TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG ------ LÊ THANH BÌNH BỘ CÁNH VẨY Lepidoptera GÂY HẠI BÔNG XOÀI: THÀNH PHẦN LOÀI, ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CỦA CÁC LOÀI GÂY H
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
- -
LÊ THANH BÌNH
BỘ CÁNH VẨY (Lepidoptera) GÂY HẠI BÔNG XOÀI: THÀNH PHẦN LOÀI, ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CỦA CÁC LOÀI GÂY HẠI CHÍNH VÀ
ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC LOÀI
Dudua aprobola Meyrick
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
- -
LÊ THANH BÌNH
BỘ CÁNH VẨY (Lepidoptera) GÂY HẠI BÔNG XOÀI: THÀNH PHẦN LOÀI, ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CỦA CÁC LOÀI GÂY HẠI CHÍNH VÀ
ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC LOÀI
Dudua aprobola Meyrick
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT
MSSV : 3113411 Lớp : BVTV K37
Cần Thơ - 2014
Trang 4Do sinh viên Lê Thanh Bình thực hiện
Kính trình lên hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014
Cán bộ hướng dẫn
Ths Phạm Kim Sơn
Trang 5ii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn đính kèm với đề tài:
“Bộ cánh vẩy (Lepidoptera) gây hại bông xoài: Thành phần loài, đặc điểm hình thái của các loài gây hại chính và đặc điểm sinh học của loài
Dudua aprobola Meyrick”
Được thực hiện từ 9/2013 – 3/2014 do sinh viên Lê Thanh Bình thực hiện và bảo vệ trước hội đồng ngày……tháng……năm 2014
Luận văn tốt nghiệp đã được hội đồng đánh giá mức:
Ý kiến của hội đồng chấm luận văn:
Duyệt khoa Cần Thơ, ngày.…tháng.…năm 2014 Trưởng Khoa Nông Nghiệp và SHƯD Chủ tịch hội đồng
Trang 6iii
LÝ LỊCH CÁ NHÂN
Họ và tên: Lê Thanh Bình Giới tính: Nam
Ngày sinh: 02/10/1991 Dân tộc: Khmer
Nguyên quán: Tại xã Khánh Bình Tây Bắc, Trần Văn Thời, Cà Mau
Họ và tên cha: Lê Văn Trung
Họ và tên mẹ: Lâm Thị Thủy
Đã tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2010 tại trường THPT Dân Tộc Nội Trú Cà Mau
Trang 7iv
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các
số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Lê Thanh Bình
Trang 8Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến!
Gs Ts Nguyễn Thị Thu Cúc, người đã tận tâm hướng dẫn, tạo mọi điều kiện thuận lợi và đóng góp ý kiến vô cùng xác thực trong nghiên cứu và thực hiện luận văn
Ths Phạm Kim Sơn đã tận tình hướng dẫn, gợi ý và thường xuyên trao đổi, đóng góp ý kiến hết sức bổ ích trong nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Anh Nguyễn Minh Truyền và chị Từ Ngọc Hiếu đã hết lòng giúp đỡ, quân tâm nhắc nhở, động viên và luôn bên cạnh em mỗi khi em cần trong quá trình thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn các bạn Vũ Đình Tuấn, Huỳnh Thanh Suôl, Huỳnh Hưng, Nguyễn Võ, Lâm Xuân Khoa, Huỳnh Thành Đạt, Lâm Văn Linh đã tận tình giúp đở tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Thân ái gởi về!
Tất cả các bạn sinh viên Khoa Nông Nghiệp những lời chúc tốt đẹp nhất
và thành đạt
Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2014
Lê Thanh Bình
Trang 9vi
Lê Thanh Bình, 2014 “Bộ cánh vẩy (Lepidoptera) gây hại bông xoài: Thành phần loài, đặc điểm hình thái của các loài gây hại chính và đặc
điểm sinh học của loài Dudua aprobola Meyrick” Luận văn tốt nghiệp Đại
học, ngành Bảo Vệ Thực Vật, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ
Cán bộ hướng dẫn: Ths Phạm Kim Sơn
TÓM LƯỢC
Nhằm có cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, xây dựng qui trình IPM để phòng trừ dịch hại trên cây xoài nói chung và côn trùng gây hại bông xoài nói riêng, đề tài “Bộ cánh vẩy (Lepidoptera) gây hại bông xoài: Thành phần loài, đặc điểm hình thái của các loài sâu hại chính và một số đặc điểm hình thái
sinh học loài Dudua aprobola Meyrick” đã được thực hiện
Kết quả điều tra trên các vườn xoài thuộc 4 tỉnh và thành phố (Hậu Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang và Tp Cần Thơ) trong thời gian từ tháng 9 năm 2013 đến tháng 3 năm 2014 đã phát hiện được 51 loài côn trùng gây hại trên bông xoài thuộc 6 bộ Lepidoptera, Homoptera, Thysanoptera, Hemiptera, Coleoptera và Diptera Trong đó bộ Lepidoptera phổ biến nhất có 31 loài với 5
loài thường hiện diện với mật số cao bao gồm Dudua approbola, Eublemma abrupta, Chlumetia transversa, Adoxophyes privatana và Penicillaria jocosatrix.Trong các loài hiện diện phổ biến trên bông xoài thì loài sâu ăn bông xoài Dudua approbola gây hại nặng nhất, ngoài ăn bông, loài này còn
gây hại bằng cách đục lòn vào chồi của bông xoài, gây hiện tượng héo và chết chồi, bông sau đó Trong điều kiện phòng thí nghiệm (T = 23 - 29oC và
RH = 51 - 85%), thời gian vòng đời trung bình của loài sâu ăn bông xoài
Dudua approbola là 21,5 ± 0,89 ngày với giai đoạn trứng là 3,01 ± 0,06 ngày;
giai đoạn sâu non trung bình là 1,75 ± 0,12 ngày và nhộng là 7,34 ± 0,61 ngày; thời gian sống của trưởng thành cái và đực lần lượt là 9,5 ± 3,08 ngày và 7,6 ± 3,64 ngày
Trang 10vii
MỤC LỤC
DANH SÁCH BẢNG x
DANH SÁCH HÌNH xi
DANH SÁCH KÝ HIỆU CHỬ VIẾT TẮT xiii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 Tình hình sản xuất xoài trên thế giới và Việt Nam 2
1.1.1 Tình hình sản xuất xoài trên thế giới 2
1.1.1 Tình hình sản xuất xoài ở Việt Nam 3
1.2 Cây xoài 4
1.2.1 Vị trí phân loại 4
1.2.1 Nguồn gốc và lịch sử 4
1.2.3 Mô tả cây, đặc điểm thực vật học và sinh thái 5
1.2.4 Giống 7
1.2.5 Công dụng 8
1.2.6 Kỹ thuật trồng và chăm sóc 8
1.2.7 Một số biện pháp kỹ thuật điều khiển quá trình ra hoa, đậu quả ở xoài 9
1.2.8 Thành phần loài sâu hại trên cây xoài 9
1.3 Đặc điểm hình thái, sinh học và triệu chứng một số loài sâu hại chính trên bông xoài 10
1.3.1 Loài Dudua approbola Meyrick 10
1.3.2 Loài Chlumetia transversa Walker 11
1.3.3 Loài Penicillaria jocosatrix Guenée 12
1.3.4 Loài Adoxophyes privatana Walker 12
1.3.5 Loài Thalassodes falsaria Prout 13
Trang 11viii
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 15
2.1 Phương tiện 15
2.1.1 Đối tượng cây trồng nghiên cứu 15
2.1.2 Thời gian và địa điểm 15
2.1.3 Vật tư thí nghiệm 15
2.2 Phương pháp nghiên cứu 17
2.2.1 Điều tra nông dân 17
2.2.2 Điều tra thực tế ngoài đồng 18
2.2.3 Khảo sát trong điều kiện phòng thí nghiệm 20
2.2.3.1 Khảo sát đặc điểm hình thái của một số loài gây hại phổ biến trên bông xoài 20
2.2.3.2 Khảo sát đặc điểm sinh học sâu ăn bông Dudua aprobola trong điều kiện phòng thí nghiệm 21
2.3 Xử lý số liệu 22
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23
3.1 Kết quả điều tra nông dân 23
3.1.1 Một số ghi nhận chung về diện tích canh tác cây xoài của nông dân tại các địa bàn điều tra 23
3.1.2 Đặc điểm chung của các vườn điều tra 24
3.1.3 Kỹ thuật canh tác 26
3.1.4 Sự hiểu biết của nông dân về sâu hại và biện pháp phòng trừ 29
3.1.5 Thành phần loài côn trùng gây hại theo ghi nhận của nông dân 30
3.2 Thành phần loài côn trùng gây hại trên bông xoài 31
3.3 Thành phần côn trùng bộ cánh vẩy gây hại bông xoài 32
3.4 Sự phân bố và mức độ phổ biến của các loài côn trùng thuộc bộ cánh vẩy gây hại trên bông xoài 32
3.5 Một số đặc điểm hình thái và gây hại của các loài côn trùng thuộc bộ cánh vẫy phổ biến trên bông xoài 35
3.5.1 Sâu ăn bông Adoxophyes privatana Walker 35
3.5.2 Sâu ăn bông Chlumetia transversa Walker 38
Trang 12ix
3.5.3 Sâu ăn bông Penicillaria jocosatrix Guenée 42
3.5.4 Sâu ăn bông Eublemma abrupta Walker 46
3.5.5 Sâu ăn bông Euproctis subnotata Walker 49
3.6 Đặc điểm hình thái, sinh học và gây hại của loài Dudua aprobola 53
3.6.1 Đặc điểm hình thái 53
3.6.2 Đặc điểm sinh học 62
3.7 Tỷ lệ đực và cái của loài Dudua aprobola 66
3.8 Hình thức sinh sản và khả năng đẻ trứng của thành trùng Dudua aprobola 66
3.9 Khả năng sống sót của thành trùng Dudua aprobola trong điều kiện phòng thí nghiệm 67
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 69
Kết luận 69
Đề nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ CHƯƠNG
Trang 133.5 Thành phần bộ, họ, loài và sự phong phú của các loài gây
3.6 Các họ côn trùng và số giống, loài gây hại trên bông xoài 31 3.7 Mức độ phổ biến của các loài côn trùng thuộc bộ cánh vẩy
gây hại trên bông xoài ở các địa bàn điều tra 32 3.8 Thời gian sống sót của thành trùng Penicillaria jocosatrix
3.9 Một số hình ảnh về ấu trùng và thành trùng của các loài gây
3.10 Kích thước các giai đoạn phát triển của loài Dudua aprobola
3.11 Kích thước vỏ đầu của Dudua aprobola khi nuôi trong điều
3.12 Chu kì sinh trưởng của Dudua aprobola trong điều kiện
3.13 Tỷ lệ thành trùng đực và cái của loài Dudua aprobola trong
3.14 Khả năng đẻ trứng của thành trùng Dudua aprobola cái trong
3.15 Thời gian sống sót của thành trùng Dudua aprobola trong
Trang 14
xi
DANH SÁCH HÌNH
2.1 Dụng cụ thực hiện đề tài (A: Kéo cắt bông chuyên dụng; B:
Nhiệt kế; C: Chai bi, thước, viết và kéo; D: Kính hiển vi) 16 2.2 Phiếu điều tra (A) và phỏng vấn nông dân (B) 17 2.3 Các thao tác xử lý một mẫu bông trong điều kiện phòng thí
2.4 Một số dụng cụ và hộp nhựa dùng để nuôi sâu 21 2.5 Các loại hộp nhựa dùng để nuôi thành trùng 22 3.1 Diện tích trung bình (m2) của các vườn điều tra 23 3.2 Tỷ lệ các giống xoài được trồng ở các địa bàn điều tra 26 3.3 Số loài côn trùng gây hại thuộc bộ cánh vẩy 34 3.4 Phần đầu và thân ấu trùng Adoxophyes privatana 35
3.6 Nhộng đực và cái của loài Adoxophyes privatana 37 3.7 Trưởng thành đực và cái của loài Adoxophyes privatana 37 3.8 Sự phát triển trứng của loài Chlumetia transversa 39
3.11 Màu sắc nhộng của loài Chlumetia transversa thay đổi qua các
3.12 Thành trùng Chlumetia transversa đang vũ hoá 41 3.13 Khả năng gây hại của loài Chlumetia transversa 42
3.15 Sâu Penicillaria jocosatrix tuổi 5 và sắp hoá nhộng 43 3.16 Nhộng Penicillaria jocosatrix và sự thay đổi màu sắc theo thời
3.18 Ấu trùng Penicillaria jocosatrix đang ăn bông 463.19 Ấu trùng tuổi 1 (A) và tuổi cuối của Eublemma abrupta (B) 47
Trang 15xii
3.20 Sâu tuổi cuối đang hóa nhộng (A) và nhộng loài
3.29 Kích thước trứng và dạng trứng ở các giai đoạn phát triển của
3.30 Ấu trùng tuổi 1 của loài Dudua aprobola 56 3.31 Ấu trùng Dudua aprobola tuổi 2 (A: Sâu đang ăn nụ hoa;
3.35 Nhộng vừa mới được hình thành (A); Phần đầu nhộng (B);
3.36 Nhộng Dudua aprobola (A: Nhộng đực; B: Nhộng cái) 60
3.38 Thành trùng cái và đực loài Dudua aprobola 61 3.39 Ấu trùng tuổi 1 (A) và đang gây hại bông (B) 63
3.41 Ấu trùng cuối tuổi 3 của loài Dudua aprobola 64 3.42 Ấu trùng tuổi 5 (A) và sự gây hại trên bông xoài (B, C) 64 3.43 Ấu trùng tuối 4 Dudua aprpbola (A: Sâu tuổi 4; B: Giai đoạn
Trang 16xiii
DANH SÁCH KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
Trang 171
MỞ ĐẦU
ĐBSCL là vùng đất giàu tiềm năng, điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho việc trồng cây ăn trái nói chung và trồng xoài nói riêng Xoài là cây ăn trái được nhiều người ưa thích, do đặc tính dễ trồng, cho thu nhập cao và ổn định Chính vì thế, thời gian vừa qua diện tích trồng xoài tại ĐBSCL gia tăng đáng
kể với nhiều giống xoài có chất lượng cao như xoài cát Hoà Lộc, xoài cát Chu , chỉ riêng giống xoài cát Hoà Lộc được trồng đã đạt 4,4 ngàn ha với sản lượng là 22,6 ngàn tấn
Trong những năm gần đây diện tích trồng xoài gia tăng thì dịch hại cũng bộc phát mạnh trên khắp các vùng trồng xoài tại ĐBSCL, gây nhiều khó khăn cho bà con nông dân trong quá trình sản xuất Trong các loài côn trùng gây hại trên cây xoài thì nhóm côn trùng gây hại trên bông được xem là nhóm đối tượng gây hại quan trọng nhất Ngoài nhóm rầy bông xoài (Homodoptera - Cicadellidae) và bọ trĩ (Thysanoptera) thì nhóm sâu ăn bông thuộc bộ cánh vẩy (Lepidoptera) cũng được ghi nhận là nhóm đối tượng gây hại quan trọng trên cây xoài (Nguyễn Thi Thu Cúc, 2000)
Để phòng trừ các loài dịch hại này, hằng năm, nông dân phải bỏ ra một chi rất cao kể để hạn chế sự thất thu năng suất do dịch hại gây ra trên xoài Nông dân chủ yếu, phải dựa vào các loại thuốc hóa học là chính và số lượng thuốc sử dụng hằng năm điều tăng Việc sử dụng thuốc hóa học đã và đang làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm và tác động đến sức khỏe không những cho người trực tiếp sử dụng thuốc và cả những người tiêu thụ sản phẩm
Cho đến nay, có rất ít công trình nghiên cứu về thành phần côn trùng gây hại trên bông xoài thuộc bộ cánh vẩy (Lepidoptera), đề tài “Bộ cánh vẩy (Lepidoptera) gây hại bông xoài: Thành phần loài, đặc điểm hình thái của các
loài gây hại chính và đặc điểm sinh học của loài Dudua aprobola Meyrick” đã
được thực hiện nhằm làm cơ sở cho việc nghiên cứu xây dựng quy trình IPM
trên cây xoài tại ĐBSCL
Trang 182
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Tình hình sản xuất xoài trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Tình hình sản xuất xoài trên thế giới
Hiện nay cây xoài được coi là một trong những cây ăn quả quan trọng trong nghề trồng cây ăn quả trên thế giới Với diện tích khoảng 1,8 - 2,2 triệu
ha được trồng ở 87 nước hiện nay, sản lượng xoài hàng năm trên thế giới đạt khoảng 20 triệu tấn và được xếp ở vị trí thứ 5 sau cam quýt, nho, chuối và táo tây Do nhu cầu về quả xoài trên thế giới ngày càng tăng, khu vực sản xuất xoài ngày càng được mở rộng Theo số liệu của FAO, sản lượng xoài trên thế giới năm 1980 là 14,034 triệu tấn, năm 1990 là 15,750 triệu tấn và trong những năm gần đây đã lên tới khoảng 20 triệu tấn Ba khu vực sản xuất xoài chủ yếu hiện nay là châu Á, trung nam Mỹ và châu Phi trong đó khu vực châu Á Thái Bình Dương là vùng sản xuất xoài lớn nhất thế giới, sản lượng xoài ở khu vực này là 12,402 triệu tấn năm 1990, trong đó Ấn Độ là nước trồng nhiều xoài và có sản lượng luôn cao nhất thế giới (với sản lượng hàng năm từ 9 - 10 triệu tấn trên diện tích hơn 1 triệu ha) Sau Ấn Độ, các nước có sản lượng xoài cao trong khu vực
là Pakistan: 760.000 tấn; Thái Lan 592.000 tấn; Trung Quốc: 482.000 tấn; Indonesia 441.000 tấn; Philippines: 348.000 Bangladesh: 160.000 tấn (số liệu của FAO, 1990) Cũng theo thống kê của FAO, sản lượng xoài hàng năm của thế giới tăng khoảng 2%, trong đó các nước có sản lượng xoài tăng nhanh là
Ấn Độ, Trung Quốc, Mexico và Pakistan (Phạm Thị Hương và ctv., 2003) Cây xoài được canh tác rộng rãi tại 80 nước thuộc vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới với sản lượng hàng năm là 30,7 triệu tấn trong năm 2010, chiếm 50% sản lượng trái cây nhiệt đới (FAO, 2010) Trên thế giới, những nước có diện tích trồng xoài lớn là Ấn Độ, Philippines (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2010) Trong khi trung bình năm từ 1986 đến 1988 chỉ đạt 14.563.000 tấn trên phạm vi toàn thế giới Điều đó cho thấy tiềm năng thương mại của xoài là rất lớn Những nước có diện tích và sản lượng trồng xoài lớn như Ấn
Độ, chiếm gần 70% sản lượng xoài thế giới (Trần Thế Tục, 1998), Philippines (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Thanh Phong, 2003), riêng tại Ấn Độ năm 1983-
1984, lượng xuất khẩu xoài chế biến đạt 44.000 tấn, cao gấp 4 lần xuất khẩu xoài quả tươi (Vũ Công Hậu, 2000)
Trang 193
1.1.2 Tình hình sản xuất xoài ở Việt Nam
Việt Nam là trong những nước có diện tích trồng xoài khá lớn, tập trung nhiều nhất ở ĐBSCL chiếm 60% tổng diện tích xoài cả nước, với nhiều giống xoài khác nhau Cây xoài được xem là cây ăn trái của người nghèo và là trái cây vua trong các loại trái cây (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2010) Diện tích cây ăn quả cả nước trong thời gian qua tăng khá nhanh, năm
2005 đạt 766,9 ngàn ha (so với năm 1999 tăng thêm ngàn ha, tốc độ tăng bình quân là 8,5%/năm), cho sản lượng 6,5 triệu tấn (trong đó chuối có sản lượng lớn nhất với khoảng 1,4 triệu tấn, tiếp đến cây có múi: 800 ngàn tấn, nhãn: 590 ngàn tấn) Vùng ĐBSCL có diện tích cây ăn quả lớn nhất (262,1 ngàn ha), sản lượng đạt 2,93 triệu tấn (chiếm 35,1% về diện tích và 46,1% về sản lượng) Ở nước ta, diện tích trồng xoài khoảng 40.700 ha, riêng diện tích trồng xoài ở ĐBSCL là 12.706 ha Năm 2010 diện tích trồng xoài cả nước là 150.000 ha với tổng sản lượng 1.500.000 tấn (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2010) Việt Nam đã xuất khẩu sang các nước như Hồng Kông (31,43 tấn), Australia (18,04 tấn), Singapore (8,28 tấn) và mở rộng thêm thị trường EU, Nga, Trung Quốc, Campuchia với xoài cát Bồ, cát Chu (FAO, 2001)
Xoài cũng là loại cây trồng có tỷ trọng diện tích lớn của Việt Nam Hiện nay có nhiều giống xoài đang được trồng ở nước ta, giống có chất lượng cao
và được trồng tập trung là giống xoài cát Hoà Lộc Xoài cát Hoà Lộc được phân bố chính dọc theo sông Tiền (cách cầu Mỹ Thuận khoảng 20 - 25 km) với diện tích 4,4 ngàn ha đạt sản lượng 22,6 ngàn tấn Diện tích xoài Hoà Lộc tập trung chủ yếu ở tỉnh Tiền Giang (diện tích 1,6 ngàn ha, sản lượng 10,1 ngàn tấn); tiếp theo là tỉnh Đồng Tháp (873 ha, sản lượng 4,3 ngàn tấn)
(Nguồn:https://www.google.com.vn/#q=Th%E1%BB%B1c+tr%E1%BA%A1ng+v%C3%A0+ph%C6%B0%C6%A1ng+h%C6%B0%E1%BB%9Bng+ph%C3%A1t+tri%E1%BB%83n+s%E1%BA%A3n+xu%E1%BA%A5t+c%C3%A1c+lo%E1%BA%A1i+c%C3%A2y+%C4%83n+tr%C3%A1i+%C4%91%E1%BA%BFn+n%C4%83m+2015)
Trang 20Họ (family): Đào lộn hột (Anacardiaceae)
Chi (genus): Xoài (Mangifera)
Loài (species): Mangifera indica L
và quần đảo Mã Lai, khi chúng ta thấy vô số những giống xoài được canh tác
ở khu vực này với những cái tên rất cổ có trong tiếng Phạn” Dựa trên những phát hiện về sau này, Mukherjee (1997), Bompard và Schnell (1997), lại tái khẳng định rằng nguồn gốc và sự phong phú của các giống xoài trồng hiện nay đều có liên quan mật thiết đến khu vực Đông Nam Á
Valmayor (1972), cho rằng các giống xoài được trồng rất lâu đời và rất phổ biến ở Luzon và Visayas là các giống xoài Carabao và Pico Hai giống xoài này có nhiều đặc điểm giống với các giống xoài đa phôi ở Thái Lan và Việt Nam, có nguồn góc từ Đông Dương mà không phải từ Ấn Độ Ngày nay các giống xoài Đông Dương có nhiều đặc điểm giống với xoài Pico, đặc biệt xoài Carabao, gồm các giống: Okrong, Tong dum (Thái Lan), xoài cát, xoài Thanh Ca, Cambodiana (Việt Nam)
Ấn Độ được coi là nước có lịch sử trồng xoài lâu đời và có nghề sản xuất xoài nổi tiếng nhất thế giới, vì vậy từ đây xoài được mang đến nhiều nơi trên thế giới bằng nhiều cách khác nhau (Phạm Thị Hương và ctv., 2003)
Trang 21
5
Theo Nguyễn Danh Vàn (2008), thì ở Việt Nam, Lào, Campuchia hiện
còn có nhiều loài cây dại cùng loài với xoài ăn được như Mangifera duperreana, (mắc chai, cây quéo), cho nên theo một số tác giả thì bán đảo
Đông Dương cũng có thể là quê hương của một số giống xoài Hiện nay xoài được trồng ở hầu hết các nước thuộc vùng nhiệt đới của châu Á, châu Phi, châu Mỹ… riêng Việt Nam thì xoài được trồng ở phía Bắc phổ biến ở Sơn La, còn hầu hết là tập trung ở miền Nam từ Nha Trang, Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Dương đến Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Cần Thơ, An Giang
Ngoài xoài cát Hòa Lộc, xoài cát Chu thì còn có giống xoài như xoài Thanh Ca, xoài Cát, xoài Tượng, xoài Gòn, xoài Voi, xoài Thơm và xoài Hôi (Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, 2001)
1.2.3 Mô tả cây, đặc điểm thực vật học và sinh thái
Đặc điểm thực vật
Rễ: Thường thì những giống cây có thân cao to và sống lâu năm đều có bộ
rễ tốt, nhất là rễ cái, nhờ đó mà cây mới hấp thu được nhiều chất dinh dưỡng
có sẵn trong đất, nhất là ở tầng đất sâu để nuôi thân Cây xoài có bộ rễ bàng tốt, vươn rộng ra bốn phía của tầng đất mặt như những cánh tay bạch tuộc dài với chu vi có đường kính trên 10 m và rễ cái có thể mọc sâu xuống đất đến
9 m Nhưng đó là trồng ở vùng cao như đồi núi, nơi có mạch nước ngầm quá sâu Còn xoài trồng ở vùng đất thấp, rễ cái mọc không dài do nơi đây có tầng nước ngầm cao, chính vì vậy những cây xoài cao thường bị ngã đổ khi gặp gió lớn (Nguyễn Việt Thái, 2011)
Mô tả cây
Đại mộc to, cao từ 10 - 20 m,
tán rậm Lá có phiến to, không lông,
láng, thơm Hoa chùm tụ tán to,
vàng, hoa nhỏ, dài nhỏ, cánh hoa 5,
dĩa mật to, một tiểu nhụy thụ Quả
nhân cứng, chín vàng, nạc chua
ngọt, thơm, nhân hơi dẹp, có xơ dài
hay ngắn, một hạt to (Nguyễn Việt
Thái, 2011)
Trang 226
Thân cây: Thân cây xoài cao to, cành nhánh cũng to và nhiều, vì vậy nếu không cắt tỉa bớt những nhánh nhỏ cho thông thoáng thì trông rất rậm rạp dẫn đến quang hợp kém Khi cây còn non, bên ngoài vỏ mỏng và trơn láng, nhưng khi cây từ ba, bốn năm tuổi trở lên vỏ cây có màu xám mốc và xù xì Lá xoài dài từ 20 - 30 cm ngang 50 - 70 cm, mọc cách, mặt trên lá màu xanh sẫm, mặt dưới màu xanh sáng Lá mọc thưa dọc theo cành nhánh nhỏ và thành chùm cả chục lá ở chót ngọn Với những cây xoài sống lâu năm, nhất là xoài trồng hạt tán lá rất lớn, bán kính chu vi tính từ gốc có thể đến 6 m (Nguyễn Việt Thái, 2011)
Xoài là loại cây ăn quả thân gỗ mọc rất khoẻ Có thể sống 300 - 400 năm Thông thường cây cao 10 - 12 m, tán cây có đường kính tương tự, nhưng cũng có cây có tán rất lớn (Trần Thế Tục, 2002)
Hoa: Xoài trồng bằng hạt rất lâu ăn, mất sáu, bảy năm còn trồng bằng xoài tháp, xoài chiết thì chỉ ba, bốn năm đã cho trái rồi cây trồng hạt tuy lâu ăn nhưng cho trái nhiều không những ở mùa đầu mà các mùa sau cũng vậy và ít lắm cũng hưởng lợi được sáu, bảy mươi năm Còn xoài tháp, xoài chiết sản lượng trái thu hoạch được hằng năm chỉ đạt 2/3 so với cây trồng bằng hạt (Nguyễn Việt Thái, 2011)
Trái: Xoài tuy ra hoa nhiều nhưng đậu trái ít, đa số hoa không được thụ phấn Số trái đậu trên cây (trái non) từ nhỏ bằng đốt tay cũng có nhiều lý do để rụng bớt dần, cuối cùng số lượng trái còn lại cho đến thu hoạch hai phần mười
đã được coi là trúng mùa (Nguyễn Việt Thái, 2011)
Đặc điểm sinh thái
Nhiệt độ: Xoài là cây ăn trái nhiệt đới, thích hợp với nhiệt độ 24 - 27°C, vào mùa nắng cần nhiệt độ trên 15°C Tuy cây xoài lớn có thể chịu đựng được băng giá vài giờ, nhưng dưới 5°C đã làm cho hoa và trái non rụng hết (không chịu được sương hoặc khí hậu lạnh)
Ánh sáng: Yêu cầu vừa đủ từ 2.000 đến 2.500 giờ/năm
Lượng mưa: Lượng mưa thích hợp trong khoảng từ 1.000 - 1.500 mm, khi lượng mưa trên 1.500 mm, xoài vẫn phát triển tốt, nhưng lá mọc nhiều, hoa ra
ít và nhiều sâu bệnh
Ẩm độ không khí: Thích hợp từ 70 - 75%
Mực nước ngầm: Từ 0,6 - 1,2 m
Trang 237
Đất đai: Các loại đất như đất vàng, đất đỏ, đất laterit đều trồng được,
miễn là không quá nhiều sét, không có tầng đá và sét ở dưới sâu Thích hợp
nhất là vùng đất bồi ven sông, xốp, ưa đất sâu, pha nhiều cát, pH từ 5,5 - 7,5, ở
đất nhiều vôi, trái xoài thơm và ngon hơn Cây xoài có thể chịu ngập lụt,
nhưng ưa đất thoát thủy dể mọc tốt Ở đất úng thủy phải trồng xoài trên liếp
cao, lên mô cao và phải bồi gốc bằng rơm rạ vào mùa nắng
Xoài có thể chịu được độ mặn NaCl từ 0,4 - 0,5‰ (Nguyễn Thị Ngọc
Ẩn, 2001)
1.2.4 Giống
Do được du nhập từ nhiều nước, mặt khác do trước đây dân ta chỉ nhân
giống bằng hột lại không có sự tuyển chọn trở lại, giống bị phân ly tương đối
nhiều Vì thế tập đoàn giống xoài của nước ta khá phong phú (khoảng trên 100
"giống"), nhưng chỉ có một số giống sau đây là đang được ưa chuộng và trồng
phổ biến (Nguyễn Danh Vàn, 2000)
Xoài cát Hoà Lộc: Có nguồn gốc từ Cái Bè (Tiền Giang) Trái to (khoảng
400 - 500 gam/trái), bầu tròn ở phần cuống Thịt vàng, dầy cơm, thịt dẽ, thơm
và ngọt, hình dáng trái đẹp, khi già có lớp phấn phủ bên ngoài, đỉnh trái nhọn
Đây là giống đang được ưa chuộng nhất
Tuy nhiên có nhược điểm là khó đậu trái, vỏ mỏng, dễ bị giập và gây
thối trái khi vận chuyển Thời gian từ trỗ đến chín khoảng 3,5 tháng (Nguyễn
Danh Vàn, 2008) Vùng Cần Thơ cũng có giống xoài cát (trắng và đen) quả
hơi nhỏ hơn xoài cát Hoà Lộc, nhưng quả cũng có phẩm chất ngon và cho
năng suất khá cao Cây 10 - 12 tuổi, năm được mùa có thể đạt 500 quả, 20 tuổi
có thể đạt 1.000 - 1200 quả (Trần Thế Tục, 2002)
Xoài cát Chu: Được trồng phổ biến ở Đồng Tháp, năng suất cao (một cây
25-30 năm tuổi có thể cho 1000 kg trái), dễ đậu trái, phẩm chất khá ngon, trái
tròn, vỏ mỏng khi già vỏ có nhiều đốm màu nâu đen, trọng lượng trái khoảng
250 - 350 gam, cơm vàng đậm, thịt dẽ, vị ngọt hơi chua Từ trỗ đến chín
khoảng 3 - 3,5 tháng (Nguyễn Danh Vàn, 2008)
Xoài Thơm: Được trồng nhiều ở Tiền Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ Cho
năng suất khá cao và ổn định so với xoài cát Hòa Lộc Trọng lượng trái
250 - 300 gam, phẩm chất ngon, vỏ trái có màu xanh đậm (thơm đen) hoặc
xanh nhạt (thơm trắng) Thời gian từ trỗ đến chín ngắn, khoảng 2,5 - 3 tháng
(Nguyễn Danh Vàn, 2008) So với xoài cát, xoài thơm cho năng suất khá cao
va ổn định qua các năm, trung bình đạt khoảng 200kg quả/cây (Trần Thế Tục,
2002)
Trang 248
Xoài "Bưởi" (còn gọi là xoài "ghép" hay xoài "ba mùa mưa") có xuất xứ từ Cái Bè (Tiền Giang), hiện được trồng khá nhiều ở ĐBSCL, cây cho trái sớm (sau khi gieo khoảng 2,5 - 3 năm là cho trái) Trọng lượng trái 250 - 300 gam, phẩm chất kém vì thịt trái nhão, hơi lạt lại có mùi hôi, nhưng có ưu điểm là vỏ trái dầy, tỷ lệ đậu trái cao (Nguyễn Danh Vàn, 2008)
Xoài tượng: Quả to nhất trong các giống xoài Việt Nam Có quả nặng trung bình 700 - 800 gam Cây ra hoa sớm nên tháng 3 đã có quả ở các chợ Quả chín màu vàng nhạt ửng xanh, trơn bóng, thịt quả màu vàng nhạt, ít xơ, ít nước, ăn không ngọt bằng xoài cát và thanh ca, vị nhạt hơi chua, thoảng có mùi nhựa thông Tập quán của nông dân thường dùng quả già chín tới để ăn sống, quả lúc này có vị chua ngọt, giòn, nhiều bột hơn là để chín (Trần Thế Tục, 2002)
1.2.5 Công dụng
Vỏ trái xoài chín cũng như trái xoài có tác dụng cầm máu tử cung, ho ra máu, chảy máu ruột, dùng dưới dạng cao lỏng 10 gram hòa với 120 ml nước,
cứ cách 1 giờ uống một muỗng cà phê Người ta có thể dùng vỏ xoài phơi khô
3 phần với một phần trái me, và một phần trái bồ kết, tất cả sấy khô tán nhỏ, cho vào nơi răng sâu đã chải sạch (Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, 2001)
Các nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh, chất saponin trong xoài có tác dụng khử đàm, trị ho và ngăn ngừa ung thư Quả chưa chín ức chế vi khuẩn Staphylococus, E coli Quả xoài chín rất giàu đường, acid folic, canxi, phosphor, sắt, beta caroten, vitamin B1, B2
Các ứng dụng thực tế:
- Ho, đoản hơi, đàm nhiều: Xoài xanh 1 quả, bỏ hột, rồi ăn cả vỏ, ngày 3 lần
- Đầy bụng, ăn không tiêu: Xoài xanh một quả, ăn cả vỏ, ngày 2 lần
- Chảy máu chân răng: Xoài xanh 2 quả, dùng cả vỏ, mỗi ngày 1 lần ( Nguồn: http://www.ykhoa.net/yhoccotruyen/baiviet/29_504.htm)
Trang 2510 - 20 kg phân chuồng đã ủ với 0,5 kg phân NPK 16-16-8 để bón lót trước khi đặt cây xuống Thời vụ tốt nhất là vào đầu hoặc giữa mùa mưa không trồng vào lúc cuối mùa mưa
Phân bón và chăm sóc
Ba năm đầu từ 0,5 - 0,8 kg phân NPK 16-16-8/ cây/ năm, có thêm phân chuồng càng tốt trái (Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, 2001)
- Trước khi ra hoa và sau khi thu hoạch, lượng phân bón gấp đôi
- Nên bón Canxi để trái không bị nứt
- Những năm sau tăng dần lên
- Phải làm cỏ sạch mỗi năm 2 lần, nhất là vào mùa mưa
- Tưới nước thường xuyên lúc mới trồng, vào mùa khô tưới mỗi ngày/lần
1.2.7 Một số biện pháp kỹ thuật điều khiển quá trình ra hoa, đậu quả ở xoài
- Biện pháp cơ giới: Khoanh vỏ, tỉa chùm hoa và xông khói
- Xử lý bằng hoá chất: KNO3, Paclobutrazol (Phạm Thị Hương và ctv., 2003)
1.2.8 Thành phần loài sâu hại trên cây xoài
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000), tại vùng ĐBSCL, thành phần côn trùng gây hại trên xoài rất phong phú, gồm 12 nhóm loài Trong đó nhóm ăn
bông thuộc bộ cánh vẩy (Lepidoptera) gồm có 3 loài, bao gồm Dudua
aprobola, Chlumetia transversa và Penicillaria jocosatris
Trong giai đoạn phát triển từ lúc ra bông đến đậu trái, xoài bị tấn công bởi rất nhiều loài côn trùng gây hại quan trọng và khó phòng trị như rầy bông
xoài, (Idioscopus), bọ trĩ (Scirtothrips dorsalis), các loại sâu ăn bông và đục
cành (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2003)
Trang 26
Cây xoài là ký chủ của rất nhiều loài dịch hại Có hơn 322 loài côn trùng
và nhện gây hại đã được ghi nhận với 127 loài ăn lá chiếm 39%, 87 loài ăn quả (27%), 36 loài ăn bông (12%), 33 loài gây hại trên nụ (10%) và 39 loài (12%)
gây hại trên cành, thân và rễ (Pena et al., 2009)
1.3 Đặc điểm hình thái, sinh học và triệu chứng một số loài sâu hại chính trên bông xoài
1.3.1 Loài Dudua approbola
(Lepidoptera: Tortricidae)
Tình hình phân bố và ký chủ
Phân bố ở các nước: Bangladesh,Trung Quốc, Ðài Loan, Ấn Ðộ, Malaysia, Indonesia, Myanmar, Pakistan, Philippines, Singapore, Thái Lan
Ký chủ chính là xoài (Mangifera indica)
Đây là loài bướm có kích thước khá nhỏ, thân và cánh có màu nâu, trên cánh có nhiều vết màu trắng vàng, chiều dài thân: 6 - 6,5 mm, chiều dài sải cánh khoảng 17,5 mm Ấu trùng có màu hồng mận, khi phát triển đầy đủ dài khoảng 11 - 13 mm (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
Cách gây hại
Thành trùng đẻ trứng vào ban đêm, trứng được đẻ rải rác từng cái một trên chồi non, lá non Sâu mới nở thường đục ngay vào gân chính, cuốn lá non hoặc chồi non, sau đó chui dần xuống thân chồi non Chồi bị hại sau đó bị héo
và khô (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
Biện pháp phòng trị
Vào giai đoạn ra đọt non rộ, quan sát chồi, nếu thấy sâu và chồi héo, cần loại bỏ ngay để diệt sâu hiện diện trong cành non Khi bị nhiễm có thể sử dụng thuốc hoá học để phòng trị, có thể sử dụng các loại thuốc gốc lân hoặc gốc cúc tổng hợp
meyrick 1088979.html)
Trang 27(Nguồn:http://tailieu.vn/doc/sau-duc-ngon-choi-canh-non-dudua-aprobola-11
1.3.2 Loài Chlumetia transversa Walker
(Lepidoptera: Noctuidae)
Ký chủ chính là xoài (Mangifera indica)
Phân bố: Bangladesh, Trung Quốc, Đài Loan, Ẩn Độ, Malaysia, Indonesia, Myanmar Pakistan, Philippines, Singapore, Thái Lan
Hình thái
Trứng có kích thước 1,2×0,74 mm Thành trùng có thân màu nâu, cánh
có màu nâu, bóng, cạnh ngoài cánh trước có những sọc ngang gãy khúc rất rõ
và sát rìa cánh có một hàng chấm đen Thành trùng có chiều dài thân 7 - 8
mm, chiều dài sải cánh 17 - 18 mm Trứng mới đẻ có màu trắng nhưng trở nên nâu khi sắp nở Ẩu trùng có màu hồng (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
Một số đặc điểm sinh học và gây hại
Thời gian ủ trứng 2 - 4 ngày, ấu trùng có 5 tuổi Thời gian của mỗi giai đoạn phát triển từ tuổi 1 đến tuổi 5 lần lượt là: 2 - 3 ngày, 2 - 3 ngày, 2 - 3 ngày, 3 ngày và 3 ngày Giai đoạn nhộng trung bình là 13,3 ngày Nhộng được tiến hành trong đường đục Thời gian sống của thành trùng đực và thành trùng cái lần lượt là 23 và 5,5 ngày (Mohite PB và Dumbre RB, 1981) Trong điều
kiện phòng thí nghiệm, chu kỳ sinh trưởng của Chlumetia transversa kéo dài
trong khoảng 31 - 38 ngày (Chahal và Singh, 1977)
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011), bướm bị thu hút nhiều bởi ánh sáng đèn, nhất là trong những đêm trời tối và không có gió với ẩm độ khoảng 90% Bướm đẻ trứng vào ban đêm, rải rác trên các chồi và lá non Khi vừa nở, sâu đục vào gân chính của lá non mềm nhất; khoảng 2 ngày sau, cơ thể to hơn, sâu chui dần vào chồi ngọn gần đỉnh sinh trưởng Sâu thường sâu chỉ ăn trong 1 lóng, nhưng nếu lóng có chiều dài ngắn hơn 5 cm, sâu có thể đục xuyên qua mắt để sang lóng kế Thường sâu chỉ ăn từ trên xuống Lá các chồi bị hại thường héo và rụng Chồi non bị hại sẽ héo, không cho hoa Nếu sâu tấn công trên hoa sẽ làm rụng bông Sâu làm nhộng trên vỏ cây, hoa khô, trong kẻ nứt của vỏ cây hay trong đất
Trang 2812
1.3.3 Loài Penicillaria jocosatrix Guenée
Tên khoa học: Penicillaria jocosatrix Guenée (Lepidoptera: Noctuidae)
Tên khác: Bombotelia josocatrix Guenée
Phân bố
Phân bố rộng rãi tại Đông Nam châu Á và trên những vùng trồng xoài tại
Úc
Ký chủ
Xoài (Mangifera indica), điều (Anacardium occidentale), Schinus molie
và Terminalia crolinensis (Don Herbison và Crossley, 2010)
Đặc điểm hình thái
Trứng màu xanh nhạt, dạng bán cầu, được đẻ rải rác trên bề mặt lá xoài Sâu non: Sâu non có màu xanh vàng, trên cơ thể có nhiều đốm nâu hồng, sâu non đẫy sức dài khoảng 25 - 27 mm, khi chuẩn bị hóa nhộng, sâu đẫy sức có màu nâu hồng
Trưởng thành màu nâu xám, trên cánh trước có những đường ngang không rõ nét, hơn phân nửa cánh sau (kể từ gốc cánh) có màu trắng, rất đặc trưng Chiều dài sải cánh là 25 mm
Đặc điểm sinh học và gây hại
Thành trùng bắt cặp và đẻ trứng về đêm Thời gian ủ trứng 2 - 3 ngày Giai đoạn ấu trùng kéo dài trong khoảng 8 - 10 ngày Giai đoạn nhộng tiến hành trong đất và kéo đài khoảng 10 - 11 ngày Vòng đời kéo dài 22 - 25 ngày
Theo Khoo et al (1991), sâu làm nhộng trong đất Hiện diện rất phổ biến tại
các vùng trồng xoài thuộc đồng bằng sông Cửu Long (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) Loài này có khả năng ăn phá rất mạnh, có thể làm trụi lá non và hoa xoài trong thời gian ngắn Tại nhiều nơi, loài này còn gây hại bằng cách đục ngọn xoài, vì vậy loài này còn được gọi là sâu đục ngọn xoài (Nguyễn Văn Đĩnh và ctv., 2012)
1.3.4 Loài Adoxophyes privatana Walker
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000), loài Adoxophyes privatana thuộc họ
Tortricidae, bộ Lepidoptera
Ký chủ
Chôm chôm, sầu riêng, măng cụt và trên cây có múi (cam, quýt, bưởi, chanh), đậu phộng
Trang 2913
Một số đặc điểm hình thái và gây hại
Có hiện tượng đa hình thái giữa thành trùng đực và cái Thành trùng đực
có màu sắc rực rỡ, cơ thể (thân, cánh) có màu vàng, trên cánh trước có những
băng cong màu nâu Khi đậu, hai cánh trên xếp lại, tạo thành một đốm đen
ngay phía dưới đầu và ngực Con cái có màu tối hơn con đực, các băng cong
trên cánh trước cũng có màu lợt hơn Thành trùng có kích thước nhỏ, con cái
hơi lớn hơn con đực, chiều dài sải cánh là 16,5 mm (đực) và 18 mm (cái) Ấu
trùng khi phát triển đầy đủ dài khoảng 14 mm, đầu màu vàng, mặt lưng cơ thể
có màu xanh đen, mặt bụng có màu xanh nhạt hơn Sâu trưởng thành nhả tơ,
kết lá và hóa nhộng ngay trên lá Nhộng màu nâu nhạt, dài khoảng
10 - 11 mm (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
Theo Trần Thị Kim Thuỷ (2010), khi mới hoá nhộng, phần đầu ngực có
màu xanh, phần lưng nhộng có màu vàng nâu Phần bụng có màu vàng nhạt
hơn Khi sắp vũ hoá nhộng chuyển sang vàng nâu sậm Nhộng dài 10 - 11 mm,
thời gian nhộng kéo dài khoảng 4 - 6 ngày
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000), tại ĐBSCL, loài này cũng được ghi
nhận trên chôm chôm, sầu riêng Trên nhóm cây có múi, Adoxophyes primtann
gây hại bằng cách nhiếu lá đọt, ăn phá chồi non Hiện diện suốt năm, mật số
thường cao vào các đợt ra chồi non Tại Thái Lan, loài Adoxophyes privatana
được ghi nhận hiện diện trên chôm chôm, sầu riêng, bưởi, măng cụt, gây hại
bằng cách cuốn lá non (Hiroshi Kuroko và Angoon Lewvanich, 1993)
Phòng trị
Khi tỷ lệ chồi bị nhiễm >5%, sử dụng các loại thuốc trừ sâu thông
thường (gốc lân hay cúc tổng hợp) để phòng trị
1.3.5 Loài Thalassodes falsaria Prout
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000), loài Thalassodes falsaria gây hại phổ
biến tại ĐBSCL thuộc họ Geometridae, bộ Lepidoptera
Thành trùng là loài bướm có chiều dài sải cánh khoảng 2,5 mm, thân và
cánh có màu xanh, mép của cánh trước và cánh sau có đường viền nhỏ màu
nâu Ấu trùng có dạng sâu đo, màu xanh hơi vàng (màu sắc rất giống màu của
bông nhãn), kích thước khoảng 25 - 30 mm, trên thân có những chấm nhỏ màu
vàng nâu
Trang 30
14
Nhộng có kích thước khoảng 16 mm, khi mới hoá nhộng có màu xanh lợt và có màu nâu khi sắp vũ hoá, thời gian nhộng kéo dài 6 - 8 ngày Khi bị động, ấu trùng thường có tập quán bám sát trên các nhánh bông nên rất khó phát hiện Sâu gây hại bằng cách ăn trụi các nhánh bông, có thể thấy rất nhiều sâu trên một bông Loài này
có thể tấn công từ khi bông mới bắt đầu nhú ra cho đến giai đoạn đậu trái
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011), loài Thalassodes falsaria có tập quán nằm sát các nhánh hoa khi bị động nên rất khó phát hiện Sâu
thường tấn công và ăn trụi các nhánh hoa Có thể có rất nhiều sâu trên một nhánh hoa Loài này có thể tấn công từ khi hoa bắt đầu nhú ra đến khi đậu trái
Trang 3115
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Phương tiện
2.1.1 Đối tượng cây trồng nghiên cứu
- Cây xoài (Mangifera indica L.)
- Số lượng vườn xoài khảo sát: 80 vườn
2.1.2 Thời gian và địa điểm
- Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 9/2013 đến tháng 3/2014
- Địa điểm thực hiện: Phòng thí nghiệm côn trùng, bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại học Cần Thơ
- Địa bàn điều tra: Việc điều tra được thực hiện trên 5 địa bàn tỉnh và thành phố như sau:
4 Tp Cần Thơ Q Cái Răng, Bình Thủy, Ninh Kiều, H Phong Điền
2.1.3 Vật tư thí nghiệm
- Phiếu điều tra: Bao gồm các thông tin về kỹ thuật canh tác và một số yếu tố có liên quan đến sự hiện diện cũng như sự gây hại các loài côn trùng trên bông xoài
- Nguồn côn trùng thu từ ngoài đồng ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau (trứng, ấu trùng, nhộng và thành trùng)
- Nhiệt kế đo nhiệt độ và ẩm độ trong phòng thí nghiệm trong suốt quá trình làm thí nghiệm
- Dụng cụ thu mẫu: Kéo cắt bông chuyên dụng có chiều dài 4 m, có thể kéo dài và thu ngắn với phần lưỡi có thể cắt và giữ bông thật chặt không
bị rơi khi cắt; túi nylon giữ mẫu bông có kích thước 30x40 cm; tem đánh dấu mẫu; bút lông,…
- Dụng cụ nuôi sâu: Hộp nhựa nhiều kích thước khác nhau, nuôi ấu trùng
và thành trùng và giấy thấm giữ ẩm, bông gòn và vải mùng lưới
Trang 3216
- Vật tư quan sát: Kính lúp, kính hiển vi nhìn nổi, kính hiển vi xuyên thấu, máy chụp ảnh…
- Tủ sấy, thước, kim ghim côn trùng, hộp đựng mẫu đễ giữ mẫu
- Vật giữ mẫu: chai thuỷ tinh, hộp nhựa các kích cỡ, đĩa petri…
- Thức ăn cho côn trùng: Bông xoài tươi và mật ong 10% (dùng làm thức
D: Kính lup)
B
A
Trang 3317
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thực hiện: Điều tra nông dân, điều tra trực tiếp ngoài đồng và khảo sát trong điều kiện phòng thí nghiệm
2.2.1 Điều tra nông dân
- Mục đích: Nhằm tìm hiểu kỹ thuật canh tác, tình hình dịch hại cũng như sự hiểu biết và biện pháp đối phó của nông dân đối với các loại dịch hại nói chung và côn trùng gây hại vườn xoài nói riêng
- Phương tiện điều tra: Phiếu điều tra soạn sẵn
Nội dung phiếu điều tra bao gồm:
Kỹ thuật canh tác
Tình hình dịch hại
Biện pháp phòng trừ côn trùng gây hại của nông dân
- Phương pháp điều tra: Phỏng vấn trực tiếp nông dân theo phiếu điều tra
Trang 3418
2.2.2 Điều tra thực tế ngoài đồng
- Địa bàn điều tra: Tỉnh Đồng Tháp, Hậu Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long
- Phương pháp khảo sát và thu mẫu: Tùy theo diện tích canh tác tại mỗi địa bàn, vườn có diện tích nhỏ thì quan sát và thu mẫu trên tất cả các cây Nếu địa bàn khảo sát, vườn có diện tích lớn thì tiến hành khảo sát 6 điểm theo đường zigzag Tại mỗi điểm, chọn một cây và cắt ngẫu nhiên 1 phát hoa bằng cách sử dụng kéo chuyên dụng Sau khi cắt phát hoa cho vào bọc nylon có kích 30x40 cm, sau đó dùng kẹp bấm giấy, bấm kín miệng túi nylon Bông xoài sau đó được mang ngay về phòng thí nghiệm để khảo sát Kết hợp thu mẫu bổ sung bằng biện pháp sử dụng vợt để bắt côn trùng
Phương pháp khảo sát mẫu đối với từng bông xoài cụ thể như sau:
Quan sát tổng thể mẫu trong bọc nylon (cả bên trong và bên ngoài) để phát hiện sự hiện diện của côn trùng
Nếu có thành trùng thì tách mẫu thành trùng ra các hộp nhựa
nhỏ trước khi lấy phát hoa ra khỏi nylon
1
Lấy bông ra khỏi nylon, ghi nhận thành phần loài và số lượng
cá thể, tách riêng từng loài côn trùng trước khi nuôi sinh học và định danh
2
Tiếp tục tách phát hoa và quan sát trên kính lúp nhìn nổi để phát hiện các loài côn trùng có kích thước nhỏ (bọ trĩ), trứng, sâu non
Quan sát cách gây hại của mỗi loài côn trùng trên bông
3
Trang 3519
Do việc định danh côn trùng chủ yếu dựa trên giai đoạn thành trùng, nên ngay sau khi thu mẫu, tùy theo giai đoạn phát triển của mỗi cá thể mà mẫu sẽ được định danh ngay nếu là giai đoạn thành trùng hoặc tiếp tục nuôi sinh học, quan sát, theo dõi cho đến giai đoạn thành trùng, sau đó sẽ tiến hành phân loại
và định danh Mẫu được nuôi bằng hộp nhựa plastic hằng ngày thay bông tươi
1 lần/ngày và kết hợp với quan sát triệu chứng gây hại của côn trùng
Phương pháp định danh: Sử dụng khoá phân loại của Borror et al
(1976), Barrion và Litsinger (1995), Hiroshi và Lewvanich (1993) và nhiều tác giả khác để định danh đến loài
Chỉ tiêu ghi nhận:
+ Thành phần và mật số của các loài côn trùng gây hại trên bông
+ Mức độ phổ biến (được tính dựa trên tỷ lệ hiện diện)
+ Cách thức gây hại của một số loài phổ biến
Tỷ lệ vườn hiện diện (%) = Số vườn điều tra có loài gây hại X 100
Tổng số vườn điều ra
Hình 2.3 Các thao tác xử lý một mẫu bông trong điều kiện phòng thí nghiệm (A: Quan sát tổng thể; B: Dùng cọ thu mẫu côn trùng; C: Thu và giữ mẫu trong chai bi chứa cồn 70 0 ; D: Quan sát lại bọc nylon chứa mẫu; E: Thu và giữ mẫu; F: Quan sát lại các nhánh bông và mẫu bông rụng trên kính lúp nhìn nổi)
Trang 3620
Mức độ phổ biến được xác định căn cứ vào tỷ lệ hiện diện và được chia theo thang mức độ như sau:
(-) Không hiện diện
(+) Mức độ phổ biến thấp, tỷ lệ vườn hiện diện: ≤ 10%
(++) Mức độ phổ biến trung bình, tỷ lệ vườn hiện diện từ 11- ≤40% (+++) Mức độ phổ biến cao, tỷ lệ vườn hiện diện từ 41 - ≤70%
(++++) Mức độ phổ biến rất cao, tỷ lệ vườn hiện diện từ 71 - 100%
2.2.3 Khảo sát trong điều kiện phòng thí nghiệm
2.2.3.1 Khảo sát đặc điểm hình thái của một số loài gây hại phổ biến trên bông xoài
Loài côn trùng khảo sát: Dudua aprobola, Eublemma abrupta, Chlumetia transversa, Penicillaria jocosatrix, Adoxophyes privatana và Euproctis subnotata
- Phương pháp thực hiện: Các giai đoạn phát triển của các loài gây hại như trứng, ấu trùng, nhộng, thành trùng được thu ngoài tự nhiên đem về phòng thí nghiệm khảo sát và nuôi sinh học để khảo sát các đặc điểm hình thái và gây hại
- Phương pháp nhân nuôi và tạo nguồn: Mẫu côn trùng thu được để riêng trong hộp nhựa tròn nhỏ (25×45×55 mm), nuôi sâu bằng bông xoài tươi, thay bông tươi 1 lần/ngày cho đến khi sâu hóa nhộng Thu nhộng hình thành cùng ngày đặt vào hộp nhựa và theo dõi đến khi vũ hoá Sau khi vũ hoá thành trùng được đưa sang hộp mới nuôi bằng mật ong 10%
- Chỉ tiêu nghi nhận: Đặc điểm hình thái của các giai đoạn phát triển và cách gây hại
Trang 3721
2.2.3.2 Khảo sát đặc điểm sinh học của sâu ăn bông Dudua aprobola trong
điều kiện phòng thí nghiệm
Thí nghiệm được thực hiện tại phòng thí nghiệm côn trùng Bộ môn Bảo
Vệ Thực Vật, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học và Ứng Dụng, Trường Đại học
Cần Thơ
Sâu và nhộng Dudua aprobola được thu thập trên các bông xoài tại Hậu
Giang và được nuôi trong điều kiện phòng thí nghiệm để theo dõi về các đặc điểm sinh học
Trong quá trình nuôi sinh học, sử dụng thức ăn cho sâu là bông xoài tươi (đã được rửa sạch) thu ngoài đồng, hằng ngày thay bông 1 lần/ngày Sâu được nuôi riêng từng cá thể, sau khi thu được thành trùng đực và cái tiến hành cho thành trùng bắt cặp và đẻ trứng
Trứng được tách nuôi riêng trên từng hộp nhựa nhỏ có kích thước (25×45×55 mm) Hộp nhựa được lót lớp giấy thấm mỏng để tạo ẩm độ cho trứng nở
Hằng ngày tiến hành quan sát, ghi nhận sự thay đổi về hình dạng, kích thước, màu sắc và thời gian trứng nở Sau khi trứng nở, hằng ngày quan sát sự phát triển của sâu ghi nhận thời gian lột xác, kích thước của từng pha phát triển, hành vi, sự sống sót và gây hại
Hình 2.4 Một số dụng cụ và hộp nhựa dùng để nuôi sâu
Trang 3822
Sau khi sâu chuyển sang giai đoạn nhộng, quan sát ghi nhận các đặc điểm về màu sắc, hình dạng, phân biệt nhộng đực và cái, kích thước và thời gian phát triển của nhộng trong điều kiện phòng thí nghiệm
Sau khi thành trùng vũ hoá, cho bắt cặp trong hộp nhựa (165×110×100 mm) Cung cấp thức ăn là nước đường (10%) cho thành trùng, thức ăn được tẩm vào miếng bông gòn, sau đó được treo vào trong hộp nhựa Hằng ngày, quan sát và ghi nhận thời gian thành trùng bắt cặp và đẻ trứng Ghi nhận các đặc điểm thành trùng
- Chỉ tiêu ghi nhận: Thời gian từ lúc bắt đầu đẻ trứng đến ngừng đẻ +Số trứng trên 1 cặp thành trùng
+ Chu kỳ sinh trưởng
+ Tỷ lệ đực cái
+Tuổi thọ thành trùng đực và cái
2.3 Xử lý số liệu
Số liệu được tổng hợp và xử lý bằng chương trình Excel 2007
Hình 2.5 Các loại hộp nhựa dùng để nuôi thành trùng
Trang 3923
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả điều tra nông dân
3.1.1 Một số ghi nhận chung về diện tích canh tác cây xoài của nông dân tại các địa bàn điều tra
Nhằm tìm hiểu về kỹ thuật canh tác và sự hiểu biết của nông dân có liên quan đến sự gây hại của côn trùng trên bông xoài, chúng tôi đã tiến hành điều tra 80 hộ nông dân với tổng diện tích điều tra là 402.900 m2
ở 4 tỉnh và thành phố như Đồng Tháp, Hậu Giang, Tiền Giang và Tp Cần Thơ Kết quả điều tra ghi nhận: Diện tích trồng xoài trung bình của mỗi hộ trên tổng diện tích điều tra là 5.040 m2 Cây xoài được trồng tại nhiều tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long nhưng diện tích lớn nhất tập trung tại tỉnh Đồng Tháp Tại huyện Cao Lãnh - Đồng Tháp diện tích vườn trung bình của mỗi hộ là 6.570 m2 với tổng diện tích điều tra là 131.400 m2
Tỉnh Hậu Giang là địa bàn có diện tích trung bình mỗi vườn lớn thứ 2 với 5.740 m2
Cần Thơ đứng thứ 3 với diện tích trung bình là 4.270 m2 Tiền Giang là địa bàn có diện tích vườn trung bình nhỏ nhất với 3.570 m2 (Bảng 3.1)
Bảng 3.1 Diện tích vườn xoài tại các địa bàn điều tra
điều tra
Tổng diện tích (1000m2)
Diện tích trung bình (1000m2)
Trang 40chiếm 33,75%, tập trung chủ yếu tại địa bàn tỉnh Đồng Tháp (Bảng 3.2)
Độ tuổi nông dân
Phần lớn, nông dân trồng xoài có độ tuổi từ 25 tuổi trở lên Nông dân có
độ tuổi trên 55 chiếm tỷ lệ cao nhất (35%), kế đến là độ tuổi từ 46 đến 55 tuổi (27,5%) và thấp nhất là độ tuổi từ 25 đến 45 tuổi (18,75%)
Kinh nghiệm trồng xoài
Nhìn chung, hầu hết nông dân điều tra có thời gian trồng xoài rất lâu đời Kết quả điều tra cho thấy Bảng 3.2, nông dân có thời gian trồng xoài từ 11 đến
20 năm chiếm tỷ lệ cao nhất (45%) Thời gian trồng xoài lâu năm chủ yếu tập chung tại 2 tỉnh Đồng Tháp (65%) và Tp Cần Thơ (65%) Nông dân có thời gian trồng từ 6 đến 10 năm chiếm tỷ lệ thấp (37,5%), tập trung tại tỉnh Đồng Tháp khá cao (55%) và nhóm nông dân có thời gian trồng xoài trên 20 năm (17,7%), tập chung chủ yếu tại tỉnh Hậu Giang (30%) và thấp nhất tại
Tp Cần Thơ (5%) Hầu hết nông dân điều tra có thời gian trồng xoài khá kinh nghiệm, trồng lâu năm nhưng kỹ thuật canh tác và phòng trừ các dịch hại trên cây xoài còn nhiều hạn chế
Tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật và hội nông dân
Hầu hết nông dân có tham gia các lớp tập huấn về kỹ thuật trồng xoài do các địa phương tổ chức (chương trình hội thảo của công ty thuốc bảo vệ thực vật, khuyến nông, lớp IPM….), cũng như tìm hiểu từ các phương tiện truyền thông và sách báo Nông dân tham gia lớp tập huấn khá cao (67,5%), cao nhất tại tỉnh Đồng Tháp (85%) và thấp nhất tỉnh Hậu Giang (55%) Nông dân tham gia hội nông dân của xã tại địa phương chiếm 60%, tập chung cao nhất tại tỉnh Đồng Tháp (65%) là hội viên của nông dân (Bảng 3.2)