1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải pháp phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh CHAMPASAK giai đoạn 2010 đến 2010

101 259 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngay từ khi tiến hành đổi mới, Đại hội Đảng Nhân dân cách mạng NDCM Lào lần thứ III đã đề ra chiến lược phát triển kinh tế “Khai thác triệt để mọi tiềm năng của đất nước, bằng cách đi lê

Trang 1

MÃ S Ố : 60 34 01 02

TP HCM 2 1

Trang 2

Giáo viên h ướ ng d ẫ n khoa h ọ c:

TS Nguy ễ n Xuân Tr ườ ng

TP HCM 2 1

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Hiện nay cả thế giới đang trong quá trình hội nhập và tiến hành công nghiệp hoá- hiện đại hoá bởi đây là con đường tất yếu phải tiến hành đối với bất cứ nước nào, nhất là những nước có xuất phát điểm từ nền nông nghiệp kém phát triển nhưng muốn xây dựng nền kinh tế phát triển hiện đại Nhưng chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước khác nhau dựa vào tiềm năng thế mạnh và điều kiện cụ thể của riêng từng nước Đối với CHDCND Lào, ngay từ khi bước vào giai đoạn đầu của quá trình đổi mới, Đảng và Chính phủ đã nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế nông thôn, đặc biệt là nông nghiệp nông thôn Đây

là một ngành sản xuất vật chất của nền kinh tế quốc dân và là một bộ phận trọng

yếu của tái sản xuất xã hội Nghị quyết Đại hội Đảng NDCM Lào lần thứ V

Chính vì thế những năm qua, việc phát triển kinh tế nông thôn nói chung đã đạt được những thành tựu đáng kể Cơ cấu kinh tế nông thôn đã có sự chuyển dịch, thương mại - dịch vụ nông thôn đang được mở rộng Đời sống của cư dân nông thôn dần được cải thiện Cùng chung với tình hình đó, tỉnh Champasak với vị trí địa

lý có phần diện tích khá lớn nằm dọc theo sông Mê Kông, là một trong những đồng

bằng lớn của cả nước nên có điều kiện thuận lợi trong việc phát triển nông nghiệp Tuy nhiên làm thế nào để kinh tế nông thôn cũng như kinh tế nông nghiệp phát triển mạnh, khai thác tốt tiềm năng và lợi thế phục vụ phát triển nhưng vẫn bảo vệ được môi trường sinh thái, đảm bảo công bằng xã hội là việc phát triển đảm bảo tính bền vững, đây là một yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay.Từ thực tiễn trên cần

phải có những nghiên cứu mang tính hệ thống tìm hiểu thực tế việc phát triển kinh

tế nông thôn để đề ra giải pháp nhằm thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển một cách hiệu quả và theo hướng bền vững Tác giả đã chọn đề tài: “ Phát triển kinh tế

phần nhỏ bé vào quá trình phát triển kinh tế nông thôn của Champasak trong thời gian tới

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, tác giả đã nhận được sự hướng

dẫn, chỉ bảo tận tình của các Thầy Cô giáo, sự hỗ trợ của các bạn bè, đồng nghiệp

và sự động viên của gia đình để hoàn thành luận văn Thạc sĩ của mình

Trước hết, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến

Thầy TS Nguyễn Xuân Trường - người đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn

Xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Cao đẳng tài chính Miền Nam tại Champasak và trường Đại học Tài chính - Maketing thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập, trang bị

kiến thức để hoàn thành luận văn Đồng thời, xin chân thành cảm ơn Sở Kê hoạch

và Đầu tư, Sở Thương Mại , Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Champasak cùng các bạn bè, đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp các tư

liệu, số liệu tham khảo quý báu, hữu ích để

tác giả hoàn thành tốt luận văn

Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình và những người thân đã động viên, giúp đỡ

và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tác giả hoàn thành luận văn này

Tác giả luận văn

VanNaLa SUTTHICHAC

Trang 5

M ục lục

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN 6

1.1 Định nghĩa, vai trò và bản chất của việc phát triển kinh tế nông thôn 6

1.1.1 Định nghĩa 6

1.1.1.1.Khái niệm nông thôn 6

1.1.1.2.Khái niệm kinh tế nông thôn 8

1.1.3 Lịch sử hình thành và phát triển kinh tế nông thôn 13

1.1.4 Vai trò của kinh tế nông thôn 17

1.1.4.1.Vai trò của nông nghiệp-nông thôn 17

1.1.4.2 Vai trò của công nghiệp nông thôn 17

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn 19

1.2.1 Điều kiện tự nhiên 19

1.2.2 Yếu tố kinh tế và xã hội 20

1.3 Bài học kinh nghiệm của một số nước 23

1.3.1 Nhật Bản 23

1.3.2 Trung Quốc 24

1.3.3 Việt Nam 26

1.3.4 Một số bài học rút ra được 27

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN Ở TỈNH CHAMPASAK 30

2.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu việc phát triển kinh tế nông thôn 30

2.2 Khái quát thành quả của công tác phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh Champasak 32

2.2.1 Khái quát chung về tỉnh Champasak 32

2.2.2 Khái quát chung về phát triển kinh tế xã hội 35

2.2.3 Thực trạng phát triển kinh tế của tỉnh Champasak 37

2.2.3.1 Tình hình chung trong nước và quốc tế 37

2.2.3.2 Tăng trưởng kinh tế 39

2.2.3.3 Nông nghiệp 40

Trang 6

2.2 3.4 Công nghiệp và thương mại 45

2.2.3.5 Giao thông 45

2.2.3.6 Phát triển nông thôn và vấn đề xóa đói giảm nghèo 46

2.2.4 Cơ chế chính sách PTKT nông thôn 46

2.2.5 Thành quả phát triển kinh tế nông thôn tỉnh Champasak 49

2.2.6 Những hạn chế 51

2.3 Sự cần thiết phải phát triển kinh tế nông thôn 52

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN Ở TỈNH CHAMPASAK 54

3.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển kinh tế nông thôn 54

3.1.1 Quan điểm phát triển 54

3.1.2 Mục tiêu phát triển 55

3.2 Định hướng phát triển kinh tế nông thôn tỉnh Champasak đến năm 2020 56

3.2.1 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp 56

3.2.2 Định hướng phát triển Nông - Lâm - Thuỷ sản 57

3.2.2.1 Nông nghiệp 57

3.2.2.2 Lâm nghiệp 60

3.2.2.3 Thuỷ sản 62

3.2.3 Định hướng phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp nông thôn 62

3.2.4 Định hướng phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn 64

3.3 Một số giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế nông thôn tỉnh Champasak 67

3.3.1 Căn cứ để đưa ra giải pháp 67

3.3.2 Các giải pháp chủ yếu 70

3.3.2.1 Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp-nông thôn 70

3.3.2.2 Phát triển kinh tế nhiều thành phần 74

3.3.2.3 Đổi mới bổ sung việc quy hoạch cũng như điều chỉnh các chính sách nhằm phát triển kinh tế nông thôn 77

3.3.2.4 Tạo lập thị trường đầu ra cho nông sản gắn liền với xây dựng cơ sở sản xuất-dịch vụ thương mại 81

3.3.2.5 Phát triển đồng bộ các cơ sở hạ tầng nông thôn 82

Trang 7

3.3.2.6 Đẩy mạnh việc bồi dưỡng, nâng cao kiến thức và đào tạo nghề gắn với giải

quyết việc làm cho lao động nông thôn 82

3.3.2.7 Sắp xếp tổ chức bộ máy quản lý kinh tế nông thôn 83

KẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 90

Trang 8

Danh m ục các bảng

Bảng 2.1: Sự tăng trưởng của các ngành kinh tế………39

Bảng 2.2: Sản lượng các loại cây trồng theo hợp đồng Contract Farming năm 2012……….42

Bảng 2.3: Sản lượng chăn nuôi trong toàn tỉnh……… 42

Bảng 2.4: Cơ chế chính sách phát triển kinh tế nông thôn……… 47

Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu phát triển NN-NT đến năm 2020……… 55

Bảng 3.2: Định hướng sử dụng đất nông nghiệp tỉnh Champasak đến năm 2020 56

Trang 9

Danh các ký hi ệu, chữ viết tắt

CNH-HĐH: Công nghiệp hóa – hiện đại hóa

Trang 11

1

PHẦN MỞ ĐẦU

Hiện nay cả thế giới đang trong quá trình hội nhập và tiến hành công nghiệp hoá- hiện đại hoá, bởi đây là con đường tất yếu phải tiến hành đối với bất cứ nước nào, nhất là những nước có xuất phát điểm từ nền nông nghiệp kém phát triển nhưng muốn xây dựng nền kinh tế phát triển hiện đại Nhưng chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước khác nhau dựa vào tiềm năng thế mạnh và điều kiện cụ thể của riêng từng nước Đối với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân (CHDCND) Lào,

ngay từ khi bước vào giai đoạn đầu của quá trình đổi mới, Đảng và Chính phủ đã nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế nông thôn, đặc biệt là nông nghiệp nông thôn Đây là một ngành sản xuất vật chất của nền kinh tế quốc dân và là một bộ phận trọng yếu của tái sản xuất xã hội Ngay từ khi tiến hành đổi

mới, Đại hội Đảng Nhân dân cách mạng (NDCM) Lào lần thứ III đã đề ra chiến lược phát triển kinh tế “Khai thác triệt để mọi tiềm năng của đất nước, bằng cách đi lên từ sản xuất nông - lâm nghiệp, coi việc phát triển ngành nông - nông nghiệp là

cơ sở vững chắc cho sự phát triển công nghiệp”, đến Đại hội lần thứ VI : “Xây dựng

cơ cấu kinh tế nông - lâm nghiệp gắn liền với công nghiệp và dịch vụ, coi nông nghiệp là cơ sở và xây dựng công nghiệp thành thế mạnh, khuyến khích thúc đẩy

dịch vụ từng bước phát triển mạnh mẽ theo hướng hiện đại”

Chính vì thế những năm qua, việc phát triển kinh tế nông thôn nói chung đã đạt được những thành tựu đáng kể Cơ cấu kinh tế nông thôn đã có sự chuyển dịch, thương mại - dịch vụ nông thôn đang được mở rộng Đời sống của cư dân nông thôn dần được cải thiện Cùng chung với tình hình đó, tỉnh Champasak với vị trí địa

lý có phần diện tích khá lớn nằm dọc theo sông Mê Kông, là một trong những đồng

bằng lớn của cả nước nên có điều kiện thuận lợi trong việc phát triển nông nghiệp Tuy nhiên làm thế nào để kinh tế nông thôn cũng như kinh tế nông nghiệp phát triển

mạnh, khai thác tốt tiềm năng và lợi thế phục vụ phát triển nhưng vẫn bảo vệ được môi trường sinh thái, đảm bảo công bằng xã hội là việc phát triển đảm bảo tính bền

vững, đây là một yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay Từ thực tiễn trên cần phải có

những nghiên cứu mang tính hệ thống tìm hiểu thực tế việc phát triển kinh tế nông

Trang 12

2

thôn để đề ra giải pháp nhằm thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển một cách hiệu

quả và theo hướng bền vững Chính vì vậy đề tài: “Giải pháp Phát triển kinh tế

trọng và cần thiết Kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ góp phần vào quá trình phát triển kinh tế nông thôn của Champasak nói riêng và của CHDCND Lào nói chung trong thời gian tới

- Hệ thống hóa có hoàn thiện cơ sở lý luận của phát triển kinh tế nông thôn trong tiến trình đổi mới xây dựng nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế khu vực

của CHDCND Lào nói chung và tỉnh Champasak nói riêng

- Đánh giá thực trạng công tác phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh Champasak trong thời gian qua, từ đó rút ra những vấn đề cần phải hoàn thiện

- Xây dựng quan điểm, chiến lược phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh Champasac trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế của CHDCND Lào, thực trạng phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh Champasak và kinh nghiệm các nước

- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm đẩy mạnh việc phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh Champasak đến năm 2020

Để giải quyết được những mục tiêu đặt ra ở trên, các câu hỏi nghiên cứu đặt

ra cần được trả lời như sau:

- Cơ sở lý luận nào làm sáng tỏ khái niệm về nông thôn, phát triển kinh tế nông thôn, và làm cơ sở cho các định hướng chiến lược và giải pháp đối với phát triển kinh tế của CHDCND Lào?

- Kinh nghiệm nào trong công tác phát triển kinh tế nông thôn ở Lào và ở nước ngoài, đặc biệt là kinh nghiệm của Việt Nam trong quá trình đổi mới để có thể nghiên cứu và áp dụng trong công tác phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh Champasak nói riêng và CHDCND Lào nói chung?

- Thực trạng công tác phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh Champasak ra sao,

những bất cập gì cần hoàn thiện?

- Định hướng chiến lược và hệ thống giải pháp cũng như các điều kiện nào là phù hợp để thực hiện phát triển kinh tế nông thôn đạt hiệu quả và mục tiêu đề ra?

Trang 13

3

Nghiên cứu phát triển kinh tế nông thôn là vấn đề khá rộng lớn, liên quan tới nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh có quy mô và bản chất khác nhau, nhưng lại tương tác chặt chẽ với nhau Vì vậy các nhà nghiên cứu KT- XH phải sử dụng thường xuyên nhất quán các quan điểm tiếp cận hệ thống Kinh tế nông thôn nghiên cứu

tổng hợp thể lãnh thổ sản xuất trong một hệ thống các mối quan hệ tác động qua lại

với nhau với môi trường xung quanh Vì vậy khi nghiên cứu vấn đề kinh tế nông thôn tỉnh Champasak được coi là một hệ thống KT - XH thống nhất, được xem xét đánh giá quá trình phát triển KT - XH của tỉnh và sự kết hợp hài hòa với các tỉnh

miền Nam và cả nước Ở đây lãnh thổ tỉnh Champasak với tư cách là một hệ thống

lớn, bao gồm nhiều phân hệ có quy mô khác nhau tùy từng cấp huyện, bản… Dù ở quy mô nào, trên mỗi bộ phận lãnh thổ cũng đều có ít nhất 3 phân hệ tác động qua

lại, quy định và phụ thuộc lẫn nhau Đó là các phân hệ tự nhiên, dân cư và kinh tế

Kinh tế nông thôn được nghiên cứu trong không gian lãnh thổ KT - XH liên quan tới nhiều lĩnh vực khác nhau Do đó khi nghiên cứu các nguồn lực nhằm phát triển KT - XH của tỉnh, chúng ta cần phải xem xét nó trong một chỉnh thể chung

của vùng và cả nước; giải quyết mối quan hệ giữa sự phát triển với việc nâng cao

chất lượng, cũng như việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trong tương lai Đồng thời tìm kiếm những mặt tối ưu, định ra các giải pháp cụ thể nhằm phát huy

lợi thế của kinh tế nông thôn, đặc biệt là nông nghiệp dưới cái nhìn khách quan và

tổng hợp tạo động lực phát triển KT - XH của tỉnh nhà

Các ngành kinh tế luôn luôn vận động và phát triển không ngừng theo thời gian Tùy theo từng giai đoạn nhất định mà nó có các nguồn lực và thế mạnh khác nhau tạo nên những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển chung Đánh giá đúng chiều hướng phát triển, sự thay đổi của ngành qua từng giai đoạn trong quá khứ,

hiện tại đó là một tiền đề thuận lợi cho phép chúng ta dự báo viễn cảnh sự phát triển

của ngành trong tương lai

Trang 14

4

Quan điểm này thể hiện thông qua một chỉ tiêu kinh tế cụ thể như tốc độ tăng trưởng, hiệu quả kinh tế, GDP,… Trong cơ chế thị trường, sản xuất phải đem

lại lợi nhuận song cần tránh xu hướng phải đạt cái mục tiêu kinh tế bằng mọi giá Kinh tế nông thôn cũng không nằm ngoài mục tiêu trên Chúng ta thúc đẩy sự phát triển kinh tế nông thôn nhằm góp phần phát triển kinh tế tỉnh nhà nói riêng và cả nước nói chung, nhưng chúng ta cũng cần phải tính đến mục tiêu lâu dài, sự phát triển bền vững trong tương lai chứ không phải chỉ vì mục tiêu trước mắt mà bất

chấp tất cả Quán triệt quan điểm phát triển bền vững đòi hỏi phải đảm bảo sự bền

vững về cả 3 mặt kinh tế, xã hội và môi trường

Đối tượng nghiên cứu của kinh tế nông thôn nói chung và của kinh tế nông nghiệp nói riêng là những hệ thống động phức tạp, bao gồm nhiều phần tử có bản

chất khác nhau, thường xuyên tác động qua lại, mang tính thang cấp rỏ rệt muốn

hiểu rõ những đặc điểm và tính quy luật vận động, hành vi của chúng, cần phân tích các mối liên hệ đa dạng, đa chiều bên trong và bên ngoài hệ thống về các mặt số lượng, cường độ, mức độ chặt chẽ… Đây là phương pháp cơ bản được sử dụng trong đề tài nghiên cứu Phương pháp này được sử dụng nghiên cứu những đối tượng có mối quan hệ đa chiều và thường xuyên có sự biến động theo thời gian và không gian như ngành sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp nông thôn, dịch vụ

Sử dụng phương pháp này giúp cho ta tránh được những kết luận, quyết định chủ quan, vội vàng, thiếu cơ sở thực tiễn Phương pháp này nhằm bổ sung và

kiểm tra, đánh giá lại những thông tin cần thiết cho quá trình phân tích, xử lý số liệu trước thực hiện đề tài nhằm đảm cao tính chính xác khoa học cao cho đề tài Trên

thực tế, số liệu thống kê về nông thôn đôi khi còn nhiều bất cập, chồng chéo và chưa thống nhất giữa các địa phương, đồng thời bổ sung kịp thời những nội dung

mới được phát hiện trong quá trình khảo sát

Trang 15

Phương pháp này giúp ta định hướng chiến lược, xác định các mục tiêu và

kịch bản phát triển trước mắt và lâu dài của các đối tượng nghiên cứu kinh tế nông thôn một cách khách quan, có cơ sở khoa học, phù hợp với các điều kiện và xu thế phát triển thực tại Để đánh giá và xác định các vấn đề trong nội dung có liên quan,

dựa trên các nguyên nhân, hệ quả và tính chất hệ thống trong việc nghiên cứu tổ

chức lãnh thổ nông nghiệp, từ đó dự báo sự phát triển của ngành trong tương lai

Phương pháp truyền thống này cũng được sử dụng phổ biến trong quá trình nghiên cứu của nhiều môn khoa học cơ bản khác trong đó nó được xem là một phương pháp khá hữu dụng và trực quan trong nghiên cứu việc phát triển kinh tế nông thôn Các quá trình nghiên cứu có thể khởi đầu và kết thúc bằng một bản đồ -

biểu đồ Vì đây là “ngôn ngữ” tổng hợp, ngắn gọn, trực quan của các đối tượng

nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết chung về phát triển kinh tế nông thôn

Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh Champasak

Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế nông thôn ở Champasak đến năm 2020

Trang 16

6

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN

1.1 Định nghĩa, vai trò và bản chất của việc phát triển kinh tế nông thôn

1.1.1 Định nghĩa

Cho đến nay chưa có định nghĩa nào chuẩn xác và được chấp nhận rộng rãi

về nông thôn Khi định nghĩa về nông thôn, người ta thường so sánh nông thôn và thành thị với các mặt:

- Về tự nhiên, nông thôn là vùng đất rộng rãi bao quanh thành thị

- Về kinh tế, ở nông thôn chủ yếu phát triển kinh tế nông nghiệp; cơ sở hạ

tầng vật chất kĩ thuật,trình độ sản xuất, thị trường, dịch vụ… kém hơn ở thành thị

- Về xã hội,trình độ học vấn, y tế, giáo dục, đời sống vật chất và tinh thần

của cư dân nông thôn thấp hơn ở thành thị

Nhà xã hội học người Nga V Staroverov đã đưa ra môt định nghĩa khá bao quát về nông thôn “nông thôn với tư cách là khách thể nghiên cứu xã hội về một phân hệ xã hội có lãnh thổ xác định đã định hình từ lâu trong lịch sử Đặc trưng của phân hệ xã hội này là sự thống nhất đặc biệt của môi trường nhân tạo với các điều

kiện địa lý tự nhiên ưu trội, với kiểu loại tổ chức xã hội phân tán về mặt không gian” Tuy nhiên, nông thôn cũng có những đặc trưng riêng biệt của nó Cũng theo nhà xã hội học này, “ nông thôn phân biệt với đô thị bởi trình độ kinh tế-xã hội thấp kém hơn, bởi thua kém hơn về mức độ phúc lợi xã hội và trong lối sống của cư dân nông thôn Ở nông thôn loại hình hoạt động lao động kém đa dạng hơn so với đô

thị, tính thuần nhất về xã hội và nghề nghiệp cao hơn Nông thôn là hệ thông độc

lập tương đối ổn định, là một tiểu hệ thống không gian-xã hội Nông thôn và đô thị

hợp lại thành chỉnh thể xã hội và lãnh thổ của cơ cấu xã hội”

Như vậy, khái niệm nông thôn có thể diễn đạt như sau: nông thôn là vùng đất

rộng rãi bao quanh thành thị với một cộng đồng dân cư sinh sống mà sản xuất chủ

yếu bằng nghề nông (nông, lâm, ngư nghiệp); có mật độ dân cư thấp; cơ sở hạ tầng kém; trình độ văn hóa-khoa học kĩ thuật, trình độ sản xuất thấp; thu nhập và mức

sống của người dân cũng thấp hơn ở đô thị

Trang 17

7

Tuy nhiên, khái niệm trên chưa phải đã hoàn chỉnh nếu không đặt nó trong điều kiện thời gian và không gian nhất định của mỗi vùng mỗi nước với điều kiện tự nhiên và mức độ phát triển khác nhau

Nông thôn là một khái niệm của xã hội học, nó là một tổng thể của hệ thống

xã hội trên một địa bàn tự nhiên nhất định Nông thôn không chỉ là nơi sản xuất nông nghiệp với những điều kiện tự nhiên của nó mà còn là khu vực dân cư, nơi có các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các điều kiện sinh hoạt, phong tục tập quán, tâm lý xã hội

Theo Các Mác và Ăng Ghen: “Sự phân công lớn nhất của vật chất và tinh

thần là sự tách rời thành thị và nông thôn Sự đối lập giữa thành thị và nông thôn

xuất hiện với bước quá độ từ thời lạc hậu lên thời đại văn minh” Như vậy nông thôn không phải là một phạm trù vĩnh cửu, nó chỉ xuất hiện khi hai địa bàn cư trú dân cư gắn liền với sự phân công lao động lớn nhất của xã hội, mà đặc điểm của nó

là có số lượng dân cư ít, nền kinh tế lạc hậu, mức sống nhân dân tương đối thấp

Theo giáo trình giảng dạy cao học của Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Lào, khái niệm nông thôn đối với Lào được phân biệt cụ thể bằng các tiêu chí sau:

- Khu vực đô thị phải có trụ sở quản lý của chính quyền địa phương cả 3 cấp đặt tại đó: Bản, Huyện và Tỉnh (đó là các thị xã thuộc tỉnh, thành phố và thủ đô)

- Phần lớn hộ gia đình được sử dụng điện lưới quốc gia

- Phần lớn các hộ gia đình được sử dụng hệ thống dịch vụ nước sạch

- Có chợ và các dịch vụ mua bán diễn ra cả ngày

- Có đường ô tô thuận lợi cho vận chuyển và đi lại cả năm

Dựa vào 5 tiêu chí trên, khu vực nào đáp ứng được gọi là thành thị Ngược

lại, các khu vực chưa đủ điều kiện thì gọi là nông thôn

Sự khác biệt cơ bản giữa nông thôn và thành thị đó là môi trường cấu trúc và

những môi trường hoạt động sinh sống khác nhau Nông thôn cũng là bộ phận quan

trọng cấu thành đời sống xã hội của đất nước, là môi trường hình thành và thúc đẩy các hoạt động phát triển kinh tế xã hội, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt trong đời sống, văn hóa, tinh thần của cộng đồng dân cư Nông thôn còn là nơi mà các hoạt động

Trang 18

8

bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ an ninh quốc phòng cũng như việc phát huy

và duy trì bản sắc văn hóa dân tộc được dễn ra một cách bền vững hơn cả

Kinh tế nông thôn là một tổng thể các ngành kinh tế trong khu vực nông thôn, bao gồm các ngành liên quan mật thiết với nhau như nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn nông thôn Các ngành kinh tế này có quan hệ với nhau theo những tỉ lệ nhất định về số lượng và chất lượng

Nền kinh tế quốc dân là một khối thống nhất bao gồm nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau Xét theo không gian lãnh thổ của đất nước, người ta phân chia

nền kinh tế thành hai khu vực như kinh tế nông thôn và kinh tế thành thị Sự phân

biệt giữa hai khu vực kinh tế này chủ yếu dựa vào sự khác nhau về vị trí, về trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, năng suất lao động, sự phân công lao động của xã

hội và những đặc thù của các ngành Kinh tế khu vực thành thị hoạt động chủ yếu

tập trung vào công nghiệp và dịch vụ, còn kinh tế nông thôn có hoạt động chủ yếu

là sản xuất vật chất nông, lâm, ngư nghiệp Kinh tế nông nghiệp là bộ phận quan

trọng trong nền kinh tế quốc dân thống nhất Kinh tế nông thôn tồn tại và phát triển

gắn liền với những quan hệ kinh tế nhất định, những quan hệ kinh tế đó đã tạo thành

cơ cấu kinh tế nông thôn

Như vậy kinh tế nông thôn là khái niệm chỉ các hoạt động kinh tế ở nông thôn bao gồm cả các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ,…Từ luận cứ này có

thể nhận thấy rằng trong khái niệm kinh tế nông thôn đã bao hàm cả kinh tế nông nghiệp

 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp: là tổng thể các mối quan hệ về số lượng và chất

lượng giữa các bộ phận cấu thành nền nông nghiệp diễn ra trong không gian, thời gian và điều kiện kinh tế-xã hội nhất định Cơ cấu nông nghiệp bao gồm các ngành

sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, nghề rừng, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản Bản thân nhiều ngành trong nông nghiệp lại là những hệ thống nhỏ mà trong nhiều hệ thống

nhỏ đó lại có những yếu tố, những thuộc tính giống nhau tạo thành hệ thống nhỏ hơn Nhờ tác động công nghiệp, trong cơ cấu ngành nông nghiệp còn có thêm các ngành như: ngành chế biến lương thực, thực phẩm, dịch vụ nôn nghiệp,… mang

Trang 19

9

tính chuyên môn hóa rõ rệt Và khi bước sang xã hội hậu công nghiệp, không thể không phát sinh thêm những ngành mới nữa (công nghệ sinh học, tin học nông nghiệp,…) Thiếu những ngành này không thể có ngành nông nghiệp hoàn chỉnh được

Cơ cấu kinh tế nông thôn: là tổng thể các mối quan hệ kinh tế diễn ra trên

địa bàn nông thôn (bao gồm cơ cấu của các ngành nông-lâm-thủy sản, công nghiệp,

tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, kể cả các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế,… được phát triển tại các vùng nông thôn) chúng có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau theo những tỷ lệ nhất định về mặt lượng và liên quan chặt chẽ về mặt chất; chúng có tác động qua lại lẫn nhau trong những không gian và thời gian nhất định, phù hợp

với điều kiện kinh tế-xã hội nhất định tạo thành một hệ thống kinh tế nông thôn -

một bộ phận hợp thành không thể tách rời của hệ thống nền kinh tế quốc dân

 Những khía cạnh biểu hiện chủ yếu của cơ cấu kinh tế nông nghiệp-nông thôn

Những khía cạnh biểu hiện chủ yếu của cơ cấu kinh tế nông nghiệp-nông thôn là cơ cấu theo ngành, cơ cấu theo lãnh thổ và cơ cấu theo thành phần kinh tế Trong đó, quan trọng nhất là cơ cấu ngành

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn theo ngành:

Cơ cấu ngành kinh tế phản ánh sự phân công lao động theo hướng chuyên môn hóa sản xuất Sản xuất càng phát triển thì tập hợp ngành kinh tế càng đa

dạng.Theo hệ thống tài khoản quốc gia, được áp dụng đối với nền kinh tế thị

trường, nền kinh tế thường được phân thành ba khu vực: khu vực I là

nông-lâm-thủy sản, khu vực II là công nghiệp-xây dựng, khu vực III là dịch vụ Trong mỗi khu vực được phân thành ngành kinh tế cấp 1 và dưới mỗi ngành cấp 1 được phân thành các ngành cấp 2, cấp 3, cấp 4,…Ở nông thôn, cơ cấu kinh tế theo ngành ở nông thôn bao gồm:

- Nhóm ngành nông-lâm-thủy sản: chiếm vai trò chủ đạo trong cơ cấu ngành kinh tế nông thôn

- Nhóm ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn rất đa dạng, bao

gồm:

+ Công nghiệp chế biến nông-lâm-thủy sản thành phẩm và bán thành phẩm;

Trang 20

10

+ Công nghiệp sản xuất các loại tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng phục vụ trực

tiếp cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt ở nông thôn

+ Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng như gạch, vôi, đá,…

+ Nghề thủ công truyền thống như dệt, may, len, gốm, đồ gỗ, may, điêu khắc, mây tre đan, chiếu cói,…

- Nhóm ngành dịch vụ nông thôn ra đời và phát triển gắn liền với nông nghiệp và công nghiệp nông thôn Khi xuất hiện sản xuất hàng hóa, năng suất lao động tăng lên, một bộ phận lao động từ trồng trọt, chăn nuôi đã tách ra làm dịch vụ thương

mại đầu vào, đầu ra Dần dần dịch vụ trở thành một ngành phong phú, đa dạng và thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển Dịch vụ nông thôn bao gồm các hoạt động:

+ Dịch vụ mua bán hàng hóa, cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm

+ Dịch vụ kinh tế tài chính, tín dụng ngân hàng

+ Dịch vụ phục vụ sinh hoạt điện nước, vệ sinh, văn hóa, pháp luật

+ Dịch vụ giao thông vận tải, thủy lợi, bảo vệ thực vật

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn theo thành phần kinh tế:

Cơ cấu thành phần kinh tế gắn liền với các hình thức sở hữu về tư liệu sản

xuất và xu hướng chung là lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, các hình thức sở

hữu ngày càng đa dạng Tương ứng với mỗi hình thức sở hữu là một thành phần kinh tế Cơ cấu thành phần kinh tế càng đa dạng càng có khả năng khai thác tối đa, phát huy được mọi tiềm lực để phát triển Chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Lào đã huy động được các nguồn lực trong xã hội để phát triển nền kinh tế nói chung và trong đó có ngành nông nghiệp Nền kinh tế quốc dân có bao nhiêu thành phần kinh tế thì kinh tế nông thôn có bấy nhiêu thành phần kinh tế Tuy nhiên sự biểu hiện của các thành phần kinh tế nông nghiệp-nông thôn có những đặc điểm riêng:

- Kinh tế Nhà nước: được biểu hiện tập trung ở các hình thức doanh nghiệp Nhà nước như nông trường, lâm trường, trạm, trại; ngân hàng, tín dụng, các cơ sở nghiên

cứu khoa học Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo

- Kinh tế tập thể: phát triển với nhiều hình thức đa dạng trong đó tiêu biểu là các

hợp tác xã kiểu mới, sản xuất kinh doanh nhiều ngành nghề (hợp tác xã đa chức

Trang 21

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn theo lãnh thổ (theo vùng):

Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ phản ánh sự phân công lao động xã hội về mặt không gian địa lí Thực chất của việc phân chia này là để làm cơ sở cho hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch phát triển, thực thi chính sách sát thực và phù hợp

với đặc điểm của từng vùng, từng lãnh thổ nhằm đạt hiệu quả cao trên toàn vùng và toàn lãnh thổ Cơ cấu kinh tế vùng là mối quan hệ giữa các ngành, các thành phần kinh tế trên phạm vi lãnh thổ

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực chất là quá trình cải biến kinh tế-xã hội từ

lạc hậu mang tính tự cấp, tự túc bước vào chuyên môn hóa hợp lý, trang bị kỹ thuật công nghệ hiện đại, trên cơ sở tạo ra năng suất lao động cao và nhịp độ tăng trưởng

mạnh cho nền kinh tế Quá trình chuyển dịch này không chỉ diễn ra giữa các ngành kinh tế mà bắt đầu từ nội bộ của từng ngành theo những xu hướng nhất định

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp: là sự thay đổi các yếu tố và mối quan hệ

giữa các yếu tố trong cấu trúc kinh tế nông nghiệp Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là quá trình chuyển dịch các nguồn lực trong Nnông nghiệp nhằm gia tăng

sản lượng các ngành Trong đó, các ngành có năng suất lao động cao hơn sẽ có tỷ

trọng tăng, xu hướng chung là tỷ trọng giá trị sản lượng nông sản phi lương thực,

Trang 22

cổ truyền ở nông thôn bằng các phương pháp, công cụ và công nghệ sản xuất tiên

tiến, hiện đại, đạt hiệu quả cao Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp-nông thôn

là một tất yếu khách quan, xuất phát từ vị trí của nông nghiệp-nông thôn trong nền kinh tế xã hội, từ thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp-nông thôn, từ yêu cầu của CNH-HĐH và yêu cầu của nền kinh tế thị trường Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp-nông thôn là chuyển dịch toàn diện cả cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần và cơ cấu lãnh thổ Chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp-nông thôn:

là sự thay đổi tỷ trọng giữa các ngành và nhóm ngành trong nông nghiệp-nông thôn

Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp-nông thôn hiện nay là hướng tới một nền nông nghiệp hàng hóa, sản xuất thâm canh, đa dạng hóa theo hướng sản xuất hàng hóa lớn tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trị Đó là quá trình hình thành cơ cấu kinh tế mới nông - công nghiệp và dịch vụ, bao gồm nông-lâm-thủy sản, công nghiệp chế biến nói riêng và công nghiệp nông thôn nói chung, thương mại - du lịch và các dịch vụ khác, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của

xã hội ngày càng phát triển Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế nông nông thôn: là sự thay đổi tỷ lệ sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế trong nông nghiệp-nông thôn Sự thay đổi này chủ yếu diễn ra do sự tác động của các nhân tố kinh tế-xã hội, trong đó sự định hướng về mặt chính trị, xã hội có vai trò

nghiệp-chủ yếu Chuyển dịch cơ cấu lãnh thổ nông nghiệp-nông thôn: là quá trình hình thành nên những vùng chuyên môn hóa có sự ổn định về phương hướng sản xuất,

về qui mô, về bảo đảm chất lượng và hiệu quả xã hội Thực chất đó cũng là sự chuyển dịch của các ngành nhưng được xem xét ở phạm vi từng vùng, từng lãnh

thổ

Trang 23

13

Có thể nói rằng lịch sử phát triển nông thôn gắn với lịch sử của xã hội loài người Các xã hội nông nghiệp đầu tiên xuất hiện tại các vùng nhiệt đới gió mùa ở châu Á Sản phẩm trồng trọt,chăn nuôi dần dần chiếm ưu thế trong nguồn thức ăn

của loài người Phương thức tự túc trong từng nông hộ từng bước được thay thế

bằng nông nghiệp xã hội Công cụ canh tác được cải tiến, công trình tưới tiêu, sử

dụng phân bón, thị trường nông phẩm, làng xã, thị trấn, đô thị, hệ thống giao thông,

vận tải xuất hiện Tác động của con người lên môi trường ngày càng rõ rệt Các tôn giáo, các nền văn hóa, hệ thống giáo dục, huấn luyện tương ứng với phương thức

sản xuất và cư dân trong các xã hội nông nghiệp được hình thành

Trong quá trình lịch sử lâu dài, nhiều xã hội đã phải đối mặt với những

khủng hoảng trấm trọng về tài nguyên và môi trường Sự phát triển kỹ thuật sản

xuất tuy đã tạo nên khả năng cải thiện chất lượng môi trường cho con người nhưng

tới một mức độ nhất định, chính sự phát triển này lại là nguyên nhân làm suy thoái môi trường Quá trình này đã diễn đi diễn lại liên tục từ thời thượng cổ đến nay Chăn nuôi đã đem lại cho con người những điều kiện sống an toàn, ưu việt hơn nhiều so với săn bắt và hái lượm, nhưng chính chăn nuôi phát triển tới quy mô quá

lớn đã tàn phá hàng triệu hecta rừng, biến rừng nguyên sinh tại các nước châu Phi ven Địa trung Hải thành vùng cây bụi, trảng cỏ xơ xác, rồi tiếp đó là sa mạc hóa Các công trình thượng cổ đã tạo nên những xã hội phồn vinh, nhưng rồi việc sử

dụng nước ngọt quá ngưỡng cho phép của thiên nhiên đã tạo nên sự sụp đổ và hoang tàn của các xã hội này Lý do sâu sắc của sự sụp đổ và hoang tàn của xã hội này là sự mất cân bằng giữa tham vọng vô cùng của con người về phát triển và sự

có hạn của tài nguyên thiên nhiên

Xác định bản chất xã hội nông thôn là một công việc quan trọng để thực hiện các dự định phát triển nông thôn Chính vì thế cần khắc họa lại được những đặc trưng của phân hệ xã hội này

Khi xây dựng lý luận của mình về xã hội, Mác và Angghen đã khái quát một quy luật chung về hình thành đô thị- đó là kết quả của quá trình phân công lao động

xã hội trong quá khứ, nhờ đó xã hội loài người tách thành hai phân hệ: đô thị và

Trang 24

14

nông thôn Theo Mác, sự phân công lao động trong nội bộ của một dân tộc gây ra trước hết là sự tách rời giữa lao động công nghiệp với lao động nông nghiệp và do

đó gây ra sự tách rời giữa thành thị và nông thôn

Ở mỗi quốc gia đều có sự phân biệt khác nhau giữa nông thôn và đô thị Ở

Mỳ người ta cho rằng, một loạt những khu chung cư cao tầng ở nông thôn không được xếp vào đô thị Ở Nga người ta quan niệm đô thị là những tụ điểm dân cư từ trên chục ngàn người trở lên Theo quan niệm của các nhà xã hội học Trung Quốc,

thị trấn mà “đầu là nông thôn- đuôi là thành phố”, vì vậy thị trấn và dưới nó là thị tứ không thuộc vào đô thị Còn ở Việt Nam khu vực được gọi là đô thị là những tụ điểm quần cư với số dân khoảng 10 vạn người trở lên

Trong cộng đồng thường có một số người làm nghề phi nông nghiệp nhưng

di động nghề thấp, thường suốt đời làm nghề cha ông để lại, do phân công lao động

xã hội chưa cao, chưa rõ ràng, trình độ chuyên môn thấp Tính chất của nghề là truyền nghề Tồn tại sự phân biệt nghề chính và nghề phụ

Thứ hai, trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội ở nông thôn do lịch sử để

lại gồm những tụ điểm quần cư thường có quy mô nhỏ về mặt số lượng Mật độ dân

cư thấp; có sự phân tầng xã hội về mặt kinh tế nhưng lại không rõ rệt Trong những

xã hội cổ truyền, phân tầng xã hội mang tính đẳng cấp nhiều hơn

Thứ ba, ở nông thôn có một môi trường tự nhiên ưu trội, con người có mối liên hệ trực tiếp với tự nhiên, con người gần gũi với tự nhiên hơn

Thứ tư, nông thôn có một lối sống đặc thù của mình- lối sống nông thôn, lối

sống của các cộng đồng xã hội được hình thành chủ yếu trên cơ sở của hoạt động lao động nông nghiệp; gia đình phụ thuộc vào các cộng đồng xã hội Chính lối sống này đã quy định thành một đặc trưng nổi trội của nông thôn- tính cố kết cộng đồng, dân cư ở nông thôn mang tính thuần nhất cao hơn về các đặc điểm chủng tộc và tâm

lý Chính lối sống của nông thôn làm cho cung cách ứng xử nặng về luật tục, về nghi lễ hơn là tính pháp lý; tính cá nhân hạn chế,tính cộng đồng nổi trội trở thành quy luật của cộng đồng Quan hệ giao tiếp xã hội mang tính hữu danh, cung cách ứng xử mang nặng tính khuôn mẫu truyền thống Văn hóa nông thôn- một loại hình văn hóa đặc thù mang đậm nét dân gian, nét truyền thống dân tộc Các quan hệ xã

Trang 25

15

hội lấy quan hệ tình cảm làm cơ sở, coi trọng quan hệ gia tộc, cộng đồng, bằng

hữu,…

Các nhà phân tích cho rằng, mô hình hiện đại hóa có nhiều mặt thất bại Đó

là nghèo đói và bất ổn vẫn còn tồn tại ở nhiều nước nghèo cũng như một số nước giàu, bất chấp những chương trình, chính sách phát triển của các chính phủ Hơn

nữa thì phần lớn dân nghèo vẫn còn đứng bên lề con đường phát triển: họ không được xã hội thừa nhận Vì lẽ đó, xã hội bị phân hóa, và cuối cùng, môi trường toàn

cầu bị phá hủy với tốc độ nhanh chưa từng có Nhiều nước cũng đã sử dụng nhiều

biện pháp để cải thiện các chỉ số kinh tế xã hội nhưng thường người nghèo lại nghèo hơn trước, cuộc sống của họ vẫn bấp bênh, trong khi các thành phần xã hội khác đã nâng cao đáng kể mức sống của họ

Mô hình phát triển nông thôn cũ tập trung chủ yếu vào phát triển sản xuất và

mở rộng kinh tế thị trường hoặc như ở các nước xã hội chủ nghĩa thì phát triển sản

xuất và dich vụ do nhà nước kiểm soát Trong các chương trình phát triển này thì các tiêu chí kinh tế được đề cao hơn trong quá trình ra các quyết định; còn các nhân

tố xã hội, môi trướng thì thường có vị trí ít quan trọng, và sự tham gia của người hưởng lợi trong tiến trình phát triển này ít được chú ý

Một trong những vấn đề khi đánh giá tác động của chương trình điều chỉnh

cơ cấu đối với đói nghèo là hầu như cuộc sống của người nông dân nghèo không

chịu ảnh hưởng của Chương trình điều chỉnh cơ cấu vì nó nằm ngoài nền kinh tế chính thức Nông dân nghèo ít tận dụng nguồn tín dụng của nhà nước, phân bón hay nguyên liệu đầu vào khác; nông sản thường được trao đổi tại thị trường tự do, còn

những mặt hàng được trợ giá không đến với người nghèo Đa số người nghèo vẫn

sống theo kiểu tự cung tự cấp và tình trạng này xảy ra tại các nước đang phát triển

và với những nền kinh tế lớn như Trung Quốc Nhìn chung nhiều nhà phân tích cho

rằng cần thực hiện cải cách trên diện rộng như nâng cấp cơ sở hạ tầng, thị trường tài chính phục vụ cho người nghèo đặc biệt trong nông nghiệp, nghiên cứu và phát triển bảo vệ môi trường và hỗ trợ khu vực tư nhân Các thể chế tài chính và các nhà tài trợ xác định rằng Chương trình điều chỉnh cơ cấu nên là các chương trình lâu dài

và phải trải qua một loạt biện pháp cải cách mới như giảm bớt và thay đổi vai trò

của nhà nước từ chỗ là nhà cung cấp sang là người hỗ trợ, điều tiết và hoạch định

Trang 26

16

chính sách thay vì trực tiếp thực hiện, mà để cho tư nhân, tổ chức phi lợi nhuận

hoặc cộng đồng đảm nhiệm

Nhưng hiện nay vấn đề cần phải quan tâm và đối mặt đó là thách thức trong

sự phát triển của toàn cầu hóa; thể hiện rõ nhất ở sự bất bình đẳng trong thương mại

quốc tế giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển, thực chất đó là sự bất bình đẳng giữa hai nền kinh tế; kinh tế nông thôn của các nước đang phát triển và

nền kinh tế công nghiệp của các nước phát triển Quá trình tự do hóa thương mại đã đóng góp một phần quan trọng vào việc mang lại lợi ích cho các quốc gia đang phát triển thông qua thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo Vì vậy có thể

hiểu tại sao các nước này rất quan tâm đến việc gia nhập WTO Việc tiếp cận các

thị trường xuất khẩu nông sản thông qua WTO là một điều kiện cần thiết cho các nước đang phát triển để đạt được sự hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, các nước đang phát triển phải đối mặt với các quy chế về hạn ngạch, yếu tố làm giảm khả năng và tiềm năng xuất khẩu của họ Bên cạnh đó, tự do hóa ngành nông nghiệp cũng đã dẫn tới một thực tế là các sản phẩm nông nghiệp từ các nước đang phát triển không thể cạnh tranh về giá trong các thị trường thế giới do các nước phát triển sử dụng một lượng tiền lớn trợ cấp cho hàng nông sản nội địa của

họ Điều đó đã đe dọa khu vực nông trại nhỏ ở các nước nghèo và đặt họ vào hoàn

cảnh phải đối mặt với cạnh tranh ngày càng gay gắt Hiệp định về nông nghiệp cũng

có thể dẫn tới sự tăng giá nông sản trên thế giới do xóa bỏ trợ cấp, gây tác động xấu đến những nước nghèo nhập khẩu lương thực ròng, góp phần làm bần cùng hóa hàng triệu nông dân ở các nước đang phát triển

Khi mà nông nghiệp bị bó buộc trong những khoảnh đất nhỏ thì nền kinh tế phi nông nghiệp có một tầm quan trọng rất lớn đối với kinh tế của người dân nông thôn, và lúc đó người nghèo trông đợi vào thị trường lao động, các nguồn lực chung

và hoạt động kinh doanh phi nông nghiệp Thực tế cho thấy khả năng tăng thu nhập

ở nông thôn là khác nhau rất nhiều giữa nơi này và nơi khác, từ thời điểm này tới

thời điểm khác Cơ hội tăng thu nhập ở các vùng đã phát triển và các vùng gần thành phố và đô thị thường lớn hơn ở các vùng sâu vùng xa Trong phát triển nông thôn thì sự thịnh vượng ở nông thôn và sự thịnh vượng trong ngành nông nghiệp

Trang 27

17

thường có mối liên quan tới sự phát triển kinh tế phi nông nghiệp Và việc tăng thu

nhập ở khu vực phi nông nghiệp sẽ thúc đẩy thu nhập ở khu vực nông nghiệp

Đây là vấn đề gây ra khá nhiều tranh cãi từ thế kỷ trước và vẫn còn tiếp diễn trong tương lai Tuy nhiên, có thể thấy vai trò của nông nghiệp-nông thôn có sự mở

rộng và nâng cao nhiều so với trước Trong nhiều ý kiến khác nhau, có thể qui về hai quan điểm đối nghịch rõ rệt nhau như sau:

Quan điểm thứ nhất, căn cứ vào một thực tế được coi gần như một quy luật

của phát triển là tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP giảm đi trong khi tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng lên, đã nhận định rằng với sự kết thúc của văn minh nông nghiệp được thay thế bằng văn minh công nghiệp, thậm chí hậu công nghiệp thì vai trò của nông nghiệp ngày càng thu hẹp và hạ thấp

Quan điểm thứ hai, căn cứ vào một thực tế chưa phổ biến trên thế giới song

bắt đầu xuất hiện từng phần tại những nước phát triển nhất, nhận định rằng trong

nền KT-XH hiện đại ở thế kỷ XXI, vai trò của nông nghiệp không những không bị

giảm sút mà lại có thêm những nét mới và đặc sắc hơn Về quan điểm thứ hai, tuy

thực tế làm căn cứ phân tích và lập luận mới chỉ hé mở ở các nước phát triển, mà chưa hề xuất hiện ở hầu hết các nước đang phát triển, song cũng đã hoặc sẽ mở ra hướng suy nghĩ và hành động tích cực, chủ động về vai trò mới của NN-NT

Trong hoàn cảnh hiện nay phát triển các hoạt động công nghiệp nông thôn là hướng đi hiệu quả nhất tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập của khu vực nông thôn, giảm sức ép di dân từ nông thôn ra thành thị Các hoạt động có thể trong khuôn khổ gia đình hoặc doanh nghiệp nông thôn với bốn loại hình chính là:

- Sản xuất công nghiệp cơ khí

- Chế biến nông sản

- Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ

- Thương mại và dịch vụ

Trang 28

18

Ở giai đoạn đầu công nghiệp hóa trong nông nghiệp, dân số trong nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn, hoạt động sản xuất nông nghiệp trì trệ và kém phát triển, năng suất thấp, thu nhập thấp Do kết cấu hạ tầng yếu kém nên công nghiệp nông thôn không phát triển, vùng nông thôn bị cô lập, quan hệ yếu với kinh tế thành thị Công nghiệp nông thôn mang tính địa phương và phi chính thức, các cơ sở kinh doanh thường ở quy mô nhỏ và vừa, trong phạm vi hộ gia đình hay các công xưởng

với các sản phẩm và dịch vụ giá rẻ, chủ yếu phục vụ nhu cầu tại địa phương Các

hoạt động chủ yếu là sản xuất phân bón, sửa chữa máy móc nông nghiệp, sản xuất

xe kéo hai bánh, hoạt động sau thu hoạch chủ yếu là sơ chế nông sản, và chỉ có

mối liên kết ban đầu sơ khai với thành thị

Trong giai đoạn công nghiệp nông thôn phát triển, khi kết cấu hạ tầng tốt

mối liên hệ giữa nông thôn và thành thị lân cận được thông thương, công nghiệp nông thôn sẽ vươn ra ngoài vùng Đặc biệt các doanh nghiệp ở khu vực hành phố sẽ khai thác lợi thế như lao động rẻ, mềm dẻo, dễ thích ứng và linh hoạt của công nghiệp nông thôn Sản phẩm của công nghiệp nông thôn có thể là từ sản phẩm trung gian và vật tư đầu vào cho công nghiệp đô thị đến các thành phẩm cho cư dân địa phương hoặc thành phố Công nghiệp chế biến nông sản tăng mạnh ở những vùng nông nghiệp hàng hóa và chuyên canh Công nghiệp nông thôn có thể đóng vai trò

yếu tố kéo và đẩy Tại các vùng có lợi thế để phát triển công nghiệp nông thôn, có điều kiện thuận lợi về kết cấu hạ tầng giao thông liên lạc, lao động có tay nghề cao,

có nghề thủ công truyền thống, sẵn có nguyên liệu đầu vào sẽ có hoạt động công nghiệp và dịch vụ phát triển, mở ra cơ hội việc làm và thu nhập, góp phần quan

trọng vào việc xóa đói giảm nghèo, tạo sức hút kéo lao động khỏi hoạt động nông thôn truyền thống Ở đây công nghiệp nông thôn thường được xem như là yếu tố kéo Đối với một số khu vực, phát triển công nghiệp nông thôn không những thúc đẩy khu vực nông thôn phát triển nà còn là động lực to lớn cho tăng trưởng của cả

nền kinh tế

Như vậy, công nghiệp nông thôn đóng vai trò quan trọng như:

-Tạo công ăn việc làm cho lao động nông thôn

- Giảm đói nghèo cho cư dân nông thôn

- Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế

Trang 29

19

- Đa dạng hóa thu nhập của nông dân, dự phòng rủi ro

- Giảm sức ép di cư ra thành thị

Các yếu tố của môi trường tự nhiên như khí hậu, địa hình, đất, nước, là cơ

sở cho việc sản xuất nông nghiệp Nếu các yếu tố này tạo điều kiện thuận lợi kinh tế nông nghiệp có khả năng sản xuất với quy mô lớn, năng suất cao, chi phí thấp hơn Ngược lại, khi điều kiện tự nhiên không thuận lợi, sản xuất nông nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn, chi phí đầu tư cao hoặc có khi không thể thu hoạch nếu xảy ra thiên tai và dịch bệnh So với các ngành sản xuất thương mại dịch vụ khác thì nông nghiệp bị điều kiện tự nhiên chi phối mạnh mẽ hơn, trừ khâu lựa chọn giống cây

trồng vật nuôi, khoa học công nghệ, kỹ thuật sản xuất,…

Chính vì vậy việc phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn phải phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng địa phương, từng quốc gia Vấn đề quan trọng là

phải xác định ngành nghề, sản phẩm chiến lược để tập trung sản xuất lớn trên cơ sở khai thác lợi thế tiềm năng, điều kiện tự nhiên hiện có Điều này phải được quán triệt ngay trong chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn

1.2 1.1 Địa hình

Tính chất và hình dạng của địa hình khác nhau dẫn đến việc sản xuất mang tính chất khác nhau ở từng địa phương Địa hình đồng bằng tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp theo kiểu định canh định cư, sản lượng cao hơn vùng đồi núi Điều kiện địa hình là yếu tố dẫn đến diện tích sản xuất ở từng địa phương cũng khác nhau Vùng đồng bằng sẽ có diện tích sản xuất nông nghiệp rộng lớn, còn vùng đồi núi cho dù diện tích có rộng lớn nhưng cho sản lượng thấp Như vậy điều

kiện địa hình là yếu tố có tính chất quyết định đến quy mô của ngành sản xuất nông nghiệp

Trang 30

20

với điều kiện khí hậu của từng vùng, từng địa phương Như vậy, yếu tố khí hậu có vai trò quan trọng đối với việc sản xuất nông nghiệp

1.5.1.3 Tài nguyên nước

Nước tự nhiên là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho nông nghiệp Sự phân bố

của sông ngòi, hồ tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Trong vùng thiếu nguồn nước tự nhiên cần phải xây dựng hệ thống thủy lợi hoặc giải quyết tình

trạng thiếu nước bằng các hình thức khác nhằm giúp việc sản xuất đạt kết quả tốt

Các yếu tố về kinh tế và xã hội mang tính chất quyết định tới trình độ phát triển của nông nghiệp nông thôn, bao gồm:

Các chính sách của Đảng và nhà nước với tầm quan trọng có tính chất quyết định là xác định quyền làm chủ, quyền sở hữu về tư liệu sản xuất Cần xóa bỏ cơ

chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường Việc xác lập xây

dựng cơ cấu kinh tế nhiều thành phần đã thúc đẩy ý thức sản xuất hàng hóa của người dân theo hướng từng bước mở cửa ra thị trường quốc tế Các chủ trương chính sách sẽ là những định hướng, điều kiện quyết định cho các bước phát triển kinh tế của các vùng miền

Đối với CHDCND Lào, ngay từ sau khi thành lập nước đến nay, Đảng và chính phủ đã đề ra chiến lược “ngành sản xuất nông nghiệp phải đi trước một bước

và là cơ sở cho các ngành kinh tế quốc dân” Chính vì thế nông nghiệp đã từng bước phát triển và đạt được những thành quả nhất định Cùng với đó, chính sách mở

rộng quan hệ hợp tác với nước ngoài nhằm mở rộng thị trường hàng hóa, chính sách

sản xuất hàng hóa,…là những yếu tố thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển trong

phạm vi cả nước cũng như từng đơn vị sản xuất Như vậy chính sách khuyến khích nông nghiệp là làm cho ngành sản xuất này có sự đổi mới một cách mạnh mẽ, từng bước tiến tới áp dụng khoa học công nghệ nhằm tăng sản lượng hàng hóa, chất lượng sản phẩm ngày một tốt hơn và có thể cạnh tranh với hang hóa nước ngoài

Các chủ trương chuyển đổi nhanh cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng vật nuôi đang được các địa phương cụ thể hóa và bước đầu đã đem lại hiệu quả tích cực

Trang 31

21

diện tích trồng cây ăn quả, cây công nghiệp đã tăng lên Chủ trương mạnh dạn giao đất giao rừng cho các hộ gia đình đã làm giảm nạn phá rừng, Một số hộ gia đình đã

thực hiện tốt mô hình kinh tế trang trại đạt hiệu quả cao Như vậy, các chính sách

của Đảng và Nhà nước có vai trò rất quan trọng để tác động vào nền kinh tế xã hội cũng như nền kinh tế nông nghiệp nông thôn

Tất cả các ngành nghề kinh tế đều cần đến vốn để phát triển các hoạt động kinh doanh của mình Trong sản xuất nông nghiệp, nhu cầu về vốn phải nhiều và đây là yếu tố cần thiết để tiến hành sản xuất Vốn trong nông nghiệp được dùng vào

việc mở rộng các hoạt động như diện tích, ngành nghề sản xuất; phát triển nguồn

giống cây trồng vật nuôi, chi trả việc cày bừa, xây dựng kho bảo quản, thức ăn gia súc gia cầm, phân bón, thuốc trừ sâu, vacxin phòng chống dịch bệnh cho vật nuôi,… Ngoài ra nguồn vốn còn dùng vào việc ứng dụng khoa học kỹ thuật trong

sản xuất nông nghiệp như máy móc, hệ thống thủy lợi, đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý Các yếu tố trên có ảnh hưởng đến sự tiến bộ của nông nghiệp về cả số lượng, sản lượng và chất lượng của sản phẩm Hiện nay, yếu tố vốn

và kỹ thuật trở thành điều kiện chủ yếu giúp cho sản xuất nông nghiệp tăng trưởng nhanh trong thời gian qua

1.2.2.3 Y ếu tố kinh tế và nhu cầu của xã hội

Yếu tố về kinh tế là đòn bẩy thúc đẩy ngành nông nghiệp phát triển, một mặt

sự tăng trưởng kinh tế và phát triển của xã hội sẽ đảm bảo cho nông nghiệp tăng trưởng ổn định Các ngành nghề kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sản

xuất nông nghiệp gồm có:

+ Công nghiệp đáp ứng nhu cầu về phương tiện sản xuất, phân bón và sử dụng các

sản phẩm của ngành nông nghiệp

+ Ngành giao thông vận tải đáp ứng phương tiện vận chuyển, lưu thông hàng hóa + Ngành dịch vụ thương mại phân phối sản phẩm đến thị trường trong và ngoài nước, quản lý hoặc quy định giá cả hàng hóa

+ Nhu cầu tiêu dùng trong xã hội và số lượng dân số đang ngày một gia tăng gây

sức ép phải tăng sản lượng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng (cả trong và ngoài

Trang 32

mẽ của các thị trường đã nêu

Các yếu tố của thị trường được thiết lập đầy đủ và vận hành theo một cơ chế thích hợp sẽ thúc đẩy kinh tế nông nghiệp nông thôn phát triển; ngược lại khi thị trường chưa hình thành hoặc hoạt động không hiệu quả sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến

của các vi khuẩn gây bệnh trên sản phẩm hay không

Yếu tố thời gian tiêu thụ: do phải vận chuyển nông sản từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ nhiều khi mất thời gian khá lâu, ngành nông nghiệp phải áp dụng các

tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sau thu hoạch như bảo quản chế biến nhằm đảm bảo chất lượng nông sản, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu

Yếu tố giá thành có vai trò quan trọng khi nền kinh tế đã được thị trường hóa, bởi một khi đã tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, nông sản sẽ được lưu thông

rộng rãi với thuế suất thấp, thậm chí là bằng không Vì vậy nếu giá thành sản phẩm cao sẽ bị thua trong cuộc cạnh tranh tự do

Việc thực hiện và đáp ứng được các vấn đề nêu trên sẽ là điều kiện kích thích cho kinh tế nông nghiệp nông thôn phát triển một cách có hiệu quả

Trang 33

23

Trong các yếu tố đảm bảo cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp-nông thôn,

nhất là ở các tỉnh miền núi thì yếu tố con người có vai trò quyết định Với niềm tin vào đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, tinh thần đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, tính cần cù tiết kiệm, yêu lao động,… trở thành truyền thống quý báu bao đời

và cần phải phát huy những phẩm chất đó trong công cuộc đổi mới và xây dựng kinh tế ở các vùng miền

Trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn, Nhật Bản rất chú trọng phát triển nông nghiệp nên đã thực thi một số chính sách khuyến nông và đạt được nhiều

kết quả Trọng tâm của chính sách này là phát triển nông hội và liên minh hợp tác

xã Nhà nước thông qua nông hội và hợp tác xã tiến nhằm tiến hành các chương trình đầu rư phát triển nông nghiệp nông thôn xóa đói giảm nghèo Về tổ chức và

hoạt động của các tổ chức này được tiến hành như sau:

- Hợp tác xã tổ chức trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng và dân

chủ ra, Giám đốc do hội đồng tuyển

Về kinh tế, HTX và nông hội khống chế buôn bán và xuất nhập khẩu vật tư nông nghiệp, nông sản Nông hội làm chủ toàn bộ việc cung ứng vật tư đầu vào và

sản phẩm đầu ra của sản xuất nông nghiệp; nắm giữ các ngân hàng, doanh nghiệp,chợ bán buôn, sở hữu kho hàng, bến bãi chính,…Nông hội giữ độc quyền mua bán,dự trữ nông sản chính như gạo, nấm, măng tây,…và phân phối phân bón,

vật tư nông nghiệp cho nông dân Gần 50% chợ bán buôn nông sản, 62% chợ thủy

sản do kinh tế hợp tác của nông dân nắm giữ Ở Nhật Bản, tổng đầu tư của hợp tác

xã khoảng 12,52 tỷ USD, đồng thời là kênh tiêu thụ nông sản (gạo trên 90 %; rau, hoa quả , sữa tươi, thịt bò trên 50%) và bán hàng cho nông dân (phân bón 94,5%, bao bì 81,9%, hóa chất nông nghiệp 70%, vật liệu cách nhiệt 68%, thức ăn gia súc 35,5% và hàng tiêu dùng 15,6%)

- Nòng cốt của sản xuất nông nghiệp là nông dân sở hữu nhỏ, 100% là thành viên hợp tác xã và nông hội Mọi chính sách phát triển sản xuất đều hướng vào đối tượng này Nhật Bản đánh thuế nông nghiệp theo hạng đất và ổn định hàng chục

Trang 34

24

năm, duy trì giá nông sản cao,giá vật tư thấp, khuyến khích nông dân đầu tư sản

xuất và kinh doanh Phát triển khoa học nông nghiệp được coi là biện pháp hàng đầu; ngoài ra còn tập trung vào hệ thống thủy lợi nhằm có được kỹ thuật tưới tiêu

tốt nhất; phân bón; giống mới, tăng năng suất cây trồng

-Tăng cường đầu tư cho phát triển nông nghiệp; từ thế kỷ XIX, Nhật Bản đã coi các trường đại học là trọng tâm nhằm gắn kết giữa việc nghiên cứu, đào tạo và khuyến nông; đầu tư hệ thống các công trình thủy lợi và viện nghiên cứu; chủ yếu là phát triển khoa học kỹ thuật, dạy nghề cho nông dân và có các hệ thống tín dụng nông nghiệp Trong suốt thời gian đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, ngành nông nghiệp của Nhật Bản có được sự tăng năng suất lao động bằng việc áp dụng kỹ thuật mới mà không tăng vật tư nông nghiệp

- Kinh phí khuyến nông của nông hội được nhà nước hỗ trợ, ban đầu là 70%,

về sau còn 30%

- Chú trọng kết hợp hài hòa giữa phát triển nông nghiệp và các ngành khác Điều kỳ diệu nhất ở Nhật Bản là công nghiệp luôn phục vụ nông nghiệp phát triển

và ngược lại, nông nghiệp trở thành thị trường lớn để tích lũy cho nông nghiệp

Suốt quá trình khôi phục kinh tế sau chiến tranh, công nghiệp Nhật Bản ưu tiên phát triển sản xuất vật tư và máy móc cho nông nghiệp Nhờ đó nông nghiệp được cơ

giới hóa thích hợp quy mô sản xuất nhỏ Ngoài ra Nhật Bản còn phát triển công nghiệp chế biến phục vụ xuất khẩu tạo sức cạnh tranh mạnh trên thị trường và tăng giá trị cho nông sản Năm 1950, nông nghiệp đóng góp 90% giá trị xuất khẩu, trong

đó 70% là nông sản chế biến; 10 năm sau, nông lâm sản vẫn chiếm 70% giá trị xuất

khẩu Năm 1991, công nghiệp chế biến tạo ra giá trị sản lượng 17,5 tỉ USD/năm:

thịt 15%, thức ăn gia súc 12%, đồ uống 18%, xay xát gạo 9% Điểm hay nhất là các nhà máy chế biến đều dựa trên quan hệ hợp đồng với nông dân nhằm có nguyên

liệu cho việc sản xuất

Từ giữa thập kỷ 80, Trung Quốc đã tiến hành mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh

vực, trong đó phát huy lợi thế của từng vùng nên nền kinh tế của hầu hết các khu

vực nông thôn Trung Quốc đã phát triển nhảy vọt Trung Quốc đứng đầu thế giới về lương thực, thịt, bông, lạc, hoa quả và đứng thứ 3 thế giới về sản lượng rau, đậu,

Trang 35

25

mía… giai đoạn 1990-2000, GDP nông nghiệp tăng từ 107 tỷ USD( năm 1990) lên

172 tỷ USD(năm 2000), xuất khẩu nông sản đạt bình quân một năm 23,1tỷ USD Trung Quốc có được những thành tựu trên nhờ đã áp dụng thành công các chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, trong đó tập trung các chính sách sau:

- Chính sách cải cách thể chế : bằng việc giao quyền tự chủ cho nông dân, kinh tế hộ gia đình được khôi phục; nông dân được tiếp cận và quản lý các công cụ,

tư liệu sản xuất, tự do hóa thị trường nông sản đã tạo động lực cho sản xuất phát triển

- Chính sách điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp: tập trung đẩy mạnh phát triển nông nghiệp dựa trên nhu cầu thị trường và nguồn lực tài nguyên của từng vùng; phân bổ

lại đầu tư cho vùng; cơ cấu lại sản xuất từng khu vực và nâng cao chất lượng nông

sản, kết hợp với phát triển chế biến nông sản, đặc biệt là khu vực nông thôn nhằm nâng cao năng suất, lợi nhuận và khả năng cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường

thế giới

- Cải cách thuế trong nông nghiệp, nông thôn: Nhằm thống nhất và đơn giản hóa hệ

thống thuế trong nông thôn, giảm cánh nặng tài chính cho nông dân nên tác động

mạnh mẽ tới sự phát triển khu vực kinh tế nông nghiệp nông thôn

- Chính sách đầu tư công cụ: Trung Quốc tăng cường đầu tư công cụ trong nông nghiệp nông thôn, bao gồm đầu tư kết cấu hạ tầng, tín dụng cho sản xuất nông nghiệp, trong đó ưu tiên hàng đầu là thủy lợi và quản lý nước

- Chính sách thị trường: Từng bước tự do hóa các thị trường nông sản đẩy mạnh liên kết giữa sản xuất, chế biến và thương mại, trên các cơ sở xác định các mặt hàng nông nghiệp chủ đạo có lợi thế so sánh

- Chính sách khoa học và công nghệ: Trung Quốc đã phát triển được trên 5.000

giống cây trồng mới, xây dựng các mô hình trang trại siêu năng suất Trung Quốc 4.000 khu nông nghiệp công nghiệp cao ở các tỉnh, thành trong cả nước, điển hình ở

Quảng Đông, Thâm Quyến, Bắc Kinh,… đã đóng góp gần 50% tăng trưởng nông nghiệp ở Trung Quốc

Trang 36

Nhìn chung, quan điểm phát triển kinh tế - nông nghiệp nông thônTrung

Quốc đã dựa trên cơ sở kinh doanh hộ gia đình, hướng vào thị trường Thực hiện phát triển nông nghiệp theo hướng quy mô hóa, chuyên môn hóa và thâm canh hóa,

trọng tâm là nâng cao hiệu quả kinh tế, dựa vào sự dẫn dắt của xí nghiệp đầu tàu (xí nghiệp đầu rồng) điển hình là khu công nghiệp Hương Tấn tạo việc làm cho hàng trăm triệu lao động và sản xuất ra lượng sản phẩm chiếm 50% giá trị sản lượng công nghiệp của cả nước

Từ sau Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (1988), hộ nông dân đã thành đơn vị

tự chủ trong sản xuất kinh doanh, Luật đất đai (1993) giao quyền sử dụng ruộng đất

ổn định lâu dài cho nông dân Ngoài ra các chính sách thuế khóa, tín dụng, khuyến nông là chỗ dựa vững chắc để các hộ tiểu nông chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hình thành các trang trại không chỉ ở những vùng đã sản xuất hàng hóa mà cả những vùng chỉ sản xuất tự cấp, tự túc

Việt Nam chủ trương chuyển sản xuất nông nghiệp tự cấp, tự túc sang sản

xuất hàng hóa là bằng con đường phát triển kinh tế hộ gia đình Nghị Quyết 10 Bộ chính trị đã định hướng cho nền nông nghiệp, kinh tế nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa có hiệu quả, nâng cao đời sống nông thôn và xây dựng nông thôn mới

Nhà nước khuyến khích phát triển kinh tế cá thể và tư nhân trong ngư nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nông thôn Đặt biệt là khuyến khích các thành

nông-lâm-phần kinh tế đầu tư các giống cây trồng và vật nuôi, khai thác đất trống,… để xây

dựng và phát triển kinh tế nông thôn với quy mô thích hợp Đồng thời có các chính sách khuyến khích các nhà doanh nghiệp từ thành phố hướng về nông thôn để lập nghiệp

Trang 37

27

Trong hơn 20 năm đổi mới (1986-2010) Việt Nam đã đạt được nhiều thành

tựu phát triển khả quan Trong lĩnh vực nông nghiệp, sản lượng các loại nông sản đều tăng, GDP nông nghiệp tăng bình quân hàng năm là 3,3%; thu nhập và đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện hơn, tỉ lệ hộ nghèo ở nông thôn giảm bình quân 1,5% năm; bộ mặt nông thôn thay đổi theo hướng văn minh; trình độ văn hóa, khoa

học, kỹ thuật của nông dân nhìn chung được nâng cao hơn trước Nông nghiệp ngày càng có nhiều đóng góp hơn vào tiến trình phát triển, hội nhập kinh tế cả nước Năm 1986, kim ngạch xuất khẩu nông-lâm-thủy sản mới đạt 400 triệu USD Đến năm 2011 đạt tới 25 tỷ USD chiếm 22% kim ngoạch xuất nhập khẩu cả nước, tăng

gấp 62 lần [24 ] Nhờ có những thành tựu kết quả đó, nông nghiệp không chỉ đã góp

phần quan trọng vào việc ổn định chính trị-xã hội nông thôn và nâng cao đời sống nông dân trên phạm vi cả nước mà nông nghiệp đã ngày càng tạo ra nhiều hơn nữa

những tiền đề vật chất cần thiết, góp phần tích cực vào việc đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và đảy mạnh CNH-HĐH đất nước trong những năm qua Thực tiễn công

cuộc xây dựng bảo vệ Tổ quốc cũng như quá trình CNH-HĐH đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đều khẳng định tầm vóc chiến lược của vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn Chính vì vậy, Đảng Cộng Sản Việt Nam luôn đặt nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở vị trí chiến lược quan trọng, coi đó là cơ sở và lực lượng để phát triển kinh tế xã hội bền vững, ổn định chính trị; bảo đảm an ninh

quốc phòng; giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường

Qua viêc nghiên cứu kinh nghiệm phát triển kinh tế nông thôn của một số

tỉnh trong nước và nước ngoài như Nhật Bản,Trung Quốc và Việt Nam, có thể rút ra

một số bài học kinh nghiệm cho Lào nói chung và tỉnh Champasak nói riêng:

- Là nước nông nghiệp kém phát triển, để trở thành nước công nghiệp hiện đại phải từng bước phát triển kinh tế nông thôn, đặc biệt là nông nghiệp nông thôn

Cần phải có tầm nhìn xa, định hướng chiến lược phù hợp, khai thác có hiệu quả mọi

tiềm năng thế mạnh của đất nước cũng như của địa phương

- Với tư cách là một ngành sản xuất vật chất cơ bản, nông nghiệp nông thôn

là một bộ phận trong xã hội và toàn bộ nền kinh tế Tuy nhiên nông nghiệp nông thôn là một ngành kinh tế còn nhiều khó khăn, kém phát triển, rủi ro khá cao,…Vì

Trang 38

28

vậy để CNH-HĐH nông nghiệp thành công việc hoạch định đề ra các chính sách phát triển kinh tế cũng hết sức quan trọng, đặc biệt là chính sách đầu tư cao cho nông nghiệp nông thôn trên mọi phương diện để đạt được mục tiêu đã xác định Ngay cả khi nền kinh tế phát triển cao vẫn phải quan tâm đầu tư cho phát triển nông nghiệp nông thôn

- Tùy theo giai đoạn khác nhau mà có yêu cầu phát triển khác nhau thì chính sách phải có sự điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế Mỗi giai đoạn phát triển nông nghiệp nông thôn sẽ nảy sinh xuất hiện những mâu thuẫn mới

và phải tìm cách giải quyết mới, đây chính là tính quy luật không ngừng phát triển

Do đó không có chính sách nào là bất biến mà nó luôn luôn vận động trong quá trình phát triển của nền kinh tế, của sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn Như vậy, cải cách và đổi mới các chính sách kinh tế và xây dựng nông thôn là quá trình vận động thường xuyên liên tục

- Tất cả các chính sách mà Chính phủ áp dụng hỗ trợ, khuyến khích phát triển kinh tế nông thôn đều quan trọng cần thiết Tuy nhiên, tùy từng giai đoạn khác nhau, với từng mục tiêu khác nhau mà áp dụng các chính sách có tính chất đòn bẩy phù hợp Như Nhật Bản với mục tiêu ổn định và tự túc nông nghiệp nên áp dụng chính sách bảo trợ cao; năm 1999 nhà nước Nhật Bản hỗ trợ tới 11.800 USD/ha

- Chính sách kinh tế hỗ trợ đối với nông nghiệp nông thôn cần phải có điểm

dừng, liều lượng cho phù hợp để phát huy tính tích cực của chính sách; nếu quá giới

hạn thì chính sách sẽ hạn chế tác dụng, thậm chí cản trở việc phát triển Trong xu

thế toàn cầu hóa và sức ép cạnh tranh quốc tế ngày càng tăng thì chính sách bảo hộ không phaỉ là chiến lược hiệu quả lâu dài Do vậy cần tập trung hỗ trợ nông nghiệp nông thôn theo hướng thị trường bằng việc áp dụng công nghệ mới, công nghệ cao

để có thể cạnh tranh được trong khu vực và quốc tế

- Chính sách kinh tế thúc đẩy phát triển nông nghiệp nông thôn phải đồng

bộ, nhưng trước hết là đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế-kỹ thuật phục vụ sản

xuất kinh doanh là nhân tố cơ bản thúc đẩy nông nghiệp tăng trưởng Hỗ trợ cho nông nghiệp nông thôn có hiệu quả thông qua các chương trình, các đề án dự án có

mục tiêu và định hướng cụ thể

Trang 39

29

Tóm lại, qua kết quả và thành tựu phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn

mà các nước đạt được tuy không giống nhau do các điều kiện riêng của mỗi nước Song nhìn chung và cơ bản là các nước đều coi trọng nền kinh tế nông nghiệp hàng hóa và sự phát triển kinh tế nông thôn trong mỗi bước đi của chiến lược ổn định phát triển nền kinh tế đất nước Có kiến tạo được con đường phát triển CNH-HĐH nông nghiệp và công nghiệp hóa nông thôn kết hợp hài hòa với CNH đô thị thì mới

có thể thúc đẩy được nền kinh tế hàng hóa, CNH nông thôn phải lấy nông nghiệp làm điểm tựa, điểm xuất phát phục vụ sản xuất nông nghiệp, tạo ra mối quan hệ hài hòa giữa công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ

Những bài học kinh nghiệm trên rất có giá trị, đặc biệt là bài học kinh nghiệm của Việt Nam nhằm vận dụng trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế

xã hội cũng như phát triển kinh tế nông thôn của Champasak

Trang 40

30

CHƯƠNG 2:

Vấn đề phát triển kinh tế nông thôn, đặc biệt là phát triển nông nghiệp là một

vấn đề đang ngày được các nhà khoa học, các nhà lãnh đạo cũng như các nhà hoạch định chính sách quan tâm Không chỉ có những nuớc đang phát triển, mà ngay cả

những nuớc phát triển cũng quan tâm đến vấn đề này Bởi ngành nông nghiệp có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nó sản xuất ra luơng thực thực phẩm

phục vụ nhu cầu tất yếu của con nguời Đối với CHDCND Lào, kinh tế nông nghiệp nông thôn càng có vai trò quan trọng Với hơn 70% dân số sống ở nông thôn nên

việc coi phát triển nông nghiệp là nền tảng cho phát triển công nghiệp và dịch vụ là

một yêu cầu tất yếu Nền kinh tế xã hội tỉnh Champasak đang trong thời kỳ hội

nhập và phát triển, yếu tố thuận lợi là học tập được kinh nghiệm rút ra trong quá trình phát triển của một số tỉnh thành phố thuộc các nước trong khu vực cũng như trên thế giới

Trong thời gian qua trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu về phát triển kinh tế nông thôn nhưng ở CHDCND Lào, các đề tài chủ yếu nghiên cứu về phát triển kinh tế nói chung hoặc các vấn đề đang thu hút sự quan tâm hiện nay như thu hút đầu tư trực tiếp nuớc ngoài, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nuớc ngoài,…

Các công trình nghiên cứu có liên quan đến phát triển kinh tế nông thôn ở

Việt Nam : Về những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế, thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước có Việt Nam

đổi mới và phát triển, Tuyển tập các tác giả, NXB, Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm

2010 Các tác giả còn đề cập những vấn đề mang tính thực tiến phát triển kinh tế ở

Việt Nam và đưa ra những chiến lược phát triển cụ thể Hiện nay, phát triển kinh tế nói chung và kinh tế nông thôn nói riêng đều được lựa chọn theo con đường phát triển bền vững bởi đây là một yêu cầu của phát triển mới của các quốc gia trên thế

giới, nông nghiệp bền vững như là một sự lựa chọn cấp tiến Vấn đề này được đề

cập đến trong Phát triển nông thôn bền vững, những vấn đề lý luậnvà kinh nghiệm

Ngày đăng: 25/11/2015, 13:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] C.Mác- Ăng Ghen (1964), H ệ tư tưởng Đức , NXB s ự th ậ t , Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ tư tưởng Đức
Tác giả: C.Mác- Ăng Ghen
Nhà XB: NXB sự thật
Năm: 1964
[5] Đẳng Văn Phan (2008), T ổ chức lãnh thổ nông nghiệp Việt Nam , NXB, Giáo d ụ c Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Đẳng Văn Phan
Năm: 2008
[6] Hoàng Qu ốc Cườ ng (2009) Gi ải pháp phát triển nông nghiệp theo hướng s ản xuất hàng hóa ở tỉnh Yên Bãi . Lu ận văn thạc sĩ kinh tế. Đạ i h ọ c kinh t ế t ỉ nh Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở tỉnh Yên Bãi
[7] H ồ ng Vinh (1998), CNH- HĐH nông nghiệp nông thôn, một số vấn đề lý luận và th ực tiến , NXB Chính tr ị Qu ố c gia, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn, một số vấn đề lý luận và thực tiến
Tác giả: H ồ ng Vinh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
[10] Nguy ễ n N ọ c Thanh (1998), Phát tri ển nông nghiệp trong cơ chế thị trường ở các tỉnh miền núi phía Bắc , Báo cáo t ổ ng k ết đề tài khoa h ọ c c ấ p b ộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nông nghiệp trong cơ chế thị trường ở các tỉnh miền núi phía Bắc
Tác giả: Nguy ễ n N ọ c Thanh
Năm: 1998
[11] Nguy ễn Văn Bích -KS. Chu Ti ế n Quang (1996), Chính sách kinh t ế và vai trò c ủa nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam , NXB Chính tr ị Qu ố c gia , Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
Tác giả: Nguy ễn Văn Bích -KS. Chu Ti ế n Quang
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
[12] PGS.TS. Nguy ễn Văn Thủ (2009): Bi ến đổi xã hội nông thôn dưới tác động c ủa đô thị hóa và tích tụ ruộng đất. NXB Đồ ng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi xã hội nông thôn dưới tác động của đô thị hóa và tích tụ ruộng đất
Tác giả: PGS.TS. Nguy ễn Văn Thủ
Nhà XB: NXB Đồng Nai
Năm: 2009
[13] LopPhaLak Outhitpanya (2010), Phát tri ển dân số và phát triển kinh tế xã h ội tỉnh Champasak CHDCND Lào, Lu ận văn thạc sĩ, Thành phố H ồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển dân số và phát triển kinh tế xã hội tỉnh Champasak CHDCND Lào
Tác giả: LopPhaLak Outhitpanya
Năm: 2010
[14] Phan Th ế H ả i (2001), Đặng Tiểu Bình nhà cải cách kinh tế hàng đầu thế XX, NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Tiểu Bình nhà cải cách kinh tế hàng đầu thế XX
Tác giả: Phan Th ế H ả i
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2001
[17] Tr ầ n Ng ọ c Ngo ạ n, Phát tri ển nông thôn bền vững, những vấn đề lý luận và kinh nghi ệm thế giới , Nhà xu ấ t b ả n Khoa h ọ c xã h ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nông thôn bền vững, những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thế giới
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
[18] PGS.TS. Vũ Đị nh Th ắ ng (2005), Giáo trình kinh t ế nông nghiệp . NXB, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế nông nghiệp
Tác giả: PGS.TS. Vũ Đị nh Th ắ ng
Năm: 2005
[20] XaYaKeuya ChangTuoa Somsuen (2010), “Qu ản lý nhà nước về phát triển kinh t ế nông nghiệp nông thôn tỉnh Luângprabang-CHDCND Lào , lu ận văn thạ c sĩ, H ọ c vi ệ n hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn tỉnh Luângprabang-CHDCND Lào
Tác giả: XaYaKeuya ChangTuoa Somsuen
Năm: 2010
[21] Tuy ể n t ậ p các tác gi ả (2010), Vi ệt Nam đổi mới và phát triển , NXB, Chính tr ị qu ố c gia, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập các tác giả (2010), "Việt Nam đổi mới và phát triển
Tác giả: Tuy ể n t ậ p các tác gi ả
Năm: 2010
[22] B ộ k ế ho ạch và đầu tư (2006), K ế hoạch phát triển kinh tế xã hội quốc gia Lào giai đoạn (2006-2010) , th ủ đô Viêng Chăn, tháng 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội quốc gia Lào giai đoạn (2006-2010)
Tác giả: B ộ k ế ho ạch và đầu tư
Năm: 2006
[23] Ngân hàng th ế gi ới (2008), tăng cườ ng nông nghi ệ p cho phát tri ể n,NXB Văn hóa – Thông tin Khác
[24] S ở k ế ho ạch và đầu tư tỉ nh Champasac giai đoạn (2006-2010) , Th ống kê phát kinh t ế -xã hội Khác
[25] S ở nông-lâm nghi ệ p t ỉ nh Champasac các năm (2010, 2011 và 2012), Báo cáo t ổ ng k ế t ngành nông-lâm nghi ệ p c ủ a t ỉ nh.HVCTQG - TP.HCM , Hà N ộ i Khác
[26] UBND t ỉ nh Champasac Báo cáo t ổ ng k ế t các năm 2011, 2012, 2013 , phát kinh t ế -xã hội của tỉnh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w