Với thực trạng công tác quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang còn nhiều bất cập, hiệu quả đạt được từ công tác quản lý thuế nhập khẩu chưa cao; tình trạng lợi dụng chín
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING
BÙI THỊ THÙY GIANG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng
Trang 2BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING
BÙI THỊ THÙY GIANG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH KIÊN GIANG
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Bùi Thị Thùy Giang
Trang 49 KTSTQ : Kiểm tra sau thông quan
10 VNACSS : Viet Nam Automated Cargo Clearance System (Hệ thống thông
quan hàng tự động của Việt Nam)
11 VCIS : Viet Nam Customs Intelligence Information System (Hệ thống
thông tin tình báo Hải quan Việt Nam)
12 XNK : Xuất nhập khẩu
13 NK : Nhập khẩu
14 XK : Xuất khẩu
15 NQ : Nghị quyết
16 WTO : World Customs Orgnization (Tổ chức thương mại thế giới)
17 WCO : World Trade Orgnization (Tổ chức Hải quan thế giới)
18 DN : Doanh nghiệp
19 HQCK : Hải quan cửa khẩu
20 C/O : Certificate of Origin (Chứng nhận xuất xứ)
21 HS : Harmonized System (Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng)
22 GATT : General Agreement on Tariffs and Trade (Hiệp định chung về
thuế quan và thương mại
Trang 5iii
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Số hiệu
2.1 Kim ngạch XNK của Kiên Giang từ năm 2010 -2014 29
2.2 Kết quả thu thuế NSNN của Cục Hải quan tỉnh Kiên
2.3 Số lượng DN làm thủ tục hải quan tại Cục Hải quan
2.4 Số lượng tờ khai được đăng ký làm thủ tục hải quan tại
Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang từ năm 2010 - 2014 37
2.5 Kết quả thu thuế NK vào NSNN của Cục Hải quan tỉnh
2.6 Số liệu xử lý vi phạm pháp luật về thuế tại Cục Hải
quan tỉnh Kiên Giang từ năm 2010 - 2014 45 2.7 Số vụ vi phạm phát hiện và bắt giữ của Cục Hải quan
Trang 6iv
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Số hiệu
2.1 Kim ngạch NK của Kiên Giang từ năm 2010 -2014 29
2.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy của Cục Hải quan tỉnh Kiên
2.3 Số thu thuế XNK của Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang 33
2.5 Sơ đồ quy trình tiếp nhận đăng ký hồ sơ hải quan 34
2.7 Số thuế NK của Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang 39
Trang 71.1.1.2 Các loại thuế XNK:32T 1 32T
1.1.1.3 Tác động của thuế XNK:32T 2 32T
1.1.2 Thuế nhập khẩu:32T 3 32T
1.2 Quản lý thuế nhập khẩu:32T 3 32T
1.2.1 Khái niệm quản lý:32T 3 32T
1.2.2 Khái niệm quản lý thuế:32T 4 32T
1.2.3 Khái niệm quản lý thuế nhập khẩu:32T 5 32T
1.2.4 Mục tiêu của công tác quản lý thuế nhập khẩu:32T 6 32T
1.2.5 Nguyên tắc quản lý thuế NK:32T 7 32T
1.2.6 Chủ thể quản lý thuế nhập khẩu:32T 7 32T
1.3 Nội dung quản lý thuế:32T 9 32T
1.3.1 Quản lý khai thuế:32T 9 32T
1.3.2 Quản lý nộp thuế:32T 9 32T
1.3.3 Miễn, xét miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, không thu thuế:32T 10 32T
1.3.4 Quản lý thông tin về người nộp thuế nhập khẩu:32T 10 32T
1.3.5 Kiểm tra sau thông quan, thanh tra thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế nhập khẩu:32T 11 32T
1.3.6 Cưỡng chế thi hành Quyết định hành chính về thuế và xử lý vi phạm pháp luật về thuế nhập khẩu:32T 12
Trang 81.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế của cơ quan Hải quan:32T 13 32T
1.4.1 Nhóm yếu tố chủ quan:32T 13 32T
1.4.2 Nhóm yếu tố khách quan:32T 14 32T
1.5 Kinh nghiệm quản lý thuế của các nước trên thế giới, của các cơ quan hải quan địa phương và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc nâng cao công tác quản
lý thuế nhập khẩu:32T 16 32T
1.5.1 Kinh nghiệm của Hải quan Nhật Bản trong quản lý trị giá hải quan hàng nhập khẩu:32T 16 32T
1.5.2 Kinh nghiệm của Hải quan Ma-rốc về ứng dụng tin học trong công tác quản lý thuế nhập khẩu đối với các dự án đầu tư:32T 16 32T
1.5.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử (TMĐT):32T 17 32T
1.5.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc nâng cao công tác quản lý thuế nhập khẩu.32T 17 32T
1.5.5 Kinh nghiệm quản lý thuế của cơ quan hải quan địa phương:32T 18 32T
1.5.5.1 Kinh nghiệm quản lý thuế NK của Cục Hải quan TP.Hồ Chí Minh:32T 18 32T
1.5.5.2 Kinh nghiệm quản lý thuế NK của Cục Hải quan TP Hà Nội:32T 19 32T
1.5.5.3 Kinh nghiệm quản lý thuế NK của Cục Hải quan Hải Phòng:32T 20 32T
KẾT LUẬN CHƯƠNG 132T 23 32T
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH KIÊN GIANG32T 24 32T
2.1 Đặc điểm tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Kiên Giang:32T 24 32T
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên xã hội của tỉnh Kiên Giang:32T 24 32T
2.1.2 Đặc điểm hoạt động XNK:32T 24 32T
2.2 Giới thiệu về Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang:32T 26 32T
2.2.1 Quá trình hình thành Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang:32T 26 32T
2.2.2 Cơ cấu tổ chức của Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang:32T 28 32T
2.3 Thực trạng công tác quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang:32T 28
Trang 92.3.3 Quản lý nợ thuế, cưỡng thuế:32T 37 32T
2.3.3.1 Quản lý theo dõi nợ thuế:32T 37 32T
2.3.3.2 Quản lý cưỡng chế thuế:32T 40 32T
2.3.4 Công tác miễn thuế, không thu thuế, hoàn thuế:32T 41 32T
2.3.5 Kiểm tra sau thông quan đối với thuế nhập khẩu:32T 43 32T
2.3.6 Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế nhập khẩu:32T 44 32T
2.3.7 Quản lý thông tin về người nộp thuế nhập khẩu:32T 45 32T
2.5 Những kết quả đạt được, tồn tại trong công tác quản lý thuế nhập khẩu và nguyên nhân:32T 46 32T
2.5.1 Những kết quả đạt được:32T 46 32T
2.5.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân:32T 47 32T
2.5.2.1 Một số văn bản pháp quy liên quan công tác quản lý thuế NK còn nhiều bất cập:32T 48 32T
2.5.2.2 Công tác quản lý hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế nhập khẩu:32T 50 32T
2.5.2.3 Công tác quản lý thông tin về người nộp thuế:32T 50 32T
2.5.2.4 Công tác kiểm tra sau thông quan, thanh tra thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế nhập khẩu:32T 51 32T
2.5.2.5 Các hành vi gian gian lận thương mại chưa được kiểm soát hiệu quả:32T 52 32T
2.5.2.6 Các hình t hức gian lận trong kê khai thuế nhập khẩu:32T 53 32T
2.5.2.7 Công tác phát triển nguồn nhân lực vẫn còn nhiều bất cập:32T 55 32T
2.5.2.8 Sự phối kết hợp giữa Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang và các cơ quan, ban ngành liên quan chưa thực sự tốt:32T 55 32T
KẾT LUẬN CHƯƠNG 232T 56 32T
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ NHẬP
KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH KIÊN GIANG32T 58 32T
3.1 Căn cứ đề xuất giải pháp:32T 58 32T
3.1.1 Đường lối của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và nâng cao công tác quản lý thuế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế:32T 58
Trang 10viii
32T
Những quan điểm quan trọng trên của Đảng và Nhà nước là căn cứ cơ bản định hướng cho việc nâng cao công tác quản lý thuế, công tác quản lý thuế của ngành Hải quan nói chung và nâng cao công tác quản lý thuế NK tại Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang nói riêng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.32T 32T3.1.2 Dự báo về hoạt động nhập khẩu và phương hướng nhiệm vụ của Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2015-202032T 59 32T
3.2 Giải pháp nâng cao công tác quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang:32T 60 32T
3.2.1 Xây dựng đội ngũ CBCC Hải quan đáp ứng yêu cầu:32T 60 32T
3.2.2 Tăng cường công tác quản lý khai thuế, nộp thuế nhập khẩu:32T 62 32T
3.2.3 Tăng cường công tác thu thập thông tin, quản lý rủi ro, kiểm tra sau thông quan, thanh tra thuế:32T 63 32T
3.2.4 Theo dõi và quản lý chặt chẽ các khoản nợ thuế NK, tổ chức cưỡng chế, xử lý những khoản nợ đọng, dây dưa kéo dài:32T 64 32T
3.2.5 Xây dựng cơ sở vật chất hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý thuế:32T 65 32T
3.2.6 Tăng cường kiểm tra, kiểm soát:32T 66 32T
3.3 Một số kiến nghị:32T 68 32T
3.3.1 Đối với Chính phủ:32T 69 32T
3.3.2 Đối với Bộ Tài chính và các Bộ ngành liên quan:32T 70 32T
3.3.3 Đối với Tổng cục Hải quan:32T 72 32T
3.3.4 Đối với cộng đồng doanh nghiệp:32T 74 32T
KẾT LUẬN CHƯƠNG 332T 75 32T
KẾT LUẬN32T 76 32T
TÀI LIỆU THAM KHẢO32T 78 32T
PHỤ LỤC32T 80 32T
PHỤ LỤC 2 DANH SÁCH CÁC CHUYÊN GIA TRẢ LỜI PHỎNG VẤN32T 81
Trang 11ix
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, chính vì vậy mà trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm hoàn thiện chính sách và cơ chế chính sách thuế nhập khẩu để đáp yêu cầu mới của sự phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay, góp phần thúc đẩy sản xuất trong nước ổn định tình hình kinh tế - xã hội, tạo
ra những tiền đề cần thiết để chuyển nền kinh tế sang một thời kỳ phát triển mới thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế
Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế tạo ra nhiều thời cơ, thuận lợi đồng thời cũng mang lại nhiều thách thức cho các quốc gia đang phát triển như Việt Nam Việc thực hiện các cam kết quốc tế buộc chúng ta phải từng bước cắt giảm thuế quan
đã ảnh hưởng lớn đến nguồn thu từ thuế Vấn đề giảm mạnh thuế quan, xóa bỏ hàng rào phi thuế quan nhưng phải đảm bảo nguồn thu từ thuế nhập khẩu là một khó khăn lớn đối với ngành Hải quan Vì vậy công tác quản lý thuế trong bối cảnh hội nhập kinh
tế quốc tế cần phải được điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với thông lệ quốc tế đồng thời cũng thể hiện được vai trò bảo hộ sản xuất trong nước, tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Quản lý thuế cần phải được hiện đại hóa ngày càng toàn diện về phương pháp quản lý, thủ tục hành chính, bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ,…
Thời gian qua công tác quản lý thuế nhập khẩu ở nước ta nói chung và trên địa bàn tỉnh Kiên Giang nói riêng đã đạt được những kết quả nhất định; tuy nhiên vẫn còn tồn tại như: tình trạng trốn thuế, nợ đọng thuế và gian lận thương mại còn khá phổ biến, hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành chính sách thuế đối với hàng hóa nhập khẩu chưa được coi trọng đúng mức nên hiệu quả quản lý thuế không cao Vì vậy công tác quản lý thuế nhập khẩu trong giai đoạn hiện nay cần phải được điều chỉnh linh hoạt hơn tạo được nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước đạt hiệu quả Với thực trạng công tác quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang còn nhiều bất cập, hiệu quả đạt được từ công tác quản lý thuế nhập khẩu chưa cao; tình trạng lợi dụng chính sách quản lý thuế nhập khẩu của các đối tượng nộp thuế để gian
Trang 12giai đoạn phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan:
Đề tài về thuế Nhập khẩu nói chung đã và đang được nhiều tổ chức, cá nhân liên quan nghiên cứu đến với nhiều góc độ khác nhau như:
- Luận văn tiến sỹ của Nguyễn Thị Thùy Dương, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2011 “Quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện Hội nhập kinh tế quốc tế”; Luận án cũng chỉ ra được những tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến quản
lý thuế, bao gồm gia tăng hợp tác quốc tế giữa các nước, thúc đẩy cạnh tranh thuế, thay đổi chính sách thuế và quản lý thuế, đặc biệt tăng cường đối phó với tình trạng trốn và tránh thuế quốc tế
- Luận văn Thạc sỹ của Phan Thị Kiều Lê, Đại học Nha Trang năm 2009 “Nâng cao hiệu quả quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh”
Luận văn này chủ yếu nghiên cứu thực trạng hoạt động quản lý thuế NK tại Cục Hải quan TP.Hồ Chí Minh Tác giả luận văn đã tập trung phân tích, đánh giá sâu những hạn chế, tồn tại trong công tác quản lý thuế NK tại Cục Hải quan TP.Hồ Chí Minh, chưa đi sâu phân tích nguyên nhân tác động đến công tác quản
lý thuế nhập khẩu
- Luận văn Thạc sỹ của Phan Lâm Huyền Trang, Đại học Đà Nẵng năm 2014
“Hoàn thiện quản lý thu thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam”
Luận văn của tác giả chỉ nêu lên công tác quản lý thu thuế nhập khẩu chưa phân tích sâu vào công tác quản lý thuế nhập khẩu
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ và Tổng cục thuế về “Chiến lược cải cách
hệ thống thuế giai đoạn 2001 – 2010”;
Trang 13xi
- Luận văn Thạc sỹ của Vũ Thị Toản, Học viện Tài chính năm 2003 “Các giải pháp tăng cường quản lý thuế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong tiến trình gia nhập AFTA của Việt Nam”;
- Luận văn Thạc sỹ của Dương Phú Đông, Đại học Kinh tế quốc dân năm 2008
“Hoàn thiện cơ chế quản lý thuế đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu ngành Hải quan”;
- Luận văn Thạc sỹ của Đặng Văn Dũng, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh năm 2011 “Quản lý thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan thành phố Hải Phòng”
Những công trình nghiên cứu trên đã hệ thống hóa những vấn đề về mặt lý luận
và thực tiễn có liên quan đến công tác quản lý hải quan, quản lý thuế,… các đề tài đã
có những đóng góp nhất định trong hoạch định chính sách và giải pháp quản lý ngành hải quan
Nhìn chung, các đề tài và tài liệu trên đều có đề cập ở những mức độ nhất định về thuế, quản lý thuế, chống thất thu thuế nhập khẩu của ngành Hải quan Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào dưới dạng luận văn thạc sỹ và luận án tiến sỹ nghiên
cứu một cách đầy đủ, toàn diện về đề tài giải pháp nâng cao công tác quản lý thuế
nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang hiện nay ở góc độ kinh tế Do vậy, bản thân đã chọn đề tài làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành tài chính ngân hàng
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Mục tiêu nghiên cứu đề tài là tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý thuế NK tại Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang Để hoàn thành mục tiêu nêu trên
đề tài tập trung vào các nội dung sau:
- Phân tích thực trạng công tác quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang trong giai đoạn 2010 - 2014, từ đó rút ra những vấn đề tồn tại trong công tác quản lý thuế nhập khẩu và nguyên nhân
- Đề xuất các giải pháp nhằm đạt được mục tiêu trên
Trang 14xii
4 Phạm vi, đối tượng:
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu những nội dung cơ bản của quản lý thuế NK
theo cách tiếp cận quy trình quản lý thuế gồm quản lý khai thuế, quản lý nộp thuế,
quản lý nợ thuế, cưỡng chế, kiểm tra sau thông quan,…
- Về không gian: Nghiên cứu hoạt động công tác quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang
- Về thời gian: Số liệu thu thập tại Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang từ 2010 - 2014
* Đối tượng nghiên cứu: Phân tích các vấn đề liên quan đến công tác quản lý thuế
NK tại Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang từ năm 2010 – 2014
5 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu luận văn tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính Việc nghiên cứu đề tài dựa trên phương pháp lý luận kết hợp với thực tiễn để nghiên cứu; đồng thời tham khảo kế thừa có chọn lọc các công trình khoa học đã công
bố Trên cơ sở đó Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:
- Phương pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp: qua nghiên cứu trên các website, số liệu báo cáo cơ quan quản lý, sách, tạp chí,… để phân tích thực trạng công tác quản lý thuế nhập khẩu có liên quan đến Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang
- Phương pháp mô tả thống kê: phân tích từng nội dung cụ thể, tác giả đưa ra những đánh giá chung về thực trạng quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: hoạt động quản lý thuế nhập khẩu so với các Cục Hải quan tỉnh, thành phố khác
- Phương pháp phân tích để đề xuất các giải pháp nhằm đạt được mục tiêu trong
công tác quản lý thuế nhập khẩu
6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Tìm hiểu kinh nghiệm quản lý thuế NK của các Hải quan tỉnh, thành phố và rút ra bài học kinh nghiệm cho Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang Luận văn phân tích thực trạng
Trang 15xiii
công tác quản lý thuế của Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang, đánh giá và chỉ ra nguyên nhân, của những điểm mạnh và những điểm còn hạn chế Từ đó đề ra các giải pháp nâng cao công tác quản lý thuế nhập khẩu
7 Bố cục của nghiên cứu:
Ngoài các trang bìa, mục lục, danh mục các bảng số liệu, các từ viết tắc và các đồ thị, phần mở đầu và kết luận, danh mục các công trình đã công bố liên quan đến luận văn, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý thuế nhập khẩu;
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang;
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang
Trang 16Có rất nhiều khái niệm khác nhau đề cập thuế XNK
Theo Thuật ngữ thương mại (The language of trade):
"T huế XNK là một khoản thuế đánh vào hàng hóa di chuyển từ một khu vực hải quan này tới khu vực khác vì mục đích bảo hộ hoặc tăng thu nhập thuế"
Theo từ điển Tiếng Việt: "Thuế XNK là thuế đánh vào hàng hóa XK, NK"
Giáo trình thuế của Học viện Tài chính định nghĩa: Thuế XK, thuế NK là sắc thuế đánh vào hàng hoá XK, NK theo quy định của pháp luật Việt Nam
Theo từ điển Luật học: "Thuế XK, NK là loại thuế gián thu đánh vào các loại hàng hóa XK, NK qua biên giới Đối tượng nộp thuế là các tổ chức, cá nhân có hàng hóa XK, NK qua biên giới Việt Nam dưới mọi hình thức: mậu dịch chính ngạch, mậu dịch tiểu ngạch và phi mậu dịch (kể cả hàng hóa XK, NK từ khu chế xuất) trừ hàng hóa vận chuyển quá cảnh hay mượn đường qua biên giới Việt Nam, hàng chuyển cửa khẩu theo quy định của Chính phủ, hàng viện trợ nhân đạo"
Như vậy, thuế XNK là loại thuế gián thu đánh vào hàng hóa XNK khi đi qua
lãnh thổ của một quốc gia theo quy định phải chịu thuế Nó là một yếu tố cấu thành trong
giá cả hàng hóa, do các tổ chức, cá nhân XNK hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế đóng góp theo luật định cho Nhà nước Mức thuế, số thu thuế XNK tùy thuộc vào chính sách ngoại thương của mỗi quốc gia
Thuế XNK gồm hai loại chủ yếu:
- Thuế XNK tài chính: là loại thuế có mục tiêu tăng thu nhập cho ngân sách
Trang 171.1.1.3 Tác động của thuế XNK:
Thuế XNK có những tác động tích cực và tiêu cực đối với bất kỳ nền kinh tế nào:
- Tác động tích cực:
+ Thuế XNK là nguồn thu cho ngân sách quốc gia
+ Thuế XNK tác động đến sản xuất trong nước: giá cả trong nước tăng sẽ khuyến khích các nhà sản xuất tăng cường sản xuất, tăng khối lượng sản phẩm Tác động này còn được gọi là tác động của thuế XNK bảo hộ mang lại
+ Thuế XNK góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa XK khi đánh thuế NK thấp đối với hàng hóa là máy móc thiết bị, nguyên vật liệu sản xuất làm giá cả đầu vào thấp, giúp người sản xuất đổi mới công nghệ, tăng chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa
+ Thuế XNK góp phần hướng dẫn tiêu dùng, định hướng sản xuất trong nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thể hiện đường lối, chính sách ngoại thương của quốc gia đối với quốc tế
- Tác động tiêu cực:
+ Thuế XNK gây tác hại đối với tiêu dùng: giá cả tăng làm mức tiêu dùng giảm xuống Thiệt hại của người tiêu dùng được chuyển cho các nhà sản xuất nội địa và một phần cho chính phủ Thiệt hại xã hội được tính toán một phần là do kết quả của sự gia tăng sản xuất trong nước nhưng phải chịu một khoản chi phí cao hơn chi phí NK cùng một số lượng hàng; một phần là do kết quả của việc người tiêu dùng phải chuyển
Trang 183
việc mua hàng giá rẻ sang giá đắt (do số lượng NK bị hạn chế)
+ Áp dụng thuế XNK sẽ làm giảm bớt việc NK, nhưng xét về tổng thể nền kinh tế sẽ làm mất cân đối ở tầm vĩ mô Thiệt hại về xã hội là do sự khác biệt giữa giá cả thị trường trong và ngoài nước, sự phân bổ bất hợp lý các nguồn lực trong quá trình sản xuất kinh doanh và thiệt hại của người tiêu dùng do mua hàng giá cao Mặt khác, khi một nước áp dụng thuế NK cao, không những làm cho giá cả nội địa tăng lên, tạo
ra khan hiếm hàng hóa, gây thiệt hại về sản xuất và tiêu dùng trong nước mà còn khuyến khích buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế
1.1.2 Thuế nhập khẩu:
Thuế NK là thuế đánh vào hàng hóa khi NK qua "cửa khẩu" của mỗi quốc gia Trong điều kiện nền kinh tế mở, các khái niệm "cửa khẩu", "biên giới quốc gia", "thị trường trong nước", "thị trường nước ngoài", được hiểu theo nghĩa rộng hơn bởi sự xuất hiện của các hình thức kinh tế như: khu công nghiệp, khu công nghiệp kỹ thuật cao, khu chế xuất, đặc khu kinh tế, được hoạt động với các quy chế đặc thù và được hưởng những quyền lợi ưu đãi
Theo Luật Thuế XNK hiện hành và các khái niệm về thuế XNK, có thể khái
quát khái niệm về thuế NK như sau: Thuế NK là khoản thuế đánh vào hàng hóa NK
được phép giao thương qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam; hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới; hàng hóa từ khu phi thuế XNK vào thị trường trong nước và hàng hóa mua bán, trao đổi khác được coi là hàng hóa NK
1.2 Quản lý thuế nhập khẩu:
1 .2.1 Khái niệm quản lý:
Hiện nay, còn tồn tại nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý Thuật ngữ quản lý được hiểu theo nhiều nghĩa, tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu của từng chuyên ngành
Theo từ điển Luật học: “Quản lý (theo nghĩa rộng): làm cho hoạt động, tư duy của từng người riêng lẻ, hoạt động của các tổ chức với những cơ chế khoa học, tiến hành phù hợp với mục đích, lợi ích chung nhằm đạt được hiệu quả tốt nhất, nhiều nhất,
ít chi phí nhất trong thời gian nhanh nhất
Trang 194
Quản lý được thực hiện dưới các dạng: quản lý của nhà nước, quản lý của tổ chức chính trị xã hội, quản lý của tổ chức nghề nghiệp, quản lý của tổ chức kinh doanh, sản xuất, dịch vụ,
Quản lý được thực hiện bằng ba biện pháp chủ yếu: biện pháp kinh tế, biện pháp hành chính và biện pháp giáo dục Quản lý được thực hiện bằng nhiều hình thức tác động như lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy, khen thưởng, xử phạt, kiểm tra, kiểm kê, kiểm soát, thanh tra, giám sát, đúc kết kinh nghiệm, phổ biến và nhân rộng mô hình, cách làm tiên tiến có hiệu quả, kịp thời bãi bỏ những cái đã trở nên lỗi thời, lạc hậu, ”
Dưới góc độ chung của các chuyên ngành khoa học:
- “ Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho một hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục đích đã định trước”
(“1200 thuật ngữ pháp lý Việt Nam”, trích trong Vũ Văn Cương)
- “ Quản lý là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để hướng đến mục đích đúng ý chí và phù hợp với quy luật khách quan”
- “ Quản lý là thuật ngữ chỉ hoạt động của con người nhằm sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra, các quá trình xã hội và hoạt động của con người để hướng chúng phát triển phù hợp với quy luật xã hội, đạt được mục tiêu xác định theo ý chí của nhà quản lý với chi phí thấp nhất”
Qua các định nghĩa trên cho thấy, thuật ngữ quản lý được sử dụng khi nói tới các hoạt động và một loạt các nhiệm vụ mà người quản lý phải liên tục đảm nhận và giải quyết Đó là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra Ngoài ra, khi sử dụng thuật ngữ quản lý, người ta còn có hàm ý bao gồm cả mục tiêu, kết quả và hiệu năng hoạt động của một tổ chức, nghĩa là khi nói tới quản lý là nói tới kết quả đạt được với chất lượng tốt nhất và chi phí thấp nhất, chứ không chỉ là những quy trình thực hiện các thao tác kỹ thuật đơn thuần
1.2.2 Khái niệm quản lý thuế:
Theo Luật quản lý thuế ở Việt Nam “Quản lý thuế là quá trình thực thi các chức
Trang 201.2.3 Khái niệm quản lý thuế nhập khẩu:
Quản lý thuế là một dạng quản lý xã hội khi có Nhà nước và gắn với quyền lực
Nhà nước Quản lý thuế trước hết và quan trọng nhất thuộc trách nhiệm của Nhà nước cho nên người ta thường quan niệm quản lý thuế là quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thuế Tuy nhiên, hiện nay, để quản lý thuế có hiệu quả, ở những mức độ nhất định cần
có sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong xã hội để hỗ trợ cho công tác quản lý thuế của Nhà nước
- Trong cuốn “Tài chính công” của Khoa Tài chính Nhà nước Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (2005) thì “Quản lý thuế là những biện pháp nghiệp
vụ do cơ quan có chức năng thu NSNN thực hiện”,… “Đó là những hoạt động thường xuyên của cơ quan thu hướng về phía đối tượng nộp nhằm đảm bảo thu thuế đầy đủ kịp thời và đúng luật định” Với quan điểm như vậy quản lý thuế là quản lý thu thuế,
thực tế cho thấy quản lý thuế không đồng nghĩa với quản lý thu thuế
- Theo nghĩa hẹp, quản lý thuế là quản lý hành chính Nhà nước về thuế, bao
gồm cả việc tổ chức, quản lý, điều hành quá trình thu nộp thuế, hay nói một cách khác
đó là hoạt động chấp hành của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà cụ thể là hệ thống
cơ quan quản lý thuế từ trung ương đến địa phương trong quản lý thu, nộp thuế cho
Nhà nước từ các tổ chức, cá nhân là đối tượng nộp thuế đã được xác định trong các luật thuế
Trang 216
Theo tác giả, quản lý thuế nhập khẩu là quản lý hành chính Nhà nước về thuế
NK, bao gồm cả việc tổ chức, quản lý, điều hành quá trình thu, nộp thuế NK, hay nói cách khác đó là hoạt động chấp hành của cơ quan Hải quan trong quản lý thu, nộp thuế cho Nhà nước từ các tổ chức, cá nhân có hoạt động NK hàng hóa
1.2.4 Mục tiêu của công tác quản lý thuế nhập khẩu:
Quản lý thuế NK là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý tài chính Nhà nước, quản lý thuế NK không thể tách rời quản lý thuế và quản lý Nhà nước nói chung
Công tác quản lý thuế NK nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản sau:
Thứ nhất, Tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời số thu cho NSNN trên cơ sở không
ngừng nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu
Ở bất kỳ quốc gia nào, số thu thuế NK hàng năm chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu thuế cũng như số thu của NSNN Vì vậy làm tốt công tác quản lý thuế NK sẽ có tác dụng lớn trong việc tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời số thu cho NSNN
Bên cạnh đó các chính sách thuế NK có tác động lớn đến thu nhập của các tổ chức kinh tế và cá nhân, qua đó tác động đến quá trình phát triển kinh tế và là cơ sở tạo ra nguồn thu thuế NK trong tương lai Để tăng cường ổn định số thu NSNN, trong công tác quản lý thuế NK cũng cần phải duy trì và phát triển các cơ sở tạo ra nguồn thu
Thứ hai, khuyến khích hoạt động NK đồng thời phòng ngừa rủi ro về trốn thuế, nợ
đọng thuế và gian lận thương mại
Yêu cầu phát triển đất nước đòi hỏi ngành Hải quan phải nâng cao năng lực quản
lý để đảm bảo thực hiện có hiệu quả chính sách kinh tế của Nhà nước; chống buôn lậu, gian lận thương mại, ngăn chặn buôn bán, vận chuyển hàng cấm có hiệu quả; ngăn chặn các giao dịch thương mại bất hợp pháp; góp phần bảo vệ trật tự an toàn xã hội, lợi ích của người tiêu dùng, an ninh quốc gia
Thứ ba, tăng cường ý thức chấp hành pháp luật, đảm bảo thực thi hệ thống pháp
luật nói chung và pháp luật về thuế NK nói riêng
Trong cơ chế kinh tế thị trường, Nhà nước thông qua công cụ luật pháp để thực
Trang 22Thứ tư, khắc phục những hạn chế của chính sách thuế NK hiện hành
Việc khắc phục những hạn chế của chính sách thuế NK phải đảm bảo phù hợp với tiến trình cải cách, đồng bộ hệ thống chính sách thuế Trong đó hướng sửa đổi là khích tối
đa XK, sửa đổi các quy định về thuế suất, trị giá tính thuế để thực hiện các cam kết quốc tế Bên cạnh đó, chính sách thuế NK phải đảm bảo góp phần tạo môi trường chính sách thuế đồng bộ nhằm tạo ra sự ổn định, cân đối lâu dài về hệ thống chính sách thuế
1.2.5 Nguyên tắc quản lý thuế NK:
Một là, nguyên tắc tuân thủ pháp luật
Luật và pháp lệnh phải phù hợp với Hiến pháp Quá trình xây dựng các biện pháp quản lý thuế đối với hàng hóa XNK phải xuất phát từ các Luật thuế, Luật quản lý thuế và nằm trong khuôn khổ luật định đồng thời phải phù hợp với các quy định chung về thuế các các tổ chức quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Hai là, nguyên tắc tập trung, dân chủ, thống nhất trong công tác quản lý thuế NK Quy trình thực hiện công tác quản lý thuế được áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước đối với cơ quan hải quan và đối với đối tượng nộp thuế, không có sự phân biệt, đối
xử trong hệ thống cơ quan quản lý thuế cũng như giữa các đối tượng nộp thuế
Ba là, nguyên tắc công khai, minh bạch
Các khâu trong quy trình quản lý thuế NK đối với các đối tượng nộp thuế phải được công khai, công tác tuyên truyền, tư vấn, hỗ trợ, giải thích quy trình đến việc tổ chức thực hiện qua các khâu phải rõ ràng, dễ hiểu Hạn chế trường hợp đối tượng nộp thuế thiếu thông tin về các quy định liên quan đến thuế
1.2.6 Chủ thể quản lý thuế nhập khẩu:
Theo quy định của pháp luật nước ta thì cơ quan Hải quan là chủ thể duy nhất chịu
Trang 238
trách nhiệm thực thi nhiệm vụ quản lý thuế NK
* Hệ thống tổ chức của Hải quan Việt Nam được phân thành 3 cấp:
- Cấp Trung ương: Tổng cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính;
- Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc Tổng cục Hải quan;
- Chi cục Hải quan và Đội Kiểm soát Hải quan
* Nhiệm vụ của cơ quan Hải quan:
- Kiểm tra, giám sát hàng hóa XK, NK, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh;
- Phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới;
- Tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa XK, NK;
- Thống kê hàng hóa XK, NK;
* Vai trò của cơ quan Hải quan:
- Góp phần bảo đảm thực hiện chính sách của Nhà nước về phát triển kinh
tế, văn hoá, xã hội, khoa học và công nghệ; hợp tác và giao lưu quốc tế (tạo thuận lợi cho phát triển XNK, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển du lịch và giao thương quốc tế, )
- Bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
* Phạm vi địa bàn hoạt động của cơ quan Hải quan:
Phạm vi địa bàn hoạt động hải quan là khu vực có ranh giới cụ thể tại các khu vực cửa khẩu đường bộ, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng biển quốc tế, cảng sông quốc
tế, cảng hàng không dân dụng quốc tế, các địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu (khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu, khu vực cảng nội địa (ICD), cảng chuyên
dụng, ), khu chế xuất, kho ngoại quan, kho bảo thuế, khu vực ưu đãi hải quan, bưu điện quốc tế, các địa điểm kiểm tra hàng hóa XK, NK trong lãnh thổ và trên vùng biển thực hiện chủ quyền của Việt Nam, trụ sở doanh nghiệp khi tiến hành kiểm tra sau thông quan và các địa bàn hoạt động hải quan khác theo quy định của pháp luật
Trang 249
1.3 Nội dung quản lý thuế:
Theo quy định của pháp luật quản lý thuế (Luật Quản lý thuế), các nội dung quản
lý thuế NK của cơ quan Hải quan được khái quát gồm:
1.3 1 Quản lý khai thuế:
Quản lý khai thuế tại cơ quan Hải quan là quá trình công chức hải quan tiếp nhận hồ sơ hải quan, kiểm tra các tiêu chí khai báo liên quan đến việc tính thuế nhập khẩu (giá tính thuế NK, thuế suất thuế NK, xuất xứ hàng hóa,…), kiểm tra sự phù hợp giữa các loại chứng từ trong bộ hồ sơ hải quan với việc khai báo thuế của Doanh nghiệp, ra quyết định ấn định thuế nếu phát hiện DN khai chưa đúng, chưa chính xác, gian lận qua khai báo và thực hiện công tác kế toán theo dõi thu nộp tiền thuế của các
cụ thể Việc đôn đốc thu hồi nợ thuế có thể áp dụng một hoặc nhiều phương pháp, biện pháp cụ thể khác nhau tùy thuộc vào khoản nợ có khả năng thu hồi hay khoản nợ không
có khả năng thu hồi
Quản lý xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt, cơ quan hải quan quản lý khi Doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản đã thực hiện các khoản thanh toán theo quy định của pháp luật phá sản mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt;
Cá nhân được pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt; Khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đã quá 10 năm kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế và áp dụng tất cả các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế theo quy định nhưng không thu đủ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt
Trang 25xuất hàng hoá XK
- Miễn thuế là việc thực hiện không thu thuế của đối tượng nộp thuế Cơ quan Hải
quan thực hiện quy trình miễn thuế NK thông qua 02 công việc cụ thể đó là:
+ Thực hiện đăng ký Danh mục hàng hoá miễn thuế NK đối với các trường
hợp phải đăng ký Danh mục miễn thuế
+ Làm thủ tục miễn thuế đối với các trường hợp được miễn thuế NK
- Giảm thuế là việc cơ quan Hải quan thực hiện giảm số tiền thuế phải nộp cho đối tượng nộp thuế theo quy định Cụ thể: hàng hoá NK đang trong quá trình giám sát của cơ quan hải quan nếu bị hư hỏng, mất mát được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám định chứng nhận thì được xét giảm thuế Mức thuế được giảm tương ứng với tỷ lệ
Để được hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế NK thì đối tượng nộp thuế phải có đầy đủ
hồ sơ và hồ sơ phải đảm bảo đầy đủ theo yêu cầu của pháp luật và phải nộp cho cơ quan
Hải quan trong thời hạn quy định theo từng trường hợp cụ thể
1.3.4 Quản lý thông tin về người nộp thuế nhập khẩu:
Để quản lý người nộp thuế NK trong điều kiện áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thuế, áp dụng QLRR trong quản lý hải quan và tiến tới thông quan tự động thì vấn đề thông tin về người nộp thuế đóng một vai trò vô cùng quan trọng Thông tin về người
Trang 2611
nộp thuế phải được thu thập, xây dựng thành hệ thống Cơ quan Hải quan thực hiện việc thu thập thông tin về người nộp thuế NK để phục vụ cho công tác đánh giá việc tuân thủ pháp luật Hải quan, pháp luật thuế và áp dụng các chế độ, chính sách quản lý,
chính sách thuế đối với hàng hóa NK
Hệ thống thông tin về người nộp thuế NK bao gồm toàn bộ các thông tin liên quan đến người nộp thuế như: tên, địa chỉ người nộp thuế, ngành nghề kinh doanh, mặt hàng NK, ; các thông tin liên quan đến nghĩa vụ thuế của người nộp thuế, Hệ thống này một mặt là cơ sở để cơ quan Hải quan thực hiện quản lý thuế, đánh giá mức độ chấp hành pháp luật của người nộp thuế, ngăn ngừa, phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật về thuế; một mặt là một công cụ hữu hiệu để cơ quan Hải quan phân bổ hợp lý
các nguồn lực, áp dụng hiệu quả các biện pháp quản lý hải quan, quản lý thuế
1.3.5 Kiểm tra sau thông quan, thanh tra thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế nhập khẩu:
Công tác kiểm tra sau thông quan (KTSTQ), thanh tra thuế NK được thực hiện sau khi hàng hóa đã được thông quan trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người
NK, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xác minh và thu thập chứng cứ
để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế NK
Đối tượng kiểm tra của KTSTQ, thanh tra thuế gồm:
- Hồ sơ hải quan đang lưu giữ tại doanh nghiệp và đơn vị hải quan làm thủ tục hải quan cho hàng hóa liên quan
- Chứng từ, tài liệu liên quan hàng hóa XNK đã được thông quan như sổ kế toán, chứng từ kế toán, báo cáo tài chính, các tài liệu, dữ liệu liên quan, do doanh nghiệp
lưu giữ ở dạng giấy tờ hoặc dữ liệu điện tử
- Hàng hóa, nơi sản xuất nếu cần thiết và còn điều kiện
Mục đích của KTSTQ, thanh tra thuế là nhằm xác định mức độ chính xác, trung thực của việc kê khai về hàng hóa, tự tính và nộp thuế, mức độ chấp hành pháp luật của doanh nghiệp, làm cơ sở cho việc truy thu, truy hoàn tiền thuế, xác định mức độ ưu tiên trong quản lý của hải quan đối với hàng hóa XNK của doanh nghiệp và xử lý vi phạm pháp luật về thuế, về hải quan Công tác KTSTQ, thanh tra thuế NK là biện pháp giám
Trang 2712
sát hiệu quả để vừa đảm bảo khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện theo cơ chế “tự khai,
tự chịu trách nhiệm” của doanh nghiệp, vừa đảm bảo ngăn ngừa các trường hợp vi phạm pháp luật thuế của doanh nghiệp cũng như của CBCC Hải quan
Kết thúc cuộc KTSTQ, thanh tra thuế, căn cứ vào kết quả KTSTQ, thanh tra thuế, thủ trưởng cơ quan Hải quan ban hành quyết định xử lý về thuế, xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền hoặc đề nghị người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế Cơ quan Hải quan các cấp thực hiện giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan về thuế NK theo thẩm quyền quy định
1.3.6 Cưỡng chế thi hành Quyết định hành chính về thuế và xử lý vi phạm pháp luật về thuế nhập khẩu:
Khi đã hết thời hạn nộp thuế NK, thời hạn nộp tiền phạt vi phạm hành chính về thuế trong lĩnh vực hải quan, thời hạn gia hạn nộp thuế NK mà người nộp thuế không nộp thuế NK, nộp tiền phạt vi phạm hành chính thì cơ quan Hải quan sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về thuế để buộc người nộp thuế phải
nộp đủ tiền thuế, tiền phạt vào NSNN
1.3.7 Thanh tra , kiểm tra thuế nhập khẩu:
Bên cạnh việc khuyến khích ĐTNT tuân thủ tự nguyện và hỗ trợ ĐTNT trong việc kê khai thuế, cơ quan Hải quan phải nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra nhằm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật thuế và nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế trong việc thực hiện kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế Quá trình thanh tra, kiểm tra thuế cơ quan hải quan sẽ áp dụng các biện pháp nghiệp vụ nhằm xác minh, làm rõ việc chấp hành pháp luật về thuế nhập khẩu của đối tượng nộp thuế và công chức quản
lý thuế và các đối tượng liên quan khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc khi có khiếu nại tố cáo
1.3.8 Phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại nhằm mục đích trốn thuế nhập khẩu:
Buôn lậu là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới hàng hóa, tiền, kim khí, đá quý hoặc vật phẩm thuộc di tích lịch sử văn hóa Gian lận thương mại trong lĩnh vực
Trang 2813
hải quan là hành vi vi phạm pháp luật hải quan, lừa dối hải quan để lẩn tránh một phần hoặc toàn bộ việc nộp thuế nhập khẩu, vi phạm các biện pháp cấm hoặc hạn chế theo luật định để thu được một khoản lợi nào đó do việc vi phạm này
Thực ra rất khó để phân định ra rõ ràng ranh giới giữa hành vi buôn lậu và gian lận thương mại nhằm mục đích trốn thuế Điểm khác biệt cơ bản giữa buôn lậu và gian lận thương mại đó là tính chất hành vi Buôn lậu thường là những hành vi mang tính chất liều lĩnh, làm trái pháp luật trong khi gian lận thương mại lại chủ yếu lợi dụng sơ
hở của pháp luật, sơ hở trong công tác kiểm tra giám sát của cơ quan hải quan để thực
hiện hành vi gian lận
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế của cơ
quan Hải quan:
bộ hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý thuế NK nói riêng và công tác quản lý hành chính Nhà nước nói riêng
Trang 2914
- Tổ chức thực hiện quy trình, thủ tục hải quan:
Cơ quan Hải quan là nơi triển khai các quy trình, thủ tục hải quan cho hàng hoá
NK Vì vậy, việc tổ chức thực hiện quy trình, thủ tục hải quan đối với hàng hóa NK ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý thuế Nếu quy trình thủ tục hải quan được tổ chức thông thoáng, ít cửa, ít giấy tờ nhưng có sự kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ thì sẽ rút ngắn thời gian làm thủ tục và thông quan hàng hoá, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp trong hoạt động thương mại đồng thời cũng hạn chế tối đa tình trạng gian lận thuế
- Tính chuyên nghiệp của cơ quan Hải quan:
Cơ quan Hải quan hoạt động càng chuyên nghiệp (với khả năng ứng dụng công nghệ tin học vào công tác cao, chuyên môn hóa quản lý, phong cách làm việc nhanh chóng, thuận lợi, xử lý công việc hiệu quả, không có sai sót) thì sẽ rút ngắn hơn thời gian thông quan cho hàng hóa NK, giảm thiểu hơn chi phí quản lý Nhà nước và chi phí tuân thủ cho các doanh nghiệp Không những thế, hoạt động chuyên nghiệp, minh bạch của cơ quan Hải quan sẽ làm tăng cường uy tín của ngành Hải quan nói riêng
và các cơ quan hành chính Nhà nước nói chung
- Mức độ trang bị phương tiện kỹ thuật của cơ quan Hải quan:
Mức độ trang bị phương tiện kỹ thuật của cơ quan Hải quan ảnh hưởng lớn đến hoạt động thu thuế thuế NK, quản lý thuế NK của CBCC Hải quan Nếu các phương tiện kỹ thuật, trang thiết bị hiện đại được trang bị đầy đủ, đồng bộ phục vụ cho công tác khai báo hải quan, kiểm tra hàng hóa, thông quan hàng hóa, kiểm soát chống buôn lậu, thanh tra, KTSTQ, sẽ hỗ trợ đắc lực cho CBCC Hải quan thực thi nhiệm vụ,
chuyên nghiệp và minh bạch hơn trong hoạt động quản lý
1.4.2 Nhóm yếu tố khách quan:
Đây là những yếu tố được coi là mang tính khách quan ở tầm vĩ mô hoặc vi mô
mà cơ quan Hải quan không thể hoàn toàn kiểm soát được
- Hệ thống chính sách thuế nhập khẩu của quốc gia:
Hệ thống chính sách thuế NK là tổng hợp các văn bản pháp luật (Luật, Nghị định, Thông tư, Quyết định, ) các quy định về thuế NK, chính sách đối với hàng hóa
Trang 3015
NK Thực thi hệ thống chính sách này là hệ thống cơ quan quản lý thu thuế NK, quản lý thuế NK (Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố; các Chi cục Hải
quan trực thuộc Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố)
Hệ thống thuế NK của quốc gia phải trải qua thời gian và nhiều lần cải cách thì mới hoàn thiện, đầy đủ và đảm bảo những nguyên tắc của hệ thống thuế NK tối ưu, thực hiện những mục tiêu mà Nhà nước đặt ra trong từng thời kỳ Đi cùng với quá trình đổi mới hệ thống thuế NK, hoạt động quản lý của cơ quan Hải quan cũng cần được cải tiến cho phù hợp với yêu cầu của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) và tiến trình tự
do hoá thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế Cụ thể: khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) hay tham gia các Hiệp định thương mại song phương và đa phương (như Hiệp định về Chương trình thuế XNK ưu đãi có hiệu lực chung cho Khu vực thương mại tự do ASEAN (CEPT/AFTA); Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC); Hiệp định Thương mại khu vực mậu dịch ASEAN - Trung Quốc, ASEAN - Ấn Độ, ) chúng ta buộc phải cắt giảm mạnh thuế XNK, vai trò của thuế NK sẽ giảm dần, như vậy hệ thống chính sách thuế NK của quốc gia buộc phải thay
đổi theo cho phù hợp
- Sự tuân thủ pháp luật của người nộp thuế:
Sự tuân thủ pháp luật của người nộp thuế ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác quản lý thuế của cơ quan Hải quan Sự tuân thủ của người nộp thuế ở mức cao nhất (nộp đầy đủ, đúng hạn và tự nguyện) chính là cơ sở để duy trì nguồn thu hiện tại và mở rộng nguồn thu trong tương lai Sự chấp hành pháp luật thuế được thực hiện
sẽ giúp Nhà nước sử dụng tốt nhất công cụ thuế trong việc điều tiết, quản lý nền kinh
tế thị trường Sự tuân thủ thuế của đại bộ phận doanh nghiệp cũng như người dân sẽ góp phần xây dựng một nền văn hóa tuân thủ thuế Sự tuân thủ thuế của người nộp thuế được thực hiện một cách tự nguyện, tự giác sẽ làm giảm chi phí quản lý của cơ quan Hải
quan và chi phí tuân thủ của người nộp thuế
- Sự phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan:
Quản lý thuế NK liên quan đến nhiều mảng nghiệp vụ nên ngoài việc phối hợp trong nội bộ ngành Hải quan đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng như: Thuế, Kho bạc, Ngân hàng, Tài chính, Công an, các Hiệp hội ngành nghề,
Trang 3116
Mối liên hệ khăng khít giữa cơ quan Hải quan với các cơ quan, tổ chức này tạo nên sự ràng buộc không thể thiếu trong quản lý thu, nộp thuế NK Ngoài ra, sự phối hợp này không chỉ nằm trong biên giới quốc gia mà phải mở rộng đến Hải quan các nước, Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO), nhằm trao đổi thông tin nghiệp vụ, học tập kinh nghiệm
và hỗ trợ lẫn nhau trong thương mại quốc tế
1.5 Kinh nghiệm quản lý thuế của các nước trên thế giới, của các cơ quan hải quan địa phương và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc nâng cao công tác quản lý thuế nhập khẩu:
1.5.1 Kinh nghiệm của Hải quan Nhật Bản trong quản lý trị giá hải quan hàng nhập khẩu:
Là một trong những cơ quan Hải quan hiện đại ở khu vực, Hải quan Nhật Bản
đã có quá trình và kinh nghiệm áp dụng quản lý trị giá tính thuế đối với hàng nhập khẩu theo nguyên tắc của Hiệp định trị giá GATT/WTO Cùng với quy trình thủ tục và công nghệ hiện đại, quản lý trị giá hải quan của Nhật đã góp phần chống gian lận thương mại, làm cho số thu thuế nhập khẩu nộp ngân sách của cơ quan hải quan ngày
trong thời hạn 36 tháng
Chương trình ứng dụng tin học mà bộ phận hải quan quản lý hàng dự án nhập khẩu có thể truy cập qua mạng Internet cho phép bộ phận này giám sát trực tuyến liên tục đối với hàng nhập khẩu, quản lý tự động danh mục hàng miễn thuế và dễ dàng phát
Trang 3217
hiện ra các trường hợp nhập khẩu vượt quá số lượng được miễn thuế Hệ thống cho phép các điểm thông quan hải quan trực tiếp tiếp nhận được dữ liệu nhập khẩu, phát hiện và
xử lý trực tuyến số hàng nhập khẩu đã vượt quá số lượng hoặc trị giá cho phép và kiểm
soát thời hạn thực thi dự án
Việc ứng dụng tin học vào việc kiểm soát hàng nhập khẩu được miễn thuế của các dự án đầu tư của Hải quan Ma-rốc đã thực sự mang lại hiệu quả cao, tránh việc các
DN đầu tư lợi dụng chính sách ưu đãi đối với lĩnh vực này để nhập khẩu hàng hóa vượt
quá số lượng, trị giá miễn thuế gây thất thu ngân sách
1.5.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử (TMĐT):
Trước tiên nội dung quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT cần tập trung giải quyết các vấn đề về thi hành quyền đánh thuế theo quốc gia Bởi vì, mỗi quốc gia đều
bị giới hạn bởi biên giới và có một hệ thống pháp luật về thuế riêng, trong khi đó,
TMĐT là giao dịch trong không gian ảo, biến cả thế giới trở thành một thị trường lớn Chính vì vậy, việc phân định quyền đánh thuế giữa các quốc gia là rất cấp bách Tuy nhiên, để thực hiện được mục tiêu, cần có tiêu chí để xác định cơ sở thường trú trong
giao dịch TMĐT và xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin, hợp tác giữa các quốc gia để tránh những xung đột với các nước khác trên thế giới cũng như tránh đánh thuế trùng
đối với các giao dịch qua internet
1.5.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc nâng cao công tác quản lý thuế nhập khẩu
Với việc tham khảo kinh nghiệm một số nước đã thành công trong việc quản lý thuế nhập khẩu, có thể rút ra một số bài học cho Việt Nam trong công tác quản lý thuế nhập khẩu, đó là:
- Để có thể nâng cao hiệu quả quản lý thuế nhập khẩu, một trong những điều kiện tiên quyết đó là việc ứng dụng công nghệ thông tin Bên cạnh yếu tố con người thì công nghệ thông tin đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quản lý thuế nhập khẩu, một mặt giúp cơ quan Hải quan dễ dàng trong công tác quản lý, đảm bảo nhanh chóng, chính xác, mặt khác tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp, giảm chi phí và thời gian thông quan hàng hóa, tối đa hóa lợi nhuận
Trang 3318
cho doanh nghiệp
- Một trong những yếu tố cấu thành thuế nhập khẩu đó là trị giá tính thuế Vì vậy, xác định đúng trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu sẽ góp phần đảm bảo nguyên tắc thu đúng, thu đủ của ngành Hải quan Để làm được điều đó, trước hết phải thực hiện tốt Hiệp định trị giá GATT, xây dựng được cơ sở dữ liệu giá đủ tin cậy để làm cơ sở cho việc xác định trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu Các thông tin về giá tính thuế phải đảm bảo tính thống nhất và kết nối từ cấp Tổng cục Hải quan, Cục Hải địa phương đến các Chi cục trực thuộc trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan quan đối với hàng hóa NK
1.5.5 Kinh nghiệm quản lý thuế của cơ quan hải quan địa phương:
1.5.5.1 Kinh nghiệm quản lý thuế NK của Cục Hải
Trong năm 2011, với quyết tâm cao Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh là đơn vị đầu tiên trong toàn ngành thực hiện thủ tục hải quan điện tử (với 13/13 Chi cục thực hiện, với số DN tham gia là 29.280 DN) Việc triển khai chương trình thủ tục hải quan điện tử đã tạo rất nhiều thuận lợi cho DN trong hoạt động XNK hàng hoá Tuy nhiên, Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh cũng đã phải triển khai nhiều biện pháp quản lý trong kiểm tra, kiểm soát, đặc biệt là hậu kiểm để tránh thất thu cho NSNN sau khi triển khai thủ tục hải quan điện tử Kết quả trong năm 2013, qua công tác KTSTQ, Cục Hải quan
TP Hồ Chí Minh đã truy thu 249,96 tỷ đồng (tăng 301,31% so với năm 2012); qua kiểm tra, kiểm soát đã phát hiện nhiều vụ buôn lậu, vi phạm về giả mạo giấy tờ, hồ sơ hải quan điện tử, giả mạo chứng từ nộp tiền để thông quan hàng hoá nhằm mục đích trốn thuế (năm 2013 đã lập tổng cộng 4.950 biên bản vi phạm với trị giá hàng tịch thu và
tiền phạt trên 97 tỷ đồng)
Bên cạnh đó, Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh đã công khai, minh bạch mọi văn
Trang 3419
bản, chính sách liên quan đến hoạt động XNK, tăng cường đối thoại, gặp gỡ, trao đổi với
DN Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh đã, đang và tiếp tục chủ trì, phối hợp với các đơn
vị khai thác, kinh doanh cảng biển, nhà ga hàng không để có biện pháp hỗ trợ thủ tục cũng như chi phí cho doanh nghiệp Ngoài việc tích cực xử lý số thuế nợ đọng không có khả năng thu hồi, Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh cũng tích cực áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về thuế để buộc người nộp thuế phải nộp đủ tiền thuế, tiền phạt vào NSNN
Ngoài ra, Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh còn thường xuyên tổ chức Hội nghị đối thoại doanh nghiệp để tiếp nhận, giải quyết các vướng mắc liên quan đến chính sách quản lý XNK, quy trình thủ tục hải quan, chế độ giám sát hải quan,… đến cộng đồng DN; thường xuyên phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Ban Quản lý Khu chế xuất và công nghiệp TP Hồ Chí Minh để tuyên truyền, phổ biến các quy định
mới về thủ tục hải quan cho DN
Để cải cách công tác quản lý thuế, Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh cũng đã triển khai đề án hiện đại hoá thu NSNN, thực hiện kết nối Kho bạc - Hải quan - Thuế
để trao đổi thông tin nộp thuế, đồng thời thực hiện phối hợp thu NSNN, bảo lãnh thuế theo thoả thuận song phương giữa cơ quan Hải quan và Ngân hàng thương mại tại 13/13 Chi cục Hải quan với khối lượng lên tới 90% dịch vụ thanh toán Nhờ đó thủ tục thanh toán thuế được thực hiện nhanh chóng, tạo thuận lợi cho người nộp thuế, số liệu thu thuế được cập nhật nhanh chóng, chính xác
quan TP Hà Nội:
Cục Hải quan TP Hà Nội một trong những đơn vị lớn của ngành Hải quan với
bề dày truyền thống trong chặng đường gần 60 năm xây dựng và phát triển Cục Hải quan TP Hà Nội có 12 Phòng chức năng và 12 Chi cục trực thuộc, thực hiện thủ tục hải quan cho các doanh nghiệp trên địa bàn TP Hà Nội, các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc
và Yên Bái Số DN Cục Hải quan TP Hà Nội thực hiện nhiệm vụ quản lý là 12.358
doanh nghiệp
Để hoàn thành công tác quản lý thuế NK, Cục Hải quan TP Hà Nội đã tích cực đầu tư trang thiết bị hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin trong các khâu nghiệp
Trang 3520
vụ hải quan; thường xuyên nghiên cứu cải tiến các quy trình nghiệp vụ, rút ngắn thời gian thông quan hàng hoá tạo môi trường thuận lợi nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu quản lý chặt chẽ đối với hoạt động NK hàng hoá
Cục Hải quan TP Hà Nội đã mạnh dạn chấn chỉnh, sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, phù hợp; đồng thời chú trọng việc giáo dục chính trị, đạo đức nghề nghiệp, đẩy mạnh đào tạo lại chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ lãnh đạo cũng như công chức thừa hành Cục Hải quan TP Hà Nội cũng đã thường xuyên đối thoại với doanh nghiệp để giải quyết nhanh chóng, kịp thời các vướng mắc của doanh nghiệp (Trong năm 2013, Cục Hải quan TP Hà Nội triển khai tổ chức Hội nghị doanh nghiệp định kỳ 1 tháng 1 lần) Cục giao các đơn vị trực thuộc phối hợp chặt chẽ với các chi nhánh, điểm giao dịch của các Ngân hàng đã ký kết thỏa thuận hợp tác với cơ quan Hải quan để thực hiện việc thu thuế, bảo lãnh thuế nhanh chóng, kịp thời cho doanh nghiệp Cục Hải quan TP Hà Nội cũng ưu tiên áp dụng chữ ký số để khai thác thông tin
về thanh toán, nộp thuế, bảo lãnh thuế bằng phương thức điện tử trên cổng thanh toán điện tử làm căn cứ để xem xét việc thông quan, giải phóng hàng cũng như xét ân hạn thuế, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp
Bên cạnh đó, hàng năm, Cục Hải quan TP Hà Nội thường xuyên thực hiện quyết liệt các giải pháp tăng thu thuế NK, chủ yếu là các biện pháp xử lý nợ thuế NK, quản lý khai thác các nguồn thu mới, nâng cao hiệu quả công tác thu thập thông tin, QLRR, KTSTQ, phòng chống buôn lậu; chú trọng phát hiện các hành vi gian lận thương mại; tăng cường công tác trao đổi thông tin và tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp có kim ngạch XNK lớn; từng bước áp dụng phương pháp quản lý hoạt động
doanh nghiệp theo phương châm Hải quan và doanh nghiệp cùng đồng hành
quan Hải Phòng:
Cục Hải quan TP Hải Phòng thành lập năm 1955 với chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước về hải quan trên địa bàn TP.Hải Phòng, các tỉnh Hải Dương, Thái Bình và Hưng Yên Trải qua hơn nửa thế kỷ trưởng thành vàphát triển, Cục Hải quan
TP Hải Phòng đã trở thành một đơn vị điển hình của ngành với nhiều thành tích xuất sắc
Là đơn vị hàng năm được giao số thu nộp NSNN tương đối lớn (năm 2013
Trang 3621
được giao là 41.320 tỷ đồng) việc thu thuế gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên, tập thể lãnh đạo Cục Hải quan TP Hải Phòng xác định dù gặp bất kỳ khó khăn nào cũng phải hoàn thành nhiệm vụ chính trị ở mức cao nhất, đặc biệt là nhiệm vụ thu nộp NSNN Do đó, ngay từ đầu năm, Cục Hải quan TP Hải Phòng đã tập trung chỉ đạo các đơn vị xây
dựng kế hoạch và triển khai thực hiện ngay nhiệm vụ được giao, có lộ trình cụ thể
Với quyết tâm của mình, Cục Hải quan TP Hải Phòng đã tăng cường các biện pháp quản lý thuế như: thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở doanh nghiệp nộp thuế đúng thời hạn, thành lập các Đoàn Kiểm tra đi thu đòi nợ thuế; tăng cường cưỡng chế dừng làm thủ tục hải quan đối với các doanh nghiệp cố tình chây ỳ trong việc nộp thuế, tiền phạt Danh sách các doanh nghiệp bị cưỡng chế dừng làm thủ tục hải quan do nợ thuế được Cục Hải quan TP Hải Phòng đăng tải hàng tháng trên trang thông tin điện tử của Cục
Ngoài ra, Cục Hải quan TP Hải Phòng thường xuyên phối hợp và phối hợp rất
tốt với các cơ quan hữu quan như cơ quan cảnh sát điều tra (PC46), Phòng cảnh sát điều tra về tội phạm ma tuý (PC47) Công an TP Hải Phòng, Cảnh sát biển Vùng I, Bộ đội Biên phòng,… để trao đổi thông tin, xác minh, thu thập chứng cứ làm rõ các vụ việc buôn lậu, vận chuyển ma tuý, sản phẩm của động vật hoang dã nguy cấp, các hành vi
trốn thuế qua khai báo về số lượng, trị giá,…
Công tác phát triển nguồn nhân lực là một trong những công tác quan trọng, được Cục Hải quan TP Hải Phòng đặc biệt quan tâm Để đạt được hiệu quả trong công tác quản lý thuế NK, Cục Hải quan TP Hải Phòng chú trọng công tác đào tạo và đào tạo lại cho đội ngũ CBCC của mình Đặc biệt, Cục Hải quan TP Hải Phòng đã xây dựng được đội ngũ chuyên gia trong các lĩnh vực giá, mã số, thuế… để đáp ứng yêu cầu quản lý thuế trong tình hình mới Chính vì vậy, trong các năm qua, Cục Hải quan TP Hải Phòng luôn có số thuế truy thu qua tham vấn giá là rất lớn Bằng cách này Cục Hải quan TP Hải Phòng đã chủ động được nguồn thu thuế và hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ thu thuế của mình
Từ kinh nghiệm quản lý thuế NK của các Cục Hải quan thành phố lớn, có thể rút ra các bài học kinh nghiệm cho Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang như sau:
Một là: Tạo mọi điều kiện thuận lợi đối với hoạt động NK nhưng không được
Trang 3722
buông lỏng quản lý Cần tăng cường mạnh mẽ công tác kiểm tra, kiểm soát, chống buôn lậu, gian lận thương mại và công tác KTSTQ Chính việc triển khai đồng bộ các giải pháp thúc đẩy công tác kiểm tra, kiểm soát, KTSTQ sẽ vừa tăng cường được hiệu quả, hiệu lực công tác quản lý thuế của cơ quan Hải quan, làm tăng số thu nộp NSNN vừa ngăn ngừa các hành vi vi phạm và nâng cao sự tuân thủ pháp luật thuế của cộng đồng doanh nghiệp Cả 3 Cục Hải quan địa phương trên là những minh chứng cho cách làm hiệu
quả này
Hai là: công khai, minh bạch mọi văn bản, chính sách liên quan đến hoạt động NK, tăng cường đối thoại, gặp gỡ, trao đổi, giải quyết, tháo gỡ vướng mắc cho cộng đồng doanh nghiệp, tạo sự phối hợp tốt hơn giữa đối tượng nộp thuế và cơ quan Hải quan, giảm thiểu các xung đột, tranh chấp không đáng có; đồng thời đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý của cơ quan Hải quan, hiện đại hoá thu NSNN, thực hiện kết nối Kho bạc - Hải quan - Thuế để trao đổi thông tin nộp thuế, đồng thời thực hiện phối hợp thu NSNN, bảo lãnh thuế theo thoả thuận song phương giữa cơ quan Hải quan và Ngân hàng thương mại Nhờ những giải pháp này mà Cục Hải quan TP.Hồ Chí Minh có thể thực hiện thủ tục thanh toán thuế được nhanh chóng, tạo thuận lợi cho người nộp thuế, số liệu thu thuế được cập nhật nhanh chóng, chính xác trong điều kiện Cục Hải quan TP.Hồ Chí Minh phải thường xuyên quản lý
trên 30.000 doanh nghiệp
Ba là: Cần chú trọng công tác phát triển nguồn nhân lực tinh thông nghiệp
vụ, hoạt động "Chuyên nghiệp - Minh bạch - Hiệu quả" Cần thường xuyên quan tâm công đào tạo và đào tạo lại cho đội ngũ CBCC Đặc biệt, cần xây dựng được đội ngũ chuyên gia trong các lĩnh vực giá, mã số, thuế,… để đáp ứng yêu cầu quản lý thuế trong
tình hình mới
Trang 3823
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Thuế luôn đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với nguồn thu NSNN Thông qua việc quản lý thu thuế, Nhà nước thực hiện chức năng phân phối và phân phối lại các nguồn thu từ thuế Trong cơ cấu thuế của Việt Nam thì thuế nhập khẩu chiếm tỉ trọng rất cao với vai trò quan trọng là tạo nguồn thu cho NSNN Ngoài ra, thuế nhập khẩu còn có vai trò trong việc kiểm soát hàng nhập khẩu, bảo hộ nền sản xuất trong nước và thực hiện các chính sách đối ngoại của đất nước Tuy nhiên khi hội nhập vào nền kinh
tế thế giới thì Việt Nam phải tuân thủ nghiêm ngặt các cam kết trong hội nhập, vai trò của thuế nhập khẩu sẽ ảnh hưởng theo chiều hướng hạn chế dần Do vậy, ngành Hải quan với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cách thức tổ chức quản lý của mình cần đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hơn nữa công tác quản lý thu thuế nhập khẩu để công tác này đạt hiệu quả cao, đảm bảo thu đúng và thu đủ thuế cho NSNN, đảm bảo tuân thủ luật pháp trong nước và cam kết quốc tế, ngăn chặn các hình thức gian lận mới do DN lợi dụng các chính sách ưu đãi về thuế trong hội nhập mà không làm ảnh
hưởng đến hoạt động đối ngoại của đất nước, đảm bảo sự thuận lợi cho các DN làm ăn chân chính Chính vì thế, nội dung Chương 1 của luận văn đã phân tích những lý luận liên quan đến ngoại thương, công tác quản lý thuế nhập khẩu trong giai đoạn hiện nay
mà ngành Hải quan đã và đang áp dụng như công tác quản lý đăng ký, kê khai thuế; công tác quản lý nộp thuế; công tác quản lý nợ thuế; công tác xem xét xử lý khiếu nại,
tố cáo thuế; công tác chống buôn lậu và gian lận thương mại,… Ngoài ra, nội dung
Chương 1 còn tìm hiểu những kinh nghiệm về quản lý thuế nhập khẩu của một số
nước trên thế giới, từ đó áp dụng vào công tác quản lý thuế nhập khẩu cho ngành Hải quan của Việt Nam trong thời gian tới đạt hiệu quả cao hơn
Trang 3924
THUẾ NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH KIÊN
GIANG
2.1 Đặc điểm tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Kiên Giang:
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên xã hội của tỉnh Kiên Giang:
Tỉnh Kiên Giang tọa lạc ở vùng đất phía Tây Nam Tổ quốc16Tlà tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long - phía Tây Nam của Tổ quốc: phía Bắc giáp Vương quốc Campuchia; phía Nam giáp tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu; phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh An Giang, thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang; phía Tây giáp Vịnh Thái Lan16T, với những lợi thế về tự nhiên, lịch sử, văn hóa, có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội Là cửa ngõ hướng ra biển Tây của tỉnh cũng như của vùng đồng bằng sông Cửu Long, có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển, đảo và giao lưu với các nước trong khu vực và quốc tế với các ngành mũi nhọn như du lịch, thương
mại, dịch vụ công nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản,…
Kiên Giang có tổng diện tích tự nhiên 6.346,27 kmP
2 P Theo kết quả điều tra ngày 01/12/2014, dân số tỉnh Kiên Giang là 1.705.539 người, mật độ 268 người/km², khu vực nông thôn 73,1%, thành thị 26,9%; dân tộc chủ yếu là người Kinh, Khmer, Hoa Dân số của tỉnh phân bố không đều, thường tập trung ở ven trục lộ giao thông, kênh rạch, sông ngòi và một số đảo, quy mô dân số đến năm 2020 dự kiến dưới 3,6 triệu
người (Nguồn của Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Kiên Giang)
2.1.2 Đặc điểm hoạt động XNK:
Hoạt động thương mại của tỉnh Kiên Giang được đầu tư phát triển đa dạng, theo hướng văn minh, hiện đại với các loại hình siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện ích, chợ truyền thống tạo nên thị trường hàng hóa phong phú Với vị trí là cửa ngõ phái Tây Nam, tỉnh Kiên Giang là nơi tập trung nguồn nguyên liệu chế biến, trung chuyển, mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ thương mại cho vùng và nhiều tỉnh khác trong nước và phát triển thương mại với nước ngoài (đặc biệt là giáp với campuchia) Tỉnh Kiên Giang hiện có các mặt hàng xuất khẩu chủ lực có khả năng cạnh tranh trên thị trường, gồm: Gạo, thủy sản, hàng thủ công mỹ nghệ, đồ hộp, mực tuột đông, cá
Trang 4025
đông, tôm đông, cá cơm xấy, hồ tiêu, nước mắm, và các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu
như: Clinker, hạt nhựa, bao bì, vỏ tôm, gỗ,… đặc biệt đảo Phú Quốc sẽ được tập trung đầu tư thành trung tâm du lịch sinh thái biển đảo chất lượng cao của khu vực (có sân bay và cảng biển quốc tế),…
Bảng 2.1 : Kim ngạch XNK của Kiên Giang từ năm 2010 đến 2014
(số liệu tính đến ngày 31/12 hàng năm)
ĐVT: nghìn USD
Năm
Kim ngạch NK 53,772 37,611 42,963 161,560 51,905 Kim ngạch XK 87,739 130,125 141,297 198,661 56,763 Tổng kim ngạch XNK 142,511 167,736 184,250 360,221 108,668
51,905 108,668
0 50 100 150 200 250 300 350 400
Kim ng ạch NK Tổng Kim ngạch XNK
Hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh Kiên Giang không ngừng tăng lên với tốc độ tăng bình quân đến 47% Trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo
Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan và Lãnh đạo tỉnh Kiên Giang; sự phối hợp, hỗ trợ của các ngành, các huyện thị biên giới Với sự đoàn kết nhất trí cao trong chỉ đạo điều hành của Ban Lãnh đạo Cục và sự quyết tâm của toàn thể cán bộ, công chức trong cơ quan, qua từng năm Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang đã cơ bản hoàn thành mục tiêu,