cách trồng: mật độ trồng , kiểu trồng
Cung cấp nước: số lần, thời gian cung cấp, vị trí tưới cho cây dừa Làm cỏ: số lần, thời gian, cách thực hiện, loại cỏ chính trong vườn Bón phân: loại phân, số lần, liều lượng, thời gian, cách thực bón phân Cắt tỉa tàu dừa (bẹ dừa): số lần, thời gian cắt tỉa, hiệu quả
+ Tình hình sâu bênh hại trên dừa theo nhận thức của nông dân:
Thành phần loài động vật và côn trùng gây hại chính trên các vườn dừa Các loại bệnh hại trên các vườn dừa
Loài gây hại quan trọng nhất
Bệnh gây hại quan trọng nhất
- Khảo sát trên vườn: tại mỗi hộ sau khi phỏng vấn trực tiếp bằng
phiếu điều tra soạn sẵn, sẽ khảo sát trực tiếp trên vườn theo 5 điểm chéo góc (bốn điểm ngoại vi và một điểm trung tâm), tại mỗi điểm quan sát 1 cây Trên
mỗi cây quan sát và ghi nhận tỷ lệ gây hại của bọ vòi voi D frumenti
- Chỉ tiêu ghi nhận:
Tỷ lệ trái bị hại/tổng số trái trên buồng dừa
Tỷ lệ buồng bị hại/tổng số buồng trên cây
Tỷ lệ trái bị hại/tổng số trái quan sát theo kích thước trái (<5 cm, 5-10,
>10)
- Xử lý số liệu: sau khi điều tra, tiến hành phân tích, đánh giá tập trung
vào các yếu tố như: diện tích, đất đai, giống, chế độ nước tưới, các yếu tố kỹ thuật canh tác như: giống, mật độ, cách trồng, phân bón, phòng trừ sâu bệnh, cắt tỉa bẹ dừa
2.2.2 Khảo sát diễn biến sự gây hại của bọ vòi voi D frumenti trên các
vườn dừa của huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
- Mục tiêu: thí nghiệm nhằm đánh giá diễn biến gây hại của bọ vòi voi
D frumenti qua các giai đoạn ghi nhận trên các vườn dừa tại 2 huyện Cù Lao