TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP TRẦN THỊ HỒNG THU ẢNH HƯỞNG CỦA NHỊP TƯỚI VÀ TUỔI CÂY ĐẾN HIỆN TƯỢNG KHÔ ĐẦU MÚI TRÊN TR
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP
TRẦN THỊ HỒNG THU
ẢNH HƯỞNG CỦA NHỊP TƯỚI VÀ TUỔI CÂY ĐẾN HIỆN TƯỢNG KHÔ ĐẦU MÚI TRÊN TRÁI QUÝT HỒNG
(Citrus reticulata Blanco) TẠI HUYỆN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ
NGÀNH: NÔNG HỌC
ẢNH HƯỞNG CỦA NHỊP TƯỚI VÀ TUỔI CÂY ĐẾN HIỆN TƯỢNG KHÔ ĐẦU MÚI TRÊN TRÁI QUÝT HỒNG
(Citrus reticulata Blanco) TẠI HUYỆN
LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
PGS.TS Trần Văn Hâu Trần Thị Hồng Thu
MSSV: 3113338
2014
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP
Hồi đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Nông Học với đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA NHỊP TƯỚI VÀ
TUỔI CÂY ĐẾN HIỆN TƯỢNG KHÔ
ĐẦU MÚI TRÊN TRÁI QUÝT HỒNG
(Citrus reticulata Blanco) TẠI HUYỆN
LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP Do sinh viên Trần Thị Hồng Thu thực hiện và bảo vệ trước hội đồng Ý kiến của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp: ……….………
………
………
………
Luận văn tốt nghiệp được hội đồng đánh giá ở mức:………
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014 Thành viên Hội Đồng
DUYỆT KHOA Trưởng Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân Các số liệu kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Cần thơ, Ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Trần Thị Hồng Thu
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PSG.TS TRẦN VĂN HÂU
Trang 5LƯỢC SỬ CÁ NHÂN
1 Sơ lược lý lịch
Họ và tên: Trần Thị Hồng Thu
Sinh ngày: 20/03/1993
Nơi sinh: Huyện Cai Lậy, Tỉnh Tiền Giang
Dân tộc: Kinh Tôn giáo: không
Họ và tên cha: Trần Bá Nhẫn Nghề nghiệp: công nhân viên Năm sinh: 1967
Địa chỉ thường trú: Ấp Quí Trinh, Xã Nhị Quí, Huyện Cai Lậy, Tỉnh
Năm 1999 – 2004 tốt nghiệp tiểu học tại trường tiểu học Nhị Quí
Năm 2004 – 2008 tốt nghiệp Trung Học Cơ Sở tại trường THCS Võ Việt Tân
Năm 2008 – 2011 tốt nghiệp THPT tại trường THPT Đốc Binh Kiều Năm 2011 đến nay là sinh viên trường Đại Học Cần Thơ
Trang 6
Chân thành biết ơn
Cô cố vấn học tập Quan Thị Ái Liên cùng toàn thể thầy cô khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Khoa Thủy sản trường Đại Học Cần Thơ đã truyền đạt tất cả kiến thức và tâm huyết cho em trong suốt thời gian em học tại trường
Các anh, chị trong bộ môn Khoa Học Cây Trồng đặc biệt là chị Dương Thị Phương Thảo, anh Nguyễn Đức Mạnh, Chị Trần Thị Doãn Xuân, anh Trần Minh Vương đã nhiệt tình giúp đỡ và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Xin cảm ơn các bạn lớp Nông Học a2 K37, đặc biệt là bạn Nhật Tú, Văn
Lý, Văn Tá, Minh Kháng, Hoàng A, Thành Phát, Minh Trí, Danh Hòa đã giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình làm thí nghiệm để hoàn thành đề tài
Trần Thị Hồng Thu
Trang 7Trần Thị Hồng Thu,2014 “Ảnh hưởng của nhịp tưới và tuổi cây đến hiện
tượng khô đầu múi trên trái quýt Hồng (Citrus reticulata Blanco) tại Huyện Lai Vung, Tỉnh Đồng Tháp” Luận văn tốt nghiệp Đại Học ngành Nông Học,
Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ Cán
bộ hướng dẫn: PGS TS Trần Văn Hâu
TÓM LƯỢC
Đề tài được thực hiện nhằm xác định “Ảnh hưởng của nhịp tưới và
tuổi cây đến hiện tượng khô đầu múi trên trái quýt Hồng (Citrus reticulata Blanco) tại Huyện Lai Vung, Tỉnh Đồng Tháp” Đề tài này được tiến hành
trên vườn quýt Hồng từ 4 đến trên 10 năm tuổi tại xã Long Hậu, Huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp từ tháng 9/2012 đến tháng 1/2013 Thí Nghiệm được
bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với các nghiệm thức là: cây 4-6 năm tuổi, 7-10 năm tuổi, cây trên 10 năm tuổi, tưới theo kinh nghiệm của nông dân (5-6 ngày tưới một lần), hai ngày tưới một lần, ba ngày tưới một lần
và bốn ngày tưới một lần Mẫu đất, lá và trái được phân tích tại phòng thí nghiệm thuộc bộ môn Khoa Học Cây Trồng, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học
Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ Các chỉ tiêu theo dõi gồm độ ẩm đất,
chỉ tiêu nông học, kích thước trái và phẩm chất trái Kết quả thí nghiệm cho thấy nhân tố tuổi cây ảnh hưởng tổng số trái trên cây, tỉ lệ trái khô đầu múi và chiều cao trái của trái KĐM Nhân tố nhịp tưới không ảnh hưởng đến tỉ lệ trái KĐM Sự tương tác giữa hai nhân tố trên cũng không làm ảnh hưởng đến trái KĐM Các chỉ tiêu về phẩm chất trái của trái quýt Hồng không bị ảnh hưởng bởi hai nhân tố độ tuổi và nhịp tưới
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iv
LƯỢC SỬ CÁ NHÂN v
LỜI CẢM TẠ vi
TÓM LƯỢC vii
MỤC LỤC viii
DANH SÁCH BẢNG x
DANH SÁCH HÌNH xii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT xiii
MỞ ĐẦU xiv
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1
1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp 1
1.2 Nguồn gốc cây quýt Hồng 1
1.3 Tình hình sản xuất, tiêu thụ cây có múi 1
1.3.1 Trên thế giới 1
1.3.2 Trong nước 1
1.4.1 Rễ 2
1.4.2 Thân, cành 2
1.4.3 Lá 3
1.4.4 Hoa 3
1.4.5 Trái 3
1.4.6 Hạt 4
1.5 YÊU CẦU SINH THÁI CỦA CÂY CÓ MÚI 4
1.5.2 Ánh sáng 4
1.5.3 Gió 5
1.5.4 Nước 5
1.5.5 Đất 5
1.6 Hiện tượng khô dầu múi (KĐM)trên trái quýt hồng 6
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 7
2.1 Phương tiện 7
2.1.1 Thời gian nghiên cứu 7
2.1.2 Địa điểm bố trí thí nghiệm 7
2.1.3 Địa điểm phân tích mẫu 7
2.1.4 Vật liệu thí nghiệm 7
2.2 Phương pháp 8
2.2.1 Cách bố trí thí nghiệm 8
2.2.3 Phương pháp phân tích 11
2.3 Xử lý số liệu 17
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 18
3.1 Độ ẩm đất 18
3.2 Đặc tính nông học 19
3.3 Sự xuất hiện đọt non 20
Trang 93.4 Đặc điểm sinh hóa của lá quýt Hồng 22
3.4.1 Hàm lượng đường tổng số 22
3.5 Tổng số trái trên cây, tỉ lệ trái khô đầu múi 24
3.6 Đặc điểm trái và các thành phần trái quýt Hồng bình thường và trái KĐM 26
3.6.1 Đặc điểm trái và các thành phần trái quýt Hồng bình thường 26
3.6.2 Đặc điểm trái và các thành phần trái quýt Hồng KĐM 29
3.7 Phẩm chất trái 33
3.7.1 Hàm lượng TSS (%) 33
3.7.2 Hàm Lượng Vitamin C (%) 34
3.7.3 Hàm lượng TA (%) 35
3.6.4 Hàm lượng nước thịt trái (%) 36
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 37
4.1 Kết luận 37
4.2 Đề nghị 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
PHỤ LỤC 41
Trang 10DANH SÁCH BẢNG
3.1 Chiều cao cây (cm), chu vi gốc thân (cm), đường kính tán (cm) cây
quýt Hồng ở các độ tuổi và nhịp tưới tại huyện Lai Vung, tỉnh
Đồng Tháp
21
3.2 Tỉ lệ ra đọt (%), chiều dài cơi đọt (cm), tổng số là trên đọt trên cây
quýt Hồng ở các độ tuổi và nhịp tưới tại huyện Lai Vung tỉnh Đồng
Tháp
22
3.3 Hàm lượng đường trong lá quýt hồng ở các độ tuổi và nhịp tưới tại
huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
23
3.4 Hàm lượng tinh bột trong lá quýt hồng ở các độ tuổi và nhịp tưới
tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
24
3.5 Hàm lượng đạm tổng số, carbon, tỉ số C/N của lá quýt hồng ở các
độ tuổi và nhịp tưới lúc thí nghiệm và lúc thu hoạch tại huyện Lai
Vung, tỉnh Đồng Tháp
25
3.6 Tổng số trái trên cây, tỉ lệ trái khô trên cây quýt Hồng ở các độ tuổi
và nhịp tưới tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
26
3.7 Trọng lượng trái, trong lượng vỏ, độ dày vỏ của trái quýt Hồng
bình thường ở các độ tuổi và nhịp tưới tại huyện Lai Vung, tỉnh
Đồng Tháp
27
3.8 Chiều cao và chiều rộng của trái quýt Hồng bình thường ở các độ
tuổi và nhịp tưới tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
28
3.9 Chiều dài, chiều rộng và chiều dày múi của trái quýt Hồng bình
thường ở các độ tuổi và nhịp tưới tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng
Tháp
29
3.10 Trọng lượng trái (g), trọng lượng vỏ (g), độ dày vỏ (cm) của trái
quýt Hồng KĐM ở các độ tuổi và nhịp tưới tại huyện Lai Vung,
tỉnh Đồng Tháp
39
3.11 Chiều cao và chiều rộng của trái quýt Hồng KĐM ở các độ tuổi và
nhịp tưới tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
31
3.12 Chiều rộng và chiều dày múi của trái quýt Hồng KĐM ở các độ
tuổi và nhịp tưới tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
32
3.13 Hàm lượng TSS (%) trên trái quýt Hồng bình thường và KĐM ở
các độ tuổi và nhịp tưới tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
34
Trang 113.14 Hàm lượng Vitamin C (mg/100g) trên cây quýt Hồng bình thường
và KĐM ở các độ tuổi và nhịp tưới tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng
Tháp
35
3.15 Hàm lượng acid trong trái – TA (g/L) trên cây quýt Hồng bình
thường và KĐM ở các độ tuổi và nhịp tưới tại huyện Lai Vung,
tỉnh Đồng Tháp
36
3.16 Hàm lượng nước thịt trái (%) trên trái quýt Hồng bình thường và
KĐM ở các độ tuổi và nhịp tưới tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng
Tháp
37
Trang 12DANH SÁCH HÌNH
1.1 Hiện tượng chai và khô đầu múi trên trái quýt hồng Trái quýt
bị khô đầu múi thường có kích thước lớn hơn (c), vỏ hơi nhám,
phần trên cuống có nhiều mô nhô lên Trái quýt bị chai vỏ trái
vẫn giữ màu xanh, rất chậm hay không chuyển sang màu vàng,
trái quýt hơi cứng
2.3 Phương pháp đo kích thước trái quýt hồng (a) đường kính trái,
3.1 Độ ẩm đất ở độ sâu 0-20 cm ở các nhịp tưới, tại huyện Lai
3.2 Độ ẩm đất ở độ sâu 20-40 cm ở các nhịp tưới, tại huyện Lai
3.6 Chiều dài múi (cm) của trái quýt Hồng KĐM ở các độ tuổi và
nhịp tưới tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp 35
Trang 14MỞ ĐẦU
Tỉnh Đồng Tháp thuộc vùng Đồng Bằng sông Cửu Long được sông Tiền và sông Hậu bồi đắp phù sa mỗi năm thích hợp cho việc phát triển ngành trồng trọt nhất là trồng cây ăn trái Quýt Hồng Lai Vung từ lâu đã trở thành một thương hiệu nổi tiếng, người dân còn gọi Lai Vung là “vương quốc quýt Hồng” vì có diện tích trồng lớn nhất và sản lượng đứng đầu cả nước Quýt Hồng không những mang lại lợi nhuận cao cho nhà vườn mà còn góp phần làm nên thương hiệu cho quốc gia, hiện nay trái quýt Hồng đã được xuất đi cả nước và sang nước bạn Campuchia Quýt Hồng chứa hàm lượng vitamin C khá cao, vị ngọt, chua nhẹ, có mùi thơm đặc trưng, vỏ trái khi chín có màu vàng cam rất đẹp mắt nên người dân thường dùng để biếu hoặc chưng trên bàn thờ tổ tiên Vỏ quýt còn được dùng làm thuốc do có chưa nhiều tinh dầu
Cây quýt Hồng là loại cây trồng có nhiều lợi ích và giá trị cao Tuy nhiên, thời gian gần đây hiện tượng khô đầu múi xuất hiện ồ ạt ở nhiều vườn gây ảnh hưởng xấu đến phẩm chất và năng suất của loại trái này Theo điều tra
của Trần Văn Hâu và ctv (2009), 100% vườn quýt Hồng tại huyện Lai Vung,
tỉnh Đồng Tháp xuất hiện hiện tượng trái khô đầu múi, tỉ lệ cây có hiện tượng khô đầu múi trong vườn là 47% và tỉ lệ trái có hiện tượng chai trên cây là 6%
Việc xác định nguyên nhân gây ra hiện tượng khô đầu múi là điều hết sức cần thiết nhằm góp phần quan trọng trong việc xây dựng quy trình
canh tác cây quýt Hồng Do vậy, đề tài “Ảnh hưởng của nhịp tưới và tuổi cây đến hiện tượng khô đầu múi trên trái quýt Hồng (Citrus reticulata Blanco)
tại Huyện Lai Vung, Tỉnh Đồng Tháp” nhằm mục tiêu tìm hiểu ảnh hưởng
của hai nhân tố tuổi cây và nhịp tưới đến hiện tượng trái quýt Hồng khô đầu múi
Trang 16CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
Lai Vung nằm ở phía Nam của tỉnh Đồng Tháp, trong vùng kinh tế trọng
điểm phía nam của Tỉnh (vùng Sa Đéc) Huyện Lai Vung có vị trí hết sức quan
trọng, nằm giữa sông Tiền và sông Hậu; nằm kề với khu công nghiệp Sa Đéc, ngang khu công nghiệp Trà Nóc (Cần Thơ) và tiếp giáp với các trung tâm đô thị lớn của vùng như thành phố Cần Thơ, thành phố Long Xuyên (An Giang) rất thuận lợi cho việc thu hút đầu tư phát triển Mạng lưới giao thông thuỷ bộ rất thuận lơi, huyện có các tuyến huyện lộ trên 100 km đường nhựa phủ khắp liên thông với Tỉnh lộ 851, 852, 853 nối liền với Quốc lộ 54 và 80; cách cảng
Sa Đéc và cảng Cần Thơ chỉ 20 km đi từ khu công nghiệp sông Hậu (http://laivung.dongthap.gov.vn/)
1.2 Nguồn gốc cây quýt Hồng
Tên thường gọi quýt hồng, quýt tiều, quýt tiều son, quýt tiều hồng Có
danh pháp khoa học là Citrus reticulata Blanco (Trần Thượng Tuấn và ctv.,
1994) Theo Nguyễn Văn Luật, 2006 thì quýt Hồng có nguồn gốc ở tỉnh Phú Châu, Trung Quốc Khi chín có màu vàng cam rất đẹp, thịt trái mềm màu cam
đậm, có vị hơi chua hơn quýt đường, trái có dạng tròn dẹp Có giá trị kinh tế
cao trong dịp tết, tuy quýt Hồng cũng có nhiều hột, vách múi dai, nhưng được
ưa chuộng nhờ trái chín màu rất đẹp nên thường được sử dụng để chưng trong
dịp Tết hay đám tiệc Theo Nguyễn Minh Châu (2009) quýt Hồng là một trong những giống quýt được trồng rất lâu đời, thích nghi tốt trên vùng đất phù sa ngọt ven sông, phân bố chủ yếu tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long như
Đồng Tháp, Tiền Giang, Cần Thơ,… nhưng trồng tập trung nhất tại huyện Lai
1.3.2 Trong nước
Ông Lê Thanh Tùng, 2012 (Cục Trồng trọt thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho biết, thời gian gần đây, cây ăn trái ở Nam bộ phát triển rất nhanh về diện tích lẫn cơ cấu cây trồng và sản lượng, trong đó có
Trang 17phần đóng góp quan trọng của cây có múi Theo đó, hiện nay, vùng Nam bộ
có trên 86.000 ha trồng cây có múi, chiếm 18,45% diện tích cây ăn trái của vùng với sản lượng gần 1 triệu tấn/năm, chiếm 57,4% về sản lượng so với toàn vùng Riêng tại đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), diện tích trồng cây có múi chiếm đến 74.424 ha Ông Hoàng Quốc Tuấn, Giám đốc Trung tâm Quy hoạch Nông nghiệp cho biết, trên thế giới duy nhất chỉ có ở ĐBSCL là trồng cây có múi trên líp của đất phù sa và đất phèn cho năng suất cao từ 25-30 tấn/ha
Thị trường thế giới có nhu cầu về cam quýt rất lớn Nước ta nằm trong vùng sản xuất cam quýt của thế giới nhưng chỉ sản xuất bình quân hàng năm gần 3kg/người không đủ đáp ứng cho nhu cầu trong nước Phát triển cam quýt
để thỏa mãn nhu cầu trong nước đang tăng lên nhanh chóng do đời sống của
nhân dân đang ngày càng được cải thiện và góp phần từng bước tăng nguồn hàng xuất khẩu là yêu cầu cấp thiết và đang mở ra triển vọng to lớn cho nghề trồng cam quýt ở nước ta (Đường Hồng Dật, 2000)
1.4 ĐẶC TINH THỰC VẬT CÂY CÓ MÚI
1.4.1 Rễ
Phần lớn rễ cam quýt phân bố ở tầng đất sâu 10-30 cm Rễ hút tập trung
ở tầng sâu 10-25 cm Rễ hoạt động mạnh ở thời kỳ 1-8 năm tuổi sau khi trồng
Rễ cam quýt tái sinh kém và suy giảm dần sau thời kỳ cực thịnh vào năm thứ 7-8 (Đường Hồng Dật, 2000)
Quýt hồng có rễ thường tập trung gần lớp đất mặt Thích hợp với đất có
sa cấu sét nhẹ, thoáng khí không bị rã khi gặp mưa Mỗi năm rễ có 3 lần sinh trưởng phát triển Lần thứ nhất rễ phát triển sau đợt cây ra hoa, ra đọt và phục hồi sinh trưởng, lần này số lượng rễ ra rất nhiều Lần thứ hai giữa đợt đọt hè
và thu nên số lượng rễ phát triển ít Lần thứ 3 sau khi trái và hạt đã phát dục
xong (Lê Thanh Phong và ctv., 1999)
Theo Nguyễn Đồng Quan (1998) quýt hồng có nhiều rễ chùm ăn cạn trên mặt đất, chịu ngập úng kém và dễ bị bệnh vàng lá nên được trồng ở những nơi thoát thủy tốt Đất vùng ĐBSCL thuờng là đất thấp, do đó các giống cam quýt trồng bằng hột hay gốc tháp có rễ mọc sâu thường dễ bị ảnh hưởng do mực nước ngầm cạn, làm rễ cây bị suy yếu hay do ngập (nhất là trong mùa mưa) Trái lại, các cây chiết hay giâm cành thường có rễ ăn cạn hơn nên ít bị ảnh hưởng (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
1.4.2 Thân, cành
Theo Đường Hồng Dật (2003) cam quýt thuộc dạng thân gỗ có loại cây nửa bụi, cây trưởng có thể có 4 – 6 cành chính Hình dạng tán rất đa dạng: có
Trang 18loại tán rộng, có loại tán thưa Tán có thể có hình tròn, hình cầu, hình tháp, hình phễu, hình chổi,… Cành có thể có gai hoặc không có gai, cũng có thể có gai khi cây còn non và rụng gai khi cây đã lớn, già Một số giống loài không
có gai nhưng khi nhân giống bằng hạt lại xuất hiện rất nhiều gai trên thân và cành, nhưng càng ở cấp cành cao thì ít gai và gai ngắn (Trần Thế Tục, 1998) Thân cam quýt có tiết diện tròn, những cây mọc từ hạt có sức sinh trưởng khỏe hơn nên trên mỗi thân nổi những đường sống (Nguyễn Hữu Đống, 2003)
1.4.3 Lá
Lá cam quýt thuộc loại lá đơn, gồm cuống, cánh và phiến lá Phần cánh
lá có kích thước thay đổi tùy giống Trong các loài thì bưởi có cánh lá to nhất,
kế đến lá cam, chanh, cam sành và quýt… Lá có thể sống trên một năm hay hơn, tùy điều kiện khí hậu và chăm sóc Lá cam quýt có hình dạng rất khác nhau, thường có hình oval, hình trứng lộn ngược, hình thoi Lá thường có eo hoặc không có eo (Đường Hồng Dật, 2000)
Lá mang nhiều khí khổng (từ 400-500 khí khổng/mm2), tập trung nhiều
nhất ở mặt lưng Lá còn chứa các túi tinh dầu Ngoại trừ cam ba lá (Poncirus trifoliate) rụng lá theo mùa các loài còn lại có tổng số lá sống từ 1 năm hay lâu
hơn tùy theo điều kiện khí hậu và chăm sóc (Nguyễn Bảo vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
1.4.4 Hoa
Hoa quýt Hồng thuộc dạng hoa chùm, mọc từ nách lá Hoa thường mọc trong mùa xuân, nhưng nếu gặp hạn kéo dài và sau đó có mưa hay tưới nước thì cây cũng ra hoa rộ (như trong kỹ thuật xiết nước để kích thích ra hoa) Ở
ĐBSCL, hoa cam quýt mọc ở cành phát triển vào đầu và cuối mùa mưa nên
cho nhiều vụ trái trong năm (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) Jackson and Gmiter (1997) thứ tự cấu tạo của hoa cam quýt từ ngoài vào trong đầu tiên là lá đài, sau đó là cánh hoa, bao phấn, cuối cùng là noãn (múi)
Theo Trần Thượng Tuấn và ctv., (1994) hoa quýt hồng nhỏ, đường kính
1,5-2,5 mm, 5 cánh trắng, 20 nhị đực, bầu noãn có 10 - 15 ngăn
1.4.5 Trái
Trái quýt dẹp màu da cam, nhiều múi, dễ bóc vỏ, dễ tách múi, chua hay
ngọt tùy giống (Trần Thế Tục và ctv., 2006) Trái quýt nhỏ và rộng (5-8 cm),
trái dạng hình cầu đến dẹt, số múi có từ 10-17 múi (Dianxiang, 2008) Đường Hồng Dật (2003) cho biết mỗi múi có từ 0-20 hạt màu sắc của quả thay đổi tùy theo giống và loài đồng thời cũng tùy thuộc vào điều kiện sinh thái Theo
Trần Thượng Tuấn và ctv., (1994) thì trái cam quýt gồm có 3 phần: ngoại,
trung và nội quả bì
Trang 19Ngoại quả bì: Là phần vỏ ngoài của trái, gồm biểu bì với lớp cutin dày,
lớp nhu mô, các túi tinh dầu và các khí khổng Vỏ trái màu xanh và có khả năng quang hợp khi trái còn xanh Khi chín, vỏ trái đổi sang màu vàng hay cam Màu sắc trái khi chín ở vùng khí hậu mát (á nhiệt đới) thường đẹp, tươi hơn vùng nhiệt đới (khi chín trái vẫn còn xanh nhạt)
Trung quả bì: Là phần vỏ trong, nằm kế ngoại bì Đây là các lớp tế bào
có màu trắng, đôi khi màu vàng hay hồng nhạt (bưởi), dày mỏng tùy loài Vỏ trong chứa nhiều đường bột, vitamin C và pectin Khi trái còn non, hàm lượng pectin cao (20%) giúp trái hút nước dễ dàng
Nội quả bì: Là các múi trái được bao quanh bởi vách mỏng Trong múi
có nhiều “con tép” chiếm đầy múi, chỉ chừa ít khoảng trống cho hột Dịch trái gồm đường và acid Khi trái chín, lượng acid giảm dần, lượng đường và chất thơm tăng lên Ở các loại cam quýt, thời gian chín của trái thay đổi từ 7-14 tháng kể từ khi thụ phấn Thông thường cây có thể cho nhiều hoa, nhưng chỉ một tỷ lẹ nhỏ trái phát triển được Hoa và trái non có thể bị rụng (thời kỳ này
có thể kéo dài 10-12 tuần sau khi hoa nở)
1.4.6 Hạt
Hình dạng, kích thước, trọng lượng, số lượng hạt trong trái và mỗi múi thay đổi tùy giống (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) Ngoại trừ bưởi có hạt đơn phôi, hầu hết các loài cam quýt đều có hạt đa phôi (cho nhiều cây con mọc từ mỗi hạt) Các phôi hữu tính hình thành do thụ tinh Khoảng 6 phôi vô tính phát triển từ tế bào sinh dưỡng của phôi tâm và vì vậy cây con rất giống mẹ Cây mọc ra từ phôi hữu tính thường yếu ớt, dễ chết Tuy nhiên, sự
thụ phấn cũng cần thiết phát triển phôi vô tính (Lê thanh Phong và ctv., 1999)
1.5 YÊU CẦU SINH THÁI CỦA CÂY CÓ MÚI
1.5.1 Nhiệt độ
Theo Nguyễn Thị Ngọc Ẩn (2001) nhiệt độ tốt nhất có các cây thuộc họ
có cam quýt (Rutaceae) mọc mạnh và trái phát triển từ 23 đến 32oC Muốn quýt ngọt, có nhiều đường, vỏ ngoài có màu sắc đẹp thì nhiệt độ cần ở khoảng 25-26oC Ở ĐBSCL thường nhiệt độ không bao giờ dưới 15oC, nên các cây thuộc họ cam quýt phát triển liên tục và nhanh chóng (nếu có đủ nước)
1.5.2 Ánh sáng
Quýt hồng hợp với ánh sáng tán xạ, ánh sáng có cường độ 10.000-15.000 Lux tương ứng với 0,6 Cal/cm2, tương đương với ánh sáng lúc 8 giờ và 16-17 giờ vào những ngày không có mây mùa hè Do đó nên bố trí trồng dầy hợp lí nhằm tạo bóng râm cho cây quýt (Trần Thế Tục,1998)
Trang 201.5.3 Gió
Quýt hồng vùng Lai Vung chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Tây Nam và Đông Bắc, vì lúc này cây đang mang trái Chỉ có gió Tây Nam mới gây thiệt hại đến năng suất, gió Đông bắc cộng với nhiệt độ giảm đây là điều kiện thích hợp cho cây quýt hồng phát triển Vì thế trái chín vào tháng 11-12
âm lịch thường có màu đẹp hơn so với trái chín nghịch mùa (những tháng còn
lại trong năm) (Trần Văn Hâu và ctv., 2009)
1.5.4 Nước
Quýt hồng có khả năng chịu ẩm và chịu hạn tốt Đa số các loài và giống yêu cầu nhiều nước ở các thời kỳ nảy mầm, phân hóa mầm hoa, thời kỳ kết
quả và quả phát triển (Trần Thế Tục,1998) Theo Bùi Văn Ngợi và ctv., 2000
cam quýt rất mẫn cảm với điều kiện ngập nước Ở vùng đất thấp, mực thủy cấp cao nếu không thoát nước kịp trong mùa mưa sẽ gây tình trạng thối rễ, là vàng úa và cây chết Trong kỹ thuật trồng cam quýt, việc cung cấp nước có
ảnh hưởng quan trong đến sự ra hoa của cây Vào mùa khô hạn nếu cây nhận được nhiều nước sẽ ra hoa ngay, thực tiển cho thấy các vườn cam quýt ở ĐBSCL, thường nông dân ít tưới nước cho cây trong mùa khô mà chỉ cung
cấp nước khi nào muốn cho cây ra hoa tập trung, điều này có ảnh hưởng đến
sự sinh trưởng của cây, nhất là ở những vùng đất cao Nếu áp dụng kỹ thuật tưới nước đúng lúc, có thể rải vụ trong năm
Cam quýt cần nhiều nước trong thời kỳ sinh trưởng mạnh và phân tán (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004) Theo Nguyễn Thị Ngọc Ẩn (1999) quýt thiếu nước, cây tăng trưởng không bình thường, lá xoắn lại trái non rụng hoặc chín sớm (chín héo)
1.5.5 Đất
Đất vừa cung cấp nước vừa cung cấp chất dinh dưỡng cho cây Đất
trồng cam quýt tốt nhất là đất giàu chất hữu cơ, xốp, thoáng mát, đủ nước nhưng phải thoát nước tốt (Nguyễn Hữu Đống, 2003) Theo Trần Thượng
Tuấn và ctv (1994), cho rằng tốt nhất là trồng cam quýt trên nền đất thịt pha,
màu mỡ, thoát nước tốt và thoáng khí vì rễ cần nhiều oxy trong đất Tuy nhiên, theo tất cả nông dân được điều tra tại huyện Lai Vung đều trồng quýt Hồng trên nền đất sét nhưng cây vẫn sinh trưởng và phát triển tốt Điều kiện tiên quyết khi chọn đất canh tác cây cam quýt đòi hỏi có tầng canh tác dầy, pH phù hợp, thoát thủy tốt vì cam quýt có bộ rễ ăn cạn gần lớp đất mặt và yếu Không nên trồng cam quýt trên đất sét nặng, phèn, đất nhiều cát, đất có tầng canh tác mỏng, mực thủy cấp cao; tầng canh tác dầy ít nhất 0,5 m
Quýt hồng là cây rất kén đất chỉ có vùng Lai Vung là thích hợp (Trần Thế Tục, 1998) tại đây đất thông thoáng, thoát nước tốt, hàm lượng hữu cơ
Trang 21cao hơn 3,5% Đặc biệt là đất không bị rã khi trời mưa gây hồ mặt Đất phải có tầng canh tác cao hơn 80cm, pH đất từ 5,5-6,5 là thích hợp (Trần Văn Hâu và
ctv., 2009)
1.6 Hiện tượng khô dầu múi (KĐM)trên trái quýt hồng
Trái quýt có hiên tượng KĐM được ghi nhận là đầu múi bị khô một phần, nửa múi hay cả múi Trái có hiện tượng này thường là trái có kích thước lớn, phía trên cuống nhô lên, tạo nên những nếp nhăn, trái quýt hơi nhẹ (Trần
Văn Hâu và ctv., 2009) Hiện tượng khô múi được ghi nhận là trở ngại lớn cho
sản xuất quýt Fremont ở các tỉnh phía Bắc của Thái Lan như Chiang Mai, Phrae và Nan (Boonyakiat và Yantarasri, 2001) Hiện tượng khô múi được cho
là bị ảnh hưởng bởi tuổi cây, kích thước trái, năng suất của cây, thời gian thu
hoạch và phân bón (Burns và ctv., 1998, trích dẫn bởi Boonyakiat và
Yantarasri, 2001) Để giảm hiện tượng kết hạt trên cây có múi ở Florida (Mỹ),
Ritennour và ctv, (2004) khuyến cáo nên thay đổi kỹ thuật canh tác như bón
phân, quản lý nước, sử dụng gốc ghép không thúc đẩy sự sinh trưởng
Theo kết quả điều tra của Trần văn Hâu (2009) hiện tượng khô đầu múi trên cây quýt hồng có thể gậy ra do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân không đủ ánh sáng chiếm tỷ lệ cao nhất (70%), tiếp theo là cây còn tơ (12%) Ngoài ra, kỹ thuật bón phân, mùa vụ, thời tiết (nhiệt độ lạnh trong giai đoạn trái trưởng thành) và thừa nước trong giai đoạn trái trưởng thành (tháng 9 âm lịch) cũng ảnh hưởng lên hiện tượng KĐM của trái quýt Hồng
Hình 1.1 Hiện tượng chai và khô đầu múi trên trái quýt hồng Trái quýt bị khô
đầu múi thường có kích thước lớn hơn (c), vỏ hơi nhám, phần trên cuống có
nhiều mô nhô lên Trái quýt bị chai vỏ trái vẫn giữ màu xanh, rất chậm hay không chuyển sang màu vàng, trái quýt hơi cứng (Trần Văn Hâu, 2009)
Trang 22CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 Phương tiện
2.1.1 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ: tháng 9 năm 2012 đến tháng 1 năm 2013
2.1.2 Địa điểm bố trí thí nghiệm
Vườn quýt Hồng nhà chú Nguyễn Hữu Hớn xã Long Hậu, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp Vườn chủ động được nước tưới, không bị ngập vào mùa lũ
2.1.3 Địa điểm phân tích mẫu
Mẫu được thu và chuyển về phòng thí nghiệm - Bộ môn Khoa học Cây Trồng - Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ
để xử lý và phân tích
2.1.4 Vật liệu thí nghiệm
* Giống: Quýt Hồng 4 đến trên 10 năm tuổi, nhân giống bằng phương
pháp chiết cành, có độ đồng đều về sinh trưởng, không có biểu hiện bất thường hay sâu bệnh, được chăm sóc cùng điều kiện
* Mẫu thí nghiệm: đất, trái và lá quýt Hồng
* Dụng cụ
Cân điện tử hiệu Statorius
Khúc xạ kế Atago - đo độ Brix thịt trái (Nhật)
Máy sấy hiệu Sibata (Nhật)
Máy hấp thu nguyên tử (Atomic Absorbance Spectrophotometer) Máy đo màu Color Reader CR10 hiệu Konika Minolta (Nhật)
2.6-diclorophenol indophenol 99% (Trung Quốc)
Dung dịch Phenol phtalein
Trang 23Acid Salycylic bột (C6H4(OH).COOH)
2.2 Phương pháp
2.2.1 Cách bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên 2 nhân tố, 12 nghiệm thức, 3 lập lại Mỗi lập lại tương ứng với 1 cây:
Nhân tố (1) là tuổi cây, có 3 độ tuổi:
Cây mới cho trái 1-2 năm ( cây 4-6 năm tuổi)
Cây cho trái 5-7 năm cây đi vào giai đoạn cho trái ổn định (cây
7-10 năm tuổi)
Cây đã cho trái ổn định (cây từ 10 năm tuổi trở lên)
Nhân tố (2) là nhịp tưới, có 3 nhịp tưới:
Tưới đẫm mặt liếp 2 ngày/lần
Tưới đẫm mặt liếp 3 ngày/lần
Tưới đẫm mặt liếp 4 ngày/lần
Nghiệm thức đối chứng được quản lý và tưới nước trong giai đoạn phát triển trái theo kinh nghiệm của nông dân (tưới đẫm mặt liếp 5-6 ngày/lần) Thời điểm bắt đầu tưới là giai đoạn trái phát triển (2 tháng sau khi đậu trái) Tất cả các nghiệm thức đều được quản lý mực nước cố định trong mương, gốc cây quýt được đậy bằng cỏ Những ngày có mưa nằm trong chu kỳ tưới nếu lượng mưa đủ đáp ứng cho cây như nghiệm thức của thí nghiệm thì không tưới, nếu không thì tưới bổ sung cho cây theo chu kỳ Giai đoạn trái trưởng thành và chín (45 ngày trước khi thu hoạch) tất cả nghiệm thức chuyển qua chế độ tưới nước giống nhau 2 ngày/lần, lượng nước tưới chỉ thấm đều mặt liếp, không chảy tràn trên mặt liếp
Trang 242.2.2 Chỉ tiêu theo dõi
* Số liệu khí tượng
Số liệu khí tượng được thu thập tại trung tâm dự báo khí tượng thủy văn tỉnh Đồng Tháp bao gồm nhiệt độ trung bình, ẩm độ trung bình, lượng mưa trung bình trong tháng
Biểu đồ Hình 2.1 cho thấy nhiệt độ cao nhất trong năm là tháng 4 (28oC)
và thấp nhất là tháng 1 (26oC) nhiệt độ trung bình là 27oC và số giờ nắng trung bình trong ngày là 7 giờ Cậy có múi (cam, quýt, bưởi) có thể sống và phát triển được trong khoảng nhiệt độ 13-18oC, thích hợp nhất là 23-29oC Dưới 13o
C cây ngừng sinh trưởng, dưới 5oC cây sẽ chết (Đường Hồng Dật, 2000) Như vậy cho thấy yêu cầu về nhiệt độ tại huyện Lai Vung tỉnh Đồng Tháp thích hợp với cây Quýt Hồng
24 25 26 27 28 29
Trang 25Qua Hình 2.2 cho thấy độ ẩm cao nhất trong năm là tháng 5 (86%) và độ
ẩm thấp nhất là tháng 9 (78%) Lượng mưa cao nhất trong năm là tháng 7 (353
mm) và tổng lượng mưa trong năm 2012 là 1.430,1 mm Lượng mưa thích hợp cho các vùng trồng cây có múi là trên dưới 2.000 mm (Hoàng Ngọc Thuận, 2000) Như vậy lượng mưa tại huyện Lai Vung tỉnh Đồng tháp thích hợp đối
với cây Quýt Hồng
0 100
* Độ ẩm đất
Đo ẩm độ đất ở độ sâu 0-20 cm và 20-40 cm, thời gian lấy mẫu là từ
8-10h giờ sáng (đảm bảo không còn nước do sương động lại) 15 ngày/lần trong giai đoạn phát triển trái từ 45 ngày sau khi đậu trái đến 45 ngày trước khi thu hoạch
* Đặc tính nông học của cây
Chu vi gốc thân : đo chu vi gốc của cây cách mặt đất 10 cm
Chiều cao cây: đo từ mặt đất đến vị trí cao nhất của cây
Đường kính tán: đo chiều cao hai đường thẳng vuông góc đi qua tâm
hình chiếu của tán cây, lấy giá trị trung bình
Trang 26* Khảo sát sự sinh trưởng của cây
Ghi nhận quá trình xuất hiện đọt non của cây
Thời gian xuất hiện đọt non
Cho 5 gram mẫu đã được nghiền nhỏ vào 50 ml nước cất trong thời gian
1 giờ lắc đều và cho qua giấy lọc Đo trực tiếp độ Brix bằng khúc xạ kế Sau
đó quy đổi ra tổng chất rắn hòa tan (TSS)
Công thức
TSS (%) = o Brix x (1 + V/W)
Trong đó: V: Thể tích nước hòa tan (ml)
W: Khối lượng mẫu (gram)
* Hàm lượng nước thịt trái
Cân khối lượng đĩa Petri (P1)
Cân mẫu thịt trái (W) vào đĩa petri đã cân, cho vào máy sấy ở 60oC trong 4-5 giờ
Cân khối lượng (P2)
Sấy tiếp 30 phút ở 60oC Cân khối lượng (P2’) Nếu P2 – P2’ <= 0.03gram,
ta có khối lượng P2’ của đĩa và mẫu ở trạng thái khô hoàn toàn
Trang 27* Định lượng Vitamin C trong thịt trái
Hàm lượng Vitamin C trong thịt trái được định lượng theo phương pháp của Murin như sau:
Cân khoảng 5 gram mẫu cho vào cối sứ cùng với 20 ml HCl 1% tiến hành nghiền nát mẫu, sau đó lên thể tích 100 ml với acid oxalic 1%, lắc kỹ và
để yên dung dịch mẫu trong 10 phút Kế đó lọc và lấy 10 ml dịch lọc đem
chuẩn độ với dung dịch 2,6 diclorophenol indophenol 0,001N cho đến khi thấy xuất hiện màu phớt hồng bền sau 1 phút thì ngưng quá trình chuẩn độ, đọc thể tích dung dịch 2,6-diclorophenol indophenol 0,001N đã sử dụng Phân tích lặp lại ba lần Mẫu đối chứng lấy 2 ml acid HCl 1% và 8 ml acid oxalic 1% đem chuẩn độ giống như trên
Công thức
Trong đó:
a: số ml trung bình khi chuẩn mẫu vật
b: số ml trung bình khi chuẩn mẫu đối chứng
V1: thể tích dung dịch chiết ban đầu (100 ml)
V2: thể tích dung dịch chiết lấy để chuẩn độ (10 ml)
m: trọng lượng mẫu cân lúc đầu (g)
0,088: số mg acid ascorbic tương đương với 1ml dung dịch chuẩn độ 2,6 – diclorophenol indophenol
* Tổng acid chuẩn độ trong thịt trái –TA (g/l)
Cân 2 gram mẫu đem nghiền nhỏ với nước cất đủ 50 ml và sau đó rút 2
ml dung dịch mẫu để yên trong 10 phút Tiếp sau đó, lấy 1 ml nước trong của mẫu và 9 ml nước cất đem định lượng Cho vào 3 giọt phenoltalein, lắc đều, chuẩn độ bằng dung dịch NaOH 0,01N cho đến khi có màu hồng nhạt bền vững Phân tích lặp lại 3 lần Mẫu đối chứng là 10 ml nước cất
Trang 28Công thức
Trong đó :
Vf : thể tích NaOH chuẩn độ của mẫu trái (ml)
Thời điểm thu mẫu lá trước và sau khi thu hoạch
Tiến hành thu mẫu tại vị trí cành mang trái, cho mẫu đã thu vào túi nilon cột lại Ghi ngày lấy mẫu, vị trí lấy mẫu sau đó chuyển về phòng thí nghiệm Rửa sạch lá (điều kiện rửa trong phòng thi nghiệm) sau đó sấy khô ở nhiệt độ không quá 70oC
Dùng máy nghiền nhuyễn lá đã sấy cho vào túi nilon dán nhãn
Phân tích lá với các chỉ tiêu: đạm tổng số, cacbon tổng số và các chỉ tiêu sinh hóa (đường, tinh bột)
Phương pháp phân tích tro hóa ướt mẫu thực vật để xác định N tổng
số trong lá
Phương pháp tiến hành: Cân 0.3 gram mẫu thực vật khô đã được nghiền thật mịn cho vào trong bình tam giác 100 ml chịu nhiệt Thêm 3.3 ml hỗn hợp acid dung để oxi hóa mạnh mẫu, lắc nhẹ cho thấm ướt đều mẫu, dung phễu thủy tinh đậy miệng bình tam giác lại (có thể để qua đêm)
Đốt nóng trên bếp điện ở nhiệt độ 1800
C trong khoảng một giờ, để nguội mẫu sau đó thêm 5 giọt H2O2 30% và tiếp tục đun nóng 5 – 10 phút cho đến khi xuất hiện khói trắng Lặp lại tiến trình này cho đến khi mẫu trắng hoàn toàn
Lấy bình tam giác ra khỏi bếp và để nguội lại bằng nhiệt độ trong phòng Thêm vào bình khoảng 10 ml nước cất, lắc nhẹ cho hòa tan mẫu, chuyển mẫu vào bình định mức 50 ml, dung nước cất lên thể tích đến vạch bình định mức,
đậy nắp và trộn đều, có thể lọc mẫu qua giấy lọc, dung dịch lọc được dung để
phân tích N tổng số
Trang 29Phương pháp tiến hành: Chưng cất mẫu chuẩn
Lấy 5 ml H3BO3 với 3 giọt thuốc thử cho vào trong bình tam giác, gắn bình tam giác vào dàn chưng cất đạm
Dùng pipette lấy 5 ml dịch chuẩn (NH3) 0,01 mol/l cho vào trong bình kjeldahl, tiến hành chưng cất đạm, thêm 3 ml (NaỌH 12,5 mol/l) + nước cất
đến khi thể tích đạt 10 ml Mở khóa cho hơi nước nóng vào bình kjeldahl, tiến
hành chưng cất đạm
Hứng NH4OH vào bình tam giác đến khi đạt thể tích khoảng 50 ml Lấy bình tam giác ra khỏi giàn chưng cất đạm, dùng H2SO4 0,1 mol chuẩn độ đến khi xuất hiện màu hồng phấn (đỏ nhạt) Thực hiện giống như trên với mẫu thử không có đạm (Blank) và mẫu lá đã vô cơ hóa
Tính toán kết quả:
Trong đó:
V1: Thể tích (ml) của H2SO4 hoặc KH(IO3)2 chuẩn độ trong mẫu thật
V0: Thể tích (ml) của KH(IO3)2 chuẩn độ trong mẫu không
N: Nồng độ H2SO4 hoặc KH(IO3)2
0,014: Ly đương lượng của N
H: Hệ số hòa loãng là tý lệ của thể tích mẫu sau khi vô cơ hóa (50 ml) và thể tích mẫu hút ra để chưng cất (5 ml), (H = 10)
Trang 30* Hàm lượng đường tổng số trong lá
Đường tổng số được trích và đo theo phương pháp phenol-sunfuric
Phương pháp được tiến hành như sau:
Lấy 2 - 3 gram mẫu lá sấy khô cho vào 10 ml methanol 90% đun cách thủy nhiệt độ 70 – 90oC để trích đường, sau đó trích với methanol 80% thực hiện hai lần Lọc qua giáy lọc lấy dịch trích, cho bay hơi đến cạn khô Pha loãng với nước cất 50 ml để thực hiện phản ứng màu với phenol 5% và acid sunfuric đạm đặc Tỷ lệ đường, phenol 5%, acid sunfuric đậm đặc là 1:1:5 Xác định độ hấp phụ ở bước song 490 nm bằng quang phổ kế Shimazu UV-
1201 V Hàm lượng đường trong mẫu được tính dựa vào đường chuẩn glucose
ở các nồng độ 1 - 2 - 3 - 4 - 5 ppm
Ở mẫu đối chứng 2.5 ml dịch ly trích được thay thế bằng 2.5 ml nước
cất Dựa vào đường chuẩn glucose để tính ra hàm lượng đường tổng số có trong mẫu
Kết quả được tính theo công thức sau:
Trong đó:
a: Đường của mẫu đo được (mg)
b: Đường của mẫu Blank (mg)
V1: Thể tích dịch ly trích của đường (50 ml)
v: Thể tích dịch pha loãng đem đo (2,5 ml)
hspl: Hệ số pha loãng (2,5 ml dịch ly trích/50 ml nước cất) (20 lần) W: Khối lượng mẫu phân tích (gam)
1000: Đổi mg ra gram
* Hàm lượng tinh bột trong lá
Phương pháp tiến hành:
Mẫu sau khi ly trích đường sấy khô ở 60 – 70oC trong 30 phút Sau đó
đun cách thủy với nước cất (5 ml) trong 15 phút, để nguội Thêm 2 ml acid
perchlorhydric (HCl2O4) 9.2 N, khuấy đều trong 15 phút Thêm nước cất vừa
đủ 10 ml, ly tâm trong 3 phút ở vận tốc 4000 vòng/phút Phần rắn sau khi ly
tâm được cho them 2 ml acid perchlorhydric 4,6 N khuấy trong 15 phút, sau
đó pha loãng thành 10 ml và ly tâm như trên Lấy phần loãng và gộp chung
với phần loãng ở lần ly tâm thứ nhất lầm đầy thể tích dung dịch đến 50 ml bằng nước cất Phân tích tinh bột trong dịch tinh bột trích ly
Cho 5 ml tinh bột ly trích vào bình định mức 50 ml và làm đầy thể tích bình bằng nước cất Lấy ra 5 ml dung dịch trên cho vào ống thủy tinh chịu nhiệt Đặt vào trong chậu nước đá, ở mỗi ống cho vào từ từ 10 ml hóa chất
Trang 31anthrone Cho vào nồi chưng cách thủy đúng 7,5 phút Sau đó ngay lập tức làm nguội mát bằng cách cho vào chậu nước đá Khi đã nguội, đem đo ở bước song hấp thu 630 nm Abs (absorbance)
Kết quả được tính theo công thức sau:
Trong đó:
a: Tinh bột của mẫu đo được (mg)
b: Tinh bột của mẫu đối chứng (mg)
V1: Thể tích dịch ly trích của tinh bột (50 ml)
v: Thể tích dịch pha loãng đem đo (5 ml)
hspl: Hệ số pha loãng (5 ml dịch ly trích/50 ml nước cất) (10 lần)
W: Khối lượng mẫu phân tích (gram)
1000: Đổi gam ra mg
0,9: Hệ số chuyển đổi từ đường ra tinh bột
* Hàm lượng carbon tổng số trong lá
Phân tích theo phương pháp khối lượng (tro hóa khô), 2 gram mẫu lá
được đưa vào lò nung ở nhiệt độ 500 – 550o
C trong 6 giờ (cho đến khi không thay đổi khối lượng) Phần trăm chất hữu cơ được tính dựa vào sự sai biệt khối lượng trước và sau khi nung
Công thức :
Trong đó:
m1 : là trọng lượng mẫu lá trước khi nung
m2: là trong lượng mẫu lá sau khi nung
2.2.3.3 Chỉ tiêu phẩm chất trái
Mẫu trái được thu hoạch trước khi thu hoạch 3-5 ngày
Mẫu trái thu: 3 độ tuổi x 6 trái x 4 chế độ tưới nước x 3 cây = 216 trái Kích thước trái: dùng thước kẹp để đo chiều cao, chiều rộng của trái Dày vỏ: đo ba vị trí đầu, giữa và cuối
Kích thước múi quýt (dài, rộng, dày múi quýt): đo bằng thước kẹp Khối lượng trái, vỏ, múi: dùng cân để cân khối lượng từng trái, vỏ và múi
Đếm số trái
Đếm số trái bị khô đầu múi
Trang 32Xác định tỉ lệ trái bị KĐM ở từng độ tuổi của cây
Hàm lượng nước thịt trái
Tổng số chất rắn hòa tan (TSS)
Tổng acid chuẩn độ trong thịt trái - TA (g/l)
Hình 2.3 Phương pháp đo kích thước trái quýt hồng (a) đường kính trái,
(b) chiều cao trái
2.3 Xử lý số liệu
Số liệu sau khi thu thập, được xử lý bằng phần mềm Microsof Excel, sau
đó chạy thống kê bằng phần mềm SPSS Dùng phương pháp phân tích phương
sai để xác định sự khác biệt giữa các nghiệm thức Dùng phép thử Duncan để
so sánh trung bình giữa các nghiệm thức Các biểu đồ được vẽ bằng phần mềm Microsof Excel
Trang 33CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 3.1 Độ ẩm đất
Kết quả Hình 3.1 cho thấy độ ẩm đất ở độ sâu 0-20 cm của các nghiệm thức trong tất cả các lần thu mẫu khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở mức 5% Tuy nhiên quan sát tổng thể biểu đồ ta thấy đợt 1 và đợt 2 độ ẩm ở tất cả các nhịp tưới đều cao là do lúc này là giữa tháng 9 và đầu tháng 10 trời mưa nhiều nước thấm sâu xuống mặt đất kèm theo lượng nắng ít, nên lượng nước bốc hơi thấp làm cho độ ẩm đất tăng cao Từ cuối tháng 10 trở đi trời ít mưa, lượng nước chủ yếu trong đất là do sương xuống và nước tưới của người dân nên thấp hơn các tháng trước
39,5
33,7
31,5
35,9 37,2
39,3
36,6
34,3
35,3 37
Hình 3.1 Độ ẩm đất ở độ sâu 0-20 cm ở các nhịp tưới, tại huyện Lai Vung tỉnh
Đồng Tháp năm 2012.DC: Tưới theo nhịp tưới của nông dân (5-6 ngày/lần) NT1: 2 ngày tưới 1 lần NT2: 3 ngày tưới 1 lần NT3: 3 ngày tưới 1 lần
Kết quả ở Hình 3.2 cho thấy độ ẩm của đất của các nhịp tưới ở độ sâu từ 20-40 cm khác biệt không có ý nghĩa thống kê Độ ẩm đất ở tháng 9 và tháng
10 cao hơn các tháng còn lại là do mưa nhiều nên lượng nước thấm sâu vào
đất Độ ẩm ở cách tưới theo người nông dân và nhịp tưới 2 ngày/lần nhìn
chung cao hơn so với hai nhịp tưới còn lại Vì người dân chăm sóc theo kinh nghiệm của bản thân, tưới nhiều nước lúc trái phát triển nhằm cung cấp đủ lượng nước cho cây nuôi trái và giảm dần đến ngày thu hoạch Theo Phạm Văn Côn (2004) cây có múi cần nhiều nước ở các thời kỳ nảy mầm, phân hóa mầm hoa, thời kỳ kết trái và phát triển trái
Trang 3430,6
34 36.3
37,7
36,5
34,1
32,6 33,4
39,6
34,5
32,3
34,8 32
Chu vi gốc thân của cây quýt Hồng khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 1% giữa các độ tuổi của cây Cây 4-6 năm có chu vi gốc nhỏ nhất 26,8 cm khác biệt với cây từ 7-10 năm 35,3 cm, cây trên 10 năm tuổi có chu vi gốc lớn nhất là 41,3 cm Như vậy, độ tuổi cây càng nhỏ thì chu vi gốc càng nhỏ và cây
có độ tuổi càng lớn thì chu vi gốc càng lớn Ở các nhịp tưới và sự tương tác giữa các độ tuổi và nhịp tưới của chu vi gốc của cây quýt Hồng khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở mức 5% (Bảng 3.1)
Bảng 3.1 cho thấy đường kính tán ở các độ tuổi khác nhau của cây quýt Hồng khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 1% Đường kính tán trung bình ở cây có độ tuổi từ 4-6 năm tuổi (226 cm) cây từ 7-10 năm tuổi (345 cm) và cây trên 10 năm tuổi (378 cm) Sự tương quan giữa các độ tuổi và nhịp tưới của
đường kính tán trên cây quýt Hồng khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở mức
Trang 355% Qua quan sát thực tế cũng như quá trình sinh trưởng và phát triển của cây cùng với sự phân tích thí nghiệm ở các độ tuổi khác nhau ta rút ra kết luận về
đường kính tán của cây quýt Hồng là: ở độ tuổi càng thấp thì đường kính tán
nhỏ và cây có độ tuổi càng cao thì đường kính tán càng lớn
Tóm lại, Ở các cây có độ tuổi càng lớn thì chiều cao cây, chu vi gốc thân,
đường kính tán lớn hơn so với cây có độ tuổi thấp
Bảng 3.1 Chiều cao cây (cm), chu vi gốc thân (cm), đường kính tán (cm) cây quýt Hồng ở các độ tuổi và nhịp tưới tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
3.3 Sự xuất hiện đọt non
Trong thời gian thực hiện thí nghiệm trên cây quýt Hồng tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp qua quan sát về sự sinh trưởng của cây nhận thấy trong quá trình phát triển trái có một đợt xuất hiện đọt non là vào ngày (15/11/2012)
(khoảng 210 ngày sau đậu trái) Trần Văn Hâu và ctv., (2009) cho biết cây
quýt Hồng có thể ra ba lần đọt trong một năm vào tháng 4, 6 và tháng 10 âm lịch nhưng tỉ lệ ra đọt cao nhất là vào tháng 6 với tỉ lệ trên 40%, các thời điểm khác có tỉ lệ thấp hơn
Bảng 3.2 cho thấy tỉ lệ ra đọt/cây ở các độ tuổi khác nhau của cây quýt Hồng khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5% Những cây quýt Hồng ở độ tuổi 4-6 năm có tỉ lệ ra đọt thấp (16,83%) những cây trên 10 năm tuổi có tỉ lệ
ra đọt cao nhất (27,54%) Điều này cho thấy tỉ lệ ra đọt non cao hơn ở những cây trưởng thành và thấp hơn ở những cây còn tơ do quá trình sinh trưởng chưa ổn định
Chiều dài cơi đọt và tổng số lá/đọt trên cây quýt Hồng ở các độ tuổi và nhịp tưới khác biệt không có ý nghĩa ở mức 5% và sự tương tác giữa các độ tuổi và nhịp tưới cũng khác biệt không có ý nghĩa Chiều dài cơi đọt trung bình ở các độ tuổi là 10,43 cm, ở các nhịp tưới là 10,37 cm Tổng số lá/đọt
(cm) Chu vi gốc thân Đường kính tán Tuổi cây (A) 4 - 5 năm 161,2
Trang 36trung bình ở các độ tuổi và nhịp tưới lần lượt là 6,63 lá và 6,64 lá Nhìn chung chiều dài cơi đọt và tổng số lá/đọt ở các độ tuối và nhịp tưới tương đối đồng
đều và mức dao động không cao (Bảng 3.2)
Bảng 3.2: Tỉ lệ ra đọt (%), chiều dài cơi đọt (cm), tổng số là trên đọt của cây quýt Hồng ở các độ tuổi và nhịp tưới tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp Nghiệm thức Tỉ lệ ra đọt(%) Chiều dài
cơi đọt (cm)
Tổng số lá trên đọt Tuổi cây (A) 4-6 năm 16,83
Trang 373.4 Đặc điểm sinh hóa của lá quýt Hồng
3.4.1 Hàm lượng đường tổng số
Bảng 3.3 cho thấy hàm lượng đường trong lá ở các độ tuổi và nhịp tưới trong lúc thí nghiệm và lúc thu hoạch khác biệt không có ý nghĩa qua phân tích thống kê ở mức 5% và sự tương tác giữa độ tuổi và nhịp tưới cũng khác biệt không có ý nghĩa Nhìn chung trung bình hàm lượng đường tổng số lúc thu hoạch thấp hơn so với lúc làm thí nghiệm Theo Huỳnh Thị Thảo (2012) thì hàm lượng đường tổng số có xu hướng giảm dần từ 180 ngày sau đậu trái
đến 270 ngày sau đậu trái Tóm lại, nhân tố tuổi cây và nhịp tưới không làm ảnh hưởng đến hàm lượng đường tổng số trong lá cây quýt Hồng
Bảng 3.3: Hàm lượng đường trong lá quýt hồng ở các độ tuổi và nhịp tưới tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
(tháng 9-2012)
Lúc thu hoạch (tháng 1-2013)
Trang 383.4.2 Hàm lượng tinh bột tổng số
Từ kết quả Bảng 3.4 cho thấy hàm lượng tinh bột trong lá quýt Hồng ở các nhịp tưới và độ tuổi khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở mức 5% và sự tương tác giữa các độ tuổi và nhịp tưới cũng khác biệt không có ý nghĩa Trung bình hàm lượng tinh bột lúc thu hoạch có chiều hướng cao hơn lúc thí nghiệm ở các độ tuổi và các nhịp tưới Kết luận hàm lượng tinh bột trong lá không bị ảnh hưởng bởi tuổi cây và nhịp tưới
Bảng 3.4: Hàm lượng tinh bột trong lá quýt hồng ở các độ tuổi và nhịp tưới tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
(tháng 9-2012)
Lúc thu hoạch (tháng 1-2013)
Hàm lượng đạm tổng số trong lá quýt Hồng ở các độ tuổi lúc thí nghiệm
và lúc thu hoạch đều khác biệt có ý nghĩa ở mức 5% (Bảng 3.5) Lúc thí nghiệm những cây quýt Hồng lúc có độ tuổi 4-6 có hàm lượng đạm trong lá cao nhất (2,11%) Cây trên 10 năm tuổi có hàm lượng đạm thấp nhất (1,82%) Lúc thu hoạch hàm lượng đạm trong lá của cây 4-6 năm tuổi (2,07%) khác biệt với những cây trên 10 năm tuổi (1,85%) Điều này có thể giải thích do cây ở
độ tuổi 4-6 năm tuổi cây vẫn phát triển nhanh hút nhiều chất dinh dưỡng đặc
biệt là đạm vì thế hàm lượng đạm trong lá của cây có độ tuổi 4-6 năm tuổi cao hơn so với cây 7-10 năm và trên 10 năm tuổi Trong khi đó cây 7-10 năm và trên 10 năm tuổi quá trình sinh trưởng và phát triển đã ổn định nên hàm lượng
đạm trong lá thấp hơn so với cây 4-6 năm tuổi
Bảng 3.5 cho ta thấy hàm lượng đạm trong lá lúc thí nghiệm và lúc thu hoạch ở các nhịp tưới cùng với sự tương quan giữa tuổi cây và nhịp tưới khác biệt không có ý nghĩa ở mức 5%