Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luân văn với đề tài : ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA VIỆC BÓN PHÂN SAU KHI LÚA TRỔ ĐẾN NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA OM6976 TẠI XÃ HẬU THẠNH ĐÔNG, HUYỆN TÂN
Trang 1NGUYỄN CHÍ TÂM
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA VIỆC BÓN PHÂN
SAU KHI LÚA TRỔ ĐẾN NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA OM6976 TẠI XÃ HẬU THẠNH ĐÔNG, HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN
VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM
2013 - 2014
Luận văn tốt nghiệp Ngành: NÔNG HỌC
Cần Thơ, 2014 TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Trang 2Luận văn tốt nghiệp Ngành: NÔNG HỌC
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA VIỆC BÓN PHÂN
SAU KHI LÚA TRỔ ĐẾN NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA OM6976 TẠI XÃ HẬU THẠNH ĐÔNG, HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN
VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Bộ Môn Di Truyền - Giống Nông Nghiệp
O
Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Nông học
ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA VIỆC BÓN PHÂN
SAU KHI LÚA TRỔ ĐẾN NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA OM6976 TẠI XÃ HẬU THẠNH ĐÔNG, HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN
VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM
2013 - 2014
Do sinh viên: Nguyễn Chí Tâm thực hiện
Kính trình lên Hội Đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
Cán bộ hướng dẫn
ThS Trần Thị Bích Vân
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Bộ Môn Di Truyền - Giống Nông Nghiệp
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luân văn với đề tài : ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA VIỆC BÓN PHÂN SAU KHI LÚA TRỔ ĐẾN NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA OM6976 TẠI XÃ HẬU THẠNH ĐÔNG, HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2013 - 2014 Do sinh viên Nguyễn Chí Tâm thực hiện và bảo vệ trước Hội Đồng Ý kiến hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:
Luận văn tốt nghiệp đã được đánh giá:
Cần Thơ, ngày thàng năm 2014 Hội đồng
DUYỆT KHOA Trưởng Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
\
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình của chính bản thân Các số liệu, kết quả thu thập trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trông bất
kỳ công trình trước đây
Tác giả luận văn
Nguyễn Chí Tâm
Trang 6LỜI CẢM TẠ
Kính dâng Cha Mẹ người đã dạy dỗ thương yêu luôn lo lắng cho con đến suốt cuộc đời, xin cảm ơn những người thân đã động viên, giúp đỡ trong suốt thời gian qua
Chân thành cảm ơn cô Trần Thị Bích Vân đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ
và động viên em trong suốt thời gian làm và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Em xin cảm ơn thầy cố vấn học tập Nguyễn Lộc Hiền, cùng toàn thể quý thầy cô khoa Nông Nghiệp & Sinh học Ứng dụng đã truyền dạy những kiến thức quý báo cho em trong suốt thời gian học tập tại trường Đây sẽ là hành trang
vững chắc giúp em bước vào đời
Em xin cảm ơn quý thầy cô thư viện Khoa Nông Nghiệp & SHƯD và Trung tâm học liệu đã tận tình giúp đỡ, cung cấp tài liệu, giúp bài viết của em phong phú hơn, sâu sắc hơn
Gửi lời cảm ơn đến các bạn Nông Học khoá 37 đã đóng góp, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Cần Thơ, ngày tháng….năm 2014
Người viết
Nguyễn Chí Tâm
Trang 7LƯỢC SỬ CÁ NHÂN
I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC
Ngày, tháng, năm sinh: 06/12/1993 Dân tộc: Kinh
Nơi sinh: Tân Thạnh, Long An
Chổ ở hoặc địa chỉ liên lạc: ấp Nguyễn Rớt, xã Hậu Thạnh Đông, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An
Số điện thoại: 01694187181
E-mail: tam113269@student.ctu.edu.vn
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
1 Tiểu học:
Thời gian đào tạo từ năm: 1999 đến năm 2004
Học Trường Tiểu Học Hậu Thạnh Đông
2 Trung học cơ sở:
Thời gian đào tạo từ năm: 2004 đến năm 2008
Trường THCS-THPT Hậu Thạnh Đông
3 Trung học phổ thông:
Thời gian đào tạo từ năm: 2008 đến năm 2011
Trường THCS-THPT Hậu Thạnh Đông
4 Đại học:
Thời gian đào tạo từ năm: 2011 đến năm 2014
Trường Đại học Cần Thơ, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Ngày tháng năm 2014 Người khai ký tên
Trang 8NGUYỄN CHÍ TÂM, 2014 “Đánh giá hiệu quả của việc bón phân sau khi lúa trổ đến năng suất giống lúa OM6976 tại xã Hậu Thạnh Đông, huyện Tân Thạnh, tỉnh
Long An vụ Đông Xuân năm 2013 - 2014” Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Nông
học, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng Trường Đại học Cần Thơ Cán bộ
hướng dẫn: ThS Trần Thị Bích Vân
TÓM LƯỢC
Bước vào giai đoạn sinh sản rễ giảm hấp thu dinh dưỡng do sự cạnh tranh carbohydrate giữa rễ và bông, nhưng với mong muốn tăng năng suất cây lúa nhiều nông dân đã bón thêm một lượng phân bón vào giai đoạn sau khi lúa trổ
(Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2010) Đề tài: “Đánh giá hiệu quả của việc bón phân sau khi lúa trổ đến năng suất giống lúa OM6976 tại xã Hậu Thạnh Đông, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An vụ Đông Xuân năm 2013 - 2014” được thực hiện nhằm mục tiêu xác định khả năng hấp thụ dinh dưỡng qua
rễ của cây lúa giai đoạn sau trổ đến năng suất giống lúa OM6976 ở vùng nghiên cứu Thí nghiệm được thực hiện ngoài đồng từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 3 năm 2014 (vụ Đông Xuân 2013 - 2014), tại xã Hậu Thạnh Đông, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 nghiệm thức và 3 lần lặp lại Nghiệm thức 1: không bón phân sau khi lúa trổ, nghiệm thức 2: bón lúc trổ đều, nghiệm thức 3: bón sau khi trổ đều 15 ngày, nghiệm thức 4: bón lúc trổ đều và sau khi trổ đều 15 ngày Kết quả thí nghiệm cho thấy, bón phân giai đoạn sau khi lúa trổ không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng Các thành phần năng suất và năng suất ở các nghiệm thức bón phân không khác so với nghiệm thức đối chứng không bón phân bổ sung
Trang 9MỤC LỤC
Lời cam đoan iv
Lời cảm tạ v
Lý lịch cá nhân vi
Tóm lược vii
Mục lục viii
Danh sách bảng x
Danh sách hình xi
Từ viết tắt xii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1Vai trò phân bón đối với cây lúa 2
1.2 Tình hình sử dụng phân bón ở việt nam 2
1.3 Những kết quả nghiên cứu phân bón đối với cây lúa 3
1.3.1 Kết quả nghiên cứu về phân đạm 3
1.3.2 Kết quả nghiên cứu về phân lân 5
1.3.3 Kết quả nghiên cứu về phân kali 6
1.4 Thời kỳ bón phân 8
1.5 Kỹ thuật canh tác hình chữ V 11
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 13
2.1 Phương tiện 13
2.1.1Thời gian và địa điểm thí nghiệm 13
2.1.2 Phương tiện 13
2.2 Phương pháp 14
2.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 14
2.2.2 Biện pháp canh tác 15
2.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi 15
2.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 16
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 17
3.1 Ghi nhận tổng quát 17
Trang 103.2 Chỉ tiêu nông học 17
3.2.1 Chiều cao cây lúa 17
3.2.2 Số chồi trên đơn vị diện tích 18
3.3 Ảnh hưởng của việc bón phân sau khi lúa trổ đến thành phần năng suất và năng suất của cây lúa 20
3.3.1 Các thành phần năng suất 20
3.3.1.1 Số bông/m2 20
3.3.1.2 Số hạt/bông 21
3.3.1.3 Số hạt chắc/bông 21
3.3.1.4 Tỷ lệ hạt chắc 21
3.3.1.5 Khối lượng 1000 hạt 21
3.3.2 Năng suất 22
3.3.2.1 Năng suất lý thuyết 22
3.3.2.2 Năng suất thực tế 23
3.3.2.3 Hiệu quả kinh tế 23
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 24
4.1 Kết luận 24
4.2 Đề nghị 24 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 113.1 Chiều cao cây lúa ở các giai đoạn của giống lúa OM6976 tại
xã Hậu Thạnh Đông, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An, vụ
3.3 Thành phần năng suất giống lúa OM6976 tại xã Hậu Thạnh
Đông, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An, vụ Đông Xuân 2013 -
2014
20
3.4 Năng suất lý thuyết và năng suất thực tế giống lúa OM6976 tại
xã Hậu Thạnh Đông, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An, vụ
Trang 14MỞ ĐẦU
Cây lúa (Oryza Sativa L.) là một trong những cây trồng cung cấp nguồn
lương thực quan trọng nhất cho sự sống của con người Vì vậy, lúa được trồng phổ biến trên thế giới, với 40% dân số sử dụng lúa gạo làm lương thực chính và ảnh hưởng đến đời sống của ít nhất 65% dân số thế giới Ở Việt Nam, gần 100% dân số sử dụng lúa gạo làm lương thực chính
Trong vài thập kỷ gần đây năng suất cây trồng không ngừng tăng lên, không chỉ có sự đóng góp to lớn của công tác giống mà còn có vai trò quan trọng của phân bón Để có được năng suất cao trước tiên cần phải có giống lúa tốt, tuy nhiên để giống phát huy được tiềm năng cho năng suất cao thì cần phải có biện pháp kỹ thuật canh tác hợp lý Bón phân đầy đủ, cân đối sẽ thu được năng suất cây trồng cao và chất lượng sản phẩm tốt, không làm suy kiệt và ô nhiễm môi trường, đồng thời người sản xuất lại thu được lợi nhuận cao
Với việc ứng dụng kỹ thuật tiên tiến, nhiều giống lúa ngắn ngày có năng suất cao và trình độ thâm canh ngày càng cao (3 vụ lúa/năm) đã làm gia tăng sản lượng một cách đáng kể Từ đó, đã đưa nước ta trở thành một nước sản xuất lúa gạo đứng hàng thứ hai trên thế giới (2011-2012), xuất khẩu 7,72 triệu tấn gạo (Cục xúc tiến thương mại, 2013), đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho Việt Nam Trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 52% diện tích sản xuất lúa, 52,6% sản lượng và 90% lượng gạo xuất khẩu cả nước (Tổng cục thống kê, 2009) Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009), chỉ tính riêng giai đoạn 2000 - 2009, diện tích đất trồng lúa cả nước đã giảm tới 378,7 nghìn hecta, tốc độ giảm 1% mỗi năm Quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá cũng như chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp đã và đang làm giảm diện tích lúa
Trước những khó khăn đó, để đảm bảo sản lượng lúa nhiều biện pháp được đưa ra để tăng năng suất lúa Nhiều nông dân cho rằng việc bón thêm phân sau khi lúa trổ có thể kéo dài thời gian xanh của lá đòng và làm tăng năng suất (Phạm Ngọc Hài, 2014) Tuy nhiên, bón thế nào để đạt năng suất và hiệu quả đầu
tư cao còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện đất đai của từng vùng, vụ mùa, giống và trình độ canh tác của từng người Mặt khác, giai đoạn sinh sản rễ giảm hấp thu dinh dưỡng do sự cạnh tranh carbohydrate giữa bông và rễ (Nguyễn
Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2010) Do đó, đề tài “Đánh giá hiệu quả của việc bón phân sau khi lúa trổ đến năng suất giống lúa OM6976 tại xã Hậu Thạnh
Đông, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An vụ Đông Xuân năm 2013 - 2014” được
thực hiện với mục tiêu xác định hiệu quả của phân bón cung cấp qua rễ giai đoạn sau khi trổ đến năng suất lúa, từ đó có cơ sở đưa ra khuyến cáo cho nông dân tại vùng nghiên cứu
Trang 15CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Vai trò phân bón đối với cây lúa
Thực tiễn trong sản xuất cho thấy nếu cây trồng không có phân bón thì không thể cho năng suất cao Theo Nguyễn Văn Luật (2001), phân bón có khả năng tăng năng suất từ 25 - 50% so với đối chứng không bón phân
Năng suất thực tế cây trồng còn quá thấp so với tiềm năng năng suất sinh vật của chúng Nếu năng suất lúa ở mức 4,3 tấn/ha, so với các giống đang sử dụng thì chỉ đạt 30 - 40% Muốn đưa năng suất cây trồng lên nữa thì biện pháp sử dụng phân bón là hữu hiệu nhất (Bùi Đình Dinh, 1999) Bùi Huy Đáp (1999) cho rằng đối với sản xuất nông nghiệp thì phân bón được coi là vật tư quan trọng Trong những năm gần đây, ngoài vai trò của giống mới cho năng suất cao còn có
sự bổ trợ của phân bón Việc ra đời của phân bón hoá học trong sản xuất nông nghiệp đã làm tăng 50% năng suất cây trồng so với năng suất đồng ruộng luân canh cây họ đậu tại các nước Tây Âu Đến những năm 1970 - 1985 thì năng suất lại tăng gấp đôi so với năng suất đồng ruộng trước đại chiến thế giới lần thứ nhất Trong thập kỷ 80 của thế kỷ XX, phân bón đóng vai trò vào tăng năng suất nông nghiệp toàn cầu khoảng 50%, ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương là 75% Nhờ kỹ thuật canh tác, cải tiến, trong đó chủ yếu là tăng cường sử dụng phân bón hoá học mà năng suất cây trồng nông nghiệp đã tăng 2 - 3 lần trong vòng 60 năm (FAO, 1983)
Ở Việt Nam, năng suất cây lúa đã tăng từ 1,2 tấn/ha/vụ trong những năm 30 lên 3,2 tấn/ha/vụ trong những năm 90 của thế kỷ XX, tức là đã tăng 2,6 lần Như vậy, không có phân hoá học nông nghiệp trong vòng 50 năm qua không thể tăng năng suất gấp 4 lần, sử dụng phân bón có tác dụng cân bằng dinh dưỡng trong
đất (Yang và ctv., 1999)
1.2 Tình hình sử dụng phân bón ở việt nam
Việt Nam sử dụng phân bón tương đối cao so với những năm trước đây do người dân áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật trong thâm canh Theo Vũ Hữu Yêm (1995), Việt Nam hiện là một trong 20 quốc gia sử dụng phân bón cao nhất thế giới Mỗi năm nông dân Việt Nam sử dụng tới khoảng 5 triệu tấn phân bón vô
cơ, không kể phân hữu cơ và các loại phân bón khác do các cơ sở tư nhân và các công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất, cung ứng
Trang 16Theo Nguyễn Văn Bộ (2003), mỗi năm nước ta sử dụng 1,2 triệu tấn đạm, 0,45 triệu tấn lân và 0,4 triệu tấn kali, trong đó sản xuất lúa chiếm 62% Do điều kiện khí hậu còn gặp nhiều bất lợi cho nên kỹ thuật bón phân mới chỉ phát huy được 30% hiệu quả đối với đạm và 50% hiệu quả đối với lân và kali Nhưng hiệu quả bón phân đối với cây trồng lại tương đối cao, do vậy mà người dân ngày càng mạnh dạng áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Từ năm 1985 đến 2001, mức tiêu thụ phân đạm tăng trung bình 7,2%/năm; phân lân tăng 13,9%/năm; riêng phân kali có mức tăng cao nhất là 23,9%/năm Tổng lượng sử dụng N + P2O5 + K2O trong 15 năm tăng trung bình 9,0%/năm và trong thời gian tới có xu hướng tăng mỗi năm khoảng 10% Trong 15 năm, ở các giai đoạn: 1985 - 1990; 1990 - 1995 và 1996 - 2001 lượng tiêu thụ phân kali ở Việt Nam tăng rất nhanh và liên tục Mức tiêu thụ phân đạm tăng hàng năm là 10,3%; 16,7% và 8,2% Như vậy, trong 5 năm trở lại đây mức tăng tiêu thụ phân đạm đã giảm dần Ở 3 giai đoạn trên, mức tiêu thụ phân lân tăng hàng năm là 13,4%; 26,8%; 21,1% tương ứng và cũng có xu hướng giảm mức tăng như phân đạm Ngành sản xuất phân hóa học nước ta mới đáp ứng được khoảng 45% nhu cầu của nông nghiệp, còn lại phải nhập khẩu gần như toàn bộ phân đạm urê, kali
và phân phức hợp DAP, một lượng khá lớn phân hỗn hợp NPK với tổng số trên 3 triệu tấn/năm Riêng đối với phân khoáng kali, do phải nhập khẩu hoàn toàn nên tiêu thụ kali ở nước ta phụ thuộc thị trường nước ngoài (Ngô Thị Hồng Nhung,
2013)
1.3 Những kết quả nghiên cứu phân bón đối với cây lúa
1.3.1 Kết quả nghiên cứu về phân đạm
Lúa là cây trồng rất mẫn cảm với việc bón đạm Nếu giai đoạn đẻ nhánh
mà thiếu đạm sẽ làm năng suất lúa giảm do đẻ nhánh ít, dẫn đến số bông ít Nếu bón không đủ đạm cây lúa sinh trưởng chậm, thấp cây, đẻ nhánh kém, phiến lá nhỏ, lá sớm chuyển thành màu vàng, đòng nhỏ, từ đó làm cho năng suất giảm Nếu bón thừa đạm lại làm cho cây lúa có lá to, dài, phiến lá mỏng, dễ bị sâu bệnh, đẻ nhánh vô hiệu nhiều; ngoài ra chiều cao cây phát triển mạnh, trổ muộn, năng suất giảm (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009) Theo Bùi Huy Đáp (1980), đạm là yếu
tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng suất lúa, cây có đủ đạm thì các yếu tố khác mới phát huy hết được tác dụng Khi cây lúa được bón đủ đạm nhu cầu tất cả các chất dinh dưỡng khác như lân và kali đều tăng (Lê Văn Tiềm, 1986)
Đạm là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng, là thành phần cơ bản của protein Đạm nằm trong nhiều hợp chất cơ bản cần thiết cho sự phát triển của cây như diệp lục và các enzyme Các bazơ có đạm, thành phần cơ bản của axit nucleic trong các ADN, ARN của nhân tế bào,
Trang 17nơi chứa các thông tin di truyền đóng vai trò quan trọng trong việc tổng hợp protein Do vậy, đạm là một yếu tố cơ bản của quá trình đồng hoá cacbon, kích thích sự phát triển của bộ rễ, ảnh hưởng tích cực đến việc hút các yếu tố dinh dưỡng khác Cây trồng được bón đủ đạm lá có màu xanh sẫm, sinh trưởng khỏe
và cho năng suất cao, tuy nhiên trong sản xuất không nên bón thừa đạm
Theo Đỗ Thị Tho (2004), đạm đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của cây lúa Đạm giữ vị trí quan trọng trong việc tăng năng suất, là một yếu
tố cơ bản trong quá trình phát triển của tế bào, là một trong những nguyên tố hoá học quan trọng của các cơ quan như rễ, thân, lá, hoa và hạt Trong các vật chất khô của cây trồng có từ 1 - 5% đạm tổng số Người ta thấy trong các bộ phận non của cây hàm lượng đạm nhiều hơn trong các bộ phận già, đạm có trong các protit, các acid nucleic của các cơ quan trong cây
Năng suất lúa tương quan rất chặt với tổng lượng đạm tích lũy trong cây và không tương quan với hàm lượng tích lũy trong đất Vì vậy, tạo điều kiện cho cây hấp thụ và tích lũy trong cây sẽ làm tăng năng suất (Phạm Sỹ Tân, 1997) Nhu cầu đạm của cây lúa có tính chất liên tục từ đầu thời kỳ sinh trưởng cho đến lúc thu hoạch Trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa, có hai thời kỳ mà nhu cầu dinh dưỡng đạm cao nhất đó là thời kỳ đẻ nhánh rộ và thời kỳ làm đòng Ở thời kỳ đẻ nhánh rộ cây lúa hút nhiều đạm nhất Theo Yoshida (1985), lượng đạm cây lúa hút ở thời kỳ đẻ nhánh quyết định tới 74% năng suất Bón nhiều đạm làm cho cây lúa đẻ nhánh khoẻ và đẻ nhánh tập trung, tăng số bông/m2; tăng số hạt/ bông; nhưng khối lượng 1000 hạt ít thay đổi
Đạm được hấp thụ chủ yếu ở giai đoạn đầu và tăng dần khi đẻ nhánh đến tượng khối sơ khởi hay làm đòng nhằm làm tăng số hạt trên bông Đạm được hấp thụ ở giai đoạn chín với đủ bức xạ mặt trời sẽ làm tăng quá trình làm chắc hạt
(Yamada, 1963; Yoshida, 1981) Yang và ctv (1987), cho rằng đối với lúa thì
đạm được hấp thu trong giai đoạn sớm từ khi cấy, đâm chồi khoảng 8 - 13% tổng lượng đạm, giai đoạn giữa từ đâm chồi đến trổ cần khoảng 48 - 53% lượng đạm,
từ giai đoạn sau trổ đến chín là 33 - 44%
Qua nhiều năm nghiên cứu Đào Thế Tuấn (1970), đã đi đến nhận xét lúa được bón đạm thoả đáng vào thời kỳ đẻ nhánh rộ sẽ thúc đẩy cây lúa đẻ nhánh khoẻ và hạn chế số nhánh bị lụi đi Ở thời kỳ đẻ nhánh của cây lúa, đạm có vai trò thúc đẩy tốc độ ra lá, tăng tỷ lệ đạm trong lá, tăng hàm lượng diệp lục, tích luỹ chất khô và cuối cùng là tăng số nhánh đẻ
Theo Bùi Đình Dinh (1970), cây lúa cần nhiều đạm trong thời kỳ phân
Trang 18Yoshida (1985) cho rằng ở các nước nhiệt đới lượng các chất dinh dưỡng cần để tạo ra một tấn thóc là 20,5 kg N; 5,1kg P2O5 và 44 kg K2O Trên nền phối hợp 90 P2O5 + 60 kg K2O hiệu suất phân đạm và năng suất lúa tăng nhanh ở các mức bón từ 40 - 120 kg N/ha Đạm là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng nhất đối với cây lúa trong các giai đoạn sinh trưởng và phát triển Sau khi tăng lượng đạm thì cường độ quang hợp, cường độ hô hấp và hàm lượng diệp lục của lúa tăng lên; nhịp độ quang hợp, hô hấp của lá không khác nhau nhiều nhưng cường độ quang hợp tăng mạnh hơn cường độ hô hấp gấp 10 lần, nên vai trò của đạm là làm tăng tích luỹ chất khô Nếu bón đạm với liều lượng cao thì hiệu suất bón đạm cao nhất là bón vào thời kỳ lúa đẻ nhánh và sau đó giảm dần Với liều lượng bón đạm thấp thì bón vào thời kỳ lúa đẻ nhánh và trước trổ 10 ngày có hiệu quả cao Theo Nguyễn Như Hà (2006), đạm có vai trò quan trọng trong việc phát triển bộ rễ, thân, lá, chiều cao và đẻ nhánh của cây lúa Việc cung cấp đạm đủ và đúng lúc làm cho lúa đẻ nhánh nhanh, tập trung và tạo được nhiều nhánh hữu hiệu, là yếu tố cấu thành năng suất có vai trò quan trọng nhất đối với năng suất lúa Đạm còn có vai trò quan trọng trong việc hình thành đòng và các yếu tố cấu thành năng suất như số hạt trên bông, khối lượng 1000 hạt, tỷ lệ hạt chắc và tăng hàm lượng protein trong gạo nên làm tăng chất lượng gạo Lượng đạm cần thiết
để tạo ra 1 tấn thóc từ 17 đến 25 kg N, trung bình cần 22,2 kg N Ở Việt Nam với phương pháp bón đạm tập trung giai đoạn đầu và bón nhẹ giai đoạn cuối năng suất lúa tăng thêm 0,35 tấn/ha
1.3.2 Kết quả nghiên cứu về phân lân
Lân là một trong những chất cần thiết cho quá trình trao đổi chất của cây, lân có mặt trong các chất hữu cơ quan trọng nhất đối với cây Các hợp chất này ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân chia tế bào qua quá trình trao đổi chất béo, protein cụ thể là glyxerophotphat, ATP, ADN, ARN có vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp và hô hấp của cây Lân làm tăng khả năng hút đạm cho cây
và hấp phụ Fe làm giảm nồng độ Fe trong đất, có thể làm giảm nồng độ độc trong đất Trong thời kỳ chín của cây lúa, hàm lượng lân vô cơ giảm nhanh và hoạt động của enzyme photphorilaza tăng đến 16 ngày sau khi thụ tinh của hạt sau đó giảm xuống (Lê Văn Căn, 1964)
Theo Nguyễn Xuân Cự (1992), lân là thành phần chủ yếu của acid nucleic, là chất chủ yếu của nhân tế bào, trong vật chất khô của cây có chứa hàm lượng lân từ 0,1 - 0,5% Lân có mối quan hệ chặt chẽ với sự hình thành diệp lục, protit và sự di chuyển tinh bột Cây lúa hút lân mạnh hơn so với các loại cây trồng cạn Cùng với đạm, lân xúc tiến sự phát triển của bộ rễ và tăng số nhánh đẻ, đồng thời cũng làm cho lúa trổ và chín sớm hơn
Trang 19Lân có vai trò quan trọng trong thời gian sinh trưởng đầu của cây lúa, xúc tiến sự phát triển của bộ rễ và số chồi, ảnh hưởng tới tốc độ đẻ nhánh của cây lúa Lân còn làm cho lúa trổ bông đều, chín sớm hơn, tăng năng suất và phẩm chất hạt Để tạo ra 1 tấn thóc, cây lúa cần hút khoảng 7,1 kg P2O5, trong đó tích lũy chủ yếu vào hạt Theo Bùi Huy Đáp (1980), lân được hút chậm hơn đạm trong thời kỳ dinh dưỡng đầu và được hút nhanh từ khi phân hoá đòng đến lúa vươn lóng Phần lớn lân tích luỹ trong thân và lá trước khi trổ rồi chuyển về bông, vì sau khi trổ lúa thường không hút nhiều lân nữa Khi bón quá nhiều lân, đất sẽ giữ lân lại, do đó ruộng ít bị xảy ra hiện tượng thừa lân Ruộng lúa ngập nước sẽ làm tăng độ dễ tiêu của lân, tăng hiệu quả của phân bón cho cây lúa Cây lúa hút lân trong suốt thời kỳ sinh trưởng, vì vậy có thể bón lót hết lượng lân dành cho cả
vụ
Bón lân xúc tiến quá trình sinh trưởng của cây trong thời kỳ đầu, có thể rút ngắn thời gian sinh trưởng, đặc biệt ở những vùng lạnh thì hiệu quả càng rõ Nghiên cứu của Crady (1985), cho thấy hầu hết các loại cây trồng hút không quá
10 - 13% lượng lân bón vào đất trong năm Đặc biệt là cây lúa chỉ cần giữ cho lân trong đất khoảng 0,2 ppm là có thể cho năng suất tối đa Tuy vậy, cần bón lân kết hợp với đạm và kali mới nâng cao được hiệu quả của lân
Theo Nguyễn Như Hà (2006), khi thiếu lân lá cây lúa có màu xanh đậm, phiến lá nhỏ, hẹp, mềm, yếu, mép lá có màu vàng, thân mềm, dễ đổ Thiếu lân ở thời kỳ đẻ nhánh làm cho lúa đẻ nhánh ít, tỷ lệ nhánh hữu hiệu thấp, thời kỳ trổ
và chín kéo dài nên hạt lép nhiều hơn, chất lượng dinh dưỡng hạt thấp, bông nhỏ
và năng suất không cao Lân đối với lúa là một yếu tố dinh dưỡng rất quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển, ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng một cách rõ rệt
1.3.3 Kết quả nghiên cứu về phân kali
Đặc điểm dinh dưỡng kali của cây lúa được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu Kali được cây hút dưới dạng ion K+, kali được hút nhiều như đạm, nếu thừa kali lúa bị sâu bệnh hại (Nguyễn Vi, 1974) Yoshida (1985), khoảng 20% tổng lượng kali cây hút được vận chuyển vào hạt, lượng còn lại được tích luỹ trong các bộ phận khác của cây (rơm, rạ) Theo Bùi Đình Dinh (1985), cây lúa hút kali tới tận cuối thời kỳ sinh trưởng Nhu cầu kali rõ nét nhất
ở hai thời kỳ đẻ nhánh và làm đòng Thiếu kali vào thời kỳ đẻ nhánh ảnh hưởng mạnh đến năng suất Lúa hút kali mạnh nhất vào thời kỳ làm đòng Tỷ lệ kali cây hút trong các thời kỳ sinh trưởng tuỳ thuộc vào giống lúa Giai đoạn từ cấy đến
Trang 20Kali có ảnh hưởng rõ đến sự phân chia tế bào và phát triển của bộ rễ lúa trong điều kiện ngập nước nên có ảnh hưởng rõ đến sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa Ảnh hưởng lớn đến quá trình quang hợp, tổng hợp các chất gluxit, ngoài ra còn tham gia vào quá trình tổng hợp protein ở trong cây lúa, nhất là trong điều kiện ánh sáng yếu (Nguyễn Như Hà, 2006) Lúa hút kali vào thời kỳ
đẻ nhánh có tác dụng làm tăng số hạt trên bông, số bông, khối lượng hạt (Sinclair
Nếu thiếu kali, cây lúa quang hợp kém, lượng gluxit giảm Chất khô kém
đi trong thân lá, lượng tinh bột dự trữ cũng bị giảm, các chất xenlulozơ, lignin cần thiết để hình thành bộ khung vững chắc cho cây bị giảm xuống Kali đẩy mạnh quá trình quang hợp nên khi thiếu ánh sáng thì tác dụng của kali rất rõ rệt Kali cần thiết khi tổng hợp protein nên lượng kali cây hút có thể ngang với lượng đạm ở ruộng cấy, thời kỳ đẻ nhánh rộ là thời kỳ hút đạm mạnh nhất và cũng hút kali mạnh nhất (Bùi Huy Đáp, 1980)
Theo Nguyễn Như Hà (1998), khi năng suất lúa vượt trên 5 tấn/ha (vụ mùa)
và trên 6 tấn/ha (vụ Xuân), lượng kali cây hút vượt quá khả năng tối đa của đất có thể cung cấp, nhất thiết phải bón kali sẽ có hiệu quả cao Trên cơ sở thực tế sản xuất đã có nhiều khuyến cáo về mức bón phân kali cho lúa Ở Việt Nam liều lượng phân kali khuyến cáo sử dụng cho lúa ở đồng bằng sông Hồng còn chưa được thống nhất, thường dao động từ 60 - 120 K2O/ha đối với lúa thường, 90 -
120 K2O /ha đối với lúa lai, tùy theo mức độ đạm bón và lượng phân chuồng được sử dụng (Võ Minh Kha, 1996)
Trang 211.4 Thời kỳ bón phân
Theo Nguyễn Như Hà (2006), các thời kỳ bón cho lúa gồm có: bón lót, đẻ nhánh, thúc đòng, ngoài ra còn bón nuôi hạt
* Bón phân lót cho lúa:
Trong bón phân cho lúa thường bón lót toàn bộ phân chuồng và phân lân, một phần phân đạm và kali Thường bón lót phân chuồng trong quá trình làm đất, phân lân và kali cùng với đạm bón trước khi cày bừa lần cuối
Cây lúa hút khá nhiều lân trong các giai đoạn sinh trưởng đầu và giai đoạn cây con, do vậy phân lân cần được bón lót toàn bộ hoặc bón lót và bón thúc sớm Phân lân nên bón rãi đều trên mặt ruộng trước khi cày bừa lần cuối để gieo cấy Phân kali thường được bón lót trong các trường hợp giống lúa đẻ nhánh nhiều hay giống lúa ngắn ngày, lúa có hiện tượng bị ngộ độc sắt, đất thiếu kali, ngập nước sâu, khí hậu lạnh Trong thực tiễn, kali nên chia ra bón nhiều lần, do lúa là cây có yêu cầu cung cấp kali vào giai đoạn rễ lúa ăn nổi trên bề mặt đất, giai đoạn cuối đẻ nhánh đến đầu làm đòng Kali cung cấp từ đất và nước tưới thường giảm đi ở giai đoạn đẻ nhánh của cây lúa
Lượng N để bón lót cho cây lúa thường từ 1/3 đến 2/3 tổng lượng N, tỷ lệ phân dùng để bón lót cho cây lúa tuỳ thuộc vào tính chất đất, độ sâu cày bừa, điều kiện khí hậu, thời gian sinh trưởng của cây lúa Cần bón lót nhiều đạm hơn khi cấy bằng mạ già, các giống ngắn ngày, lúa chét
* Phân bón thúc đẻ nhánh:
Bón thúc đẻ nhánh cho lúa thường bón bằng phân đạm hay phối hợp thêm với phân lân (nếu phân lân chưa bón lót hết) Thời gian bón thúc đẻ nhánh vào khoảng 18-20 ngày sau khi gieo hoặc sau khi lúa bén rễ và hồi xanh, vào khoảng 10- 20 ngày sau cấy (tuỳ vào mùa vụ, điều kiện thời tiết) khi cây lúa bắt đầu đẻ
nhánh
Trên đất phèn và đất quá chua, khả năng cố định lân của đất rất mạnh nên bón thúc lân cho lúa là cần thiết nhằm hạ độ phèn và độc tố trong đất, đồng thời cung cấp dinh dưỡng từ từ cho lúa Việc kết hợp bón lót và bón thúc một phần phân lân hoà tan trong nước cho lúa làm tăng hiệu quả sử dụng phân bón Khi bón thúc nên dùng các dạng lân hạt để tránh bám dính gây cháy lá
Lượng N để bón thúc đẻ nhánh từ 1/2 đến 2/3 tổng lượng N nhằm làm cho lúa đẻ nhánh nhanh, tập trung và cũng để giảm lượng phân bón lót, tránh mất
Trang 22dài ngày hay đẻ nhánh nhiều, mật độ gieo cấy hoặc cấy dày, nhiệt độ khi gieo cấy cao
Đối với những giống lúa cực ngắn ngày, lúa mùa cần phải bón thúc đẻ nhánh sớm hơn, còn đối với giống lúa dài ngày, lúa vụ Đông Xuân có thể bón thúc muộn hơn, do thời kỳ sinh trưởng đầu của cây lúa bị kéo dài
Bón thúc đạm cho lúa tốt nhất là bón sau khi rút nước ruộng do có thể làm tăng gấp đôi hiệu lực của phân bón so với ruộng có nhiều nước Không nên rút nước quá một ngày trước khi bón thúc vì việc rút nước trong một thời gian dài thúc đẩy cỏ dại phát triển và làm mất đạm, đồng thời ruộng sau khi bón phân phải được đưa nước vào ngay sau một ngày bón đạm
* Bón thúc đòng cho lúa
Hình 1.1 Xác định chiều dài đòng để bón phân (Ngô Thị Kim Quyển, 2013)
Thời gian bón đón đòng cho lúa được xác định căn cứ vào trạng thái đòng, thời điểm bón là lúc đòng (tim đèn) phải tượng được 1 - 2 mm (Ngô Thị Kim Quyển, 2013) Thường sử dụng phối hợp phần phân đạm và kali còn lại nhằm tiếp tục cung cấp đạm cho lúa để tạo được bông lúa to, có nhiều hạt chắc nâng cao hệ
số kinh tế cho cây lúa, đạt năng suất cao Bón thúc đòng tốt nhất là bón sau khi phân hoá đòng vào khoảng 40 - 45 ngày sau khi gieo, cấy
Bón thúc đòng là một kỹ thuật quan trọng để nâng cao hiệu suất phân đạm
và là thời kỳ bón đạm có hiệu quả nhất Những giống đẻ nhánh ít, bông to, năng suất dựa vào số hạt trên bông thì cần phải chú trọng vào đợt bón đón đòng và nuôi hạt để tạo được bông to, nhiều hạt chắc, đạt năng suất cao
Trang 23Bón lót càng nhiều, lúa sinh trưởng tốt thì thời gian bón đón đòng càng muộn và càng ít Đối với những giống lúa mùa có thời gian sinh trưởng dài (120
- 150 ngày) cần bón thúc đòng muộn hơn Cần dùng mắt đánh giá tình hình sinh trưởng và màu lá trong thời kỳ đẻ nhánh rộ để phán đoán nhu cầu bón thúc đòng Khi bón lót nhiều có thể không cần bón thúc đẻ nhánh, mà chỉ cần bón ở thời kỳ đón đòng Bón đủ lót và thúc đẻ nhánh có thể không bón đón đòng Hiện nay, trong chiến lược “ba giảm, ba tăng” người ta căn cứ vào màu lá lúa để quyết định việc bón thúc phân đạm cho lúa Ngoài ra, cũng có thể dựa vào việc chẩn đoán lá
để xác định nhu cầu bón phân cho lúa
Bảng 1.1 Chẩn đoán nhu cầu dinh dưỡng qua lá của cây lúa (Dierolf, 2001)
Loại dinh
dưỡng
Bộ phận và thời gian lấy mẫu phân tích
Hàm lượng dinh dưỡng (% chất khô)
N
Các lá phía trên vào thời kỳ trước trổ
* Phân bón nuôi hạt
Sau khi lúa trổ hoàn toàn có thể bón nuôi hạt bằng cách phun phân bón lá
1 - 2 lần nhằm tăng số hạt chắc, tăng năng suất Đây là thời kỳ bón phân có hiệu quả rõ khi trồng lúa trên đất thành phần cơ giới nhẹ, có khả năng cung cấp dinh dưỡng và giữ phân kém (Nguyễn Như Hà, 2006)