Tính đến nay, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò rất quan trọng đối với phát triển kinh tế vùng đồng bằng sông Hồng trên rất nhiều lĩnh vực kinh tế và xã hội như: thúc đẩy tăng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn khoa học Các số liệu và trích dẫn được
sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và đáng tin cậy
Hà Nội, ngày 25 tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn
Trần Đức Phúc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trường Đại học Kinh
tế đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Bích đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng nỗ lực, tìm tòi, nghiên cứu để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp tận tình của quý thầy cô và các bạn
Hà Nội, ngày 25 tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn
Trần Đức Phúc
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT .i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA FDI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÙNG 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu 5
1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.1.2 Những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu 9
1.2 Những vấn đề chung về FDI và kinh tế vùng 10
1.2.1.Tính tất yếu khách quan của vốn đầu tư nước ngoài 10
1.2.2 Khái niệm, đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài 13
1.2.3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 18
1.2.4 Khái niệm vùng kinh tế 19
1.3 Vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế vùng 21
1.3.1 Tác động tích cực của FDI với phát triển kinh tế vùng 21
1.3.2 Tác động tiêu cực của FDI với phát triển kinh tế vùng 27
1.3.3 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của FDI với phát triển kinh tế vùng 28
1.3.4 Các yếu tố tác động đến vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế vùng 31
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Phương pháp thu thập thông tin 35
2.2 Phương pháp xử lý thông tin 36
2.3 Phương pháp phân tích 37
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THU HÚT FDI VÀO VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA FDI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TOÀN VÙNG 38
Trang 63.1 Khái quát chung về FDI ở vùng đồng bằng sông Hồng 38
3.1.1 Khái quát chung về kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Hồng 38
3.1.2 Khái quát chung về FDI ở vùng đồng bằng sông Hồng 40
3.2 Vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế vùng đồng bằng sông Hồng 48
3.2.1 Đóng góp của FDI vào tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế toàn vùng 48
3.2.2 Đóng góp của FDI vào thu ngân sách toàn vùng 50
3.2.3 Đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu toàn vùng 51
3.2.4 Đóng góp vào tạo việc làm cho lao động toàn vùng 52
3.3 Đánh giá chung về vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế vùng đồng bằng sông Hồng 54
3.3.1 Những hạn chế: 54
3.3.2 Nguyên nhân: 56
CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG TRONG THỜI GIAN TỚI 60
4.1 Định hướng phát triển kinh tế vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2020 60
4.1.1 Thuận lợi và thách thức 60
4.1.2 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Hồng 61
4.1.3 Định hướng thu hút đầu tư nước ngoài vào vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2020 63
4.2 Giải pháp nhằm nâng cao vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế vùng đồng bằng sông Hồng trong thời gian tới 65
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN Association of South East
BT Build - Transfer Xây dựng - Chuyển giao
BTO Build - Transfer - Operate Xây dựng - Chuyển giao - Kinh
doanh FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
NGO Non-governmental
Assistance Hỗ trợ phát triển chính thức OECD Organization for Economic Co-
operation and Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
PCI Provincial Competitiveness
Index
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
TNCs Transnational Corporations Các công ty xuyên quốc gia TPP Trans-Pacific Partnership Hiệp định Đối tác xuyên Thái
Bình Dương USD United State Dollar Tiền Đô la Mỹ
WIR World Investment Report Báo cáo đầu tư toàn cầu
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại quốc tế
Trang 8DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 3.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
46
7 Bảng 3.7
Tình hình thực hiện các dự án FDI tại vùng đồng bằng sông Hồng (tính luỹ kế đến hết tháng 5/2015)
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
HÌNH VẼ
1 Hình 3.1 Cơ cấu FDI theo ngành giai đoạn 1996-2007 43
SƠ ĐỒ
1 Sơ đồ 1.1 Cái vòng luẩn quẩn của các nước đang phát
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài:
Trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu nguồn vốn đầu tư của bất
kì một quốc gia hay địa phương nào Việt Nam là một nước đang phát triển, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên nhu cầu về vốn là rất lớn,
do đó vấn đề thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là hết sức cần thiết Theo các nghị quyết của đại hội Đảng, từ đại hội Đảng lần thứ VI đến nay, kinh tế
có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, được khuyến khích phát triển lâu dài, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác Do đó, sử dụng hiệu quả nguồn vốn FDI là chủ trương quan trọng của các địa phương trên cả nước
để mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế, làm đòn bẩy khai thác có hiệu quả nguồn lực trong nước, thúc đẩy phát triển bền vững về kinh tế của các địa phương nói riêng và kinh tế cả nước nói chung Điều này được biểu hiện qua
nỗ lực của chính quyền các địa phương trong việc tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi, nâng cao chất lượng điều hành kinh tế và thúc đẩy mạnh mẽ cải cách hành chính,…
Vùng Đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH) có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của cả nước Đồng bằng sông
Hồng (ĐBSH) gồm 11 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, bao gồm: Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định, Ninh
Bình, Quảng Ninh, Thái Bình, Vĩnh Phúc Vùng ĐBSH hội tụ rất nhiều các
điều kiện và lợi thế để phát triển công nghiệp, dịch vụ, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đặc biệt phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp điện tử, tin học, công nghiệp dầu khí và sản phẩm hoá dầu; phát triển dịch vụ cao cấp, dịch vụ du lịch, dịch vụ viễn thông, tài chính, ngân
Trang 11hàng; nghiên cứu, ứng dụng và triển khai khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao
Theo số liệu thống kê, tính đến tháng 5/2015 đã có khoảng 59 quốc gia
và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư vào Vùng ĐBSH Lũy kế các dự án còn hiệu lực đến hết tháng 5/2015, toàn vùng đã thu hút được 5.536 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, với tổng số vốn đăng ký đạt hơn 66 tỷ USD Tính đến nay, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò rất quan trọng đối với phát triển kinh tế vùng đồng bằng sông Hồng trên rất nhiều lĩnh vực kinh tế và xã hội như: thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá, đóng góp vào thu ngân sách của toàn vùng, tạo việc làm và phát
triển thị trường lao động, chuyển giao công nghệ
Mặc dù đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đạt được những kết quả quan trọng nêu trên, song việc sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng thời gian qua còn nhiều bất cập, bộc lộ một số hạn chế như sau: (1) Tỷ lệ dự án sử dụng công nghệ cao còn thấp, chưa thu hút được
công nghệ nguồn; (2) Chưa chú ý đến hiệu quả sử dụng tài nguyên đất đai,
khoáng sản còn diễn ra ở nhiều địa phương Nhiều dự án chưa được thẩm tra, xem xét kỹ các khía cạnh công nghệ, lao động, môi trường lao động dẫn đến
chất lượng dự án chưa cao; (3) Những hạn chế vốn có của hoạt động đầu tư như
chuyển giá; không đảm bảo quyền lợi chính đáng của người lao động về giờ làm việc, tiền lương, phúc lợi, dẫn đến việc đình công, bãi công; vi phạm pháp luật
về môi trường; (4) Việc quản lý vốn thiếu chặt chẽ, giải ngân chậm so với thời
hạn quy định; đặc biệt tại nhiều dự án xuất hiện tình trạng tham ô làm thất thoát,
rò rỉ vốn…
Do đó, có thể thấy rằng việc tìm hiểu, nghiên cứu về những kết quả đã đạt được; tìm ra những hạn chế cần khắc phục nhằm nâng cao vai trò của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại vùng đồng bằng sông Hồng trong thời gian tới
Trang 12là thực sự cần thiết Trên cơ sở đó, tác giả chọn đề tài: “Vai trò của đầu tư
trực tiếp nước ngoài với phát triển kinh tế vùng đồng bằng sông Hồng”
Luận văn được thực hiện nhằm trả lời cho câu hỏi nghiên cứu tổng quát sau đây: Những kết quả (thành tựu và hạn chế) và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển kinh tế vùng đồng bằng sông?
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
2.1 Mục đích nghiên cứu
Phân tích làm rõ kết quả, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế; trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế vùng đồng bằng sông Hồng trong thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Phân tích, đánh giá vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế vùng đồng bằng sông Hồng, đặc biệt là trong giai đoạn 2009-2014, chỉ ra những thành tựu và hạn chế của FDI đối với phát triển kinh tế của vùng
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế vùng trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển kinh tế các tỉnh đồng bằng sông Hồng trong giai đoạn 2009-2014
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Những kết quả (thành tựu và hạn chế) của FDI đối với
phát triển kinh tế vùng đồng bằng sông Hồng trong giai đoạn 2009 - 2014 và các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế toàn
Trang 13vùng trong thời gian tới
+ Về không gian: Giới hạn trong phạm vi các tỉnh, thành trong vùng
đồng bằng sông Hồng
+ Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu khoảng thời gian từ 2009
đến 2014
4 Những đóng góp của luận văn:
- Làm rõ những đóng góp của FDI ở vùng đồng bằng sông Hồng; đánh giá các biện pháp, chính sách đã thực hiện tại các địa phương nhằm nâng cao vai trò của FDI tại vùng đồng bằng sông Hồng
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường vai trò của FDI trong việc phát triển kinh tế của vùng đồng bằng sông Hồng trong thời gian tới
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA FDI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÙNG 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu
1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã được thực hiện theo các cách tiếp cận khác nhau về FDI Một số công trình tập trung vào những vấn đề lý luận chung về FDI như bản chất, đặc điểm, vai trò, các hình thức, tác động của FDI; một số nghiên cứu thực trạng FDI vào và ra một nước, một khu vực cũng như trên quy mô toàn cầu; một số khác bàn sâu về môi trường thu hút FDI nói chung cũng như tập trung phân tích một số yếu tố riêng biệt của môi trường thu hút FDI nói riêng (môi trường luật pháp, môi trường chính sách, thậm chí chỉ bàn riêng về chính sách tài chính trong thu hút FDI,…)
a Các công trình nghiên cứu trong nước
Hiện nay, có thể liệt kê một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về FDI
trong nước như sau:
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) năm
2012 “Liên kết giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài với đầu tư trong nước tại
Việt Nam”, Ths Lê Thị Hải Vân làm chủ nhiệm đề tài được đánh giá nghiệm
thu là xuất sắc Đề tài đã đánh giá thực trạng liên kết giữa khu vực FDI với khu vực trong nước từ đó rút ra những tồn tại và hạn chế về liên kết giữa hai khu vực, đề xuất một số cơ chế chính sách tăng cường mối liên kết giữa hai khu vực đầu tư trong nước và nước ngoài nhằm hỗ trợ cho cơ quan lập chính sách về chính sách nâng cao vai trò của FDI tại Việt Nam
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) “Đầu tư
trực tiếp nước ngoài trong quá trình đổi mới kinh tế tại Việt Nam”, TS Đỗ
Trang 15Nhất Hoàng làm chủ nhiệm đề tài Đề tài đã đánh giá và khẳng định vai trò to lớn của khu vực FDI trong quá trình đổi mới kinh tế của Việt Nam
- Kỷ yếu hội thảo tổng kết 25 năm đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Cục
Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) Kỷ yếu đã đề cập đến những đánh giá của các cơ quan quản lý nhà nước và nhận định của các chuyên gia kinh tế về tình hình thu hút và sử dụng vốn FDI trong thời gian qua, kiến nghị một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn FDI trong việc phát triển kinh tế tại các địa phương trong thời gian tới
Về nghiên cứu của các Tổ chức, Viện nghiên cứu trong nước, các Trường Đại học:
- Bài tham luận “Mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài với
tăng trưởng kinh tế của Việt Nam” của Nguyễn Phú Tụ và Huỳnh Công Minh
tại Hội nghị Khoa học và Công nghệ lần thứ nhất (15/4/2010) đã đánh giá mối quan hệ tương tác giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và tăng trưởng kinh
tế Việt Nam thời gian 1988 - 2009
- Bài viết “Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội về sử dụng
vốn đầu tư nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh” của GS.TS Dương Thị
Bình Minh và Phùng Thị Cẩm Tú đăng trên tạp chí Phát triển kinh tế số tháng
8 năm 2009 đã đánh giá tình hình thu hút FDI và tác động của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ 2001-2008, từ
đó đưa ra những giải pháp kiến nghị về cơ chế chính sách nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn FDI tại thành phố Hồ Chí Minh
“Báo cáo đầu tư công nghiệp Việt Nam (VIIR)”, Bộ Kế hoạch và Đầu
tư kết hợp với Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO), 2011 Báo cáo dựa trên kết quả khảo sát đầu tư công nghiệp Việt Nam thực hiện trong năm 2011 Báo cáo đề cập đến các vấn đề chính sách quan trọng là vai trò và tác động của FDI trong nền kinh tế trong bối cảnh Việt Nam đang đứng
Trang 16ở ngã rẽ quan trọng trên con đường phát triển công nghiệp
“Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của một số thị trường cạnh tranh và bài học với Việt Nam”, Nguyễn Việt Cường, Đề tài khoa học cấp Bộ,
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hà Nội, 2013 Đề tài đã nghiên cứu, phân tích những chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của một số thị trường cạnh tranh chủ yếu của Việt Nam trong khu vực, nhìn nhận lại các yếu tố cạnh tranh FDI nội tại của nền kinh tế từ đó đưa ra các bài học, các giải pháp, đối sách thích hợp
về chính sách đầu tư của Việt Nam để cải thiện tình hình thu hút FDI vào Việt Nam trong thời gian tiếp theo Nghiên cứu này đã có những gợi ý quan trọng trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài cho những nhà hoạch định chính sách trong việc xây dựng và thực thi các cơ chế, chính sách nhằm cải thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước nói chung và của các địa phương nói riêng
- Chuyên đề "Tình hình đầu tư ngước ngoài vùng đồng bằng sông
Hồng thời kỳ 1996 - 2007, phương hướng đến năm 2020" của tác giả Lê Thị
Hải Vân nằm trong đề án "Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng
đồng bằng sông Hồng đến năm 2020" của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Chuyên đề
đã đề cập đến rất nhiều vấn đề liên quan đến những thành quả đã đạt được của FDI trong giai đoạn 1996 - 2007 và đề ra các giải pháp thu hút tối đa các nguồn vốn đầu tư cho vùng, đặc biệt là nguồn vốn FDI Bên cạnh đó, chuyên
đề đã tổng kết và đánh giá chi tiết những đóng góp của FDI đối với phát triển kinh tế vùng đồng bằng sông Hồng và đề xuất những giải pháp nhằm sử dụng FDI một cách hiệu quả Tuy nhiên, chuyên đề mới chỉ dừng lại ở việc tổng kết những kết quả của FDI đối với phát triển kinh tế vùng ĐBSH trong giai đoạn
1996 - 2007, chưa có sự cập nhật số liệu mới Hơn nữa, một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế vùng trong chuyên
đề đã không còn hợp lý trong giai đoạn hiện nay
Trang 17b Các công trình nghiên cứu nước ngoài
Có rất nhiều công trình nghiên cứu nước ngoài bàn về FDI nói chung cũng như FDI vào các nước đang phát triển nói riêng theo nhiều cách tiếp cận khác nhau, đặc biệt là bàn về các nguyên nhân, tác động của FDI đối với phát triển kinh tế tại những quốc gia này, cụ thể như:
- Raymond Vernon trong bài viết “International investment and
International trade in the product cycle” Quarterly journal of economics,
1966, pp.190-207, đã giải thích hiện tượng thương mại và đầu tư quốc tế từ chu kỳ phát triển của sản phẩm, từ quyết định của công ty trên cơ sở chi phí
và lợi nhuận và giải thích hiện tượng đầu tư quốc tế trong mối liên hệ chặt chẽ với đặc điểm của kết cấu thị trường, chuyển giao công nghệ và kiến thức quản lý
- John Dunning, trong công trình nghiên cứu “The eclective paradigm
of international production: a restatement and some extension”, Journal of
International Business Studies, Spring 1988, đã khẳng định lại những quan
điểm chủ yếu của ông về mô hình lý thuyết triết chung, được ông trình bày lần đầu tiên tại lễ trao giải Nobel năm 1976, đó là nỗ lực nhằm đưa ra một khung khổ toàn diện cho việc xác định và đánh giá tầm quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định đầu tư sản xuất ra nước ngoài của các doanh nghiệp và sự tăng trưởng của hoạt động sản xuất này Theo lý thuyết triết chung, động lực thúc đẩy công ty đầu tư ra nước ngoài bao gồm ba điều kiện chủ yếu: lợi thế về sở hữu (O), lợi thế của nước chủ nhà (L) và lợi thế nội vi hóa (I) Sau khi đề cập đến một số khả năng mở rộng mô hình, tác giả khẳng định rằng mô hình OLI vẫn là một khuôn khổ phổ biến thiết thực cho việc giải thích và đánh giá không chỉ lý do căn bản của sản xuất mà còn rất nhiều vấn
đề tổ chức và tác động liên quan đến hoạt động của các MNCs
- Trong công trình nghiên cứu “Why Investment Matters: The Political
Trang 18Economy of International Investments”, FERN, The Corner House, CRBM,
and Madhyam Books, Kavaljit Singh (2007) đã đề cập đến những vấn đề cơ bản về FDI như khái niệm, tác động, khung khổ điều tiết Ông đã giải thích vai trò trung tâm của các TNC trong đầu tư quốc tế, chỉ ra sự thay đổi của mô thức đầu tư trong hai thập kỷ gần đây, vạch trần một số huyền thoại xung quanh dòng chảy vốn đầu tư Đặc biệt công trình đã làm rõ các TNC đã kiếm được những khoản lợi nhuận khổng lồ thông qua hoạt động chuyển giá như thế nào
- “Báo cáo đầu tư thế giới (WIR)” phát hành hàng năm của Tổ chức
Thương mại và phát triển Liên hợp quốc (UNCTAD) Báo cáo phân tích thực trạng, xu hướng và triển vọng của dòng vốn FDI trên toàn cầu, nhằm giúp các quốc gia thấy được vị trí, vai trò của mình trong bức tranh toàn cảnh về đầu tư thế giới, từ đó xác định được mục tiêu, chính sách phù hợp của quốc gia mình trong các giai đoạn tiếp theo
- “Báo cáo Đầu tư công nghiệp Việt Nam 2011”, Tổ chức Phát triển
công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) Báo cáo này đã tìm hiểu về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong phát triển công nghiệp của Việt Nam, đánh giá và đưa ra nhận định mối quan hệ liên kết giữa các doanh nghiệp công nghiệp FDI với các doanh nghiệp trong nước thông qua điều tra khảo sát
1493 doanh nghiệp trong nước và nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực chế biến, chế tạo; xây dựng và dịch vụ công ích tại 9 tỉnh, thành phố là Bà Rịa – Vũng Tàu, Bắc Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Hà Nội, Hải Phòng và Hồ Chí Minh Báo cáo đã đưa ra một số kiến nghị nhằm thúc đẩy mối liên kết giữa các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp trong nước
trong lĩnh vực công nghiệp
1.1.2 Những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu
Trên thế giới và Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu về đầu tư trực
Trang 19tiếp nước ngoài theo nhiều khía cạnh khác nhau Nhưng nhìn chung, các nghiên cứu về đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu phân tích đánh giá về đầu
tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam nói chung, hoặc các địa phương, đối tác riêng biệt,… Riêng việc nghiên cứu đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các vùng kinh tế của Việt Nam, tác giả chưa thấy nhiều công trình nghiên cứu mang tính chuyên sâu, nội dung nghiên cứu chỉ mang tính chất gợi mở, cung cấp thông tin và một số giải pháp chung chung Chưa có các công trình nghiên cứu chuyên sâu về sự đóng góp của nguồn vốn đầu tư trực tiếp trong quá trình phát triển kinh tế của các vùng trong cả nước và vùng đồng bằng sông Hồng Đồng thời, cần tiếp tục nghiên cứu trong điều kiện thời gian mới, không gian mới với nhiều yếu tố tác động đan xen nhiều chiều cạnh
Thứ hai, trên cơ sở thu thập ý kiến phản hồi của cơ quan quản lý tại các địa phương và một số nhà đầu tư nước ngoài tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng, tác giả đề xuất một số định hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng
1.2 Những vấn đề chung về FDI và kinh tế vùng
1.2.1.Tính tất yếu khách quan của vốn đầu tư nước ngoài
Đối với bất kỳ một quốc gia nào, dù là nước phát triển hay đang phát triển thì để phát triển đều cần có vốn để tiến hành các hoạt động đầu tư tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế Nguồn vốn để phát triển kinh tế có thể được huy động ở trong nước hoặc từ nước ngoài tuy nhiên nguồn vốn trong nước thường có hạn, nhất là đối với những nước đang phát triển (có tỷ lệ tích luỹ thấp, nhu cầu đầu tư cao nên cần có một số vốn lớn để phát triển kinh tế) Vì vậy, nguồn vốn đầu tư nước ngoài ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Hoạt động đầu tư nước ngoài là kênh huy động vốn lớn cho phát triển kinh tế, trên cả góc độ vĩ mô và vi mô Trên góc độ vĩ
mô, FDI tác động trực tiếp đến quá trình tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ
Trang 20cấu kinh tế và phúc lợi xã hội cho con người, là 3 khía cạnh để đánh giá sự phát triển kinh tế của một quốc gia Trên góc độ vi mô, FDI có tác động mạnh
mẽ đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, vấn đề lưu chuyển lao động giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước Đầu tư nước ngoài là nhân tố quan trọng và khẳng định rõ vai trò của mình trong việc đóng góp vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam Nguồn vốn này bao gồm đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp (FII) Trong khi FII có tác động kích thích thị trường tài chính phát triển thì FDI có vai trò trực tiếp thúc đẩy sản xuất, bổ sung vốn trong nước, tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý, tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu, tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công, tăng nguồn thu cho ngân sách
Khoa học kinh tế đã chỉ ra rằng, đầu tư nước ngoài là một hiện tượng kinh tế mang tính tất yếu khách quan Khi quá trình tích tụ và tập trung tư bản đạt đến một mức độ nhất định, sẽ xuất hiện nhu cầu đầu tư ra nước ngoài [21,tr.7]
Một khó khăn lớn của hầu hết các nước đang phát triển trong đó có nước ta là thiếu vốn đầu tư Có thể nói, vốn đầu tư là yếu tố quyết định để các nước đang phát triển đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, cải thiện đời sống vật chất của nhân dân Ở các quốc gia này, nguồn lao động và tài nguyên thiên nhiên thường chưa được sử dụng hết hoặc không được sử dụng vì thiếu các điều kiện vật chất cho quá trình lao động, sản xuất Bản thân các nước đang phát triển lại ít có khả năng tự tích lũy vì năng suất lao động thấp, sản xuất hầu như không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước Trong hoàn cảnh như vậy, nguồn vốn từ bên ngoài sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với bước phát triển ban đầu của các nước này
Ngoài các đặc điểm chung của một quốc gia đang phát triển, Việt Nam còn có những đặc thù riêng của một đất nước đã phải trải qua nhiều năm chiến
Trang 21tranh ác liệt Nền kinh tế sau chiến tranh đã bị tàn phá nặng nề, lại vấp phải những sai lầm trong quản lý và điều hành cả trên tầm vĩ mô và vi mô của thời
kỳ tập trung, quan liêu, bao cấp, nên đã rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng Trong thời gian dài trước năm 1990, Việt Nam không có tích lũy từ trong nội
bộ nền kinh tế Một phần lớn tích lũy phải dựa vào vay nợ và viện trợ chủ yếu của Liên Xô, các nước XHCN Đông Âu trước đây, sau này là từ nhiều chính phủ và các tổ chức trên thế giới
Để đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, Việt Nam phải tranh thủ vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài Đây là điểm nút để nước
ta thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói Thực tiễn và kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, quốc gia nào thực hiện chiến lược kinh tế
mở cửa với bên ngoài, biết tranh thủ và phát huy tác dụng của nhân tố bên ngoài, biến nó thành nhân tố bên trong, thì quốc gia đó tạo được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao Có thể nói rằng, ở đâu và nước nào sử dụng hiệu quả được nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, thì ở nước đó, nền kinh tế đạt được tốc
độ phát triển nhanh chóng Vì vậy, các quốc gia trên thế giới đang từng bước hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm sử dụng hiệu quả tối đa nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trong điều kiện cụ thể của nước ta, nơi có những tiềm năng to lớn về lao động, tài nguyên nhưng không có điều kiện khai thác và sử dụng, thì việc thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lại càng mang tính tất yếu khách quan và có ý nghĩa vô cùng quan trọng Muốn đạt được mục đích sử dụng hiều quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, kinh nghiệm quý báu của nhiều nước cho thấy, Việt Nam cần phải tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định chính trị và thực hiện cải cách nền kinh tế để từng bước hội nhập vào quỹ đạo phát triển kinh tế thế giới
Trang 22Thực tế trong những năm qua cũng như dự báo cho giai đoạn tới đã khẳng định tầm quan trọng của FDI với phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay Đánh giá đúng vị trí, vai trò của đầu tư nước ngoài, Đại hội lần thứ IX của Đảng ta đã coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một thành phần kinh tế, là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, được khuyến khích phát triển, hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm và đề
ra nhiệm vụ cải thiện nhanh môi trường kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư nước ngoài (chủ yếu là FDI) đối với chiến lược phát triển KT-XH của cả nước
1.2.2 Khái niệm, đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.2.1 Khái niệm chung
Nhìn chung, đầu tư (investment) là việc sử dụng vốn vào quá trình tái sản xuất xã hội nhằm tạo ra năng lực sản xuất lớn hơn Dưới góc độ của doanh nhân hoặc doanh nghiệp, đầu tư là việc đưa vốn vào một hoạt động nào
đó nhằm mục đích thu lợi nhuận Vốn đầu tư bao gồm tiền và các tài sản khác như động sản, bất động sản, tài sản hữu hình, tài sản vô hình…
Theo khái niệm và cách phân loại tài khoản quốc tế trong Cẩm nang về Cán cân Thanh toán của Quỹ Tiền tệ Quốc tế-IMF (2009), đầu tư nước ngoài được phân thành những loại sau: (i) đầu tư trực tiếp; (ii) đầu tư theo danh mục; và (iii) các hình thức đầu tư khác
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một loại hình đầu tư quốc tế trong
đó một tổ chức cư trú tại một nền kinh tế thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác Lợi ích lâu dài ở đây hàm ý sự tồn tại trong thời gian dài của một mối quan hệ giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp này và mức độ ảnh hưởng đáng kể của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp này
Trang 23Khái niệm về FDI của Tổ chức phát triển hợp tác kinh tế-OECD (2008) chỉ rõ rằng một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là việc một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân trong đó một nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết [30] Đặc điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty Tuy nhiên, không phải tất cả các quốc gia sử dụng mức 10% để làm mốc xác định FDI Do vậy, các thống kê về FDI do các tổ chức khác nhau đưa
ra cũng có thể khác nhau
* Có ba yếu tố cấu thành đầu tư trực tiếp:
a Vốn chủ sở hữu, trong đó có cả vốn pháp định của các chi nhánh, công ty con và các loại vốn góp khác
b Thu nhập được tái đầu tư dưới hình thức vốn chủ sở hữu hoặc giao dịch nợ liên công ty
c Vốn liên quan đến giao dịch nợ liên công ty
* Có hai loại hình FDI cơ bản:
a Thành lập công ty mới hoặc đầu tư mới (có nghĩa là việc thành lập một doanh nghiệp liên doanh mới hoặc một doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài)
b Sáp nhập và thâu tóm (M&A) một doanh nghiệp nội địa đang tồn tại
- mua cổ phần của các công ty cổ phần và cổ phần hoá
Ở nước ta, ngay từ năm 1977, khái niệm đầu tư nước ngoài đã chính thức được ghi nhận trong Điều lệ Đầu tư của nước ngoài ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được ban hành kèm theo Nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977 (sau đây gọi tắt là Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977): Được coi
là đầu tư của nước ngoài ở Việt Nam việc đưa vào sử dụng ở Việt Nam những tài sản và vốn sau đây, nhằm xây dựng những cơ sở mới hoặc đổi mới trang bị
kỹ thuật, mở rộng các cơ sở hiện có:
Trang 24a Các loại thiết bị, máy móc, dụng cụ (gồm cả những thứ dùng cho việc thí nghiệm), phương tiện vận tải, vật tư kỹ thuật… cần thiết cho mục đích nói trên;
b Các quyền sở hữu công nghiệp, bằng sáng chế, phát minh, phương pháp công nghệ, bí mật kỹ thuật (know - how), nhãn hiệu chế tạo…
c Vốn bằng ngoại tệ hoặc vật tư có giá trị ngoại tệ, nếu phía Việt Nam thấy cần thiết;
d Vốn bằng ngoại tệ để chi lương cho nhân viên và công nhân làm việc
ở các cơ sở hoặc tiến hành những dịch vụ theo quy định của Điều lệ này
Như vậy, trong khái niệm trên, không phải bất cứ sự vận động vốn (tư bản) nào từ nước ngoài vào Việt Nam đều là đầu tư nước ngoài, mà chỉ việc đưa vào sử dụng ở Việt Nam những tài sản và vốn đã được quy định tại Điều
2 Điều lệ đầu tư nước ngoài ở Việt Nam mới được coi là đầu tư nước ngoài
Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hiện nay, khái niệm đầu tư nước ngoài được hiểu là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư [13]
Trong các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư cũng như trong Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, khái niệm đầu tư được hiểu một cách rộng hơn: "là mọi hình thức đầu tư trên lãnh thổ của một Bên do các công dân hoặc công ty của Bên kia sở hữu hoặc kiểm soát trực tiếp hay gián tiếp, bao gồm các hình thức: một công ty hoặc một doanh nghiệp; cổ phần, cổ phiếu và các hình thức góp vốn khác, trái phiếu, giấy ghi nợ và các quyền lợi đối với các khoản nợ dưới các hình thức khác trong công ty; các quyền theo hợp đồng như quyền theo các hợp đồng chìa khóa trao tay, hợp đồng xây dựng hoặc hợp đồng quản lý, các hợp đồng sản xuất hoặc hợp đồng phân chia doanh thu, tô nhượng hoặc các hợp đồng tương tự khác; tài sản hữu hình, gồm
cả bất động sản và tài sản vô hình, gồm cả các quyền như giao dịch thuê, thế
Trang 25chấp, cầm cố và quyền lưu giữ tài sản; quyền sở hữu trí tuệ, gồm quyền tác giả và các quyền có liên quan, nhãn hiệu hàng hóa, sáng chế, thiết kế bố trí, mạch tích hợp, tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được mã hóa, thông tin
bí mật (bí mật thương mại, kiểu dáng công nghiệp và quyền với giống cây trồng và các quyền theo quy định của pháp luật như các giấy phép và sự cho phép"
Như vậy, ngoài những khái niệm về đầu tư nước ngoài đã được trình bày ở trên, về mặt lý luận, có thể đưa ra khái niệm tổng hợp về đầu tư nước
ngoài như sau: Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư của nước này đưa vốn
bằng tiền hoặc tài sản khác vào nước khác để thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nhằm thu lợi nhuận
Trong khái niệm này, yếu tố nước ngoài trong đầu tư nước ngoài được thể hiện ở hai dấu hiệu đặc trưng chính, một là: có sự tham gia của chủ thể nước ngoài và hai là: có sự di chuyển vốn từ nước này sang nước khác
Đầu tư nước ngoài được phân làm hai loại: đầu tư nước ngoài trực tiếp
và đầu tư nước ngoài gián tiếp Đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại hình kinh doanh, trong đó nhà đầu tư nước ngoài tự bỏ vốn thiết lập ra cơ sở sản xuất, kinh doanh cho riêng mình, tự đứng ra làm chủ sở hữu, tự quản lý hoặc thuê người quản lý cơ sở này (đầu tư 100% vốn), hoặc hợp tác với một hay nhiều doanh nghiệp của nước sở tại thành lập một doanh nghiệp liên doanh hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh, cùng làm chủ sở hữu, cùng quản lý cơ sở sản xuất, kinh doanh này Đầu tư gián tiếp nước ngoài là loại hình đầu tư, trong
đó nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của cơ
sở kinh tế, nhưng không tham gia điều hành cơ sở kinh tế đó
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chỉ là một trong bốn nguồn tài chính nước ngoài đổ vào một quốc gia, đó là: 1 Viện trợ phát triển chính thức (ODA) và phi chính phủ (NGO); 2 Tín dụng thương mại; 3 Tín phiếu, trái
Trang 26phiếu, cổ phiếu; 4 Vốn đầu tư trực tiếp Viện trợ phát triển chính thức thường
do các Chính phủ cấp không hoặc cho vay ưu đãi nhằm tạo dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cần thiết cho hoạt động thương mại, đầu tư Tín dụng thương mại là nguồn vốn chủ yếu nhằm hỗ trợ cho các hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu và xét đến cùng cũng là hỗ trợ cho đầu tư Tín phiếu là nguồn vốn mà Chính phủ các nước muốn thu về bằng cách bán cổ phiếu, trái phiếu, công trái cho người nước ngoài Vốn đầu tư trực tiếp chủ yếu là nguồn vốn tư nhân đầu tư vào quốc gia khác nhằm tìm kiếm lợi nhuận Bốn nguồn vốn này
có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau Nếu một nước kém phát triển không nhận được vốn ODA đủ mức cần thiết để hiện đại hóa kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, thì khó có thể thu hút được nguồn vốn FDI và các nguồn vốn tín dụng khác Nhưng nếu chỉ chú trọng nguồn vốn ODA, mà không tìm cách thu hút nguồn vốn FDI và các nguồn vốn tín dụng khác, thì Chính phủ sẽ không thể có thu nhập để trả nợ cho vốn ODA [21,tr.11-13]
1.2.2.2 Đặc điểm của FDI
Thứ nhất: Đây là hình thức đầu tư chủ yếu bằng vốn của tư nhân, do
các chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, tự quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi Đầu tư theo hình thức này không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần về kinh tế cho nước tiếp nhận vốn đầu tư, hơn nữa còn đem lại tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao
Thứ hai: Chủ đầu tư nước ngoài có quyền điều hành toàn bộ hoạt động
đầu tư nếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh tuỳ theo tỷ lệ góp vốn của mình, chính tỷ lệ góp vốn pháp định sẽ quy định việc phân chia quyền lợi và trách nhiệm cũng như phân chia lợi nhuận và rủi ro giữa các chủ đầu tư
Thứ ba: Thông qua FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công
nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi được kinh nghiệm quản lý mà các hình
Trang 27thức đầu tư khác không đáp ứng được
Thứ tư: Nguồn vốn đầu tư này ngoài nguồn vốn đầu tư ban đầu của chủ
đầu tư dưới hình thức vốn pháp định còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh, cũng như vốn đầu tư
từ nguồn lợi nhuận thu được trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp
1.2.3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh: Là một văn bản được kí kết
giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư nước chủ nhà để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước chủ nhà, trên cơ sở quy định về trách nhiệm và phân phối kết quả kinh doanh mà không thành lập pháp nhân mới
- Hình thức doanh nghiệp liên doanh: là một tổ chức kinh doanh quốc
tế của các bên tham gia có quốc tịch khác nhau, trên cơ sở cùng góp vốn, cùng kinh doanh nhằm thực hiện các cam kết trong hợp đồng liên doanh và điều lệ doanh nghiệp liên doanh, phù hợp với khuôn khổ luật pháp nước nhận đầu tư
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là một thực thể kinh doanh quốc
tế, có tư cách pháp nhân, trong đó, nhà đầu tư nước ngoài góp 100% vốn pháp định, tự chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT): là hình thức
đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền nước chủ nhà và nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư xây dựng Sau khi công trình hoàn thành sẽ tiến hành hoạt động kinh doanh khai thác trong một thời gian nhất định, đảm bảo thu hồi được vốn và có lợi nhuận hợp lí Hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nhà nước sở tại
Ngoài ra, tùy theo từng quốc gia có thể có các hình thức đầu tư trực tiếp khác như hình thức BTO, BT, hình thức cho thuê – bán thiết bị, công ty cổ phần, công ty quản lí vốn
Trang 281.2.4 Khái niệm vùng kinh tế
Các nhà nghiên cứu theo trường phái cổ điển, tân cổ điển lẫn các nhà nghiên cứu theo trường phái hiện đại đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về vùng kinh tế Bên cạnh đó, các học giả của Việt Nam cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về vùng kinh tế Chúng tôi xin nêu khái niện về vùng kinh tế của Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Vùng kinh tế (còn gọi là Vùng kinh tế - xã hội) là: "Một bộ phận lớn của lãnh thổ quốc gia có các hoạt động kinh tế - xã hội tiêu biểu, thực hiện sự phân công lao động xã hội trên phạm vi cả nước Đây là loại vùng có quy mô diện tích, dân số ở cấp lớn nhất, phục vụ việc hoạch định các chiến lược, các
kế hoạch phát triển theo lãnh thổ, cũng như để quản lý các quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên mỗi vùng của đất nước" [23, tr 98]
Từ định nghĩa trên, có thể thấy vùng kinh tế có những đặc điểm cơ bản: (1)- Vùng kinh tế được nhận thức như “cơ thể hoàn chỉnh”, nghĩa là nội
bộ mỗi vùng phải được tổ chức như “một hệ thống liên hiệp sản xuất lớn”, trong đó tài nguyên thiên nhiên, dân cư - lao động, khoa học - công nghệ phải được phối hợp với nhau hài hòa, chặt chẽ
(2)- Vùng kinh tế không tồn tại biệt lập mà đó là một khâu trong sợi dây chuyền chung của nền kinh tế quốc dân Mỗi vùng, ngoài nhiệm vụ riêng của vùng, còn có một số nhiệm vụ sản xuất - kinh tế đối với cả nước và vùng khác
(3)- Vùng kinh tế là nơi có hiệu quả kinh tế, tức là cơ cấu nền kinh tế
và phương hướng phát triển vùng phải được xác định trên cơ sở “tận dụng được mọi khả năng của vùng”, sản xuất ra nhiều của cải nhất, với chi phí thấp nhất
(4)- Vùng kinh tế không chỉ nhằm phản ánh hiện trạng, mà còn phải mang tính chất dự báo cho phát triển tương lai nhằm phục vụ cho mục đích
Trang 29khai thác, sử dụng tối đa khả năng của vùng với phí tổn ít nhất
(5)- Vùng kinh tế chính là đối tượng để hoạch định chính sách, đối tượng của nghiên cứu chiến lược và quy hoạch
Trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam, vùng kinh tế có
ý nghĩa sau đây:
(1)- Vùng - đối tượng của qui hoạch phát triển: Vùng là đối tượng để
quản lý và xây dựng kế hoạch Vùng có ý nghĩa về mặt pháp lý, là vùng hành chính kinh tế để xây dựng và quản lý quy hoạch
(2)-Vùng - đối tượng xây dựng và xử lý liên tỉnh: Các tỉnh nằm trong
một vùng có mối quan hệ với nhau Để xử lý mối quan hệ liên tỉnh này, phải căn cứ vào quy hoạch chung của vùng và các chính sách chung của vùng
(3)-Vùng - đối tượng trọng điểm đầu tư: Để giải quyết mâu thuẫn trong
quá trình phát triển là: vốn ít, nhưng lại đòi hỏi phải phát triển nhanh Để giải
quyết vấn đề này, phải đầu tư có trọng tâm trọng điểm: Đầu tư có trọng điểm
vào các ngành hiệu quả cao; tập trung đầu tư vào các vùng có điều kiện phát triển nhanh như: vùng đô thị, vùng động lực, vùng trọng điểm Các vùng này
tạo được hiệu quả cao và tích lũy nhanh cho phát triển
(4)-Vùng - đối tượng hỗ trợ: Hiện nay ở nhiều nước trên thế giới và
Việt Nam vẫn còn có nhiều vùng khó khăn (GDP/người rất thấp, kết cấu hạ tầng kém phát triển, các loại hình dịch vụ chưa phát triển), cần phải hỗ trợ mới phát triển được như: vùng nông thôn, vùng núi, vùng sâu vùng xa, vùng biên giới … Hình thức hỗ trợ gồm: Vốn, nhân lực, khoa học công nghệ và hệ thống các chính sách ưu tiên
Trong quá trình phát triển các vùng kinh tế ở Việt Nam cần chú trọng phát triển bền vững [17, tr 11-12] Phát triển bền vững là sự phát triển mang tính tổng hợp với mục tiêu vì con người, không chỉ vì sự mở rộng cơ hội lựa chọn cho thế hệ hôm nay, mà còn không được làm tổn hại đến những cơ hội
Trang 30lựa chọn của các thế hệ mai sau Nó được thể hiện ở ba khía cạnh: kinh tế, xã hội và môi trường Phát triển bền vững về kinh tế là thể hiện phát triển có hiệu quả các nguồn lực hiện có của mỗi vùng, tăng quy mô GDP, tạo ra sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Phát triển bền vững về xã hội là biểu hiện ở đời sống tinh thần được nâng lên không ngừng về bảo đảm dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao, bình đẳng
cơ hội việc làm cho mọi tầng lớp nhân dân của các vùng lãnh thổ Phát triển bền vững về môi trường là bảo đảm khai thác tài nguyên hợp lý, giảm thiểu lãng phí tài nguyên gây suy thoái, phát triển kinh tế - xã hội luôn gắn với bảo
vệ môi trường, sinh thái Như vậy, phát triển bền vững vùng, lãnh thổ phải đảm bảo sức chứa hợp lý của lãnh thổ về các hoạt động sản xuất, dịch vụ, lao động và bố trí đất đai cho xây dựng, giao thông, môi trường và sinh thái, nhằm tạo ra sự hài hòa và thông thoáng cho sự phát triển của các vùng, lãnh thổ
1.3 Vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế vùng
1.3.1 Tác động tích cực của FDI với phát triển kinh tế vùng
Các nhà kinh tế học cho rằng, để phát triển kinh tế, các nước đang phát triển phải có biện pháp thu hút được đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Điển hình là hai nhà kinh tế học P Samuellson và R.Nurkse Trong lý thuyết “cái vòng luẩn quẩn” (thể hiện ở Sơ đồ 1.1), Samuellson cho rằng đa số các nước đang phát triển đều có mức thu nhập thấp, chỉ đủ sống ở mức tối thiểu, do đó tiết kiệm và đầu tư thấp Đầu tư thấp dẫn tới khả năng tích lũy vốn hạn chế và đến lượt nó, khả năng tích luỹ vốn hạn chế dẫn tới năng suất lao động thấp và dẫn tới thu nhập bình quân thấp Để phá vỡ “cái vòng luẩn quẩn”, phát triển kinh tế, Samuellson cho rằng cần phải có một “cú huých” từ bên ngoài, đó chính là đầu tư của nước ngoài [21,tr.14]
R.Nurkse lại lấy vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói làm lý luận về tạo
Trang 31vốn Theo ông, trong cái vòng luẩn quẩn này, nguyên nhân cơ bản là thiếu vốn Do vậy, mở cửa cho đầu tư trực tiếp nước ngoài được ông xem là giải pháp thực tế nhất đối với các nước đang phát triển để “có thể vươn đến những thị trường mới”, cũng như khuyến khích việc mở rộng kỹ thuật hiện đại và những phương pháp quản lý có hiệu quả FDI giúp các nước đang phát triển
“tránh được những đòi hỏi về lãi suất chặt chẽ, về điều kiện thanh toán nợ” [29]
Sơ đồ 1.1: Cái vòng luẩn quẩn của các nước đang phát triển
Nguồn: Frederick Nixson (2001), p.34 Development Economics,
Heinemann Educational Publisher, Oxford, UK p.34 [29]
FDI có nhiều thế mạnh, mang lại nhiều lợi ích cho cả hai phía, đặc biệt
là với bên tiếp nhận vốn đầu tư Mặt khác, bên nước ngoài trực tiếp tham gia quản lý sản xuất, kinh doanh nên mức độ khả thi của dự án khá cao, đặc biệt trong việc tiếp cận thị trường quốc tế để mở rộng xuất khẩu Do quyền lợi gắn chặt với dự án, các nhà đầu tư luôn quan tâm đến hiệu quả kinh doanh nên phải chọn công nghệ thích hợp, nâng cao trình độ quản lý và tay nghề của ng-ười lao động Vì vậy, FDI ngày càng có vai trò to lớn trong quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển
Cũng như các nước đang phát triển, để phá “cái vòng luẩn quẩn” và
Tiết kiệm và đầu
tư thấp
Năng suất lao động thấp
Tốc độ tích lũy vốn thấp Thu nhập bình
quân thấp
Trang 32phát triển kinh tế, Việt Nam đã đề ra chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là FDI “Điều lệ đầu tư nước ngoài” ra đời năm 1977 là tiền đề cho việc thu hút FDI vào Việt Nam Tuy nhiên, trên thực tế từ sau khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, Việt Nam mới thực sự thu hút được nguồn vốn FDI và từ đó tới nay, hoạt động thu hút FDI đã ngày càng có chuyển biến và kết quả rõ nét cả về số dự án, về lượng vốn đầu tư, góp phần đổi mới công nghệ và nâng cao trình độ quản lý kinh tế nói chung và quản lý doanh nghiệp nói riêng, đóng vai trò tích cực cho phát triển kinh tế của đất n-ước
Tài liệu nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB) cũng cho thấy không phải ở nước nào FDI cũng phát huy tác dụng như mong muốn Chỉ ở những nước có tỷ lệ tiết kiệm cao, cơ chế xuất khẩu tốt, FDI sẽ đóng góp một phần làm tăng trưởng tổng các nhân tố năng suất (TFP) Nghiên cứu về 183 dự án ở
30 nước đã cho thấy khoảng trên 25% trong số dự án này có tác dụng không tích cực đối với phúc lợi kinh tế của nước chủ nhà [21,tr.16] Nguyên nhân chính là các sản phẩm của xí nghiệp FDI không cạnh tranh được trên thị trường trong và ngoài nước
FDI có thể mang lại cho các địa phương tiếp nhận đầu tư những lợi ích khác nhau [28, 29] Trong số đó có những lợi ích trực tiếp và nhìn thấy được
Có những lợi ích gián tiếp và không dễ nhận thấy Vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế vùng, bao gồm:
a Việc làm
- Vai trò của FDI đối với việc giải quyết việc làm cho người lao động
Thông qua hoạt động đầu tư các doanh nghiệp FDI góp phần giải quyết việc làm cho người lao động Các doanh nghiệp FDI trực tiếp tạo việc làm thông qua việc tuyển dụng lao động ở ngay tại địa phương đó Song song đó, doanh nghiệp FDI còn gián tiếp tạo việc làm thông qua việc tạo điều kiện
Trang 33thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của các doanh nghiệp vệ tinh cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khu vực kinh tế này
Mức độ tác động của FDI trong việc giải quyết việc làm phụ thuộc trực tiếp vào các nhân tố như: quy mô đầu tư, lĩnh vực sản xuất, trình độ công nghệ, chính sách công nghiệp và chính sách thương mại của nước tiếp nhận đầu tư Bên cạnh đó, tác động của FDI đến thị trường lao động cũng phụ thuộc vào cơ cấu nền kinh tế, định hướng phát triển cũng như chất lượng lao động và chính sách lao động của nước tiếp nhận đầu tư
- Vai trò của FDI đối với sự phát triển của hàng hoá sức lao động
Ngoài tác động tạo việc làm cho người lao động FDI còn đóng góp tích cực vào việc nâng cao chất lượng lao động và phát triển nhân lực ở địa phương tiếp nhận đầu tư FDI làm thay đổi cơ bản năng lực, kỹ năng lao động
và quản trị doanh nghiệp thông qua hoạt động đào tạo và quá trình làm việc của lao động Làm việc trong các doanh nghiệp FDI đòi hỏi người lao động phải có kiến thức và khả năng đáp ứng yêu cầu cao về cường độ và hiệu quả công việc Cụ thể:
+ Người lao động phải có sức khỏe tốt để có thể làm việc với cường độ cao
+ Có trình độ văn hoá cao để đáp ứng những đòi hỏi của trang thiết bị
và kỹ thuật công nghệ hiện đại
+ Có kỷ cương, tác phong công nghiệp nhằm đảm bảo hiệu quả lao động của cá nhân và tập thể
Ngoài ra, các doanh nghiệp FDI luôn đòi hỏi người lao động nỗ lực không ngừng để hoàn thiện mình thông qua những yêu cầu ngày càng cao đối với công việc, cơ hội phát triển, cơ hội thăng tiến… Do vậy, trong các doanh nghiệp FDI trình độ học vấn và trình độ nghiệp vụ của người lao động tương đối cao so với mặt bằng chung
Trang 34Những yêu cầu trên đòi hỏi người lao động phải không ngừng phát triển bản thân cả về thể lực và trí lực Bên cạnh đó, để người lao động đáp ứng được các yêu cầu của công việc các doanh nghiệp FDI thường tiến hành tuyển chọn, đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ khá chặt chẽ, nhất là các ngành nghề đòi hỏi chất lượng lao động cao Do đó, FDI vừa gián tiếp khuyến khích người lao động tăng đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực vừa trực tiếp đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực
Thêm vào đó, do chi phí thuê lao động nước ngoài cao hơn lao động địa phương, các doanh nghiệp trong khu vực FDI phải tuyển dụng lao động địa phương Để người lao động có thể sử dụng máy móc thiết bị và công nghệ hiện đại các doanh nghiệp FDI phải có kế hoạch đào tạo Thế nên, trong chiến lược phát triển của các tập đoàn lớn hay các công ty đa quốc gia luôn có kế hoạch đào tạo lao động địa phương nhằm từng bước thay thế lao động người nước ngoài
- Vai trò của FDI đối với sự phát triển của thị trường lao động
Bên cạnh những tác động tích cực trong việc giải quyết việc làm cho người lao động cũng như sự phát triển nguồn nhân lực, thông qua các hoạt động của mình, FDI còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường lao động
Cùng với sự gia tăng về chất lượng và trình độ của lao động, người lao động có nhiều cơ hội hơn trong việc lựa chọn nơi làm việc Bên cạnh đó, lao động có trình độ cao có khuynh hướng tìm việc thông qua các kênh lao động chính thức cao hơn lao động trình độ thấp Đây là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của các dịch vụ tư vấn – giới thiệu việc làm và thị trường lao động
Bên cạnh đó, khi nhận thức của người lao động được nâng lên, họ sẽ quan tâm nhiều hơn đến điều kiện lao động, những điều khoản quy định cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng Đây là nhân tố quan trọng
Trang 35góp phần hạn chế những tác động tiêu cực của thị trường lao động
Chất lượng lao động có mối quan hệ tỷ lệ thuận với hiệu suất lao động
và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Và do đó, khuyến khích doanh nghiệp tăng đầu tư cho phát triển Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, vốn đầu tư tăng sẽ làm tăng cầu về lao động Cạnh tranh thu hút lao động cũng là một nhân tố kích thích sự phát triển của thị trường lao động
Với tư cách là một thành phần kinh tế, sự tham gia của khu vực FDI sẽ góp phần làm tăng tính cạnh tranh của thị trường lao động Với những ưu điểm về tiền lương, điều kiện làm việc, cơ hội phát triển… thành phần kinh tế này có sức hấp dẫn rất lớn đối với người lao động Do vậy, để cạnh tranh thu hút lao động các thành phần kinh tế khác phải cải thiện môi trường làm việc, tạo thêm thu nhập cho người lao động Đồng thời, sự đa dạng của các thành phần kinh tế sẽ góp phần làm đa dạng hoá các nguồn cung cầu lao động trên thị trường, yếu tố thuận lợi sự hình thành và phát triển của thị trường lao động
Như vậy, trong quá trình hoạt động FDI – trực tiếp hay gián tiếp - tạo
ra những điều kiện thuận lợi cho sự vận hành và phát triển của thị trường lao động Sự phát triển của khu vực kinh tế này không chỉ tạo ra những ngoại ứng tích cực cho sự phát triển thị trường lao động mà còn khuyến khích các thành phần kinh tế khác tham gia vào thị trường lao động
b Các lợi ích về nguồn thu
FDI mở rộng cơ sở nguồn thu thuế của địa phương và đóng góp cho nguồn thu của chính phủ Thậm chí nếu các nhà đầu tư nước ngoài được miễn hoàn toàn thuế trong một giai đoạn ngắn thông qua các ưu đãi đầu tư, thì các chính phủ vẫn có thể có được nguồn thu gia tăng từ việc trả thuế thu nhập cá nhân bởi vì FDI tạo ra các việc làm mới Ngoài ra, đầu tư định hướng xuất khẩu tạo ra các khoản thu ngoại tệ
Trang 36FDI tạo ra các nguồn thu tại các địa phương đã góp phần không nhỏ vào đóng góp GDP của cả nước
c Chuyển giao công nghệ
FDI có thể cải thiện quyền tiếp cận của các doanh nghiệp trên địa bàn đến công nghệ thông qua liên doanh và thương mại địa phương FDI góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào phát triển một số ngành kinh tế quan trọng của địa phương như: viễn thông, thăm dò và khai thác dầu khí, hoá chất, cơ khí chế tạo điện tử, tin học, ô tô, xe máy Nhìn chung, trình
độ công nghệ của khu vực FDI cao hơn hoặc bằng các thiết bị tiên tiến đã có trong nước và tương đương các nước trong khu vực Hầu hết các doanh nghiệp có vốn FDI áp dụng phương thức quản lý tiên tiến, được kết nối và chịu ảnh hưởng của hệ thống quản lý hiện đại của công ty khác hoặc tham gia các công ty trong nước đang hoạt động Dù hình thức nào đi nữa, chuyển giao công nghệ có xu hướng dẫn đến sự tăng trưởng năng suất ngày càng cao
d Cải thiện xuất khẩu
Nhiều dự án FDI là các dự án định hướng xuất khẩu và các công ty đa quốc gia thường chiếm một tỷ phần đáng kể trong xuất khẩu của địa phương
Do quy mô và quyền tiếp cận của chúng đến các mạng lưới marketing và phân phối ở nước ngoài, các công ty nước ngoài nói chung là dễ dàng thâm nhập vào các thị trường xuất khẩu hơn Nhiều địa phương trong các vùng kinh
tế trọng điểm trong cả nước đã biết cách sử dụng FDI như một phương tiện để tăng cường xuất khẩu của mình và cải thiện các khoản thu ngoại tệ Ngoài ra,
sự hiện diện của các công ty xuất khẩu có vốn đầu tư nước ngoài là một yếu
tố ảnh hưởng ở nhiều nước trong việc khuyến khích các công ty trong nước thâm nhập vào các thị trường xuất khẩu
1.3.2 Tác động tiêu cực của FDI với phát triển kinh tế vùng
Sau một thời gian hoạt động, các nhà đầu tư nước ngoài có khả năng sẽ
Trang 37kiểm soát thị trường địa phương, như vậy làm suy yếu các doanh nghiệp trong nước, làm cho nền kinh tế của nơi tiếp nhận đầu tư ngày càng phụ thuộc vào các nhà sản xuất nước ngoài
Về chuyển giao công nghệ, FDI có khả năng chuyển giao các công nghệ lạc hậu sang các nước đang phát triển, biến nơi tiếp nhận đầu tư thành
“bãi thải công nghệ” Mặt khác, có một số công ty xuyên quốc gia lại chuyển giao những công nghệ quá hiện đại, không thích hợp với trình độ, tay nghề nhân lực của địa phương nhận đầu tư
Về vấn đề ô nhiễm môi trường, việc tăng cường hoạt động sản xuất kinh doanh dẫn đến gia tăng chất thải ra môi trường, nếu không xử lý tốt sẽ gây ô nhiễm nguồn tài nguyên đất, nước và gây hại đến sức khỏe con người Việc tiếp nhận những công nghệ lạc hậu được chuyển giao từ nước ngoài tạo nên nguy cơ ô nhiễm môi trường cao vì lượng chất thải lớn từ các dây chuyền này khi vận hành
Lợi nhuận của các doanh nghiệp FDI có xu hướng chuyển ra nước ngoài Do vậy, FDI tuy tác động đẩy mạnh tăng trưởng ngắn hạn và trung hạn nhưng có khả năng làm giảm tiềm lực tăng trưởng dài hạn
FDI còn tạo nên những vấn đề phức tạp mới trong quản lý như biến động thị trường ngoại hối, trốn thuế thông qua chuyển giá
Ngoài ra, FDI còn làm tăng các vấn đề xã hội mới như phân hóa xã hội, giàu nghèo, nạn “chảy máu chất xám” ngay tại các địa phương tiếp nhận đầu
tư
1.3.3 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của FDI với phát triển kinh tế vùng
1.3.3.1 Hiệu suất tài sản cố định
Biểu hiện sự so snáh giữa khối lượng tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
do khu vực FDI tạo ra trong kỳ với khối lượng giá trị tài sản cố định trông kỳ
Trang 38(FA) Hiệu suất tài sản cố định được tính theo công thức:
H(fa) = ∆GDPfdi/FAfdi (1)
H(fa): Hiệu suất tài sản cố định thuộc lĩnh vực FDI
∆GDPfdi: Mức tăng GDP trong kỳ
FAfdi: Giá trị tài sản cố định của khu vực FDI sử dụng trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết, trong thời kỳ nào đó, 1 đồng giá trị tài sản cố định sử dụng trong khu vực FDI sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng GDP Tài sản
cố định là kết quả do vốn FDI tạo ra, do đó, hiệu suât tài sản cố định phản ánh khái quát hiệu quả sử dụng vốn FDI trong kỳ Chỉ tiêu này được sử dụng rộng rãi trong phân tích kinh tế vĩ mô Tuy nhiên, khi xác định hiệu quả sử dụng vốn FDI, nếu chỉ dựa vào chỉ tiêu này thì sẽ chưa thật sự chính xac vì sự biến động của tài sản cố định và GDP khu vực FDI không hoàn toàn phụ thuộc vào nhau
1.3.3.2 Hiệu suất vốn FDI
Hiệu suất vốn FDI biểu hiện mối quan hệ so sánh giữa mức tăng trưởng GDP do khu vực FDI tạo ra và vốn FDI trong kỳ Nó được tính theo công thức:
Hfdi = ∆GDPfdi/FDI
Hfdi: Hiệu suất vốn FDI trong kỳ
∆GDPfdi: Mức tăng GDP trong kỳ
Chỉ tiêu hiệu suất vốn FDI phản ánh tổng hợp hiệu quả vốn FDI, nhưng
có nhược điểm cơ bản là sự hạn chế về tính so sánh tử số và mẫu số của chỉ tiêu, vì giữa ∆GDPfdi va vốn FDI trong cùng một kỳ không tồn tại mối quan
hệ trực tiếp Thời kỳ càng ngắn thì nhược điểm này càng lộ rõ, do đó việc phản ánh hiệu quả sử dụng vốn FDI trong kỳ có phần kém chính xác
Để hạn chế nhược điểm này, người ta sử dụng các chỉ tiêu hiệu suất vốn FDI biến tướng Dạng phổ biến của hiệu suất vốn FDI biến tướng là hệ số
Trang 39K, được tính bằng cách so sánh mức tăng trưởng GDP năm sau với tổng số vốn đầu tư năm trước
K = ∆GDPfdi/FDIt-1
1.3.3.3 Hệ số thực hiện vốn FDI
Hệ số thực hiện vốn FDI cũng được coi là một chỉ tiêu hiệu quả quan trọng Nó phản ánh mối quan hệ giữa khối lượng vốn FDi bỏ ra với các tài sản
cố định được đưa vào sử dụng
Hệ số thực hiện vốn FDI được tính theo công thức:
H(u) = FA/FDI
H(u) : Hệ số thực hiện vốn FDI
FA: Giá trị tài sản cố định của khu vực FDI sử dụng trong kỳ
1.3.3.4 Tỷ số giá trị xuất khẩu/vốn FDI thực hiện
Chỉ tiêu này được đo lường bằng tổng giá trị xuất khẩu của khu vực FDI/vốn FDI thực hiện trong kỳ Đây là chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá khả năng tạo xuất khẩu của khu vực FDI Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng vốn FDI thực hiện sẽ tạo ra bao nhiêu giá trị xuất khẩu Mối tương quan giữa tăng trưởng chung và tăng trưởng xuất khẩu đã cho thấy cách sử dụng FDI có hiệu quả tổng thể cao nhất là sử dụng nó trong khuôn khổ định hướng xuất khẩu
1.3.3.5 So sánh đầu tư ròng với thu nhập từ vốn
Chỉ tiêu này được xác định bằng thương số tổng thu nhập từ vốn trong nền kinh tế và tổng đầu tư ròng Nó được dùng để xác định khả năng hấp thụ đầu tư của một nền kinh tế Nếu trong một số năm liên tục mà thu nhập từ vốn luôn nhỏ hơn tổng đầu tư ròng thì chứng tỏ nền kinh tế đang đầu tư quá mức, hiệu quả đầu tư kém, vi toàn bộ lợi tức sinh ra không bù đắp được chi phí đầu
tư Trong trường hợp đó, nền kinh tế có thể sẽ thu được lợi ích ròng nếu như giảm đầu tư
Trang 401.3.3.6 Một số chỉ tiêu khác
Đó là những đóng góp của FDI cho sự phát triển kinh tế vùng bao gồm:
- Giá trị đóng góp trong nguồn vốn đầu tư
- Đóng góp vào tốc độ tăng trưởng kinh tế
- Đóng góp vào việc gia tăng kinh ngạch xuất khẩu
- Đóng góp trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH
- Đóng góp cho ngân sách
- Giải quyết việc làm, phát triển nguồn nhân lực
- Cải thiện, mở rộng quan hệ đối ngoại
1.3.4 Các yếu tố tác động đến vai trò của FDI đối với phát triển kinh
tế vùng
1.3.4.1 Nhóm yếu tố về tự nhiên, xã hội
a Những yếu tố về tự nhiên
+ Tài nguyên thiên nhiên
Sự dồi dào về nguyên vật liệu với giá rẻ là nhân tố tích cực thúc đẩy thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Nhu cầu sản xuất tăng cao đòi hỏi nguyên liệu đầu vào ngày càng nhiều, nhưng nguyên vật liệu lại có hạn; do đó, các nhà đầu tư thường nhắm đến các nước có nguồn tài nguyên dồi dào, đặc biệt
là dầu mỏ, khí đốt, cao su, gỗ,…Tại các quốc gia Đông Nam Á, khai thác tài nguyên thiên nhiên là mục tiêu quan trọng hàng đầu của nhiều công ty nước ngoài trong các thập kỉ qua
+ Vị trí địa lí
Với lợi thế về vị trí địa lí, sẽ giúp tiết kiệm đáng kể chi phí vận chuyển,
dễ dàng mở rộng ra các thị trường lân cận, khai thác có hiệu quả nguồn nhân lực và thúc đẩy các doanh nghiệp tập trung hóa
+ Nguồn nhân lực
Khi ra quyết định đầu tư, nguồn nhân lực là vấn đề nhà đầu tư nước