1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh thán thư (collectotrichum spp ) trên cây xoài cát hòa lộc (mangifera indica l ) tại huyện cái bè, tỉnh tiền giang

61 666 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang” được thực hiện từ tháng 04/2013 đến tháng 02/2014 nhằm mục tiêu: Mô tả kết quả khảo sát mô hình áp dụng quy trình phòng trừ tổng hợp để quản lý bệnh t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

NGUYỄN VIỆT TRUNG

ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

TỔNG HỢP BỆNH THÁN THƯ

(Collectotrichum spp.) TRÊN CÂY

XOÀI CÁT HÒA LỘC (Mangifera indica L.)

TẠI HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH KHOA HỌC CÂY TRỒNG

2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

NGUYỄN VIỆT TRUNG

ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

TỔNG HỢP BỆNH THÁN THƯ

(Collectotrichum spp.) TRÊN CÂY

XOÀI CÁT HÒA LỘC (Mangifera indica L.)

TẠI HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH KHOA HỌC CÂY TRỒNG

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PGS TS TRẦN VĂN HÂU

2015

Trang 3

i

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Khoa Học Cây Trồng với đề tài:

ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP PHÕNG TRỪ

TỔNG HỢP BỆNH THÁN THƯ

(Collectotrichum spp.) TRÊN CÂY

XOÀI CÁT HÕA LỘC (Mangifera indica L.)

TẠI HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

Do sinh viên Nguyễn Việt Trung thực hiện

Kính trình lên Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp

Cần Thơ, ngày tháng năm

Cán bộ hướng dẫn

Trần Văn Hâu

Trang 4

ii

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Khoa Học Cây Trồng với đề tài:

ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP PHÕNG TRỪ

TỔNG HỢP BỆNH THÁN THƯ

(Collectotrichum spp.) TRÊN CÂY

XOÀI CÁT HÕA LỘC (Mangifera indica L.)

TẠI HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

Do sinh viên Nguyễn Việt Trung thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng

Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:

Luận văn tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá ở mức:

Thành viên Hội đồng

DUYỆT KHOA Cần Thơ, ngày tháng năm

Trang 5

iii

TIỂU SỬ CÁ NHÂN

I LÝ LỊCH SƠ LƢỢC

Họ và tên: Nguyễn Việt Trung Giới tính: Nam

Nơi sinh: huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang

Họ và tên cha: Nguyễn Văn Hòa

Họ và tên mẹ: Nguyễn Ánh Xương

Chỗ ở hiện tại: ấp Hòa A, xã Hòa Lợi, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang

II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP

1 Tiểu học

Thời gian: 1999 – 2001

Trường: Tiểu học Hòa A

Địa chỉ: ấp Hòa A, xã Hòa Lợi, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang Thời gian: 2001 – 2004

Trường: Tiểu học Trường Xuân A

Địa chỉ: xã Trường Xuân B, huyện Thời Lai, Thành phố Cần Thơ

2 Trung học cơ sở

Thời gian: 2004 – 2008

Trường: THCS Trường Xuân

Địa chỉ: xã Trường Xuân A, huyện Thới Lai, Thành phố Cần Thơ

3 Trung học phổ thông

Thời gian: 2008 – 2011

Trường: THPT Thới Lai

Địa chỉ: thị trấn Thới Lai, huyện Thới Lai, Thành phố Cần Thơ

4 Đại học

Thời gian: 2011 – 2015

Trường: Đại Học Cần Thơ

Địa chỉ: phường Xuân Khánh, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ

Chuyên ngành: Khoa Học Cây Trồng (Khóa 37)

Cần Thơ, ngày tháng năm

Nguyễn Việt Trung

Trang 6

iv

NGUYỄN VIỆT TRUNG, 2014 “Áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng

hợp bệnh thán thƣ (Collectotrichum spp.) trên cây xoài cát Hòa Lộc (Mangifera indica L.) tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang” Luận văn tốt

nghiệp Kỹ sư ngành Khoa Học Cây Trồng, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ

Cán bộ hướng dẫn: PGS TS Trần Văn Hâu

TÓM LƢỢC

Đề tài “Áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh thán thư

(Collectotrichum spp.) trên cây xoài cát Hòa Lộc (Mangifera indica L.) tại

huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang” được thực hiện từ tháng 04/2013 đến tháng 02/2014 nhằm mục tiêu: Mô tả kết quả khảo sát mô hình áp dụng quy trình phòng trừ tổng hợp để quản lý bệnh thán thư trên cây xoài cát Hòa Lộc Thí nghiệm được tiến hành trên ba vườn mô hình là vườn của ông Nguyễn Văn Hạnh (vụ muộn 1), vườn ông Trần Văn Đậm (vụ muộn 2) và vườn ông Lê Văn Trực (vụ sớm), thí nghiệm khảo sát 30 cây/vườn mô hình, trong đó số liệu thu thập từ 10 cây/vườn mô hình được chọn ngẫu nhiên trong 30 cây khảo sát (trừ

số liệu tỷ lệ ra hoa) Thí nghiệm tiến hành theo quy trình PTTH bệnh thán thư, bao gồm các công việc: tỉa cành tạo tán, vệ sinh vườn, bón phân (hữu cơ, hóa học và phân bón lá), xử lý ra đọt, xử lý ra hoa, phun hóa chất là một số thuốc trừ bệnh hóa học và thuốc trừ bệnh sinh học để phòng và trị bệnh ở các giai đoạn ra đọt, ra hoa và nuôi trái, tiến hành bao trái ở giai đoạn 35-45 ngày SKĐT và thu hoạch 15 trái/vườn mô hình ở giai đoạn 80-90 ngày SKĐT Kết quả thí nghiệm cho thấy tỷ lệ bệnh thán thư ở các mô hình luôn ở mức thấp hơn so với các thí nghiệm về bệnh trước đó, chiều hướng diễn biến bệnh là giảm và ở vườn mô hình sớm luôn có tỷ lệ bệnh thán thư thấp hơn hai vườn

mô hình muộn

Áp dụng mô hình PTTH bệnh thán thư không làm ảnh hưởng đến tỷ lệ ra hoa, chiều dài phát hoa, tỷ lệ hoa lưỡng tính, thành phần năng suất (trọng lượng trái, tỷ lệ vỏ, tỷ lệ hạt và tỷ lệ thịt trái) và phẩm chất trái (TSS, TA và hàm lượng Vitamin C) nhưng có tác động làm giảm tỷ lệ rụng trái non và gia tăng năng suất kg/cây

Trang 7

v

LỜI CẢM TẠ

Kính dâng!

Cha mẹ hết lòng chăm sóc, dạy dỗ con nên người, luôn lo lắng và hy sinh

cả cuộc đời vì con

Tỏ lời biết ơn sâu sắc đến

PGS TS Trần Văn Hâu đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm, góp ý và cho những lời khuyên hết sức bổ ích trong việc nghiên cứu và hoàn thành tốt luận văn này

Anh Nguyễn Chí Linh đã đóng góp những ý kiến xác thực và hết lòng giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Cô cố vấn học tập Bùi Thị Cẩm Hường đã quan tâm sâu sắc và dìu dắt lớp tôi hoàn thành tốt khóa học

Quý Thầy, Cô trường Đại học Cần Thơ, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng đã truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt những năm qua

Chân thành cảm ơn!

Gia đình bác Nguyễn Văn Hạnh và bác Trần Văn Đậm đã hỗ trợ tôi tiến hành những thí nghiệm một cách thuận lợi nhất Đồng cảm ơn đến các bạn: Đoàn Thị Thùy, Lưu Thị Thảo Trang, Danh Yến Nhi, Lê Thành Trung, Nguyễn Huỳnh Diễm Hương, Khưu Linh Thẳng, Trần Bá Đại, Lê Ly Ni, Nguyễn Kim Yến và Lê Minh Nhường đã tận tình giúp đỡ và động viên để tôi

có thể hoàn thành tốt luận văn này

Thân gửi về

Các bạn lớp Khoa Học Cây Trồng khóa 37 những lời cảm ơn Tất cả sẽ

có những kỷ niệm thời sinh viên không thể quên Chúc các bạn luôn khỏe mạnh, năng nổ và thành công trong tương lai

Nguyễn Việt Trung

Trang 8

vi

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây

Cần Thơ, ngày tháng năm

Tác giả luận văn

Nguyễn Việt Trung

Trang 9

vii

MỤC LỤC

TÓM LƯỢC iv

LỜI CẢM TẠ v

LỜI CAM ĐOAN vi

MỤC LỤC vii

DANH SÁCH HÌNH x

DANH SÁCH BẢNG xi

DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT xii

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

2.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Tiền Giang 2

2.1.1 Đặc điểm địa hình 2

2.1.2 Đặc điểm đất đai 2

2.1.3 Đặc điểm khí tượng, thủy văn 2

2.2 Nguồn gốc và tình hình sản xuất xoài cát Hòa Lộc 3

2.2.1 Nguồn gốc 3

2.2.2 Tình hình sản xuất 3

2.3 Đặc điểm giống xoài cát Hòa Lộc 3

2.4 Đặc điểm ra hoa và đậu trái xoài 4

2.4.1 Sự ra hoa 4

2.4.2 Đặc điểm phát hoa 5

2.4.3 Sự nở hoa 5

2.4.4 Sự đậu trái 6

2.4.5 Sự rụng trái 7

2.4.6 Sự sinh trưởng và phát triển trái 7

2.5 Canh tác xoài vụ muộn và vụ sớm 8

2.5.1 Vụ muộn 8

Trang 10

viii

2.5.2 Vụ sớm 9

2.6 Bệnh thán thư 9

2.6.1 Tác nhân 9

2.6.2 Phổ ký chủ 9

2.6.3 Đặc điểm hình thái của một số loài Collectotrichum spp 10

2.6.4 Sự xâm nhiễm của nấm Collectotrichum spp 10

2.6.5 Triệu chứng 11

2.6.6 Quản lý tổng hợp phòng trừ bệnh (IPM) 12

2.6.6.1 Biện pháp sinh học 12

2.6.6.2 Biện pháp canh tác 12

2.6.6.3 Biện pháp hóa học 14

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 15

3.1 Phương tiện 15

3.1.1 Thời gian và địa điểm 15

3.1.2 Đối chứng 15

3.1.3 Vật liệu và dụng cụ thí nghiệm 15

3.1.4 Số liệu khí tượng 15

3.2 Phương pháp 17

3.2.1 Quy trình thực hiện thí nghiệm 17

3.2.2 Quy trình chăm sóc (đối với vườn muộn 1) 19

3.2.3 Chỉ tiêu theo dõi 20

3.2.4 Phương pháp phân tích 22

3.2.5 Phương pháp xử lý số liệu 24

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25

4.1 Bệnh thán thư trên lá 25

4.2 Tỷ lệ ra hoa 28

4.3 Tỷ lệ đậu và rụng trái 29

4.4 Bệnh thán thư trên hoa 31

4.4.1 Đặc tính phát hoa 31

Trang 11

ix

4.4.2 Tỷ lệ nhiễm bệnh trên hoa 31

4.5 Bệnh thán thư trên trái 34

4.6 Năng suất và phẩm chất trái sau thu hoạch 35

4.6.1 Thành phần năng suất 35

4.6.1.1 Trọng lượng và năng suất 35

4.6.1.2 Tỷ lệ thành phần trái 36

4.6.2 Phẩm chất trái 36

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 38

5.1 Kết luận 38

5.2 Đề xuất 38

TÀI LIỆU THAM KHẢO 39

Trang 12

SKPT lần 1 (1 tháng tuổi đến khi lá trưởng thành) tại xã Hòa

Hưng, huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang, trong vụ muộn năm

4.2 Diễn biến tỷ lệ bệnh thán thư (%) trên lá xoài cát Hòa Lộc

SKPT lần 1 (1 tháng tuổi đến khi lá trưởng thành) tại xã Hòa

Hưng, huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang, trong vụ sớm năm 2013 27 4.3 Tỷ lệ ra hoa (%) xoài cát Hòa Lộc trong vụ muộn và vụ sớm

tại xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, năm 2013 28 4.4 Tỷ lệ đậu trái (%) trên cây xoài cát Hòa Lộc được khảo sát

trong vụ muộn và vụ sớm tại xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè,

4.5 Diễn biến tỷ lệ rụng trái (%) trên cây xoài cát Hòa Lộc giai

đoạn từ 10 ngày đến 30 ngày SKĐT được khảo sát trong vụ

muộn và vụ sớm tại xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền

4.6 Chiều dài phát hoa trung bình và tỷ lệ hoa lưỡng tính trung

bình (%) trên cây xoài cát Hòa Lộc trong vụ muộn và sớm tại

xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, năm 2013 31 4.7 Diễn biến tỷ lệ bệnh thán thư (%) trên hoa xoài cát Hòa Lộc từ

SKRH tại xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang, trong

4.8 Diễn biến tỷ lệ bệnh thán thư (%) trên hoa xoài cát Hòa Lộc từ

sau khi trổ tại xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang,

4.9 Diễn biến tỷ lệ bệnh thán thư (%) trên trái xoài cát Hòa Lộc từ

SKĐT đến giai đoạn trái 28 ngày tuổi tại xã Hòa Hưng, huyện

Cái Bè tỉnh Tiền Giang, trong vụ muộn và sớm năm 2013 34

Trang 13

xi

DANH SÁCH BẢNG

4.1 Trọng lượng và năng suất (kg/cây) trái xoài cát Hòa Lộc được

khảo sát trong vụ muộn và vụ sớm tại xã Hòa Hưng, huyện

4.2 Thành phần trọng lượng và tỷ lệ thành phần trái xoài cát Hòa

Lộc được khảo sát trong vụ muộn và vụ sớm tại xã Hòa Hưng,

huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, năm 2013 36 4.3 Thành phần phẩm chất trái xoài cát Hòa Lộc được khảo sát

trong vụ muộn và vụ sớm tại xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè,

Trang 14

xii

DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT

ĐBSCL Đồng bằng Sông Cửu Long

PTTH Phòng trừ tổng hợp

SKPT Sau khi phun thuốc

SKRH Sau khi ra hoa

SKĐT Sau khi đậu trái

TA Tổng acid

TSS Tổng số chất rắn hòa tan

Trang 15

1

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

Xoài (Mangifera indica L.) là loại trái cây nhiệt đới có giá trị kinh tế cao

Theo FAO (2010), cây xoài được canh tác rộng rãi trên 80 quốc gia thuộc vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới với sản lượng khoảng 30,7 triệu tấn trong năm

2010, chiếm 50% sản lượng cây ăn trái nhiệt đới Ở nước ta, tổng diện tích xoài khoảng 86.000 hecta và được trồng ở nhiều nơi trong cả nước nhưng tập trung chủ yếu trên ba vùng chính là: Duyên Hải miền Trung, Đông Nam Bộ và đặc biệt là ở ĐBSCL (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2003) với diện tích 41.116 hecta, chiếm 47,57% diện tích trồng xoài trong cả nước (Cục Trồng trọt, 2012) Các tỉnh trồng nhiều xoài gồm có Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ Trong đó xoài cát Hòa Lộc có giá trị kinh tế cao nhất, trong những năm gần đây xoài cát Hòa Lộc đem lại giá trị kinh tế cao cho bà con ở tỉnh Đồng Tháp

và Tiền Giang Tại Tiền Giang, xoài cát Hoà Lộc được trồng nhiều ở huyện Cái Bè với khoảng hơn 1.000 hecta, sản lượng hàng năm khoảng 15.000 tấn, tập trung ở 13 xã gồm: Hoà Hưng, An Hữu, An Thái Trung, Tân Hưng, Tân Thanh, Mỹ Lương, An Thái Đông, Mỹ Đức Tây, Mỹ Đức Đông, Thiện Trí, Hòa Khánh, Hậu Thành và Đông Hoà Hiệp (Niên giám Nông nghiệp, 2009) Trước những ưu thế trên, tỉnh Tiền Giang không ngừng tìm ra những hướng mới nhằm giúp gia tăng năng suất và chất lượng của trái xoài cát Hòa Lộc Mặc dù vậy, việc phát triển cây xoài cát Hòa Lộc cũng gặp không ít khó khăn, nhất là bệnh hại Trong đó, đặc biệt quan trọng là bệnh thán thư

Trước tình hình trên việc tìm ra những phương pháp để phòng và trị loại

bệnh nguy hiểm này là rất cấp thiết Vì vậy tôi thực hiện đề tài “Áp dụng các

biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh thán thư (Collectotrichum spp.) trên cây xoài cát Hòa Lộc (Mangifera indica L.) tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền

Giang” nhằm mục tiêu mô tả kết quả khảo sát mô hình áp dụng quy trình

phòng trừ tổng hợp để quản lý bệnh thán thư trên cây xoài cát Hòa Lộc

Trang 16

2

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA TỈNH TIỀN GIANG

2.1.1 Đặc điểm địa hình

Tỉnh Tiền Giang có địa hình bằng phẳng, với độ dốc < 1% và cao trình biến thiên từ 0-1,6 m so với mặt nước biển, phổ biến từ 0,8-1,1 m Nhìn chung, do đặc điểm bề mặt nền đất là phù sa mới, giàu bùn sét và hữu cơ (trừ các giồng cát) nên về mặt địa hình cao trình tương đối thấp Toàn vùng không

có hướng dốc rõ ràng, tuy nhiên có những khu vực địa hình thấp trũng hay gò cao hơn so với địa hình chung Cái Bè là một huyện nằm ở phía Tây tỉnh Tiền Giang1

2.1.2 Đặc điểm đất đai

Theo các chương trình điều tra thổ nhưỡng, Tiền Giang có các 4 nhóm đất chính: Nhóm đất phù sa (55,49%), nhóm đất mặn (14,6%), nhóm đất phèn (19,4%) và nhóm đất cát giồng (3%) Do đất đai của tỉnh phần lớn là nhóm đất phù sa, thuận lợi nguồn nước ngọt, từ lâu đã được đưa vào khai thác sử dụng, hình thành vùng lúa năng suất cao và vườn cây ăn trái chuyên canh của tỉnh1

2.1.3 Đặc điểm khí tượng, thủy văn

Tỉnh Tiền Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm thuộc vùng ĐBSCL với đặc điểm: Nền nhiệt cao và ổn định quanh năm Khí hậu phân hóa thành hai mùa tương phản rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng

11 trùng với mùa gió Tây Nam, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 trùng với mùa gió Đông Bắc Nhiệt độ trung bình trong năm là 26,9oC Tổng tích ôn năm cao (khoảng 9.700-9.800o

C) Lượng mưa trung bình năm là 1450 mm, độ

ẩm không khí trung bình là 83%, tổng số giờ nắng một năm trung bình là 2330,8 giờ và bốc hơi là 1101,1 mm Về gió, Tiền Giang chịu ảnh hưởng của

2 loại gió mùa chính: Gió mùa Tây Nam (tháng 5-10) và gió mùa Đông Bắc (tháng 11-4) Về thủy văn, địa bàn tỉnh Tiền Giang chia làm 3 vùng: Đồng Tháp Mười, hàng năm đều bị ngập lũ và nước bị chua phèn (từ đầu đến giữa mùa mưa), thời gian ngập lũ khoảng 3 tháng (tháng 9-11), độ sâu ngập biến thiên từ 0,4-1,8 m; vùng ngọt giữa Đồng Tháp Mười và Gò Công, địa bàn chịu ảnh hưởng lũ lụt nhẹ theo con triều, chất lượng nước tốt, nhiều khả năng tưới tiêu; Gò Công, chịu ảnh hưởng trực tiếp vào chế độ bán nhật triều biển Đông,

Trang 17

Xoài có tên khoa học là Mangifera indica L., thuộc họ Anacardiacae (họ

đào lộn hột) Xoài cát Hòa Lộc xuất xứ từ ấp Hòa Lộc, xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang vào khoảng năm 1930 Đây là một đặc sản của vùng nên được dùng để tế lễ hội đình thần, làm quà biếu nơi sang trọng Thời đó, giống xoài này đã được đưa đi đấu xảo giống cây trồng vật nuôi tốt tại hội chợ nông nghiệp và được cấp bằng là cây quý hiếm Dần dần, giống xoài này đã được nhân giống rộng rãi bằng phương pháp ghép hoặc trồng bằng hạt và lan

truyền cho đến nay (Trần Thế Tục và ctv., 1998)

2.2.2 Tình hình sản xuất

Xoài cát Hoà Lộc là một trong những giống xoài nổi tiếng ở ĐBSCL và

là một trong những loại trái được ưa chuộng bởi màu sắc hấp dẫn, mùi vị thơm ngon và có giá trị dinh dưỡng cao

Riêng tại Tiền Giang, xoài cát Hòa Lộc được trồng nhiều ở huyện Cái Bè với khoảng hơn một ngàn ha, sản lượng hàng năm khoảng 15.000 tấn, tập trung ở 13 xã gồm Hòa Hưng, An Hữu, An Thái Trung, Tân Hưng, Tân Thanh, Mỹ Lương, An Thái Đông, Mỹ Đức Tây, Mỹ Đức Đông, Thiện Trí, Hòa Khánh, Hậu Thành và Đông Hòa Hiệp Ngoài ra, nó còn được trồng rải

rác ở các huyện khác (Nguyễn Văn Luật và ctv., 2004)

2.3 ĐẶC ĐIỂM GIỐNG XOÀI CÁT HÒA LỘC

Xoài cát Hòa Lộc có các đặc điểm như: Lá hình thuôn dài, đuôi lá nhọn, mép lá hình gợn sóng Trái to (450-600 g) dạng thuôn dài, phần gần cuống phình to, bề mặt vỏ trái có nhiều chấm tròn nhỏ màu nâu đen, đầu trái nhọn, eo trái lõm vào Xoài cát Hòa Lộc chín có vỏ màu vàng tươi, vỏ trái mỏng, chất lượng trái rất ngon, thịt mịn, chắc (1,2-1,4 kg/cm2) rất ngọt, độ Brix 20-22%,

có mùi thơm vị ngọt, không xơ, hạt dẹp Theo Nguyễn Thành Tài (2008), tỷ lệ thịt trái của xoài cát Hòa Lộc là rất cao, chiếm khoảng 80%; trái có tỉ trọng lúc thu hoạch 1,02 cho phẩm chất trái ngon nhất, tương ứng với acid có thể trung hòa, hàm lượng đường, chất khô và tổng chất rắn hòa tan đạt cao nhất với giá trị lần lượt là 0,24, 11,28, 22,71 và 22,20% Ngược lại, những trái có tỉ trọng lớn hơn 1,02 có phẩm chất kém hơn do axit có thể trung hòa gia tăng Kết quả thí nghiệm của Trần Thế Tục và Nguyễn Thị Thuận (1997) cũng cho biết tỷ lệ

1 Trang thông tin điện tử tỉnh Tiền Giang, 2014

Trang 18

4

thịt trái xoài cát Hòa Lộc là khoảng 77% trọng lượng trái Vitamin C trong trái còn xanh nhiều hơn đáng kể so với trái chín mặc dù trái chín hàm lượng Vitamin C khá cao (Baker, 1984; trích dẫn bởi Nguyễn Thành Tài, 2008) Qua kết quả điều tra các giống xoài ở huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, Trần Văn Hâu (1997) cho biết xoài cát Hòa Lộc được ghi nhận là giống xoài khó ra hoa nhất và ra hoa không tập trung dẫn đến số lượng trái trên cây ít và không đồng đều Dù vậy, diện tích trồng những giống cây này tăng rất nhanh do phẩm chất vượt trội của nó

2.4 ĐẶC ĐIỂM RA HOA VÀ ĐẬU TRÁI XOÀI

2.4.1 Sự ra hoa

Xoài là loại cây ăn trái chỉ ra hoa trên chồi tận ngọn đã được hình thành trước đó khoảng bốn tháng (Trần Văn Hâu, 2005) Trong điều kiện tự nhiên ở ĐBSCL, cây xoài thường ra hoa tự nhiên vào tháng 12-1 và thu hoạch tập trung từ tháng 4-5 (Trần Văn Hâu, 1997) Cây xoài thường ra hoa sau những đợt lạnh hay nhiệt độ xuống thấp Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy nhiệt độ vào ban đêm dưới 20oC là giới hạn cần thiết cho sự ra hoa của cây xoài (Whiley, 1993) trong đó ra đọt là yếu tố quyết định khả năng ra hoa của cây xoài Sự ra đọt phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: môi trường, tuổi cây, khả

năng mang trái của năm trước đó (Nakasone và ctv., 1955) Xoài ra đọt non

thường sau các đợt bị “stress” như: nhiệt độ thấp, ngập úng hoặc dùng các hóa chất kích thích (Trần Văn Hâu, 2005) Cây xoài còn tơ (chưa mang trái) có thể

ra 5-6 cơi đọt trong một năm nhưng xoài trưởng thành chỉ ra một đợt đọt trong năm thậm chí không có khả năng ra đọt nếu cây sinh trưởng kém Theo Bugante (1995) quá trình ra hoa trải qua chín giai đoạn: (1) Giai đoạn ra đọt, (2) giai đoạn tích lũy chất dinh dưỡng, (3) giai đoạn phát triển rễ, (4) giai đoạn nghỉ ngắn, (5) giai đoạn đủ khả năng ra hoa, (6) giai đoạn bắt đầu tượng hoa, (7) giai đoạn miên trạng, (8) giai đoạn quyết định sự ra hoa và (9) giai đoạn trổ hoa Do đặc tính ra hoa trên chồi tận ngọn nên cây xoài không có khả năng ra đọt trên chồi đang mang trái và làm cho cây xoài không phát triển được tán cây trong giai đoạn mang trái và gây ra tình trạng ra trái cách năm (Cull, 1991) Theo Bondad (1980) cây xoài ra hoa theo mùa và ra trái cách năm mà nguyên nhân là do đặc tính sinh trưởng của cây xoài Sự ra hoa xoài tùy thuộc vào giống và phương pháp nhân giống Trong đó yếu tố giống là yếu tố quan trọng ảnh hưởng lên sự ra hoa của cây xoài Theo Trần Văn Hâu (1997) xoài cát Hòa Lộc là giống xoài rất khó kích thích ra hoa và ra hoa không tập trung

trong khi các giống xoài Thanh Ca, xoài Hòn (Battambang), xoài Bưởi, xoài

cát Chu là những giống dễ ra hoa

Trang 19

5

2.4.2 Đặc điểm phát hoa

Cây xoài ra hoa trên chồi tận ngọn, trên mỗi phát hoa đều mang hai loại hoa là: hoa đực và hoa lưỡng tính Mỗi phát hoa dài từ 10-60 cm, mang nhiều nhánh, trên một phát hoa có rất nhiều hoa và số lượng hoa trên phát hoa biến động rất lớn từ 200-4.000 hoa (Trần Thế Tục, 1998) Mỗi hoa mang từ 0-2 bao phấn hữu thụ và 0-6 bao phấn bất thụ, tỷ lệ hoa lưỡng tính thay đổi tùy theo giống và điều kiện thời tiết Kết quả khảo sát xoài: cát Hòa Lộc, Nam Dok Mai, Thanh Ca và Thơm của Đặng Thanh Hải (2000) cho thấy xoài cát Hòa Lộc có tỷ lệ hoa lưỡng tính cao nhất là 71% và thấp nhất là 19% đối với giống

xoài thơm Theo Trần Thượng Tuấn và ctv (1997) thì hoa lưỡng tính của xoài

thường nằm ở ngọn phát hoa và đầu các gié chính, khi nở, các hoa xoài có đường kính khoảng 5-8 mm đồng thời tiết ra mật thơm để quyến rũ côn trùng

đến thụ phấn Trần Văn Hâu và ctv (2013) cho biết hoa lưỡng tính nở tập

trung trước hoa đực và phát hoa càng dài thì tỷ lệ hoa lưỡng tính càng cao

2.4.3 Sự nở hoa

Khảo sát đặc điểm ra hoa và đậu trái của bốn giống xoài cát Hòa Lộc, Thanh Ca, Thơm và Nam Dok Mai (Đặng Thanh Hải, 2000) nhận thấy phát hoa dài trung bình từ 23 cm (Nam Dok Mai) đến 55,2 cm (cát Hòa Lộc), mang

từ 2.658-38.216 hoa/phát hoa Có sự lệch pha giữa thời gian nhận phấn của hoa lưỡng tính và tung phấn của hoa đực Hoa lưỡng tính nhận phấn từ 6 giờ

30 đến 9 giờ trong khi hoa đực tung phấn từ 8 giờ 45 đến 11 giờ Đây có lẽ là nguyên nhân gây ra sự đậu trái thấp

Cây xoài thường ra hoa sau những đợt lạnh hay nhiệt độ xuống thấp Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy nhiệt độ vào ban đêm dưới 20oC là giới hạn cần thiết cho sự ra hoa của cây xoài (Whiley, 1993) trong đó ra đọt là yếu

tố quyết định khả năng ra hoa của cây xoài Sự ra đọt phụ thuộc vào nhiều yếu

tố như: môi trường, tuổi cây, khả năng mang trái của năm trước đó (Nakasone

và ctv., 1955) Số hoa sản xuất tỷ lệ với sự khắc nghiệt của nhiệt độ thấp hoặc

khô hạn, nhiệt độ thấp hay sự khô hạn càng khắc nghiệt thì khả năng ra hoa càng cao (Trần Văn Hâu, 2005) Do nhiệt độ thấp có tác dụng phá vỡ miên

trạng và thúc đẩy sự ra hoa (Nunez-Eliseas và ctv., 1993; trích dẫn bởi Trần

Văn Hâu, 2005) Tuy nhiên, thời điểm phân hóa mầm hoa bị ảnh hưởng bởi điều kiện thời tiết của từng vùng Thời gian nở hoa của xoài biến động lớn tùy thuộc vào giống và các vùng khí hậu khác nhau và có liên quan chặt chẽ với

quá trình phân hóa mầm hoa (Phạm Thị Hương và ctv., 2003) Ở Cái Bè, Tiền

Giang, mưa vào những ngày cuối tháng 7 liên tục làm nhiệt độ xuống thấp (26,2oC) tạo điều kiện cho sự ra hoa (Nguyễn Thị Kim Xuyến, 2008) Xoài là

Trang 20

6

cây thụ phấn chéo, chủ yếu nhờ côn trùng như: ruồi, ong mật nên tuyệt đối không phun các loại thuốc trừ bệnh, phân bón trong giai đoạn hoa nở để không làm ảnh hưởng đến quá trình thụ phấn của hoa (Trần Văn Hâu, 2005) Đặc điểm nở hoa trên phát hoa, theo kết quả quan sát thì người ta thấy xoài không

nở theo một trật tự nhất định nào nhưng những hoa nằm gần chồi thường nở trước hơn so với những hoa nằm tận cùng của phát hoa Hoa xoài thường bắt đầu nở rất lâu trước khi chùm hoa đạt được sự phát dục đầy đủ (Phạm Thị

Hương và ctv., 2003) Hoa xoài thường nở vào lúc sáng sớm đến giữa trưa thì

hoàn thành Tuy nhiên, theo một số tác giả lại cho rằng hoa xoài bắt đầu nở vào ban đêm và kết thúc vào sáng hôm sau (Winton, 1992)

2.4.4 Sự đậu trái

Sự đậu trái trên cây xoài có thể phân biệt được bằng mắt thường sau 36 giờ Ở ngày đầu tiên SKĐT, “trứng cá” có màu vàng xanh sau chuyển sang màu xanh nhạt và đến ngày thứ bảy thì chuyển hẳn sang màu xanh Sự đậu trái

là yếu tố sau cùng quyết định đến năng suất sau này của cây xoài Thực tế trên cây xoài có rất nhiều hoa lưỡng tính nhưng tỷ lệ đậu trái rất thấp, tùy theo giống và điều kiện thời tiết Kết quả khảo sát đối với bốn giống xoài (cát Hòa Lộc, Nam Dok Mai, Thanh Ca, Thơm) thì tỷ lệ đậu trái cao nhất là giống xoài Nam Dok Mai (1,3%) và thấp nhất là giống xoài cát Hòa Lộc (0%) (Đặng Thanh Hải, 2000) Do có sự lệch pha giữa thời gian nhận phấn của hoa lưỡng tính và thời gian tung phấn của hoa đực nên làm cho cây xoài thường đậu trái thấp Tỷ lệ đậu trái tùy theo giống, mỗi giống đều có thời gian tung phấn và nhận phấn khác nhau nhưng giống nào có sự lệch pha giữa thời gian tung phấn

và nhận phấn càng nhỏ thì tỷ lệ đậu trái càng cao và ngược lại Ngoài ra nguyên nhân có thể là do một số lượng lớn hoa lưỡng tính không được thụ phấn, hoặc hạt phấn không có khả năng nảy mầm trên vòi nhụy, hoặc do sự xuất hiện của các loại hoa dị hình, hiện tượng tự bất thụ Theo Sharma & Singh (1968; trích dẫn bởi Trần Thị Bé Hồng, 2001) cho rằng xoài bắt đầu đậu trái khi trái có kích thước bằng hòn bi và khi đó phần lớn trái mới bắt đầu tồn tại trên cây, còn bầu nhụy của những hoa không được thụ phấn hay thụ phấn không đầy đủ vẫn tăng trưởng về kích thước nhưng chỉ tồn tại trên cây đến

ngày thứ 13 sau khi hoa nở Singh và Agrez (2002) cho rằng ethylene có vai

trò quan trọng trong sự đậu trái xoài, từ kết quả thí nghiệm cho thấy phun cobalt sulphate (CoSO4) ở nồng độ 200 ppm ở giai đoạn phát hoa phát triển hoàn toàn, trước khi hoa nở có hiệu quả làm cải thiện sự đậu trái, số trái trên cây và năng suất của cây xoài

Trang 21

nhiều nguyên nhân khác Theo Shawky và ctv (1977) thì hầu hết những trái

xoài “đậu” nằm ở phần cuối của phát hoa Scholefiel và Oag (1984) chia phát hoa thành hai phần, phần cuối của phát hoa ước tính có khoảng 169 hoa lưỡng tính nhưng cũng chỉ cho thu hoạch một trái khi thu hoạch, phần cuống của phát hoa có 592 hoa lưỡng tính cũng chỉ cho thu hoạch một trái Số trái còn giữ lại tới khi thu hoạch nhiều hay ít tùy thuộc vào giống và điều kiện khí hậu trong giai đoạn nở hoa và mang trái

2.4.6 Sự sinh trưởng và phát triển trái

Sự phát triển của trái xoài chủ yếu do sự phân cắt tế bào và tiếp theo là sự phát triển của tế bào Trái được hình thành khi đã được thụ phấn hoàn toàn, thời gian từ khi trổ hoa đến khi thu hoạch dài hay ngắn tùy theo giống và điều kiện thời tiết, giống sớm khoảng 2-2,5 tháng, giống muộn từ 3,5-4 tháng Trong thời gian đầu phát triển, trái sẽ phát triển mạnh theo chiều dài trước, khi trái đạt chiều dài tối đa thì sẽ phát triển mạnh theo chiều ngang và đường kính trái (Nguyễn Bảo Vệ và Bùi Thị Cẩm Hường, 2004) Do đặc tính này nên giai đoạn sau nếu trái bị thiếu dinh dưỡng hay gặp điều kiện bất lợi, trái sẽ phát triển không bình thường và có dạng tròn nhiều hơn Nhiệt độ là yếu tố quan

Trang 22

8

trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của trái xoài, nếu nhiệt độ cao trái sẽ phát triển nhanh hơn ngược lại nhiệt độ thấp kéo dài sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển của trái (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011) Sự phát triển chung của trái xoài được chia thành các mốc thời gian như sau: chậm trong 21 ngày đầu, phát triển nhanh từ ngày thứ 21 đến ngày thứ 64 và sau đó phát triển chậm cho đến khi trái chín Theo Trần Văn Hâu (2008) thì trên giống xoài cát Hòa Lộc, sự phát triển trái được chia thành bốn giai đoạn:

- Giai đoạn 28 ngày SKĐT, trái phát triển chậm do sự phân chia tế bào SKĐT, giai đoạn này có ý nghĩa quyết định kích thước trái khi trái trưởng thành Sự thiếu dinh dưỡng trong giai đoạn này có thể gây ra hiện tượng rụng trái non hoặc ảnh hưởng đến kích thước trái sau này

- Giai đoạn 28 đến 56 ngày SKĐT là giai đoạn trái phát triển nhanh do

sự tăng trưởng của tế bào, trái tăng trưởng rất nhanh và đạt đến kích thước tối đa

- Giai đoạn 56-77 ngày là giai đoạn trái trưởng thành

- Giai đoạn 78 ngày trở về sau là giai đoạn tăng trọng lượng do tích lũy chất khô Đây là giai đoạn quyết định đến phẩm chất trái, trái sẽ trưởng thành hoàn toàn không tăng trọng kích thước nữa và dần dần đi vào quá trình chín

2.5 CANH TÁC XOÀI VỤ MUỘN VÀ VỤ SỚM

2.5.1 Vụ muộn

Theo Trần Văn Hâu và ctv (2013), nông dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng

Tháp canh tác vụ muộn thời gian ra hoa từ tháng 3-4 thu hoạch vào tháng 7-8 Trở ngại trong vụ này là có mưa xuất hiện và độ ẩm cao khiến bệnh thán thư tấn công mạnh, trong giai đoạn này cây sinh trưởng tốt, nhưng nếu cây sinh trưởng quá mạnh, lá xanh tốt sẽ không ra hoa, vì vậy trong vụ mùa này tỷ lệ ra hoa sẽ không cao Kết quả của Nguyễn Anh Tuấn (2014) cho rằng vụ muộn ở huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang ra hoa vào tháng 5-6 và thu hoạch vào tháng 8-

10 Tỷ lệ ra hoa đạt trong vụ này đạt 63,83%, tỷ lệ hoa lưỡng tính là 60,36%;

tỷ lệ bệnh thán thư trên phát hoa là khá cao từ 43-50% và tỷ lệ bệnh thán thư trên trái là 37,6-38,4% Trọng lượng trái trong mùa vụ này là 413,9 g và năng suất chỉ khoảng 12,98 kg/cây Năng suất thu hoạch biến động rất lớn phụ thuộc vào hiệu quả của biện pháp ra hoa và quản lí sâu bệnh, có khi thất thu

hoàn toàn hay trái bị bệnh xì mủ không bán được (Trần Văn Hâu và ctv.,

2013)

Trang 23

9

2.5.2 Vụ sớm

Vụ sớm ở huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp ra hoa (trong mùa mưa) vào

tháng 6-7 thu hoạch vào tháng 10-11 (Trần Văn Hâu và ctv., 2013) Nguyễn

Anh Tuấn (2014) cho rằng ở huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang vụ sớm ra hoa vào tháng 10-12 và thu hoạch vào tháng 2-4 năm sau Trở ngại ở vụ mùa sớm là nhiệt độ cao liên tục làm tỷ lệ ra hoa thấp (60,14%), kèm theo đó là sự tấn công gây hại của bù lạch do đây là thời điểm khô và nóng trong năm Tỷ lệ bệnh thán thư trên lá trong mùa vụ này là rất thấp, chỉ khoảng 1,0-8,3%; trong khi tỷ lệ bệnh trên trái là 0-3,2% Trọng lượng trái trong mùa vụ này là 367,4

g và năng suất đạt 13,26 kg/cây Phan Thanh Trúc (2009) cho biết sự phát triển của trái rất nhanh và chúng cần cung cấp đầy đủ dinh dưỡng thế nên khi năng suất quá cao sẽ không có khả năng nuôi trái tốt, làm ảnh hưởng đến trọng lượng trái

2.6 BỆNH THÁN THƯ

Năm 1981, bệnh thán thư được Halsted báo cáo lần đầu tiên tại New Jersey, Hoa Kỳ (Nguyễn Hoàng Nguyên, 2013) Bệnh thán thư trên xoài do

nấm Collectotrichum gloeosporioides gây nên, là đối tượng gây hại quan trọng

trong mùa mưa, do nấm gây hại hầu hết các giai đoạn sinh trưởng của cây như gây hại lá khi kích thích ra đọt, gây hại hoa, trái non, trái trưởng thành và khi

thu hoạch (Trần Văn Hâu và ctv., 2013)

2.6.1 Tác nhân

Bệnh thán thư gây bởi một số loài Collectotrichum spp Nấm Collectotrichum thuộc lớp nấm bất toàn (Deuteromyces), bộ nấm đĩa đài

(Melanconiales) (Agrios, 2005)

Một số ghi nhận ban đầu cho rằng bệnh thán thư gây bởi nấm

Collectotrichum capsici (Sharma, 2006) Nhưng hiện nay, bệnh đã được xác định rõ là do nhiều loài nấm Collectotrichum spp gây ra

Theo Kim (2004) có bốn loài Collectotrichum spp gây hại phổ biến gồm Collectotrichum coccodes, Collectotrichum gloeosporioides và Collectotrichum capsici và Collectotrichum acutatum gây hại ở tất cả các giai đoạn; Collectotrichum coccodes ít độc và thường phổ biến ở vùng ôn đới; Collectotrichum capsici gây hại chủ yếu trên trái chín

2.6.2 Phổ ký chủ

Theo Agrios (2005) và Vũ Triệu Mân (2007), nấm Collectotrichum spp

là chi nấm gây hại phổ biến trên thế giới trên nhiều ký chủ như: xoài, họ cà,

Trang 24

10

chuối, dưa bầu bí, Bệnh có thể lan truyền qua hạt, xác bã thực vật, bệnh sẽ phát triển nặng nếu liên tục trồng các cây cùng họ (AVRDC, 2004)

2.6.3 Đặc điểm hình thái của một số loài Collectotrichum spp

Loài Collectotrichum capsici: Sợi nấm phân nhánh, có vách ngăn Đĩa

đài có dạng bán cầu với nhiều gai cứng màu đen (Sharma, 2006) Bào tử đơn, không màu, có dạng hình liềm hơi cong, khuẩn lạc có màu từ trắng đến xám

(Sharma và ctv., 2005; Than và ctv., 2008) Trong khi loài Collectotrichum coccodes, theo Sutton (1980) bào tử có dạng trụ, đĩa áp có dạng hình trứng,

màu nâu sẫm, có gai cứng, hạch nấm màu xám trên môi trường PDA Loài

Collectotrichum gloeosprorioides, bào tử không màu, hình trụ, khối bào tử màu cam, khuẩn lạc màu xám nhạt đến đen (Than và ctv., 2008) Đĩa có hoặc không có gai cứng Và loài Collectotrichum acutatum, sợi nấm màu trắng,

màu xám nhạt hoặc màu cam, mỏng manh và không có gai cứng

2.6.4 Sự xâm nhiễm của nấm Collectotrichum spp

Sự xâm nhiễm và gây bệnh của nấm trải qua bảy giai đoạn (Jeffries và

ctv., 1990; Prusky và ctv., 2000):

(1) Bào tử phát triển bề ngoài vết bệnh

(2) Lây lan và bám trên bề mặt ký chủ

(3) Bào tử nảy mầm

(4) Hình thành đĩa áp

(5) Xâm nhiễm qua lớp biểu bì cây

(6) Phát triển và lây lan ra các vùng xung quanh

(7) Tạo nhiều ổ nấm và bào tử

Bào tử nấm sử dụng tín hiệu hóa học hoặc tín hiệu vật lý từ trên bề mặt

ký chủ để nảy mầm và phân hóa đĩa áp (Bailey và ctv., 1992) Theo Perfect và ctv (1999), đĩa áp là bộ phận quan trọng và cần thiết cho sự xâm nhiễm này

Khi đã vào trong tế bào chủ, những sợi nấm phá vỡ lớp cutin, vách tế bào biểu

bì và thành lập nên sợi nấm ký sinh bắt buộc (Bailey và ctv., 1992) Nấm hình

thành đĩa áp bên trên chỗ nối giữa tế bào biểu bì khác nhau, những chỗ này chính là điểm yếu trong lớp biểu bì bên ngoài Vì thế, sự hình thành đĩa áp gần những vùng này có lẽ là thuận lợi cho sự xâm nhiễm vào tế bảo chủ (Phạm Thị Ngọc Thu, 2010) Theo Lê Ngọc Bình và Huỳnh Văn Thành (2001), bệnh phát triển tỷ lệ thuận với lượng mưa và ẩm độ của không khí, theo một luật hàng năm, mạnh về mừa mưa và giảm dần đến mùa khô Hoàng Hữu Cơ và Mai Văn Trị (2003) cũng cho biết tỷ lệ bệnh và chỉ số bệnh thán thư có quan hệ

mật thiết với lượng mưa và ẩm độ Nấm Collectotrichum gloeosporioides đòi

hỏi độ ẩm trên 95% cho sự nẩy mầm bào tử, tuy nhiên bào tử có thể tồn tại

Trang 25

11

được trong điều kiện 62% và sau đó có thể nẩy mầm khi độ ẩm lên đến 100%

Do kích thước nhỏ nên bào tử của chúng phát tán chủ yếu nhờ gió và dòng nước, tàn dư thực vật, bào tử nấm nảy mầm và trôi theo dòng nước mưa hoặc hạt sương làm bệnh phát triển mạnh và lan rộng (Vỏ Thanh Hoàng và Nguyễn

Thị Nghiêm, 1993)

2.6.5 Triệu chứng

Theo Huỳnh Kim Ngọc (2014), nấm chủ yếu gây hại chính trên các phần non của cây như chồi, lá, cành non vào giai đoạn ra lá, trên bông và trái vào giai đoạn ra bông, tạo trái Do thích ẩm, lây lan nhanh nhờ nước nên nấm phát triển rất nhanh khi trời nóng ẩm nhất là sau khi mưa hoặc trời lạnh, sáng có nhiều sương Các bộ phận của cây bị bệnh rơi xuống đất là nguồn lây nhiễm khi gặp điều kiện thích hợp

Trên lá, nhất là lá non, khởi đầu xuất hiện các đốm nhỏ, sau lớn dần có dạng tròn hay góc cạnh, tâm xám nâu, rìa vàng nhạt Trên lá già, vết bệnh khô

và rách ngay giữa, nếu nhiễm nặng, khoảng 3-5 ngày sau khi nhiễm bệnh, các đốm bệnh liên kết lại thành từng mảng lớn làm lá nhăn, vặn xoắn, khô, rách và rụng Trên cành non bị bệnh, xuất hiện các đốm bệnh không đều, nếu nhiễm nặng, các đốm liên kết lại bao quanh cành non gây chết đọt

Trên bông, nấm có thể lây nhiễm trên mầm, cuống và cả chùm bông Nếu được phát triển mạnh bệnh sẽ làm hoa, cành hoa bị thối đen, khô héo và chết Trái xoài có thể bị nhiễm bệnh từ khi bắt đầu tạo trái cho đến khi chín, nếu bệnh xảy ra ngay giai đoạn tạo trái có thể khiến trái rụng Triệu chứng bệnh điển hình là trên da trái lúc đầu xuất hiện các đốm tròn, đen, lõm rồi lớn dần có vân đồng tâm Hình dạng và kích thước đốm bệnh thay đổi Nếu mưa nhiều, bào tử theo nước tập trung ở chóp trái làm chóp bị thối hoặc có sọc đen

từ chóp đến cuống, phần thịt trái bên dưới các đốm trở nên cứng, thối nhanh khi chín, trái bị bệnh mất giá đôi khi phải loại bỏ Trên trái già, bào tử nấm xâm nhập qua sẹo cuống rồi ăn sâu vào phần thịt trái bên trong Trong điều kiện ẩm, trên vết bệnh ta thấy có bào tử màu hồng Nếu bệnh phát triển nặng hơn có thể gây rụng trái hàng loạt Nguyễn Khê (2008) cũng cho biết, theo điều tra của nhiều nhà vườn ở Nha Trang thì thiệt hại do bệnh thán thư thường lớn hơn ở những giống xoài có lá đài to và dài Ngược lại, kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Rau quả chỉ ra rằng trong số các giống xoài đang được trồng phổ biến ở miền Bắc thì giống GL2 mẫn cảm với bệnh thán thư hơn giống GL1 và GL6 Nhiệt độ và ẩm độ là hai trong những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến diễn biến của bệnh thán thư trên cây xoài Trong tháng 4 ẩm độ cao

Trang 26

12

(trên 80%), trời ấm (nhiệt độ 25-26oC) nấm bệnh phát triển mạnh, biểu hiện tỷ

lệ và chỉ số bệnh tăng cao

2.6.6 Quản lý tổng hợp phòng trừ bệnh (IPM)

Theo Võ Văn Á và ctv (1998) để việc áp dụng IPM trên cây trồng hiệu

quả cần những yêu cầu sau:

- Trồng cây khỏe

- Bảo vệ thiên địch

- Thăm đồng thường xuyên

- Nông dân trở thành chuyên gia

Sử dụng biện pháp tổng hợp để quản lý dịch hại trên cơ sở sinh thái học

sẽ làm tăng năng suất, cải thiện phẩm chất, bảo vệ sinh thái, giảm độc hại do

sử dụng thuốc quá đáng và giảm chi phí đầu tư Quản lý dịch hại tổng hợp bằng cách tăng cường biện pháp sinh học và các biện pháp kỹ thuật chỉ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật khi thật cần thiết, sử dụng đúng và có hiệu quả

2.6.6.1 Biện pháp sinh học

Theo Nguyễn Khê (2008), có thể sử dụng thuốc có hoạt chất Azoxystrobin như Amistar 250 SC, Amistar Top 325 SC hoặc một số chế phẩm sinh học khác để phòng trị bệnh thán thư trên xoài Kết quả nghiên cứu ứng dụng chitosan (carbohydrate tự nhiên biến đổi từ chitin) để ức chế nấm

Collectotrichum gloeosporioides cho thấy chitosan có khả năng ức chế nấm trên trái đã gây nhiễm nhân tạo (Lê Nguyễn Đoan Duy và ctv., 2014) với nồng

độ tối ưu của chitosan là 1%, môi trường PDA và pH 5, nồng độ này có khả năng ức chế sự phát triển của nấm bệnh trực tiếp trên trái xoài theo 2 phương pháp xử lý khác nhau là gây nhiễm bằng huyền phù bào tử nấm trước, sau đó mới xử lý và xử lý trước sau đó lây nhiễm bằng dung dịch huyền phù bào tử

2.6.6.2 Biện pháp canh tác

a) Cải thiện môi trường nơi trồng

Tránh để vườn bị úng, hạn cây sinh trưởng yếu sẽ bị nhiễm bệnh Tránh

để vườn ẩm quá nấm bệnh sẽ phát triển nhanh Tránh trồng dày đặc, cây xen quá nhiều sẽ tạo độ ẩm cao, làm nấm phát triển mạnh Hãy chú trọng bón vôi, tro,… nhất là trên đất có pH thấp, để nâng cao pH Mỗi loại cây trồng cần một

pH thích hợp khác nhau, như: nấm gây bệnh héo rụi Panama trên cây chuối phát triển mạnh ở pH thấp Tưới nước đầy đủ và đúng phương pháp sẽ làm cây sinh trưởng tốt hơn, giảm sâu bệnh đáng kể

Trang 27

13

b) Tỉa cành tạo tán

Theo Huỳnh Kim Ngọc (2014), tỉa cành để vườn thông thoáng, ánh nắng

có thể xâm nhập vào bên trong tán cây, ngoài ra tỉa cành còn giúp khống chế chiều cao cây, thuận lợi cho việc chăm sóc, thu hoạch Nguyễn Anh Minh (2009) cũng cho biết, cần tạo tán thoáng để ánh sáng có thể lọt vào bên trong tán Công việc tạo tán cần làm ngay từ đầu và theo dõi sửa cành hàng năm Ở các vườn thiếu ánh sáng không những bệnh phát triển (như bệnh đốm rong,…)

mà nhiều loài sâu đục cành cũng sẽ phát triển vì dạng trưởng thành ưa tìm chỗ râm mát để đẻ trứng

c) Chọn mật độ thích hợp

Mật độ tối ưu sẽ làm năng suất cao Trồng thưa quá cỏ dại phát sinh nhiều Trồng dày quá năng suất giảm, trái bé, sâu bệnh nhiều, tỷ lệ trái đạt tiêu

chuẩn xuất khẩu thấp (Nguyễn Văn Minh, 2009) Theo Trần Văn Hâu và ctv

(2013) khoảng cách trồng thường trong khoảng 6 x 6 m, tương đương 270 cây/ha là thích hợp

e) Bón phân cân đối, đầy đủ

Bón phân cân đối và đầy đủ sẽ giúp cây trồng khoẻ mạnh, tăng cường sức chống chịu của cây đối với sâu bệnh và các điều kiện khắc nghiệt của môi trường Bón phân đúng lúc sẽ giúp sự ra chồi, ra trái tập trung hơn Như vậy việc phòng trừ sâu bệnh sẽ dễ hơn (Nguyễn Văn Minh, 2009)

f) Bao trái

Theo Trần Văn Hâu và ctv (2013), thời điểm bao trái có thể bắt đầu từ

15-60 ngày SKĐT nhưng phổ biến nhất là bao ở giai đoạn 45 ngày SKĐT vì giai đoạn này trái xoài vừa qua giai đoạn rụng sinh lý nên số trái thường ổn định hơn so với bao váo các thời điểm sớm khi trái còn rụng với tỷ lệ cao Bao trái ngoài tác dụng hạn chế sâu bệnh, còn làm cho trái có màu sắc sáng, đẹp hơn vì ít bị trầy xước do cơ học Biện pháp này còn giúp giảm ba lần phun thuốc trừ bệnh trong giai đoạn phát triển trái

Trang 28

14

g) Vệ sinh vườn

Vệ sinh vườn thường xuyên, đặc biệt trong mùa mưa, loại bỏ những trái

bị bệnh, rơi rụng, diệt cỏ dại trong vườn, đảm bảo thoát nước tốt, tránh chạm

và tạo viết thương trên trái là một biện pháp hữu hiệu (Than và ctv., 2008)

Thu dọn các tàn dư thực vật, các trái rụng, cắt bỏ các cành, lá sâu bệnh rồi từng loài sâu bệnh mà huỷ đi Công tác vệ sinh thực vật sẽ làm giảm nguồn lây lan (Nguyễn Văn Minh, 2009)

2.6.6.3 Biện pháp hóa học

Sử dụng thuốc hóa học trong việc kiểm soát bệnh phụ thuộc vào việc xác định đúng tác nhân gây bệnh, chọn đúng thuốc và thời điểm áp dụng thuốc (Cho, 1986) Có thể phun các loại thuốc gốc đồng, Carbendazim, Score,

Mancozeb và Daconil khi bệnh mới xuất hiện (Phạm Văn Biên và ctv., 2013) Theo Trần Văn Hâu và ctv (2013) nông dân tại huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng

Tháp sử dụng các loại thuốc phòng trị bệnh chủ yếu là các loại thuốc có hoạt chất phòng trừ bệnh thán thư như Propined, Mancozed, Difenoconazole + Propiconazole và Carbendazim Cần sử dụng luân phiên thuốc để hạn chế nấm kháng thuốc, nếu được pha thêm chất bám dính và chất loang trải để gia tăng hiệu quả trừ bệnh của thuốc Để ngừa bệnh thán thư và giúp trái sạch, đẹp, sau khi thu hoạch có thể nhúng trái vào nước nóng 51-53oC trong 10 phút, sau đó lau khô, bao trái bằng giấy sạch, rồi tồn trữ trong sọt, hộp (Huỳnh Kim Ngọc, 2014)

Trang 29

15

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP

3.1 PHƯƠNG TIỆN

3.1.1 Thời gian và địa điểm

Thời gian thực hiện từ tháng 04/2013 đến tháng 02/2014

Đề tài được thực hiện tại vườn xoài cát Hòa Lộc của nông dân ấp Hòa, xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, cụ thể:

- Vườn muộn 1 (canh tác vụ muộn ra hoa từ tháng 07-08/2013 đến tháng 11-12/2013 thu hoạch): hộ nông dân Nguyễn Văn Hạnh

- Vườn muộn 2 (canh tác vụ muộn ra hoa từ tháng 07-08/2013 đến tháng 11-12/2013 thu hoạch): hộ nông dân Trần Văn Đậm

- Vườn sớm (canh tác vụ sớm ra hoa từ tháng 10-11/2013 đến tháng 01-02/2014 thu hoạch): hộ nông dân Lê Văn Trực

- Máy phun thuốc

- Thước kẹp đo kích thướt bông, trái

- Cân điện tử (hiệu STATORIUS) dùng để cân trọng lượng trái, trọng lượng vỏ và trọng lượng hạt

- Khúc xạ kế hiệu (ATAGO) đo oBrix của thịt trái

- Tủ sấy hiệu SIBATA

3.1.4 Số liệu khí tượng

Thí nghiệm được tiến hành tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang nhưng huyện Cái Bè không có trung tâm dự báo khí tượng thủy văn và trung tâm dự báo khí tượng tỉnh Tiền Giang lại nằm ở Mỹ Tho (cách xa địa điểm thí nghiệm khoảng 70 km) nên số liệu khí tượng được lấy ở các tỉnh lân cận Dựa vào bảo

đồ địa lý cho thấy huyện Cái Bè giáp với Thành phố Vĩnh Long và địa điểm

Ngày đăng: 25/11/2015, 17:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.1. Diễn biến tỷ lệ bệnh thán thƣ (%) trên lá xoài cát Hòa Lộc SKPT lần 1 (1 - áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh thán thư (collectotrichum spp ) trên cây xoài cát hòa lộc (mangifera indica l ) tại huyện cái bè, tỉnh tiền giang
Hình 4.1. Diễn biến tỷ lệ bệnh thán thƣ (%) trên lá xoài cát Hòa Lộc SKPT lần 1 (1 (Trang 40)
Hình 4.2. Diễn biến tỷ lệ bệnh thán thƣ (%) trên lá xoài cát Hòa Lộc SKPT lần 1 (1 - áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh thán thư (collectotrichum spp ) trên cây xoài cát hòa lộc (mangifera indica l ) tại huyện cái bè, tỉnh tiền giang
Hình 4.2. Diễn biến tỷ lệ bệnh thán thƣ (%) trên lá xoài cát Hòa Lộc SKPT lần 1 (1 (Trang 41)
Hình 4.4. Tỷ lệ đậu trái (%) trên cây xoài cát Hòa Lộc đƣợc khảo sát trong vụ muộn - áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh thán thư (collectotrichum spp ) trên cây xoài cát hòa lộc (mangifera indica l ) tại huyện cái bè, tỉnh tiền giang
Hình 4.4. Tỷ lệ đậu trái (%) trên cây xoài cát Hòa Lộc đƣợc khảo sát trong vụ muộn (Trang 43)
Hình 4.5. Diễn biến tỷ lệ rụng trái (%) trên cây xoài cát Hòa Lộc giai đoạn từ 10 - áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh thán thư (collectotrichum spp ) trên cây xoài cát hòa lộc (mangifera indica l ) tại huyện cái bè, tỉnh tiền giang
Hình 4.5. Diễn biến tỷ lệ rụng trái (%) trên cây xoài cát Hòa Lộc giai đoạn từ 10 (Trang 44)
Hình 4.7. Diễn biến tỷ lệ bệnh thán thƣ (%) trên hoa xoài cát Hòa Lộc từ SKRH tại - áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh thán thư (collectotrichum spp ) trên cây xoài cát hòa lộc (mangifera indica l ) tại huyện cái bè, tỉnh tiền giang
Hình 4.7. Diễn biến tỷ lệ bệnh thán thƣ (%) trên hoa xoài cát Hòa Lộc từ SKRH tại (Trang 46)
Hình 4.8. Diễn biến tỷ lệ bệnh thán thƣ (%) trên hoa xoài cát Hòa Lộc từ sau khi trổ - áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh thán thư (collectotrichum spp ) trên cây xoài cát hòa lộc (mangifera indica l ) tại huyện cái bè, tỉnh tiền giang
Hình 4.8. Diễn biến tỷ lệ bệnh thán thƣ (%) trên hoa xoài cát Hòa Lộc từ sau khi trổ (Trang 47)
Bảng 4. Tỷ lệ vỏ trái xoài cát Hòa Lộc được khảo sát trong vụ muộn và vụ sớm tại xã - áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh thán thư (collectotrichum spp ) trên cây xoài cát hòa lộc (mangifera indica l ) tại huyện cái bè, tỉnh tiền giang
Bảng 4. Tỷ lệ vỏ trái xoài cát Hòa Lộc được khảo sát trong vụ muộn và vụ sớm tại xã (Trang 59)
Bảng 2. Trọng lượng trái xoài cát Hòa Lộc được khảo sát trong vụ muộn và vụ sớm - áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh thán thư (collectotrichum spp ) trên cây xoài cát hòa lộc (mangifera indica l ) tại huyện cái bè, tỉnh tiền giang
Bảng 2. Trọng lượng trái xoài cát Hòa Lộc được khảo sát trong vụ muộn và vụ sớm (Trang 59)
Bảng 1. Tỷ lệ ra hoa xoài cát Hòa Lộc trong vụ muộn và vụ sớm tại xã Hòa Hưng, - áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh thán thư (collectotrichum spp ) trên cây xoài cát hòa lộc (mangifera indica l ) tại huyện cái bè, tỉnh tiền giang
Bảng 1. Tỷ lệ ra hoa xoài cát Hòa Lộc trong vụ muộn và vụ sớm tại xã Hòa Hưng, (Trang 59)
Bảng 5. Tỷ lệ hạt trái xoài cát Hòa Lộc được khảo sát trong vụ muộn và vụ sớm tại - áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh thán thư (collectotrichum spp ) trên cây xoài cát hòa lộc (mangifera indica l ) tại huyện cái bè, tỉnh tiền giang
Bảng 5. Tỷ lệ hạt trái xoài cát Hòa Lộc được khảo sát trong vụ muộn và vụ sớm tại (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w