Tuy nhiên do người sản xuất không được chủ động trong việc điều phối giá mua bán mà phụ thuộc vào giá niêm yết trên các sàn giao dịch của thị trường thế giới nên tính rủi ro trong kinh d
Trang 1NH ẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
TP H ồ Chí Minh, ngày tháng năm 2015
Giáo viên hướng dẫn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
B Ộ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING
Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng
Mã s ố : 60.34.02.01
TP.HCM, tháng 7 năm 2015
Trang 2B Ộ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING
Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng
Mã s ố : 60.34.02.01
Người hướng dẫn khoa học
TS PH ẠM HỮU HỒNG THÁI
TP.HCM, tháng 7 năm 2015
Trang 3i
Tôi tên là Nguyễn Thị Thanh Trúc, học viên lớp cao học Tài chính Ngân hàng trường Đại học Tài chính Marketing thành phố Hồ Chí Minh
Tôi cam đoan:
1 Luận văn này do chính tác giả nghiên cứu và thực hiện dưới sự hướng dẫn
của TS Phạm Hữu Hồng Thái
2 Các số liệu, thông tin, nguồn trích dẫn trong luận văn được chú thích nguồn
gốc rõ ràng, trung thực và được đơn vị nơi nghiên cứu xác nhận, chấp thuận
3 Luận văn này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công
bố tại Việt Nam
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình./
TP Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 07 năm 2015
Người viết cam đoan
Nguy ễn Thị Thanh Trúc
Trang 4
ii
Luận văn là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu ở nhà trường, kết hợp với kinh nghiệm trong quá trình công tác thực tiễn, với sự nỗ lực cố gắng của bản thân Đạt được kết quả này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý thầy, cô giáo Trường Đại học Tài Chính Marketing thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giúp
đỡ, hỗ trợ cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc nhất đến TS Phạm Hữu Hồng Thái là người trực tiếp hướng dẫn khoa
học và đã dày công giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến Ban giám đốc và các anh chị em đồng nghiệp trong công ty TNHH Hải Phương Nam đã giúp đỡ tôi trong công tác cũng như trong thời gian thực hiện luận văn này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân luôn bên cạnh động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng luận văn không thể không tránh khỏi hạn
chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy, cô giáo, đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 7 năm 2015
Học viên
Nguy ễn Thị Thanh Trúc
Trang 12x
Cà phê là một trong những mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam, giá trị
xuất khẩu hàng năm ước tính bình quân đạt hơn hai tỷ USD Tuy nhiên do người sản
xuất không được chủ động trong việc điều phối giá mua bán mà phụ thuộc vào giá niêm yết trên các sàn giao dịch của thị trường thế giới nên tính rủi ro trong kinh doanh
là tương đối lớn Phòng vệ rủi ro về giá trong kinh doanh bằng hedging là điều có thể
thực hiện được, đặc biệt là đối với các sản phẩm được niêm yết giá và được quy chuẩn giao dịch trên thị trường như cà phê Kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động kinh doanh bằng cách giảm thiểu các rủi ro trong biến động giá, tác
giả đã chọn đề tài: “PHÒNG NGỪA RỦI RO VỀ GIÁ TRONG KINH DOANH CÀ PHÊ: NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG TẠI CÔNG TY TNHH HẢI PHƯƠNG NAM” cho luận văn Thạc sĩ của mình
Trên cơ sở tìm hiểu lý thuyết về các công cụ tài chính phái sinh như hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn là gì? Các vị thế của hợp đồng tương lai? Nguyên tắc phòng vệ rủi ro giá bằng hợp đồng tương lai? Hoặc quyền chọn mua là gì? Quyền
chọn bán là gì? Phòng vệ rủi ro bằng quyền chọn mua và quyền chọn bán? Rủi ro basic (hay còn gọi rủi ro cơ bản), rủi ro basic ảnh hưởng đến kết quả phòng ngừa rủi ro như
thế nào?
Đồng thời dựa trên cơ sở tìm hiểu các nghiên cứu trước đây về lĩnh vực phòng
vệ rủi ro về giá trong kinh doanh như “Nghiên cứu giá tương lai, công cụ phòng vệ rủi
ro về giá cho các nhà sản xuất cà phê” của các tác giả Sushil và James, hoặc “Sử dụng
hợp đồng tương lai và quyền chọn để phòng ngừa rủi ro biến động giá tại công ty cà phê Trung Nguyên” của tác giả Nguyễn Lê Tường Vy
Từ tình hình kinh doanh thực tế tại công ty TNHH Hải Phương Nam, kết hợp
giữa lý luận và thực tiễn chúng ta có thể nhận thấy rằng trong kinh doanh cà phê tuy
chịu nhiều rủi ro do khả năng biến động giá, tuy vậy việc sử dụng các công cụ tài chính phái sinh để phòng vệ rủi ro về giá là điều có thể thực hiện được
Trên cơ sở lý thuyết, kết hợp vận dụng những nghiên cứu trước đây, tác giả đưa
ra nhận định và tìm hiểu mối liên hệ giữa giá hợp đồng giao ngay của cà phê và giá tương lai cà phê 3 tháng, giá tương lai cà phê 6 tháng đồng thời kết hợp vận dụng công
cụ tài chính phái sinh để bảo hộ rủi ro về biến động giá
Trang 13xi
Với phương pháp phân tích định lượng sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian, dựa trên các phương pháp phân tích thống kê Jarque-Bera, kiểm định nghiệm đơn vị Unit Root Test, kiểm định nghiệm đơn vị Dickey-Fuller, phương pháp kiểm định ADF…Nghiên cứu này nhằm mục đích cuối cùng chứng minh rằng giữa giá cà phê giao ngay, giá cà phê tương lai 3 tháng và giá cà phê tương lai 6 tháng có mối quan hệ đồng liên kết và chặt chẽ với nhau, do đó giúp các nhà kinh doanh cà phê yên tâm trong chuỗi biến động giá là cùng chiều đối với giá các tháng cùng niêm yết Bên cạnh
đó giải pháp vận dụng các công cụ tài chính phái sinh trong hoạt động của công ty sẽ
phần nào giúp công ty hạn chế rủi ro trong biến động về giá, đặc biệt trong tình huống công ty không dám chắc chắn về nhận định xu hướng thay đổi của giá mà đã nắm giữ
một lượng hàng trong tay và chưa ký bán hoặc ngược lại Khoản lỗ do giá nguyên liệu
cà phê tăng trên thị trường thật sẽ được bù đắp bằng khoản lời trên thị trường niêm yết giá (sàn giao dịch chuẩn hóa của các dạng hàng hóa phái sinh) trong trường hợp công
ty chưa nắm giữ hàng thật trong tay hoặc ngược lại
Trang 14
1
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong kinh doanh lợi nhuận luôn là mục tiêu hàng đầu các nhà đầu tư quan tâm
và cần đạt được theo kế hoạch Lợi nhuận kỳ vọng và lợi nhuận thực tế đôi khi có thể đạt được ngang bằng nhau, nhưng đôi khi cũng có sự khác biệt lớn, sự khác biệt có thể bao gồm cả lời hoặc lỗ, và điều này được xem như rủi ro trong kinh doanh Có nhiều nguyên nhân tạo ra rủi ro trong kinh doanh: điều kiện tự nhiên không thuận lợi, chính
trị bất ổn tại một hoặc một số quốc gia có liên quan, ảnh hưởng do khủng hoảng tiền tệ
- tài chính, rủi ro do biến động về giá và thị trường theo thời gian…trong đó rủi ro biến động về giá và thị trường theo thời gian là rủi ro có thể tính toán, lường trước và phòng ngừa trong khả năng cho phép
Thực tế người ta có thể phòng ngừa hoặc giảm thiểu rủi ro theo nhiều cách, tùy theo tình hình thực tế của đơn vị kinh doanh Đối với các loại hàng hóa thông thường nói chung, giá bán hàng hóa thường được quy định và nắm quyền bởi nhà sản xuất, tuy nhiên đối với một số ngành hàng đặc biệt như nông sản (cà phê, tiêu, cacao…), dầu thô, vàng… giá không nằm trong tay nhà sản xuất mà được quy định bởi một thị trường riêng biệt (thị trường niêm yết giá hay còn gọi là sàn giao dịch chuẩn của thế
giới) và được áp dụng đối với hầu hết các đối tượng tham gia mua bán mặt hàng đó Trên các thị trường đặc trưng này, sự biến động của giá ngoài yếu tố thị trường quyết định như nguồn cung – cầu, sự biến động của các hàng hóa có liên quan, thì còn đặc
biệt chịu ảnh hưởng bởi các ông “Trùm” tài chính, những ông trùm này cung ứng vốn cho các nhà đầu cơ, chính vì vậy khi thị trường thế giới có những biến động về giá dầu thô, giá vàng, tỷ giá…ngay lập tức các ông trùm sẽ điều chỉnh tỷ trọng đầu tư vào
những lĩnh vực nào có lợi hơn, dẫn đến sự biến động trên thị trường giá các mặt hàng
có thể tăng hoặc giảm mạnh Với các hàng hóa đặc biệt này, người ta có thể phòng
ngừa rủi ro bằng các công cụ tài chính phái sinh hay còn gọi là “hedging” Hedging bao gồm một số công cụ tài chính phái sinh như: Hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai (future contracts), quyền chọn (option) hoặc hoán đổi lãi suất (swap)
Trang 152
Trong các hàng hóa đặc thù nói trên, cà phê là một trong các hàng hóa đặc biệt được niêm yết và dần trở thành mặt hàng tiêu dùng được yêu chuộng và phổ biến ngày càng rộng trên thế giới Có nhiều giống cây trồng cà phê như cà phê Arabica (cà phê chè), cà phê Robusta (cà phê vối), cà phê Excelsa (cà phê mít)…trong đó hai loại cà phê được tiêu dùng phổ biến nhất là cà phê Arabica và cà phê Robusta, và vì vậy đã hình thành nên hai thị trường nơi diễn ra giao dịch, niêm yết giá cà phê trên thế giới là sàn giao dịch cà phê LIFFE - London - Anh (áp dụng cho cà phê Robusta) và sàn giao
dịch cà phê NYBOT - Newyork – Mỹ (áp dụng cho cà phê Arabica) Giá cà phê được niêm yết, thay đổi liên tục trong suốt khoảng thời gian giao dịch Thời gian giao dịch, ngày làm việc được quy định bởi các tổ chức của hai thị trường này
Việc phát triển bền vững ngành nông nghiệp cho giống cây công nghiệp này ngày càng đòi hỏi cao và chuẩn hóa hơn trên thị trường hàng hóa Ngoài một số nước
có diện tích trồng trọt và cung cấp cà phê chủ yếu trên thế giới như Brazil, Colombia,
Ấn độ…Việt Nam may mắn có vị trí địa lý thuận lợi với thổ nhưỡng cũng như điều
kiện thời tiết phù hợp để phát triển giống cây công nghiệp này và đã dần vươn lên vị trí đứng đầu thế giới về sản lượng xuất khẩu cà phê Robusta, đem lại lợi ích lớn cho đất nước khi bình quân thu về từ 2.7 tỷ đến 3 tỷ USD/ tổng lượng xuất khẩu từ 1.3 triệu tấn đến 1.5 triệu tấn/ năm
Giá cà phê biến đổi chịu tác động của nhiều yếu tố: sản lượng các quốc gia trên
thế giới nhiều hoặc ít, được mùa bội thu hay mất mùa, thông tin thời tiết trong mùa vụ
cà phê của các quốc gia xuất khẩu lớn thuận lợi hay khó khăn, đặc biệt là sự điều phối giá từ các nhà đầu cơ tài chính như trên đã nói, chính sự điều phối này dẫn đến những
rủi ro cao về giá cho người trồng trọt cũng như kinh doanh mặt hàng này, bởi họ không phải là người có quyền quyết định chi phối về giá Tuy nhiên không phải vì vậy
mà họ đành chấp nhận, phó mặt cho sự điều phối trong biến động giá của thị trường,
mà bản thân những người kinh doanh mặt hàng cà phê đã chủ động thực hiện việc phòng ngừa rủi ro về giá trong kinh doanh trong khả năng có thể Trên thực tế, bảo hộ
rủi ro về giá trở thành một vấn đề cấp thiết đối với các công ty kinh doanh mặt hàng cà phê Kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
xuất khẩu cà phê tại đơn vị đang công tác, tác giả chọn đề tài: “PHÒNG NGỪA RỦI
Trang 163
RO VỀ GIÁ TRONG KINH DOANH CÀ PHÊ: NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG TẠI CÔNG TY TNHH HẢI PHƯƠNG NAM” làm luận văn Thạc sĩ của mình
Mục tiêu nghiên cứu chung: Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh và những rủi ro về biến động giá của mặt hàng cà phê mà công ty TNHH Hải Phương Nam đang gặp phải, luận văn đề xuất các giải pháp sử dụng công cụ tài chính phái sinh để phòng ngừa rủi ro về giá cà phê tại Công ty TNHH Hải Phương Nam
Từ mục tiêu nghiên cứu chung trên, luận văn hướng đến giải quyết các mục tiêu nghiên cứu cụ thể sau:
- Kiểm định mối quan hệ giữa giá hợp đồng tương lai của cà phê và giá ghi trên
Đối tượng nghiên cứu: Tình hình hoạt động kinh doanh cà phê tại Công ty TNHH Hải Phương Nam và các công cụ tài chính phái sinh, phòng vệ rủi ro (hedging) trong kinh doanh cà phê thông qua việc sử dụng các công cụ future và option, thực
hiện trên sàn giao dịch LIFFE
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu, phân tích tình hình hoạt động kinh doanh cà phê tại Công ty TNHH Hải Phương Nam trong các năm 2011 – 2014 và biến động giá
cà phê trong khoảng thời gian từ 1/10/2013 đến 15/1/2015
Đề tài được nghiên cứu chủ yếu theo phương pháp định lượng, sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian bao gồm 317 mẫu quan sát, được thu thập trong khoảng thời gian 1/10/2013 đến 15/1/2015 và xử lý thông qua phần mềm Stata
Dựa trên việc xem xét những lý thuyết nền tảng trong nghiên cứu trước đây của SuShil và James, bài nghiên cứu này phân tích biến động giá bằng việc thực hiện mô hình phân tích chuỗi thời gian bằng cách sử dụng các phương pháp như sau:
Trang 174
- Phương pháp phân tích số liệu dựa trên phân tích thống kê Jarque-Bera nhằm kiểm
định phân phối chuẩn của dữ liệu;
- Ki ểm định nghiệm đơn vị Unit Root Test;
- Ki ểm định nghiệm đơn vị Dickey– Fuller;
- Ki ểm định Phillips – Perron để kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu theo thời gian;
- Các độ trễ thời gian dùng trong mô hình sẽ được xác định thông qua áp dụng tiêu chuẩn AIC về xác định độ trễ;
- Phương pháp kiểm định ADF để xác định mối quan hệ giữa các biến phân tích là giá
cà phê giao ngay, giá cà phê tương lai 3 tháng và giá cà phê tương lai 6 tháng
- Xác định mối quan hệ giữa giá cà phê giao ngay, giá cà phê tương lai 3 tháng và giá
cà phê tương lai 6 tháng bằng mô hình ARIMA
1.5.1 Ý nghĩa khoa học:
Góp phần hệ thống hóa kiến thức phòng ngừa rủi ro về giá trong kinh doanh cà phê bằng các công cụ tài chính phái sinh Từ đó kiến nghị đề xuất giúp các nhà quản lý kinh tế và chủ các doanh nghiệp đảm bảo nguồn lợi nhuận trong kinh doanh và phát triển kinh doanh bền vững
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu này sẽ cung cấp cho Ban giám đốc công ty một đánh giá toàn diện về thực trạng tình hình hoạt động và đề xuất một số giải pháp để phòng vệ rủi ro về giá trong kinh doanh Qua đó góp phần đảm bảo quản trị rủi ro về giá trong
kinh doanh, đồng thời đảm bảo nguồn lợi nhuận giúp công ty phát triển
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu và chữ viết tắt, đề tài nghiên cứu được chia làm 5 chương:
Chương 1: GIỚI THIỆU
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG VỆ RỦI RO VỀ GIÁ TRONG KINH DOANH CÀ PHÊ
Chương 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Chương 5: KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ
Trang 185
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG VỆ RỦI RO VỀ GIÁ
TRONG KINH DOANH CÀ PHÊ
2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1.1 C à phê và giá trị của cà phê trong nền kinh tế
2.1.1.1 Khái niệm về cà phê
Cà phê (gốc từ café trong tiếng Pháp) là một loại thức uống màu đen có chứa chất caffein, được sử dụng rộng rãi như một thức uống thông dụng toàn cầu Cà phê được sản xuất và rang, xay từ hạt cà phê thu hoạch trên cây cà phê Cà phê được sử dụng lần đầu tiên vào thế kỉ thứ 9, khi nó được khám phá ra từ vùng cao nguyên Ethiopia Từ đó, nó lan ra Ai Cập và Yemen, tới thế kỉ thứ 15 thì đến Armenia, Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ và phía bắc Châu Phi Từ thế giới Hồi giáo, cà phê đến Ý, sau đó là phần còn lại của Châu Âu, Indonesia và Mĩ
Ba dòng cây cà phê chính là:
- Coffea arabica (Cà phê Arabica) – cà phê chè, cà phê Blue Mountain;
- Coffea canephora (Cà phê Robusta) – cà phê vối;
- Coffea excelsa (Cà phê Liberia) - cà phê mít
2.1.1.2 Giá trị của cà phê trên thế giới
Hiện nay, cây cà phê được trồng tại hơn 50 quốc gia trên thế giới, là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng Năm 2004, cà phê là mặt hàng nông nghiệp được xuất khẩu tại 12 nước, và vào năm 2005, cà phê xuất khẩu nông nghiệp hợp pháp thứ 7 trên thế giới tính theo giá trị Năm 2009, Brasil là nước sản xuất cà phê lớn nhất
thế giới, tiếp đó là Việt Nam, Indonesia và Colombia
2.1.1.3 Biến động giá cà phê
Trên thế giới cà phê được giao dịch niêm yết giá trên các thị trường sau:
- LIFFE - London - đối với cà phê Robusta
- NYBOT - Newyork – đối với cà phê Arabica
Trang 196
Giá cà phê được niêm yết và giao dịch liên tục trong mỗi phiên giao dịch 8h/ngày và 5 ngày trong tuần trừ các ngày nghỉ lễ Giá ngừng thay đổi khi thị trường giao dịch đóng cửa, còn được gọi là giá đóng cửa
2.1.1.4 Giới thiệu về sàn giao dịch cà phê
Trên thế giới có hai sàn giao dịch cà phê lớn, NYBOT là sàn giao dịch cà phê dành cho Arabica và LIFFE NYSE là sàn giao dịch dành cho cà phê Robusta Đây là hai sàn giao dịch có tính thanh khoản cao nhất, hầu như những biến động của hai thị trường này ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường cà phê nội địa Việt Nam ngay sáng hôm sau Cơ chế vận hành của hai thị trường này tương đối giống nhau, ở đây tác giả giới thiệu cụ thể về thị trường LIFFE dành cho cà phê Robusta
LIFFE là từ viết tắt của London International Financial Futures and Options Exchange – Thị trường tài chính giao dịch hàng hóa tương lai và quyền chọn London Thị trường LIFFE được thành lập vào ngày 30/09/1982 Lúc mới thành lập, thị trường này là trung gian trao đổi các hợp đồng tương lai và quyền chọn của các dịch vụ liên quan đến lãi suất ngắn hạn Năm 1996, LIFFE sáp nhập với LCE (Thị trường giao dịch hàng hóa London) nên từ đó LIFFE cung cấp thêm các dịch vụ liên quan đến hàng hóa, nông sản Các giao dịch lúc này được thực hiện qua hình thức tiếng Anh gọi là Open Outcry – tức là dùng cử chỉ và âm thanh – tay và miệng để thực hiện các lệnh giao dịch mua bán với các nhà môi giới
Đến cuối năm 1996, LIFFE là sàn giao dịch hàng hóa tương lai lớn nhất ở châu
Âu Sau quá trình hình thành và phát triển, trải qua nhiều thay đổi, nhận thấy phương thức Open Outcry không còn phù hợp nữa, vào thứ 6 ngày 24/11/2000, phương thức này chính thức bị khai tử và thay vào đó là phương thức đặt lệnh thông qua phần mềm điện tử gọi là “LIFFE CONNECT” Từ đó LIFFE bắt đầu quá trình phát triển mới của mình, đạt được những thành công đáng kể và được nhiều lời chào mua, sáp nhập từ các sàn giao dịch khác
Vào tháng 01/2002, LIFFE được Euronext cũng là một sàn giao dịch của Hà Lan mua lại Sau đó nó hoạt động dưới tên Euronex-LIFFE Sau đó vào tháng 04/2007, Euronext lại được NYSE-New York Stock Exchange – Sở giao dịch chứng khoán NewYork mua lại và gần đây nhất là vào tháng 11/2003 vừa qua, NYSE
Trang 207
Euronext lại được 47TICE-Intercontinental Exchange47T của Hoa Kỳ mua lại Cũng xin nói thêm là sàn ICE cũng là sàn giao dịch cà phê Arabica lớn nhất trên thế giới
- LIFFE là sàn giao dịch các loại hàng hóa: cà phê, ca cao, lúa mì, đường, bắp…
- Các quy chuẩn hợp đồng cà phê Robusta trên LIFFE
- Đơn vị giao dịch : 10 tấn/1lô
- Tháng giao hàng : các tháng lẻ 1,3,5,7,9,11
- Biên độ giao động giá : 1 USD/tấn
- Giờ giao dịch : 15:00 ngày hôm trước đến 11:30 hôm sau giờ Việt Nam hay 9:00 đến 17:30 giờ London từ thứ 2 đến thứ 6, trừ các ngày nghỉ lễ
- Loại hàng được đưa vào thị trường: Hầu hết các loại cà phê Robusta trên thế
giới Cà phê Việt Nam chiếm số lượng rất lớn khoảng 70-95% ở thị trường này
- Thời điểm đưa hàng vào LIFFE (Tender): Ngày làm việc bất kỳ trong tháng giao hàng
- Một số vấn đề của phòng ngừa rủi ro (hedging) qua sàn Liffe London
Yêu c ầu ký quỹ: tỷ lệ ký quỹ thường thấp so với giá trị cần phòng ngừa, ví dụ
yêu cầu ký quỹ sàn Liffe London cho cà phê Robusta khoảng 5% so với trị giá thực Yêu cầu này không phải là quá lớn đối với phòng ngừa rủi ro
Điều chỉnh theo thị trường: điều quan trọng nhất là hiệu ứng của điều chỉnh
theo thị trường và tác động tiềm ẩn của yêu cầu ký quỹ Khoản lãi trên thị trường giao sau bù cho khoản lỗ trên thị trường giao ngay, nhưng cũng có lúc lỗ giao sau, lãi giao ngay Khi hợp đồng giao sau lỗ, phải đặt cọc thêm tiền ký quỹ để bù khoản lỗ này,
thậm chí nếu như vị thế giao ngay đã tạo ra một khoản lãi vượt mức khoản lỗ trên hợp đồng giao sau thì cũng không thể nào rút ra khoản lãi trên vị thế giao ngay để bù vào khoản lỗ của vị thế giao sau Đây là trở ngại chính hạn chế người tham gia việc mở
rộng hơn nữa giao dịch giao sau vì lãi và lỗ trên thị trường giao sau được điều chỉnh ngay lập tức còn khoản lãi, lỗ của thị trường giao ngay vẫn chưa xảy ra cho đến khi
việc phòng ngừa rủi ro kết thúc nên những người phòng ngừa rủi ro có khuynh hướng đặt nặng vào các khoản lỗ trên thị trường giao sau hơn là khoản lãi trên thị trường giao ngay, họ cũng có khuynh hướng nghĩ rằng mình thiệt hại nhiều hơn trong cuộc chơi này Nếu như khi khoản lỗ khá lớn, để không ký quỹ bổ sung thì phải kết thúc hợp đồng giao sau, như vậy phòng ngừa rủi ro sẽ không còn tồn tại, và công ty sẽ gặp phải
Trang 21Phương pháp cơ bản nhất là thực hiện vị thế trên thị trường giao sau tương đương với quy mô vị thế trên thị trường giao ngay Phương pháp này còn “chưa đủ
tầm vì chưa tính đến trường hợp giá giao ngay và giá giao sau không thay đổi theo cùng một đại lượng Tuy nhiên trong một số trường hợp, đặc biệt là tài sản phòng ngừa tương tự như tài sản trên hợp đồng giao sau thì tỷ số phòng ngừa như thế là thích hợp
Thi ết lập phần chênh lệch phòng ngừa rủi ro:
Thiết lập phòng ngừa rủi ro liên quan đến vấn đề bổ sung tỷ số phòng ngừa do
có xem xét đến tác động của điều chỉnh theo thị trường Trong thực tế nhiều người tham gia phòng ngừa rủi ro không nhất thiết phải xem xét đến phần chênh lệch này Ngoài ra tính không chắc chắn về lãi suất cũng làm cho các thiết lập chênh lệch này không chính xác theo Tuy nhiên phương pháp này giúp cải thiện các kết quả của phòng ngừa rủi ro
2.1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến biến động giá cà phê
Xu hướng biến động giá trên thị trường cà phê thế giới thường bị ảnh hưởng các
yếu tố như sau:
- Yếu tố thời tiết khí hậu, sâu bệnh ảnh hưởng đến cây cà phê và cán cân cung
cầu cà phê trên thế giới
- Yếu tố diện tích trồng cây cà phê tăng thêm hay giảm đi, áp dụng kỹ thuật mới
và yếu tố mùa vụ
Trang 229
- Yếu tố đầu cơ của các quỹ đầu tư, các tổ chức và các nhà đầu tư tài chính
- Các ảnh hưởng về chính trị, về chiến tranh và những sự kiện lớn trên thế giới
- Ảnh hưởng bởi sự phát triển hay suy thoái của nền kinh tế thế giới
- Chính sách điều hành của chính phủ đối với ngành cà phê
- Chất lượng cà phê, chủng loại cà phê
- Lượng dữ trữ cà phê của các quốc gia, của các doanh nghiệp và nhà sản xuất
- Các tin tức nhận định về nguồn cung, nguồn cầu cà phê của Hiệp hội cà phê thế
giới, Hiệp hội thành viên
- Sự mạnh lên hay yếu đi của các đồng tiền chủ chốt như USD, EUR, JPY…sẽ làm cho giá cà phê biến động ngược chiều với các đồng tiền này
2.1.2 Các công cụ phòng vệ rủi ro biến động giá
2.1.2.1 Sản phẩm phái sinh trên thị trường hàng hoá
• Khái ni ệm các sản phẩm phái sinh trên thị trường hàng hóa
Sản phẩm phái sinh, theo nghĩa chung nhất, là một khoản đầu tư có giá trị phụ thuộc vào giá trị một khoản đầu tư cơ bản khác Hay một khái niệm khác, sản phẩm phái sinh là một sản phẩm mà giá trị của nó phụ thuộc vào giá trị của hàng hóa được
chọn làm cơ sở Trên thực tế, một sản phẩm phái sinh rất giống với một dạng hợp đồng
giữa hai hay nhiều bên Giá trị của sản phẩm phái sinh được xác định phụ thuộc vào
sự biến động giá trị của tài sản cơ sở Tài sản cơ sở là hàng hóa Hàng hóa có thể là cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ, lãi suất, nông sản (cà phê, lúa mì, lúa mạch, gạo, đậu nành );
thực phẩm (thịt heo, thịt bò); kim loại (vàng, bạc, đồng…)
• Ngu ồn gốc hình thành thị trường hàng hóa phái sinh
Trong tiến trình công nghiệp hóa, sản xuất ngũ cốc phát triển, thu hoạch có tính
thời vụ, do đó đòi hỏi tiêu thụ nhanh một khối lượng hàng hóa lớn tạo ra biến động thị trường và giá cả, gây nhiều thiệt hại cho người sản xuất và nhà kinh doanh Để tránh tình trạng này, người sản xuất và nhà kinh doanh đã gặp nhau trước mỗi vụ mùa để
thỏa thuận giá, khối lượng, chất lượng và một thời điểm cụ thể trong tương lai để giao
dịch Tuy nhiên, mọi thỏa thuận không có tính quy chuẩn, thuần túy chỉ là sự thỏa thuận giữa 2 bên Năm 1848, Sàn thương mại Chicago (CBOT) được thành lập hướng
tới mục đích tiêu thụ ngũ cốc bằng cách chuẩn hóa số lượng, chất lượng và phát triển
Trang 2310
các hợp đồng dài hạn về mua bán ngũ cốc Từ đó, thị trường hàng hóa phái sinh ra đời
và phát triển ở nhiều nước, góp phần tích cực tiêu thụ hàng hoá nông sản, làm cho sản
xuất gắn liền với thị trường, giảm rủi ro cho người sản xuất bằng cách chuyển rủi ro sang thị trường, nông sản trở thành đối tượng kinh doanh của các nhà buôn, nhà đầu cơ trên thị trường hàng hóa phái sinh
Ngày nay, thị trường hàng hóa phái sinh đã vượt xa khỏi giới hạn của thị trường nông sản ban đầu Hàng hóa được giao dịch không chỉ là hàng nông sản, mà còn là
tiền tệ và các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số chứng khoán…từ đó hình thành thị trường tài chính phái sinh, cung cấp các công cụ tài chính không chỉ để phòng ngừa rủi ro về giá, mà còn là một công cụ tài chính đầu tư hữu hiệu
Thị trường hàng hóa phái sinh hoạt động liên tục thông qua hệ thống Globex
nối liền các trung tâm giao dịch lớn trên thế giới Sự thay đổi giá cả của các loại hàng hóa chuyển biến từng giây một và gây ảnh hưởng không chỉ đến nền kinh tế của một
quốc gia mà cả khu vực, toàn thế giới
• Ch ủ thể và mục đích sử dụng các sản phẩm hàng hóa phái sinh
Người mua và người bán chính là chủ thể của sản phẩm hàng hóa phái sinh, các
chủ thể này chia thành 2 nhóm: người bảo hộ và nhà đầu cơ, với mục đích tham gia khác nhau:
- Người bảo hộ: là người dự kiến được những rủi ro có thể xảy ra và xét cần
được bảo hộ bằng sản phẩm phái sinh Như vậy, người bảo hộ sử dụng sản phẩm phái sinh với mục đích quản trị rủi ro về giá của nguồn hàng mà mình đang nắm giữ hoặc
sẽ nắm giữ
- Nhà đầu cơ: tham gia vào thị trường để mong chờ kiếm tiền lời từ sự thay đổi
giá của hàng hóa giao dịch Như vậy, nhà đầu cơ sử dụng sản phẩm phái sinh như một công cụ tài chính để kiếm lời
2.1.2.2 Các công cụ tài chính phái sinh
• H ợp đồng kỳ hạn
58T Hợp đồng kỳ hạn là một loại hợp đồng được ký giữa bên mua và bên bán đối
với một loại tài sản (có thể là chứng khoán, dầu mỏ hoặc bất kỳ) tại thời điểm hiện tại nhưng việc thực hiện sẽ được diễn ra trong tương lai
Trang 24thể thay đổi, tăng lên hoặc giảm xuống so với mức giá đã ký kết trong hợp đồng Khi
đó, một trong hai bên mua và bán sẽ bị thiệt hại do đã cam kết một mức giá thấp hơn (bên bán) hoặc cao hơn (bên mua) theo giá thị trường Như vậy bằng việc tham gia vào
một hợp đồng kỳ hạn, cả hai bên đều giới hạn được rủi ro tiềm năng cũng như hạn chế
lợi nhuận tiềm năng của mình
Vì chỉ có hai bên tham gia vào hợp đồng, cho nên mỗi bên đều phụ thuộc duy
nhất vào bên kia trong việc thực hiện hợp đồng Khi có thay đổi giá cả trên thị trường giao ngay, rủi ro thanh toán sẽ tăng lên khi một trong hai bên không thực hiện hợp đồng Ngoài ra, vì mức giá đặt ra mang tính cá nhân và chủ quan nên rất có thể không
chính xác
• H ợp đồng tương lai
- Định nghĩa hợp đồng tương lai
Hợp đồng tương lai hay còn gọi là hợp đồng giao sau, là một thỏa thuận mang tính pháp lý được tạo lập trên một sàn giao dịch có tổ chức để mua/bán một loại tài sản
nhất định vào một thời điểm định trước trong tương lai với mức giá xác định
Đây là một hợp đồng giữa hai bên, bao gồm người mua và người bán Hợp đồng giao sau được ấn định rõ loại hàng hóa, số lượng, chất lượng, giá tương lai, ngày giao hàng
và địa điểm giao hàng Cả hai bên được xem như cùng tham gia vào một trò chơi có
tổng bằng 0, khoản lời của bên này chính là khoản lỗ của bên kia
Hợp đồng giao sau được giao dịch trên thị trường có tổ chức, được gọi là sàn giao dịch giao sau, thông qua một môi giới trên thị trường chứng khoán; và người mua và người bán thường không quen biết nhau, do vậy đơn vị môi giới thường quy định trước một
số các điều khoản cho những hợp đồng này về mặt số lượng hàng hóa, ngày giao hàng
và nơi giao hàng… Hợp đồng tương lai được tái thanh toán hằng ngày, và được ấn định, ghi nhận trên thị trường, nên các khoản lời lỗ được nhận biết hằng ngày
Để tránh những rủi ro khi thực hiện hợp đồng mua bán trong tương lai, do người mua, hoặc người bán tháo lui khỏi hợp đồng vì sự biến động giá trên thị trường
Trang 2512
bất lợi cho mình, hoặc do đến thời điểm thanh toán, người mua không có khả năng tài chính, văn phòng chứng khoán phải đưa ra những qui định về yều cầu dự trữ tối thiểu đối với người ký hợp đồng tương lai với nhà môi giới Khoản tiền dự trữ này được giữ
tại một tài khoản của người đầu tư mở tại văn phòng chứng khoán
- Vị thế mua và vị thế bán hợp đồng tương lai
Mua h ợp đồng tương lai: Mua hàng hóa ở một thời điểm xác định trong tương
lai với giá cố định trước: Khi biết chắc sẽ mua hàng hóa đó trong tương lai và muốn
chốt giá ngày hôm nay
Bán h ợp đồng tương lai: Bán hàng hóa ở một thời điểm xác định trong tương
lai với giá cố định trước: Khi đã sở hữu hoặc sẽ sở hữu hàng hóa và đang chờ bán trong tương lai
- Đóng vị thế một hợp đồng tương lai
Trong hợp đồng tương lai, các bên không cần phải chờ hợp đồng đến hạn mà có
thể đóng trạng thái bằng cách thực hiện nghiệp vụ thanh toán bù trừ, nghĩa là lập một
hợp đồng ngược lại vị thế đã có Đây là một đặc tính hết sức độc đáo của hợp đồng tương lai, các bên có thể mua đi bán lại nhiều lần cho một loại hàng hóa vào một tháng giao hàng nhất định trong tương lai, chính nhờ vậy làm tăng tính thanh khoản của hợp đồng tương lai
- Các vị thế trong hợp đồng tương lai và chiến lược bảo hộ
V ị thế trường vị (long position): Mua hàng hóa ở một thời điểm xác định trong
tương lai với mức giá cố định trước Điều kiện thực hiện chỉ xảy ra khi biết chắc sẽ mua hàng hóa đó trong tương lai và muốn chốt giá ngày hôm nay
V ị thế đoản vị (short position): Bán hàng hóa ở thời điểm xác định trong tương
lai với giá cố định trước Điều kiện thực hiện chỉ xảy ra khi đã sở hữu hoặc sẽ sở hữu hàng hóa và đang chờ bán trong tương lai
Nguyên t ắc cơ bản của chiến lược bảo hộ: cố gắng gắn kết đặc tính giao dịch
mua/bán trong tương lai, bằng trị giá và có tính cùng chiều với giao dịch hàng hóa
thực, với kỳ vọng bù đắp một phần hoặc toàn bộ khoản lỗ có thể phát sinh từ rủi ro
Điều kiện căn bản khi áp dụng chiến lược bảo hộ: giả định giá của giao dịch
hàng hóa thực và giá của hợp đồng tương lai giống nhau hoặc là biến động cùng chiều
và rất gần nhau
Trang 2613
• H ợp đồng quyền chọn (option)
Quyền chọn là hợp đồng giữa hai bên, người mua và người bán, trong đó cho người mua quyền nhưng không phải nghĩa vụ, để mua hoặc bán một tài sản nào đó vào ngày trong tương lai với giá đã đồng ý vào ngày hôm nay Có hai loại hợp đồng quyền
chọn: Hợp đồng quyền chọn mua (call option) và hợp đồng quyền chọn bán (put option)
Khác với hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn chỉ quy định quyền giao hay nhận, mà không bắt buộc các bên phải giao sản phẩm Người mua quyền có thể: Thực hiện quyền, hay bán quyền cho một người mua khác; hay không
thực hiện quyền Để có quyền này, khi ký hợp đồng, người cầm hợp đồng phải trả quyền phí, giá trong hợp đồng được gọi là giá thực hiện, ngày định trong hợp đồng gọi
là ngày đáo hạn hay ngày thực hiện Có hai kiểu thực hiện hợp đồng quyền chọn, đó là
thực hiện hợp đồng quyền chọn theo kiểu Mỹ và theo kiểu châu Âu Theo kiểu Mỹ là
thực hiện quyền chọn vào bất kỳ thời điểm nào trước ngày đáo hạn Theo kiểu châu
Âu là thực hiện quyền chọn chỉ trong ngày đáo hạn Hiện nay trên các thị trường
chứng khoán hầu hết thực hiện theo kiểu Mỹ
Với ý nghĩa trên, một quyền chọn giống như một hình thức bảo hiểm giá trong
đó một người trả giá cao để đảm bảo chống lại khả năng một sự kiện đặc biệt xảy ra
Nếu sự kiện đó, đặc biệt là một sự thay đổi lớn về giá, không xảy ra, người mua quyền
chọn mất chỉ mất phí bảo hiểm đã chi trả cho bảo hiểm giá Trong khi đó, thiệt hại về
vị thế kỳ hạn ngắn, về cơ bản, là không giới hạn; thiệt hại về vị thế kỳ hạn dài được
giới hạn cho giá của hợp đồng
- Quyền chọn bán
Hợp đồng quyền bán là thoả thuận cho phép người cầm hợp đồng có quyền bán
sản phẩm cho một nhà đầu tư khác với mức giá định sẵn vào ngày đáo hạn của hợp đồng
Quyền chọn bán đặt một mức giá tối thiểu cho lượng hàng hóa theo hợp đồng
Điều này cho phép người mua quyền nhưng không phải là nghĩa vụ để có một vị thế
ngắn trong kỳ hạn cơ sở ở một mức giá cụ thể (được gọi là giá thực hiện) trong một
khoảng thời gian quy định
Khi một người nông dân mua một quyền chọn bán cho một bảo hiểm, có quyền chọn
Trang 2714
bán hoặc tham gia ngắn hạn vào một hợp đồng thị trường kỳ hạn cụ thể nếu giá của
hợp đồng giảm xuống dưới giá thực hiện Mức giá thực hiện, trừ phí bảo hiểm cho quyền chọn bán, thiết lập mức giá tối thiểu mà người nông dân sẽ nhận được cho mặt hàng ký hợp đồng
- Quyền chọn mua
Hợp đồng quyền chọn mua là thoả thuận cho phép người cầm hợp đồng có quyền mua sản phẩm từ một nhà đầu tư khác với mức giá định sẵn vào ngày đáo hạn
của hợp đồng
Quyền chọn MUA đặt một mức giá tối đa cho lượng hàng hóa theo hợp đồng
Điều này cho phép người mua quyền nhưng không phải là nghĩa vụ để có một vị thế
dài trong kỳ hạn cơ sở ở mức giá thực hiện trong một khoảng thời gian quy định Khi người nông dân mua một quyền chọn MUA cho một bảo hiểm, có quyền chọn mua hoặc tham gia dài hạn vào một hợp đồng thị trường kỳ hạn cụ thể nếu giá của hợp đồng tăng lên trên giá thực hiện Mức giá thực hiện, trừ phí bảo hiểm cho quyền chọn MUA, thiết lập mức giá tối đa mà người mua sẽ phải trả cho mặt hàng hợp đồng
Khi một quyền chọn đã được mua, người mua (người nắm giữ) có ba lựa chọn thay
thế Đầu tiên, quyền chọn có thể được phép hết hạn Thứ hai, quyền chọn có thể được bán cho người khác hoặc bù trừ; người mua ban đầu, bằng cách bán cho một bên thứ
ba, đã chuyển giao quyền của mình cho bên đó Thứ ba, quyền chọn có thể được thực
hiện, về cơ bản đòi hỏi người bán cung cấp vị thế kỳ hạn cơ sở
- Cơ chế phòng vệ rủi ro về giá bằng quyền chọn
Bảo hiểm rủi ro với các quyền chọn tương tự như bảo hiểm rủi ro với giao dịch
kỳ hạn Sự khác biệt chính là quyền chọn được mua đi bán lại, với mức thu được trong giá trị quyền chọn được sử dụng để bù đắp rủi ro giá âm Khi giao dịch kỳ hạn được sử
dụng để bảo hiểm, chính sự thay đổi giá trị của giá kỳ hạn trực tiếp tạo ra lợi nhuận
hoặc lỗ làm giảm thiểu rủi ro về giá
Bảo hiểm quyền chọn có liên quan trực tiếp đến giá trị nội tại của một quyền
chọn cũng như giá trị thời gian của nó Giá trị nội tại là sự khác biệt giữa giá thực hiện
của một quyền chọn và giá kỳ hạn hiện hành
2.1.2.3 Phòng vệ rủi ro bằng hedging với vị thế mua và bán
• Khái ni ệm
Trang 2815
Phòng ngừa rủi ro (Hedging) hàm ý chỉ một giao dịch được thiết kế sao cho làm
giảm hoặc trong một vài trường hợp loại trừ được rủi ro Có một số giao dịch thích
hợp với phòng ngừa rủi ro trên hợp đồng kỳ hạn nhưng lại có một số rủi ro thích hợp hơn nếu như sử dụng hợp đồng giao sau, và trong một số trường hợp hợp đồng quyền
chọn lại thích hợp hơn Trong việc lựa chọn một công cụ nào đó, thường là sự đánh đổi giữa thuận lợi và bất lợi của chúng do đó đôi khi phụ thuộc vào người phòng ngừa
rủi ro Ví dụ thói quen sử dụng công cụ nào đó, hoặc đối thủ cạnh tranh sử dụng v.v
• Các lo ại phòng ngừa rủi ro (hedging) bằng hợp đồng giao sau
- Phòng ngừa vị thế bán
Phòng ngừa vị thế bán nghĩa là phòng ngừa bằng cách bán trên thị trường giao sau Người phòng ngừa rủi ro đang nắm giữ một tài sản và đang sợ một sự sụt giá của tài sản và xem xét phòng ngừa bằng việc bán trên thị trường giao sau
Ví d ụ phòng ngừa vị thế bán:
Giả dụ hiện giờ đang là thời điểm ở tháng 6, giá cà phê tháng 9 trên thị trường
Liffe London đang niêm yết $1840/ tấn
Nhà đầu tư đang nắm giữ một lượng hàng thực tế, giả dụ 100Mts, đã mua vào
với mức giá tương đương $1840/ tấn, chưa ký hợp đồng xuất bán
Do có thông tin về giá giao ngay kỳ vọng tháng 9 là $1.850, nên nhà sản xuất đi đến quyết định chốt bán một phần sản lượng sẽ bán vào cuối tháng 9 ở mức $ 1.850 (đúng như mức giá kỳ vọng) trên thị trường giao sau bằng hợp đồng 3 tháng Khi ra quyết định này nhà sản xuất có niềm tin rằng mức giá $1.850 sẽ tạo ra một tỉ suất sinh
lợi hợp lý cho mình, phòng ngừa rủi ro sẽ hạn chế bất kỳ khoản lỗ tiềm ẩn nào, nếu có,
do giá thị trường có khả năng sụt giảm đối với giá giao dịch niêm yết tháng 9/2014
U
Trường hợp 1:U Vào tháng 9, giá giao sau 3 tháng Tháng 9-Liffe London tăng lên là $1.870, kết quả là người bán giao sau lỗ $20 ( Bán $1.850 vào tháng 6 và mua
lại $1.870 vào tháng 9)
Trang 2916
Phòng ng ừa vị thế bán – giá giao sau tăng $20
Hình trên cho thấy trường hợp lỗ từ vị thế bán, do giá giao sau tăng lên $20
Giả định basic (chênh lệch giữa giá giao sau và giá giao ngay) là một hằng số
Trong trường hợp này, do basic được giả định là một hằng số không đổi vì thế
giá giao ngay tháng 9 cũng tăng $20, từ $1.850 lên $1.870 Lúc bấy giờ nhà sản xuất
sẽ bán hàng hóa trên thị trường giao ngay và thu về $20 lợi nhuận Kết cuộc này bù
đắp lại vào $20 khoản lỗ trên thị trường giao sau Hình 1.4 cho chúng ta nhận diện
được cơ chế này
L ỗ vị thế bán giao sau bù trừ bằng khoản lãi giao ngay- Giá giao ngay tăng $20
Đây là tổng số lợi nhuận ròng cả giao dịch giao ngay và giao dịch giao sau,
chúng sẽ xác định hiệu quả của phòng ngừa trong khi chốt các mức giá Việc các giao
dịch có được bù trừ hoàn toàn hay không sẽ phụ thuộc vào basic Phòng ngừa rủi ro
thông qua hợp đồng giao sau không đặt thành vấn đề quan trọng đối với các biến động
tăng lên hay giảm xuống của giá giao sau miễn là giá giao ngay thay đổi theo cùng một
chiều hướng và cùng với một mức độ giống như giá giao sau Giả định Basic là một
Trang 30giảm thiểu được rủi ro do giá cả hàng hóa giảm thấp hơn
Trường hợp 2: Vào tháng 9, giá giao sau tháng 9 giảm 20$ còn 1830$, kết quả
là người bán giao sau lãi $20 ( Bán $1850 vào tháng 6 và mua lại $1830 vào tháng 9) Giá trên thị trường giao ngay tháng 9 giảm 20$ Nhà sản xuất bán trên thị trường giao ngay lỗ 20$, khoản lỗ này được bù đắp bằng khoản lãi trên thị trường giao ngay Hình 1.5 cho chúng ta thấ y trường hợp lãi từ vị thế bán giao sau bù đắp cho khoản lỗ từ thị trường giao ngay khi giá sau giảm $20
Lãi v ị thế bán giao sau bù trừ bằng khoản lỗ giao ngay - Giá giao ngay giảm $20
Trang 3118
Các kết quả phòng ngừa vị thế bán và vị thế mua giao sau Phòng ng ừa vị thế bán Phòng ngừa vị thế mua
Mở cửa giao dịch giao sau Bán giao sau Mua giao sau
Đóng cửa giao dịch giao sau Mua giao sau Bán giao sau
Giao ngay Bán Mua
Sụt giảm trong giá giao sau Lãi Lỗ
Gia tăng trong giá giao sau Lỗ Lãi
Sụt giảm trong giá giao giao ngay Lỗ Lãi
Gia tăng trong giá giao ngay Lãi Lỗ
• R ủi ro Basic ảnh hưởng đến kết quả của phòng ngừa rủi ro (hedging)
Tiếp theo ví dụ basic cà phê ngày 16/07/08 và 21/07/08
Giả dụ nếu ngày 16/07/08 nhà kinh doanh mua cà phê trên thị trường giao sau
với giá 1812 USD/ tấn, basic -37USD Đến ngày 21/07/08 ông ta bán giao sau với giá
1869 USD tấn và mua hàng thật với giá 1845 USD, basic bây giờ chỉ còn – 24 USD Như vậy nhà kinh doanh này đã bị lỗ mất 13 USD/ tấn bởi vì nếu basic cố định ông ta
đã bán được hợp đồng giao sau với giá 1845 + 37 = 1882 USD/ tấn vào ngày 21/07/08
Nếu giá giao ngay tăng nhiều hơn giá giao sau, basic sẽ tăng lên Đây được gọi
là basic mở rộng và chúng làm cải thiện thành quả của phòng ngừa vị thế bán Nếu giá giao sau tăng nhiều hơn giá giao ngay, basic sẽ giảm đi và làm giảm đi thành quả của phòng ngừa rủi ro vị thế bán Đây là basic thu hẹp
Đối với phòng ngừa vị thế mua thì ngược lại, Basic thu hẹp lại làm cho phòng
ngừa vị thế mua tốt hơn và ngược lại basic mở rộng làm cho kết quả lại giảm đi
Mối quan hệ giữa mức độ sinh lợi của phòng ngừa rủi ro và basic được tóm lược trong bảng dưới đây
Trang 3219
1 B ảng 2.1 Mối quan hệ giữa mức độ sinh lợi của phòng ngừa rủi ro và basic
tiến lại gần nhau hơn
Ít người bán làm tăng giá mua giao ngay giao ngay Lưu giữ hàng hóa trên thị trường
Trang 3320
Hình ảnh minh họa cho Basic âm Basic dương: Nếu giá giao ngay cao hơn giá giao sau tại thời điểm bán hàng
Thị trường có basic dương được gọi là thị trường lùi (backwardation)
Trong trường hợp basic dương nhà sản xuất sẽ bán giao ngay hàng hóa của mình và
tiến hành mua giao sau Nếu có nhiều người làm như thế, sẽ tạo nên sức ép làm giảm giá giao ngay Trong khi đó, do có nhiều người mua, nên sẽ làm cho giá giao sau tăng lên Giá giao ngay và giá giao sau sẽ di chuyển cùng nhau
Hình ảnh minh họa cho basic dương
Bi ến động của basic:
Basic sẽ xác định phòng ngừa rủi ro hiệu quả như thế nào trên thị trường giao sau đối với nhà sản xuất Tùy vào phòng ngừa rủi ro là bán giao sau (mua giao ngay) hay mua giao sau (bán giao ngay) mà các tác động lên basic thay đổi khác nhau Điều này càng trở nên quan trọng hơn nếu những nhà kinh doanh muốn thoát khỏi vị thế trước ngày đáo hạn của hợp đồng giao sau, hoặc là họ đang rơi vào tình thế khả năng giao nhận hàng trên hợp đồng giao sau là không thể thực hiện được hoặc không khả thi
Tóm tắt lại các trường hợp tác động của basic, Bảng 1.9 dưới đây cho thấy các trường hợp xảy ra:
Tóm lược tổng thể của basic cho các kịch bản
Trang 3421
Phòng ngừa vị thế bán Phòng ngừa vị thế mua
Basic kỳ vọng Basic mở rộng Basic thu hẹp Basic mở rộng Basic thu hẹp
Âm Lỗ Lãi Lãi Lỗ
Dương Lãi Lỗ Lỗ Lãi
vị đo lường trong nước sang một đơn vị đo lường qui ước trên thị trường quốc tế
2.1.2.4 Tình hình sử dụng các công cụ phái sinh cho cà phê tại Việt Nam
Mặc dù lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam đứng thứ 2 trên thế giới, nhưng các doanh nghiệp Việt Nam lại xa lạ với tập quán mua bán quốc tế theo hợp đồng tương lai và quyền chọn Các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam quen phương thức bán hợp đồng chốt giá sau Hàng được giao lên tàu ở cảng xuất nhưng giá cả vẫn chưa quyết định Cách này rất mạo hiểm và nhiều doanh nghiệp luôn phải chịu thiệt do không có đủ thông tin thị trường và thường chốt giá sai thời điểm Năm 2004, ngành công nghiệp cà phê Việt Nam mới chập chững tham gia vào sàn giao dịch LIFFE, với
sự kiện Công ty Xuất nhập khẩu Đắc Lắc đi tiên phong Tuy còn mới mẻ, nhưng hoạt động mua bán cà phê qua Sàn giao dịch đã mang lại những hiệu quả nhất định Theo đánh giá của Techcombank, hợp đồng tương lai được doanh nghiệp sử dụng như một công cụ để phòng tránh rủi ro và xác định giá thị trường thế giới Nhất là trong cơn
biến động giá cà phê trên thị trường vào các tháng 2,6 và 7 năm 2005, hợp đồng kỳ
hạn đã góp phần giảm bớt rủi ro về đột biến giá cho doanh nghiệp và còn mang lại lợi ích cho người trồng cà phê
Trang 3522
TƯƠNG LAI VÀ VIỆC SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH PHÒNG NGỪA BIẾN ĐỘNG GIÁ
Nghiên cứu sự biến động giá trên các sàn giao dịch cà phê thế giới Liffe London cho cà phê Robusta và NYBOT cà phê Arabica với dữ liệu giá theo chuỗi thời gian từ tháng 3/1991 đến tháng 5/2003, Sushil và James (2004) đã đánh giá biến động giá rủi ro như thế nào đến hoạt động mua bán của các nhà sản xuất-kinh doanh cà phê trên thế giới
Tác giả áp dụng phương pháp phân tích định lượng thông qua các kiểm định nghiệm đơn vị Unit Root Test, kiểm định Phillips-Hansen, kết hợp phân tích hồi quy để tìm ra
mối quan hệ giữa giá giao ngay và giá tương lai Kết quả đạt được trong mô hình nghiên cứu, Sushil và James đã chỉ ra được rằng giá cả tương lai phải là dự báo không thiên lệch của giá cả giao ngay, đồng thời giá tương lai phải giải thích các biến động
của giá giao ngay Mối quan hệ giữa giá giao ngay và giá tương lai được thể hiện qua phương trình: LSPR t+x R= bR 0 R + bR 1 R LFPR t,t+x R+ uR t R Với kết quả nghiên cứu trên, kết hợp vận
dụng các công cụ tài chính phái sinh là hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn để đưa ra giải pháp phòng vệ rủi ro về biến động giá trong kinh doanh cà phê
Trong nghiên cứu “Ứng dụng mô hình định giá quyền chọn Black Scholes trên sàn giao dịch hàng hóa quốc tế Luân Đôn đối với sản phẩm cà phê Robusta” của Dương Văn Tâm (2012), với dữ liệu thu thập được theo dạng chuỗi thời gian là giá cà phê niêm yết trên thị trường Luân Đôn từ 4/1/2010 đến 10/9/2012 thông qua trang web: giacaphe.com, tác giả thực hiện phương pháp nghiên cứu định lượng mô hình định giá quyền chọn Black Sholes Bằng một số phương pháp kiểm định và ước lượng như kiểm định nghiệm đơn vị Dickey-Fuller, kiểm định mô hình ARCH, ước lượng ARMA…tác giả đã xác định được các vấn đề liên quan đến việc ước lượng độ bất ổn
và đưa ra các kết quả: độ bất ổn suất sinh lợi sản phẩm cà phê tỷ lệ thuận với giá quyền chọn hợp đồng; Giá thực hiện quyền tỷ lệ nghịch với giá quyền chọn mua, và ngược lại giá thực hiện quyền tỷ lệ thuận với giá quyền chọn bán; Thời gian khi đáo
hạn của hợp đồng quyền chọn tỷ lệ thuận với giá quyền chọn, thời gian đáo hạn càng dài thì giá trị quyền chọn càng cao và ngược lại; Giá giao ngay tăng hay giảm cũng làm thay đổi giá quyền chọn
Trang 3623
Trong nghiên cứu của Nguyễn Lê Tường Vy (2007) về “Sử dụng hợp đồng tương lai và quyền chọn để phòng ngừa rủi ro biến động giá nguyên liệu cà phê tại Công ty Cà phê Trung Nguyên” Tác giả đã sử dụng phương pháp tổng hợp để thu
thập thông tin Sau đó, sử dụng phương pháp logic và phân tích để hệ thống hóa từng nhóm thông tin, qua đó thuận tiện cho việc đối chiếu, so sánh Số liệu được thu thập
chủ yếu từ nguồn thứ cấp từ: Trung Nguyên, sách báo, tạp chí, giáo trình, các tổ chức, định chế liên quan… bao gồm: biến động giá cà phê trên sàn giao dịch cà phê thế giới Liffe London trong giai đoạn 1980-2006, các kết quả hoạt động kinh doanh tại công ty Trung Nguyên giai đoạn 2004-2006 Kết quả nghiên cứu cho thấy giá cà phê luôn biến động thất thường, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cà phê chịu rủi ro rất cao, sử dụng hợp đồng tương lai và quyền chọn trên 2 sàn giao dịch Liffe và Nybot là yêu cầu cấp thiết mang tính thực tiễn rất cao Nghiên cứu và xây dựng được phương án
áp dụng hợp lý sẽ cho phép hoạt động kinh doanh được duy trì ổn định, tiếp cận chuẩn
thế giới và mở ra nhiều khả năng kinh doanh mới, trong đó nổi bật nhất là gia tăng
xuất khẩu cà phê; đồng thời góp phần đảm bảo, duy trì lợi nhuận ổn định cho Công ty
Gần giống nghiên cứu của tác giả Tác giả Nguyễn Lê Tường Vy, tác giả Bùi
Hải Như lại nghiên cứu không phải đối với mặt hàng cà phê mà ứng dụng cho kim loại qua bài viết “ ỨNG DỤNG NGHIỆP VỤ PHÒNG NGỪA RỦI RO (HEDGING)
BẰNG CÁC HỢP ĐỒNG GIAO SAU TRÊN SÀN GIAO DỊCH KIM LOẠI LUÂN ĐÔN (LME) TRONG KINH DOANH CỦA CÔNG TY GIA KIM (2002 – 2008) Trong bài tác giả đã sử dụng phương pháp Phân tích định lượng dựa trên các số liệu
thống bao gồm nguồn số liệu kinh doanh thực tế tại công ty Gia Kim, số liệu tổng hợp,
biểu đồ phân tích về giá cả kim loại thế giới trong những năm 2002-2008 từ nguồn Reuters, Bloomberg Với phương pháp thống kê, phân tích mô tả Kết quả cho thấy
việc áp dụng nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro (hedging) bằng hợp đồng giao sau (futures contract) qua sàn giao dịch LME sẽ giúp công ty nâng cao hiệu quả kinh doanh qua công ty đảm bảo được giá nhập như dự kiến cũng như đạt được lợi nhuận mong muốn
hoặc ít nhất hạn chế được khoản lỗ trong giới hạn chấp nhận được
Trang 3724
Trong chương này, chúng ta đã tìm hiểu về cà phê là gì? Giá trị của cà phê đối
với nền kinh tế thế giới Bên cạnh đó chúng ta nghiên cứu về các công cụ tài chính phái sinh: Hợp đồng giao sau và quyền chọn, được xem như là các công cụ tài có thể
sử dụng hiệu quả trong việc phòng vệ rủi ro về giá
Hợp đồng tương lai là một hợp đồng giữa hai bên, bao gồm người mua và người bán, để mua bán tài sản vào một ngày trong tương lai với giá đã thoả thuận ngày hôm nay Hợp đồng giao sau tiến triển từ hợp đồng kỳ hạn nên có những điểm giống
với hợp đồng kỳ hạn, đều được ấn định rõ loại hàng hóa, số lượng, chất lượng, giá tương lai, ngày giao hàng và địa điểm giao hàng Cả hai đều là một trò chơi có tổng
bằng 0, khoản lời của bên này chính là khoản lỗ của bên kia Trong hợp đồng tương lai, các bên không cần phải chờ hợp đồng đến hạn mà có thể đóng trạng thái bằng cách
thực hiện nghiệp vụ thanh toán bù trừ, nghĩa là lập một hợp đồng ngược lại vị thế đã
có
Một quyền chọn giống như một hình thức bảo hiểm giá trong đó một người trả giá cao để đảm bảo chống lại khả năng một sự kiện đặc biệt xảy ra Nếu sự kiện đó, đặc biệt là một sự thay đổi lớn về giá, không xảy ra, người mua quyền chọn chỉ mất phí bảo hiểm đã chi trả cho bảo hiểm giá Trong khi đó, thiệt hại về vị thế kỳ hạn ngắn,
về cơ bản, là không giới hạn; thiệt hại về vị thế kỳ hạn dài được giới hạn cho giá của
hợp đồng
Hợp đồng tương lai và quyền chọn có thể vận dụng để phòng vệ rủi ro về biến động giá trong kinh doanh Điều này được chứng minh qua một số nghiên cứu trước đây như: Giá cà phê tương lai, công cụ giảm rủi ro về giá cho các nhà sản xuất cà phê
của SuShil và James; Sử dụng hợp đồng tương lai và quyền chọn để phòng ngừa rủi ro
biến động giá nguyên liệu cà phê tại Công ty Cà phê Trung Nguyên của tác giả Nguyễn Lê Tường Vy…
Trang 3825
CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
dữ liệu được thu thập tại trang web: Uwww.acaphe.comU
3.1.2 Mô t ả cơ chế niêm yết giá cà phê
Giá cà phê được niêm yết theo các tháng lẻ trong năm: 1-3-5-7-9-11
Trong mỗi phiên giao dịch sẽ có 4 mức giá được niêm yết, ví dụ vào ngày 1 tháng 8 năm 2014 thì niêm yết các giá sau: Giá tháng 9/2014, giá tháng 11/2014, giá tháng 1/2015 và giá tháng 3/2015; Giá của tháng giao dịch gần nhất được gọi là giá giao ngay, các tháng giao dịch tiếp theo gọi là giá tương lai
Trừ các ngày nghỉ và ngày lễ, giá thay đổi liên tục trong phiên giao dịch, bắt đầu từ 15 giờ chiều Việt Nam, và đóng cửa lúc 24 giờ Việt Nam; Giá đóng cửa của phiên giao dịch hôm nay sẽ là giá mở cửa của phiên giao dịch ngày mai
2 Bảng 3.1: Bảng niêm yết giá sau phiên giao dịch ngày 29/6/2014 trên sàn giao
dịch liffe London
Tháng Thay đổi Giá khớp Số lượng Cao nhất Thấp nhất Mở cửa Phiên
trước 07/14 +18 2026 10841 (+52)2060 (-1)2007 2007 2008
(Ngu ồn: Trang web acaphe.com)
Từ bảng giá niêm yết hàng ngày, tác giả thống kê dữ liệu theo từng ngày, cho
mỗi loại giá được niêm yết (Bảng 4.2)
Trang 3926
3 B ảng 3.2: Bảng giá cà phê giao ngay – giá tương lai
Date spot_price future_1 future_2
(Ngu ồn: Tác giả thu thập, tổng hợp)
3.2 QUY TRÌNH PHÂN TÍCH DỮ LIỆU
- Bước 1: Đầu tiên, số liệu được thu thập từ thông tin công bố trên website
chính thức về cà phê Số liệu được thống kê theo tháng và được xử lý lại bằng cách
lấy logarit hệ dữ liệu ba biến số để tạo độ đồng nhất và độ mượt cho dữ liệu, và đơn
giản hóa cho việc đánh giá cũng như xử lý số liệu ở các bước tiếp theo
- Bước 2: Tiến hành thực hiện phân tích thống kê mô tả thông qua phương pháp
phân tích Jarque-Bera để kiểm định phân phối chuẩn của hệ dữ liệu Giá trị skewness
và kurtosis giúp hình dung về hình dáng của phân phối Skewness đo lường độ lệch
của phân phối còn gọi là hệ số bất đối xứng, cụ thể:
- Skewness = 0: phân phối cân xứng
- Skewness > 0: phân phối lệch phải
- Skewness < 0: phân phối lệch trái
Kurtosis đo lường mức độ tập trung tương đối quanh trung tâm của nó trong
mối quan hệ so sánh với hai đuôi Cụ thể:
- Kurtosis = 3: phân phối tập trung ở mức độ bình thường
Trang 4027
- Kurtosis > 3: phân phối tập trung hơn hơn mức độ bình thường Hình
dạng của đa giác tần số trong khá cao với hai đuôi hẹp
- Kurtosis < 3: phân phối tập trung hơn hơn mức độ bình thường Hình
dạng của đa giác tần số tù với hai đuôi dài
- Bước ba, thực hiện kiểm định nghiệm đơn vị thông qua phương pháp Dickey-Fuller, Phillips-Perron để kiểm tra tính dừng của chuỗi số liệu
- Bước bốn, tiến hành kiểm định mô hình ECM để xác định cụ thể mối quan
hệ trong dài hạn
Dựa trên mô hình của Sushil và James (2004) nghiên cứu rủi ro giá cà phê để nghiên cứu mối quan hệ giữa giá cà phê giao ngay và giá cà phê tương lai sau 3 tháng (và 6 tháng), luận văn đưa ra mô hình đề xuất nghiên cứu như sau:
LSPR t R = bR 0 R + bR 1 RLFPR t R + uR t R (1) Trong đó:
• Biến phụ thuộc
LSPR t R là giá cà phê giao ngay tại thời điểm t
• Biến độc lập:
LFPR t Rlà giá cà phê tương lai sau 3 tháng (6 tháng) tại thời điểm t;
uR t R là sai số của mô hình;
bR 0 R và bR 1 R là tham số của mô hình
Giả thuyết thường được sử dụng để kiểm định sự hiệu quả của thị trường là sự chênh lệch giữa giá giao ngay và giá tương lai trễ, tính theo log, là ổn định và không tương quan chuỗi Có hai lý do cho điều này, thứ nhất, từ quan điểm của người sản
xuất cà phê, rủi ro giá cả giảm xuống chỉ khi thay đổi trong giá tương lai trễ có tương quan với biến động giá giao ngay Thứ hai, ước lượng phương trình sai phân bậc 1 là
dễ hơn vì nó thường cho ra ước lượng hiệu quả hơn do nó giải quyết vấn đề phổ biến
về sự không ổn định và tương quan chuỗi Phương trình (1) có thể được viết theo dạng sai phân bậc một của hai chuỗi:
DLSPR t+x R = bR 1 R + bR 1 RDLFPR t,t+x R + uR t R (2)