Llyod và McCown 1980 cho rằng có thể nguồn gốc của cây măng cụt có lẽ là vùng Archipelgado của Malaysia là những vùng xích đạo kế cận Indonesia, được trồng trong vườn của người Hà Lan và
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN VĂN TÂN
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG XỬ LÝ RA HOA TRÊN
CÂY MĂNG CỤT (Garcinia mangostana Linn.)
TẠI CÙ LAO TÂN QUI, HUYỆN CẦU KÈ,
TỈNH TRÀ VINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Trang 2Sinh viên thực hiện
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN VĂN TÂN
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG XỬ LÝ RA HOA TRÊN
CÂY MĂNG CỤT (Garcinia mangostana Linn.)
TẠI CÙ LAO TÂN QUI, HUYỆN CẦU KÈ,
TỈNH TRÀ VINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Nguyễn Văn Tân
Giáo viên hướng dẫn
PGS.TS: Trần Văn Hâu
2014
Trang 3Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Khoa Học Cây Trồng
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG XỬ LÝ RA HOA TRÊN
CÂY MĂNG CỤT (Garcinia mangostana Linn.)
TẠI CÙ LAO TÂN QUI HUYỆN CẦU KÈ,
TỈNH TRÀ VINH
Do sinh viên Nguyễn Văn Tân thực hiện
Kính trình lên Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
Cán bộ hướng dẫn
PGs Ts Trần Văn Hâu
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Hội đồng chấm luận văn đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Khoa Học Cây Trồng với đề tài:
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG XỬ LÝ RA HOA TRÊN
CÂY MĂNG CỤT (Garcinia mangostana Linn.)
TẠI CÙ LAO TÂN QUI, HUYỆN CẦU KÈ,
TỈNH TRÀ VINH
Do sinh viên Nguyễn Văn Tân thực hiện và bảo vệ trước hội đồng
Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:
Luận văn được hội đồng đánh giá ở mức:
Thành viên Hội đồng ……… ……… …… ………
Trang 5
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Tân
Trang 6Nguyễn Văn Tân
Trang 7
LỜI CẢM TẠ Kính dâng
Kính dâng lên cha mẹ lòng biết ơn, thương yêu vô hạn, người đã suốt đời tận tụy cho sự nghiệp và tương lai của con
Tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
Thầy Trần Văn Hâu đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báo cho em trong suốt quá trình làm luận văn
Chân thành cảm ơn
Cô cố vấn học tập và tất cả quý thầy cô, các anh chị cán bộ khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng đã dạy dỗ và truyền đạt kiến thức, những kinh nghiệm quý báo cho em trong suốt quá trình học tập tại trường
Các anh (chị) Trần Thị Phơlin, Nguyễn Thị Ngọc Lành, Nguyễn Thị Doãn Xuân, đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình làm luận văn
Bạn Lê Thị Hồng Phượng, Nguyễn Tấn Thạnh, Nguyễn Văn Hận, Nguyễn Kim Soàn, Nguyễn Chí Lợi, Nguyễn Long Hồ và các bạn trong lớp Khoa Học Cây Trồng khóa 37 đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình làm luận văn
Thân gửi đến
Các bạn lớp Khoa Học Cây Trồng khóa 37 lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành công trong tương lai
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LÝ LỊCH CÁ NHÂN ii
LỜI CẢM TẠ iii
DANH SÁCH HÌNH vi
DANH SÁCH BẢNG vii
DANH SÁCH NHỮNG TỪ VIẾT TẮT ix
TÓM LƯỢC xi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT MĂNG CỤT TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 2
1.1.1 Trên thế giới 2
1.1.2 Ở Việt Nam 2
1.2 NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÂY MĂNG CỤT 2
1.2.1 Nguồn gốc 2
1.2.2 Đặt điểm của sinh học của măng cụt 3
1.3 NHU CẦU SINH THÁI 4
1.3.1 Lượng mưa 4
1.3.2 Nhiệt độ, ẩm độ 5
1.3.3 Ánh sáng 5
1.3.4 Gió và độ cao 5
1.3.5 Đất trồng 5
1.4 ĐẶC ĐIỂM RA HOA, ĐẬU TRÁI VÀ PHÁT TRIỂN TRÁI MĂNG CỤT 6
1.4.1 Sự ra hoa 6
1.4.2 Đặc điểm ra hoa măng cụt 6
1.4.3 Sự đậu trái 7
1.4.4 Sự rụng trái 8
1.5 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ RA HOA 8
1.5.1 Tuổi cây và tuổi lá 8
1.5.2 Nhiệt độ, sự khô hạn và ngập nước 8
1.5.3 Hóa chất 9
1.5.4 Các chất dinh dưỡng 9
1.6 CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÍ RA HOA TRÊN CÂY MĂNG CỤT 10
1.6.1 Biện pháp xiết nước 10
1.6.2 Biện pháp khoanh vỏ 10
1.6.2 Biện pháp dùng hóa chất 11
1.7 GIỐNG 11
1.8 HIỆN TƯỢNG RA TRÁI CÁCH NĂM, XÌ MỦ, SƯỢNG TRÁI MĂNG CỤT VÀ BIỆN PHÁP KHÁC PHỤC 11
1.8.1 Hiện tượng ra trái cách năm măng cụt 11
1.8.2 Hiện tượng xì mủ măng cụt 11
1.8.3 Hiện tượng sượng trái măng cụt 12
1.8.4 Biện pháp khắc phục 12
1.9 KỸ THUẬT CANH TÁC CÂY MĂNG CỤT 13
1.9.1 Sửa soạn đất 13
1.9.2 Kỹ thuật trồng 13
1.9.3 Cách trồng 14
1.9.4 Chăm sóc 14
1.9.5 Thu hoạch 15
1.9.6 Bảo quản 16
Trang 91.10 MỘT SỐ SÂU BỆNH HẠI TRÊN CÂY MĂNG CỤT 17
1.10.1 Sâu hại và côn trùng 17
1.10.2 Bệnh hại 17
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 20
2.1 Phương tiện 20
2.2 Phương pháp 20
2.2.1 Điều tra nông dân 20
2.2.1 Xử lý số liệu 20
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 21
3.1 Đặc điểm vườn 21
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 21
3.1.2 Diện tích vườn và tuổi cây 22
3.1.3 Phương pháp nhân giống 23
3.2 Kỹ thuật canh tác 23
3.2.1 Thiết kế vườn 23
3.2.2 Mô hình canh tác 26
3.3 Quy trình chăm sóc 27
3.3.1 Bón phân 27
3.3.2 Tỉa cành, tạo tán 31
3.3.3 Quản lý nước tưới 32
3.3.5 Quản lý cỏ dại 33
3.4 Xử lý ra hoa 34
3.4.1 Tuổi lá và thời gian xử lý 34
3.4.2 Biện pháp xử lí ra hoa 35
3.4.3 Hiệu quả của biện pháp xử lí ra hoa 36
3.4.4 Đợt ra hoa và số hoa trên nhánh 37
3.4.5 Quá phát triển hoa, phát triển trái 37
3.5 Sự rụng trái non và ra đọt 38
3.5.1 Rụng trái non 38
3.5.2 Ra đọt trong quá trình ra hoa và đậu trái 39
3.6 Sâu bệnh gây hại 40
3.7Hiện tượng cho trái cách năm, xì mủ và cơm trong trên trái măng cụt 41
3.8 Thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm 43
3.8.1 Thu hoạch 43
3.8.2 Năng suất và tiêu thụ 43
3.9 Thuận lợi và khó khăn 45
3.10 Quy trình xử lí ra hoa tại Cầu Kè, Trà Vinh 46
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48
4.1 Kết luận 48
4.2 Đề nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49 PHỤC CHƯƠNG
Trang 10DANH SÁCH HÌNH
3.1 Tỉ lệ (%) số hộ trồng xen theo các loại cây trồng xen trên
vườn cây măng cụt được điều tra tại huyên huyện Cầu Kè,
3.4 Tỉ lệ (%) nông dân bị sâu bệnh tấn công trên cây măng cụt
được điều tra tại huyện Cầu Kè, Trà Vinh 2014
40
3.5 Tỉ lệ (%) nông hộ có hiện tượng cho trái cách năm, xì mủ
trái và hiện tượng cơm trong trên trái măng cụt được điều
tra tại huyện Cầu Kè, Trà Vinh năm 2014
42
3.6 Trái măng cụt bị xì mủ bên trong 42 3.7 Trái măng cụt bị cơm trong 42 3.8 Thể hiện năng suất trung bình và giá bán trung bình của
măng cụt từ tháng 2 đến tháng 7 (al) tại huyện Cầu Kè, Trà
Trang 113.3 Tỉ lệ (%) số hộ theo chiều rộng mặt mương và mặt liếp khác
nhau của từng vườn được điều tra tại huyện Cầu Kè, Trà
Vinh năm 2014
24
3.4 Khoảng cách (m) và mật độ (cây/1000m2) trồng cây măng
cụt được đều tra tại huyện Cầu Kè, Trà Vinh năm 2014
26
3.5 Mô hình canh tác măng cụt được điều tra tai Cầu Kè – Trà
Vinh
27
3.6 Tỉ lệ (%) nông hộ sử dụng phân hữu cơ bón cho cây măng
cụt sau thu hoạch và số lần bón phân (lần/vụ) tại huyện Cầu
Kè, Trà Vinh năm 2014
29
3.7 Tỉ lệ (%) số hộ áp dụng kỹ thuật bón phân khác nhau được
điều tra tại huyện Cầu Kè, Trà Vinh năm 2014
30
3.8 Liều lượng phân hóa học cho măng cụt ở từng thời kì sinh
trưởng được điều tra tại huyện Cầu Kè, Trà Vinh năm 2014
31
3.9 Tỷ lệ (%) hộ có tỉa cành và tạo tán cây măng cụt sau thu
hoạch cho cây được điều tra tại huyện Cầu Kè, Trà Vinh
3.11 Các giai đoạn tuổi lá và thời gian xử lý ra hoa măng cụt
được điều tra tại huyện Cầu Kè, Trà Vinh năm 2014
35
3.12 Tỉ lệ (%) số hộ áp dụng kỹ thuật xử lý ra hoa măng cụt của
các vườn măng cụt được điều tra tại huyện Cầu Kè, Trà
Vinh năm 2014
36
3.13 Tỷ lệ (%) số nông hộ được điều tra về số đợt ra hoa, tỷ lệ ra 37
Trang 12hoa và số hoa/nhánh của măng cụt tại huyện Cầu Kè, Trà
Vinh năm 2014
3.14 Thời gian từ khi xử lý ra hoa đấn khi thu hoạch được điều
tra tại tại huyện Cầu Kè, Trà Vinh năm 2014
38
3.15 Tỷ lệ (%) rụng trái non măng cụt được điều tra tại tại huyện
Cầu Kè, Trà Vinh năm 2014
38
3.16 Tỷ lệ (%) ra đọt non trong quá trình ra hoa và đậu trái trên
cây măng cụt được điều tra tại tại huyện Cầu Kè, Trà Vinh
Trang 13FAO Food and Agriculture Organization of the
United Nations-Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
KTRH Kích thích ra hoa
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
NN&SHƯD Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng
Âm lịch
Trang 14Nguyễn Văn Tân 2014 Điều tra hiện trạng xử lí ra hoa trên cây măng
cụt (Garcinia mangostana Linn.) tại cù lao Tân Qui, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà
Vinh Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Khoa Học Cây Trồng Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng Trường Đại học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn: PGs Ts Trần Văn Hâu
TÓM LƢỢC
Đề tài đã được thực hiện nhằm mục đích tìm hiểu về kỹ thuật canh tác và điều khiển ra hoa nghịch vụ của măng cụt để đánh giá những trở ngại trong quá trình sản xuất để có thể đề ra những hướng giải quyết giúp cho nông sản đạt năng suất và chất lượng cao Đề tài được thực hiện qua phỏng vấn 35 nông hộ, được điều tra từ ngày 20 tháng 06 năm 2014 đến ngày 20 tháng 07 năm 2014 tại huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh nhằm đánh giá hiện trạng canh tác và kĩ thuật
xử lí ra hoa của người dân Kết quả điều tra cho thấy: Về kỹ thuật canh tác, đa
số vườn có diện tích trồng chưa được nhiều trung bình khoảng 5.000 m2
-5.500
m2 và cây đang tuổi cho trái sung mãn Về phân bón chỉ có khoảng 10% số hộ
sử phân hữu cơ bón cho cây, về phân hóa học thì các nhà vườn chú trọng bón cho cây vào giai đoạn sau thu hoạch và giai đoạn nuôi trái để cây có đủ dinh dưỡng phát triển đọt và nuôi trái vụ tiếp theo Các loài côn trùng được phòng ngừa có hiệu quả, đặc biệt là sâu vẽ bùa gây hại nhiều cho nhà vườn Ngoài côn trùng gây hại còn có bệnh đốm lá và xì mũ trái nhưng tỷ lệ gây thiệt hại tương đối thấp Song song đó thì có khoảng 80% số hộ điều khiển ra hoa mùa nghịch vào khoảng tháng 8 đến tháng 10 nhưng còn lệ thuộc vào thời tiết, cho nên thu hoạch kéo dài từ tháng 1-7 âm lịch Các nhà vườn áp dụng nhiều biện pháp xử lý khác nhau như: xiết nước, xiết nước kết hợp với bón phân, khấc gốc… những biện pháp trên nhằm được giá cao tăng lợi nhuận kinh tế
Trang 15MỞ ĐẦU
Trà Vinh là một trong những vùng sản xuất cây ăn trái quan trọng ở Đồng bằng sông Cửu Long Bên cạnh các loại cây ăn trái nổi tiếng sầu riêng, chôm chôm, bưởi năm roi, bòn bon, quýt đường thì cây măng cụt cũng được đánh giá cao bởi có phẩm chất ngon, giàu dinh dưỡng và có giá trị kinh tế cao Ngoài ra măng cụt còn được trồng ở các tỉnh khác như Bến Tre, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Cần Thơ, Hậu Giang, Tuy diện tích măng cụt trồng còn rải rác ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, thậm chí trồng xen trong vườn cây ăn trái khác nhưng cây vẫn sinh trưởng khỏe, ít sâu bệnh Măng cụt thường có giá rất cao vào vụ nghịch do sản lượng ít trên thị trường hiện nay Nhưng bất kì một mặt hàng nông sản cũng không thể thoát khỏi quy luật cung cầu là vào thời điểm chính vụ thì giá của nó sẽ tương đối thấp Để đem lại hiệu quả kinh tế cao các nhà vườn đã có nhiều hướng canh tác và xử lý ra hoa nghịch vụ Nhiều biện pháp đã được nông dân áp dụng như xử lý ra hoa bằng hoá chất, xiết nước hoặc khấc gốc nhưng kết quả chưa ổn định Ngoài ra, các nhà làm vườn măng cụt hiện nay cũng không gặp ít khó khăn trong giá cả, giống, năng suất thấp và phẩm chất giảm
Trúng mùa, được giá luôn là mong ước của người dân Vì vậy việc canh tác và xử lý ra hoa măng cụt vào mùa nghịch đang là nhu cầu cần thiết để trái thu được tập trung hơn, giá bán được cao hơn Để hiểu thêm về kỹ thuật trồng
và xử lý ra hoa măng cụt của nông dân nên đề tài: “Điều tra hiện trạng xử lí
ra hoa trên cây măng cụt (Garcinia mangostana Linn.) tại cù lao Tân Qui,
huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh“ đã được thực hiện nhằm tìm ra những thuận
lợi và khó khăn trong kỹ thuật canh tác, xử lý ra hoa măng cụt để đưa ra được hướng phát triển và giải quyết thích hợp
Trang 16CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT MĂNG CỤT TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
1.1.1 Trên thế giới
Trên thế giới các nước trồng măng cụt nhiều nhất là Thái Lan, Campuchia, Indonesia, Ấn Độ, Srilanka, miền nam của Philippines (Vũ Công Hậu, 2000) Ngoài ra cây măng cụt còn tìm thấy ở Australia, Brazil, Burma, Trung mỹ, Hawaii, Ấn Độ, Malaysia, Việt Nam và nhiều nước nhiệt đới khác (Erickson và Atmowdjoj, 2001)
Năm 1987, Mã Lai có diện tích trồng 2.200 ha, đạt sản lượng 27.000 tấn/năm, còn Philipines có 1.130 ha cho sản lượng 2.270 tấn/năm Năm 1995, Thái Lan trồng được 15.000 ha măng cụt, cho sản lượng 130.000 tấn/năm Ở Indonesia, xuất khẩu măng cụt từng bước gia tăng từ 452 tấn (1991) đến 2.235 tấn (1994) Ở Úc, măng cụt trồng khoảng 50 ha (10.000-12.000 cây) Hiện nay, Thái Lan và Mã Lai là hai nước xuất khẩu măng cụt chủ lực trên thế giới và vẫn đang tiếp tục phát triển diện tích
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, măng cụt được trồng tập trung tại các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Bến Tre, Sóc Trăng, Trà Vinh và ở Vĩnh Long (Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, 1999) Ở Lái Thiêu, nhiều nhà vườn trồng măng cụt trên 40 năm với diện tích vườn khoảng 0,5-2 ha Ở đồng bằng sông Cửu Long, một số nhà vườn trồng măng cụt trên 30 năm tuổi với diện tích khoảng 0,05-3,0 ha (Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng, 2000)
1.2 NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÂY MĂNG CỤT
1.2.1 Nguồn gốc
Cây măng cụt có nguồn gốc Đông Nam Á, vùng Archipelgado của Malaysia là những vùng xích đạo kế cận Indonesia (Etickson và Atmowidfof, 2001) Llyod và McCown (1980) cho rằng có thể nguồn gốc của cây măng cụt
có lẽ là vùng Archipelgado của Malaysia là những vùng xích đạo kế cận Indonesia, được trồng trong vườn của người Hà Lan vào năm 1855 Các giống măng cụt đều bắt nguồn từ một loài (Hume, 1947)
Trang 171.2.2 Đặt điểm của sinh học của măng cụt
Trần Văn Minh và Nguyên Lâm Hùng (1999) cho rằng rễ cây măng cụt yếu và không có lông hút Dưới những điều kiện thuận lợi rễ mầm sẽ mọc ở một bên của hạt còn thân sẽ mọc ở phần đối diện bên kia hạt Bất cứ rễ nào cũng có thể phát triển nuôi cây con khi rễ mầm chết đi Khi nẩy mầm hạt phòng lên ở đỉnh , rễ phát triển ở một bên đáy hạt và chồi mọc từ đáy bên kia
Rễ mầm thường chết sớm và rễ mới mọc từ gốc của chồi (Trần Thượng Tuấn
và ctv., 1994)
Thân
Cây măng cụt có dáng trung bình, đẹp khi trưởng thành cao 10-25 m với đường kính thân 25-30 cm (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994) Măng cụt ở đồng bằng sông Cửu Long sau 30 năm trồng thường cao 6-8 m và có tán rộng 6-10
m Dáng cây thẳng đứng và vững chắc, tán hình chóp nón, cành từ thân đâm ra với một bán kinh đồng đều (Trần Văn Minh và Nguyễn Lâm Hùng, 1999) Các cành trên thân cách đều nhau, gốc cành và thân to, đầu cành hơi rũ xuống (Vũ Công Hậu, 2000) Cây tăng trưởng chậm, võ thân cây có màu nâu sẫm, thường chứa tanin, mangostin và amiliasin dùng làm dược liệu Manggostin là một loại xanthone có khả năng chống nhiều loại nấm, vi khuẩn, chất này có nhiều trong thân vỏ, lá và vỏ trái
Lá
Lá đơn to hình bầu dục hơn dài, lá dày, mọc đối Cuống lá hẹp và dày cứng (Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng, 1999) Phiến lá nguyên, thuôn dài , dày và có gân giữa và nổi rõ Lá xanh sẫm và bóng ở mặt trên lá, xanh vàng
và mọc ở mặt dưới lá Lá dài 12-25 cm, rộng 7-13 cm, cuống ngắn 1,2-2,0 cm cuống lá vát thành gốc tù Mỗi cuống lá mọc ra từng cành và đối diện với nhau
Downton và ctv (1990), trích bởi Trần Thượng Tuấn và ctv (1994), cho
biết lá cây măng cụt quanh hợp rất kém Tuy nhiên, nếu gia tăng nồng độ CO2trong không khí tăng lên gấp đôi so với bình thường, cây có thể hấp thụ thêm 40-60% khí CO2 đẻ tạo chất khô và cây tăng trọng được 77% Không khí giàu
CO2 cũng giúp cho cây nhiều nhánh ngang, gia tăng diện tích lá, trọng lượng
lá, giúp cây quang hợp có hiệu quả Ngoài ra, có thể giúp bộ rễ cây gia tăng gấp đôi so với điều kiện bình thường
Trang 18 Hoa
Hoa thường mọc đơn độc hoặc từng cặp ở ngọn các nhánh non Hoa cứng, mọc từ ngọn của nhánh non có thể là hoa đơn hoặc hoa kép Khi hoa có đường kính 4-6 cm, thì cuống hoa đài 1,5-2,0 cm, dày 7-9 mm hoa có 4 đài gồm 2 cánh nhỏ khép chặt ở phía trong và hai cánh lớn (dài 2 cm) bao bọc bên ngoài
có màu xanh pha vàng Bốn cánh hoa màu xanh có viền đỏ hoặc đỏ, kích thước khoảng 2,5 cm x 3,0 cm, hình bầu dục tương đối tròn, dày, chắc Tại miền Nam Việt Nam măng cụt thường ra hoa và tháng 1-3 dl và cho trái chính và tháng 5-
8 dl (khoảng 120 ngày sau khi hoa nở) Trích bởi (Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng, 1999)
Trái, hạt
Trái còn mang đài hoa ở cuống và núm nhụy ở chóp quả Quả trái khi non
có màu xanh đọt chuối, khi chín quả đỏ dần và chuyển sang dần màu tím rùi tím sẫm Trái hình cầu, đáy phẳng, đường kính 3,5-7,0 cm, nặng 75-100 g Vỏ trái láng, dày 0,8-1,0 cm màu tím hay màu tím nâu hoặc màu mận ở mặt ngoài
và tím bên trong (Trần Văn Minh và Nguyễn Lâm Hùng, 1999; Trần Tượng
Tuấn và ctv., 1994)
Trong trái chứa một dịch đắng màu vàng thường tiết ra khi trái non bị thương Dịch trong vỏ trái gồm mangostansterine, phytosterine và tannin, được dùng trong dược liệu Phần thịt bên trong trái chứa 5-7 múi màu trắng rất dễ tách Các múi có hạt hoặc không có hạt Hạt dài khoảng 2 cm Các hạt lớn màu tím sậm, được bao bọc bởi lớp áo mỏng phát triển bên trong múi Hạt dùng để nhân giống, càng trồng xa xích đạo hạt càng dễ bị lép Phần thịt bên ngoài hạt măng cụt có vị ngọt, thơm ngon Khi mới chín có màu trắng trong, nhưng chỉ vài ngày sau ngã sang màu vàng, kém thơm và có vị chát, do đó khó vận chuyển đi xa (Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, 1994)
1.3 NHU CẦU SINH THÁI
Trang 19Đồng thời, mưa cũng ảnh hưởng đến sự ra hoa của cây măng cụt Trước khi cây măng cụt ra hoa nếu có mưa làm cho mắt hoa phát triển thay vì ra hoa loại chuyển thành ra lá non ( Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng, 1999)
1994)
1.3.3 Ánh sáng
Măng cụt là cây ưa bóng, đặt biệt trong 2 năm đầu Việc che bóng cho cây con là điều rất cần thiết (giảm bớt 50-60% ánh sáng), trong giai đoạn cây con phải dùng mái che, khi trồng cũng nên che mát cho cây bằng cách dùng lưới che sáng hoặc dùng tre đan có khoảng trống để cho ánh sáng đi qua khoảng 50% (Nguyễn Thị Thanh Mai, 2005) hoặc có thể trồng xen cây chuối hoặc dưới tán cây ăn trái khác, nhất là vùng có mùa khô hạn kéo dài (Trần
Thượng Tuấn và ctv., 1994)
Theo Vũ Công Hậu (2000) khi ương cây măng cụt hai vấn đề quan trọng nhất là bóng râm, không để mặt trời rọi thẳng xuống cây con và tưới đều, và đồng thời không để nước úng Phải giữa bóng râm cho đến khi đem trồng ra ngoài (Vũ Công Hậu, 2000)
1.3.4 Gió và độ cao
Vùng có gió mạnh sẽ ảnh hưởng đến vườn cây măng cụt chẳng những làm cây bị gãy cành, đổ cây mà còn ảnh hưởng đến hoa quả Cần trồng cây chắn gió và che bóng mát cho cây Độ cao thích hợp cho cây măng cụt là 160
m so với mực nước biển nhưng thích nhất là 70 m Ở những thung lũng cao hơn phải chú ý đến nguồn nước (Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng, 1999)
1.3.5 Đất trồng
Cây măng cụt thích hợp với đất có pH 5,5-7,0 đòi hỏi nhiều mùn và chất hữu cơ, thoát thủy dễ (Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, 1999) Theo Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng (1999) đất thích hợp nhất cho cây măng cụt là đất phì nhiêu, sát pha cát, giữa được nước, không bị ngập úng, lớp đất mặt dầy 2 m, pH từ 5-
6 không nhiễm phèn nhiều
Trang 201.4 ĐẶC ĐIỂM RA HOA, ĐẬU TRÁI VÀ PHÁT TRIỂN TRÁI MĂNG CỤT
xuống Sự tượng hoa bắt đầu khi thấy chồi tận cùng nhô lên (Yaacob và et al.,
(1995)
Sự ra hoa là một bước ngoặt trong đời sống của thực vật, tức là sự chuyển hướng từ giai đoạn sinh trưởng sang giai đoạn sinh trưởng sinh sản Sự chuyển hướng này thực chất là sự thay đổi đột ngột trong đỉnh sinh trưởng của thân, cành để có thể chuyển từ sự phân hóa mầm lá sang phân hóa mầm hoa Đối với
sự ra hoa của cây thì giai đoạn khởi xướng, cảm ứng sự ra hoa là sự quan trọng nhất Đây là quá trình phức tạp chịu ảnh hưởng của nhân tố nội tại (chất điều hòa sinh trưởng) và các nhân tố ngoại cảnh (chủ yếu là ánh sáng và nhiệt độ) Ảnh hưởng của nhiệt độ đặc biệt là nhiệt độ thấp đến sự ra hoa người ta còn gọi là sự xuân hóa Còn ảnh hưởng của độ dài ngày đến sự ra hoa được gọi là
hiện tượng quan chu kỳ (Vũ Văn Vụ và ctv., 1998)
Dưới tác động của nhiệt độ thích hợp và quang chu kỳ cảm ứng, trong lá cây xuất hiện các chất đặc hiệu gây nên sự ra hoa gọi là hormone ra hoa Hormone ra hoa này sẽ được vẫn chuyển đến các mô phân sinh đầu cành để qui định sự hình thành các mầm hoa
1.4.2 Đặc điểm ra hoa măng cụt
Theo Yaacob và Tindall, (1995) cho rằng sự thay đổi nhiệt độ và điều kiện khô là hai nhân tố giúp cây ra hoa Cây có khả năng ra hoa là cây khỏe mạnh được tưới nước và bón phân đầy đủ Theo Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng (1999) vào mùa khô cây măng cụt sẽ tích lũy thức ăn ở thân cây để giúp tạo mầm hoa măng cụt Thời gian này cây đang phát triển và tích trữ và đồng thời chất đạm trong suốt mùa khô, việc tích trữ hợp chất cacbon vẫn tiếp diễn, và hợp chất đạm bắt đầu giảm Tới một thời điểm mà lượng của hai hợp chất tới ngưỡng thích hợp, nó sẽ tác động để kích thích ra hoa
Tất cả các cây măng cụt hiện nay có cùng một giống Garcinia măng cụt
là cây trinh quả sinh, hạt phát triển thành phôi cái (đậu trái không cần thụ phấn
Trang 21của nhị đực) Măng cụt thường ra hoa ở đầu cành, các cành thứ cấp có từ 2-3 cơi đọt có tỉ lệ ra hoa nhiều hơn so với cành non một cơi đọt hay cành già cõi
4-5 cơi đọt (Nguyễn An Đệ và ctv., 2004) Măng cụt có xu hướng ra trái cách
năm tùy theo tình trạng sinh trưởng của cây Sự ra hoa thường xuất hiện sau một đợt sinh trưởng dinh dưỡng và trải qua một thời kì khô hạn Cây cũng có thể ra hoa hai lần trong năm tùy thuộc vào điều kiện sinh trưởng và đợt sinh trưởng trong năm
Có 3 yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự ra hoa của cây măng cụt là cây măng cụt phải trong thời kì sung mãn, chồi thành thục và có thời kì khô hạn thích hợp; chồi có khả năng ra hoa phải từ 9 tuần tuổi nhưng tùy thuộc vào điều kiện khí hậu, lí tưởng nhất là 21 tuần tuổi
Theo dõi quá trình ra hoa măng cụt (Vũ Văn Vụ và ctv., 2006) nhận thấy
trong điều kiện tự nhiên ở Đồng Bằng sông Cửu Long, măng cụt ra hoa không tập trung, kéo dài từ tháng 1-3 al, thu hoạch từ tháng 5-8 al, tập trung trong tháng 6-7, đạt tỉ lệ ra hoa trung bình 56% Từ khi nhú mầm đến khi hoa nở trong 22 ngày, hoa nở chủ yếu vào buổi sáng sớm và hoàn tất trong ngày
1.4.3 Sự đậu trái
Hoa măng cụt từng lúc bắt đầu nở đến khi kết trái chỉ khoảng 24 giờ (Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng, 1999) Khi đã kết trái, màu cánh hoa giống màu da trái và mọng nước rùi rụng Nhị đực khô dần và sẫm đen Lúc mới đậu trái nhị cái màu vàng nhạt, trong trái đã hình thành cơm nhưng chưa tách ra khỏi vỏ
Măng cụt chậm cho trái, thường mất trên 10-15 năm trồng Cây phát triển nhanh có thể cho trái từng 7-9 năm tuổi Tại Dawao (Phillipines), trồng xen trong vườn dừa, măng cụt có thể cho trái sau 4 năm Mùa trái măng cụt của Phillipines từ tháng 6-12 dl Theo Hum (1947), cây măng cụt thường có khuynh hướng cho trái cách năm Tại Srilanka và một số nơi, cây thất mùa cho khoảng 100 trái/cây/năm, trong khi cây trúng mùa cho trên 500-600 trái/cây/năm Năng suất cây măng cụt trúng mùa ở ĐBSCL có thể đạt 300-500 trái/cây/năm, đất tốt có thể cho 800 trái/cây/năm
Theo Vũ Công Hậu (2000), ở Việt Nam cây măng cụt sau khi trồng 7 năm mới cho trái, năm đầu tiên có thể thu 10 trái (1 kg/cây), cây 8 năm tuổi cho 40 trái(4 kg/cây), cây 15 năm tuổi khoảng 600-800 trái (60-80 kg/cây) Năng suất
Trang 22giai tăng dần cho đến năm thứ 50 Tuy nhiên, từng năm thứ 30 trái đã nhỏ dần
và cách khoảng 3 năm mới có 1 năm sai trái
Sau khi đậu trái cần tưới nước thường xuyên và tăng dần theo độ lớn của trái Trái bắt đầu già thì giảm lượng nước tưới để tăng hương vị cho trái sau này (Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng, 1999)
1.4.4 Sự rụng trái
Cây ăn quả nào cũng bị rụng trái non, riêng măng cụt thì hiện tượng này xảy ra cũng rất nặng, có thể xảy ra ở tất cả các giai đoạn phát triển của trái (Vũ Công Hậu, 1996) Trần Văn Hâu (2008) cho rằng sự rụng trái diễn ra mạnh nhất vào giai đoạn 2-3 tuần SKĐT, giai đoạn từ 20-40 ngày SKĐT sự rụng trái non vẫn diễn ra nhưng giảm dần và từ 40 ngày SKĐT đến khi thu hoạch thì tỉ
lệ trái còn lại trên cây gần như ổn định Theo Núnẽz-Elisea và Davenport (1983), trích dẫn bởi Lê Đình Tấn Tài, (2011), phần lớn những phát hoa mất tất
cả các trái non đầu tiên, số trái rụng trong tuần đầu chiếm hơn 90% của toàn bộ
số trái rụng và kết thúc sự đậu trái là 0,61%
Sự rụng trái ở măng cụt xảy ra là do ảnh hưởng tương tác của các yếu tố bên ngoài cũng như các đặc tính cố hữu bên trong của giống và xảy ra ngẫu nhiên không phụ thuộc vào kích thích hoặc vị trí trên phát hoa Có nhiều nguyên nhân làm măng cụt rụng trái non như: hoa đực nhiều, hoa lưỡng tính có thể đậu trái ít, mưa, ẩm độ không khí cao, do di truyền,… (Vũ Công Hậu, 1996)
1.5 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ RA HOA
1.5.1 Tuổi cây và tuổi lá
Hầu hết các loại cây đa niên đều trải qua thời kì sinh trưởng dinh trưởng sau khi trồng cây con Đây là thời kì tích lũy đầy đủ chất dinh dưỡng để phát triển chiều cao, tán lá và bộ rễ Lá còn non không có khả năng thúc đẩy sự ra hoa vì mầm hoa chỉ khởi phát trên những chồi mang lá đã phát triển hoàn toàn,
có màu xanh đậm và cứng do đã hóa lignin (Lê Bảo Long, 2006) Đối với cây măng cụt, khi chồi non khoảng 9 tuần tuổi là có thể kích thích ra hoa (Nguyễn Thị Thanh Mai, 2005)
1.5.2 Nhiệt độ, sự khô hạn và ngập nước
Điều kiện nhiệt độ thấp làm giảm sự sinh trưởng của cây, mất sự hô hấp
và thúc đẩy sự phân giải tinh bột và các chất dữ trữ khác có thể cải thiện trực tiếp sự đồng hóa cung cấp cho đỉnh chồi và thúc đẩy quá trình theo hướng sinh sản (Trần Văn Hâu, 2005)
Trang 23Cây măng cụt có điều kiện ra hoa gần giống như một số loài cây khác như sầu riêng, chôm chôm và một số loại cây ăn trái khác, tức là phải có thời gian khô hạn để làm giảm sự sinh trưởng của cây sau đó tùy thuộc vào từng loại cây
mà có biện pháp cung câp nước cho phù hợp Theo Nguyễn Thị Thanh Mai (2005), khi đọt non được khoảng 8-9 tuần tuổi tiến hành tạo khô hạn cho cây khoảng 15-30 ngày thì tưới nước thật đẫm trở lại 2 lần, tùy theo tình trạng của cây khoảng 10-20 ngày sau khi tưới nước cây sẽ nhú mầm hoa
1.5.3 Hóa chất
Nitrate kali (KNO3): là một loại muối có dạng màu trắng Một số nghiên cứu cho thấy KNO3 không có tác dụng hình thành mầm hoa mà chỉ tác động kích ra hoa
Thiourea: có tác dụng kích thích ra hoa như KNO3, là tác nhân phá vỡ miên trạng chồi (Lê Bảo Long, 2006) Phun thiourea (0,25% và 0,50%) có hiệu quả thúc đẩy cây măng cụt ra đọt mới: 81,16% và 91,5% Việc thúc đẩy cây măng cụt ra đọt sớm mới và đồng loại sau thu hoạch trái là một trong những biện pháp canh tác để cải thiện giống và năng suất cây măng cụt (Nguyễn Văn Thơ., 2004) Phun thiourea với liều lượng 30g/8 lít nước thúc đẩy ra đọt mới đồng loạt sau khi xử lý nhưng nếu dùng với nồng độ cao sẽ gây hiện tượng rụng lá, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây (Nguyễn Thị Thanh Mai, 2005) Palobutrazol: là chất ức chế sinh trưởng, thúc đẩy hình thành mầm hoa
thông qua sự ức chế quá trình sinh tổng hợp GA (Tongumbai et al., 1991),
được sử dụng để KTRH trên các loại cây ăn trái PBZ là chất lưu dẫn có thể được hấp thu qua lá, tán cây, thân và được di chuyển qua mô xylem đến bên dưới chồi sinh mô, ở đó nó ngăn cản quá trình sinh tổng hợp GA và làm chậm tốc độ phân chia tế bào, làm cho thực vật trở nên già cỏi hơn, làm gia tăng tạo
hoa và trái (Kachru et al., 1971) Xử lí PBZ 1.000 ppm khi tuổi lá 2,0 và 2,5 tháng có tỉ lệ ra hoa (43,13% và 43,38) và năng suất cao (33,58 và 35,3 kg/cây) (Lê Bảo Long, 2006)
1.5.4 Các chất dinh dƣỡng
Người ta chưa sát định được phương pháp bón phân thích hợp nhất cho cây măng cụt Kết quả đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất măng cụt ở miền nam Thái Lan nhận thấy biện pháp canh tác bón phân NPK (8-24-24) trước khi xử lí
ra hoa kết hợp phun phân bón lá 15-30-15 + humic acid hoặc phun Nutre-phos
supper-K sau khi ra đọt thì năng suất cao (Nguyễn Văn Thơ và ctv., 2005) Tuy
Trang 24nhiên nhu cầu phân bón đối với cây măng cụt trong từng thời điểm phát triển của cây là khác nhau Trong đó 3 chất thiết yếu phải có là:
Đạm: Ngoài hiệu quả điều chỉnh sự tượng hoa trong môi trường thích
hợp cho sự ra hoa, dinh dưỡng khoáng có tác dụng biến đổi chất lượng căn bản những đòi hỏi căn bản sự ra hoa một số loài (Trần Văn Hâu, 2005) Chất đạm cần thiết nhất cho cây sau thu hoạch, giúp cây phát triển cành và đọt mới Với cây măng cụt, lượng đạm dư thừa trong quá trình tạo mầm hoa sẽ vô cùng bất lợi vì sẽ kích thích cây ra nhiều lá hơn hoa
Lân: Loại chất này có tác dụng tốt trong quá trình xử lí ra hoa, kích thích
mầm hoa phát triển, tượng bông tốt, trổ sớm Liều lượng phân bón cho cây cần tăng thêm chất này trước khi cây ra hoa 30-40 ngày (Nguyễn Thị Thanh Mai, 2005)
Kali: Chất kali cũng cho kết quả tương tự như chất lân (Trần Văn Hâu,
2005) Bên cạnh đó, Kali là chất thiết yếu trong quá trình nuôi trái, hạn chế rụng trái, thúc đẩy phát triển nhanh và tăng chất lượng, giúp chín sớm và tập trung
1.6 CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÍ RA HOA TRÊN CÂY MĂNG CỤT
Nhược điểm quan trọng của cây măng cụt là khó ra hoa và ra hoa cách năm nên năng suất không ổn định Ngoài ra trong điều kiện tự nhiên, thời điểm thu hoạch măng cụt thường rơi vào mùa mưa khoảng tháng 6,7 dl Xử lý
ra hoa đồng loạt và sớm đóng vai trò quan trọng nhằm thu hoạch trái sớm và giảm hiện tượng trái măng cụt bị sượng
1.6.1 Biện pháp xiết nước
Khi đọt 9-10 tuần tuổi, tiến hành tạo khô hạn cho cây trong khoảng 2-4 tuần Khi lá đọt có biểu hiện héo, đọt non bị móp lại thì tiến hành tưới nước thật đẫm trở lại 1-2 lần, mỗi lần cách nhau 7 ngày để kích thích ra hoa Nếu cây vẫn chưa ra hoa thì lại tạo khô hạn và tưới nước trở lại như lần trước (Nguyễn Thị Thanh Mai, 2005)
1.6.2 Biện pháp khoanh vỏ
Những vườn khó tạo khô hạn thì khi được ra đọt được 9-10 tuần tuổi, khoảng 15/10 âm lịch tiến hành khoanh vỏ xung quanh thân măng cụt, chiều rộng của vết khoanh từ 0,5-0,8 cm chỉ khoanh phần vỏ, không được phần gỗ trong thân, vết khoanh cách mặt đất khoảng 1 m (Nguyễn Thị Thanh Mai, 2005)
Trang 251.6.2 Biện pháp dùng hóa chất
Phun Paclobutrazol nồng độ 0,1% ở giai đoạn lá lụa kết hợp với ngưng tưới nước; sau đó phun Thiourea nồng độ 0,5% sau 45 ngày, khi lá thành thục Sau khi phun 1 tuần kết hợp tưới nước cho cây ra hoa đồng loạt (Nguyễn An
Đệ và ctv, 2004)
1.7 GIỐNG
Hầu như tất cả các cây măng cụt đều bắt đầu từ dòng ban đầu dù được gieo hạt do hạt bất thụ và cây con phát triển từ một phôi cái (Horn, 1940;
Hume, 1947; Ochse và ctv., 1961) Do đó chọn giống tốt để trồng rất khó khăn
và thiếu biến động di truyền Vì vậy cần khảo sát kỹ và có thể xử lý đột biến trên hạt hoặc chồi để tạo ra những dòng mới
Đời sống cây măng cụt so với hạt giống khác với thời gian ngắn hơn Hạt
từ trái chín chỉ có thể sống được 3-5 tuần lễ Nếu bảo quản trong điều kiện thích hợp như ở nhiệt độ 25oC độ ẩm vừa phải có thể kéo dài được thời gian sống của hạt cây măng cụt (Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng, 1999)
Theo Vũ Công Hậu (1999) ghép (tháp) chưa áp dụng trong nước nhưng
có thể ghép lên gốc măng cụt hoặc cây cùng họ khác như bứa Nhân giống vô tính măng cụt chưa có kết quả đáng kể trong nước
1.8 HIỆN TƢỢNG RA TRÁI CÁCH NĂM, XÌ MỦ, SƢỢNG TRÁI MĂNG CỤT VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
1.8.1 Hiện tƣợng ra trái cách năm măng cụt
Ra trái cách năm là hiện tượng rất phổ biến trên cây măng cụt hiện nay Một trong những nguyên nhân chính làm cho cây măng cụt cho trái thất thường, hiện tượng cho trái cách năm ngày càng phổ biến do các nguyên nhân như: do tình hình sức khỏe cây, năng sức thu hoạch vụ trước, chăm sóc cây sau thu hoạch của từng hộ, hay là do thời tiết thay đổi,…
1.8.2 Hiện tƣợng xì mủ măng cụt
Trái chảy nhựa bên ngoài nhưng khi bổ ra thấy có cả nhựa chảy bên trong, phần giữa lõi của trái có màu vàng giống như nhựa bên ngoài Sodoodee
et al, (2002) cho rằng hiện tượng xì mủ là do sự hấp thu quá nhiều nước làm
cho áp suất trương của tế bào tăng đột ngột và gây ra sự xáo trộn và tổn thương màng tế bào Do sự hấp thu nhiều nước sau giai đoạn khô hạn đã gây nên hiện tượng xì mủ trên trái (Osman và Milan, 2006) Độ ẩm là nguyên nhân chính
Trang 26gây ra hiện tượng xì mủ và sượng trái hay còn gọi là cơm trong (Tongleam et
al., 2004) Hiện tượng xì mủ xuất hiện khi đất bị khô hạn, có sự chênh lệch rất
lớn giữa thế năng nước của đất và cây, do đó có sự di chuyển từ nước và chất hòa tan vào trái sau khi cây được cung cấp nước trỏ lại Hiện tượng này xảy ra khi đất bị khô hạn có ẩm độ thấp, sau đó ẩm độ giai tăng đột ngột do trời mưa
(Peet et al., 1995; Sdoodee và Limpun-Udom, 2002)
Tìm hiều các yếu tố có liên quan đến hiện tượng xì mủ, Nguyễn Minh Hoàng và Nguyễn Bảo Vệ (2008) nhận thấy hiện tượng xì mủ trái măng cụt xuất hiện nhiều khi thu hoạch trong tháng 7-8 al, cây có độ tuổi nhỏ hơn 30 năm có tỉ lệ trái bị xì mủ nhiều hơn cây trên 30 năm tuổi Thông thường quan sát hình thái bên ngoài rất khó phát hiện trái bị xì mủ nhưng thương lái phát hiện trái bị xì mủ bằng cách quan sát sự lên màu không đồng đều của vỏ trái Trái bị rớt cũng là nguyên nhân gây ra hiện tượng xì mủ Nguyễn Minh Hoàng
và Nguyễn Bảo Vệ (2008) Thí nghiệm cho rớt ở các độ cao khác nhau nhận thấy 85% trái rớt ở độ cao 1,5 m đều bị xì mủ
1.8.3 Hiện tƣợng sƣợng trái măng cụt
Hiện tượng sượng trái ở măng cụt còn gọi là hiện tượng cơm trong Khi cắt trái măng cụt ra thấy cơm không trắng đục mà mà bị trong từng phần hay toàn bộ gọi là trái bị cơm trong Nếu bị ít cũng có nhiều người cũng thích ăn do cơm giòn, nhưng nếu bị cả trái sẽ làm giảm chất lượng và có thể dẫn đến vỏ cứng Trái bi cơm trong được xếp vào loại trái thứ phẩm cần phải loại ra khỏi hàng hóa xuất khẩu Ẩm độ quá cao trong đất đã tác động làm tăng hiện tượng sượng trái (Chanawerawan, 2001; Morton, 1987)
1.8.4 Biện pháp khắc phục
1.8.4.1 Biện pháp dinh dưỡng
Lê Thị Khỏe và ctv, (2004) cho rằng phân bón có thể giúp cây khắc phục
được tình trạng cây thiếu dinh dưỡng do khả năng hấp thu của bộ rễ hạn chế, làm tăng phẩm chất trái Theo nghiên cứu của (Nguyễn An Đệ và ctv, 2004 trích dẫn bởi Lê Đình Tấn Tài, 2011) cho thấy sử dụng phân bón lá (Grwmore 15-30-15) có tỷ lệ trái bị cơm trong và xì mủ thấp hơn đối chứng
Pechkeo et al (2005) cũng cho rằng hiện tượng mủ trái và cơm trong trên măng cụt là do sự không cân bằng hoặc thiếu dinh dưỡng cảu cây gây ra Vỏ trái măng cụt bình thường có hàm lượng N, P, K, Ca và B cao hơn trái bị cơm trong Trong khi đó, thịt trái có hàm lượng K, Ca, S và B ở thịt trái bình thường
Trang 27cao hơn trái bị cơm trong Theo FAO (2004), hiện tượng cơm trong của trái liên quan đến sự thiếu boron trên măng cụt
1.8.4.2 Biện pháp quản lí ẩm độ đất
Theo Sdoodee và Chiarawipa (2005), hiện tượng xì mủ và sượng trái có thể hạn chế nếu thế năng nước của đất được duy trì ở mức -70 kPa (ở lớp đất sâu 30 cm) Hơn nữa, khi ẩm độ nước trong đất giảm xuống -100 kPa và sau đó tưới nước trở lại đột ngột sẽ làm tăng hiện tượng mủ trái (Sdoodee và Limpun-Udom, 2002) Vì vậy, hiện tượng xì mủ và sượng trái có thể hạn chế bằng cách quản lý chặt chẽ chế độ nước trong giai đoạn tiền thu hoạch, hạn chế sự theo đổi đột ngột ẩm độ đất đặt biệt trong mùa mưa (Sdoodee và Chiarawipa, 2005)
1.9 KỸ THUẬT CANH TÁC CÂY MĂNG CỤT
1.9.1 Sửa soạn đất
Chuẩn bị đất trồng măng cụt cũng giống như chuẩn bị vườn trồng cây ăn quả khác Nên bắt đầu từ mùa khô để tiện cho việc sử dụng máy kéo Cày xới 2 lần, lần đầu cài bằng 3 dĩa (chảo), lần sau là 7 dĩa để làm co đất tơi dễ trồng, đồng thời cũng góp phần diệt cỏ (Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng 2000)
1.9.2 Kỹ thuật trồng
Sau một tháng gieo cây con có đôi lá đầu tiên, lúc đầu có màu đỏ sau chuyển sang màu xanh Có thể để nguyên tại chỗ hoặc sau 3-4 tháng trồng sang đất mới Trồng tốn công nhưng thay được đất mới sẽ tăng chất dinh dưỡng, loại bõ cây xấu, cây con sẽ đều hơn (Vũ Công Hậu 2000) Cây con phát triển kém, khả năng sống sót của nó phù thuộc vào thời gian cây mầm tiêu thụ dinh dưỡng dữ trữ trong hạt để sau đó cây có thể mọc lên từ đất (Trần Thượng Tuấn
và ctv., 1994; Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng, 1999)
Cây con đem trồng được 2 năm tuổi, cao 25-30 cm, nên đặt cây con khi cao từ 50 cm trở lên vì cây nhỏ dễ bị chết Trước khi đặt nên cắt bớt khuyến lá một nửa để giảm thoát nước và khi đặt cần nên thận trọng để không bị hư Sau khi đặt cây lắp lại bằng đất mặn trộn thêm hửu cơ Nên đặt cây con vào đầu
mùa mưa để đỡ chi phí tưới (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994)
Theo Trần Thượng Tuấn và ctv (1940) cây con khó sống ngoài trảng nên
cần được che mát trong 4-5 năm đầu có thể trồng xen cây măng cụt với cây chuối hay dưới tán dừa nhất là trong vùng có mùa khô kéo dài.Ở vườn trồng thuần măng cụt có thể trồng xen những cây ngắn ngày dể tăng thêm thu nhập
Trang 28Vườn cây măng cụt trồng xen trong vườn dừa không trồng xen những cây trồng khá Chấm dứt trồng xen khi cây 8-10 năm tuổi Sau khi ngưng trồng xen cần che phủ đất bằng những cây họ đậu, nhất là trong mùa khô, để giảm bốc hơi nước (ít nhất ở 30 cm chung quanh gốc đến tán cây)
1.9.3 Cách trồng
Hume và Cobi (1946) cho rằng rễ cây măng cụt không có long hút nên khi ương phải dùng lượng hạt lớn hơn Cây có 2 lá nên cấy sớm vào bầu, cấy chậm 4-6 lá dễ làm rễ bị tổn thương
Theo Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng (1999) trước khi trồng cần bón lót dưới đáy hố bằng phân theo tỉ lệ 15:15:15 (N:P:K) liều lượng 0,5 kg/hố, phân photphat 0,2kg/hố và trộn chung với đất Trồng xong lấy cọc cấm buộc vào thân cây để tránh gió lay đổ Cắm cọc giữa cây 2-3 năm cho đến cây khỏe mạnh
1.9.4 Chăm sóc
Tưới nước
Do hệ thống rễ không có lông hút và phát triển kém nên rễ măng cụt tiếp xúc với đất kém, khó hút nước, vì vậy cây cần tưới nước và chăm sóc thường xuyên Tuy nhiên nếu trồng cây con ngập nước cây sẽ chết, cây trưởng thành
có thể chịu ngập tốt hơn cây con nếu bị ngập và thoát nước được ở từng lúc điều kiện nước vô ra ở đồng bằng sông Cửu Long Cần tưới trong tháng khô, từ khi mới trồng để đất luôn đủ nước vừa phải đất ẩm ẩm là được Trong mùa
mưa cần chú ý thoát nước tốt cho cây con (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994)
Cây được trồng trong luống ương, cây con trồng cách nhau 30-40 cm đến
khi cao khoảng 60 cm mới bứng ra vườn trồng (Trần Thượng Tuấn và ctv.,
1994; Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng, 1999) Dù được gieo trong luống ương hay trong bầu thì cây cần được che mát, tưới nước thường xuyên do rễ cây măng cụt không có lông hút, lượng rễ tiếp xúc với đất không nhiều nên cây
dễ bị thiếu nước và bị thiệt hại khi phơi trực tiếp với ánh sáng, dễ bị cháy lá,
cây lùn và có thể chết (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994)
Cây măng cụt con phát triển chậm Tại Philippines cây con cao trung bình khoảng 8 mm mỗi tháng và cho 1 cặp lá mới 2 tháng trồng (Gonzalez và Anoos, 1951) Trồng cây măng cụt bằng cách gieo hạt cây chậm phát triển trong 2 năm đầu cây chỉ cao khoảng 20-30 cm, thậm chí tỉ lệ chết cao (Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng, 1999)
Trang 29 Phân bón
Măng cụt rấtt ưa phân chuồng (Galang, 1955) Để đảm bảo cây cho năng suát cao và chất lượng quả ngon Theo Đường Hồng Dật (2000) khuyến cáo bón phân cho cây măng cụt theo quy trình sau:
Cây còn nhỏ chưa cho quả hàng năm bón một cây 50-100 g SA hoặc
20-40 g urea sau khi trồng vào mùa mưa Sau khi trồng 6 tháng vào cuối mùa mưa bón 50-100 g SA hoặc 20-40 g urea Các năm về sau bón 300-400 g NPK (20:20:15) bón làm 2 đợt vào đầu và cuối mùa mưa
Đối với cây măng cụt có đường kính tán 5-6 m đang phát triển bình thường có thể bón phân với liều lượng: 20-30 kg phân chuồng hoai mục khô ráo/cây và 1-3 kg phân vô cơ/lần/cây, tức 4-12 kg/cây/năm Liều lượng phân bón mỗi cây thay đổi là tùy thuộc vào điều kiện đất trồng, tuổi cây, đường kính tán, tình hình sức khỏe của cây và năng suất thu hoạch mùa trước (Nguyễn Thị Thanh Mai, 2005)
Cắt tỉa
Không cần cắt tỉa và tạo dáng lúc đầu, tuy nhiên, có thể cắt tỉa những cành yếu, chết, cành vượt để cây mọc tốt Khi cây cao 8-10 m có thể cắt ngọn
dể giảm chiều cao và tán ngang dễ phát triển Theo Nguyễn An Đệ và ctv
2004 cho rằng căt tỉa cành (mọc vượt, cành khô dập rãy, cành cấp 1) giao tán
có ảnh hưởng là gia tăng số chồi mới, tăng trọng lượng trái tăng tỉ lệ >80 g, giảm tỉ lệ trái bị da cám và cải thiện màu sắc trái hấp dẫn hơn Tuy nhiên cắt cành quá mức sẽ ảnh hưởng là giảm số lượng trái/cây và giảm năng suất
và ctv., 1975) Tại Srilanka và một số nơi, năm thất mùa cho 100 trái/cây, trong
khi năm trúng mùa cho trên trên 500-600 trái/cây
Theo Vũ Công Hậu (2000) ở Việt Nam cây 7 năm tuổi mới cho trái bói,
có được 10 trái (1 kg), cây 8 năm có 40 trái (40 kg), cây 9 năm tuổi có 100 trái
Trang 30(10 kg), cây 15 năm tuổi có 600-800 trái (60-80 kg) Năng suất này tăng mãi cho đến năm thứ 50, nhưng bắt đầu năm thứ 30 trái đã bé dần và thường 3 năm mới có 1 năm sai trái Phần ăn được có đường tổng số khoảng 16,42, độ chua vừa phải, vỏ chiếm 2/3 khối lượng trái và rất chát vì chứa tới 13% tannin Nhiều bộ phận của cây măng cụt có thể làm thuốc Vỏ cây có mangostin và amiliasin dùng để chửa bệnh đường ruột và kiết lỵ Thịt trái dùng để tẩy ruột
và chống đi ngoài Vỏ trái chứa mangostansterein cho thêm vỏ trái lựu chửa đi ngoài rất công hiệu
1.9.6 Bảo quản
Bảo quản ở 2oC giữ được 21 ngày chứa trong túi plastic kín Bảo quản ở
13oC nếu trái chứa trong túi plastic có đục lỗ sẽ giữ được 28 ngày Nếu trồng măng cụt được nhiều trái đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, thu hoạch sớm, mỗi cây chỉ cần đạt 80 kg trái, thì cây măng cụt mang lại hiệu quả kinh tế rất khá cho nhà vườn Do cây măng cụt có tiềm năng xuất khẩu rất lớn (Trung tâm Cây ăn quả Long Định 2011)
Khi nghiên cứu chất lượng, bảo quản và chuyên chở măng cụt Bourdeaut
và Moreui, (1970) đã có kết luận như sau:
Bảng 1.1 Ảnh hưởng của kích thước tới trọng lượng trái măng cụt
Để xát định độ chín dựa vào màu sắc trái hồng lúc mới chín, tía lúc chín trung bình, tím sậm khi chín hoàn toàn (Vũ Công Hậu, 2000) Trái thu hoạch khi chuyển sang màu đỏ, để trễ trái chuyển sang màu tím, sậm dần và có vỏ dễ
bị cứng, giảm giá trị thương phẩm Trái chuyển sang màu tím sẽ chín sau một ngày ở nhiệt độ bình thường (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994)
Khảo sát một số đặt tính đánh giá phẩm chất trái Daryôn và Sosrodiharjo (1986), được trích bởi Trần Thượng Tuấn và ctx 1994 , cho biết trái chín có hàm lượng đường là 14,3% hàm lượng axit là 0,46%, tỉ lệ đường/axit là 31,3
Trang 311.10 MỘT SỐ SÂU BỆNH HẠI TRÊN CÂY MĂNG CỤT
1.10.1 Sâu hại và côn trùng
1.10.1.1 Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella)
Đặc điểm hình thái và sinh học: Thuộc họ ngài đục lá (Phyllocnistidae),
bộ cánh vẩy (Lepidoptera) Sâu non phá hại bằng cách đào những đường ngoằn
ngoèo, ăn biểu bì lá, thường tấn công mặt dưới lá tạo thành những đường ngoằn ngoèo và có thể gây cháy từng mảng trên lá làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây Chúng ăn lớp biểu bì của lá làm cho lá bị biến dạng, mặt trên của lá bị khô, lá bị rụng
Biện pháp phòng trị: Để phòng trị sâu vẽ bùa trên lá măng cụt có thể cắt tỉa cành để cây ra đọt non đồng loạt và khi đọt non dài khoảng 2- 3 cm hoặc thấy sâu bắt đầu xuất hiện thì phun phun các loại thuốc như Vertimec, cyperan, polytrin, D.C Tronplus, confidor
1.10.1.2 Nhện đỏ (Tetranychus sp)
Đặc điểm hình thái và sinh học: Thuộc họ Tetranychidae, bộ Acarina Ấu trùng màu vàng nhạt hoặc nâu nhạt, khi trưởng thành có màu đỏ Nhện đỏ tấn công lên là và trái, chích cạp và hút nhựa lá và trái Trên lá, vết thương tạo thành những chấm nhỏ li ti trên mặt lá, khi bị nặng vết chấm lan rộng và có màu ánh bạc, sau đó là có thể bị khô và rụng Trên trái, nhện thường sống tập trung ở phần cuống trái và đáy trái Khi trái còn non, nhện chích và hút dịch ở lớp biểu bì là vỏ trái bị sần sùi làm giảm chất lượng và thương phẩm của trái (Nguyễn Thị Thanh Mai 2005)
Biện pháp phòng trị: nhện đỏ thường lờn thuốc, do đó cần luân phiên các loại thuốc đặc trị nhện như: Comite, Trebon, Danitol,…
1.10.2 Bệnh hại
1.10.2.1 Bệnh đốm rong
Tác nhân gây bệnh: bệnh đốm rong do tảo Cephaleuros virescens gây ra
Bệnh xảy ra trên là, thân, nhánh Rong tấn công trên thân, nhánh tạo thành các đốm đồng tiền hay loang lổ màu xám xanh hoặc vàng, trên đó rong phát triển thành lớp nhung mịn Phần lớn vết bệnh thường phát triển ở mặt trên lá, trong khi mặt dưới lá vẫn bình thường Một số vết bệnh phát triển lâu, rong có thể làm mô lá bí huỷ hoại và mặt dưới đốm bệnh có màu nâu nhạt Lá bị bệnh nặng
có thể vàng và rụng (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994) Nhưng nói chung bệnh
Trang 32sinh trên lá già và ít ăn sâu vào trong mô tế bào lá Tuy vậy, bệnh có thể ảnh
hưởng phần nào đến sự quang hợp của 1á và làm cây kém xanh tươi
Biện pháp phòng trị: Bằng cách nên trồng cây với mật độ vừa phải và tỉa bớt cành lá không hiệu quả để cây thông thoáng đồng thời bón phân đầy đủ cho cây Cũng có thể phun hoặc bôi các hỗn hợp thuốc chứa gốc đồng hoặc cũng có thể dùng vôi quét lên thân và các cảnh cây lớn của cây 2 lần năm vào đầu và cuối mùa mưa
1.10.2.2 Bệnh đốm lá
Tác nhân gây bệnh: bệnh đốm lá do nấm Pestalotia sp gây ra Bệnh này
khá quan trọng trên măng cụt Bệnh có thể làm rụng lá và ảnh hường đến năng suất cây trồng Triệu chứng gây hại là đốm bệnh ban đầu thường có màu vàng cam, sau lan nhanh và chuyển sang màu nâu đỏ xung quanh vết bệnh có viền nâu sậm Vết bệnh thường không có hình đạng nhất định Kích thước vết bệnh
có thể rất lớn hoặc nhiều vết bệnh nối liền với nhau làm cho lá bị khô và cháy Trên bề mặt vết bệnh cũng có thể thấy những ổ nấm màu đen, đó là những bào
tử nấm từ những ổ nấm này, chúng có thể là nguồn lây nhiễm tiếp theo Bào tử
của nấm gây bệnh có thể được lan truyền qua nước mưa, nước tưới phun từ
những lá bệnh trên cây
Biện pháp phòng trị: bệnh đốm lá trên măng cụt bằng cách sử dụng các loại thuốc như: Dipomate , Mexyl MZ , Zin, Thio-M
1.10.2.3 Bệnh chết nhánh
Tác nhân gây bệnh: bệnh chết nhánh do nấm Pestaliotopsis sp gây ra
Triệu chứng là nấm tấn công gây cháy lá và làm chết từng nhánh nhỏ trên cây, bệnh có thể lây lan rất nhanh trong điều kiện ẩm độ cao, lúc mưa nhiều
Biện pháp phòng trị: bệnh chết nhánh bằng cách tỉa bỏ các cành trong tán cho cây thông thoáng, có thể dùng các loại thuốc để phòng ngừa như sau:
Carbenzim, Hải vàng Bendazol, Thio-M, theo liều lượng khuyến cáo trên bao
bì
1.10.2.4 Bệnh chảy mủ vàng trên trái
Là một hiện tượng tương đối phổ biến trên trái măng cụt, thường tỉ lệ trái bị bệnh là từ 15 - 20%, làm giảm hiệu qua thu hoạch một cách đáng kể Do chưa xác định chính xác được nguyên nhân gây bệnh chảy mủ vàng trên trái măng cụt
Trang 33(Theo Vũ Công Hậu 2000) bị chảy mủ trên trái măng cụt do một con sâu miệng chích hút gây nên, cũng có thể nguyên nhân do sinh lý như mưa gió nhiều hoặc bộ rễ bị tổn thương Trong thời gian rừ 2 – 3 tuần lễ trước khi trái chín gặp mưa to liên tục thì trái măng cụt lại rất hay chảy mủ, có thể làm múi măng cụt bên trong trái bị đắng hoặc thối, không ăn được
Biện pháp phòng trị:: cần phải giữ cho vườn cây đảm bảo thoát nước tốt trong mùa mưa và xử lý cho cây ra hoa sớm, cho thu hoạch trái trước khi mua mưa đến
1.10.2.5 Bệnh thán thư
Tác nhân gây bệnh là do nấm Collectotrichum gây ra Bệnh có thể phát
sinh trên lá, cành và trái Trên lá, bệnh tạo thành các đốm cháy màu nâu, nhiều đốm có thể liên kết với nhau làm khô cả một mảng lá Trên trái bệnh tạo thành những đốm màu nâu đen có thể làm trái thối khô và rụng Nấm tồn tại trên các
lá và trái bị bệnh, phát tản lây lan do gió và nước Bệnh sẽ phát triển mạnh khi
trời mưa nhiều, thời tiết ẩm thấp
Biện pháp phòng trị: bằng các biện pháp tỉa cành tạo tán để cây thông
thoáng, nhiều ánh sáng và khô ráo Khi phát hiện mới có bệnh, dùng các loại thuốc như Carbenzim, Mexyl MZ, Bendazol, Thio-M, phun ướt đều lên tán lá hoặc khi trái còn non (Nguyễn Thị Thanh Mai, 2005)
Theo Đường Hồng Dật (2000) phòng trừ sâu bệnh cho măng cụt cũng đơn giản vì cho đến nay người ta chưa phát hiện sâu bệnh nguy hiểm Một vài loại nấm như thán thư, muỗi đen đôi khi gây hại nhưng chỉ có một loại bệnh tương đối quan trọng là bệnh chảy nhựa vàng, có thể do một loại sâu miệng hút gây
ra và có thể do một nguyên nhân sinh kí như: rễ bị tổn thương, gió to, bão… Trái măng cụt rất dễ bị bênh chảy nhựa vàng, nặng trái trở thành đắng không
ăn được
Trang 34CHƯƠNG 2
PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 Phương tiện
- Thời gian: cuộc điều tra được tiến hành trong 1 tháng, bắt đầu từ ngày
20 tháng 6 năm 2014 đến ngày 20 tháng 7 năm 2014
- Địa điểm điều tra: vườn măng cụt của nông dân tại cù lao Tân Qui, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh
- Vật liệu: các vườn măng cụt tại cù lao Tân Qui, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh
- Dụng cụ: phiếu điều tra in sẳn (phụ chương)
2.2 Phương pháp
2.2.1 Điều tra nông dân
- Tiến hành điều tra ngẫu nhiên 35 hộ trồng măng cụt có diện tích từ 1.000 m2 trở lên tại cù lao Tân Qui, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh với số phiếu
là 35 phiếu Điều tra bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp với nhà vườn theo phiếu điều tra
2.2.1 Xử lý số liệu
- Số liệu qua quá trình điều tra được nhập và xử lý bằng phần mềm Excel Dùng Excel tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn (Sd), và vẽ đồ thị
Trang 35CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ THẢO LUẬN 3.1 Đặc điểm vườn
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2011), điều kiện trồng cây ăn trái là đòi hỏi có tầng canh tác dày, pH thích hợp, thoát thủy tốt vì đa phần cây
ăn trái có bộ rễ ăn cạn gần đất mặt và yếu Tốt nhất là đất thịt pha, màu mở, thoát nước tốt và thoáng khí vì rễ cần nhiều oxy trong đất Nhờ có hệ thống điều tiếc nước hiệu quả, các vườn trồng măng cụt tại huyện huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh đã chủ động được tưới tiêu đồng thời không còn gặp nhiều tình trạng ngập lũ và ngập úng trong mùa mưa và có khả năng rút hết nước trong vườn khi cần thiết
Theo kết quả điều tra (Bảng 3.1) tại huyện Cầu Kè , tỉnh Trà Vinh đã gần hoàn toàn hết chủ động nguồn nước tưới Có tới 97,14% không bị ngập nước vào tháng 8-9 (âm lịch), các hộ trồng măng cụt ở đây cho biết cây măng cụt tuy không sợ ngập nước, nhưng nước ảnh đến việc khiển ra hoa của cây thời gian ngập khoảng 1-2 giờ trong ngày sau đó tự rút nên không ảnh hưởng đến cây Vì vậy các hộ nơi đây rất chú trọng đến việc làm đê bao cho vườn măng cụt của mình Theo ghi nhận, hầu số hộ chủ động được nguồn nước cho vườn
có tới 97,14% số hộ có đê bao nên không bị ngập vào mùa lũ, chỉ có 2,86% số
hộ bị ngập vào mùa lũ do mặt liếp của vườn thấp hơn mực nước của sông Tuy nhiên có hơn 90% nông hộ ở huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh có xây dựng hệ thống bọng dẫn nước riêng vào mương vườn để cung cấp nước tưới tiêu cho khu vườn hay rút cạn khi cần thiết Tùy theo diện tích vườn lớn hay nhỏ mà thiết kế một hay nhiều cống, bọng đầu mối, nó có tác dụng đưa nước vào cho toàn khu vườn, nên thường đặt ở đê bao đối diện với nguồn nước chính, để lấy nước vào hay thoát nước ra được nhanh (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011)
Trang 36
Bảng 3.1 Điều kiện tự nhiên của vùng đất trồng măng cụt ở huyện Cầu Kè, Trà
Chung đê bao
Riêng hoặc không có
85,7 14,29
3 Loại đất
n = 35
3.1.2 Diện tích vườn và tuổi cây
Theo kết quả điều tra diện tích trồng măng cụt tại huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh chưa nhiều trung bình của từng hộ ở huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh là 5400±5350 m2 Trong đó diện tích thấp nhất là 1000 m2 và diện tích lớn nhất là
25000 m2 Nhưng diện tích lớn 25000 m2
không được nhiều trong tổng số các
hộ điều tra Các hộ chủ yếu trồng với diện tích tương đối nhỏ khoảng
1000-4000 m2 Theo ghi nhận thì diện tích măng cụt đang bị thu hẹp do giá cả không
ổn định, tình trạng ra hoa thất thường hay chảy nhựa trên trái nên một số nhà vườn chuyển sang hệ thống cây trồng khác
Qua kết quả cho thấy đa số măng cụt ở huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh điều tra đang ở thời kì cho trái ổn định Theo bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn Viện cây ăn quả ở Miền Nam (2009), giống măng cụt cho trái tăng dần theo độ tuổi của cây cụ thể là: năm thứ bảy sau khi trồng cây cho năng suất 20-
30 kg/cây, năm thứ tám khoảng 30-40 kg/ cây, năm thứ chín từ 50-70 kg/cây, các năm sau có thể đạt trên 100 kg/cây Qua bảng 3.2 cho thấy tuổi cây lớn nhất của huyện Cầu kè là 40 năm và trung bình là 23 năm, như vậy cây măng cụt được người dân nơi đây trồng khá lâu Nguyên nhân, cây măng cụt trồng lâu năm là vì cây măng cụt là loài cây ăn trái cho trái muộn nhất, từ khi trồng đến khi thu hoạch mất ít nhất là bảy năm, có khi lên đến mười năm mới cho trái (Vũ Công Hậu, 1987)